80 năm QĐNDVN: Những sự thật cần làm rõ về sự ra đời của Đội Việt Nam Tuyên Truyền Giải Phóng quân

 Tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ

 Cách đây 80 năm, ngày 22/12/1944, tại một khu rừng nằm giữa hai tổng Trần Hưng Đạo và Hoàng Hoa Thám, tỉnh Cao Bằng, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân (ĐVNTTGPQ), gồm 34 cán bộ, chiến sĩ dưới sự chỉ huy chung của Võ Nguyên Giáp, được thành lập. Cho dù ra đời sau Cứu quốc quân – lực lượng được thành lập vào ngày 14/2/1941 sau cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn ở tỉnh Lạng Sơn – ĐVNTTGPQ vẫn được xem là “anh cả” của các lực lượng vũ trang do Đảng cộng sản Việt Nam tổ chức và lãnh đạo, là tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Lý do khiến ĐVNTTGPQ có vị trí đặc biệt này chính là sự chỉ đạo trực tiếp từ Hồ Chí Minh – lãnh tụ của Đảng Cộng sản Việt Nam và Việt Minh. Trong một chỉ thị viết tay, được gửi trong vỏ bao thuốc lá tới Võ Nguyên Giáp vào giữa tháng 12/1944, Hồ Chí Minh nhấn mạnh:

“Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân là đội quân đàn anh, mong cho chóng có những đội đàn em khác.”

Chính vì vậy, ngày 22/12/1944 đã được xác định là ngày khai sinh Quân đội Nhân dân Việt Nam – đội quân mang sứ mệnh lịch sử đồng hành cùng dân tộc trong công cuộc giải phóng đất nước và bảo vệ tổ quốc.

Những hình ảnh lịch sử thường được chú thích là chụp tại lễ thành lập ĐVNTTGPQ đã khắc họa một đội quân đặc biệt: các chiến sĩ và cả vị chỉ huy, Võ Nguyên Giáp, đều đi chân đất. Hình ảnh này chính là biểu tượng cho hoàn cảnh khắc nghiệt, sự hy sinh và lòng quyết tâm của đội quân cách mạng, những yếu tố sẽ tạo nên những dấu ấn sâu đậm không chỉ trong lịch sử chống ngoại xâm của Việt Nam mà cả trong lịch sử quân sự thế giới.

Tuy nhiên, lịch sử luôn chứa đựng những vấn đề cần được làm sáng tỏ. Tại sao Võ Nguyên Giáp được lựa chọn làm chỉ huy đội quân này? Nếu không phải ông, ai khác có thể đảm nhận vai trò ấy? Và liệu những bức ảnh thường được xem là ghi lại lễ thành lập ĐVNTTGPQ có thực sự được chụp vào ngày 22/12/1944, hay là từ một sự kiện khác?

Bài viết này nhằm giải đáp các câu hỏi trên, góp phần giải mã những chi tiết ít được nhắc đến về sự ra đời của “Đội quân chân đất” – khởi nguồn của Quân đội nhân dân Việt Nam như một chương sử quan trọng của cách mạng Việt Nam.

Tại sao Võ Nguyên Giáp?

Sáu thập niên sau ngày ra đời của ĐVNTTGPQ, vào những năm 2003 – 2004, tôi có dịp được đến thăm và trò chuyện nhiều lần với Đại tướng Võ Nguyên Giáp tại nhà riêng của ông trên đướng Hoàng Diệu, Hà Nội. đã được tôi thuật lại chi tiết trong bài viết “Đại tướng Võ Nguyên Giáp – Chân dung một huyền thoại”, đăng trên Tạp chí Hồn Việt vào năm 2004 nhân nhân kỷ niệm 50 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ (1). Dưới đây là một trích đoạn:

“Nghỉ giải lao, Đại tướng mời tôi “nào ta cụng chén”. Như mạch nước ngầm, những câu chuyện về khởi phát binh nghiệp của ông vào những năm 40 của thế kỷ trước cứ thế tuôn trào lấp đầy tuần trà.

“Đến bây giờ tôi vẫn không hiểu tại làm sao Bác lại giao cho tôi phụ trách công tác quân sự -Nhấp một ngụm nước, Đại tướng tiếp tục – Bác cũng chỉ hỏi: “Chú Văn có làm quân sự được không?” và Bác giao cho tôi công tác này trong khi bản thân tôi chưa hề đọc một cuốn sách giáo khoa quân sự nào dù đó là dành cho cấp tiểu đội trưởng và lúc ấy đã có đồng chí tốt nghiệp Trường quân sự Hoàng Phố, từng là sĩ quan bên Trung Quốc. Cảm tưởng của tôi lúc ấy ra sao? Thực tình lúc đó tôi cũng không nghĩ gì và luôn tin tưởng tuyệt đối vào các quyết định của Bác. Sau này cũng vậy, trong một cuộc họp của Hội đồng Chính phủ vào tháng 1/1948, Bác nói:“Chính phủ phong chú Văn làm Đại tướng”, chỉ có thế thôi và không báo trước. Sau đó thì Bác mới ra Sắc lệnh với tư cách Chủ tịch Nước và tổ chức lễ phong hàm cho tôi. Về việc này, anh Cù Huy Cận lúc đó là Tổng thư kí Hội đồng Chính phủ biết rất rõ”.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ tại nhà riêng của Đại tướng tại Hà nội, 4/9/2003

Lời thổ lộ của Đại tướng khiến tôi thực sự bất ngờ. Cũng như nhiều người khác, tôi luôn cho rằng việc ông trở thành vị chỉ huy đầu tiên của ĐVNTTGPQ và Quân đội Nhân dân Việt Nam là điều đương nhiên. Thực tiễn lịch sử đã cho thấy nhiều nhà cách mạng trên thế giới trở thành các chỉ huy quân sự dù không qua đào tạo quân sự bài bản. Tôi định bụng hỏi ông ai là “đồng chí tốt nghiệp Trường quân sự Hoàng Phố, từng là sĩ quan bên Trung Quốc”, tức người đã có thể là “người anh cả” của QĐNDVN  thay vì ông. Tuy nhiên lúc đó có nhiều chuyện quan trọng hơn để hỏi vị Tổng tư lệnh nên tôi lại thôi. Mặc dầu vậy, câu hỏi đó vẫn canh cánh bên lòng. Và cuối cùng, qua nghiên cứu tài liệu và bằng phương pháp loại trừ, tôi đã tìm ra được nhân vật bí ẩn đó.

Trường quân sự Hoàng Phố, được thành lập vào năm 1924 với sự giúp đỡ của Liên Xô, ra đời sau khi các cường quốc phương Tây từ chối yêu cầu của Tôn Trung Sơn, lãnh tụ Quốc Dân Đảng Trung Quốc, về việc hỗ trợ đào tạo sĩ quan cho quân đội của đảng này trong cuộc chiến chống lại tình trạng cát cứ do các thế lực quân phiệt gây ra (Trường tồn tại đến năm 1927, khi cánh hữu Quốc dân Đảng Trung Quốc dưới sự lãnh đạo của Tưởng Giới Thạch tiến hành đảo chính vũ trang ở Thượng Hải chống cánh tả của đảng này và Đảng Cộng sản Trung Quốc).

Vì lý do đã rõ, ngoài các chuyên gia Liên Xô giảng dạy các chuyên ngành quân sự dưới sự lãnh đạo của Mikhail Borodin, đại diện của Quốc tế cộng sản ở Trung Quốc và cố vấn tối cao của Tôn Trung Sơn, trường có trong biên chế người của Đảng cộng sản Trung Quốc. Bên canh Hiệu trưởng Tưởng Giới Thạch, người thân tín của Tôn Trung Sơn, có phó chủ nhiệm Chính trị bộ Chu Ân Lai, một nhân vật quan trọng của Đảng cộng sản Trung Quốc. Với sư giới thiệu của Hồ Chí Minh, là phiên dịch cho Borodin ở Quảng Châu, nhiều thành viên Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí hội do ông thành lập, như Lê Hồng Phong, Nguyễn Sơn, Phùng Chí Kiên, Lê Thiết Hùng…, đã được nhận vào học tại trường. Tuy nhiên, chỉ có Lê Thiết Hùng đáp ứng được tiêu chí “đồng chí tốt nghiệp Trường quân sự Hoàng Phố, từng là sĩ quan bên Trung Quốc.”

Lê Thiết Hùng, tên thật là Lê Văn Nghiệm, sinh năm 1908 tại làng Đông Thôn, tổng Thông Lãng, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An, trong một gia đình giàu truyền thống yêu nước. Năm 1923, ông cùng 12 thanh niên xứ Nghệ, trong đó có Lê Hồng Phong và Phạm Hồng Thái, sang Xiêm với mục tiêu tìm đường cứu nước. Từ Xiêm, nhóm đã tiếp tục hành trình sang Quảng Châu để gặp Nguyễn Ái Quốc, lúc đó có bí danh Lý Thụy. Vị lãnh tụ tương lai của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã đổi tên ông thành Lê Quốc Vọng với ý nghĩa luôn nhớ về Tổ Quốc và giới thiệu ông vào học ở Trường quân sự Hoàng Phố như đã đề cập.

Có tài liệu ghi rằng Lê Thiết Hùng từng theo học lớp bộ binh. Tuy nhiên, việc ông được bổ nhiệm làm Tư lệnh đầu tiên của Binh chủng Pháo binh Quân đội Nhân dân Việt Nam vào năm 1956 cho thấy khả năng ông đã học lớp pháo binh trong thời gian được đào tạo tại trường. Đáng chú ý, mỗi tháng, các học viên người Việt Nam tại Hoàng Phố đều dành hai ngày để ngược thuyền về Quảng Châu tham dự các buổi học lý luận chính trị do Nguyễn Ái Quốc giảng dạy.

Sau khi tốt nghiệp Trường quân sự Hoàng Phố, Lê Thiết Hùng tham gia quân đội Tưởng Giới Thạch theo yêu cầu của Nguyễn Ái Quốc. Nhờ tài năng quân sự vượt trội, ông nhanh chóng thăng tiến và đạt đến cấp bậc đại tá (đại hiệu). Trong vai trò này, ông cùng bố vợ là Hồ Học Lãm, một nhà cách mạng Việt Nam, từng là bạn học sĩ quan và cũng là một sĩ quan cao cấp trong Bộ Tổng Tham mưu của Tưởng Giới Thạch, đã bí mật cung cấp vũ khí, quân nhu và thông tin về kế hoạch tấn công của quân Tưởng cho Đảng Cộng sản Trung Quốc. Nhờ những thông tin quan trọng này, các đợt tấn công của quân Quốc Dân Đảng vào các khu Xô Viết của Đảng Cộng sản Trung Quốc đều thất bại. Lê Thiết Hùng gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam vào năm 1930 và Đảng Cộng sản Trung Quốc vào năm 1931, khẳng định vai trò của ông trong cả hai phong trào cách mạng lớn tại Việt Nam và Trung Quốc.

Thiếu tướng Lê Thiết Hùng (thứ hai, hàng sau) và gia đình nhà cách mạng Hồ Học Lãm

Mùa hè năm 1940, sau khi Pháp bị phát xít Đức đánh bại và chiếm đóng, tình hình quốc tế có nhiều biến động, Nguyễn Ái Quốc, lúc này bắt đầu dùng tên Hồ Chí Minh (2), và Phùng Chí Kiên – Ủy viên Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương, đồng thời là người phụ trách công tác quân sự của Đảng – đã viết thư yêu cầu Lê Thiết Hùng rời khỏi quân đội Tưởng Giới Thạch để trở về nước nhận nhiệm vụ mới. Lần này, Nguyễn Ái Quốc đã đặt cho ông một cái tên mới: Lê Đinh, tượng trưng cho sự kiên định và sẵn sàng gánh vác trọng trách lớn trong phong trào cách mạng Việt Nam.

Ngày 28/1/1941, sau 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh trở về Việt Nam và lấy Pác Bó thuộc tỉnh Cao Bằng làm căn cứ. Thiếu tướng Lê Quảng Ba, người tháp tùng vị lãnh tụ trong chuyến trở về này và là một trong những chỉ huy quân sự chủ chốt của quân đội cách mạng thời kỳ đầu, đã kể lại:

“Tôi nghĩ bụng, Bác bảo đồng chí Hùng ở lại chắc hẳn là có ý định gì đây, vì từ sau khi đồng chí Phùng Chí Kiên hy sinh thì chỉ có đồng chí Hùng có mặt ở Pắc Bó, là người duy nhất được đào tạo về quân sự một cách chính quy, cơ bản và hệ thống ở trường Võ bị Hoàng Phố. Vào một buổi trưa, tôi và anh Lê Thiết Hùng đang ngồi bàn công việc như thường lệ, thì Bác đến. Người bảo chúng tôi: “Phong trào Việt Minh càng phát triển thì địch sẽ tìm cách đối phó… ở đây bây giờ đã có một số súng ống… và rải rác mỗi người một nơi… Vì vậy đồng chí Lê Đinh hãy cùng đồng chí Lê Quảng Ba bàn với nhau nên tổ chức lực lượng cầm súng như thế nào. Các đồng chí làm kế hoạch rồi báo cáo…” (3)

Ngay sau chỉ thị này của Hồ Chí Minh, đội vũ trang đầu tiên ở Pác Bó được thành lập, gồm 12 người, trong đó có một nữ là Nông Thị Trưng (4). Lê Quảng Ba được giao làm đội trưởng, còn Lê Thiết Hùng giữ vai trò chính trị viên.

Tháng 10/1941, Hồ Chí Minh tiếp tục giao Lê Thiết Hùng cùng với Lê Quảng Ba, Hoàng Sâm mở lớp huấn luyện quân sự tập trung đầu tiên tại Pác Bó để tiến tới thành lập lực lượng vũ trang chính quy cho cách mạng.

Những sự kiện này cho thấy nhận định của Võ Nguyên Giáp về khả năng Lê Thiết Hùng – “đồng chí tốt nghiệp Trường quân sự Hoàng Phố, từng là sĩ quan bên Trung Quốc” – được Hồ Chí Minh giao trọng trách thành lập ĐVNTTGPQ là hoàn toàn có cơ sở.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Thiếu tướng Lê Thiết Hùng. Chiến khu Việt Băc, 1948

Vậy tại sao Hồ Chí Minh lại chọn Võ Nguyên Giáp, một người chưa từng được đào tạo quân sự, chưa có kinh nghiệm cầm quân, và thậm chí kém Lê Thiết Hùng đến 10 năm tuổi Đảng?

Quan hệ Việt – Trung là một trong những mối quan hệ phức tạp nhất trong lịch sử thế giới, bởi Trung Quốc luôn nuôi tham vọng xâm chiếm và chi phối Việt Nam. Hôm nay là anh em, nhưng ngày mai láng giềng phương Bắc hoàn toàn có thể trở thành kẻ thù nguy hiểm nhất của Việt Nam.

Là một nhà lãnh đạo yêu nước và quốc gia chủ nghĩa nổi trội, đồng thời là một nhà hoạt động quốc tế sắc bén, Hồ Chí Minh không thể lơ là trước mối nguy hiểm chết người này. Điều này được minh chứng chỉ vài năm sau khi lực lượng Quốc dân Đảng Trung Quốc, dưới danh nghĩa “giải giáp quân Nhật,” đưa quân vào miền Bắc Việt Nam (Hoa quân nhập Việt), mà thực chất tìm cách kiểm soát lãnh thổ Việt Nam.

Trong bối cảnh đó, Hồ Chí Minh có lẽ đã cân nhắc rất kỹ về lý lịch và các mối quan hệ của Lê Thiết Hùng với Trung Quốc. Dù ông có năng lực quân sự xuất sắc, từng giữ cấp bậc đại tá trong quân đội Tưởng Giới Thạch, nhưng chính điều này có thể trở thành bất lợi khi giao ông trọng trách chỉ huy quân đội cách mạng – lực lượng dự kiến sẽ trở thành quân đội quốc gia tương lai. Hồ Chí Minh hiểu rằng việc để một người từng phục vụ trong Quốc dân Đảng Trung Quốc giữ vai trò chỉ huy quân sự hàng đầu chắc chắn không phải là giải pháp lý tưởng trong bối cảnh sự can thiệp tiềm tàng từ Trung Quốc luôn là mối đe dọa lớn. Đặc biệt, phong trào cách mạng Việt Nam thời kỳ này cần phải bảo toàn và khẳng định tinh thần độc lập dân tộc mạnh mẽ hơn bao giờ hết.

Hơn nữa, việc Lê Thiết Hùng là Đảng viên Đảng Cộng sản Trung Quốc cũng có thể làm dấy lên nghi ngại trong nội bộ những người cộng sản Việt Nam, vốn được định hình bởi chủ nghĩa quốc gia – dân tộc. Điều này có thể gây khó khăn trong việc tạo dựng sự thống nhất và lòng tin trong hàng ngũ cách mạng.

Tuy nhiên, lý do chính khiến Hồ Chí Minh lựa chọn Võ Nguyên Giáp có lẽ nằm ở trực giác nhạy bén của Hồ Chí Minh với tư cách một chiến lược gia vĩ đại, điều mà thực tế đã kiểm nghiệm và chứng minh một cách chính xác tuyệt đối. Có thể kể ra một số ví dụ.

Vào năm 1924, trong “Báo cáo về Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ” (nguyên văn bằng tiếng Pháp, hiện lưu tại Viện Mác-Lênin ở Mátxcơva), Hồ Chí Minh đã dự đoán về cách mạng Việt Nam: “Để có cơ thắng lợi, một cuộc khởi nghĩa vũ trang ở Đông Dương phải có tính chất một cuộc khởi nghĩa quần chúng… Cuộc khởi nghĩa phải được chuẩn bị trong quần chúng, nổ ra trong thành phố… chứ không phải nổ ra đột ngột ở biên giới Trung Quốc theo phương pháp của những nhà cách mạng trước đó.”

Tháng 5/1941, vài tháng sau khi về nước, Hồ Chí Minh đã triệu tập và chủ trì Hội nghị Trung ương lần thứ 8 của Đảng Cộng sản Đông Dương. Hội nghị ra nghị quyết khẳng định: “Nhiệm vụ giải phóng dân tộc, độc lập cho đất nước là nhiệm vụ trước tiên của Đảng ta” và thành lập Mặt trận Việt Minh. Trong thời gian này, ông viết diễn ca “Lịch sử nước ta” (do Việt Minh Tuyên truyền Bộ xuất bản tháng 2/1942). Trong phần “Những năm quan trọng” ở cuối diễn ca, Hồ Chí Minh viết: “Việt Nam độc lập: 1945”(5).

Đầu năm 1953, tại một cuộc họp Hội đồng Chính phủ, mà thân phụ người viết bài này, Cù Huy Cận, là Tổng thư ký, ở Chiến khu Việt Bắc, Luật sư Phan Anh đọc hai câu ca dao:

“Diệt thù giải phóng quê ta

Ấy là nghĩa nặng, ấy là tình sâu.”

Hồ Chí Minh đứng dậy và đọc tiếp:

“Đành rằng chờ đợi ít lâu

Chầy ra là một năm sau vội gì”

Trang cuối diễn ca “Lịch sử nước ta” của Hồ Chí Minh.

Việt Minh tuyên truyền Bộ xuất bản tháng 2/1942

Từ xuân 1947, Hồ Chí Minh đã chỉ thị phải “đem được lá cờ đỏ sao vàng cắm lên đất Điện Biên Phủ.” Tháng 6/1949, năm năm trước trận quyết chiến Việt-Pháp tại lòng chảo này của tỉnh Lai Châu, ông dự đoán “hơn một vạn giặc chết và bị thương” trong “trận đánh cuối cùng”.

Trong bản thảo diễn văn nhân dịp Quốc khánh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa vào ngày 02/9/1960, Hồ Chí Minh viết: “Toàn dân đoàn kết nhất trí bền bỉ đấu tranh thì chậm nhất là 15 năm nữa, Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất, Bắc Nam sum họp một nhà.”

Thượng tướng Phùng Thế Tài kể rằng vào tháng 12-1962, Hồ Chí Minh gọi ông, lúc đó là Tư lệnh Quân chủng Phòng không-Không quân, lên gặp và hỏi: “Chú đã biết gì về B-52 chưa?”. Đến cuối năm 1967 đầu năm 1968, vị Chủ tịch Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lại căn dặn ông: “Sớm muộn rồi đế quốc Mỹ cũng đưa B-52 ra đánh Hà Nội, rồi có thua nó mới chịu thua. Phải dự kiến trước mọi tình huống càng sớm càng tốt, để có thời gian mà suy nghĩ, chuẩn bị… Ở Việt Nam, Mỹ sẽ nhất định thua. Nhưng nó chỉ chịu thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội”.

Ba tháng trước khi qua đời, trong bức thư gửi đồng bào miền Nam đề ngày 13/6/1969, Hồ Chí Minh viết: “Giặc Mỹ đã thua nặng. Nhưng chúng vẫn chưa chịu rút quân ra khỏi nước ta. Vì vậy ta phải tiếp tục đánh mạnh, đánh đau, đánh cho đến khi Mỹ ngụy thất bại hoàn toàn.” Cũng vào thời điểm đó, ông nhắn nhà cầm quân Mỹ: “Chúng tôi sẵn sàng trải thảm đỏ cho quân Mỹ về nước. Chừng nào chiến tranh chấm dứt, chúng tôi lại trải thảm đỏ mời quý vị đến. Bởi chúng tôi rất cần khả năng kỹ thuật và sự giúp đỡ của quý vị”.

Với trực giác xuất chúng như vậy, Hồ Chí Minh nhận ra ở cựu giáo viên sử học này tiềm năng của một thiên tài quân sự, được củng cố bởi kiến thức lịch sử sâu rộng và sự am hiểu về quy luật chiến tranh. Điều này giải thích vì sao ông đã cử Võ Nguyên Giáp đi học quân sự tại căn cứ địa Diên An của Đảng Cộng sản Trung Quốc ngay sau lần gặp đầu tiên vào tháng 5/1940 trên đất Trung Quốc. Tuy nhiên, khi Võ Nguyên Giáp đang trên đường đến Diên An, ông được Hồ Chí Minh gọi khẩn cấp về Việt Nam để chuẩn bị thời cơ giành độc lập. Về đến Cao Bằng tháng 11/1941, Võ Nguyên Giáp được giữ lại làm việc bên cạnh Hồ Chí Minh tại Pác Pó.

Đầu tháng 12/1944, sau khi Võ Nguyên Giáp và Vũ Anh báo cáo tình hình phong trào cách mạng tại ba tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Hồ Chí Minh chỉ thị phát động chiến tranh du kích liên tỉnh và giao Võ Nguyên Giáp nhiệm vụ thành lập lực lượng vũ trang tập trung. Kết quả là ĐVNTTGPQ dưới sự chỉ huy chung của Võ Nguyên Giáp được thành lập ngày 22/12/1944 như đã đề cập. Chỉ ba ngày sau đó, đội quân này giành chiến thắng đầu tiên tại hai đồn Phai Khắt và Nà Ngần, những chiến công được đối phương Pháp thừa nhận là do “cao thủ thực hiện” (exécutés de main de maître).

Đến đây, một lần nữa ta lại phải ngả mũ trước Hồ Chí Minh khi ông dự đoán những chiến công khởi nghiệp của Võ Nguyên Giáp qua câu thứ 46 trong diễn ca “Lịch sử nước ta”:

“Đầu can võ tướng ra binh,

 Ắt là trăm họ thái bình âu ca.”

Theo chu kỳ âm lịch, “Đầu can” là chữ Giáp, ứng với Võ Nguyên Giáp và năm Giáp Thân – 1944, phù hợp với sự kiện thành lập và chiến thắng đầu tiên của VNTTGPQ do Võ Nguyên Giáp chỉ huy.

“Võ tướng” ở đây có thể hiểu theo hai nghĩa: “chỉ huy quân sự cao cấp” và “tướng họ Võ” (Võ Nguyên Giáp). Kết hợp lại, “Võ tướng” chính là Võ Nguyên Giáp – vị chỉ huy quân sự tài ba của cách mạng Việt Nam.

Những bức ảnh Việt Nam giải phóng quân bị ngộ nhận

Trong nhiều ấn phẩm từ báo chí, sách đến triển lãm tại Việt Nam, một số bức ảnh thường được chú thích là “Lễ thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân ngày 22/12/1944” mà bức nổi tiếng nhất được đăng dưới đây:

Quang cảnh ngày thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân tại khu rừng Trần Hưng Đạo. Nguồn: Báo Quân Đội nhân dân

Tuy nhiên, theo điều tra của Khải Mông trong bài báo Đi tìm lai lịch tấm ảnh “Lễ xuất phát của Việt Nam Giải phóng quân” (6), những bức ảnh này thực chất ghi lại lễ xuất phát của Việt Nam Giải phóng quân (7) tiến về Thái Nguyên giành chính quyền ngày 16/8/1945.

Kỹ sư Hoàng Văn Đức, đại biểu Quốc hội khóa I, là người trực tiếp chụp bức ảnh nổi tiếng này. Ông tham dự lễ xuất quân với tư cách đại biểu của Đảng Dân chủ tham dự Quốc dân Đại hội tại Tân Trào ngày 16/8/1945. Khi đó, ông mang theo một chiếc máy ảnh Rolleiflex. Trong bài viết đăng trên Tạp chí Nhiếp ảnh số 4 (107) ra ngày 7/9/1996, ông Đức kể lại:

“Tôi mang máy ảnh theo lên chiến khu dự Quốc dân Đại hội Tân Trào, nhiều nhóm đại biểu đều biết. Lên đến Tân Trào, tôi mới được biết là phạm nội quy. Anh Nguyễn Lương Bằng tiếp chúng tôi, tươi cười nhắc nhở: theo nội quy không được chụp ảnh trong khu vực Hội nghị, song nếu muốn chụp gì phải hỏi ý kiến và khi ra về phải nộp máy ảnh cho Ban tổ chức tháo phim ra để giữ làm tài liệu.

Hội nghị bế mạc, tôi xin phép được chụp ảnh lễ xuất phát của Giải phóng quân do anh Võ Nguyên Giáp chỉ huy. Nhiều đại biểu có mặt trong buổi lễ, tiễn Giải phóng quân lên đường. Tôi chụp một kiểu Giải phóng quân xuất phát…

…Trước khi chuẩn bị trở về Hà Nội, tôi đem máy ảnh Rolleiflex, có cuộn phim đương chụp dở, nộp Ban tổ chức. Tôi dặn nên cẩn thận khi tháo phim, nên tráng ngay và cho biết tôi ở trong đoàn đại biểu Dân chủ ở Hà Nội.”

Nhiều nhân vật lịch sử đã xác nhận ông Hoàng Văn Đức là tác giả của bức ảnh này:

  • Hồi ký “Tháng tám cờ bay” của ông Vũ Đình Huỳnh, nguyên Trợ lý Chủ tịch Hồ Chí Minh:

“Hội nghị Tân Trào đang họp thì có tin Hà Nội đã nổi dậy cướp chính quyền. Trần Huy Liệu được phân công viết cấp tốc lời kêu gọi tổng khởi nghĩa. Sau đó là lễ xuất phát của Giải phóng quân. Bức ảnh chụp Giải phóng quân xuất phát có Võ Nguyên Giáp đội mũ phớt là do anh Hoàng Văn Đức chụp. Lúc đó, trong số đoàn đại biểu chỉ có Hoàng Văn Đức là có máy ảnh đem theo.”

  • Hồi ký “Thanh niên trí thức Việt Nam đi vào cuộc Cánh mạng tháng Tám như thế nào” của nguyên Thứ trưởng Bộ Văn hóa Đỗ Đức Dục :

“… một đoàn đại biểu Đảng Dân Chủ hồ hởi lên chiến khu Việt Bắc dự Đại hội Tân Trào trong đó có… kỹ sư trẻ Hoàng Văn Đức cải trang đi bí mật và mang theo máy ảnh duy nhất đã chụp lễ xuất phát của Giải phóng quân Việt Nam.”

  • Hồi ký của nguyên Bộ trưởng Tư pháp Vũ Đình Hòe:

“Hoàng Văn Đức là chứng nhân duy nhất ghi lại được hình ảnh sư kiện trọng đại. Chẳng hạn, như trường hợp bức ảnh quý hiếm về buổi ông Võ Nguyên Giáp tuyên đọc nhật lệnh trong buổi lễ xuất phát của Giải phóng quân từ ATK Tân Trào tiến về Thái Nguyên tham gia cướp chính quyền”.

  • Nguyên Bộ trưởng Bộ Canh Nông Cù Huy Cận, thân phụ người viết bài này, trong ghi chú viết tay trên bức ảnh này ngày 7/9/1996, đã xác nhận:

“Tôi, Cù Huy Cận, xác nhận ảnh này là do anh Hoàng Văn Đức chụp ngày 16/8/1945 dưới bóng cây đa Tân Trào lúc đoàn quân lên đường đi đánh Nhật ở Thái Nguyên. Tôi xác nhận lúc đấy tôi đứng bên cạnh anh Hoàng Văn Đức (anh Đức và tôi đều dự Đại hội Tân Trào.)”

Nguyên Bộ trưởng Bộ Canh nông Cù Huy Cận xác nhận tấm ảnh do kỹ sư Hoàng Văn Đức chụp. 

Ảnh: Khải Mông

Ngoài ra, Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam cũng ghi nhận lời Đại tướng Võ Nguyên Giáp:

“Thời điểm thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, chúng tôi còn hoạt động bí mật nên không chụp ảnh lưu lại. Những bức ảnh hiện có đều không phải từ lễ thành lập đội ngày 22/12/1944.”

Các bức ảnh khác chụp ĐVNTTGPQ cũng đều được chú thích chụp tại Lễ thành lập tổ chức quân sự này. Tuy nhiên tất cả đều cho thấy trang phục của Võ Nguyên Giáp và các chiến sĩ giống hệt trong bức ảnh của kỹ sư Hoàng Văn Đức. Điều này khẳng định rằng chúng được chụp tại lễ xuất phát của Việt Nam Giải phóng quân ngày 16/8/1945, bất kể từ máy Rolleiflex của ông Đức hay máy của người khác.

Ngày 22/12/1944 Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân được thành lập

do Đại tướng Võ Nguyên Giáp đứng đầu. Nguồn: Dân Trí

Đồng chí Võ Nguyên Giáp đọc lời tuyên thệ trong ngày thành lập

Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân (Ảnh Tư liệu Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam)

Các chiến sĩ Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân trong ngày thành lập, 22/12/1944

Nguồn: Bảo tàng lịch sử quốc gia

Phim và ảnh không chỉ là công cụ ghi lại những khoảnh khắc trong dòng chảy lịch sử mà đôi khi chính là hiện thân của lịch sử. Một bức ảnh có thể kể lại câu chuyện của một thời khắc quan trọng, giúp chúng ta hiểu rõ hơn về những sự kiện đã xảy ra. Tuy nhiên, nếu bị xuyên tạc hoặc gán ghép không đúng bối cảnh, chúng có thể trở thành công cụ bóp méo sự thật, làm lệch lạc nhận thức của hậu thế về lịch sử. Từ sự ngộ nhận các bức ảnh về Việt Nam Giải Phóng Quân thành Đội Việt Nam Tuyên Truyền Giải Phóng Quân, có thể rút ra những bài học quan trọng.

Trước hết, cần nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xác minh thông tin lịch sử. Mỗi bức ảnh lịch sử cần được chú thích chính xác về thời gian, địa điểm và sự kiện mà nó ghi lại. Sự nhầm lẫn hoặc gán ghép sai có thể dẫn đến những hiểu lầm lâu dài, thậm chí biến thành một “sự thật lịch sử” sai lệch trong tâm trí công chúng. Điều này cho thấy vai trò không thể thiếu của các nhà nghiên cứu, bảo tồn tư liệu và cơ quan lưu trữ trong việc đảm bảo tính chính xác của các tư liệu hình ảnh.

Hậu quả của việc bóp méo lịch sử qua hình ảnh cũng rất nghiêm trọng. Khi một bức ảnh bị hiểu sai hoặc sử dụng sai mục đích, không chỉ lịch sử bị bóp méo mà những người và sự kiện liên quan cũng có thể bị hiểu lầm. Điều này làm suy giảm giá trị giáo dục và ý nghĩa biểu tượng của các tư liệu lịch sử, đồng thời gây mất lòng tin trong công chúng và ảnh hưởng tiêu cực đến nhận thức xã hội.

Bên cạnh đó, sự minh bạch trong tái tạo tư liệu lịch sử là điều không thể thiếu. Trong một số trường hợp, việc tái hiện sự kiện lịch sử bằng hình ảnh là cần thiết. Tuy nhiên, những bức ảnh tái dựng phải được ghi chú rõ ràng rằng chúng không phải ảnh gốc, nhằm tránh hiểu lầm. Chẳng hạn, bức ảnh cận cảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập (8) thực chất là ảnh dựng lại nhưng không được chú thích rõ, là một ví dụ điển hình về sự thiếu minh bạch cần được phê phán.

Cuối cùng, phim và ảnh là những nhân chứng không lời, giúp chúng ta kết nối với quá khứ một cách sống động và chân thực. Bảo vệ tính chân thực của chúng không chỉ là bảo vệ ký ức dân tộc mà còn là gìn giữ di sản chung của nhân loại. Điều này đòi hỏi sự nghiêm túc trong việc nghiên cứu, phân tích và phổ biến các tư liệu này.

Tóm lại, những bức ảnh về lễ xuất phát của Việt Nam Giải Phóng Quân tiến về Thái Nguyên giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, hay bất kỳ sự kiện quan trọng nào khác, đều mang trong mình giá trị lịch sử to lớn. Việc bảo vệ sự thật lịch sử không chỉ là trách nhiệm của các nhà nghiên cứu mà còn là nghĩa vụ chung của mọi người trong việc gìn giữ và truyền lại di sản lịch sử cho thế hệ mai sau.

CHÚ THÍCH

  1. Đại tướng Võ Nguyên Giáp – Chân dung một huyền thoại”, Cù Huy Hà Vũ, đăng trên Tạp chí Hồn Việt năm 2004, đăng lại trên Vietstudies, 6/5/2009, Nghiên cứu lịch sử, 5/10/2023.
  2. Thời kỳ cuối những năm 1930-1940, là thời gian Quốc – Cộng hợp tác lần thứ hai. Tuy là hợp tác để đánh Nhật, nhưng người của “vùng đỏ” (thuộc địa phận quản lý của Đảng Cộng sản) vào “vùng trắng” thuộc địa phận quản lý của Quốc dân Đảng, mặc dầu mang đủ loại giấy tờ của Bát lộ quân vẫn bị gây nhiều khó khăn. Với chứng minh thư thiếu tá Hồ Quang do Bát lộ quân cấp khi đi qua “vùng trắng” thường bị kiểm tra, gây khó dễ. Do đó vào năm 1940 để thuận tiện cho việc đi lại trong vùng Quốc dân Đảng kiểm soát, Nguyễn Ái Quốc đã dùng giấy tờ tùy thân do Quốc dân Đảng cấp, tất cả mang tên mới là Hồ Chí Minh.
  3. Lê Thiết Hùng, vị tướng mang danh “Cây gỗ mun”, Kiều Mai Sơn, báo Quân đội nhân dân điện tử,
  4. Nông Thị Trưng tên thật là Nông Thị Bảy, có tài liệu ghi Nông Thị Ngát, quê ở huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. Trong vòng tám tháng vào những năm 1941-1942, bà được “Già Thu”, bí danh của Hồ Chí Minh lúc đó, dạy học mỗi ngày 1 giờ. Tên Trưng là do “Già Thu” đặt, có ý muốn bà noi gương Trưng Trắc, Trưng Nhị. Ký ức về Bác Hồ của bà Nông Thị Trưng, Lê Xuân Đức, Trang tin điện tử Ban quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, 20/2/2014.
  5. Lịch sử nước ta, Hồ Chí Minh, Việt Minh tuyên truyền bộ xuất bản, 4/1942.
  6. Đi tìm lai lịch tấm ảnh “Lễ xuất phát của Việt Nam Giải phóng quân”, Khải Mông, Nông nghiệp Việt Nam, 08/01/2020.
  7. Việt Nam giải phóng quân là tên gọi của lực lượng quân sự chủ lực của Việt Minh từ tháng 5 đến tháng 9 năm 1945, thành lập ngày 15 tháng 5 năm 1945, thống nhất từ các đơn vị Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân, Cứu quốc quân cùng các tổ chức vũ trang cách mạng tập trung của cả nước Việt Nam, theo nghị quyết của Hội nghị quân sự Bắc kỳ (tháng 4 năm 1945).
  8. Về bức ảnh cận cảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập 2/9/1945, Cù Huy Hà Vũ, BBC NEWS Tiếng Việt, 9/10/2023

 

C.H.H.V

Garden Grove, California, Hoa Kỳ

One thought on “80 năm QĐNDVN: Những sự thật cần làm rõ về sự ra đời của Đội Việt Nam Tuyên Truyền Giải Phóng quân

Bình luận về bài viết này