Cần đính chính các Mỹ Tự được phong cho Các Vị Thần

images905773_Sach

Nguyễn Văn Nghệ

    Danh hiệu và mỹ tự của các vị thần được ghi sai trong văn tế

    Có tất cả 40  ngôi đình làng tiêu biểu trong tỉnh Khánh Hòa được giới thiệu trong tác phẩm “Đình làng Khánh Hòa” do Trung tâm Bảo tồn Di tích Khánh Hòa biên soạn. Riêng Thị xã Ninh Hòa có 9 ngôi đình làng: Đình lăng Bình Tây, đình Đông Hải, đình Mỹ Hiệp, đình Phong Ấp, đình Xuân Hòa, đình Thanh Châu, đình Vạn Thiện, đình Phước Đa, đình Hiệp Thạnh

  Trong phần giới thiệu lịch sử hình thành và phát triển mỗi đình làng, có một số đình làng ghi cả bài văn tế cúng Xuân Thu nhị kỳ. Nhận thấy một số bài văn tế của một số đình làng ghi sai danh hiệu và mỹ tự của các vị thần nhưng không thấy Trung tâm Bảo tồn Di tích Khánh Hòa đính chính!(Những chữ viết sai, xin được sửa lại chữ nghiêng)

  -Văn tế đình Xuân Hòa ghi: “… Đại càn quốc gia Nam Hải thần điêu linh ứng, tứ vị thánh nương, hoằng ân quảng đại chí đức Thượng đẳng thần.

   Thiên Y A Na diễn ngọc phi hoằng huệ phổ tế linh ứng diệu thiên mặt tướng quy nhu Thượng đẳng thần.

   Cao các đại vương hồng mô di lược đôn hậu Thượng đẳng thần, đương cảnh Thành hoàng quản hậu thiện hữu đôn ngưng chi thần”[1]

  -Văn tế đình Thanh Châu ghi: “…Cao các linh thần hồng từ tuấn trạch đôn hậu Thượng đẳng thần.

   Thiên Y A Na Diễn Ngọc Phi hồng nhân phổ tế linh cảm diệu thông mặc tướng trang nghiêm thượng đẳng thần.

   Thanh Linh thuần đức linh thần, hồng từ vĩ lược đôn hậu Thượng đẳng thần.

   Đương cảnh Thành Hoàng quảng hậu nguyên tặng chánh trực hộ thiện đôn ngưng dực bảo trung hưng gia tặng tịnh hậu trung đẳng thần”[2]

   -Văn tế đình Vạn Thiện: “…Thượng cổ Thần Nông Diêm đế. Trung cổ hậu Tắc tôn thần. Đại Càn quốc gia Nam Hải thần chiêu linh ứng tứ vị thánh nương vương hàm hoằng quang đại chí đức Thượng đẳng thần. Hùng Vương từ Thổ Công khai quốc. Bác Hồ hòa dân Bắc Trung Nam bảo thổ khương.”(Bác Hồ xếp chung với các vị thần!!!)[3]

  -Văn tế đình Phước Đa: “…Đại Càn quốc gia Nam Hải thần chiêu linh ứng tứ vị thánh nương vương hàm hoằng quang đại chí đức Thượng đẳng thần.

  Thiên Y A Na Diễn Ngọc Phi Hồng nhân phổ tế diệu cảm linh thông mặc tướng trang huy gia phong đẳng trật hoằng huệ dực bảo trung hưng Thượng đẳng thần.

  Đương cảnh Thành Hoàng Quảng hậu sắc tặng tùng tiền, hựu thiện chánh trực đôn ngưng gia phong tịnh hậu, dực bảo trung hưng Thượng đẳng thần”[4]

   -Văn tế đình Hiệp Thạnh: “…Đại càn quốc gia Nam Hải thần chiếu linh ứng tứ vị thánh nương hàm hoằng quang đại chí đức Thượng đẳng thần.

    Thiên Y A Na Diễn Ngọc Phi sắc tặng Hoằng huệ phổ tế linh cảm diệu thông mặc tướng trang vi dực bảo trung hưng Thượng đẳng thần

   Cao Các linh ứng hồng mô vĩ lược hậu thiện đôn ngưng Thượng đẳng thần”[5]

   Danh hiệu thần và mỹ tự được phong tặng

  Danh hiệu thần như: Thiên Y A Na Diễn Ngọc Phi; Đại Càn Quốc Gia Nam Hải tứ vị thánh nương; Cao Các tôn thần; Thanh Linh Thuần Đức linh thần; Bổn Cảnh Thành hoàng tôn thần…

   Mỹ tự: mỗi lần gia phong hoặc gia tặng gồm có hai từ. Sau mỗi lần gia tặng thì mỹ tự của vị thần dài thêm, do đó tháng 3 năm Bính Tuất (1886) vua Đồng Khánh ban lệnh: “…tưởng không nên hết thảy khác nhau, nghĩ nên theo cũ gia phong bốn chữ “Dực bảo trung hưng” để ghi nhớ ơn nước”[6]. Kể từ năm 1886 sau 4 chữ “Dực bảo trung hưng” không còn gia tặng mỹ tự cho các vị thần nữa!

   Trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa, cho đến thời điểm hiện nay, sắc phong cho các vị thần sớm nhất được phát hiện vào năm Minh Mạng tam niên, cửu nguyệt, nhị thập tứ nhật (ngày 24 tháng 9 năm Minh Mạng thứ 3- năm Nhâm Ngọ/1822) và sắc phong muộn nhất là năm Khải Định cửu niên, thất nguyệt, nhị thập ngũ nhật (ngày 25 tháng 7 năm Khải Định thứ 9- Giáp Tý/1924)

    -Nữ thần Thiên Y A Na Diễn Ngọc Phi là Thượng đẳng thần được gia phong mỹ tự vào ngày 24 tháng 9, năm Minh Mạng thứ 3 (Nhâm Ngọ/1822) là “Hồng Nhân Phổ Tế Linh Cảm”. Ngày 13 tháng 8 năm Thiệu Trị thứ 3 (Quý Mão/1843)  gia tặng lần 1 : “Hồng Huệ Phổ Tế Linh Cảm Diệu Thông”. Ngày 21 tháng 9 năm Thiệu Trị thứ 3 (Quý Mão/1843) gia tặng lần 2: “Hồng Huệ Phổ Tế Linh Cảm Diệu Thông Mặc Tướng”.Ngày 11 tháng 8 năm Tự Đức thứ 3 (Canh Tuất/1850) gia tặng: “Hoằng Huệ Phổ tế Linh Cảm Diệu Thông Mặc Tướng Trang Huy”. Tại tháp chính Tháp Bà Nha Trang có tấm hoành với 4 đại tự chữ Hán “Hồng Nhân Phổ Tế”. Tại sao mỹ tự lại có sự thay đổi từ Hồng Nhân sang Hồng Huệ rồi lại Hoằng Huệ” . Vua Minh Mạng băng hà, có miếu hiệu là Thánh Tổ Nhân hoàng đế, do đó kỵ húy chữ “Nhân” nên vua Thiệu Trị đổi từ Hồng Nhân thành Hồng Huệ. Đến đời vua Tự Đức do kỵ húy chữ “Hồng” trong Đế hệ thi nên từ Hồng Huệ lại đổi thành Hoằng Huệ. Thời vua Đồng Khánh gia tặng Hoằng Huệ Phổ Tế Linh Cảm Diệu Thông Mặc Tướng Trang Huy Dực Bảo Trung Hưng Thượng đẳng thần.

  -Thần Đại Càn Quốc Gia Nam Hải tứ vị thánh nương là Thượng đẳng thần được gia phong mỹ tự: “Hàm Hoằng Quang Đại Chí Đức” vào năm Minh Mạng thứ 3 (Nhâm Ngọ/1822). Vua Thiệu Trị gia tặng lần 1 là “Hàm Hoằng Quang Đại Chí Đức Phổ Bác”. Vua Thiệu Trị gia tặng lần 2: “Hàm Hoằng Quang Đại Chí Đức Phổ Bác Hiển Hóa”. Vua Tự Đức gia tặng “Hàm Hoằng Quang Đại Chí Đức Phổ Bác Hiển Hóa Trang Huy”. Đến đời vua Đồng Khánh là Hàm Hoằng Quang Đại Chí Đức Hiển Hóa Trang Huy Dực Bảo Trung Hưng Thượng đẳng thần

   -Thần Thanh Linh Thuần Đức là Thượng đẳng thần được gia phong mỹ tự “Hồng Từ Tuấn Trạch Minh Ứng”vào năm Minh Mạng thứ 3 (nhâm Ngọ/1822). Vua Thiệu Trị gia tặng lần 1: “Hồng Từ Tuấn Trạch Minh Ứng Chiêu Cách”. Vua Thiệu Trị gia tặng lần 2: “Hồng Từ Tuấn Trạch Minh Ứng Chiêu Cách Lệ Anh”.Năm Tự Đức thứ 3 (Canh Tuất/1850) gia tặng “Hoằng Từ Tuấn Trạch Minh Ứng Chiêu Cách Lệ Anh Hoằng Hiệp” (do kỵ húy chữ “Hồng” nên Hồng Từ đổi thành Hoằng Từ. Đến thời vua Duy Tân do kỵ húy tên vua Thành Thái là Nguyễn Phúc Chiêu nên mỹ tự Chiêu Cách đổi thành Chương Cách. Thời vua Khải Định do kỵ húy tên nhà vua là Nguyễn Phúc Tuấn nên mỹ tự Tuấn Trạch được đổi thành Phổ Trạch. Như vậy đến cuối triều Nguyễn, mỹ tự của thần Thanh Linh Thuần Đức là Hoằng Từ Phổ Trạch Minh Ứng Chương Cách Lệ Anh Hoằng Hợp Dực Bảo Trung Hưng Thượng đẳng thần[7].

   -Thần Cao Các là Thượng đẳng thần được vua Minh Mạng gia phong mỹ tự vào năm Nhâm Ngọ (1822) là: “Hồng Mô Vĩ Lược Đôn Hậu”. Vua Thiệu Trị gia tặng lần 1 : Hồng Mô Vĩ Lược Đôn Hậu Phù Hựu”. Vua Thiệu Trị gia tặng lần 2: “Hồng Mô Vĩ Lược Đôn Hậu Phù Hựu Trạc Dương”. Đời vua Tự Đức được gia tặng “Hoằng Mô Vĩ Lược Phù Hựu Trạc Dương Trác Vĩ”( do kỵ húy nên đổi Hồng thành Hoằng). Đời vua Đồng Khánh gia tặng Dực Bảo Trung Hưng. Như vậy vào cuối thời nhà Nguyễn, mỹ tự của thần Cao Các là: Hoằng Mô Vĩ Lược Đôn Hậu Phù Hựu Trạc Dương Trác Vĩ Dực Bảo Trung Hưng Thượng đẳng thần.

  Nếu không chú ý, rất dễ nhầm lẫn những mỹ tự đầu tiên giữa Thần Thanh Linh và Thần Cao Các. Mỹ tự Thần Thanh Linh: “Hồng Từ Tuấn Trạch Minh Ứng…”; mỹ tự Thần Cao Các: “Hồng Mô Vĩ Lược Đôn Hậu…”

   -Thần Bổn Cảnh Thành hoàng được chia thành ba bậc: Bổn Cảnh Thành hoàng Kinh đô; Bổn Cảnh Thành hoàng của Tỉnh; Bổn Cảnh Thành hoàng của làng xã.

    +Bổn cảnh Thành hoàng của Tỉnh được vua Minh Mạng gia phong mỹ tự “Quảng Hậu” vào năm Nhâm Ngọ (1822).Trước đây tại Miếu Thành hoàng tỉnh Khánh Hòa xây dựng năm 1841 tại làng Phú Lộc có cặp câu đối: “Thiệu Trị Tân Sửu chi sơ phụng thiết chuyên từ vu Phú Lộc lãnh/ Minh Mạng Nhâm Ngọ nhi hậu tiết mông gia tặng Quảng Hậu thần” (Tân Sửu năm đầu Thiệu Trị[1841] vâng xây nơi thờ riêng[chuyên từ]Bổn cảnh Thành hoàng trên đỉnh núi Phú Lộc/Nhâm Ngọ năm Minh Mạng[1822] về sau gia tặng cho thần Bổn Cảnh Thành hoàng mỹ tự là Quảng Hậu). Khoảng năm 1950 Việt Minh phóng hỏa Miếu Thành hoàng tỉnh Khánh Hòa, rất may là cặp câu đối ấy không bị thiêu cháy. Hiện cặp câu đối ấy dựng ở vách hữu vu Văn miếu Diên Khánh. Vua Thiệu Trị gia tặng lần 1 là “Quảng Hậu Chánh Trực”, gia tặng lần 2 là “Quảng Hậu Chánh Trực Trạc Linh”. Ngày mùng 3 tháng 7 năm Tự Đức thứ 3 (1850) vua Tự Đức gia tặng : Quảng Hậu Chánh Trực Trạc Linh Tĩnh Hậu” và nâng lên bậc Trung đẳng thần.

  +Mỹ tự của Bổn Cảnh Thành hoàng của làng xã có hơi khác so với Bổn Cảnh Thành hoàng cấp Tỉnh. Năm Tự Đức ngũ niên(Nhâm Tý/1852) Bổn Cảnh Thành hoàng làng xã đã thấy nguyên tặng là “Quảng Hậu Chánh Trực Hựu Thiện”. Năm ấy vua Tự Đức gia tặng “Quảng Hậu Chánh Trực Hựu Thiện Đôn Ngưng”. Thời vua Đồng Khánh được gia tặng Quảng Hậu Chánh Trực Hựu Thiện Đôn Ngưng Dực Bảo Trung Hưng tôn thần (Tôn thần hay Linh Phù là để chỉ cấp Hạ đẳng thần).Năm Khải Định cửu niên(1924) gia tặng mỹ tự Tĩnh Hậu và nâng Bổn Cảnh Thành hoàng làng xã từ Hạ đẳng thần lên Trung Đẳng thần.

   Các Thần vị (Bài vị) ở đình Mỹ Hiệp

  Đình Mỹ Hiệp được tác giả viết: “Chính điện có bốn ban thờ. Phía ngoài là ban thờ Hội Đồng. Phía trong là ba ban thờ viết bằng chữ Hán: chính giữa là ban thờ “Thần”, bên trái là ban thờ ‘Tả ban”, bên phải là ban thờ “Hữu ban”. Tại ban thờ Thần có thờ một bài vị viết bằng chữ Hán gồm các vị sau: “Đương cảnh Thành Hoàng Thượng đẳng thần”, “Đại càn quốc gia Nam Hải Tứ vị Thượng đẳng thần” và “Miếu Hội Đồng có ba ban thờ viết bằng chữ Hán…Trên ban thờ chính có 06 Bài vị viết bằng chữ Hán được phiên âm ra như sau:

   Thiên Y A Na Diễn Ngọc phi Thượng đẳng thần.

   Hoàng Thiên Hậu Thổ Diệu Tú phu nhân Thượng đẳng thần.

   Ngũ hành Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ.

   Nương nương Hồng nữ Tiên phi Châu báu nhị vị Thái tử chúa Thần nữ Man nương.

   Phu nhân Cố thiện Thượng đẳng thần.

   Chúa Tiên Thần hậu Thánh mẫu Nương nương”[8]

   +Ban thờ chính giữa đình Mỹ Hiệp thờ hai vị thần được ghi bằng chữ Hán:

   -Đương Cảnh Thành hoàng sắc tặng Quảng Hậu Chánh Trực Hựu Thiện Đôn Ngưng Dực bảo trung hưng bửu chiếu đàm ân lễ long đăng trật Thượng đẳng thần

   -Đại Càn quốc Gia Nam Hải thần chiếu linh ứng Tứ vị thánh nương Hàm Hoằng Quang Đại Chí Đức Thượng đẳng thần.

  Góc dưới bên trái bài vị có dòng chữ Hán nhỏ: “Mậu Tý niên quý thu tạo” (Làm vào tháng 8 năm Mậu Tý- 1948).

    Danh hiệu và mỹ tự của hai vị thần đúng theo các sắc phong sẽ là: “ Đương Cảnh Thành hoàng Quảng Hậu Chánh Trực Hựu Thiện Đôn Ngưng Dực Bảo Trung Hưng chi thần” (thần Bổn Cảnh Thành hoàng làng xã đến năm Khải Định thứ 9 mới nâng lên bậc trung đẳng thần). Câu “bảo chiếu đàm ân lễ long đăng trật” chỉ là câu thường gặp trong sắc phong được phiên dịch “đã ban cho chiếu báu, ơn sâu, tăng thêm trật”. Đối với thần Đại Càn chỉ cần ghi: “Đại Càn Quốc Gia Nam Hải tứ vị thánh nương Hàm Hoằng Quang Đại Chí Đức Dực bảo Trung hưng thượng đẳng thần “ là đủ.

   Trên ban thờ chính ở miếu Hội Đồng có 6 bài vị lần lượt từ phải sang trái được ghi bằng chữ Hán:

-Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ ngũ hành tiên nương

-Chúa Tiên thần hậu thánh mẫu nương nương

-Thiên Y A Na Diễn Ngọc phi sắc tặng hoằng Huệ Phổ Tế Linh Cảm Thượng đẳng thần.

-Hoàng Thiên Hậu Thổ Diệu Tú phu nhân trứ phong vi Hậu Tắc Dực Bảo Trung hưng Thượng đẳng thần.

-Tiên nương Hồng nữ nương nương Châu Bảo nhị vị thái tử

-Man nương thần Chúa Ngung đại thần

   Ngoài ra trong Miếu Hội Đồng còn có một bài vị có tất cả 20 chữ Hán, đó là bài vị của Bà Cố Hỷ (không phải Cố Thiện như tác giả bài viết “Đình Mỹ Hiệp” đã viết. Bởi trong chữ Hán chữ “Thiện” gần giống chữ “Hỷ”. Chuyện đọc chữ “Tác” ra chữ ‘Tộ”, chữ “Ngộ” ra chữ “Quá” là thường gặp. Chữ “Tác và Tộ”, chữ “Ngộ và Quá” có nét gần giống nhau): “Cố Hỷ phu nhân Đôn Hậu lạc Tế Diệu Ứng Linh Hóa Nhã Thục Trang Nghiêm Thượng đẳng thần”[9]

     Đôi điều góp ý với các cơ quan hữu trách

    Tất cả các ngôi đình làng được giới thiệu trong tác phẩm “Đình làng Khánh Hòa” đã được công nhận là “Di tích lịch sử văn hóa” cấp tỉnh. Lập hồ sơ công nhận là do Trung tâm Bảo tồn Di tích tỉnh Khánh Hòa thực hiện (trước tháng 10/2012 gọi là Trung tâm Quản lý Di tích và Danh lam Thắng cảnh tỉnh Khánh Hòa). Trung tâm Bảo tồn Di tích có nhiệm vụ khảo sát, điều tra, thẩm định di tích rồi mới phê duyệt công nhận di tích lịch sử văn hóa. Do đó khi thu thập thông tin ở địa phương có nhiều vấn đề chưa đúng với thực tế lịch sử. Đối với những vấn đề chưa đúng với thực tế lịch sử thì Trung tâm Bảo tồn Di tích có nhiệm vụ đính chính để người dân hiểu đúng vấn đề. Có như thế mới là làm việc có khoa học!

244             

 Ba sắc phong cho Thiên Y A Na  tại Miếu Hội Đồng tỉnh Khánh Hòa (ảnh trên: sắc Minh Mạng tam niên, cửu nguyệt nhị thập tứ nhật [ngày24 tháng 9 năm Minh Mạng thứ 3-Nhâm ngọ/1822]; ảnh dưới trái: Sắc Thiệu Trị tam niên, bát nguyệt, thập tam nhật[ngày 13 tháng 8 năm Thiệu Trị thứ 3- Quý Mão/1843]; ảnh dưới phải: sắc Thiệu Trị tam niên cửu nguyệt, nhị thập nhất nhật [ngày 21 tháng 9 năm thiệu Trị thứ 3- Quý Mão/1843]

807          

Ba sắc phong cho Thần Thanh Linh Thuần Đức tại Miếu Hội Đồng tỉnh Khánh Hòa (ảnh trên: sắc Minh Mạng tam niên; ảnh dưới phải : sắc Thiệu Trị tam niên bát nguyệt; ảnh dưới trái : sắc Thiệu Trị tam niên cửu nguyệt)

948 

Ba sắc phong cho Thần Cao Các tại Miếu Hội Đồng tỉnh Khánh Hòa (ảnh trên: sắc Minh Mạng tam niên; ảnh dưới phải: sắc Thiệu Trị tam niên bát nguyệt; ảnh dưới trái: sắc Thiệu Trị tam niên cửu nguyệt)

045

: Ba sắc phong cho Thần Đại càn tại Miếu Hội Đồng tỉnh Khánh Hòa (ảnh trên: sắc Minh Mạng tam niên; ảnh dưới phải: sắc Thiệu Trị tam niên bát nguyệt; ảnh dưới trái: sắc Thiệu Trị tam niên cửu nguyệt)

310

Sắc phong cho Thần Bổn Cảnh Thành hoàng tại miếu Thành hoàng tỉnh Khánh Hòa (ảnh trên: sắc Thiệu Trị nhị niên, bát nguyệt, sơ thất nhật (ngày mùng 7 tháng 8 năm Thiệu Trị thứ 2-Nhâm Dần/1842; ảnh dưới phải: sắc Thiệu Trị nhị niên, sơ cửu nhật (ngày mùng 9 tháng 9 năm Thiệu Trị thứ 2- Nhâm Dần/1842; sắc dưới trái: sắc Tự Đức tam niên, thất nguyệt sơ tam nhật (ngày mùng 3 tháng 7 năm Tự Đức thứ 3- Canh Tuất/1850)

337

 Sắc phong duy nhất cho Thần Bổn Cảnh Thành hoàng tại Miếu Hội Đồng vào năm Minh Mạng tam niên, cửu nguyệt, nhị thập tứ nhật (ngày 24 tháng 9 năm Minh Mạng thứ 3- Nhâm ngọ/1822)

097

Tấm liễn thứ 3 và 4 tính từ phải sang là cặp câu đối : “Thiệu Trị Tân Sửu chi sơ…/Minh Mạng Nhâm Ngọ nhi hậu…” hiện dựng ở vách tường phía bắc của Hữu vu Văn miếu Diên Khánh


Chú thích

[1][2][3][4][5][8]-Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Khánh Hòa.Trung tâm Bảo tồn Di tích Khánh Hòa, Đình làng Khánh Hòa, Nxb Văn hóa-Thông tin, tr.275; 288; 295; 307; 321; 244

[6]- quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục tập 9, Nxb Giáo dục, tr.250

[7]- Tại Tháp Bà Nha Trang có 8 sác phong cho Thần Thanh Linh Thuần Đức có hai sắc được triều đình ghi nhầm: Sắc Minh Mạng tam niên, cửu nguyệt, nhị thập tứ nhật (24/9/Nhâm Ngọ- 1822) ghi: “chuẩn hứa Hoa Châu huyện, Hà bạc thuộc, Cù Lao xã”. Xã Cù Lao thuộc huyện Vĩnh Xương; Sắc Thiệu Trị tam niên bát nguyệt, thập tam nhật (13/8/Quý Sửu-1843) ghi: “khả gia tặng Hồng Huệ Tuấn Trạch Minh Ứng Chiêu Cách Thượng đẳng thần”. Thần Thanh Linh được vua Minh Mạng gia phong là Hồng Từ Tuấn Trạch Minh Ứng chứ không phải Hồng Huệ (Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Khánh Hòa. Trung tâm Bảo tồn Di tích, Di tích thờ mẫu ở Khánh Hòa, Nxb Văn hóa Thông tin, tr. 117, 119). Hai sắc phong cho Thần Thanh Linh cấp ngày 11 tháng 8 năm Duy Tân thứ 3 (1909), ngày 25 tháng 7 năm Khải Định thứ 9 (1924) đã đổi mỹ tự từ Chiêu Cách thành Chương Cách, Tuấn Trạch thành Phổ Trạch nhưng cán bộ Trung tâm Bảo tồn Di tích không để ý vẫn phiên âm là Tuấn Trạch Minh Ứng Chiêu Cách (xem Sđd, tr.125, 127)

[9] ninh-hoa.com/NguyenVanNghe-DinhMyHiepNinHoa.htm

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s