Cuộc chiến của Đế quốc Nga với các dân tộc bản địa Siberia và Alaska

default

Đăng Phạm

I. Lời nguyền Chukchi – Câu chuyện về một dân tộc đánh bại Đế quốc Nga

1

Trước nay chúng đã nghe quá trời giả thuyết, cả thuyết âm mưu về vụ Nga Hoàng bán Alaska cho Mỹ.  Quanh đi quẩn lại cũng chỉ là chửi Nga hoàng “ngu dốt”. Những người thực tế hơn thì trình bày lý do Nga sợ mất trắng Alaska vào tay người Anh ở Canada (thực tế thì cái này hợp lý nhất).

Mới đây, vừa được mấy ông Nga thông não cho chút ít, có thêm một góc nhìn nữa quanh vấn đề này từ chính nội tình Đế quốc Nga. Cụ thể, vừa tìm hiểu được thực chất vùng đất nối Siberia với Alaska là bán đảo Chukchi – một nơi người Nga đã không chinh phục được hoàn toàn, và do đó Nga sợ rằng sẽ không thể triển khai quân tới Alaska thuận lợi nếu chiến tranh nổ ra. Đế quốc Nga, thực sự chính họ thừa nhận, đã thất bại trong việc khuất phục tộc người Chukchi ở đây. Chi tiết thì đang tìm hiểu, nhưng hôm nay mình giới thiệu về 2 trận đánh, mà sự trùng hợp khó ngờ của nó đã dẫn đến việc người Nga thời đó truyền miệng nhau về ”lời nguyền Chukchi”.

2

Bán đảo Chukchi và eo biển Berinh giữa châu Á với châu Mỹ

*Trận Yegach ngày 14/3/1730

Cho đến năm 1727, đế quốc Nga đã chinh phục gần như toàn bộ các dân tộc Siberia, nhiều dân tộc thậm chí bị xóa sổ. Chỉ còn duy nhất đối thủ cuối cùng: người Chukchi ở cực Đông Bắc. Để loại bỏ kẻ thù này, năm 1729 Nga cử một đội quân Cossack do tướng tướng Afanasy Shestakov chỉ huy, hành quân về bán đảo Chukchi để tiêu diệt người Chukchi. Afanasy Shestakov mang 400 lính Cossack của mình và thêm một số lính chư hầu từ các dân tộc mới chinh phục ở Tây Siberia như Tatar, Yakut, Samoyed,… hành quân về phía Đông trong điều kiện thiếu thốn thông tin về địa hình, khí hậu cũng như lực lượng đối phương.

Quá trình hành quân của Nga mất hơn 1 năm. Trên đường đi, dù bị hao hụt binh lính do lạnh giá và bệnh tật, thì quân Cossack của Shestakov cũng bổ sung bằng cách bắt các dân tộc bản địa phục tùng mình đi lính. Quân số lên đến khoảng 1.000 người (rất khó chính xác vì quân số các dân tộc thiểu số trong quân đội Nga thường ít được kiểm kê đầy đủ). Đến năm 1730, đoàn quân đến biên giới Chukchi – trên sông Yegach. Tại đây, họ thu nạp thêm nhiều lính của các dân tộc ”hàng xóm” của người Chukchi. Phải để chữ ”hàng xóm” trong ngoặc kép vì kỳ thực, mối quan hệ giữa người Chukchi với các dân tộc quanh họ không êm đẹp cho lắm. Họ bao gồm người Koryak, người Even và một số dân tộc bản địa trên bán đảo Kamchatka. Trước đây, họ thường xuyên xung đột với người Chukchi. Người Chukchi là những chiến binh thiện chiến và hung hãn hơn, nên phần thiệt thường thuộc về các dân tộc còn lại. Vì vậy khi người Nga đến mang theo quân đội hùng mạnh, họ đã đầu quân cho người Nga với hy vọng ngăn chặn được sự bành trướng địa phương của người Chukchi.

3

Bức ảnh này được chú thích là người Chukchi – mặc dù có tài liệu nói rằng họ là người Eskimo

4

Tranh vẽ chiến binh Chukchi điển hình

5

Tượng sáp chiến binh Chukchi với giáp và cung trong bảo tàng Nga

Ngày 13/3/1770, quân Chukchi tới bờ sông và nhìn thấy quân Nga đã ở bên kia sông. Tướng Afanasy Shestakov (sách ghi là hàm Thiếu tá – nhưng đây là hàm khá cao mà một lính Cossack có thể đạt được) quyết định vượt sông băng tấn công vào người Chukchi. Họ chia làm 3 cánh quân rõ ràng: cánh phía Bắc của dân tộc Koryak, phía Nam của dân tộc Even còn quân Nga đi ở giữa, ở sau có thêm người Yakut bọc hậu. Thiếu tá Shestakov mang theo 144 quân Cossack theo mình ở cánh quân trung tâm. Quân số của 2 cánh quân còn lại khoảng 200 người, nhưng không chắc chắn vì số quân các dân tộc thiểu số thường không được kiểm kê chính xác. Quân Nga cũng có một số xe trượt tuyết bằng tuần lộc để di chuyển – với hy vọng giúp họ có lợi thế hơn với quân Chukchi vốn không có phương tiện đi lại.

Nhưng đêm hôm đó, quân Chukchi đã bất ngờ đột kích cánh quân của người Koryak và thảm sát họ. Người Koryak – vốn đã hứng chịu các cuộc tấn công của người Chukchi từ lâu nay – nhanh chóng bỏ chạy. Đến rạng sáng, quân Chukchi ”chào đón” lính Cossack bằng một trận mưa tên – những mũi tên được làm bằng xương thú rất cứng, dù không xuyên được giáp nhưng bắn xuyên qua da thịt những vết thương rất lớn. Họ bắn rát đến nỗi quân Nga không kịp nạp đạn. Kết quả là quân lính người Koryak và Even bỏ chạy mặc kệ lính Cossack Nga, với quân số chỉ còn chừng 30 người.

Thiếu tá Afanasy Shestakov thấy vậy nhảy ra khỏi công sự, rút gươm cùng quân Nga đánh dữ dội với quân Chukchi. Kỹ năng chiến đấu và vũ khí của quân Nga vượt trội hơn: họ có súng trường và gươm sắc so với giáo bằng gỗ và xương của người Chukchi. Nhưng giữa trận chiến thì bất ngờ Afanasy Shestakov bị trúng một mũi tên bằng xương vào cổ họng. Ông chạy đến một chiếc xe kéo định chạy trốn thì bất ngờ con tuần lộc kéo xe chạy loạn, đưa thiếu tá vào giữa đội hình quân Chukchi. Hậu quả khiến viên thiếu tá chết thảm, hứng một trận mưa tên và lao phóng từ người Chukchi.

Toàn bộ lính Nga sau đó bị giết, chỉ còn lại viên thông dịch được thả về để thông báo cho quân Nga còn ở phía sau. Sau khi biết thủ lĩnh đã chết, quân Nga rút về. Tổng kết thiệt hại, cánh quân của người Nga thấy có 31 người chết, các cánh quân còn lại (chủ yếu là dân thiểu số bản địa) hầu hết bỏ chạy. Quân Chukchi thu được nhiều thuốc nổ, da thú, súng trường và áo giáp của Nga. Và có nhiều lời đồn đại, các phù thủy người Chukchi sau trận chiến đã phù phép thi thể các lính Nga tử trận, khiến linh hồn họ trở nên căm thù. Đây chính là khởi đầu cho ”lời nguyền Chukchi” được truyền tai nhau sau đó.

Trận Yegach năm 1730 là trận thua nặng nhất đến lúc đó của quân Nga trước một dân tộc bản địa Siberia. Trận đánh cũng truyền cảm hứng để các dân tộc bản địa khác là Koryak và Itelmen nổi dậy chống Nga. Nhưng quân Nga đã cử viên tướng khác là Dmitry Pavlutsky tới dẹp loạn thành công, đồng thời lên kế hoạch trả thù người Chukchi.

*Cuộc trả thù người Chukchi của Dmitry Pavlutsky 

Như đã nói ở trên, sau trận Yegach năm 1730, quân Nga cử tướng Dmitry Pavlutsky tới dẹp các cuộc nổi loạn của dân bản địa và sẵn sàng trả thù người Chukchi. Từ năm 1731, quân của Dmitry Pavlutsky đã liên tục tấn công, gây thiệt hại nặng nề cho người Chukchi. Lính Cossack Nga được miêu tả là đặc biệt tàn ác, trong nhiều năm đã gần như diệt chủng nhiều dân tộc bản địa không phục tùng.

6

Đoàn quân của Dmitry Pavlutsky (Дмитрий  Павлуцкий) hành quân – ảnh chụp từ sách thiếu nhi Nga.

Đối với người Chukchi, thậm chí điều này còn được hợp thức hóa bằng sắc lệnh năm 1742 của Nữ hoàng Elizabeth: Xóa sổ bọn Chukchi! Thế là các phương pháp tàn bạo: đốt phá làng mạc, giết gia súc (nguồn lương thực chính của Chukchi), giết đàn ông, bắt phụ nữ và trẻ em, cưỡng hiếp,… được quân Nga sử dụng tràn lan, khiến dân số bản địa ở Siberia giảm mạnh trong thời kỳ này. Những ghi chép về tội ác của quân Nga với người Chukchi còn được lưu giữ đến tận sau này, đến cả thời Xô Viết, và cả trong văn học dân gian Chukchi. Cụ thể, trong truyện dân gian Chukchi thế kỷ 19, có một hình tượng ”ác quỷ Yakunin (Якунина)” – là một con quái vật tàn phá nhiều làng mạc Chukchi với những đặc điểm được miêu tả giống người Nga. Thực chất, người ta cho rằng hình tượng quái vật Yakunin được xây dựng nguyên mẫu từ Thiếu tá Pavlutsky trên thực tế.

Cũng trong thời gian này, người Chukchi phải chịu nhiều dịch bệnh, khiến dân số của họ suy giảm khá mạnh. Chủ yếu các bệnh là đậu mùa và giang mai. Người Chukchi – với hiểu biết hạn chế, đã gọi các bệnh này là ”Bệnh Nga” (Русская болезнь).

Để tạo cơ sở lâu dài cho sự kiểm soát quân sự ở bán đảo Chukchi, Pavlutsky cho xây pháo đài Anadyrsk, vừa để phòng thủ vừa để làm nơi thu thuế của dân cư địa phương. Lưu ý rằng, thuế mà người bản địa Siberia phải đóng cho Nga rất đặc biệt – hầu hết trả bằng da thú, đọc là yasak (có lẽ nên có một bài viết riêng về loại thuế này). Trong quá trình xây dựng pháo đài, người Chukchi từng nhiều lần tấn công nhưng họ đều bị quân Nga đẩy lùi, chịu tổn thất lớn. Do pháo đài cũng dùng để nhốt tù nhân, dân địa phương quen gọi là ”Nhà tù lớn Anadyrsk” (Анадырский острог).

7

Tranh vẽ pháo đài Anadyrsk, khoảng năm 1740.

8

Một trong những tấm ảnh cuối cùng về nhà tù Anadyrsk, ít lâu trước khi nó bị thiêu hủy hoàn toàn năm 1774.

*Trận Orlova ngày 14 tháng 3 năm 1747

Tuy nhiên, Pavlutsky càng tàn bạo thì chỉ càng làm người Chukchi thêm dữ dội. Đến năm 1747, họ phản công mạnh mẽ, thậm chí trả thù tàn bạo các dân tộc cộng tác với người Nga. Người Koryak hay Even liên tục hứng chịu các cuộc tấn công tàn bạo của người Chukchi. Tháng 3 năm 1747, người Koryak bị tấn công dữ dội bởi Chukchi ở khu vực xung quanh nhà tù Anadyrsk, đã cầu xin quân Nga của Dmitry Pavlutsky giúp đỡ. Sau đó Pavlutsky phát hiện người Chukchi đang đóng khoảng 500 người ngay cửa sông Orlova đổ ra biển Bering – đúng vị trí pháo đài của ông.

9

Vị trí thành phố Anadyrsk (Anadyr) trên bán đảo Chukchi – là nơi sông Orlova đổ ra biển.

Thế là ngày 12/3/1747, Dmitry Pavlutsky mang hơn 200 quân Cossack và chư hầu tới bờ sông Orlova, nơi họ nhìn thấy khoảng 500 quân Chukchi đang chờ. Các tướng lĩnh hối thúc Dmitry Pavlutsky tấn công ngay, nhưng ông lại trì hoãn chờ quân tiếp viện và xây dựng công sự vững chắc.

2 ngày sau, trận chiến nổ ra, và Dmitry Pavlutsky có lẽ đã quên rằng đúng ngày này 17 năm trước, Thiếu tá Afanasy Shestakov đã chết thảm chính tại vùng đất này, và được cho rằng đã bị nguyền rủa.

Diễn biến diễn ra tương tự 17 năm trước. Quân Chukchi bắn tên bằng xương như mưa khiến quân Nga tổn thất nặng. Dù tên xương của người Chukchi không xuyên được giáp sắt của quân Nga nhưng bất cứ không may trúng tên vào các vị trí khác trên người đều bị thương rất nặng. Quân Chukchi đông gấp đôi nhanh chóng áp đảo quân Cossack. Dmitry Pavlutsky, một tay cầm súng một tay cầm gươm chiến đấu dũng cảm nhưng cuối cùng bị nhiều người Chukchi quây lại đè xuống. Họ bóp cổ và đâm anh ta bằng giáo gỗ, nhưng không xuyên qua được giáp.

Theo lời kể lại sau đó của những người sống sót, Dmitry Pavlutsky chọn cho mình cái chết dũng cảm. Biết không thể thoát khỏi cái chết, ông tự mở giáp của mình để người Chukchi đâm chết. Chính vì sự dũng cảm này của Dmitry Pavlutsky mà có lẽ sau này, người Chukchi đã giữ lại đầu của ông để sử dụng trong các nghi lễ của mình.

Quân Nga tiếp tục rút lui cho đến khi một toán kỵ binh khác đến cứu viện. Hai bên Nga và Chukchi quyết định cùng rút lui. Quân Nga rút lui về pháo đài Anadyrsk – lúc này chỉ còn chừng dưới 100 người bảo vệ. Quân Nga sau đó phải cử gấp quân đến tăng viện cho Anadyrsk.

Tổng kết sau trận đánh Orlova, quân Nga chết 51 người và nhiều người bị thương nặng. Nó cũng mất 1 khẩu pháo, 40 khẩu súng, 50 cây giáo và nhiều xe kéo – đây là một chiến lợi phẩm khổng lồ với người Chukchi. Không rõ thiệt hại của người Chukchi, nhưng một hiện tượng lạ khi đây là lần đầu tiên người Chukchi không truy đuổi kẻ thù sau khi đánh bại họ. Vì vậy nhiều người suy đoán rằng người Chukchi đã chịu tổn thất lớn, trả giá đắt cho chiến thắng, hay người ta hay gọi là ”Chiến thắng kiểu Pyrros”.

*Lời nguyền Chukchi

Sau khi nhìn lại, người Nga phát hiện ra 2 tướng hàng đầu trong cuộc chinh phục Viễn Đông của họ chết cùng ngày 14 tháng 3, cách nhau 17 năm. Sự trùng hợp này cùng với những lời đồn trước đó về việc người Chukchi đã phù phép những người lính Nga tử trận trong trận Yegach năm 1730, khiến cho nhiều người tin vào một ”lời nguyền Chukchi” đeo bám những người lính Nga định xâm chiếm vùng đất Chukchi.

Không rõ đó có phải là lời đồn mà cư dân bản địa cố tình tung ra hay không, nhưng chắc chắn 2 điều: Một, người Chukchi đúng là đã dùng thi thể lính Nga tử trận cho các nghi lễ tâm linh của họ. Đáng kể nhất, chính là tướng Dmitry Pavlutsky. Số phận của thi thể tướng Dmitry Pavlutsky được truyền tai nhau nhuốm màu huyền bí. Theo đó, ông bị người Chukchi chặt đầu giữ lại, phù phép và coi như bảo vật cần gìn giữ. Nhiều người Chukchi sau này nói rằng họ quyết định giữ lại đầu của Pavlutsky là để hiến tế cho thần linh, hy vọng họ ban cho người Chukchi lòng dũng cảm như vị tướng Nga. Cần chú ý rằng, phần lớn cư dân bản địa Siberia theo tôn giáo bản địa của họ, tên gọi là ”Shaman giáo”. Đặc trưng của tôn giáo này là gắn chặt cuộc sống với các vị thần và các nghi lễ tâm linh, bao gồm cả việc hiến tế kẻ thù. Đến thế kỷ 19 cư dân bản địa vẫn truyền tai nhau đầu của Pavlutsky được giữ ở làng Nizhnekolymsk vùng Yakutia ngày nay, trong khi thân được chôn ở Yakutsk – thủ phủ của Yakutia (điều sau này được xác nhận). 

Thứ hai, chắc chắn rằng việc lan truyền một lời đồn huyền bí như thế đã khiến người Nga ít nhiều nhụt chí trong việc chinh phục người Chukchi. Kể từ đó, họ thay đổi chính sách với người Chukchi để chung sống hòa bình. Do vậy, sau năm 1747 gần như không còn cuộc tấn công lớn nào của người Nga vào người Chukchi nữa. Cho đến ngày nay, người Chukchi vẫn được thừa nhận là dân tộc duy nhất chặn được cuộc xâm lược của người Nga. 

Chính sách của Nga thế nào, và quá trình người Chukchi hòa nhập vào nước Nga ra sao, xin hẹn vào một dịp khác với bài viết cụ thể hơn. Nhưng tiết lộ là sau trận Orlova năm 1747, nữ hoàng Elizabeth của Nga đã ra lệnh rút hết quân Nga, phá hủy toàn bộ pháo đài, vũ khí của Nga ở nơi này để người Chukchi được sống hòa bình.

Đến năm 1870, ”Lời nguyền Chukchi” lại trở lại, nhưng lần này nó được phá bỏ. Đó là khi một thủ lĩnh Chukchi địa phương, đã giao nộp lại đầu của Pavlutsky cho cảnh sát trưởng người Nga ở Kolyma. Lúc này, người Chukchi đã có được hòa bình. Còn lý do họ có được hòa bình là do sau trận Orlova năm 1747, quân Nga thấy rằng không thắng được người Chukchi, nên đã xin chung sống hòa bình. Hàng năm, họ tổ chức hội chợ chung ở Kolyma, buôn bán giữa người Nga với các dân thiểu số. Dần dần qua nhiều thế kỷ, người Chukchi chấp nhận hòa nhập vào nước Nga và cuối cùng trở thành một Khu tự trị dưới thời Xô Viết

Tham khảo: Aleksandr Nefëdkin – Quân sự người Chukchi, Trung tâm “Nghiên cứu Phương Đông Petersburg”, 2003. (Nefedkin vốn là học giả nghiên cứu Hy Lạp. Viết về quân sự người Chukchi chỉ là một lần thử tay ngang của ông)

 

II. Trận Sitka 1804 – Nga thảm sát thổ dân châu Mỹ.

10

Ở bờ biển Đông Nam Alaska, châu Mỹ ngày nay có một dân tộc tên là Tlingits. Trước đây, người Tlingits có một lễ truyền thống gọi là ”Lễ khóc than” (tiếng Nga là «церемония плача»). Mục đích của lễ hội đau buồn này là để tưởng nhớ cha ông họ, những người đã bị quân Nga giết hại và dồn vào các khu vực hẻo lánh trong nhiều thập kỷ. Lễ hội này được tổ chức suốt 200 năm, và vào năm 2004, người Tlingits tổ chức buổi lễ cuối cùng, chính thức ”khép lại lịch sử 2 thế kỷ đau buồn của họ”.

*Bối cảnh cuộc xâm lược của Nga.

Công đầu trong cuộc khai phá Alaska cho Nga thuộc về Alexandr Baranov. Năm 1795 ông đã khai phá các quần đảo ngoài khơi Alaska, bắt các thổ dân người Aleut làm chư hầu (người Aleut là dân tộc duy nhất sống ở cả châu Á và châu Mỹ).

Sau năm 1795, Alexandr Baranov dẫn người Nga và Aleut đổ bộ lên đất liền Alaska. Ban đầu họ bỏ tiền ra mua đất của dân Tlingits bản địa. Nhưng sau đó, nhận thấy dân bản địa Alaska lạc hậu, người Nga đã lấn tới. Họ không trả tiền cho người Tlingits, ngược lại còn cướp bóc của họ, bắt nhiều người làm nô lệ. Năm 1799, Nga xây pháo đài kiêm nhà tù Mikhailovskaya, đày đọa dân Tlingits địa phương.

Các bộ lạc Tlingits bất bình, quyết định phản kháng bằng vũ khí. Năm 1802, các thị tộc Tlingits liên minh với nhau tấn công bất ngờ pháo đài Mikhailovskaya. Họ giết nhiều lính Nga và Aleut, bắt hơn 20 người làm con tin.

Người Nga sau đó chịu trả tiền chuộc. Nhưng Alexandr Baranov sau đó lại ráo riết chuẩn bị binh lực đi trả thù người Tlingits. Trong 2 năm, ông cho đóng tàu, bắt lính từ các dân tộc chư hầu của Nga. Đến năm 1804, họ xuôi thuyền sang Alaska quyết tiêu diệt người Tlingits.

*Trận Sitka (1804)

Người Tlingits đã biết trước ý đồ của quân Nga. Họ cho xây một pháo đài bằng gỗ (nhưng không có pháo), lấy tên là Shís’gi Noow để phòng thủ, ngày nay thuộc thành phố Sitka của Alaska.

Phía bên kia, Nga cử một lực lượng hùng hậu. Một tàu buôn tên ”Neva” được cải tạo thành tàu chiến, đặt lên đó 14 khẩu đại pháo. ”Neva” được hộ tống bởi hạm đội khổng lồ 400 thuyền Kayak của dân Eskimo và Aleut bản địa chư hầu. Chỉ huy là đô đốc Yuri Lisyansky. Tổng cộng binh lực gần 200 lính và thủy thủ Nga, hơn 1000 lính Eskimo và Aleut chư hầu.

Pháo đài của quân Tlingits được xây sâu trong lòng sông, tàu Neva không vào được. Nhưng quân Nga đã tìm ra cách: dùng hàng trăm tàu Kayak kéo Neva vào sông. Ngày 1/10/1804, Alexandr Baranov dẫn hơn 100 lính của mình xuống tàu Neva đổ bộ lên pháo đài của thổ dân. Họ bị tập kích, Baranov bị thương và phải rút lui khẩn cấp. Tàu Neva bắn yểm trợ và quân Nga rút lui thành công, dù 12 lính Nga và vài chục lính Aleut chết trận. Chiến thắng đầu tiên làm người Tlingits vui mừng.

11

Người Aleut dùng thuyền Kayak kéo chiến hạm Neva của Nga vào sông để đánh nhau với người Tlingits

Baranov bị thương nặng, buộc phải giao quyền chỉ huy cho đô đốc Lisyansky. Đô đốc ra lệnh cho tàu Neva bắn vào pháo đài cho đến khi chắc chắn phá sập được nó mới dám tấn công. Tuy vậy, pháo đài của thổ dân rất chắc chắn. Thế là Lisyansky đổi chiến thuật, bắt các thủy thủ nâng nòng pháo dựng đứng và thay đạn có thể bắn vòng cung vào bên trong pháo đài.

Chiến thuật phát huy hiệu quả. Ngày hôm sau pháo Nga bắn được vào bên trong, làm thổ dân Tlingits sợ hãi. Các tộc trưởng Tlingits quyết định để người dân của họ di tản, ưu tiên phụ nữ và trẻ em. Đến sáng ngày 4/101804, khi quân Nga bắt đầu đổ bộ lên bờ đúng lúc người Tlingits bắt đầu di tản, các thủ lĩnh Tlingits đã xin quân Nga tha cho họ, hứa sẽ đầu hàng và giao nộp pháo đài.

12

Người Tlingits tấn công quân Nga

Tối hôm đó, ngày 4/10 các trưởng lão và chiến binh cuối cùng còn lại của người Tlingits tập trung cho một nghi lễ cuối cùng. Họ dựng bia, cầu nguyện, ca ngợi những chiến binh của họ đã ngã xuống, cuối cùng kết thúc trong tiếng trống dồn dập và tiếng khóc bi thương. Người Nga nghe thấy, cho rằng đó là sự đầu hàng nên tiến vào chiếm lĩnh pháo đài. Người Tlingits sau đó rút đi. Từ đó, hàng năm người Tlingits đều tổ chức một nghi lễ như thế để khóc thương cha ông họ, người Nga gọi là «церемония плача» (Lễ than khóc).

*Hậu quả sau đó

Sau trận Sitka, người Nga tiếp tục dồn dân Tlingits vào các khu vực hẻo lánh phía Đông Bắc. Người Tlingits phải trải qua cuộc sống khốn khổ trong các vùng đất mất sau khi đã mất đất tổ tiên vào tay Nga. Dân số của họ suy giảm quy từng năm vì đói, rét, dịch bệnh và sự tàn sát của người Nga. Đỉnh cao là vào năm 1862, một đợt đậu mùa khủng khiếp ở Tây Bắc Thái Bình Dương đã quét sạch nhiều làng mạc người bản địa châu Mỹ. Cư dân Tlingits mất 60% dân số trên toàn bộ lãnh thổ, từ British Columbia ở Canada tới Alaska của Nga. Một nguyên nhân quan trọng gây ra thảm cảnh cho người Tlingits là hệ thống y tế yếu kém của Nga trong vùng – điều cũng khiến cho chính người Nga ở Alaska chịu thiệt hại. Đây cũng được coi là một trong những nguyên nhân khiến Nga quyết bán hoàn toàn Alaska cho Mỹ năm 1867. Tổng kết qua thời gian, người Tlingits đã mất đi hơn 93% dân số của mình. Ban đầu ước tính có khoảng 100.000 người Tlingits ở Bắc Mỹ, đến đầu thế kỷ 20 chỉ còn dưới 10.000 người. Các bộ lạc khác như Aleut cũng thế. Trước đây có khoảng 25.000 người Aleut, nay chỉ còn 6.000 người ở Mỹ và vài trăm người ở Nga.

Alaska trở thành lãnh thổ Mỹ, nhưng những ký ức kinh hoàng về cuộc xâm lược của người Nga vẫn đeo bám nhiều cộng đồng cư dân bản địa. Mới năm 2020 vừa rồi, những người ủng hộ Blacks Live Matter ở Alaska đã hò nhau phá tượng đài của Aleksandr Baranov – người được coi là thủ phạm gây nên sự tàn sát với người bản địa Alaska.

Tham khảo: Alexander Zorin – Битва за Ситку. 1802-1804

 

III. Chiến tranh Nga – Aleut (1763 – 1765): khởi đầu sự hủy diệt một dân tộc

13

Ảnh: tranh vẽ giáo sĩ Chính thống Nga đang ban phước cho dân bản địa người Aleut (đặc trưng bởi thuyền Kayak). Các giáo sĩ Chính thống đóng vai trò lớn trong việc xoa dịu thù hận giữa người Nga với cư dân Aleut bản địa sau thời kỳ bị tàn sát bởi các nhà buôn Nga cuối thế kỷ 18.

Nếu để ý kỹ bản đồ vùng Bắc Thái Bình Dương, bạn sẽ nhận ra điều thú vị rằng có một con đường rất dễ dàng để đi từ châu Á qua châu Mỹ. Đó là quần đảo Aleut – gồm hàng trăm đảo núi lửa nối từ bán đảo Kamchatka của Nga tới Alaska của Mỹ. Đây được coi là quê hương của một dân tộc bản địa đặc biệt – người Aleut. Cho đến hiện tại, nếu không có tranh cãi gì thêm thì người Aleut có thể được coi là dân tộc duy nhất có lãnh thổ sống nguyên thủy ở cả châu Á lẫn châu Mỹ.

Tuy nhiên, số phận của dân tộc Aleut cũng có thể được coi là một tiêu biểu cho số phận của các dân tộc bản địa châu Mỹ nói chung. Từ thế kỷ 18 đến năm 1910, dân tộc này đã mất đến 95% dân số. Từ dân số ban đầu ước tính vào khoảng 25.000 người, sống trải dài từ Kamchatka của Nga tới British Columbia của Canada – đến năm 1910 người ta chỉ còn thấy có 1.491 người Aleut còn lại trên quần đảo Aleut. Đến hiện tại: dân số Aleut rơi vào khoảng 6.000 người ở Mỹ và khoảng 500 người ở Nga.

Dân số Aleut giảm thê thảm như vậy là vì một loạt combo chết người ập đến với họ trong suốt một thời gian dài: cuộc xâm lược của Nga, bệnh đậu mùa, cưỡng bức di cư, phân biệt đối xử ở Mỹ và cuối cùng là chiến tranh Thế giới thứ 2. Bài viết này giới thiệu về sự kiện đầu tiên mở màn cho thảm kịch: cuộc chiến tranh giữa Nga và thổ dân Aleut từ năm 1763 tới 1765.

*Bối cảnh

Năm 1741, nhà thám hiểm Vitus Bering hoàn tất cuộc thám hiểm Alaska cho Hải quân Nga (từ đó eo biển giữa Nga và Alaska gọi là eo Bering). Tuy nhiên, người thực sự khám phá ra quần đảo Aleut lại là Stepan Glotov – vào năm 1762. Sau khi phát hiện ra quần đảo Aleut có người sống và một lượng khổng lồ thú, lòng tham đã nổi lên trong lòng nhiều thương nhân buôn lông thú người Nga. Thế là họ mang tàu và súng lên đường đến ép dân Aleut ở đây phải nộp thứ thuế gọi là ”yasak” – trả bằng lông thú (sẽ phải có một bài riêng và thứ thuế này).

Ban đầu người Aleut chấp nhận nộp yasak cho người Nga, xin đổi lại tiền và những vật phẩm khác. Nhưng càng về sau, các thương nhân Nga càng trả ít tiền cho người Aleut, thậm chí còn cướp bóc tài sản của họ và bắt cóc người Aleut để tống tiền. Bất bình trước sự ngang ngược của các nhà buôn Nga, năm 1763 người Aleut ở quần đảo Fox (một quần đảo nhỏ nằm trong quần đảo lớn Aleut) đã nổi dậy chống lại các thương nhân Nga.

*Cuộc nổi dậy năm 1763

Sự việc được cho là bắt nguồn từ vụ một thương nhân Nga tên Ivan Bechevin đánh đập và cướp con trai của một thủ lĩnh Aleut. Giận dữ, người Aleut trên các hòn đảo đã hô hào nhau tấn công người Nga để trả thù. Lúc đó, có nhiều tàu buôn Nga ở xung quanh nhưng chỉ có 4 tàu neo đậu gần bờ. Đó là tàu ”St. John” đậu ở đảo Unmak; các tàu “St. Zacharias và Elizabeth”, “St. Trinity” và “St. Nicholas” đậu ở đảo Unalashka. Trên các tàu này có hơn 300 người, gồm 250 người Nga và vài chục người bản địa Siberia đi theo phục vụ.

Cuối tháng 12 năm 1763, người Aleut bất ngờ tấn công và đốt cháy 3 tàu Nga là ”St. John”, ”St. Zacharias và Elizabeth”, “St. Trinity”. Toàn bộ các thủy thủ Nga được cho là chết cháy. Chỉ có một nhóm 13 thủy thủ trốn thoát được do một người tên Korovin dẫn đầu, đã bơi lên đảo và dùng súng trường chiến đấu và lẩn trốn thổ dân Aleut trong suốt nhiều tháng. Dù điều kiện cực khổ nhưng bằng một cách thần kỳ, Korovin đã chỉ huy đội của mình sống sót suốt 8 tháng trời. Cùng lúc đó, con tàu cuối cùng “St. Nicholas” tấn công lên đảo của người Aleut. Họ tàn phá 4 ngôi làng của người Aleut, nhưng bị đánh bại khi người Aleut từ các làng khác đến cứu viện. tàu “St. Nicholas” cuối cùng cũng bị đốt cháy và toàn bộ thủy thủ bị giết.

May mắn đến với họ vào tháng 8/1764. Sau nhiều nỗ lực liên lạc (có lẽ như cách viết thư bỏ vào chai), nhóm Korovin liên lạc được với tàu buôn lớn của thuyền trưởng Stepan Glotov – chính là người dẫn đầu các cuộc thám hiểm Alaska. Sau khi nghe về cuộc nổi dậy, Stepan Glotov rất tức giận và quyết tiêu diệt người Aleut nổi loạn.

*Chiến tranh và tàn sát người Aleut 1764-1765.

Stepan Glotov chỉ mang 2 con tàu đi đàn áp người Aleut, nhưng trên tàu có pháo lớn, và thủy thủ đoàn đều là lính Hải quân thiện chiến. Stepan Glotov chỉ huy trên con tàu “St. Andreyan và Natalya”. Con thuyền còn lại do một người tên Ivan Soloviev chỉ huy. Trên tàu có khoảng 200 người, chủ yếu là người Nga và các dân tộc bản địa lấy từ bán đảo Kamchatka. Từ năm 1764 tới 1765, hạm đội của Glotov và Soloviev đã luồn lạch từng ngóc ngách quần đảo Fox, tiêu diệt bất cứ ngôi làng Aleut nào họ gặp được. Các chiến binh thiện chiến của Nga không cho người Aleut cơ hội nào để chống cự – họ dễ dàng đè bẹp và tàn sát thổ dân.

Trong số này, Soloviev được miêu tả bởi chính đồng đội của hắn là một kẻ tàn bạo. Hắn được cho là chịu trách nhiệm chính với việc tàn sát một lượng lớn người Aleut. Người ta miêu tả Soloviev đã giết toàn bộ các ngôi làng ở phía Nam đảo Unmak, không chừa cả phụ nữ và trẻ em. Thậm chí người ta còn miêu tả trò chơi của Soloviev: ”hắn bắt 12 người Aleut đứng thẳng hàng để bắn đạn xuyên qua, cho lính cá cược xem viên đạn bay đến người thứ mấy. Kết quả là người thứ 9”.

Các nhà sử học Nga sau này đã không ngần ngại đưa ra các con số khủng khiếp về số người Aleut bị giết trong cuộc tàn sát của Soloviev trên đảo Unmak. Sĩ quan hải quân Nga Gabriel Davydov (người sau này được đặt tên cho đảo ở Alaska để vinh danh – tại sao vinh danh thì nói sau) – dựa theo các nhân chứng đã nói rằng Soloviev đã giết hơn 3.000 người Aleut trên đảo Unmak vào năm 1764. Còn bộ trưởng Hải quân Nga sau này Gavriil Sarychev thậm chí còn cho rằng: không dưới 5.000 người Aleut đã chết dưới tay Soloviev năm đó. Dù sao thì có thể khẳng định một điều rằng, dân số Aleut đã suy giảm từ 3 đến 5 lần trong các cuộc chiến tranh với người Nga vào năm 1764-1765.

Đi cùng với sự suy giảm dân số, người Aleut cũng mất đi sự độc lập của mình. Sau năm 1765 người Aleut gần như trở thành chư hầu của Nga, và đã theo chân người Nga tiến lên xâm lược các dân tộc khác trên đất liền Alaska sau này (đọc lại bài chiến tranh Nga – Tlingits nhé).

*Nhận thức và giải quyết hậu quả của chính quyền Nga.

Bạo lực tàn khốc với người Aleut thực sự là hành động cá nhân của những nhà buôn Nga tham lam. Giới chức Nga khi nghe tới sự tàn bạo của các nhà buôn nước họ ở Alaska, đã tìm cách ngăn chặn điều này. Suy cho cùng – thì người dân bản xứ cần thiết cho việc nộp thuế yasak – việc tàn sát họ làm thiệt hại đến nguồn thu này. Vì vậy Nga Hoàng quyết định đặt dân bản địa Aleut dưới sự bảo vệ của luật pháp. Theo tài liệu ghi lại, thì khi một con tàu tên ”St. Gabriel” trở về từ Alaska sau khi gây nhiều tội ác với dân bản địa, chính quyền Nga đã ra lệnh bắt giữ thủy thủ đoàn xét xử. Nhưng việc này vô tình lại dẫn đến thảm kịch: lo sợ bị xử tội, nhóm thủy thủ đã xô tất cả con tin người Aleut xuống biển để giết họ, coi như xóa đi nhân chứng về tội ác của mình.

Nhận thấy không thể kiểm soát thuộc địa mới nếu không xoa dịu được lòng dân bản địa, Nga bắt đầu thay đổi chính sách của mình nhằm bảo vệ dân bản địa khỏi các nhà buôn tàn ác. Nhưng phải đến năm 1800s, sự thay đổi này mới được phát huy nhờ vào ”các sĩ quan Hải quân nhân đạo”.

Đúng như tên gọi, các nhà truyền giáo và sĩ quan Hải quân Nga từ năm 1800 khi thám hiểm Alaska ”đa phần là những người nhân đạo”. Họ không chỉ nhân đạo ở việc chữa bệnh, tiêm phòng, xây dựng, truyền giáo,… cho dân bản xứ mà còn là những người nghiên cứu khoa học và lịch sử Alaska. Trong quá trình đó, họ thừa nhận luôn cả tội ác mà các nhà buôn Nga đã gây ra với cư dân bản địa trước đây.

Có thể kể đến như trung úy Hải quân Gabriel Davydov – người đã nghiên cứu và xuất bản từ điển ngôn ngữ bản địa của thổ dân Sakhalin và Aleut. Bộ trưởng Hải quân Nga Gavriil Sarychev, khi thám hiểm Alaska cũng đã chủ trương ”người dân bản địa phải được đối xử tử tế và thân thiện, thấm nhuần tư tưởng tốt về người Nga.” Hoặc đáng kể nhất là nhà truyền giáo Ivan Veniaminov – người duy nhất được phong thánh ở cả Mỹ và Nga. Ông được ca ngợi bởi công lao to lớn trong việc giáo dục và bảo vệ cư dân bản địa Alaska, cũng như nghiên cứu khoa học về cư dân ở đây. Cả 3 người họ đều có đặc điểm chung là đã ghi lại hành vi tàn bạo của hạm đội Nga với cư dân Aleut bản địa vào năm 1764. Ngày nay dù cả Alaska và quần đảo Aleut đều là lãnh thổ của Mỹ, những người Nga ở trên vẫn được cư dân bản địa ở đây tôn kính và chính quyền đặt tên họ cho các hòn đảo để vinh danh.

Tham khảo: Andrei Grinëv – Bản chất của mối quan hệ giữa thực dân Nga và người bản xứ Alaska – tạp chí Вопросы истории (Câu hỏi lịch sử) số 8, 2003.


 

 

 

 

 

 

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s