tại sao các nước cộng sản Đông Nam Á tiên phong cách mạng nhưng lại độc lập muộn ?

Tieu Than Khai

Nhìn vào Đông Nam Á hậu Thế chiến II, hai quỹ đạo khác nhau dẫn đến độc lập và hòa bình hiện ra khá rõ nét. Philippines ổn định từ năm 1946 sau khi Mỹ trao trả độc lập. Malaysia độc lập năm 1957 qua đàm phán với Anh, dù tình trạng khẩn cấp chống cộng sản còn kéo dài qua hai giai đoạn đến tận 1989. Thái Lan, chưa từng bị đô hộ, không có chiến tranh giải phóng để nói đến. Trong khi đó, Việt Nam phải đến năm 1975 mới thống nhất, đến 1989 mới rút quân khỏi Campuchia, và đến 1995 mới bình thường hóa quan hệ với Mỹ – tức là chậm hơn các láng giềng từ 30 đến 40 năm tùy mốc tính.

Khoảng cách này không phải ngẫu nhiên, và cũng không thể giải thích hoàn toàn bằng điều kiện địa lý hay lịch sử.

Dù điều kiện xuất phát không đồng nhất, sự chênh lệch về thời gian đạt hòa bình vẫn quá lớn để chỉ giải thích bằng hoàn cảnh bên ngoài. Tại Việt Nam, phong trào giải phóng dân tộc gắn liền mật thiết với hệ tư tưởng Cộng sản, biến cuộc chiến không còn đơn thuần là phi thực dân hóa mà trở thành một phần của Chiến tranh Lạnh. Nhà sử học Odd Arne Westad chỉ ra một tính lưỡng diện cốt lõi: các đảng cộng sản không chỉ chiến đấu cho chủ nghĩa dân tộc mà đồng thời phụng sự chủ nghĩa quốc tế vô sản. Chính sự kết hợp này biến họ thành mục tiêu ngăn chặn của Mỹ theo một cách mà các phong trào dân tộc thuần túy không phải chịu đựng. Một cuộc chiến giành độc lập thông thường có thể kết thúc bằng một hiệp ước; một cuộc chiến ý thức hệ chỉ kết thúc khi một bên bị tiêu diệt hoàn toàn về mặt chính trị.

Điểm mấu chốt thứ hai nằm ở học thuyết quân sự. Các đảng cộng sản không chỉ chiến đấu cho độc lập dân tộc mà còn nhắm đến cách mạng vô sản và cải biến toàn bộ cấu trúc xã hội. Việc kiên trì theo đuổi “thắng lợi hoàn toàn” thay vì các giải pháp thỏa hiệp chính trị khiến chiến tranh kéo dài đến khi một bên sụp đổ hoàn toàn. Các nước phi cộng sản chọn “giải thực dân hóa thông qua thương lượng”; các nước cộng sản chọn “giải thực dân hóa thông qua bạo lực cách mạng”. Sự lựa chọn phương thức này kéo dài thời gian đạt được mục tiêu lên gấp nhiều lần.

Trong giai đoạn 1945–1954, các đảng phái dân tộc không cộng sản như Việt Quốc, Việt Cách, Đại Việt bị gạt bỏ hoặc thanh trừng. Nhiều tổ chức trong số này có thực lực yếu và phụ thuộc vào Trung Hoa Dân Quốc – song sự loại bỏ họ đã thu hẹp không gian chính trị, biến cuộc chiến giải phóng dân tộc thành cuộc chiến giành độc quyền lãnh đạo của một đảng duy nhất và giảm thiểu các kênh đàm phán khả dĩ.

Vị trí địa chiến lược càng đẩy cường độ xung đột lên cao hơn. Việt Nam nằm ngay sát Trung Quốc và án ngữ tuyến đường biển huyết mạch, khiến cả Mỹ lẫn Liên Xô và Trung Quốc sẵn sàng đổ nguồn lực khổng lồ để “giữ chốt”. Chiến tranh biến thành cuộc tiêu hao khốc liệt ở cường độ mà phần lớn các cuộc chiến giải phóng dân tộc khác không phải chịu đựng – Mỹ ném xuống Đông Dương khoảng 7,6 triệu tấn bom, biến đây trở thành vùng đất bị ném bom nhiều nhất trong lịch sử chiến tranh hiện đại.

Tất cả những yếu tố đó bắt nguồn từ một nghịch lý căn bản: hai nhóm nước xuất phát từ hai định nghĩa hoàn toàn khác nhau về đích đến. Với các nước phi cộng sản, thành công đồng nghĩa với hòa bình và phát triển kinh tế – độc lập là phương tiện để đạt thịnh vượng. Với các nước cộng sản, thành công là giành chính quyền và thắng lợi ý thức hệ – độc lập chỉ có ý nghĩa khi gắn liền với cuộc cách mạng vô sản hoàn chỉnh. Khi đặt mục tiêu ý thức hệ lên hàng đầu, các nước này chấp nhận hy sinh xương máu và kéo dài thời gian để đạt được sự độc lập “tinh khiết” theo quan điểm của mình. Hệ quả là trong khi một bên đo thành công bằng tốc độ tăng trưởng GDP và tuổi thọ bình quân, bên kia đo bằng mức độ thuần nhất ý thức hệ – hai thước đo dẫn đến hai quỹ đạo lịch sử hoàn toàn khác biệt.

Tại các nước cộng sản, chiến tranh thực tế không kết thúc khi mặt trận chính quy ngưng nổ súng. Xung đột diễn ra trên hai chiều đồng thời.

Về đối nội, việc thiết lập hệ thống cộng sản đòi hỏi sự thống nhất tuyệt đối về tư tưởng, dẫn đến các chiến dịch cải tạo, thanh lọc và tái cấu trúc xã hội kéo dài ngay cả khi quân ngoại xâm đã rút. Tại Việt Nam sau 1975, các trại cải tạo, chính sách đánh tư sản và phong trào tập thể hóa nông nghiệp tạo ra những làn sóng bất ổn và di dân nội địa kéo dài sang thập niên 1980 – một dạng xung đột không có tiếng súng nhưng không kém phần tốn kém về nguồn lực và nhân lực.

Về đối ngoại, sau mốc 1975, Việt Nam mất thêm hơn 10 năm sa lầy tại Campuchia và đối đầu với Trung Quốc ở biên giới phía Bắc. Đây là hệ quả của việc gia nhập liên minh Xô Viết trong bối cảnh mâu thuẫn Xô–Trung leo thang, cuốn Việt Nam vào các cuộc đối đầu không phải của mình. Phải đến năm 1989, khi rút quân hoàn toàn khỏi Campuchia, và năm 1995, khi bình thường hóa quan hệ với Mỹ, Việt Nam mới thực sự bước ra khỏi vòng xoáy chiến tranh.

Quỹ đạo đó không phải của riêng Việt Nam. Lào và Campuchia – hai nước cộng sản còn lại trong khu vực – đi theo cùng hướng nhưng với những biến thể phản ánh rõ hơn cái giá của “thắng lợi ý thức hệ tuyệt đối”. Lào chính thức trở thành nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân năm 1975, sau nhiều thập kỷ là chiến trường của “Cuộc chiến bí mật” do CIA tài trợ. Quá trình tập thể hóa nông nghiệp và xây dựng các trại cải tạo tư tưởng (re-education camps) dẫn đến làn sóng di dân khổng lồ – ước tính 10% dân số Lào rời bỏ đất nước trong giai đoạn 1975–1980, tỷ lệ cao nhất khu vực trong cùng thời kỳ.

Campuchia là trường hợp cực đoan nhất. Khmer Đỏ, với tư tưởng đẩy “ý thức hệ tuyệt đối” đến tận cùng, đã thực hiện cuộc cải tạo xã hội triệt để nhất trong lịch sử hiện đại: xóa bỏ tiền tệ, cưỡng bức di dân toàn bộ đô thị, tiêu diệt tầng lớp trí thức. Kết quả là từ 1,5 đến 2 triệu người chết trong giai đoạn 1975–1979 – khoảng 25% dân số. Sau khi Việt Nam can thiệp lật đổ Khmer Đỏ năm 1979, Campuchia lại rơi vào nội chiến thêm hơn một thập kỷ, mãi đến năm 1991 mới có Hiệp định Paris về hòa bình. Tính từ cuộc đảo chính Lon Nol năm 1970 – thời điểm Campuchia thực sự bị cuốn vào vòng xoáy chiến tranh – đến 1991, đất nước này trải qua 21 năm xung đột liên tục không một ngày ngơi nghỉ.

Ba nước Đông Dương cộng sản cùng bước ra khỏi chiến tranh muộn hơn các láng giềng phi cộng sản từ 30 đến 40 năm – và trong cả ba trường hợp, ý thức hệ cùng mô hình chính trị là yếu tố kéo dài đáng kể thời gian đạt được hòa bình ổn định.

Châu Phi về đích sớm hơn

Khi mở rộng phạm vi so sánh ra toàn cầu, bức tranh càng rõ hơn. Năm 1960 được gọi là “Năm Châu Phi” khi 17 quốc gia tuyên bố độc lập cùng một lúc, phần lớn qua quá trình chuyển giao chính trị – trong khi Việt Nam cùng thời điểm đó đang ở giữa giai đoạn khốc liệt nhất của cuộc chiến chống Mỹ.

Tại châu Phi thập niên 1960, các phong trào độc lập phần lớn mang tính chủ nghĩa dân tộc thuần túy. Vì không mang tính “Cộng sản hóa”, các cường quốc phương Tây không có lý do để can thiệp quân sự vô hạn độ nhằm ngăn chặn. Hệ quả là các cuộc xung đột kết thúc sớm hơn, dù một số nước sau đó vẫn rơi vào bất ổn nội bộ.

Một luận điểm tuyên truyền thường thấy cho rằng các nước châu Phi vì không có đảng cộng sản lãnh đạo cách mạng nên đến nay vẫn phải “nộp thuế thuộc địa” cho Pháp – hàm ý rằng chỉ có con đường cộng sản mới đem lại độc lập thực sự. Đây là sự xuyên tạc có chủ đích. Thực tế, không tồn tại bất kỳ khoản “thuế thuộc địa” nào theo nghĩa pháp lý hay tài chính. Điều thường bị dẫn ra làm bằng chứng là hệ thống đồng franc CFA – một cơ chế tiền tệ theo đó 14 quốc gia Tây và Trung Phi trước năm 2019 ký gửi 50% dự trữ ngoại hối tại Kho bạc Pháp để đổi lấy sự bảo lãnh tỷ giá và khả năng chuyển đổi quốc tế. Người đọc thường nhầm lẫn giữa “dự trữ ngoại hối” – tiền gửi tiết kiệm của quốc gia vẫn thuộc sở hữu của mình – với “thuế” là tiền nộp đi mất. Số tiền ký gửi vẫn thuộc sở hữu của các nước châu Phi, Pháp phải trả lãi, và mục đích ban đầu là để tránh lạm phát phi mã và duy trì khả năng giao dịch quốc tế.

Hơn nữa, toàn bộ cơ chế ký gửi này đã chính thức chấm dứt theo thỏa thuận 2019–2020, Pháp đồng thời rút đại diện khỏi hội đồng quản trị các ngân hàng trung ương khu vực. Đồng CFA đang trong quá trình chuyển đổi sang đồng tiền mới mang tên Eco để cắt đứt hoàn toàn dấu ấn thời thuộc địa – kể cả cái tên. Một bằng chứng phản chứng đơn giản: nếu “thuế thuộc địa” thực sự tồn tại, Trung Quốc, Nga và Mỹ – những cường quốc đang cạnh tranh ảnh hưởng tại châu Phi – chắc chắn đã lên tiếng mạnh mẽ tại Liên Hợp Quốc từ lâu để hạ bệ Pháp. Thực tế không có điều đó xảy ra.

Sự lệ thuộc kinh tế còn tồn tại ở một số nước châu Phi đến từ quản trị nội bộ yếu kém, tham nhũng và các hợp đồng tài nguyên bất lợi – không liên quan gì đến việc có hay không có đảng cộng sản nắm quyền. Luận điểm “thuế thuộc địa” tồn tại vì nó phục vụ ba mục đích tuyên truyền cùng lúc: đề cao một mô hình chính trị bằng cách tạo ra so sánh khập khiễng, kích động tâm lý bài Tây phương bằng cách khai thác nỗi đau thời thuộc địa, và lợi dụng sự nhầm lẫn kinh tế của người đọc phổ thông.

Nghịch lý thực sự nằm ở chiều ngược lại: Việt Nam lựa chọn đối đầu triệt để với phương Tây và phải chịu cấm vận kinh tế gần 20 năm sau 1975, đẩy mốc phát triển thực sự lùi về cuối thế kỷ 20 – trong khi các nước châu Phi dù có quan hệ phức tạp với chính quốc cũ vẫn tiếp cận được thị trường và vốn đầu tư quốc tế ngay từ những năm 1960.

Hệ thống thực dân có sụp đổ vì Việt Nam tiên phong ?

Một câu hỏi liên quan là liệu các đảng cộng sản có thực sự đóng vai trò quyết định trong việc chấm dứt chủ nghĩa thực dân toàn cầu như họ tự nhận. Các nghiên cứu lịch sử hiện đại của Martin Shipway và Dietmar Rothermund chỉ ra rằng sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân sau 1945 là một tiến trình không thể đảo ngược do các yếu tố khách quan. Anh, Pháp, Hà Lan đều kiệt quệ về kinh tế và suy yếu về quân sự sau Thế chiến II, không còn đủ nguồn lực duy trì hệ thống hải ngoại. Đồng thời cả Mỹ lẫn Liên Xô đều gây áp lực đòi giải tán các đế chế thực dân cũ, trong khi Hiến chương Đại Tây Dương và Liên Hợp Quốc đặt quyền tự quyết dân tộc thành nguyên tắc quốc tế được thừa nhận rộng rãi.

Các trường hợp cụ thể nói lên điều đó: Philippines nhận độc lập từ Mỹ năm 1946 mà không cần một cuộc chiến cộng sản. Ấn Độ giành độc lập năm 1947 qua phong trào phi bạo lực. Indonesia giành độc lập năm 1949 qua đấu tranh dân tộc chủ nghĩa kết hợp áp lực ngoại giao. Hệ thống thực dân sẽ sụp đổ dù có hay không có sự hiện diện của các đảng cộng sản. Vai trò “tiên phong” thường phản ánh diễn ngôn chính trị nội bộ hơn là yếu tố quyết định cục diện toàn cầu.

Lý thuyết “Hòa bình tư bản” (Capitalist Peace) trong nghiên cứu quan hệ quốc tế lý giải tại sao các nước ASEAN đời đầu thoát khỏi vòng xoáy chiến tranh nhanh hơn: bằng cách hội nhập vào hệ thống thương mại toàn cầu do phương Tây dẫn dắt, họ chuyển đổi xung đột từ chiến trường sang cạnh tranh kinh tế. Tranh chấp lợi ích được giải quyết qua đàm phán thương mại và tổ chức khu vực – ASEAN thành lập năm 1967 – thay vì bằng súng đạn. Chấp nhận nhượng bộ một phần chủ quyền kinh tế đổi lại sự ổn định và viện trợ từ phương Tây là cái giá họ sẵn sàng trả, và đó chính xác là những gì các nước cộng sản từ chối.

Khi Việt Nam bắt đầu Đổi mới năm 1986, Thái Lan và Malaysia đã có ba thập kỷ xây dựng hạ tầng và công nghiệp xuất khẩu liên tục. Những “con hổ, con rồng” kinh tế châu Á hình thành trong khoảng thời gian mà Đông Dương vẫn chìm trong chiến tranh – đây là cái giá cụ thể và đo được của việc về đích muộn. Mốc bình thường hóa quan hệ với Mỹ năm 1995 và việc gia nhập ASEAN cùng năm đánh dấu điểm khởi đầu thực sự của hội nhập kinh tế – gần nửa thế kỷ sau khi các nước láng giềng đã bước vào vòng quay đó.

Bình luận về bài viết này