Ruột Ngo Giáo- Vỏ Xã Hội Chủ Nghĩa

My Thuy

Tại sao Liên Xô sụp đổ nhưng Trung Quốc và Việt Nam vẫn đứng vững? Câu trả lời không nằm ở sự khác biệt giữa các nhà lãnh đạo, mà ở một thực tế sâu xa hơn: những nhà nước này vận hành theo một mô hình có bản chất rất khác với xã hội chủ nghĩa theo lý thuyết Marx.

Xã hội chủ nghĩa ở mức nguyên lý đòi hỏi quyền lực xuất phát từ giai cấp lao động, nhà nước là công cụ tạm thời có xu hướng “tàn lụi”, phê phán quyền lực tập trung và quan liêu, cùng với tinh thần duy vật phản đối thần thánh hóa lãnh tụ. Thực tế cho thấy điều ngược lại: quyền lực tập trung tuyệt đối không có cơ chế kiểm soát ngang, nhà nước vĩnh viễn và ngày càng phình to, quan liêu trở thành trụ cột thay vì vấn đề cần tiêu biến, lãnh tụ được đạo đức hóa và thần thánh hóa mềm. Về bản chất, đây là mô hình phản Marx – nhưng lại rất hợp với Nho giáo.

Những điểm trùng khớp giữa hệ thống hiện tại và phong kiến Nho giáo không phải ngẫu nhiên. Trong xã hội phong kiến, vua cai trị vì “thiên mệnh” và dân không có quyền thay vua, chỉ có “thuận” hay “loạn”. Tương tự, Đảng cai trị vì “lịch sử lựa chọn” và “chính nghĩa cách mạng”, dân không có quyền thay đảng, chỉ có “ổn định” hay “thế lực thù địch”. Chế độ khoa cử phong kiến tạo tầng lớp quan lại trung thành không đại diện cho dân mà chỉ đại diện cho vua – hệ thống hiện đại tuyển cán bộ qua lý lịch, quy hoạch và trung thành chính trị theo cùng logic đó. Quan phong kiến phải “liêm trung hiếu”, khi hỏng là do cá nhân chứ không phải hệ thống; cán bộ hiện đại phải “đạo đức tư tưởng phẩm chất”, tham nhũng được quy về suy thoái cá nhân thay vì cấu trúc.

Tại Tây Âu, nhà nước được xem là dịch vụ công và công dân là chủ thể quyền. Tại Việt Nam và Trung Quốc, nhà nước là đạo đức tối cao và dân là đối tượng giáo hóa. Quyền không phải thứ đương nhiên mà là được ban. Trong Nho giáo, trật tự quan trọng hơn tự do, ổn định quan trọng hơn chân lý, trung quân quan trọng hơn kiểm soát quyền lực. Hệ quả là phản biện bị coi là gây loạn, đa nguyên là chia rẽ, đối lập là phản nghịch.

Vậy tại sao họ không thừa nhận thẳng? Vì “phong kiến” đồng nghĩa với lạc hậu theo chính tuyên truyền của họ. Nếu thừa nhận cấu trúc phong kiến, toàn bộ tính hợp lý “tiến bộ cách mạng” sụp đổ. Vì vậy họ phải dùng ngôn ngữ Marx-Lenin nhưng vận hành bằng logic Nho giáo.

Mẫu số này không phải mới. Hán, Đường, Tống, Minh, Thanh – mỗi triều đại đều trải qua chu kỳ tương tự. Tại Việt Nam: Lý, Trần, Lê sơ, Nguyễn. Thời hiện đại: cải cách, nới lỏng, siết chặt. Chu kỳ tập quyền là quán tính lịch sử chứ không phải lỗi nhất thời. Xã hội chủ nghĩa lý thuyết đòi hỏi dân chủ nội tại rất cao, trong khi xã hội Việt Nam và Trung Quốc không có truyền thống đó. Ngược lại, phục tùng, trọng trật tự và sợ loạn là những giá trị văn hóa sâu xa. Nho giáo kết hợp với độc đảng phù hợp tâm lý xã hội hơn – đó là lý do Liên Xô tan rã trong khi Việt Nam và Trung Quốc vẫn đứng vững, không phải vì xã hội chủ nghĩa ưu việt mà vì nó ăn khớp với văn hóa chính trị cổ truyền.

Tại sao “pháp quyền xã hội chủ nghĩa” không thể thành hiện thực

Pháp quyền thực chất đòi hỏi luật ràng buộc cả người làm luật, không có chủ thể miễn trừ, quyền lực bị giới hạn trước khi hành động, tòa án độc lập với quyền lực chính trị, và công dân có quyền kiện nhà nước và thắng. Trong diễn ngôn chính thức tại Việt Nam và Trung Quốc, luật là công cụ thực hiện đường lối, Đảng lãnh đạo toàn diện, tòa án bảo vệ chế độ. Luật phục vụ quyền lực thay vì kiểm soát quyền lực.

Mâu thuẫn cốt tử nằm ở câu hỏi: ai là chủ thể tối cao? Trong pháp quyền phương Tây, chủ thể tối cao là Hiến pháp. Trong xã hội chủ nghĩa độc đảng, chủ thể tối cao là Đảng – Hiến pháp có thể sửa khi cần, luật thay đổi theo nhiệm vụ chính trị. Không thể có hai tối cao cùng lúc. Đảng đứng ngoài, đứng trên và đứng trong luật đồng thời: không phải pháp nhân chịu trách nhiệm nhưng chỉ đạo toàn bộ nhà nước; khi sai, chỉ xử lý nội bộ. Cơ chế can thiệp rất cụ thể: Đảng kiểm soát bổ nhiệm thẩm phán, tòa án phải xin ý kiến cấp ủy trước khi xử các vụ quan trọng.

Kèm theo đó là lập luận “đường lối đúng, con người sai” – cơ chế tự vệ cốt lõi của hệ thống. Thể chế được tuyên bố là tối ưu và chính nghĩa. Nếu thừa nhận cơ chế này khiến con người dễ tha hóa thì đồng nghĩa cơ chế không đạo đức, và người dân có lý do đòi thay đổi. Nho giáo không hỏi quyền lực có bị kiểm soát không – nó hỏi người cầm quyền có tu thân chưa, có liêm trung hiếu không. Biến vấn đề thể chế thành vấn đề đạo đức cá nhân. Kết quả là vòng lặp quen thuộc: tham nhũng bùng lên, kết luận là cán bộ suy thoái, mở chiến dịch chỉnh đốn, quyền lực trung ương mạnh hơn, rồi tham nhũng quay lại. Cơ chế không bị đụng tới, chỉ con người bị thay.

Điều này giải thích tại sao cải cách nửa vời chỉ sửa kỹ thuật mà không đụng nền tảng quyền lực thì sau một thời gian hệ thống tự động kéo mọi thứ về trung tâm. Ban luật mới, đổi quy trình, thêm khẩu hiệu minh bạch – nhưng quyền quyết định tối hậu vẫn ở trung ương đảng. Phân quyền thật phải được ghi cứng trong hiến pháp. Tại Việt Nam và Trung Quốc, phân cấp bằng nghị quyết và chỉ thị, trung ương có quyền thu lại bất kỳ lúc nào. Cải cách không có cơ chế tự bảo vệ sẽ bị đảo ngược – thời kỳ Đổi mới những năm 1990 của Việt Nam và xu hướng siết chặt sau 2016 là minh chứng rõ nhất.

Tại sao một số nước đã thoát ra

Nho giáo dạy rằng trên có đức, dưới có phận. Bất công là do con người chưa đủ đạo đức chứ không phải do cấu trúc sai. Bị áp bức thì tự kiểm điểm, gặp bất công thì chờ minh quân. Tham nhũng và lạm quyền không bị nhìn là lỗi thể chế mà là cán bộ thoái hóa – giải pháp luôn là thay người, chỉnh đốn đạo đức, không bao giờ là phân quyền hay thay cấu trúc.

Có sự khác biệt quan trọng giữa biết bằng trải nghiệm và hiểu thành cấu trúc. Nhiều người biết hệ thống có vấn đề: gặp tham nhũng, thấy bất công, va chạm với quan liêu. Nhưng họ thường giải thích bằng gặp người xấu, xui xẻo, chưa có quan hệ. Hiểu thành cấu trúc là nhận ra những trải nghiệm đó không phải ngẫu nhiên mà là sản phẩm tất yếu. Từ gia đình, nhà trường đến xã hội không dạy quyền công dân hay tranh luận chính trị, chỉ dạy đạo đức và nghĩa vụ – người ta không có công cụ khái niệm để hình dung một trật tự khác.

Vậy tại sao một số nơi thoát ra được? Đài Loan, Hàn Quốc và Nhật Bản đều có những điều kiện mà Trung Quốc đại lục và Việt Nam không có.

Đài Loan không kế thừa bộ máy nhà nước Nho giáo đã tồn tại hàng nghìn năm. Khi Quốc Dân Đảng đến năm 1949 với tư cách chính quyền thua trận, họ không có thiên mệnh, không có rễ văn hóa với dân bản địa. Dân bản địa xem Quốc Dân Đảng là ngoại lai – độc tài không được mặc định là đúng mà chỉ là tình thế tạm thời. Xã hội dân sự tồn tại: tiểu thương, doanh nghiệp gia đình, trí thức, tôn giáo, cộng đồng địa phương không bị công xã hóa hay xóa sạch. Khi mở cửa, xã hội có cái để bật lại.

Nhật Bản có phong kiến phân quyền lâu dài với hệ thống lãnh chúa có tính tự trị cao, thiên hoàng không trực tiếp trị quốc. Dù Nho giáo được du nhập nhưng không trở thành hệ tư tưởng trị quốc độc tôn. Sau Thế chiến II, Mỹ cải cách đập vào cấu trúc: giải tán zaibatsu, cải cách ruộng đất, áp đặt hiến pháp hòa bình.

Hàn Quốc thoát độc tài nhờ kết hợp xã hội dân sự mạnh, áp lực từ Mỹ, phong trào quần chúng kiên trì năm 1987, và quan trọng là quân đội không có lịch sử đồng nhất với quốc gia như đảng cộng sản. Độc tài quân sự chỉ dựa vào vũ lực, không có văn hóa chính trị sâu rễ bên dưới.

Mẫu số chung của những nước thoát ra: áp lực bên ngoài, xã hội dân sự còn tồn tại, và độc tài thiếu rễ văn hóa đủ sâu để tự biện minh. Lập luận “dân trí chưa đủ” là vòng luẩn quẩn – dân trí thấp vì không được giáo dục công dân, nhưng lại dùng dân trí thấp để biện minh cho việc không giáo dục công dân. Đài Loan và Hàn Quốc cũng từng bị nói như vậy. Dân trí không phải điều kiện tiên quyết mà là kết quả của thực hành dân chủ.

Trung Quốc và Việt Nam

Trung Quốc và Việt Nam đang ở trạng thái cân bằng độc hại: đủ linh hoạt để không sụp nhưng quá ràng buộc để không thể cải cách sâu. Ở Trung Quốc, Đảng không chỉ cầm quyền mà đồng nhất với lịch sử, quốc gia và trật tự. Cải cách sâu sẽ tách Đảng khỏi dân tộc và biến Đảng thành một tổ chức chính trị có thể thua. Không có độ mở nhỏ cho chính trị – mở là mở toang.

Sau 1989-1991, kết luận chiến lược của Bắc Kinh và Hà Nội là: cải cách kinh tế được, cải cách quản trị có giới hạn, cải cách chính trị là tự sát. Liên Xô không sụp vì nghèo mà sụp vì mất niềm tin trong giới tinh hoa và cán bộ – đây là bài học mà họ đọc kỹ và rút ra.

Trong giai đoạn 2000-2012, Bắc Kinh chấp nhận một mức độ thảo luận cấu trúc nhất định: blog và diễn đàn trí thức nở rộ, báo chí điều tra tương đối mạnh. Đảng tin rằng tăng trưởng kinh tế cộng cải thiện đời sống sẽ trung hòa mọi thảo luận. Đây là đánh giá sai. Khoảng 2008-2012 xuất hiện những dấu hiệu nguy hiểm: trí thức trẻ không còn dùng ngôn ngữ chính thống, cán bộ cấp thấp và trung vẫn im lặng nhưng ngừng tin – làm việc như người đóng vai. Hệ thống có thể vận hành bằng cưỡng bức nhưng không vận hành bền nếu người trong cuộc không tin. Khi lãnh đạo mới lên năm 2012, việc tái phong tỏa tư tưởng mạnh mẽ không phải bảo thủ cá nhân mà là thực thi một kết luận chiến lược đã có sẵn: cắt đứt khả năng hình thành khung tư duy thay thế.

Họ làm rất mạnh, không nửa vời, vì họ hiểu một điều đúng: một khi con người đã hiểu cấu trúc, bạn không thể bắt họ tin lại bằng tuyên truyền. Do đó phải chặn từ đầu, liên tục, trên mọi không gian.

Nhưng có những điểm nghẽn mà hệ thống kiểm soát kém. Không phải biểu tình chính trị, mà là những mâu thuẫn phi chính trị có sức phá cấu trúc: giá nhà cao, việc làm bấp bênh, thăng tiến phụ thuộc quan hệ chính trị. Khi người ta không còn tin cố gắng là sẽ khá, kết quả là rút lui hàng loạt – không sinh, không tiêu, không tin tương lai. Dân số giảm, già hóa nhanh, gánh nặng an sinh tăng, thiếu người đóng thuế. Tinh hoa kinh tế rút vốn và chuyển gia đình ra ngoài vì tài sản có thể bị can thiệp bất cứ lúc nào. Trung ương nắm quyền nhưng địa phương gánh chi tiêu, dẫn đến nợ địa phương phình to và dịch vụ công xuống cấp.

Điểm yếu lớn nhất của hệ thống này không phải là phản kháng chính trị mà là sự rút lui âm thầm. Đây là dạng bất ổn mà không có công an nào đàn áp được, không có tuyên truyền nào thuyết phục được. Khi một hệ thống chỉ còn duy trì bằng cưỡng bức và kiểm soát, không còn niềm tin tự nguyện, nó đang sống nhờ quán tính chứ không phải sức sống.

Hiểu được cấu trúc không tự động tạo ra thay đổi. Nhưng nó làm một việc quan trọng hơn: phá vỡ khả năng tự lừa mình. Một khi đã không còn tin, người ta không thể bị bắt phải tin lại. Đó là lý do các hệ thống này sợ phân tích cấu trúc hơn sợ biểu tình đường phố – biểu tình có thể đàn áp, nhưng khi khung hiểu đã đổi, không có lực lượng nào lấy lại được.

Bình luận về bài viết này