Những bí mật về Thành Bình Lỗ

Hình 1: Sơ đồ khu vực cửa sông Cà Lồ. Tại đây có nhiều dấu tích của trận đánh Tống năm 981

Lê Đắc Chỉnh

Bài viết nhân kỷ niệm 1040 năm (981 – 2021) chiến thắng Bình Lỗ và phát tích lần đầu của bài thơ Nam quốc sơn hà (tức Bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của Việt Nam).

  1. THÀNH BÌNH LỖ Ở ĐÂU ?

Cách đây đúng 1040 năm, năm 980, ngay sau khi được Hoàng hậu Dương Vân Nga và binh sĩ tôn lên làm vua, Thập đạo tướng quân Lê Hoàn đã tự làm tướng đem quân đi chống giặc. Khi đó trong thành Hoa Lư chỉ có 3 ngàn Thiên tử quân, ông đem tất cả đi lên phía Bắc để chống nhau với  3 vạn quân tinh nhuệ của Đại Tống. Trước thế giặc hung dữ và nguy cơ trở lại thời 1000 năm Bắc thuộc đang đến rất gần, ông vẫn bình tĩnh và bí mật triển khai kế sách phá Tống, trong đó có việc bố trí một trận địa mai phục ở Bình Lỗ.

Địa danh này bí mật đến mức mãi 320 năm sau, năm 1300, trước khi lâm chung Hưng đạo vương Trần Quốc Tuấn mới hé lộ cho vua Trần Anh Tông biết tên của nơi này. Đó là tòa thành Bình Lỗ hay chiến thắng Bình Lỗ. Đại Việt sử ký toàn thư (ĐVSKTT), kỷ nhà Trần, đã ghi lại câu truyện này như sau: ”Ngày 24 tháng 6 năm Canh Tý (tức năm 1300), Hưng đạo vương (Trần Quốc Tuấn) ốm nặng. Vua (Trần Anh Tông) ngự giá đến nhà thăm, hỏi rằng: Chẳng may chết, giặc phương Bắc lại xâm lấn, thì kế sách làm sao? Hưng Đạo trả lời: Ngày xưa Triệu Vũ đế dựng nước, vua Hán cho quân đánh, thì nhân dân làm kế thanh dã, rồi đem đại quân từ Khâm Châu đánh vào Trường Sa, dùng đoản binh úp đằng sau, đó là một thì. Đến thời Đinh – (Tiền) Lê, dùng được người hiền lương, đất phương Nam mới mạnh mà phương Bắc thì mệt mỏi suy yếu, trên dưới cùng lòng, lòng dân không chia, xây thành Bình Lỗ mà phá được quân Tống, đó là một thì” [1].

Sau này nhiều nhà nghiên cứu dựa vào sử liệu cũ và nhất là qua câu truyện trên đã đi đến khảng định chiến thắng Bình Lỗ là có thật [2] và trận Bình Lỗ đã xảy ra ở nơi có thành Bình Lỗ. Vì vậy để biết thành Bình Lỗ ở đâu cần xem  chiến thắng năm đó đã xảy ra như thế nào ?

  1. CHIẾN THẮNG CHỐNG TỐNG NĂM 981 QUA SỬ LIỆU

Ngày nay các nhà nghiên cứu đã tìm thấy 7 quyển sách cổ sử ghi về chiến thắng chống Tống năm 981. Đầu tiên là Thiền Uyển Tập Anh (TUTA), xuất hiện khoảng năm 1228 chuyên ghi lại các tông phái Thiền học và sự tích của các vị Thiền sư, trong đó có Đại sư Khuông Việt. Sách này được xem là cổ nhất, có độ tin cậy khá cao. Truyện về Đại sư Khuông Việt cho biết:  “Một lần Sư đi chơi núi Vệ Linh ở quận Bình Lỗ, thích phong cảnh vắng đẹp, bèn muốn lập am để ở”. Ngày nay được biết núi Vệ Linh thuộc thôn Vệ Linh, xã Phù Ninh, huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội. Về trận phá Tống năm đó, truyện  này ghi lại như sau : “Năm Thiên Phúc thứ 1 (981), binh Tống đến quấy nước ta. Vua (Lê Đại Hành) biết rõ việc đó, liền sai Sư (Khuông Việt) đến bàn thờ cầu đảo. Quân giặc kinh hãi, rút về giữ sông Hữu Ninh , lại thấy sóng gió nổi lên, giao long nhảy nhót, giặc bèn tan vỡ “ [3].  Từ thông tin trên cho phép đoán rằng thành Bình Lỗ nằm trong quận Bình Lỗ xưa,  tương ứng với  huyện Sóc Sơn ngày nay [4]  và trận đánh đã xảy ra trên một con sông có tên là Hữu Ninh  cũng thuộc quận Bình Lỗ.

Ngoài TUTA còn 6 quyển cổ sử khác cũng ghi về chiến thắng chống Tống năm 981. Đó là: 

  • Sách Việt Điện U Linh Tập (VĐULT) xuất bản lần đầu năm 1329, trong đó có “Bài ký sự tích Sóc Thiên Vương”. Truyện này chép: “Lúc bấy giờ quân nhà Tống đóng trong làng Tây Kết, hai bên chưa đánh nhau, quân Tống tự nhiên kinh hãi, kéo lui đóng ở Chi Giang, lại gặp sóng cả gió to, giao xà nổi dậy, quân đều kinh sợ mà bỏ chạy “[5]. 
  • Sách Việt Sử Lược (VSL, bản do GS Trần Quốc Vượng dịch), xuất hiện lần đầu năm 1377 chép rằng: “Vua tự làm tướng đi chống Tống, sai người cắm cọc ngăn sông. Quân Tống lui giữ Ninh GiangVua sai trá hàng để dụ Nhân Bảo. Quân Tống bị thua, ta bắt chém được Nhân Bảo. Bọn Khâm Tộ nghe tin quân thua, bèn rút lui”[6].
  • Sách Đại Việt Sử Lược (ĐVSL) gồm nhiều tập xuất bản từ năm 1377 đến 1388, cũng chép tương tự như VSL, cụ thể như sau:` “Vua tự làm tướng đem quân ra chống cự. Vua cho cắm cọc cứng dưới sông. Quân Tống rút về giữ mặt Ninh GiangVua sai người sang trá hàng để dụ Hầu Nhân Bảo. Quân Tống thua trận, Hầu Nhân Bảo bị bắt và bị chém. Bọn Trần Khâm Tộ nghe tin thất trận phải rút lui” [7].
  • Sách ĐVSKTT, kỷ nhà Tiền Lê, Đại Hành hoàng đế, xuất bản năm 1697 cũng chép:  “Vua tự làm tướng đi chặn giặc, sai quân sĩ đóng cọc ngăn sông Chi Lăng . Vua sai quân sĩ trá hàng để dụ Nhân Bảo, đem chém. Bọn Khâm Tộ nghe tin quân thủy thua trận, dẫn quân về” [8].
  • Còn Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục (KĐVSTGCM) xuất bản năm 1884 thời vua Tự Đức (nhà Nguyễn) thì ghi như sau: “Khi quân Tống kéo đến sông Chi Lăng, nhà vua sai người trá hàng, dụ bắt được Nhân bảo, đem chém. Bọn Lưu Trừng rút lui. Khâm Tộ nghe tin, rút quân chạy về” [9].
  • Việt Nam Sử Lược (VNSL) của Trần Trọng Kim, xuất bản năm 1919, là bộ thông sử chi tiết đầu tiên bằng chữ quốc ngữ, các sử liệu trước nó đều bằng chữ Hán. Sách này chép như sau: “Bấy giờ lục quân của bọn Hầu Nhân Bảo tiến sang đến Chi Lăng (thuộc Ôn Châu, Lạng Sơn), vua Đại Hành sai người sang trá hàng để dụ Hầu Nhân Bảo đến chỗ hiểm bắt chém đi” [10].

Như vậy cả 7 quyển sách cổ sử cùng chép về một chiến thắng chống Tống năm 981, trận này đã diễn ra trên một con sông nhưng các nhà chép sử lại chép không chính xác nên đã đưa ra 4 cái tên sông khác nhau. Đó là sông Hữu Ninh, Chi Giang, Ninh Giangsông Chi Lăng . Vậy vì sao có 4 cái tên sông đó và con sông thực sự trong trận này tên là gì ? Nó nằm ở đâu ?

  1. BÍ MẬT VỀ NHỮNG TÊN SÔNG TRONG TRẬN BÌNH LỖ

Nếu xét 4 cái tên sông nêu ở trên, chúng ta có thể phủ nhận ngay khi xưa không có con sông nào (hay đường bộ nào) có tên như vậy xuyên qua từ Lạng Sơn (nơi có ải Chi Lăng) đi về phía Nam. Trong Tống sử cũng không thấy nhắc đến trận đánh nào xảy ra hồi đó ở Chi Lăng thuộc Lạng Sơn.

Theo chú thích của Lê Mạnh Thát [3], có thể sách ĐVSKTT (bản năm 1697) do người đời sau sao lại, vì kiêng húy vua đầu của triều đại  Lê Trung Hưng (1533 – 1789) tên là Lê Duy Ninh, nên người chép sử đã đổi Ninh () thành Lăng (). Riêng chữ Hữu () và chữ Chi () do tự dạng rất giống nhau nên chắc đã bị chép nhầm Hữu thành Chi. Nghĩa là sông Chi Lăng (支稜) ở ĐVSKTT [8] chính là sông Hữu Ninh (友寧) ở TUTA. trận quyết chiến chiến lược  năm 981 đã xảy ra ở sông Hữu Ninh chứ không phải ở sông Chi Lăng.

Vậy sông Hữu Ninh nằm ở đâu  trong quận Bình Lỗ ? Theo truyện “Hai vị thần ở Long Nhãn, Như Nguyệt” trong sách Lĩnh Nam Chích Quái” [11], truyện này mô tả trận đánh thắng Tống năm đó như sau: “Vào năm Tân Tỵ (981)… Lê Đại Hành và tướng quân Phạm Cự Lượng kéo quân tới sông Đồ Lỗ (là đoạn sông Cà Lồ gần Đò Lo ngày nay) cự địch, hai bên đối đầu cầm cự”. Rồi một đêm nhà vua “mộng thấy một người dẫn đoàn âm binh áo trắng từ phía nam Bình Giang mà tới, một người dẫn đoàn âm binh áo đỏ từ phía bắc sông Như Nguyệt mà lại, cùng xông vào đánh trại giặc”.

Sau này các nhà nghiên cứu khảng định Bình Giang là một cái tên cũ của sông Cà Lồ hay còn gọi là sông Bình Lỗ [4]. Phía nam Bình Giang tức là phía nam sông Cà Lồ. Còn phía bắc sông Như Nguyệt là đoạn sông Cầu bắt đầu từ cửa sông Cà Lồ ngược lên phía bắc của con sông này. Đối chiếu trên bản đồ (Hình 1) và so sánh với thực địa khu vực cho thấy  trận đánh Tống năm 981 đã xảy ra ở đoạn hạ lưu của sông Cà Lồ . Đoạn sông này cũng thuộc quận Bình Lỗ xưa, từ đó có thể khảng định sông Hữu Ninh chính là đoạn hạ lưu của sông Cà Lồ

Còn sông Chi Lăng trong KĐVSTGCM, do xuất bản sau ĐVSKTT mà cũng dùng 2 chữ Chi Lăng, đó là do chép theo ĐVSKTT mà thôi.  Riêng VNSL của Trần Trọng Kim thì hiểu sai hoàn toàn, từ cái tên sông Chi Lăng trong ĐVSKTT và KĐVSTGCM,  tác giả gán luôn thành địa danh Chi Lăng của tỉnh Lạng Sơn. Cũng bởi VNSL viết bằng tiếng Việt nên các sách phổ thông nước ta đều chép theo cái sai này, từ đó cứ thế cho rằng trận đánh Tống năm 981 đã xảy ra ở Chi Lăng (Lạng Sơn) và quân Đại Cồ Việt đã chém được đầu Hầu Nhân Bảo ở ngay ải Chi Lăng giống như Lê Lợi chém Liễu Thăng cũng ở nơi này.

Những cái tên còn lại như Chi Giang (VĐULT), Ninh Giang (VSL) hay sông Chi Ninh (ĐVSL), nếu kết hợp đối chiếu với bản đồ khu vực của trận Bình Lỗ (Hình 1) có thể giải thích như sau: Chi Giang trong VĐULT hay Chi Ninh trong ĐVSL cũng là do chép nhầm chữ hữu () thành chữ chi (), đúng ra phải là Hữu Giang hay Hữu Ninh. Cái tên sông Hữu Ninh trong TUTA có nghĩa là nhánh sông bên phải  của sông Ninh. Còn Ninh Giang trong VSL và ĐVSL, theo nhà Hà Nội học Nguyễn Vinh Phúc [4], thì nó chính là một cái tên cũ của sông Cầu ngày nay. Chi Giang trong VĐULT  cũng có nghĩa là con sông bên phải và như vậy trên thực tế vẫn là con sông Hữu Ninh trong TUTA.

Từ đó có thể khảng định ĐVSL chép sự kiện quân Tống “rút về giữ mặt Ninh Giang” vẫn rất đúng, bởi vì khi đó quân Tống thua đã chạy vào sông Hữu Ninh, để giữ lối thoát ra sông Cầu (tức sông Ninh) [12]. Cho nên nghĩa của đoạn này cũng là “rút về giữ sông Hữu Ninh” như trong TUTA mà thôi. Tóm lại trận đánh Tống ghi trong 7 quyển sách cổ sử đều xảy ra trên một con sông duy nhất, đó là sông Hữu Ninh , phù hợp hoàn toàn với khu vực cửa sông Cà Lồ ngày nay.

Vậy sông Hữu Ninh tức đoạn hạ lưu của sông Cà Lồ  có gì bí mật ? 

  1. VỊ TRÍ VÀ VAI TRÒ ĐẶC BIỆT CỦA CON SÔNG HỮU NINH

Sông Hữu Ninh là đoạn hạ lưu của sông Cà Lồ. Còn sông Cà Lồ là một trong 3 con sông chính cách đây hàng triệu năm đã có nhiệm vụ chuyển tải nước và phù xa từ hệ thống sông Hồng sang hệ thống sông Thái Bình. Nhiều đoạn sông Cà Lồ còn là ranh giới phân chia giữa các tỉnh trung du và một số tỉnh của đồng bằng Bắc bộ. Nó tách ra khỏi sông Hồng ở xã Trung Hà, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc, chảy ngoằn nghèo uốn khúc và hợp lưu với sông Cầu tại ngã ba Xà (xã Tam Giang, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh). Đến đầu thế kỷ 20 phía đầu nguồn bị bịt lại, không nối với sông Hồng nữa.

Đoạn hạ lưu sông Cà Lồ, do ảnh hưởng của dãy núi Tam Đảo kéo dài nên thỉnh thoảng có một số gò đồi chắn ngang đường đi làm thay đổi dòng chảy của con sông. Tại đây hai nguồn nước từ sông Hồng và sông Cầu dồn về, tác động qua lại làm cho dòng chảy từ Phù Lỗ đến cửa sông bị uốn khúc nhiều lần (Hình 2). Đến gần cửa sông, trước khi hợp lưu với sông Cầu  nước tràn sang 2 bên và tạo thành một vài nhánh sông nhỏ. Các nhánh này đã bị các con đê nhân tạo đắp thời Trần và Hậu Lê chặn cả 2 đầu, bị vùi lấp, nay chỉ còn một nhánh chảy ra sông Cầu (Hình 1). Đặc biệt tại tọa độ 21o23’ vĩ độ Bắc và 10591’ kinh tuyến Đông có một gò đất cao hơn hẳn xung quanh, có hình móng ngựa, đường kính khoảng 700 m. Hơn  2/3 chu vi của gò đất được bao bọc bởi dòng sông Cà Lồ. Theo đoán định của chúng tôi thì gò đất này chính là vị trí của thành Bình Lỗ mà Hưng đạo vương đã nhắc đến.

Hình 2 : Bản đồ lưu vực sông Cà Lồ và quận Bình Lỗ

Cùng với sông Cà Lồ và sông Cầu, thành Bình Lỗ đã góp phần làm thành hàng rào thiên nhiên chắn ngang đường tiến của tất cả các đạo quân từ phương Bắc muốn tiến vào đánh chiếm thành Cổ Loa, Tống Bình cũng như châu thổ Bắc Bộ thời bấy giờ. Vì vậy khi được tin quân Tống chuẩn bị kéo sang “vua đã biết chuyện đó” liền sai sư Khuông Việt bí mật đến nơi hiểm yếu này bố trí một trận địa mai phục.

Hình 3a: Thành Bình Lỗ từ Google Map năm 2015

Hình 3b: Thành Bình Lỗ  qua  Flycam năm 2020

Hai bờ sông Cà Lồ ngày ấy còn là rừng rậm, lầy lội, dân cư thưa thớt, chỉ có thể di chuyển bằng thuyền bè trên sông hoặc trong các kênh rạch. Tại đây để tăng khả năng chống giặc nhà vua đã cho quân sĩ “xây thành Bình Lỗ” và “đóng cọc ngăn sông” [13]. Theo Tục tư trị thông giám trường biên của Lý Đào thì tháng 2/981 quân do thám do Bát tác sứ là Hác Thủ Tuấn chỉ huy đã “theo lối đường sông đến tận chỗ đất giặc” và phát hiện ở đây có một công trình lớn đang được “khơi đào rộng ra”.          

Cho nên để phát huy trận địa mai phục ở Bình Lỗ này, nhà vua đã phải “sai người sang trá hàng” và cuối cùng cũng dụ được quân Tống tiến sâu vào sông Hữu Ninh.  Sách An Nam chí  của Cao Hùng Trưng, xem [14] cho biết: “Nhân Bảo đem vạn quân xông vào trước bị thế giặc rất mạnh, viện quân phía sau đến cứu không kịp, trận thế bị vây hãm, nên Nhân Bảo bị loạn quân giết chết quẳng xác xuống sông”. Vậy là một vạn quân của Hầu Nhân Bảo đã bị vây chặt trong đoạn sông Hữu Ninh. Chúng phải liều chết xông lên đánh chiếm thành Bình Lỗ nhưng bị quân Đại Cồ Việt chống trả quyết liệt. Ngày nay tại chân gò đất cao (nơi sông Cà Lồ tách ra thành 2 nhánh) còn để lại cái tên Ngòi Ác như một minh chứng của trận chiến ác liệt năm nào. Kết quả là “quân giặc kinh hãi” phải “ rút về giữ sông Hữu Ninh“ [3]. Dọc theo nhánh sông bị vùi lấp, nay còn để lại nhiều dấu tích, với những cái tên như ngòi ác, cầu cửa ma, đầm lâu, bờ xác chạy dài từ gò đất cao đến bờ sông Cầu ở cuối làng Như Nguyệt (Hình 1).

  1. CHIẾN THẮNG BÌNH LỖ MỞ ĐẦU THỜI KỲ 1000 NĂM GIỮ NƯỚC

Sử liệu cho biết, năm 968 Đinh Bộ Lĩnh dẹp xong 11 xứ quân và lập ra nhà nước Đại Cồ Việt, trong khi đó mãi đến năm 979 (11 năm sau) nhà Tống mới đánh dẹp xong các nước phía nam giáp với Đại Cồ Việt. Sự kiện này cũng giống như việc Việt Nam tuyên bố độc lập năm 1945 trước Trung Quốc 4 năm (đó là năm 1949). Việc ra đời một nhà nước Đại Cồ Việt năm 968 sau hơn 1000 năm Bắc thuộc, trở thành một vật cản không thể chấp nhận đối với một đế chế Trung Hoa hùng mạnh. Do sẵn có âm mưu bành trướng, nên ngay năm sau (năm 980) khi quân Tống tiến sát đến biên giới, chúng đã có những hoạt động nhòm ngó và gây rối loạn ở Đại Cồ Việt. Các thế lực ngầm bên trong kết hợp với bên ngoài tìm cách chia rẽ và muốn xóa bỏ nhà nước non trẻ này. Biết rõ điều đó nên Lê Đại Hành đã nghiên cứu rất kỹ kế sách phá Tống, ông dựa vào thế núi sông của đất nước và huy động toàn dân tham gia [12 ]. Riêng trận địa mai phục ở Bình Lỗ được nhà vua quan tâm đặc biệt và hết sức giữ bí mật. Bằng cách giao riêng cho người tin tưởng nhất lúc bấy giờ là Đại sư Khuông Việt (Sư là cháu nội của Ngô Quyền), không giao việc quan trọng này cho nhà sư có nguồn gốc từ Trung Hoa (lúc đó ở Đại Cồ Việt có rất nhiều), quân và dân Đại Cồ Việt đã thành công và làm nên chiến thắng lẫy lừng ở Bình Lỗ.

Việc ra đời một nhà nước Đại Cồ Việt năm 968 sau hơn 1000 năm Bắc thuộc, trở thành một vật cản không thể chấp nhận đối với một đế chế Trung Hoa hùng mạnh. Do sẵn có âm mưu bành trướng, nên ngay năm sau (năm 980) khi quân Tống tiến sát đến biên giới, chúng đã có những hoạt động nhòm ngó và gây rối loạn ở Đại Cồ Việt. Các thế lực ngầm bên trong kết hợp với bên ngoài tìm cách chia rẽ và muốn xóa bỏ nhà nước non trẻ này. Biết rõ điều đó nên Lê Đại Hành đã nghiên cứu rất kỹ kế sách phá Tống, ông dựa vào thế núi sông của đất nước và huy động toàn dân tham gia [12 ]. Riêng trận địa mai phục ở Bình Lỗ được nhà vua quan tâm đặc biệt và hết sức giữ bí mật. Bằng cách giao riêng cho người tin tưởng nhất lúc bấy giờ là Đại sư Khuông Việt (Sư là cháu nội của Ngô Quyền), không giao việc quan trọng này cho nhà sư có nguồn gốc từ Trung Hoa (lúc đó ở Đại Cồ Việt có rất nhiều), quân và dân Đại Cồ Việt đã thành công và làm nên chiến thắng lẫy lừng ở Bình Lỗ.

Sông Hữu Ninh và thành Bình Lỗ đều nằm lọt trong căn cứ kháng chiến của hai vị anh hùng chống giặc ngoại xâm là Trương Hống, Trương Hát thời Triệu Việt Vương [15]. Để tưởng nhớ công lao của hai ông trong việc giải phóng nước Vạn Xuân thời bấy giờ, dân làng Tiên Tảo (xã Việt Long, Sóc Sơn) cũng dựng đình và đúc tượng thờ  các ông.  

Hình 4: Cổng phủ thuộc thôn Ngọc Hà (Xuân Giang, Sóc Sơn, HN) bên trong có dấu tích bức tường cổ bằng đất của Thành Phủ

Theo khảo sát của chúng tôi, thành Bình Lỗ không phải là một tòa thành được xây dựng kiên cố mà chỉ là một hệ thống công sự phòng thủ vững chắc dựa vào các điều kiện tự nhiên và sử dụng những vật liệu sẵn có trong vùng. Dưới sông, đoạn xung quanh gò đất cao, quân Đại Cồ Việt lập thành các hàng rào bằng tre gỗ ken dày và chắn ngang dòng nước, trên bờ đắp thêm các ụ đất xen vào giữa các lũy tre như đã thấy ở thành Cổ Loa trước đó hay trên chiến tuyến sông Như Nguyệt  thời Lý sau này.  Đặc biệt chìm dưới lớp đất đáy sông khoảng 1,5 m người dân làng Ngọc Hà đã tìm thấy 20 cây cọc gỗ cổ chắc chắn đường kính trung bình 20 cm, nhọn một đầu, dài khoảng 6 đến 8 m cùng với nhiều mảnh cổ vật bằng sành sứ. Trong khu vực còn lưu lại nhiều dấu tích như Thành Phủ (Hình 4) của hai vị anh hùng họ Trương ở làng Ngọc Hà (Xuân Giang, Sóc Sơn), đình thờ hai ông ở làng Tiên Tảo (Việt Long, Sóc Sơn), Đền Xà (Tam Giang, Yên Phong), Đình Mừng (Tam Giang, Yên Phong, Bắc Ninh) là nơi ăn mừng sau chiến thắng Bình Lỗ của quân dân Đại Cồ Việt và nhiều dấu tích , cổ vật…Qua đó cho thấy thành Bình Lỗ là có thật.

Hiệu quả của trận đánh ở khu vực thành Bình Lỗ rất cao, sách An Nam Chí của Cao Hùng Trưng thú nhận một vạn quân tiên phong cùng với chủ tướng Hầu Nhân Bảo đã bị diệt gọn ở đây [14],  làm cho quân Tống hàng chục năm sau vẫn còn sợ hãi. Chiến thắng Bình Lỗ thực sự là một mốc son chói lọi trong lịch sử mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước của nhân dân ta.

Thành Bình Lỗ còn là nơi phát tích lần đầu của bài thơ Nam quốc sơn hà. Tại đây trên thành Bình Lỗ, trong giấc mộng nhà vua đã gặp hai thần Trương Hống, Trương Hát đến phù giúp đánh giặc. Trong khu gian từ phía Nam Bình Giang đến phía Bắc sông Như Nguyệt quân Tống đã phải kinh hoàng,  “Thần nhân giấu mình ở trên không, lớn tiếng ngâm rằng:

          Sông núi nước Nam vua Nam ở. Rành rành phân định tại sách trời. Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm. Bây sẽ coi rồi chuốc tả tơi. Quân Tống nghe tiếng, xéo đạp vào nhau, tán loạn, ai nấy đều lo chạy thoát thân…Quân Tống đại bại mà về Bắc” [11].

Trong buổi đầu dựng nước và giữ nước ấy, khó khăn nhiều bề, nước ta còn phụ thuộc vào phương Bắc từ kinh tế, văn hóa đến ngôn ngữ, chữ viết. Cho nên nhiều chiến công và thành tựu đã phai mờ theo năm tháng, hoặc chỉ được phục dựng qua lời kể và lưu lại trong các dã sử, truyền thuyết, để lại nhiều bí ẩn.  Hy vọng rằng, những nghiên cứu và đánh giá  nêu ở trên được mọi người chia sẽ và  giúp sức, để trả trận chiến và thành Bình Lỗ oanh liệt về cho lịch sử của đất nước.

  1. Ý NGHĨA CỦA CHIẾN THẮNG BÌNH LỖ

Cuộc kháng chiến chống Tống năm 980/981 thắng lợi trọn vẹn, Lê Đại Hành đã lợi dụng điều kiện địa hình sông ngòi của nước ta, bố phòng hợp lý khiến cho quân Tống không dùng được kế đánh nhanh thắng nhanh. Ông lại thực thi có hiệu quả thuật công tâm và kế trá hàng làm cho các tướng Tống không lường trước được.

Chiến thắng Bình Lỗ để lại kinh nghiệm vô cùng quý báu về chiến tranh nhân dân, bảo vệ nền độc lập nước nhà [12]. Đó còn là bài học của một nước nhỏ nếu biết đoàn kết toàn dân và có chỉ đạo sáng suốt thì nhất định sẽ đánh thắng được đế quốc to, dù chúng lớn hơn gấp nhiều lần.

Chính trong quá trình bảo vệ nhà nước Đại Cồ Việt non trẻ, thành quả của cuộc đấu tranh kiên cường suốt hơn 1000 năm dưới thời Bắc thuộc, đã đúc kết kinh nghiệm để làm nên công trình phòng thủ nổi tiếng là thành Bình Lỗ và cả một áng thơ bất hủ “bài thơ Nam quốc sơn hà” cho muôn đời các thế hệ người dân nước Việt.

Nay làng mạc trên gò thành và vết tích của tòa thành cổ không còn, đã bị hủy hoại (Hình 3a,b). Tuy nhiên với những dẫn chứng thu thập được có thể đi đến nhận định khó bác bỏ rằng gò đất cao xưa kia bên bờ sông Cà Lồ chính là vị trí thành Bình Lỗ mà lịch sử đã ghi nhận. Lịch sử đã trôi đi rất nhanh và rất xa, một vài dấu tích của tòa thành, âm vang của trận Bình Lỗ vẫn còn đó, trở thành bài học lớn cho các triều đại kế tiếp về sau.

Tiếc rằng thành Bình Lỗ đã bị chúng ta bỏ quên.


TÀI LIỆU THAM KHẢO

 [1]    Đại Việt Sử ký Toàn thư, Quyển VI, Kỷ Nhà Trần, Anh Tông Hoàng Đế. Trang 210. Nxb Khoa Học Xã Hội (Hà Nội) ấn hành (1993) hoặc Bản điện tử.

https://www.informatik.uni-leipzig.de/~duc/sach/dvsktt/dvsktt11.html

[2]  Bình Lỗ. Bách khoa toàn thư mở. Wikipedia. 

https://vi.wikipedia.org/wiki/B%C3%ACnh_L%E1%BB%97

[3]    Đại sư Khuông Việt. Sách Thiền Uyển Tập Anh. Bản điện tử, trang 21/22.

http://www.thuvienhaiphu.com.vn/datafile1/BE015404.pdf

[4]  Nguyễn Vinh Phúc. Lê Đại Hành và Sóc Thiên Vương. Bối cảnh định đô Thăng Long và sự nghiệp của Lê Hoàn. Bản điện tử (16):  

 https://www.quansuvn.net/index.php/topic,5197.150.html

[5] Bài ký sự tích Sóc Thiên Vương, sách Việt Điện U Linh Tập. Lý Tế Xuyên, bản sớm nhất năm 1329. Bản điện tử, trang 91.

https://dotchuoinon.files.wordpress.com/2019/11/viet-dien-u-linh-tap-ly-te-xuyen.pdf

 [6] Việt sử lược. Trần Quốc Vượng dịch. Bản điện tử, trang 61. 

http://www.sugia.vn/portfolio/detail/986/viet-su-luoc.html

http://www.sugia.vn//assets/file/viet_su_luoc_2523.pdf

 [7]  Đại Việt sử lược. Quyển I. Khuyết danh (1377 – 1388). Bản điện tử, pdf.  trang 30.

https://quangduc.com/images/file/gpdtq37d1AgQAJhF/dai-viet-su-luoc-khuyet-danh.pdf

[8]  Đại Việt sử ký toàn thư, Quyển I, Nhà Tiền Lê, Đại Hành Hoàng Đế. Trang 66. Hoặc Bản điện tử:   https://www.informatik.uni-leipzig.de/~duc/sach/dvsktt/dvsktt06.html

 [9]  Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục (KĐVSTGCM). Bản đầu tiên năm 1884.  Bản điện tử, trang 89.

https://quangduc.com/images/file/_voL837d1AgQANJp/kham-dinh-viet-su-thong-giam-cuong-muc-quoc-su-quan-trieu-nguyen.pdf

 [10]  Việt Nam Sử Lược.  Trần Trọng Kim, năm 1919. Bản điện tử, trang 37.

https://quangduc.com/images/file/oOduVYLd1AgQABwg/viet-nam-su-luoc-tran-trong-kim.pdf

[11]  Truyện Hai vị thần ở Long Nhãn – Như Nguyệt, sách Lĩnh Nam Chích Quái, Trần Thế Pháp. Bản đầu tiên năm 1493. Bản điện tử, pdf, trang 82.

https://dotchuoinon.files.wordpress.com/2010/11/linhnamchichquai_march18_2015.pdf

[12]  Trận Bình Lỗ đã diễn ra như thế nào ? Bản điện tử.

https://nghiencuulichsu.com/2019/03/04/tran-binh-lo-da-dien-ra-nhu-the-nao/

[13]  Trần Bá Chí: Bản ngọc phả về bà vợ Lê Đại Hành đánh giặc Tống. Tạp chí hán nôm số 2 (51), năm 2002 . Bản điện tử: http://hannom.org.vn/web/tchn/data/0202.htm

[14]  Nguyễn Hữu Tâm: Đại thắng mùa xuân 981… qua một số thư tịch của Trung quốc.  Bản điện tử.  https://www.quansuvn.net/index.php/topic,5197.70.html

[15] Thánh Tam Giang. Bách khoa toàn thư mở Wikipedia.

https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%C3%A1nh_Tam_Giang

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s