Bi kịch của một dân tộc: Cách Mạng Nga 1897- 1921 (Phần 3: Chương X)

1

Tác giả Orlando Figes

Trần Quang Nghĩa dịch

 

Chương 10

Cơn Hấp Hối của Chính Quyền Lâm Thời

i Ảo Tưởng của một Quốc Gia

Tại buổi họp đầu tiên của họ Kerensky phong Brusilov làm Tổng Tư lệnh quân đội Nga. Vị Bộ trưởng Chiến tranh mới đã xuống thăm ông tận bộ chỉ huy của ông ở Mặt trận Tây-Nam và, sau khi đi thị sát binh sĩ, hai người ngồi xe suốt đêm để đến thị trấn Tarnopol. Một cơn bão dữ dội ập tới và chiếc ô tô trơ trọi dường như sắp gặp nạn khi nó ì ạch lội qua các con đường quê lầy lội. Rúc mình trong lòng xe, bên ngoài mưa đập vào cửa kính, và chớp lóe sáng trên đầu, hai người ngồi sát vào nhau hơn. Họ bắt đầu chuyện trò thân mật, trao đổi những cảm nghĩ riêng tư như hai người bạn cũ. Cả hai đều nhất trí phải mở cuộc tiến công vào mùa hè, và chính tại thời điểm này, như ông kể lại trong hồi ký của mình, Kerensky quyết định ‘Brusilov nên được trao quyền tư lệnh toàn quân đúng lúc mở cuộc tấn công.’.

Việc Brusilov được bổ nhiệm là dựa vào khả năng dụng binh của ông trong quân đội cách mạng và trên hết còn nhờ tính lạc quan của ông. ‘Tôi cần người có niềm tin rằng quân đội Nga chưa hết hi vọng,’ Kerensky sau đó viết. ‘Tôi không xài những người không thể thực tình chấp nhận sự đã rồi của cách mạng, hoặc không tin là chúng ta có thể gầy dựng lại tinh thần binh sĩ trong không khí tâm lý mới. Tôi cần những người đã từng trải qua trò điên rồ của những năm chiến tranh dưới chế độ cũ và hiểu đầy đủ biến động đã xảy ra’. Brusilov đã hội đủ điều kiện. Ông có lẽ là tướng lĩnh cao cấp duy nhất thời sa hoàng nhận được vinh dự qua cuộc chiến – và một trong những người đầu tiên trao số phận mình cho  cách mạng. Như Kerensky, ông hi vọng công cuộc bảo vệ tự do có thể cuối cùng khơi dậy lòng yêu nước mà Nga đang cần để tiếp tục cuộc chiến.

Sự hậu thuẫn của ông cho nền dân chủ, và đặc biệt cho các ủy ban quân nhân, khiến ông có ít bạn bè trong giới tướng lĩnh cao cấp. Họ lên án ông là ‘người cơ hội’ và ‘tên phản bội’ quân đội. Bộ Tổng Tham mưu ở Stavka nhận được tư lệnh mới của mình vào ngày 22/5 với mối hiềm khích thấy rõ. ‘Tôi nhận ra ngay lập tức, khi đến nơi, cảm nghĩ lạnh lẽo của họ dành cho tôi,’ Brusilov nhớ lại. Thay vì được hoan hô đông đảo như lệ thường mà ông rất quen, Brusilov chỉ được tiếp đón ở nhà ga Mogilev bởi một phái đoàn ít người chiếu lệ gồm các tướng lĩnh mặt mày bí xị. Ông càng làm tình hình tệ hơn khi xúc phạm nghiêm trọng  một nhóm sĩ quan cao cấp ra ga đón tiếp ông khi ông quay đi để bắt tay với các binh sĩ trước. Những người lính đầu tiên quá lúng túng – có đời nào được một vị tướng chào mình đâu –  đến nỗi đánh rơi khẩu súng trường hoặc lính quýnh dùng bàn tay trái để bắt tay với vị tổng tư lệnh.

Không như các tướng lĩnh khác, Brusilov đặt lòng tin vào hoạt động của các cơ quan dân chủ của quân nhân. Theo ông, chỉ qua hợp tác với họ, tinh thần chiến đấu của binh sĩ mới được vực dậy và cuộc tấn công mới có thể tiến hành thắng lợi. Tình thần lạc quan này tương phản rõ rệt  với tính hoài nghi của Tổng Tư lệnh trước đây, Alexeev, người luôn không tin lực lượng quân đội trong tình hình cách mạng hiện thời có thể tiến hành cuộc tiến công thắng lợi. Còn Brusilov lại luôn tin tưởng mình được Chúa Trời chọn lựa để dẫn dắt quân đội Nga đến thắng lợi cuối cùng. ‘Dù khó khăn trăm bề,’ ông viết cho em trai không lâu sau khi đến Mogilev, ‘anh không hề tuyệt vọng vì biết rằng Chúa Trời đã đặt lên vai anh gánh nặng và vận mệnh của tổ quốc. Anh có niềm tin sâu sắc, sâu sắc như lòng tin của anh vào Chúa Trời, rằng chúng ta sẽ chiến thắng trong cuộc chiến đấu cam go này.’

Kể từ Hội nghị Liên Minh ở Chantilly vào tháng 11 1915, các Đồng minh  liên tục thúc giục Nga mở cuộc tấn công mới trên Mặt trận phía Đông. Các lãnh đạo phe Hiệp ước (Đồng minh) muốn năm 1917 phải là năm chiến thắng cuối cùng, đánh bại hoàn toàn phe Liên minh Trung tâm  bằng sự phối hợp tấn công từ đông và tây. Tính hợp pháp của Chính quyền Lâm thời được một  số cường quốc Tây phương nhìn nhận hay không – cùng sự hậu thuẫn tài chính mà Nga nhận được từ họ – phụ thuộc nhiều vào sự hoàn thành nghĩa vụ này đối với các Đồng minh. Cùng lúc đó, biến cố cách mạng đã làm gia tăng mối nghi ngại về khả năng chiến đấu của Nga. Tại cuộc họp các tư lệnh Mặt trận vào ngày 18/3 Alexeev bác bỏ yêu cầu của Pháp về một cuộc tấn công mới vào mùa xuân: các con đường vẫn còn ngập trong băng tuyết; ngựa và rơm thiếu hụt; các đơn vị dự bị đang tứ tán; kỷ luật quân đội rệu rã; và Xô-Viết, vốn đang kiểm soát mọi đòn bẩy thiết yếu của quyền lực, vẫn còn chần chừ hậu thuẫn bất cứ biện pháp nào vượt quá chiến lược phòng thủ thuần túy. Phần đông các tư lệnh đều nhất trí với ông là không thể phát động cuộc tấn công mới trước tháng 6 hoặc thậm chí tháng 7. Brusilov là người duy nhất ủng hộ ý tưởng tấn công vào mùa xuân. Trong một điện tín gởi đến cuộc họp ông tuyên bố binh sĩ của mình hăng hái chiến đấu. Tinh thần lạc quan toát ra từ bức điện quá bốc khiến Alexeev phải nhờ Cục trưởng Quân nhu kiểm tra xem điện tín là thật hay giả mạo. Ông viết nguệch ngoạc phía dưới bức điện: ‘Sẽ may mắn nếu thực tế biện minh cho hi vọng này.’ Đến từ Mặt trận Tây-Nam chủ chốt, nơi xuất phát bắt kỳ cuộc tấn công nếu có nào, thông điệp của Brusilov ắt hẳn đã làm Alexeev chai đá đổi ý mở cuộc tấn công sớm hơn vào tháng 5. Ông tóm tắt những lý lẽ của mình cho Guchkov vào ngày 30 tháng 3:

 Nếu chúng ta không tiến hành tấn công, chúng ta cũng không thoát khỏi phải chiến đấu nhưng mà chiến đấu tại một thời điểm và địa điểm có lợi cho địch. Còn nếu chúng ta không hợp tác với đồng minh, chúng ta không thể mong đợi họ giúp đỡ khi chúng ta cần. Tình trạng vô trật tự trong quân đội trong tấn công cũng không thể tệ hơn như khi phòng thủ. Cho dù chúng ta không hoàn toàn tin chắc vào thắng lợi, chúng ta cũng nên tiến hành tấn công. Hậu quả của phòng thủ không thành công còn tệ hơn tấn công thất bại.  . . Chúng ta ném quân vào trận càng nhanh nỗi đam mê chính trị của họ càng chóng nguội. Tướng Brusilov cũng ủng hộ tiến công dựa trên những nhận định này. . . Có thể nói rằng binh sĩ càng chao đảo phòng thủ càng chắc chắn ít thành công hơn; do đó tiến hành những chiến dịch tích cực hơn sẽ thuận lợi hơn.

Đó là một ván bài liều lĩnh. Không có gì bảo đảm việc tấn công sẽ ít rủi ro hơn việc phòng thủ; và thậm chí cho rằng phát động cuộc tấn công sẽ vực dậy tinh thần chiến đấu của binh sĩ, như Alexeev và Brusilov đã nghĩ, sẽ hợp lý hơn. Nếu suy xét kỹ, rõ ràng các nhà lãnh đạo quân sự và chính trị của Chính quyền Lâm thời ảo tưởng vì tính lạc quan của mình. Họ đánh giá thấp một cách thô thiển giá phải trả cho cuộc tấn công mới. Alexeev, chẳng hạn, dự kiến tổn thất sinh mạng trong vòng 6,000 người; nhưng số lượng thực sự lên đến gần 400,000, và số binh lính đào ngũ còn lớn hơn. Đây là cái giá sinh mạng khổng lồ phải trả cho một ý tưởng viễn vông. Về mặt chính trị, giá phải trả còn cao hơn. Bởi vì không nghi ngờ gì chính việc phát động tấn công, chưa nói đến việc thất bại của nó, đã dẫn đến khủng hoảng mùa hè mà kết cục là sự sụp đổ của Chính quyền Lâm thời và việc Bôn-se-vich chiếm đoạt quyền lực vào tháng 10. Ắt hẳn các lãnh đạo quân sự cho rằng bằng cách phát động tấn công sớm họ có thể ngăn ngừa một cuộc tấn công của Đức, mà tình báo Nga đã sai khi cho tin Đức sẽ mở cuộc tấn công vào mùa hè. Nhưng sự thật là lâu nay họ đang tính đến một ‘cuộc tấn công hòa bình’ ở mặt trận phía đông để rút bớt lúc lượng chuyển sang mặt trận phía tây. Một chiến lược phòng thủ sẽ hợp lý hơn, trong khi quân đội Nga và hậu phương đang yếu kém. Nhưng vào tháng 6, khi cuộc tấn công được phát động, các nhà lãnh đạo Nga đã ám ảnh với ý nghĩa nó sẽ trở thành biểu tượng của ‘tinh thần dân tộc’ của cách mạng – và họ mù quáng không thấy nó có thể kết thúc trong thảm họa.

Hơn bất cứ thứ gì khác, cuộc tiến công mùa hè đã đẩy binh sĩ về với Bôn-se-vich, đảng lớn duy nhất hậu thuẫn không thỏa hiệp cho việc kết thúc chiến tranh ngay lập tức. Nếu Chính quyền Lâm thời cũng đi theo một chính sách như thế và mở cuộc thương lượng với Đức, chắc chắn người Bôn-se-vich không bao giờ nắm được quyền bính. Tại sao nước đi quyết định này không hề được tiến hành. Lòng ái quốc của các lãnh đạo dân chủ – đối với họ đồng nghĩa với nghĩa vụ đối với các cường quốc đồng minh dân chủ – là một phần của câu trả lời. Kerensky có xem xét sơ qua giải pháp hòa bình riêng rẽ, khi ông đảm đương vai trò Thủ tướng sau những Ngày Tháng Bảy và sự sụp đổ của cuộc tiến công; nhưng ông loại bỏ nó vì lý do, như về sau ông tuyên bố, là hành động đó sẽ khiến ông chịu trách nhiệm làm

 mất thể diện nước Nga. Có lẽ người ta có thể lên án ông và những nhà chính trị khác thiếu nhìn xa trông rộng khi loại bỏ giải pháp hòa bình riêng rẽ. Năm ngày trước khi Bôn-se-vich cướp chính quyền, ngày 20/10, Tướng Verkhovsky, Bộ trưởng Chiến tranh, tuyên bố quân đội không thích hợp để chiến đấu. Ông đề nghị rằng cách duy nhất để phản công mối đe doạ đang lớn dần của Bôn-se-vich là ‘chặt đứt gốc rễ bên dưới chúng – nói cách khác là đưa ra ngay lập tức vấn đề kết thúc chiến tranh trong hoà bình’. Nhưng Kerensky vẫn không thể nhìn ra nguy cơ Bôn-se-vich và thêm một lần nữa ông từ khước hành động. Mười bốn năm sau, Lod Beaverbrook, trong khi ngồi ăn trưa với Kerensky ở London, hỏi ông liệu Chính quyền Lâm thời có thể ngăn người Bôn-se-vich bằng cách ký kết hòa bình riêng rẽ với Đức được không. ‘Tất nhiên,’ Kerensky trả lời, ‘giờ đây chúng ta đã ngồi ở Moscow.’ Kinh ngạc trước câu trả lời này, Beaverbrook hỏi tại sao không làm vậy. ‘Vì chúng tôi quá ngây thơ,’ Kerensky đáp.

Việc xét lại là thói xa xỉ của các sử gia. Nếu biết các áp lực và học thuyết của thời kỳ đó không khó để hiểu lý do tại sao phát động cuộc tiến công. Các lãnh đạo của Chính quyền Lâm thời xem nghĩa vụ đối với Đồng minh là nghiêm túc. Họ thích thỏa thuận một nền hòa bình toàn diện không bị xáp nhập hoặc bồi thường, nhưng thế yếu quân sự khiến việc mặc cả của họ cực kỳ  yếu. Các đồng minh đang đi đến quan điểm là cuộc chiến có thể thắng được dù có Nga hay không, nhất là sau khi Mỹ đã tham chiến vào tháng 4. Họ phong tỏa Hội nghị Hòa bình Stockholm, dó các nhà lãnh đạo Xô-Viết Nga tổ chức nhằm tập hợp tất cả đảng xã hội ở châu Âu, lôi kéo họ vào đề nghị của Nga là xét lại mục tiêu chiến tranh của Đồng minh. Trong ý nghĩa này, bằng cách ngăn cản chiến dịch hoà bình quốc tế, các Đồng minh góp phần mình vào việc giúp đỡ người Bôn-se-vich đi đến quyền lực, mặc dù việc này còn để ngỏ một câu hỏi liệu một nền hòa bình toàn diện có thể thành tựu hay không.

Vì vậy cho dù dường như nghịch lý, các lãnh đạo Chính quyền Lâm thời hậu thuẫn việc tiến công để củng cố chiến dịch giải quyết toàn diện xung đột của họ. Họ lâm chiến để kiến tạo hòa bình. Đó cũng là lý lẽ của các lãnh đạo Xô-Viết trong việc ủng hộ cuộc tiến công. Chủ nghĩa Phòng thủ Cách mạng của Tsereteli, tập hợp dân chủ cho nhu cầu phòng thủ quốc gia, là biện minh chủ yếu cho việc họ bước vào Liên minh. Tất nhiên ta có thể thắc mắc bảo vệ quốc gia không đòi hỏi phải phát động tiến công. Bằng việc hậu thuẫn tính hơn hẳn của nhu cầu quân sự, như họ đã làm khi ký vào Tuyên bố các Nguyên tắc của Liên minh vào ngày 5/5, các lãnh đạo Xô-Viết có nguy cơ đánh mất tầm nhìn của họ về mục tiêu cơ bản của mình – thương thảo một nền hòa bình toàn diện – và do đó mở ngỏ cho người Bôn-se-vich kết tội họ bắt tay với những kẻ gây chiến. Nhưng họ bị cuốn theo hi vọng rằng việc bảo vệ nền dân chủ Nga có thể hỗ trợ cho việc tập kết nhân dân sau lưng mình. Họ so sánh tình hình Nga với tình hình Pháp trước cuộc chiến 1792 với Áo: đối với họ hình như một cuộc chiến tranh cách mạng sẽ làm phát sinh lòng yêu nước mới mẻ mang tính công dân, cũng như việc bảo vệ patrie (tiếng Pháp: tổ quốc) đã cất cao bản hợp xướng Aux Ames, citoyens (tiếng Pháp: Hãy vũ trang, các công dân)’. Họ hoàn toàn tin rằng một ‘cuộc cách mạng dân tộc’ đã xảy ra chứ không chỉ là một cuộc khởi nghĩa chống chế độ cũ, và rằng qua việc vùng lên của lòng ái quốc, qua việc mọi người nhận thức được rằng lợi ích của ‘dân tộc’ đứng cao hơn lợi ích giai cấp hoặc đảng phái, họ có thể phục hồi tinh thần đoàn kết và trật tự.

Kerensky, Bộ trưởng Chiến tranh trong chính quyền liên minh, được xem là người hùng của chủ nghĩa yêu nước mới mang tính công dân này. Là một nhân vật đứng trên đảng phái và được nhân dân yêu mến, ông trở thành hiện thân của lý tưởng đoàn kết quốc gia của liên minh. Sự tôn sùng Kerensky, khởi xướng từ những Ngày Tháng Hai, lên đến cao trào với cuộc tiến công tháng 6, mà thật ra việc tôn sùng đã khiến nó xảy ra. Mọi hi vọng và mong chờ của quốc gia nằm trên đôi vai mảnh dẻ của Kerensky, ‘bộ trưởng chiến tranh đầu tiên của nhân dân’. Các nhà thơ học trò như Leonid Kannegiser ( sau này sẽ ám sát người Bôn-se-vich Uritsky) hình dung Kerensky như Bonaparte của nước Nga:

Và nếu, quằn quại vì đau đớn,

Tôi ngã xuống nhân danh Mẹ Nga,

Và thấy mình nằm trên một cánh đồng hoang vắng,

Bị bắn ngay ngực trên mặt đất,

Thế thì ở Cổng Thiên đường,

Trong những cơn mơ hân hoan đang chết dần,

Tôi vẫn nhớ – nước Nga, Tự do,

Kerensky trên lưng bạch mã.

 

Marina Tsvetaeva, lúc đó vừa mới thôi học, cũng xúc động khi so sánh Kerensky với Napoleon:

 

Và ai đó rơi trên tấm bản đồ,

Không ngủ trong dắc mơ của mình.

Đến kìa một Bonaparte

Vào đất nước tôi

 

Kerensky say sưa với vai trò này. Ông đã luôn tự coi mình là lãnh tụ của dân tộc, đứng trên lợi ích của đảng phái và giai cấp. Sự tâng bốc đưa ông đến tận mây xanh. Ông bị ám ảnh trước hình ảnh mình dẫn dắt quân đội đến vinh quang và tràn ngập vinh dự. Ông bắt đầu theo gương Napoleon. Một bức tượng bán thân của Hoàng đế Pháp nằm trên bàn làm việc của ông ở Bộ Chiến tranh. Mặc dù chính ông chưa hề vào quân ngũ, Kerensky vận một bộ áo chẽn kaki vừa khít, quần ống túm của sĩ quan và đôi giày ống bằng da cao tới đầu gối khi ông trở thành Bộ trưởng Chiến tranh (một kiểu trang phục bán quân sự mà nhiều lãnh tụ tương lai, trong đó có Stalin, bắt chước ông). Bộ trưởng Chiến tranh rất tỉ mỉ chăm sóc hình dáng bên ngoài. Ngay cả lúc ở đỉnh cao của cuộc chiến vào tháng 10, khi ông xuất hiện trước lực lượng Cô-dắc trong trận đánh Gatchina chống Hồng Vệ bình, ông cũng ráng diện ‘bộ áo chẽn đẹp nhất quen mắt với dân chúng và binh sĩ’, và ‘chào tay, như tôi luôn làm thế, khá tự nhiên và với nụ cười nhẹ’. Trong chuyến đi nổi tiếng của ông thăm các Mặt trận, ông có khi đeo nạng cánh tay phải, mặc dù không có tin gì về việc ông bị thương ở cánh tay (một số người đùa là tay ông bị đau vì phải bắt tay nhiều quá).

Trước ngày được bổ nhiệm Kerensky đã trình diễn ngoạn mục tai Đại hội các Đại biểu từ Mặt trận. ‘Tôi rất tiếc mình không chết đi hai tháng trước đây,’ ông phát biểu với bàn tay trịnh trọng áp lên trái tim mình, ‘bởi vì khi đó tôi được chết với ước mơ cao cả nhất của mình: là từ đây về sau và mãi mãi một cuộc đời mới sẽ khai sinh trên đất nước Nga, khi chúng ta có thể tôn trọng lẫn nhau và điều hành xứ sở mình mà không dùng roi da hoặc chày vồ.’ Ông kêu gọi bình sĩ hay đặt ‘nghĩa vụ công dân’ của mình lên trên lợi ích đảng phái hẹp hòi và củng cố quyết tâm chiến đấu, vì tự do của nước Nga chỉ có thể có được khi nhà nước hùng mạnh và có tổ chức và điều này có nghĩa ‘mọi công dân’ phải hi sinh cho quốc gia. Dưới ‘chế độ cũ đáng ghét’ người lính còn biết hoàn thành nhiệm vụ của mình, thế thì tại sao họ không làm được nhân danh Tự Do? ‘Hay có phải’, ông hỏi một câu có ý nghĩa và đầy xúc động đối với binh sĩ, ‘nhà nước tự do thật ra chỉ là một nhà nước gồm những nô lệ nổi loạn?’ Cả sảnh họp bùng lên tiếng ồn ào. Bởi vì những người lính thật ra là ‘những nông nô’ trước khi có Điều Lệnh Số 1, và Kerensky giờ dường như đang hỏi họ có xứng đáng với tự do mình được hưởng như những ‘công dân’, nếu họ không sẵn sàng chiến đấu. Cụm từ ‘nô lệ nổi loạn’ vang dội khắp xứ suốt những tuần sau đó. Nó đã khiến phần lớn binh lính quay lại chống đối Kerensky. Nhưng đối với người yêu nước và giàu có, đó đúng là lời kêu gọi trở lại kỷ luật và nghĩa vụ mà họ đã chờ đợi bấy lâu, và giờ đây họ tập kết sau lưng Kerensky và cuộc tiến công Mặt trận. Như thể họ có cảm nghĩ chỉ có thắng lợi mới có thể cứu vớt họ lúc này.

Báo chí cấp tiến giờ nhập bọn với phe hữu trong một bản hợp xướng gào thét trên những tít lớn kêu gọi quân đội ‘Tấn công!’ Đảng Kadet nâng cao lá quốc kỳ. Không nghi ngờ gì họ hi vọng việc thể hiện mình lòng ái quốc có thể giúp họ đảo ngược kết quả bầu cử đáng báo động. Trong các cuộc bầu cử Duma thành phố vào tháng 5 Kadet được không tới 20 phần trăm số phiếu bầu. Không còn có thể cạnh tranh với các nhà xã hội sự ủng hộ của quần chúng, họ nhắm đến việc kêu gọi các tầng lớp trung lưu bằng cách hậu thuẫn công cuộc bảo vệ Tổ quốc và vãn hồi trật tự. Lòng ái quốc trở thành cơ sở để có thể tuyên bốbmình là một đảng đứng trên giai cấp. Giới trí thức dân chủ, vốn luôn là nền tảng xã hội của những người Kadet, hồ hởi đi theo họ trên lộ trình yêu nước. Liên đoàn Văn hóa Nga, được một nhóm Kadet cánh hữu thành lập giữa làn sóng ái quốc này, nhằm kêu gọi mọi giai tầng đoàn kết sau lưng lá cờ Nga. Thậm chí Blok, tự cho mình là người xã hội chủ nghĩa, cũng qui thuận tâm thế mới của lòng ái quốc, trong lúc Gorky chào đón cuộc tiến công như một phương tiện ‘mang lại tính tổ chức cho đất nước’. Có một cảm nghĩ đang lên là ‘nước Nga’ nên được đặt cao hơn mọi thứ khác, kể cả chính cách mạng. ‘Không phải Nga tồn tại vì cách mạng,’ Dmitry Merezhkovsky viết ‘mà cách mạng tồn tại vì Nga.’ Những người yêu nước có tài sản đăng ký mua Công Trái Tự Do để tài trợ cho cuộc tiến công. N. V. Chaikovsky, Chủ tịch Hội Kinh tế Tự do, tuyên bố ‘nghĩa vụ của mọi người đối với Đất Mẹ, đối với đồng bào mình và tương lai nước Nga, là hiến tiền tiết kiệm cho lý tưởng cao cả của tự do’.

Chủ nghĩa ái quốc công dân mới này không mở rộng vượt quá các tầng lớp trung lưu đô thị, mặc dù các lãnh đạo trong Chính quyền Lâm thời có ảo tưởng là như vậy. Một số thường dân trung lưu tình nguyện vào các tiểu đoàn xung kích mới được thành lập để vực dậy sĩ khí của quân đội. Phần đông các tiểu đoàn này được các sĩ quan muốn ra khỏi các trung đoàn nổi loạn của mình tham gia.

Một trong số những đơn vị tình nguyện nổi tiếng nhất là do phụ nữ thành lập. Tiểu đoàn Tử thần do Maria Bochkavera, một phụ nữ thực sự đáng nể, trước chiến tranh từng là đốc công trong công trường xây dựng. Sau 1914 cô vận động để được đăng vào lính, thậm chí gởi đơn thỉnh cầu Sa Hoàng, và được phép chiến đấu trong hàng ngũ của Tướng Gurko. Vào tháng 2 1917, cô được thăng trung sĩ, đã qua hai năm trong các chiến hào với vài vết thương và một số huy chương. Quan ngại với tình trạng suy sụp kỷ luật quân đội, cô kêu gọi Brusilov cho phép cô thành lập một tiểu đoàn xung kích gồm các phụ nữ, hi vọng rằng việc này sẽ khiến cánh mày râu hổ thẹn mà chiến đấu. Nhưng việc này có tác dụng ngược: binh lính xem việc thành lập các tiểu đoàn này là dấu hiệu cho thấy tình hình vô vọng của chính quyền và càng củng cố quyết tâm không đánh nhau của họ; trong khi nhiều binh sĩ, đặc biệt là lính Cô-dắc, không chịu sát cánh với phụ nữ. Nhưng Brusilov không tiên liệu trước được điều này và thấy không có lý do gì để phản đối. Ông tha thiết với ý tưởng, gây nhiều tranh cãi vào lúc đó, thành lập một quân đoàn chỉ gồm những đơn vị tình nguyện. Vì vợ ông đang làm việc trong bộ phận y tế ở Mặt trận, ông không thấy tại sao những phụ nữ khác không nên đến đó để chiến đấu. Tiểu đoàn được thành lập vội vàng và được Trưởng Giáo Nikon ban phước trên Quảng trường Đỏ ở Moscow trước khi lên đường ra mặt trận vào tháng 6. Các phụ nữ cạo đầu và mặc quân phục đúng chuẩn, mặc dù có một cô quá béo không vừa với bộ nào, đành phải mặc luôn váy ra trận.

Các quân ủy là niềm hi vọng khác cho lòng yêu nước công dân này. Phần đông họ là các sĩ quan trẻ có tinh thần dân chủ và xã hội chủ nghĩa. Họ được binh sĩ tin cậy nhưng cũng hiểu rõ sự cần thiết của kỷ luật quân đội. Linde, người hạ sĩ quan trẻ đã cầm đầu cuộc nổi dậy của vài trung đoàn trong những Ngày Tháng Hai, là một trường hợp điển hình đang xét: anh trở thành Quân Ủy Quân đoàn Đặc biệt trong cuộc tiến công mùa hè. Dmitry Oskin, người hạ sĩ quan nông dân mà chúng ta đã gặp trong Chương 7, cũng trở thành một quân ủy.

Các quân ủy được Xô-Viết bổ nhiệm vào ngày 19 tháng 3, và chịu trách nhiệm trước Chính quyền Lâm thời vào ngày 6 tháng 5. Họ có nhiệm vụ làm trơn tru mối quan hệ giữa các sĩ quan và các ủy ban quân nhân, làm cơ sở cho sự hợp tác vị quốc giữa dân chủ và quân đội. Đây cũng là hi vọng của Tuyên bố ‘Về Quyền của Quân nhân Phục vuj’ do Kerensky ban hành vào ngày 11/5. Kerensky tuyên bố rằng – và ông đúng – lực lượng vũ trang Nga hiện giờ là ‘lực lượng tự do nhất thế giới’; và ông kêu gọi binh sĩ hãy chứng tỏ ‘trong tự do có sức mạnh chứ không phải hèn yếu’ trong cuộc tiến công sắp tới. Tuyên bố vẫn giữ lại các quyền cho bởi Điều Lệnh Số 1, nhưng cũng phục hồi quyền hành của  sĩ quan tại Mặt trận, kế cả việc sử dụng hình phạt thể xác. Giới sĩ quan thì tán thành nhưng nhiều binh sĩ xem Tuyên bố như là rắp tâm của chính quyền muốn quay về hệ thống kỷ cương cũ, và người Bôn-se-vich nhanh chóng khai thác việc đó. Tờ Pravda của họ nhạo báng nên gọi Tuyên bố là ‘Tuyên bố về việc Tước quyền của Quân nhân Phục vu’

Để nâng cao tinh thần chiến đấu Kerensky kinh lý một vòng ra Mặt trận trong tháng 5. Tại đây mức hùng biện điên cuồng của ông lên cao độ. Khắp nơi ông được đón tiếp như một người hùng. Binh lính công kênh ông, ném hoa như mưa lên người ông và qui mọp dưới chân ông. Một y tá người Anh kinh ngạc chứng kiến cảnh họ ‘ôm hôn ông, hôn quân phục ông, ô tô ông, và mảnh đất nơi ông bước đi. Nhiều người trong số họ quì xuống cầu nguyện; người khác bật khóc.’ Không có cảnh nào như thế đã từng xảy ra từ những ngày có Sa Hoàng.

Tất cả hiện tượng này gieo cho Kerensky ấn tượng sai lầm là binh sĩ đang hăng hái chiến đấu. Điều này rất xa với sự thật. Ông chỉ tiếp xúc với một bộ phận không tiêu biểu của quân đội. Những người chào đón và nghe ông phát biểu chỉ là những sĩ quan và thành viên ủy ban quân nhân. Còn tại chiến hào, đại đa số binh lính đều mang tâm trạng tiêu cực hơn. Có lần tại một địa điểm gần Riga, một người lính bị đồng đội đẩy về phía trước để đặt câu hỏi với vị bộ trưởng. ‘Ngài nói với tụi tôi là phải chiến đấu với bọn Đức để nông dân có thể có ruộng đất. Nhưng ruộng đất thì có ích gì nếu tôi bị giết chết?’ Kerensky không biết trả lời thế nào, chỉ ra lệnh cho sĩ quan chỉ huy đơn vị cho người lính này về nhà. ‘Hãy báo cho dân làng của y biết chúng ta không cần những tên hèn nhát trong quân đội Nga.’ Có bao nhiêu người nữa có thể về nhà trên cơ sở này? Rõ là Kerensky nghĩ đây là một trường hợp ngoại lệ. Ông không biết có hàng triệu người khác cũng muốn được may mắn như y.

Brusilov, trái lại, bắt đầu nghĩ lại về tinh thần binh sĩ. ‘Binh lính đã mệt mỏi,’ ông viết cho vợ vào cuối tháng 4, ‘và về nhiều phương diện không còn thích hợp để tiến công.’ Khi nhận chức tư lệnh tối cao, ông lên đường thị sát Mặt trận phía Bắc và Tây. Trái với binh sĩ ở Mặt trận Tây-Nam của ông, ở rất xa ảnh hưởng của các thành phố cách mạng, ông nhận thấy binh lính ở đây hiện trong tình trạng hoàn toàn mất hết nhuệ khí. Có lần, chẳng hạn, trong khi đang nói chuyện với một nhóm binh sĩ đã bị Bôn-se-vich hóa nặng nề gần Dvinsk, Brusilov vô tình cho biết bọn Đức đã tiêu hủy ‘một trong những vườn nho nổi tiếng nhất của nhân dân Pháp dùng sản xuất ra thứ xâm banh hảo hạng’. Câu nói hớ này khiến binh sĩ nổi giận, la ó với vị Tổng Tư lệnh của mình: ‘Xấu hỗ cho ngài! Ngài bắt chúng tôi đổ máu để ngài có thể uống xâm banh!’ Khi tiếng la hét đã dịu xuống ông cho gọi  người lính to mồm nhất bước lên thành thật phát biểu ý kiến của mình. Người lính nông dân râu đỏ đứng cạnh Brusilov, nhìn xéo ông, và phát biểu là binh lính đã ‘đánh nhau đủ rồi’, là ‘ba năm qua nhân dân Nga đã đổ máu cho các giai cấp đế quốc và tư bản’, và rằng ‘nếu tướng quân muốn tiếp tục chiến đấu vì xâm banh thì ngài hãy đi và đổ máu của mình.’

Đây chỉ là một trong nhiều sự cố thuyết phục Brusilov rằng một cuộc tiến công mới sẽ là không nên. Ở Mặt trận phía Bắc ông gặp cả một sư đoàn đã đuổi cổ các sĩ quan và hăm dọa bỏ về nhà.

Khi tôi đến tôi yêu cầu được nói với các đại diện binh sĩ. Khi họ đến tôi hỏi họ theo đảng nào, họ trả lời trước đây là đảng Cách Mạng Xã Hội (SR), nhưng hiện giờ thì họ ủng hộ Bôn-se-vich. ‘Các anh muốn gì?’ Tôi hỏi . ‘Ruộng đất và Tự do’, họ đồng hét lên. Khi tôi hỏi hiện giờ họ muốn gì, họ nói họ không muốn chiến đấu nữa và xin được về nhà để chia phần tài sản dân làng đã chiếm được cúa bọn điền chủ và sống trong tự do. Và khi tôi hỏi: ‘Còn Mẹ Nga thì sao, nếu các anh chỉ nghĩ đến mình thì ai bảo vệ Mẹ?’, và mọi người họ trả lời chuyện gì xảy ra cho nhà nước không phải là chuyện của họ, và họ đã quyết định đi về nhà.

Theo Brusilov, binh sĩ bị ám ảnh bởi khao khát hòa bình đến nỗi họ sẽ sẵn sàng hậu thuẫn chính Sa Hoàng miễn là ông ta hứa chấm dứt cuộc chiến. Chỉ điều này, Brusilov nhìn nhận, hơn là niềm tin vào ‘chủ nghĩa xã hội’ trừu tượng, là nguyên nhân đưa họ đến với Bôn-se-vich. Đa số binh sĩ là nông dân giản dị, họ muốn ruộng đất và tự do, và họ bắt đầu gọi điều này là ‘chủ nghĩa Bôn-se-vich’ vì chỉ có đảng đó hứa hẹn hoà bình. ‘Chủ nghĩa Bôn-se-vich chiến hào’, như Allan Wildman đã gọi như thế trong cuộc nghiên cứu đầy uy tín của ông về quân đội Nga vào 1917, không nhất thiết được vận động qua những kênh chính thức của đảng, hoặc ngay cả được cổ vũ bởi các đặc vụ Bôn-se-vich. Tình trạng không đến nỗi như hầu hết các tư lệnh thường đổ lỗi mọi thất bại ở chiến trường cho  Bôn-se-vich.*   Đúng ra đây chỉ là tình huống các binh sĩ quá mệt mỏi và nổi giận bổng nhặt được những khẩu hiệu trong báo chí Bôn-se-vich bèn sử dụng chúng nhằm hợp pháp hóa cho hành động phản chiến của mình. Ít có binh sĩ theo một đảng phái chính trị nào trong 1917, và nếu có ai là đảng viên thì hầu hết thuộc đảng SR hơn là Bôn-se-vich.

*  Thật ra, bằng cách đổ lỗi cho Bôn-se-vich trong bất kỳ thất bại quân sự nào, các chỉ huy vô tình tạo ra ấn tượng là Bôn-se-vich có ảnh hưởng hơn họ thực sự có, và điều này khiến họ càng thêm lôi cuốn đối với binh sĩ.

 

Các ủy viên quân nhân, mà nhiều chỉ huy lên án là kênh chủ yếu của chủ nghĩa Bôn-se-vich chiến hào, bàn bạc về trận tiến công sắp tới và quyết định không đánh. ‘Có ích gì phải xâm chiếm Galicia chớ?’ một người lính hỏi. ‘Lý do quái quỷ nào bắt chúng ta phải đi chiếm thêm một đỉnh đồi khác,’ một người lính khác chêm vào, ‘ khi ở dưới chân đồi có được hòa bình?’ Nhiều người lính cho rằng kế hoạch hoà binh của Xô-Viết gây thêm đổ máu một cách vô ích. Họ không hiểu tại sao các sĩ quan họ ra lệnh chiến đấu trong khi các lãnh đạo đã đồng ý cần thiết phải hòa bình. Vấn đề về một nền hòa bình dân chủ, ‘ không có xáp nhập hoặc bồi thường’, là một khái niệm quá phức tạp đối với nhiều người trong số họ để hiểu được. Nhiều binh lính dường như có cảm nghĩ là Anneksiia và Kontributsiia (‘xáp nhập’ và ‘bồi thường’) là hai xứ ở vùng Balkan.

Khi ngày tiến công đến gần, một cơn lũ các lính đào ngũ tăng lên. Knox nhận thấy các chuyến tàu từ Mặt trận ‘liên tục bị càn quét’ bởi binh sĩ lên đường về nhà. Họ leo lên nóc toa và bám vào các càng giảm sốc của toa tàu. Số đào ngũ thực sự lớn hơn con số chính thức là 170,000 nhiều. Toàn bộ những đơn vị đào ngũ chiếm đóng các vùng hậu phương và sống như các băng đảng.

Một trong những biểu hiện chủ hòa của binh sĩ gây lo lắng nhất cho Brusilov là việc họ kết thân với địch. Đây là một phần trong chiến dịch của người Đức nhằm giảm quân số ở Mặt trận phía Đông để chuyển quân sang phía Tây. Họ dụ dỗ binh lính Nga trong chiến hào bằng vodka, hòa nhạc và nhà thổ tạm thời dựng giữa hai đường chiến hào, và tuyên truyền với họ những lời tương tự như người Bôn-se-vich rằng họ không nên tiến công để đổ máu thêm nữa cho các lợi ích của đế quốc Anh và Pháp. Trong dịp hưu chiến nhân lễ Phục Sinh hàng ngàn lính Nga bỏ chiến hào và cầm cờ trắng đi qua chiến tuyến của địch. Nhiều người bơi qua sông Dniester và Dvina để tham gia trò vui.

Trước ngày tiến công Brusilov cảnh báo với Kerensky về những mối nghi ngại của mình. Binh sĩ từ chối di chuyển ra Mặt trận. Hàng chục vụ nổi dậy đã xảy ra trong các lực lượng đồn trú ở hậu phương và trong những đơn vị di chuyển ra chiến hào có đến ba phần tư đào ngũ trên đường đi. Các binh lính ngoài tuyến đầu cũng đã nổi dậy khi họ khám phá chuyện tiến công sắp tới. Brusilov bắt buộc phải giải tán một số đơn vị tin cậy nhất của mình. Trong Quân đoàn 5 ở Mặt trận phía Bắc binh lính không chịu thi hành lệnh và tuyên bố Lênin là người có quyền hành duy nhất mà họ nhìn nhận: 23,000 đã được chuyển sang các đơn vị khác hoặc gởi về hậu phương để ra tòa án binh. Nhưng Kerensky không đếm xỉa đến những cảnh báo của tổng tư lệnh mình.’ Ông ta không quan tâm chút nào đến lời tôi nói.’ Brusilov nhớ lại, ‘ và từ lúc đó trở đi, tôi nhận ra rằng chức Tổng Tư lệnh của tôi hoàn toàn không có nghĩa gì cả.’ Kerensky và toàn thể nội các đã quyết định: cuộc tiến công phải được phát động và không có chỗ cho ngờ vực vào phút cuối.

Vào ngày 16/6 trận tiến công bắt đầu bằng cuộc pháo kích dồn dập hai ngày liền. Kerensky chạy từ trung đoàn này đến trung đoàn khác ra mệnh lệnh và cố sức vực dậy tinh thần binh sĩ. Vào ngày 18/6 binh lính tiến lên, phấn chấn vì thấy chiến hào địch bị bỏ không dưới trận hoả lực. Mũi tiến công chính là nhắm đến Lvov ở phía nam, trong lúc các mũi tiến công yểm trợ cũng được phát động trên Mặt trận phía Tây và Bắc. Cuộc tiến quân kéo dài trong hai ngày. Phòng tuyến Đức bị bẻ gãy và ‘Khúc Khải Hoàn của Tự Do’ quang vinh được báo chí yêu nước báo tin. Rồi, vào ngày thứ ba, cuộc tiến quân dừng lại, quân Đức bắt đầu phản công, và quân Nga hoảng sợ tháo chạy. Đây là sự thất trận bình thường: các đơn vị được tung vào trận mà không trang bị súng máy; binh lính không được huấn luyện kỹ lại bị ra lệnh giao tranh trong những điều động phức tạp phải dùng lựu đạn tay mà đến lúc ném lại quên không mở kíp nổ. Nhưng lý do chính cho thảm bại là tinh thần chiến đấu sa sút của binh sĩ. Đã tiến được hai dặm, binh sĩ tuyến đầu cảm thấy mình đã làm tròn nhiệm vụ và không chịu tiến thêm, trong khi binh sĩ ở tuyến hai không chịu thay thế họ. Cuộc tiến quân do đó tan vỡ khi binh lính bắt đầu tháo chạy. Chỉ trong một đêm các tiểu đoàn xung kích của Quân đoàn 11 đã bắt giữ được 12,000 đào binh gần thị trấn Volochinsk. Nhiều binh lính quay súng chống lại các sĩ quan chỉ huy hơn là đánh nhau với địch. Cuộc rút lui biến thành hỗn loạn khi binh lính quay ra cướp bóc các cửa hàng, nhà kho, hãm hiếp các cô nông dân và tàn sát người Do Thái. Cuộc tiến công về Lvov sụp đổ ngay khi binh lính phát hiện một kho rượu lớn trong thị trấn bỏ hoang Koniukhy và dừng lại để say sưa. Lúc mà họ đã tỉnh rượu và có thể tiếp tục chiến đấu ba ngày sau đó, thì lực lượng tiếp viện của địch đã tới nơi, và quân Nga, bị tổn thất nặng nề, đành phải lui quân.

Tiểu đoàn Tử thần của Bochkavera làm tốt hơn hầu hết những tiểu đoàn xung kích khác, nhưng cũng đành bó tay trước tình trạng hỗn loạn. Các phụ nữ tình nguyện xuyên thủng hai chiến tuyến địch đầu tiên, phía sau là các tân binh nam nhút nhát. Nhưng rồi họ đụng phải hoả lực ồ ạt của địch. Các phụ nữ tản ra,  hàng ngũ rối loạn, trong khi cánh mày râu chui rút xuống chiến hào Đức. Tại đó họ tìm thấy một số lượng lớn rượu và lao vào uống say mèm. Tại một vị trí Bochkavera bắt gặp một nữ quân nhân dưới quyền đang giao cấu với một người lính trong một hố đạn. Cô chạy tới đâm lưỡi lê xuyên qua cô nàng; nhưng anh lính đã chạy thoát. Cuối cùng, khi hầu hết binh sĩ tình nguyện của mình đã bị giết chết hoặc bị thương, Bochkavera buộc lòng cũng phải lui quân. Cuộc tiến công đã kết thúc. Đó là cuộc tiến công cuối cùng của Nga.

* * *

Cuộc tiến công sụp đổ giáng một đòn chí tử vào Chính quyền Lâm thời và quyền hành của giới lãnh đạo. Hàng trăm ngàn binh sĩ bị tử trận. Hàng triệu dặm vuông lãnh thổ bị mất. Các lãnh đạo chính quyền đã đặt cược tất cả trong cuộc tiến công với hi vọng sẽ tập hợp đất nước sau lưng họ trong công cuộc bảo vệ nền dân chủ quốc gia. Liên minh đã dựa vào niềm hi vọng này; và nó sẽ gắn kết họ với nhau chừng nào hi vọng thắng lợi vẫn còn. Nhưng khi sự sụp đổ của cuộc tiến công đã quá rõ, liên minh bắt đầu tan rã.

Chỉ có Trời mới biết những gì Lvov đã trải qua để giữ cho chính quyền của mình gần lại với nhau cho đến ít nhất trước lúc cuộc tiến công bắt đầu. Sau khi những người xã hội bước vào nội các, phần đông người Kadet đã chuyển sang cánh Hữu. Họ đã từ bỏ cái cớ trước đây là sẽ đứng ‘trên giai cấp’ và đã gánh vác việc bảo vệ quyền tài sản, kỷ luật quân đội, luật pháp và trật tự và Đế Chế Nga chống lại các yêu cầu của phe dân tộc. Tất cả những việc này đã đặt họ trong tư thế chống đối với những người xã hội, những người dưới sức ép từ những người hậu thuẫn mình phải lèo lái các chính sách của chính quyền đi xa hơn về phía Tả. Về hình thức, chính vấn đề Ukraine tự trị đã bẻ gãy liên minh và đẩy đất nước vào cuộc khủng hoảng. Khi phái đoàn nhà nước đến Kiev để nhượng bộ một loạt các quyền tự trị cho Rada vào ngày 2/7 ba bộ trưởng Kadet từ chức để chống đối. Người Kadet chống lại việc ban bố những gì nhiều hơn là những tự do về văn hóa cho những ‘người Nga Bé Nhỏ’, và nhấn mạnh rằng điều này chỉ có thể được thực hiện bởi Quốc hội Lập hiến. Vấn đề Ukraine, tuy nhiên, chỉ là giọt nước làm tràn ly. Sự sụp đổ của liên minh cũng gây ra bởi những xung đột nền tảng của cải cách xã hội trong nước. Trên hết là chính sách ruộng đất của Chernov, mà Kadet kết án là chấp thuận trao quyền kiểm soát tạm thời các điền sản của quí tộc địa chủ. Rồi còn vấn đề đình công bạo lực, mà người Kadet đổ lỗi Men-se-vich kiểm soát Bộ Lao động. Sự chia rẽ giai cấp cũ xưa, vốn đã được gói lại bằng lớp vỏ lợi ích của cuộc tiến công, giờ dường như quay lại trả thù.

.Đối với Lvov sự sụp đổ của liên minh quốc gia này là nỗi bất mãn chua cay. Hơn bất kỳ ai khác, ông là tượng trưng cho niềm hi vọng cấp tiến của tình đoàn kết xứ sở. Là đầu tàu, ông đã là biểu tượng cho lý tưởng của chính quyền về công cuộc xây dựng vì lợi ích quốc gia. Chính trị đảng phái là một vùng đất xa lạ đối với ông và ông không ngừng kiệt sức vì những tranh chấp phe phái trong các phiên họp nội các của mình. ‘Tôi như một miếng gỗ trôi giạt, bị cơn sóng cách mạng vùi dập,’ ông bảo với một bạn cũ người Nhật quen từ thời chiến tranh Nhật, Tướng Kuropat. Ông nguyền rủa Kadet lẫn người xã hội vì đã đạt lợi ích giai cấp và đảng phái lên trên lợi ích đất nước. Bọn Kadet, ông bảo với thư ký riêng của mình, đã hành xử như bọn xô-vanh Đại Nga về vấn đề Ukraine; họ không thể thấy rằng, nếu muốn cứu lấy nhà nước, thì phải nhượng bộ ít nhiều. Nhưng ông cũng chán ngấy nhóm xã hội, mà ông nói luôn áp đặt cương lĩnh Xô-Viết lên Chính Quyền Lâm thời. Chính sách của Chernov về ủy ban điền địa, đối với ông trên tư cách một điền chủ, không hơn ‘lối xung công có tổ chức trong cương lĩnh của Bôn-se-vich’. Theo ông, nước Nga đang tiến gần hơn đến nội chiến. Ông cảm thấy mình bất lực về mặt chính trị, bị mắc kẹt trong đường đạn giữa Tả và Hữu, nên vào ngày 3/7 cuối cùng ông quyết định từ chức.* ‘Tôi đã đến cuối con đường’, ông bảo thư ký, ‘và, tôi sợ, kiểu chủ nghĩa cấp tiến của tôi cũng thế.’ Khuya đêm đó ông viết cho song thân trong một tâm trạng như thế báo trước linh cảm đen tối của mình:

Ba mẹ thương yêu,

Khoảng trước đây một tuần con đã rõ là không cón lối thoát nào. Không nghi ngờ gì đất nước đang hướng đến một trận sát sinh cùng khắp, đói kém, mặt trận sụp đổ, tại đó hơn phân nửa binh sĩ sẽ bị tận diệt, và dân số đô thị sẽ bị tan tành. Di sản văn hóa của quốc gia, nhân dân và nền văn minh của nó sẽ bị phá hủy. Từng đoàn di dân, rồi từng nhóm nhỏ, và rồi có lẽ là từng người, sẽ lang thang khắp xứ đánh nhau, lúc đầu với súng đạn, sau đó đến chày vồ. Con sẽ không sống sót để chứng kiến việc này, và, con hi vọng, ba mẹ cũng vậy.

Khi ông viết những dòng tiên tri này, vào giữa cuộc khủng hoảng tháng 7, người Bôn-se-vich đang chuẩn bị cho một trận đương đầu quyết định với Chính quyền Lâm thời.

*  Việc từ chức của ông chỉ chính thức được thông báo vào ngày 7/7.

 

ii Sắc Tối Hơn của Màu Đỏ

Trước hôm xảy ra vụ nổi dậy tháng 7 nhà báo Claude Anet dẫn Joseph Noulens, Đại sứ Pháp mới, đi một vòng thăm thủ đô Nga. Từ bờ đối diện sông Neva, bên ngoài Sứ quản Pháp, ông chỉ tay về phía quận Vyborg, với các ống khói nhà máy và doanh trại, và giải thích rằng người Bôn-se-vich trị vì như những ông chủ bên đó: ‘Nếu Lênin và Trotsky muốn chiếm Petrograd, không có gì ngăn họ lại được.’ Đại sứ Pháp lắng nghe kinh ngạc: ‘Sao chính quyền có thể dung túng một tình trạng như thế được?’ ông hỏi. ‘Nhưng họ có thể làm gì được bây giờ? Anet trả lời. ‘Ngài phải biết rằng chính quyền không có quyền lực mà chỉ có quyền lực về tinh thần, và thậm chí dường như theo tôi cũng rất yếu.’

Các doanh trại của Trung đoàn Súng Máy 1 không nghi ngờ gì là thành trì đáng gờm nhất của lực lượng chống chính quyền trên phía Vyborg. Với 10,000 người và 1,000 súng máy, nó hiện là đơn vị hùng hậu nhất thủ đô. Phần đông binh sĩ đã bị trục xuất khỏi các đơn vị ở tuyến đầu vì tội bất phục tùng và, là những binh sĩ có học và hung hăng, họ dễ tiêm nhiễm các tuyên truyền của Bôn-se-vich lẫn Anarchist. Các doanh trại của trung đoàn trên phía Vyborg nằm giữa các hãng xưởng kim loại hay đình công nhất của thủ đô, còn ngay sát bên là trụ sở của Bôn-se-vich. Và quá quan trọng đối với Bôn-se-vich đến nỗi Tổ chức Quân sự của Bôn-se-vích phải đặt một hạt nhân đặc biệt trong trung đoàn.

Vào ngày 20/6 Trung đoàn Súng Máy 1 được lệnh gởi 500 súng máy và xạ thủ ra Mặt trận vì cần gấp cho cuộc tiến công. Từ Cách Mạng Tháng Hai không có đơn vị nào thuộc quân đồn trú Petrograd đã được chuyển ra Mặt trận. Điều này là một trong những điều kiện do Xô-Viết Petrograd qui định trong việc thành lập Chính quyền Lâm thời. Binh sĩ cho rằng mình ‘đã làm ra cách mạng, do đó họ có quyền ở lại Petrograd để bảo vệ nó chống bọn phản cách mạng. Chính quyền Lâm thời quá ý thức về số phận của mình trong bàn tay sinh sát của một phần tư triệu binh sĩ đồn trú. Cho đến bây giờ, không ai dám điều động họ ra khỏi thủ đô. Nhưng đến tháng 6 sự hiện diện của các tay súng máy này đã trở thành mối đe doạ chủ yếu cho sự tồn tại của chính quyền; và một trong những mục tiêu chính của cuộc tiến công không nghi ngờ gì là để chuyển họ ra mặt trận. Ngoại trưởng Tereshchenko thú nhận với Đại sứ Anh vào tháng 6 rằng cuộc tiến công ‘sẽ tạo cớ cho chúng tôi  sử dụng các biện pháp chống lại quân đồn trú Petrograd; trong khi đó Kerensky nhấn mạnh nhiều lần mục tiêu của cuộc tiến công là vãn hồi trật tự ở hậu phương. Các ghi chép riêng tư của Lvov, gần đây được phát hiện trong tài liệu lưu trữ Nga, khẳng định rằng trong tháng 5 và 6 chính quyền đang xem xét nghiêm túc việc dời thủ đô về Moscow. Liên tục có tin đồn là Petrograd chuẩn bị bị bỏ lại cho bọn Đức; và nhiều tầng lớp trung lưu ‘yêu nước’ cầu nguyện cho tin đồn đó là sự thật. Nhưng nếu mục tiêu của chính quyền là sử dụng cuộc tiến công như một cái cớ để loại bỏ các tay súng máy, thế thì đây là cách thức vụng về và điên rồ. Chính quyền có thể dễ dàng chuyển các tay súng máy về phía sau, chẳng hạn, một vùng nghèo nàn như tỉnh Tambov, viện cớ để ‘bảo vệ cách mạng’ ở đó. Bằng cách đem họ ra Mặt trận, và do đó không tuân thủ điều kiện đã hứa với  Xô-Viết, chính quyền sẽ khiến binh sĩ tin vào lời rỉ tai của Bôn-se-vich và Anarchist là họ lợi dụng cuộc tiến công để làm tan vỡ quân đồn trú, và như thế là phản cách mạng. Kể từ cuộc khủng hoảng tháng 4, binh lính đã nhìn vào những nỗ lực tiếp tục chiến tranh của chính quyền với mối ngờ vực gia tăng – bộ việc này không khiến họ thành ‘những tên đế quốc’ hay sao?’ – và trong không khí thiếu tin cậy này những thuyết âm mưu như thế có tính thuyết phục.

Vào ngày 21/6 các tay súng máy quyết định lật đổ Chính quyền Lâm thời, nếu họ tiếp tục hâm dọa ‘giải tán trung đoàn này và những trung đoàn cách mạng khác’ bằng cách phái họ ra Mặt trận. Hàng chục đơn vị đồn trú khác đã nhận lệnh tham gia tiến công cũng thông qua nghị quyết định tương tự. Tổ chức Quân sự Bôn-se-vich cổ vũ ý tưởng nổi dậy vũ trang, và vì vậy biến nó thành bộ tham mưu tác chiến nhằm chiếm lấy thủ đô. Nhưng Ủy ban Trung ương Bôn-se-vich tiếp tục kêu gọi kềm chế. Cũng có sự va chạm chính sách như ngày 10/6, giữa các lãnh đạo cực tả của Ủy ban Vyborg và Tổ chức Quân sự nóng lòng muốn nắm lấy quyền lực nhờ vào bạo lực của quân tiên phong Petrograd và những nhà lãnh đạo quốc gia của đảng thận trọng hơn, sợ rằng nếu nổi dậy thất bại có thể hứng đòn giáng trả chống Bôn-se-vich trên khắp đất nước. Các tỉnh, họ nói, chưa sẵn sàng cho một cuộc cách mạng xã hội và sự giành lấy quyền lực ở thủ đô chắc chắn đưa đến nội chiến, trong đó Petrograd Đỏ, giống như Công xã Paris, sẽ bị các tỉnh đánh bại. Chính Lênin đã lập luận như thế tại Hội nghị của Tổ chức Quân sự Bôn-se-vich vào ngày 20/6. Ông nhận mạnh sự cần thiết phải hoãn lại cuộc nổi dậy vũ trang, chịu đựng mọi khiêu khích từ các tên ‘phản cách mạng’, cho đến khi cuộc tiến công kết thúc và người Bôn-se-vich chiếm đa số trong Xô-Viết:

Một bước đi sai của chúng ta sẽ phá hỏng mọi chuyện. . . nếu bây giờ chúng ta chiếm được quyền lực, thật ngây thơ khi nghĩ rằng ta có thể giữ được nó. . . Thậm chí ở các Xô-Viết của hai thủ đô, giờ chưa nói đến các xô viết khác, chúng ta vẫn còn là thiểu số vô nghĩa . . . Đây là một sự kiện cơ bản, và nó xác định hành tung của Đảng ta. . . Sự kiện không nên tiên liệu. Thời gian đang ở về phía chúng ta.

Nhưng Lênin có ít kiểm soát với thuộc hạ của mình. Vào ngày 29/6 đi thăm một người bạn ở vùng quê Phần Lan than là minh nhức đầu và mệt mỏi. Việc kiểm soát đảng vuột khỏi tay ông, khi Tổ chức Quân sự chuẩn bị nổi dậy. Các tên kích động Bôn-se-vich và Anarchist thúc giục các tay súng máy xuống đường biểu tình vũ trang vào ngày 3/7. Một buổi hòa nhạc trung đoàn trong Nhà Khách Nhân Dân vào ngày 2/7 để chia tay với binh lính phải lên đường ra Mặt trận biến thành một cuộc tập hợp chống chính quyền với Trotsky và Lunacharsky (mặc dù chưa người nào chính thức là Bôn-se-vich) kêu gọi di chuyển mọi lực lượng đến Xô-Viết. Binh lính quay về doanh trại phấn khích không sao ngủ được. Họ tranh luận suốt đêm và tới sáng xem có tham gia nổi dậy hay không. Những người hồ hởi tham gia nổi dậy thấy đây là cơ hội cuối cùng để khỏi ra Mặt trận, hoặc đơn giản là dịp, theo như một khẩu hiệu kêu gọi, để ‘Đập bọn tư sản!’ Họ cứ ra một Ủy ban Cách mạng Lâm thời,đứng đầu là người Bôn-se-vich, A. I. Semashko, từ Tổ chức Quân sự, nắm quyền lãnh đạo cuộc nổi dậy và gởi những phái viên để tranh thủ sự hậu thuẫn từ các đơn vị đồn trú còn lại, các hãng xưởng ở Vyborg, và Căn cứ Hải quân Kronstadt.

Đến chiều một đám đông màu xám các công nhân và binh sĩ di chuyển từ các quận ngoại ô đến trung tâm thành phố. Đường phố trở về khung cảnh của những Ngày Tháng Hai, mặc dù giờ đây tâm trạng tối tăm hơn và thành phần đám đông có tính vô sản thứ thiệt hơn. Những bộ áo vét của các công dân trung lưu, râu ria của sinh viên và mũ của những mệnh phụ cảm tình viên, xuất hiện nhiều ở tháng hai, giờ không còn thấy nữa. Người tuần hành mang các khẩu hiệu Bôn-se-vich và phần đông vũ trang, binh lính thì lưới lê cắm sẵn vào mũi súng, các công nhân thuộc Hồng Vệ binh, băng đạn quấn quanh ngực trông như các tên cướp Mỹ La tinh. Những người biểu tình lật đổ xe điện, dựng rào cọc tại các giao lộ khác nhau. Tại một hàng rào chắn, ở cuối phố Nevsky Prospekt sang trọng, Hồng Vệ bình đặt một khẩu súng máy. Tay pháo thủ chẳng mấy chốc buồn chán bèn đùa nghịch bằng cách khai hỏa vào bọn tư sản trên đường phố hoặc trong các tòa nhà. Xe tải và xe bọc thép liệng quanh thành phố chở đầy binh sĩ bắn loạn xạ lên không. Những nhóm người vũ trang bắt các ô tô dừng lại, đuổi người trên xe thất kinh hồn vía xuống, rồi lấy xe chạy rông thành phố, các lưỡi lê chỉa ra tua tủa. Một viên chức cố ngăn bọn nổi dậy xung công xe y bằng cách chìa ra giấy phép do Kerensky ký. Nhưng bọn lính chỉ cười hô hố, bảo (không đúng) rằng Kerenky đã bị bắt: ‘Có giấy phép Nicholas II ký không, đưa luôn ra đi.’

Nhưng đám đông thiếu lãnh đạo và không có phương hướng. Họ không biết phải đi đâu và tại sao. Họ không có gì ngoài một ‘tâm trạng’ – không đủ để làm nên một cuộc cách mạng. Các tên kích động Bôn-se-vich và Anarchist, đã xúi giục quân đội nổi dậy, không đặt ra các mục tiêu chiến lược. ‘Chính đường phố sẽ tổ chức chúng ta,’ bọn Anarchist tuyên bố. Chỉ cần biểu dương một lực lượng đủ mạnh để lật đổ chính quyền cái đã, sau đó mọi việc tính sau.

Đám đông đi chuyển về phía Điện Tauride, như họ đã làm trong Tháng Hai. Một số đấu súng với các lực lượng cánh hữu trung thành dọc theo đường đi. Coi mòi một cuộc nội chiến đã bắt đầu. Trụ sở Hội đồng Thành phố trên phố Nevsky Prospekt là một cảnh tượng đặc biệt máu me. Nhà lãnh đạo Bôn-se-vich, Lunacharsky, từ trong nhìn ra với vẻ khiếp đảm. ‘Phong trào phát triển tự phát,’ ông viết cho bà xã vào ngày hôm sau. ‘Bọn Black Hundreds, du đãng, kích động, vô chính phủ gây ra hỗn loạn khắp nơi và tệ hại cho cuộc biểu tình.’ Vào đầu giờ tối, một đám đông đen kịt người tập trung trước Điện Tauride. Các lãnh đạo Xô-Viết đang họp thảo luận liệu cách thành lập một chính quyền xã hội sau khi liên minh sụp đổ, và đám đông hi vọng gây áp lực để họ chiếm lấy quyền lực. ‘Tất Cả Quyền Lực Về Tay Xô Viết!’ tiếng gào thét từ ngoài đường vọng vào. Bộ phận Công nhân của Xô-Viết được sử dụng như một phát ngôn nhân cho các yêu sách của họ. Chiều hôm đó người Bôn-se-vich, dù chỉ là thiểu số trong Bộ phận này,  đã chiếm lấy nó. Họ tập hợp lại thành một khối vững chắc, triệu tập một phiên họp khẩn cấp và – như một dự báo trước cho Tháng Mười – thông qua một nghị quyết khiêu khích kêu gọi Xô-Viết nắm quyền, khiến các đảng viên Men-se-vich và SR bỏ ra ngoài phòng họp. Một Ủy ban Đặc biệt được cử ra để tạo một tổ chức chính trị cho đám đông bên ngoài. Nhưng nó cho thấy hoàn toàn vô hiệu – Sukhanov, trải qua những Ngày Tháng Bảy trong Điện Tauride, không thể nhớ bất kỳ hoạt động nào của nó. Đường phố bị tước đoạt hết bất kỳ lực bẩy thực sự nào áp lên Xô-Viết. Những người biểu tình phẫn nộ kêu gọi bắt giữ các lãnh đạo Xô-Viết, những người đã ‘ về phe điền chủ và tư sản!’ Một phái đoàn của Trung đoàn Súng Máy 1 bảo với Chkheidze rằng họ ‘đang bối rối vì có tin đồn ban Điều hành dự tính kết liên minh mới với bọn tư bản phản động’, và rằng họ ‘ sẽ không hậu thuẫn một chính sách như thế’ vì ‘ họ đã chịu đựng đủ rồi’. Một số binh sĩ xâm nhập Sảnh Catherine, theo dõi cuộc thảo luận. Nhưng không ai nghĩ đến việc bắt giữ ban lãnh đạo Xô-Viết, dù không có ai bảo vệ. Không có ai bảo binh lính làm như vậy.

Khi đêm xuống đám đông bắt đầu giải tán. Cuộc nổi dậy dường như đã kết thúc. Có tin đồn Chính quyền Lâm thời đã bị bắt giữ. Nhưng thật ra đó là tin vịt. Nội các đang họp tại căn hộ của Hoàng thân Lvov. Khoảng 10 giờ tối một nhóm công nhân và binh lính vũ trang xông đến sảnh vào, và báo với nhân viên bảo vệ là họ đến để bắt giữ các Bộ trưởng. Tsereteli được cử tới để thương lượng với chúng, nhưng trước khi ông đến sảnh vào thì bọn nổi dậy đã chột dạ và lủi đi mất trong xe của chúng.

 Đúng vào lúc này Ủy ban Trung ương Bôn-se-vich đang họp tại Lâu đài Kshesinskayau để ra quyết sách về vụ nổi dậy. Dù đến giờ họ vẫn còn kêu gọi kềm chế, sợ một cuộc nổi dậy quá sớm sẽ mất tất cả, nhưng hình như không thể lùi lại được. Công nhân và binh lính đã thực sự chiếm giữ thành phố, các thủy thủ ở Kronstadt đang trên đường tới, và đại đa số đội ngũ Bôn-se-vich ở Petrograd đang tham cuộc nổi dậy, để mặc Ủy ban Trung ương đứng bên lề. Trước nửa đêm một chút tất cả đồng ý sẽ kêu gọi một cuộc biểu tình nữa vào ngày hôm sau. Trang đầu của tờ Pravda, dự kiến đăng bài viết của Kamenev và Zinoviev kêu gọi kềm chế, phải thay đổi vào phút chót và sáng hôm sau chỗ đó chỉ chừa một khoảng trắng. Tờ rơi được in vội vã và phân phát trong đường phố kêu gọi một cuộc biểu tình có tổ chức và một ‘quyền lực mới’ dựa trên Xô-Viết. Trong khi đó, một người đưa tin từ Ủy ban Trung ương phóng xe đến Phần Lan để mang Lênin về ngay thủ đô.

Đâu là những toan tính thực sự của các lãnh đạo Bôn-se-vich đã từng là chủ đề tranh cãi gay gắt của các sử gia. Một số sử gia cho rằng người Bôn-se-vich đang dự tính lật đổ Chính quyền Lâm thời bằng vũ lực. Chẳng hạn, Richard Pipes cho rằng vụ Tháng Bảy được các lãnh đạo Bôn-se-vich dàn dựng ngay từ đầu, chỉ khi thấy vụ nổi dậy coi mòi đã rõ ràng thất bại họ mới lấp liếm bằng việc mô tả nó là ‘cuộc biểu tình tự phát mà họ nhắm dẫn dắt vào những kênh hòa bình’. Phiên bản cuối cùng này của sự kiện – ‘cuộc biểu tình tự phát’ – là quan điểm chuẩn mực của Xô-Viết. Nó được học giả Mỹ, Alexander Rabinowitch ủng hộ. Theo ông, Ủy ban Trung ương chỉ tham gia nổi dậy dưới áp lực của đội ngũ của họ, và chưa hề có toan tính gì xa hơn một vụ biểu dương lực lượng để gây sức ép buộc Xô-Viết nắm lấy quyền hành.

Chứng cớ thực sự duy nhất ủng hộ cho giả thuyết ‘vụ nổi dậy thất bại’ đến từ hồi ký của Sukhanov, viết vào năm 1920. Sukhanov tuyên bố rằng vào ngày 7/7 Lunacharsky đã bảo ông là, vào đêm 3-4/7:

Lênin đúng là dự tính một cuộc đảo chính. Chính quyền sẽ trong tay của Ủy ban Trung ương Bôn-se-vich, và được thể hiện chính thức trong một ‘Nội các Xô-Viết hợp bởi các người Bôn-se-vich nổi tiếng được nhân dân ủng hộ. Lúc đó ba Bộ trưởng đã được chỉ định: Lênin, Trotsky và Lunacharsky. . . Vụ đảo chính được tiến hành như sau: Trung đoàn 176 từ Krasnoe Selo * sẽ bắt giữ ban Điều hành (Xô-Viết), và vào lúc đó, Lênin sẽ đến nơi hành động và tuyên bố Chính quyền mới.

 *  Trước đây là Tsarskoe Selo.

 

Chính Sukhanov là người đầu tiên nhận ra rằng ‘một vài sự kiện cơ bản’ làm chứng chống lại phiên bản này – cụ thể người Bôn-se-vich đã thất bại trong việc chiếm quyền vào ngày 4/7, khi có đủ cơ hội để thành công. Về mặt ngoài, có vẻ như là Ủy ban Trung ương có đủ mọi thứ trừ một kế hoạch rõ ràng. Tất cả sử gia đều đánh giá thấp các sự kiện 4/7 có đặc điểm chung là sự lúng túng gần như toàn diện. Người Bôn-se-vich dựng lên mọi chuyện khi họ tiến tới. Đám biểu tình ngày 3/7 khiến họ bất ngờ, khi lãnh tụ của họ đi nghỉ ở Phần Lan. Họ bị kẹt giữa hai thế hoặc là nên tìm cách biến cuộc biểu tình thành vụ lật đổ chính quyền, hoặc là nên hạn chế chỉ là biểu tình chính trị để gây sức ép với Xô-Viết buộc họ nắm lấy quyền hành. Khi Lênin trở lại, vào sáng sớm, người Bôn-se-vich quấy rầy bắt ông trả lời ngay câu hỏi này. Theo Kalinin, chiến thuật của Lênin là ‘đợi xem chuyện gì sẽ xảy ra’, để ngỏ sự lựa chọn ‘tung các trung đoàn vào trận đánh nếu tương quan lực lượng cho thấy là thuận lợi’. Điều này có thể đã là như vậy. Nhưng nhà lãnh tụ Bôn-se-vich cho thấy mình thiếu quyết đoán khi thời cơ đến. Zinoviev, người suốt ngày 4 ở bên cạnh ông, nhớ lại một Lênin chần chừ đến mức tê liệt. Ông cứ tự hỏi thời cơ ‘đã tới chưa’. Suốt những giờ khắc hệ trọng của cuộc nổi dậy các lãnh đạo Bôn-se-vich tiếp tục ngồi trên ban công đợi xem chuyện gì sẽ xảy ra. Vậy mà bộ phận quần chúng có tổ chức của đám đông, do Bôn-se-vich địa phương gầy dựng, cũng không biết chiếm quyền khi không có chỉ thị cụ thể của họ.

Thứ ba, ngày 4/7, bắt đầu với một vẻ lặng im đáng sợ bao phủ thành phố cùng với những tầng mây nặng nề buông thấp. Con sông một màu đen ảm đạm. Cửa hàng đóng thin thít, đường phố vắng tanh – một dấu hiệu cho biết ở khu công nhân đang âm ỉ một cuộc gây rối. Vào giữa buổi sáng trung tâm thành phố một lần nữa bị các đám đông công nhân và binh lính chiếm đóng. Một hạm đội tạp sắc các tàu kéo, tàu đánh cá, sà lan và thuyền pháo từ Căn cứ Hải quân Kronstadt lúc này đang bỏ neo gần cầu Nikolaevsky: 20,000 thủy thủ lên bờ, vũ trang đến tận răng với súng trường, súng lục, có cả đội cứu thương và vài ban quân nhạc. Không nghi ngờ gì nữa đây là vũ khí chính của Bôn-se-vich, nếu họ đang có kế hoạch cướp chính quyền. Các thủy thủ hăm hở đánh nhau với Chính quyền Lâm thời. Raskolnikov, lãnh đạo Bôn-se-vich của thủy thủ, nói họ đến Petrograd sẵn sàng ‘biến cuộc biểu tình thành cuộc nổi dậy vũ trang bất cứ lúc nào’. Tuy nhiên, các thủy thủ không có kế hoạch chiến lược gì cụ thể – và chỉ có ý niệm mơ hồ về việc gì phải làm khi lên bờ.

Đi tìm lãnh đạo, các thủy thủ Kronstadt xuất hành đến trụ sở Bôn-se-vich. Đi đầu là quân nhạc chơi bài quốc tế ca, họ tuần hành theo hàng ngũ dọc theo Đại học Embankment, qua Sở Giao dịch Chứng khoán và xuyên qua Công viên Alexander đến Lâu đài Kshesinskaya. Tại đây họ tập hợp trước ban-công mong nhận được chỉ thị của Lênin. Nhưng nhà lãnh tụ Bôn-se-vichl không biết dẫn dắt họ đến đâu. Lúc này ông chỉ cần ra lệnh là các thủy thủ lập tức ùa tới Tauride, bắt giữ các lãnh đạo Xô-Viết, gom hết các bộ trưởng trong nội các và tuyên bố chính quyền Xô-Viết. Nhưng Lênin do dự một cách khó hiểu, không muốn phát biểu, và khi cuối cùng chịu xuất hiện trước ban-công, ông chỉ phát biểu vài lời mơ hồ, mất không đến vài giây, trong đó ông thể hiện niềm tin là quyền lực của Xô-Viết sẽ đến nhưng không ra lệnh cho các thủy thủ làm cách nào có được điều ấy. Thậm chí ông không nói rõ mình có muốn đám đông tiếp tục biểu tình hay không và, theo những người có mặt lúc đó, ông thậm chí không hiểu mình muốn gì.

Đây là cuộc nói chuyện trước công chúng cuối cùng của Lênin cho đến tháng 10 khi cướp chính quyền. Đây là một thời khắc có tầm ảnh hưởng mạnh mẽ, một trong đó số ít các thời khắc trong sự nghiệp lâu dài khi ông đối mặt với nhiệm vụ dẫn dắt quần chúng cách mạng đứng trước mặt mình. Những nhà lãnh đạo Bôn-se-vich khác xử lý đám đông tốt hơn ông. Những lần xuất hiện công khai trước đây của Lênin phần nhiều bó hẹp trong phạm vi phòng họp. Theo vợ ông, ông trở nên rất hồi hộp khi buộc phải nói trước quần chúng đông đảo. Có lẽ ngay giây phút quyết định này, đối mặt với năng lượng thô của đường phố, Lênin đã mất hết can đảm. Đúng, ông có thể nói gì bây giờ? Ông chắc chắn đã bị đớ lưỡi khi nhận thức được rằng, cho dù Bôn-se-vich có thắng được Petrograd, họ vẫn còn bị phần còn lại của Nga chống đối. Nói gì thì nói, sự do dự cốt lõi của ông đã niêm phong số phận của cuộc nổi dậy tháng 7.

Lúng túng và bất mãn vì lệnh lạc không rạch ròi, cả bọn Kronstadt bỏ đi về hướng Điện Tauride, tại đó hàng ngàn công nhân và binh sĩ vũ trang đã tề tựu. Trên phố Nevsky Prospekt họ hòa mình với một đám đông công nhân khác từ nhà máy Putilov, có lẽ cũng khoảng 20,000 người. Toàn bộ khu phố phủ một màu xám đồng phục, khiến dân chúng khiếp sợ. Bất ngờ, khi đoàn người rẽ vào phố Liteiny, từ mái nhà và khung cửa sổ trên cao các lính Cô-dắc và khóa sinh bắn ra những loạt đạn, khiến người tuần hành hoảng vía chạy tứ tán. Một số người biểu tình bắn trả, đủ mọi hướng vì không biết kẻ bắn tỉa chính xác nấp ở đâu. Khi tiếng súng ngừng hẳn, các lãnh đạo đám biểu tình cố gắng vãn hồi trật tự bằng cách so hàng ngũ và bước tiếp trong tiếng trống quân hành. Nhưng sự quân bình của đám đông đã bị phá vỡ, và khi đoàn quân đi qua những khu định cư sang trọng hướng về phía Điện Tauride, đoàn người biến thành đám quân ô hợp phá phách, bắn loạn xạ vào cửa sổ nhà, đánh đập khách qua đường bảnh bao và cướp bóc các cửa hàng. Lúc 4 giờ chiều hàng trăm người bị giết chết hoặc bị thương; ngựa chết nằm đây đó; và đường phố vung vải súng, nón, dù và băng rôn.

Rõ ràng đám đông trên đường phố tuyệt đối không có khái niệm về những gì mình đang làm – tất cả là một cơn ác mộng. Không ai biết mục đích của cuộc nổi dậy hoặc người lãnh đạo của nó. Hay có lãnh đạo không? Tôi nghi ngờ điều ấy. Trotsky, Lunacharsky và mấy ông lớn huyên thuyên này nọ, nhưng tất cả đều mất hút vào tâm trạng của đám đông.

Với 50,000 người thịnh nộ và vũ trang bao quanh Điện Tauride, không có gì có thể ngăn cản được cú đảo chính Bôn-se-vich. V. S. Woltinsky, được giao nhiệm vụ bảo vệ điện, chỉ có 18 binh lính từ Trung đoàn Pavlovsky gởi đến. Thậm chí lính gác ngay cửa vào cũng không có, vì thế Woltinsky dùng nghi binh, đặt tất cả binh lính ở cửa sổ lớn kiểu Pháp  án ngữ mặt tiền của điện làm ra vẻ như thể nó được bảo vệ thích đáng. Đối với các lãnh đạo bên trong điện đang thảo luận vấn đề quyền lực, dường như chắc chắn là sẽ bị đám đông tràn ngập. ‘Bất cứ lúc nào,’ người Men-se-vich Bogdanov nhớ lại, ‘ đám đông vũ trang có thể đột nhập, phá hủy Điện Tauride, và bắt giữ hay bắn bỏ chúng tôi nếu chúng tôi không chịu nắm quyền trong tay mình.’ Chính quyền Lâm thời, hoặc cái gì còn lại của nó , cũng không được bảo vệ tương tự. Trong buổi sáng các bộ trưởng nội các đã ẩn nấp trong tòa nhà của Tổng Tham mưu đối diện Cung điện Mùa Đông. Ngoài một vài chục lính Cô-dắc, không có lực lượng nào khác muốn bảo vệ họ. Kerenky đã chạy ra Mặt trận, rời Ga Warsaw chỉ vài phút trước khi bọn Bôn-se-vich đuổi tới. Điện Marinsky, trung tâm của chính quyền, mở rộng cửa cho ai đến lấy thì đến. Nhưng địa điểm chiến lược của thành phố – kho vũ khí, trung tâm điện đài, kho quân nhu và các nhà ga – tất cả đều không được bảo vệ. Chỉ với một lệnh duy nhất từ Lênin, lực lượng nổi dậy dễ dàng chiếm lấy chúng như là bước đầu tiên tiến tới quyền lực

Nhưng lệnh đó không đến, và đám đông trước Điện Tauride, hoàn toàn không chắc phải làm gì, chẳng bao lâu không còn ai chỉ huy. Bàn tay của Chúa, dưới hình thức thời tiết cũng góp một phần vào sự sụp đổ của cuộc nổi dậy. Lúc 5 giờ chiều mây đen cuối cùng vỡ ra và mưa trút xuống như thác. Hầu hết đều chạy tìm chỗ trú và không buồn quay lại. Nhưng các phần tử lì lợm vẫn còn trụ lại. Có lẽ vì ướt như chuột lột nên họ hết cả kềm chế và bắt đầu khai hỏa như điên vào Điện Tauride. Việc này khiến những người còn ở lại gào thét và dẫm đạp lên nhau trong hoảng loạn: hàng chục người bị dẫm nát. Một số thủy thủ bắt đầu xâm nhập vào điện, trèo qua các cửa sổ mở. Họ kêu gọi các bộ trưởng xã hội bước ra và giải thích tại sao không chịu nắm quyền. Chernov được cử ra để xoa dịu đám đông. Nhưng ngay khi ông xuất hiện trên các bậc thang, đám đông ào tới và giữ chặt ông, lục soát tìm vũ khí. Một công nhân giơ nắm tay và nổi doá hét tướng lên: ‘Người ta giao quyền thì lấy đi, đồ quỉ tha ma bắt.’ Vài lính vũ trang tống nhà lãnh đạo SR lên xe. Họ tuyên bố ông đã bị bắt và bảo sẽ thả chừng nào Xô-Viết chịu nắm quyền. Chernov đã đi một bước tốt hơn kẻ cạnh tranh cũ của mình, Kerensky. Ông bây giờ đã thành một ‘con tin thực sự của nền dân chủ’.

Một nhóm công nhân xâm nhập vào Sảnh Catherine và làm gián đoạn phiên họp: ‘Đồng chí Chernov đã bị đám đông bắt giữ! Họ sẽ xé ổng ra từng mảnh ngay bây giờ! Hãy đi giải cứu! Mọi người ra phố đi!’ Chkheidze để nghị Kamenev, Martov và Trotsky nên được cử đi để giải cứu Bộ trưởng. Nhưng Trotsky là người đầu tiên đến đó. Chèn qua đám người đang la ó, ông đi thẳng đến chiếc ô tô, trong đó Chernov, gương mặt khiếp đảm, tóc tai rối bời, đang ngồi thu lu ở băng sau. Trotsky leo lên ca-pô. Những thủy thủ Kronstadt đều biết mặt ông, đợi nghe ông chỉ thị. Nếu người Bôn-se-vich đã lên  kế hoạch chiếm đoạt chính quyền, hẳn đây là lúc thúc giục thủy thủ tràn vào Tauride, bắt giữ các lãnh đạo Xô-Viết và tuyên bố chính quyền xã hội chủ nghĩa. Raskolnikov, đang đứng cạnh Trotstky, hỏi những người bắt giữ Chernov họ định đem con tin của mình đi đâu. ‘Chúng tôi không biết,’ họ trả lời. ‘Đồng chí muốn ở đâu cũng được. Ông ta do đồng chí định liệu.’ Nhưng Trotsky kêu gọi hãy thả Chernov. ‘Các đồng chí Kronstadt, niềm kiêu hãnh và vinh quang của Cách Mạng Nga!’, ông bắt đầu cất giọng kim trong trẻo; ‘các đồng chí đã đến đây để tuyên bố ý chí của mình và cho Xô-Viết thấy là giai cấp công nhân không còn muốn thấy bọn tư sản nắm quyền. Nhưng tại sao các đồng chí làm tổn thương chính nghĩa của mình bằng những hành động bạo lực nhỏ nhen tùy tiện chống lại những cá nhân? Các cá nhân không đáng cho các đồng chí quan tâm.’ Các thủy thủ la ó phẫn nộ với Trotstky: họ không thể hiểu tại sao lại để Chernov đi, nếu họ có sứ mạng phải lật đổ chính quyền. Nhưng không biết tự mình phải làm gì, họ đành hậm hực thả Bộ trưởng. ‘Công dân Chernov, ông được tự do,’ Đồng chí Trotsky tuyên bố, mở cửa xe và ra dấu cho ông ra ngoài. Chernov gần như muốn xỉu và rõ ràng không biết chuyện gì xảy ra với mình. Ông phải được đỡ ra khỏi xe và dìu đi như một ông già kiệt sức, trở lại Điện Tauride. Một thời khắc nguy kịch đã qua, một trong những thời khắc nổi tiếng nhất trong lịch sử của cách mạng, và cùng với nó bước khởi đầu cho công cuộc chiếm đoạt quyền lực đã qua.

Theo ghi chép của Sukhanov về cuộc đối thoại của ông với Lunacharsky, chìa khóa cho ‘kế hoạch’ chiếm lấy quyền lực của Bôn-se-vich là Trung đoàn 176 từ Krasnoe Selo đến. Dự kiến là họ sẽ đến Điện Tauride và bắt giữ các lãnh đạo Xô-Viết. Khoảng 6 giờ họ cuối cùng cũng đến, dẫn đầu là đoàn quân nhạc của trung đoàn. Binh sĩ mệt mỏi và người ướt sũng nước mưa. Với ba lô và áo choàng trên vai, cà mèn và nồi niêu xoong chảo kêu lẻng kẻng theo bước chân, họ ngồi phệt xuống sân trước trong điện và bắt đầu bày ra các vật dụng ướt đẫm của họ và lau chùi súng ống. Họ không có ý niệm gì về việc phải làm, và chỉ biết mình được phái đến để ‘bảo vệ cách mạng’. Nhưng lãnh đạo của họ đâu? Một sĩ quan và sáu binh sĩ bước lên các bậc thang và hỏi muốn gặp người của Xô-Viết. Người Men-se-vich, Dan, bước ra gặp họ. Ông không biết trung đoàn là thế nào, hoặc tại sao đến đây, nhưng ông nghĩ ngay ra cách lợi dụng nó. Ông cắt đặt họ trấn giữ các vị trí quanh điện để bảo vệ Xô-Viết. Như vậy lực lượng gởi đến để bắt giữ các lãnh đạo Xô-Viết biến thành lực lượng bảo vệ họ chống lại người biểu tình. Những chuyện như thế thường hay xảy ra trong cách mạng, khi quần chúng không biết người lãnh đạo của mình.

Từ thời điểm này trở đi, cuộc nổi dậy đã kết thúc. Tự sức mình, đám đông không thể tạo ra một sự thay đổi chính trị. Các lãnh đạo Xô-Viết, thảo luận về vấn đề nắm quyền, càng quyết tâm hơn không muốn bị đám đông từ đường phố chi phối mình. ‘Quyết tâm của nền dân chủ cách mạng không thể bị ra lệnh bởi lưỡi lê,’ Tsereteli tuyên bố. Một khi Xô-Viết đã kiên quyết không nắm quyền, không có gì đám đông có thể lung lạc. Họ không biết cách buộc các lãnh đạo Xô-Viết thay đổi quyết định của mình, hoặc làm thế nào hoàn tất một cuộc cách mạng Xô-Viết mà không cần đến họ. Nếu các lãnh đạo Xô-Viết không chịu nắm quyền, thì làm sao họ có thể trao tất cả quyền lực về tay Xô viết được’?

Một sự kiện cuối cùng vào hôm đó nói lên sự bất lực của đám đông. Khoảng 7 giờ tối một nhóm công nhân vũ trang từ nhà máy Putilov, giận dữ xông vào Sảnh Catherine. Các đại biểu Xô-Viết nhảy khỏi chỗ ngồi. Một số hoảng sợ nằm xấp trên sàn nhà.  Một công nhân trong bọn, mặc đồng phục công nhân và đội mũ lưỡi trai, nhảy tót lên diễn đàn. Lúc lắc khẩu súng chĩa lên trời, hắn lắp bắp quát các đại biểu:

Các đồng chí! Các công nhân chúng tôi phải kiên nhẫn chờ sự phản bội đến bao lâu nữa đây? Các ông đang thảo luận và dàn xếp với bọn tư sản và địa chủ. . . Các ông đang bận bịu việc phản bội lại giai cấp lao động. Này, hãy hiểu là giai cấp lao động sẽ không kiên nhẫn chịu đựng. Có 30,000 chúng tôi có mặt ở đây từ Putilov đến. Chúng tôi sẽ hành động theo cách mình. Tất cả quyền lực về tay Xô-Viết! Chúng tôi giữ vững tay súng! Kerensky và Tsereteli của các ông đừng có mà lừa gạt chúng tôi! 

Chkheidze, chủ tịch Xô-Viết, đang ngồi sau tên công nhân điên cuồng. Ông bình tĩnh khom người ra trước và trao cho hắn một mảnh giấy. Đó là một tuyên ngôn, vừa mới in tối hôm qua, trong đó khuyên các người biểu tình nên đi về nhà, nếu không sẽ bị coi là phản bội với cách mạng. ‘Này, cầm lấy, đồng chí,’ Chkheidze nói giọng ra lệnh. ‘Trong đây có nói những gì các đồng chí Putilov phải làm. Hãy đọc cho cẩn thận và đừng làm gián đoạn công việc của chúng tôi.’ Người công nhân bối rối, không biết phải làm gì, cầm bản tuyên ngôn và tức tối rời sảnh với đồng bọn.

Khi đêm xuống, các đám đông giải tán. Phần đông đều đi về nhà ở khu công nhân hoặc doanh trại, ẩm ướt và thất vọng. Các thủy thủ Kronstadt lang thang quanh quẩn thành phố, không biết đi đâu. Suốt đêm trong đường phố các khu cư ngụ sang trọng vang dội tiếng cửa sổ bị đập phá, lác đác tiếng súng và tiếng thét. Các khu quân sự nhận tới tấp các cú gọi kêu cứu từ các chủ cửa hàng, chủ ngân hàng và các bà nội trợ. Trong một hành động thách thức tuyệt vọng cuối cùng, 2,000 thủy thủ Kronstadt chiếm lấy Pháo đài Peter và Paul. Họ không biết làm gì với pháo đài đã bị chính phục – nó chỉ là một biểu tượng của chế độ cũ mà dường như chiếm nó làm con tin cuối cùng của cuộc nổi dậy là một ý tốt. Các thủy thủ ngủ trong các xà lim trống không, và ngay hôm sau đồng ý bỏ đi với điều kiện được phép về Kronstadt, mang theo tất cả vũ khí của mình

Vào giai đoạn này, các binh sĩ trung thành còn đang lũ lượt kéo đến để bảo vệ Điện Tauride. Đến đầu tiên là Trung đoàn Izmailovsky vào chiều tối ngày 4, với tiếng nhạc tấu bài Marseillaise ầm ĩ. Khi nghe âm thanh đó vọng đến, các lãnh đạo Xô-Viết ôm lấy nhau mừng rỡ nhẹ nhõm trong nước mắt: cuộc vây hãm Điện Tauride cuối cùng đã kết thúc. Đứng tay trong tay, họ cất tiếng đồng thanh hát  bài hợp xướng ‘Aux armes, citoyens’ (Hãy vũ trang lên, công dân ơi). Đúng là, Martov lẩm bẩm một cách tức tối, một ‘cảnh tượng cổ điển ngay từ đầu của một vụ phản cách mạng’.

* * *

Như hầu hết các binh sĩ trung thành, Trung đoàn Izmailovksy đã quay sang chống lại Bôn-se-vich nhờ những truyền đơn được Bộ trưởng Tư pháp Pereverzev phân phát tối hôm đó, trong đó ông kết án họ là các đặc vụ Đức. Vào ngày hôm sau, 5/7, báo chí cánh hữu có đầy bài viết của cái gọi là ‘chứng cứ’ của sự kiện đó. Phần nhiều được căn cứ vào lời khai của một Trung úy Yermolenko, tuyên bố mình đã được người Đức cho biết tin, trong khi y là tù binh, rằng Lênin đã làm việc cho họ. Không nghi ngờ gì người Đức đã tài trợ cho Đảng Bôn-se-vich – Chính quyền Lâm thời đã biết điều này từ tháng 4. Nhưng điều này không mình chứng được lời tuyên bố của Pereverze rằng người Bôn-se-vich là các đặc vụ Đức. Có một điều, số tiền tài trợ thực sự của Đức không lớn, và, một lý do khác, không có chứng cứ cho thấy người Bôn-se-vich thực thi những chính sách phù hợp với Berlin. Vậy mà những lời kết án tung ra đúng lúc này có tác dụng như một quả bom, khiến nhiều binh sĩ quay ra chống lại Bôn-se-vich. Được lệnh từ Pereverzev, một phân đội các khóa sinh quân sự lục soát toà soạn Pravda lúc bình minh ngày 5/7. Họ suýt bắt được Lênin, vừa mới bỏ trốn vài phút trước. Ông đến ẩn nấp trong căn hộ của công nhân Bôn-se-vich, Sergei Alliluyev,* nơi ẩn nấp đầu tiên trước tháng 10 của mình.

*  Con gái ông, Nadezhda, sau này kết hôn với Stalin.

 

Lênin đã được cảnh báo sớm về lời tố cáo phản bội bởi một đường dây bí mật trong Bộ Tư pháp. Hi vọng xoa dịu phản ứng bài ngoại sẽ chắc chắn theo sau, ông kêu gọi chấm dứt biểu tình trong một bài báo đăng ở trang cuối tờ Pravda. Nhưng đã quá muộn. Vào sáng ngày 5, thủ đô bùng phát cơn điên cuồng chống Bôn-se-vich. Các báo khổ nhỏ của cánh hữu hô hào đòi máu Bôn-se-vich, lập tức đổ tội ‘bọn đặc vụ Đức’ đã làm thay đổi cục diện tại Mặt trận. Dường như rõ ràng là người Bôn-se-vich đã lên kế hoạch nổi dậy đồng lúc với cuộc tiến quân của Đức. Tướng Polovtsov, đứng đầu Quân khu Petrograd, người chịu trách nhiệm những vụ đàn áp, sau đó thú nhận việc gài bẫy Bôn-se-vich chứa ‘một đường hướng chống Do Thái mạnh mẽ’; vì trong ban lãnh đạo Bôn-se-vich số người Do Thái gần như là một trăm phần trăm. Binh lính bắt đầu bực tức khi thấy người Do Thái trị vì mọi thứ, và những lời nhận xét tôi nghe binh sĩ xì xào trong các doanh trại minh chứng rõ ràng cho điều này.’

Sáng sớm ngày 6/7 một lực lượng tác chiến lớn các binh sĩ trung thành, với đầy đủ tám xe bọc thép và một số pháo hạng nặng, di chuyển để giải phóng Lâu đài Kshesinskaya. Không có lấy một viên đạn được bắn ra trong việc chiếm lại lâu dài trước kia của người vũ công ba-lê. 500 đảng viên Bôn-se-vich còn ở bên trong đầu hàng không chút kháng cự, dù vũ khí chứa đầy trong kho. Các lãnh đạo Bôn-se-vich quá bận rộn việc đốt thủ tiêu các tài liệu nên quên tổ chức việc kháng cự

Vào cuối ngày, Pereverzev ra lệnh bắt giữ Lênin, cùng với 12 nhà lãnh đạo Bôn-se-vich khác. Tất cả đều bị buộc tội phản quốc. Hầu hết đều vẫn công khai ở lại, không sợ bị bắt, và trong vài trường hợp còn ra trình diện. Nhưng Lênin đã trốn vào vòng bí mật – thoạt đầu đến một loạt các ngôi nhà an toàn ở thủ đô và rồi, vào ngày 9/7, cùng với Zinoviev, chạy qua vùng quê để đến Phần Lan. Lênin cạo râu mặc đồng phục công nhân và đội mũ lưỡi trai để ngụy trang. Suốt những ngày sau đó binh lính lùng sục hàng chục căn nhà ở thủ đô đế tìm bắt ông. Thậm chí căn hộ của Gorky cũng bị lật tung. Tất cả khoảng 800 người Bôn-se-vich bị nhốt vào tù, trong đó có Kamenev, Lunacharsky, Kollontai và Trotsky – người cuối cùng vẫn chưa là đảng viên Bôn-se-vich, mặc dù ông đã tuyên bố trung thành với nó. Pháo đài Peter và Paul, mà xà lim trống trơn từ Cách Mạng Tháng Hai, giờ một lần nữa đầy ắp tù chính trị.

Khi Lênin đi về vùng rừng núi phía bắc, ông ắt hẳn nghĩ rằng chính nghĩa Bôn-se-vich đã tận diệt. Trước khi rời thủ đô ông đã giao lại cho Kamenev xấp bản thảo sau này trở thành cuốn Nhà Nước và Cách Mạng, với lời chỉ dẫn hãy xuất bản nếu ông bị giết. Lenin luôn phóng đại các mối nguy hiểm rình rập mình: về mặt này ông dường như là một kẻ nhát gan. Không thể nói rằng ông lúc nào cũng gặp nguy cơ trực tiếp trong mùa hè chạy trốn: có khoảng thời gian ông ở với Cảnh sát Trưởng ở Helsingfors, là một cảm tình viên của Bôn-se-vich. Sau khi Lênin mất, trong phong trào tôn sùng Lênin, nhiều câu chuyện thần kỳ kể về lòng gan dạ của ông trong vô số những cuộc trốn thoát thập tử nhất sinh khỏi tay cảnh sát. Nhưng tất cả đều là bịa. Một biến cố có thật xảy ra trong mùa hè này, nhưng không chứng tỏ mấy lòng cảm đảm nếu có của ông, xảy ra tại một ngôi làng gần Sestoretsk trên Vịnh Phần Lan, tại đó Lênin và Zinoviev trải qua vài tuần ngủ trên gác chất rơm của một công nhân đảng viên. Một hôm họ thấy hai người đàn ông cầm súng tiến đến đến và chắc mẫm đó là hai cảnh sát đến bắt mình. Hai lãnh đạo cách mạng thế giới bèn chui vào đống rơm trốn. ‘Việc duy nhất phải làm bây giờ là ,’ Lênin thì thầm vào tai Zinoviev, ‘chết một cái chết danh dự.’ Tuy nhiên, hai người lạ bỏ đi thẳng: hóa ra họ chỉ đi săn vịt trời

Tuy vậy, trong không khí chống Bôn-se-vich điên cuồng, dễ hiểu tại sao ông quá lo lắng cho an nguy  của mình. Đây là thời buổi vô pháp, và báo chí đăng nhan nhản hình biếm hoạ vẽ Lênin trên giá treo cổ. Một số lãnh đạo Bôn-se-vich, đặc biệt Kamenev, muốn Lênin ra trình diện và chịu xét xử. Họ cho rằng sự xuất hiện của ông trước phiên tòa có thể bác bỏ lời buộc tội phản quốc và tố cáo nhà cầm quyền. Bằng cách bỏ trốn ra nước ngoài, họ lập luận, ông có nguy cơ khiến các công nhân ngờ vực mình phải có điều gì đó che giấu. Ngoài ra, các nhà xã hội chủ nghĩa có truyền thống lâu dài là muốn lợi dụng vành móng ngựa để tuyên truyền lý tưởng của mình: Trotsky đã từng làm như vậy một cách xuất sắc vào năm 1906; và anh trai của Lenin cũng làm thế trong phiên xử mình vào năm 1887. Nhưng Lênin không phải là loại người thích đóng vai một thánh tử đạo cách mạng: cuộc sống của ông quá quan trọng để dành cho việc đó. Theo ông, không có vấn đề xét xử công bình (điều đó, ông nói, là một ‘ảo tưởng hiến pháp’), vì việc thi hành luật pháp đã bị đình hoãn và nhà nước đã bị bọn ‘phản cách mạng’ thao túng. Và đây là đánh dấu cho sự chuyển hướng nền tảng trong tư tưởng của Lênin sẽ đưa đến những kết quả quan trọng. Từ những Luận điểm Tháng Tư ông đã nhìn nhận cần phải dựa công tác đảng vào những phương tiện chính trị hoặc hòa bình. Nhưng sau những Ngày Tháng Bảy, khi, theo quan điểm của mình, nhà nước đã nằm dưới ‘chế độ độc tài quân sự’, ông chuyển về ý tưởng một cuộc nổi dậy vũ trang để cướp chính quyền. Việc Lênin khước từ xuất hiện trước tòa án thật sự là lời tuyên chiến của riêng mình về một cuộc nội chiến.

Các lãnh đạo Xô-Viết cũng sợ bị cánh hữu phản ứng dữ dội và, mặc dù họ lên án vụ nổi dậy tháng 7 và vai trò của Bôn-se-vich trong đó, họ cũng nghiêng về việc bảo vệ họ trước những biện pháp trừng phạt của chính quyền. Gorky tóm lược những quan điểm đối chọi nhau của giới trí thức cách mạng trong một bức thư gởi cho Ekaterina ngày 10/7:

Em sẽ sớm biết qua bao chỉ những chuyện hung bạo dã xảy ra ở đây. Ấn tượng của riêng anh khó diễn tả được bằng lời. Những gì đã xảy ra và đang xảy ra là ngu ngốc, hèn hạ và thô bỉ một cách ghê tởm. Nhưng gán lỗi tất cả cho Bôn-se-vich và những người gọi là ‘đặc vụ Đức’ này là không đúng. Đảng Kadet có lỗi ở đây vì xúi giục gây rối, cùng với bọn hung hăng thường lệ và, nói chung, quần chúng Petersburg. Anh không bênh vực Bôn-se-vich – chính họ hiểu là không thể biện minh cho những việc mình đã làm. . . Chủ nghĩa Bôn-se-vich tình cảm, tác động vào bản năng đen tối của quần chúng, đã làm nó bị thương chết người – và điều đó tốt. Nhưng Dân chủ, Anh, Pháp và Đức, có thể nhìn vào sự thảm bại của Bôn-se-vich như là sự thảm bại toàn diện của Cách Mạng, và điều đó thật tệ hại, vì nó sẽ làm xẹp xuống tâm trạng cách mạng ở phương Tây và kéo dài cuộc chiến không ngừng. . . Anh sợ là Lênin đã đến bước đường cùng. Tất nhiên ông ta không quá xấu, nhưng các đồng chí thân cận nhất của ông, dường như, là những tên ma cà bông, những kẻ vô lại thực sự. Tất cả bọn chúng đã bị bắt. Hiện giờ báo chí tư sản đang theo dõi Novaia zhizri, và chắc chắn sẽ đóng cửa nó. Và rồi chiến dịch sẽ bắt đầu chống lại anh và các SR của anh. Hành động phản cách mạng không còn là những toan tính vu vơ mà là sự thật. Bọn Kadet đứng đầu việc này, những con người quen mưu mô và không hề xấu hổ khi sử dụng những biện pháp đấu tranh như thế.

Ban Điều hành Xô-Viết kháng nghị việc bắt giữ các lãnh đạo Bôn-se-vich và bác bỏ lời cáo buộc phản quốc chống lại họ như bọn Black Hundreds vu khống nhằm chia rẽ dân chủ cách mạng. Truyền thống xưa cũ về tình đồng chí xã hội chủ nghĩa trong đó ‘không có kẻ thù trong cánh Tả!’ – không hề thay đổi. Phần đông các lãnh đạo Xô-Viết tiếp tục xem các Bôn-se-vich như những đồng chí. Họ nhất trí cho rằng cuộc săn phù thủy chống lại họ đang có nguy cơ biến thành một trận phản công dữ dội của cánh hữu chống toàn bộ người xã hội nói chung. Như tờ Novaia zhizri đã viết: ‘Hôm nay họ kết án Bôn-se-vich; ngày mai họ tung hỏa mù đối với Xô-Viết và rồi họ sẽ tuyên bố Thánh Chiến Chống Lại Cách Mạng.’ Người Men-se-vich cánh tả, nhiều người còn nuôi hi vọng đoàn kết đảng mình với người Bôn-se-vich, đặc biệt kiên trì trong việc chống đối những áp lực của chính quyền; và phần lớn nhờ những nỗ lực của họ mà việc xét xử công khai và ủy ban được thành lập để xem xét cáo trạng chống lại họ biến từ lớn thành nhỏ, từ nhỏ hóa không. Chính vì điều này, hơn bất cứ điều gì khác, đã bảo đảm cho sự sống còn của Bôn-se-vich. Vì các lãnh đạo Xô-Viết do dự trong việc cắt đứt mọi mối dây liên hệ với họ, một cơ hội bằng vàng kết liễu mối đe doạ của Lênin đã để lỡ một lần cho tất cả. Mười hai tháng sau, khi nhiều người trong số các lãnh đạo Xô-Viết này ngồi trong nhà tù Bôn-se-vich, họ mới thấy hối tiếc một cách thấm thía về điều này.

Các lãnh đạo Xô-Viết, trong việc chọn đứng sát cánh với Bôn-se-vich, chắc chắn đã phản ứng thái quá với mối đe doạ phản cách mạng. Như trong Tháng Hai, họ đã nhìn thực tế qua lăng kính méo mó của lịch sử: những bóng đen 1849 và 1906 đã làm họ mờ mắt. Cũng một phần vì nỗi sợ phản cách mạng này đã ngăn trở họ, như trong Tháng Hai, nhận lấy quyền lực trao cho mình. Đây cũng chứng tỏ là một sai lầm nghiêm trọng – bởi vì chỉ có Xô-Viết mới lấp đầy được khoảng trống quyền lực do sự sụp đổ của liên minh để lại. Đúng, họ có thể không đem lại hòa bình, bánh mì hoặc ruộng đất; cũng không thể kết thúc cái vòng xoắn ốc của hỗn loạn và bạo lực; nhưng ít nhất họ có thể lấy đi của người Bôn-se-vich cơ hội tập hợp sự hậu thuẫn của quần chúng dưới khẩu hiệu ‘Tất cả quyền lực về tay Xô-Viết!’ Trong những Ngày Tháng Bảy đường phố đã năn nỉ các lãnh đạo Xô-Viết nắm lấy quyền hành. Vậy mà họ vẫn thản nhiên từ khước xem nó không hơn một trò mị dân của Bôn-se-vich. Họ không nghĩ rằng những lời kêu gọi như thế có thể thể hiện mong ước của những thành phần còn lại của nền dân chủ. Sau hết, là những nhà lãnh đạo tự chỉ định, bộ nhiệm vụ của họ không phải là quyết định điều đó hay sao? ‘Tôi đã ở các tỉnh và Mặt trận,’ Tsereteli trấn an các đại biểu Xô-Viết vào ngày 4/7, ‘và tôi phát biểu rằng quyền hành trong xứ của Chính quyền Lâm thời cực kỳ lớn.’ Học thuyết đảng cứng nhắc của họ dạy người Men-se-vich và SR rằng một chính quyền xã hội không thể được thiết lập khi ‘thời kỳ tư sản của cách mạng’ vẫn chưa hoàn thành. Cái lô-gic cao cả này đẩy các nhà triết học đi đến kết luận rằng một liên minh mới phải được chắp vá lại với nhau bằng bất cứ giá nào và rằng, nếu người Kadet còn khước từ hợp tác, thế thì một khối sẽ phải được thành lập với những nhóm tư sản khác nhau. ‘Liên mình đã chết! Vạn tuế liên minh!’

Việc cải cách liên minh không thể tránh khỏi với việc Kerensky được bổ nhiệm làm tân Thủ tướng. Ông đã trở về thủ đô vào ngày 6/7 và, theo yêu cầu của ông, ông được đón tiếp rất trọng thị, với vệ binh danh dự và đội kỵ binh Cô-dắc xếp hàng dài dọc theo đường phố từ Ga Warsaw. Đây là buổi ra mắt khải hoàn của một anh hùng quốc gia, con người được cho là đã cứu đất nước khỏi họa Bôn-se-vich bằng cách tập kết những binh sĩ trung thành ở Mặt trận. Ngay hôm sau Lvov từ chức và ghi tên ông làm người kế nhiệm mình. Đối với Lvov, đúng là thở phào nhẹ nhõm. Ông đã quyết định bước xuống, khi ông viết thư cho song thân vào ngày 3/7. Ông đã thấm mệt – gánh nặng trách nhiệm đã nhuộm tóc ông xám bạc – và ông không có dũng khí để thẳng tay đàn áp sau những Ngày Tháng Bảy. ‘Cách duy nhất để cứu lấy đất nước hiện giờ’, Lvov bảo người bạn thân T. I. Polner vào ngày 9/7, ‘là dẹp quách Xô-Viết và bắn vào dân chúng. Tôi không thể làm được điều đó. Nhưng Kerensky thì có thể.’ Ngày đến phút cuối cùng, ngài Hoàng thân nhân hậu cũng không dám sử dụng áp bức chống lại ‘nhân dân’. Niềm tin trọn đời của ông về ‘lòng tốt và sự khôn ngoan’ của ‘nhân dân’, tuy dường như có chỗ sai lầm, không cho phép ông làm thế. Bốn ngày sau ông rời thủ đô và vào sống trong một tu viện.

Kerensky được chào đón như người hùng đã đoàn kết đất nước và dừng cuộc nội chiến sắp sửa xảy ra. Ông là một chính trị gia nòng cốt duy nhất có được hậu thuẫn của dân chúng lại được các lãnh đạo quân sự và tư sản chấp nhận rộng rãi. Tsereteli là một lãnh đạo Xô-Viết lão thành, chắc chắn như vậy, và cũng vì điều này ông bị loại ra. Bởi vì nếu liên minh phải được cải cách, nó phải cắt đứt mối ràng buộc với cương lĩnh của Xô-Viết, nếu không người Kadet sẽ không tham gia. Kerensky là nhân vật lý tưởng để mang liên minh lại với nhau: là một thành viên của Xô-Viết lẫn viện Duma đã lập nên Chính quyền Lâm thời ông làm một cầu nối giữa phe dân chủ và cấp tiến. Điều này đặt ông vào một vị trí độc nhất- và vận mệnh nước Nga dường như phụ thuộc vào chàng thanh niên trẻ này. Và thế mới là bi kịch, vì đó quả là gánh nặng cho một người như Kerensky, còn non nớt tuổi và tài năng thì khiêm nhượng.

Kerensky luôn thích xem mình là ‘nhà lãnh đạo quốc gia’, đứng giạng chân hai bên Hữu và Tả, việc ông thăng tiến quyền lực châm lửa cho lòng tự phụ này. Ông bắt đầu gầy dựng hình ảnh một  con người của vận mệnh, được ‘nhân dân’ mời gọi để cứu nước Nga. Đây là mùa hè mà phong trào tôn sùng Kerensky lên cao độ. Nó được dàn dựng và tô vẽ dưới sự hỗ trợ của giới trí thức văn chương Petrograd— nhà Merezhkovskys, Filosofov, Stanislavsky và Nemirovich-Danchenko* — tất cả đều ca tụng ngài Thủ tướng trẻ như là ‘nguời công dân lý tưởng’ và là ‘hiện thân của Tự do nước Nga’. Thành công và sự tâng bốc bốc lên tận đỉnh đầu của ông. Ông bắt đầu đi đứng, ưỡn bụng cho giống tác phong của Napoleon. Ông dời văn phòng về Cung điện Mùa Đông, tại đó ông chiếm lấy căn phòng thênh thang của Alexander III. Ông ngủ trên ‘long sàng’ đồ sộ của Sa Hoàng, và chụp một tấm ảnh ngồi tại chiếc bàn viết có kích cỡ một hồ bơi rồi cho in thành bưu thiếp phát cho dân chúng. Chiếc bàn bi-da mà Sa Hoàng ưa thích, đã được đóng thùng để chuyển đến Tobolsk, được giữ lại cho ông giải trí. Ông cũng giữ lại bọn tôi tớ cũ, và thay đổi linh gác đứng bên ngoài phòng ông mỗi ngày vài lần. Khi ông đến và đi, cờ đỏ trên nóc cung điện được kéo lên hay hạ xuống như thời các sa hoàng

 Đây có phải là người đã tự gọi mình là ‘con tin của nền dân chủ’.

* Dmitni Merezhkovsky (1865—1941), thi sĩ, triết gia tôn giáo và văn chương; Zinaida Gip-pius (1869-1945), nhà văn và tiểu luận, kết hôn với Merezhkovsky; Dmitrii Filosofov (1872-1940), nhà phê bình văn học và sống chung với Merezhkovskys; Konstantin Stanislavsky (1863-1938), cùng với  Vladimir Nemirovich-Danchenko (1858-1943), là nhà sáng lập Nhà Hát Nghệ Thuật Moscow.

 

Thời gian ba tuần đứt quãng giữa sự sụp đổ của Liên minh 1 và thành lập Liên minh 2 chứng kiến việc Kerensky cắt đứt với phong trào Xô-Viết. Là người môi giới quyền lực trong các bàn bạc đảng phái, ông sẵn sàng hi sinh phần lớn các yêu sách cơ bản của Xô-Viết – như đã được nêu ra trong tuyên bố ngày 8/7 của chính quyền- vì lợi ích thuyết phục Kadet tái tham gia liên minh. Trước sự khăng khăng của Kadet, ông thông qua ba sắc luật áp đặt hạn chế nghiêm khắc việc tụ tập đông người, phục hồi hình phạt tử hình tại Mặt trận và đồng ý giảm ảnh hưởng của các quân ủy. Cương lĩnh của liên minh mới,  cuối cùng được thiết lập vào ngày 25/7, không còn dựa trên các nguyên tắc của Xô-Viết, như đã được nhất trí vào Tháng Hai. Chín vị bộ trưởng xã hội, mặc dù chiếm đa số, bước vào nội các như những cá nhân riêng tư hơn là đại diện Xô-Viết, và do đó, theo một nghĩa ít ra là hình gìthức, bắt buộc phải công nhận quyền hành duy nhất của Chính quyền Lâm thời. Tất cả các bộ trưởng xã hội, trừ Chernov, đến từ cánh hữu của đảng họ và đứng gần với nhóm Duma cấp tiến hơn chính phong trào Xô-Viết. Tsereteli, người lãnh đạo không tranh cãi của Xô-Viết không thể chấp nhận tình trạng xói mòn ảnh hưởng của nó, không có lựa chọn nào khác ngoài việc tránh sang bên. Đã bị lao phổi, ông xin từ chức. Việc ra đi của ông đánh dấu sự quá cố của Xô-Viết. Vào ngày 18/7, cùng ngày với việc chính phủ Kerensky dời về Cung điện Mùa Đông, Xô-Viết bị trục xuất khỏi Điện Tauride và chuyển vết Viện Smolny, một trường nội trú dành cho con gái các quí tộc, bên ngoài thủ đô. Đó vừa là biểu tượng của sự thoái trào của Xô-Viết vừa là sự đi lên của chính quyền Kerensky tới một vị trí mới như trước đây của các sa hoàng tiền nhiệm, trên cao và xa cách nhân dân.

.

iii Người Đàn Ông Trên Lưng Bạch Mã

Người ta thường tin rằng chủ nghĩa lý tưởng ngây thơ của Linde đã khiến anh bị ám sát một cách tàn nhẫn. Chàng dân ủy trẻ đã được cảnh báo khi đến Mặt trận là những tên đào ngũ rất nguy hiểm. Trong vài tuần lễ họ sống như băng cướp, gieo rắc kinh hoàng khắp vùng quanh Lutsk, và mọi người đều nhất trí là tốt hơn nên dàn đội hình Cô-dắc tấn công trại nổi dậy. Tướng Krasnov đã dẫn đến 500 kỵ binh dự bị và, mặc dù số lính đào ngũ đông gấp 10 lần, ông tin tưởng rằng cảnh tượng uy nghi của Cô-dắc đủ khiến họ chịu giải giới. Nhưng Linde quyết liệt về quyền lực của ngôn từ cách mạng. Lính Cô-dắc, anh khăng khăng, chỉ là tàn tích của quá khứ sa hoàng và, trên nguyên tắc, không được sử dụng để chống lại ‘quân đội tự do nhất thế giới’. ‘Ngài thấy đấy, thưa Tướng quân, tôi sẽ bắt họ nghe theo lý lẽ. Phải biết cách nói với binh lính. Đó là vấn đề tâm lý.’ Không thể thuyết phục chàng quân ủy trẻ tuổi từ bỏ kế hoạch điên rồ của mình – anh bị cuốn theo niềm tin vào sức mạnh của ý chí cách mạng – vì thế đành phải cho phép anh đích thân đến trại để thuyết phục những kẻ đào ngũ trở lại chiến đấu.

Đây không phải là lần đầu tiên mà sự quá tự tin của Linde khiến anh gặp rắc rối. Chàng trung sĩ cứng đầu đã hai lần dẫn đầu binh lính xuống đường – một lần vào Tháng Hai như một người hùng của cách mạng và thêm một lần trong những cuộc biểu tình Tháng Tư chống lại Miliukov, khi anh bị lên án là kẻ phiêu lưu ‘Bôn-se-vich’ toan tính một cuộc đảo chính đẫm máu. Để trừng phạt, Xô-Viết đã phái anh làm quân ủy cho Quân đoàn Đặc biệt trên Mặt trận phía Tây: kỹ năng lãnh đạo các binh sĩ sẽ được sử dụng để duy trì kỷ luật quân đội trong trận tiến công sắp tới. Linde vui vẻ nhận công tác mới. Ý tưởng thuyết phục các binh lính vô kỷ luật quay về thi hành nghĩa vụ yêu nước hoàn toàn phù hợp với hình ảnh lãng mạn tự phong là một nhà hùng biện cách mạng của mình. Anh nhanh chóng trở thành điều gì đó giống như huyền thoại từ những sứ mạng gan lì xông vào những vùng bị Bôn-se-vich hoá của Mặt trận, mà chỉ nhờ vào sức mạnh của lời nói , anh dường như phục hồi lại được mệnh lệnh chiến đấu. Linde là con người quí hiếm của năm 1917: một người cách mạng Nga với một ý thức bổn phận đối với dân tộc và nhà nước. Theo nghĩa này, anh là một quân ủy kiểu mẫu. ‘Đạt được tự do là không đủ,’ anh giải thích với một người bạn trên đường đến Lutsk. ‘Dân chủ là điều gì đó cần phải chiến đấu để bảo vệ.’ Đó là lý do tại sao anh rất quyết tâm đến trại bọn đào ngũ: để thuyết phục binh lính về nghĩa vụ yêu nước của họ nhằm bảo vệ nước Nga giờ đã được tự do.

Đoàn ô tô, xe tải quân sự và kỵ binh Cô-dắc di chuyển qua vùng quê trống trải về hướng cánh rừng, nơi bọn phản loạn đã đóng quân trên một khoảng đất trống. Đó là một buổi chiều tháng 8 đầy nắng và bình thường vào thời điểm này đồng lúa đã đến mùa thu hoạch, nhưng sau ba năm bỏ hoang vì chinh chiến ruộng chỉ phủ đầy cỏ hoang. Dừng lại bên bìa rừng, Linde bước một mình đến trại giặc, theo sau một khoảng xa là các sĩ quan, và kỵ binh Cô-dắc tiến lên để bao vây doanh trại. Binh lính của hai trung đoàn nổi loạn, trung đoàn 443 và 444 của Sư đoàn Bộ binh số 3, đang người ngồi người nằm quanh lều dưới bóng cây. Khi các sĩ quan tiến gần, chúng bắt đầu bật dậy như những con thú thời tiền sử, và chụp lấy súng. Linde chú ý có hai nhóm riêng biệt – một số đông ở rải rác và một nhóm nhỏ ngồi quanh ánh mắt đe doạ, anh đoán ngay nhóm nhỏ là hạt nhân Bôn-se-vich. Nhảy lên một đống gỗ anh lên tiếng nói với đám trước. Đó là một bài phát biểu xúc động, đầy tình cảm dân chủ. ‘Tôi, là người đã từng dẫn đầu các binh sĩ xuống đường để lật đổ chính quyền sa hoàng và mang lại tự do cho các bạn, một thứ tự do mà các nước khác không sao sánh bằng, nên tôi có quyền yêu cầu các bạn cho tôi biết ai đã bảo các bạn không tuân lệnh của chỉ huy.’ Khi anh nói, có thể nghe tiếng pháo của quân Đức vọng lại, càng làm cho giọng nói hùng hồn của anh thêm phần kịch tính. Anh chỉ vào hướng pháo kẻ thù và kêu gọi binh sĩ hãy bảo vệ Tổ quốc mình khỏi lọt vào tay quân địch. Nhưng những điều này binh sĩ đã nghe quen đến nhàm tai. Họ đã chứng kiến biết bao thảm cảnh của chiến tranh đế còn có thể tin vào những lời hùng hồn hơn được, nhất là phát ra từ một gương mặt non choẹt này.

Biết rằng nói thêm cũng vô ích, Linde bắt đầu quát tháo họ, gọi họ là ‘những con lợn lười nhác’ và ‘bọn khốn kiếp’ không xứng đáng được tự do. Bọn đào ngũ bắt đầu khích động, và một vài người trong nhóm Bôn-se-vich bắt đầu hỏi vặn Linde. Họ gọi anh là gián điệp Đức và nói rằng cách thức anh nói  giống như người của chế độ cũ. Theo dõi từ xa, Tướng Krasnov thấy chuyện chẳng lành sắp xảy ra, liền ra lệnh một ô tô đến giải cứu viên quân ủy trẻ. Nhưng Linde bị cuốn theo sức mạnh của lời nói, say sưa muốn thể hiện vai trò anh hùng của mình, nên không chịu bỏ đi. Bọn lính tiến về phía anh – và chỉ khi đó anh mới tìm cách tẩu thoát. Nhưng đã quá muộn. Một tên lính lực lưỡng trong nhóm Bôn-se-vich bước lên và đập bá súng vào trán anh; một tên thứ hai bắn anh ngã xuống đất; và những tên còn lại la hét điên cuồng, nhào tới đâm lưỡi lê vào thân thể anh. Sợ cho cả mạng sống của mình, Krasnov và các sĩ quan tìm cách thoát thân, nhưng đám đào ngũ, say máu sát nhân, đuổi theo họ qua cánh rừng, trong khi đám Cô-dắc cố vãn hồi trật tự. Một sĩ quan Cô-dắc, Đại tá Girshfeldt, bị lột trần truồng, treo ngược đầu trên cành cây và bị tra tấn tàn nhẫn trước khi bị bắn chết. Hai sĩ quan khác cũng bị giết chết trước khi đoàn xe chạy thoát ra khỏi cánh rừng đến chỗ bình yên.

Thi thể của Linde được mang về Petrograd và an táng như một người anh hùng. Báo chí dân chủ mô tả ‘người chiến binh ngã xuống cho lý tưởng của nhân dân’ như một tấm gương chói loà của tình cảm cách mạng ái quốc mà quân đội Nga hiện giờ đang cần đến khẩn thiết. Linde không phải là người lãnh đạo Xô-Viết đầu tiên bị binh lính theo Bôn-se-vich giết chết. Đã có vài vụ sát nhân tương tự trong những tuần trước đây. Thậm chí Sokolov, nhà lãnh đạo Xô-Viết lừng danh và là tác giả của Điều Lệnh Số 1, đã bị đập tơi tả và bị bắt làm con tin bởi một đám đông bình sĩ nổi loạn khi ông cố gắng khuyên họ trở lại chiến đấu. Nhưng vụ sát nhân tàn nhẫn đối với Linde, xảy ra vào cao trào khủng hoảng mùa hè, được xem là đặc biệt có ý nghĩa. Nó tượng trưng cho sự chấm dứt mọi hi vọng lý tưởng của những tháng cách mạng đầu tiên – lý tưởng về một nhà nước tự do của các công dân, những người có thể được thuyết phục để hoàn thành nghĩa vụ công dân đối với nước Nga và cách mạng. Cái chết của Linde cuối cùng đã khẳng định rằng thời gian cho thuyết phục đã kết thúc. Nhân dân Nga chưa sẵn sàng để làm công dân, và câu quở trách tai tiếng của Kerensky rằng nhà nước Nga tự do sẽ trở thành ‘một nhà nước của những nô lệ nổi loạn’ dường như được minh chứng bởi hỗn loạn đang tràn ngập khắp đất nước. Quân đội Nga đang sụp đổ và đang rút lui một mạch. Vào ngày 21/8 Đức chiếm Riga, và dường như, đúng như Zinaida Gippius ghi trong nhật ký của bà, ‘họ có thể lấy Petrograd bất cứ lúc nào.’ Đế chế đang tan rã, với các chính quyền dân tộc tự chỉ định ở Phần Lan và Ukraine tuyên bố nền độc lập của họ, trong khi mỗi ngày báo chí mang đến tin tức những cuộc đình công hung hãn của các công nhân đường sắt, các vụ cướp đoạt ruộng đất điền chủ của nông dân và ở thành phố thì tội phạm và hỗn loạn gia tăng. Bài học từ những điều này, mà càng ngày càng có nhiều người rút ra được, dường như là nước Nga chỉ có thể cai trị được bằng sức mạnh. Thậm chí Tsereteli buộc phải nhận thấy rằng khủng hoảng mùa hè đánh dấu sự kết thúc của ‘tuổi trẻ mơ mộng màu hồng’ của cách mạng và khởi đầu của một ‘thời kỳ mới xám xịt’ khi những biện pháp mạnh tay được sử dụng để ngăn chặn cơn sóng vô chính phủ.

Các tầng lớp giàu có dẫn đầu tiếng gọi vãn hồi trật tự.: Tổ quốc Lâm nguy!’ trở thành lời kêu gọi tập hợp. Điên cuồng vì sợ hãi, họ cá cược những số tiền lớn, bán tháo đồ đạc, và sống hiện sinh cuồng loạn, như thể đây là mùa hè cuối cùng của nền văn minh Nga. Nữ Bá tước Speransky chứng kiến ở Kiev ‘những tiệc tùng trên bờ sông, những chuyến dã ngoại bằng ô tô từ lâu đài này đến lâu đài khác và những tiệc tối với các ban nhạc gip-si mua vui và hát xướng, bài bạc, tình ái là những sinh hoạt hàng ngày. Đám tang của bảy lính Cô-dắc bị bọn Bôn-se-vich giết trong những Ngày Tháng Bảy trở thành sân khấu cho tầng lớp có tiền đắm mình vào trong cuộc phô trương tình cảm ái quốc. Đám tang bắt đầu với kinh cầu hôn được xướng lên trong Thánh đường St Isaac, tiếp sau là một đảm rước trang trọng đi qua đường phố thủ đô với bảy xe ngựa thếp bạc chở bảy quan tài, đi kèm hai bên là những kỵ binh Cô-dắc và các giáo sĩ rảy hương. Đám tang thế hiện tình tương trợ dân chủ thì ít mà thuong tiếc cho chế độ cũ thì nhiều. Không khí phản cách mạng đang tăng lên. Báo chí kêu gọi treo cổ bọn Bôn-se-vich và dẹp quách Xô-Viết. Trong sự vắng mặt của các lãnh đạo Bôn-se-vich, Chernov trở thành ‘gián điệp Đức’ mới và kẻ đáng ghét của cánh Hữu. Các công nhân Bôn-se-vich bị bọn Black Hundred hành hung. Các công dân trung lưu đáng kính đổ xô đến các nhóm cánh hữu khác nhau đổ tội những tai ương của Nga cho người Do Thái và kêu gọi phục hồi Nga Hoàng, hoặc một nhà độc tài nào đó để cứu nước Nga khỏi thảm họa.

Là người đứng đầu quân đội Nga, có trách nhiệm cho cuộc tiến công thất bại, Brusilov sớm thành nạn nhân cho việc ngã  qua vành Hữu. Ông chưa hề được ưa thích ở Stavka, nơi các tướng lĩnh phản động ngờ vực ông ngã về phía dân chủ, và việc tiến công thất bại giờ cho họ cơ hội để hất cẳng ông. Sức ép tăng lên đòi thay thế ông bằng Tướng Kornilov, một người hô hào cho việc lập lại kỷ luật quân đội theo truyền thống cũ. Người Kadet thậm chí coi đây là điều kiện tiên quyết để họ trở lại tham gia chính quyền Kerensky. Mặc dù Thủ tướng mới chính là tác giả của những chính sách mà Brusilov theo đuổi, ông sẵn sàng loại bỏ cả hai nếu đó là cái giá của quyền lực. Brusilov cảm thấy mình sắp bị thải hồi khi Kerensky gọi ông đến dự buổi họp tất cả tư lệnh Mặt trận tại Stavka vào ngày 16/7. Ông phạm sai lầm khi chỉ phái phụ tá đi đón Kerensky tại Ga Mogilev: chuyến tàu đã đến sớm còn ông thì bận xem xét những quyết định chiến lược cho Mặt trận. Đúng là không có nghi thức chính thức bắt buộc Tư lệnh Tối cao phải tiếp đón Bộ trưởng Chiến tranh; nhưng Kerensky, người xử sự như Sa Hoàng và đến để mong đợi các người dưới quyền đối xử mình như Sa Hoàng, nổi cơn thịnh nộ và phái phụ tá ra lệnh cho Brusilov phải đích thân đến nhà ga. ‘,Toàn bộ vấn đề’, Brusilov nhận xét, ‘nhỏ nhen và khôi hài, đặc biệt theo nhãn quan tình hình chiến sự trầm trọng tại Mặt trận mà Tham mưu trưởng của tôi và tôi đang điều nghiên.’ Nhưng là con người cố chấp, tham quyền cố vị, nên hành vi kém lịch sự này đủ để kết thúc sứ mạng Tổng Tư lệnh của ông. Ngày18/7 Brusilov bị bãi chức. Bất mãn vì những động cơ chính trị đằng sau việc cách chức mình, ông lui về Moscow để nghĩ ngơi như ao ước từ lâu với bà vợ đang mắc bệnh. Chỉ đến khi người Bôn-se-vich lên nắm quyền ông mới trở lại quân đội, dưới những tình thế hết sức phi thường.

Người thay thế ông, Tướng Lavr Kornilov, đã đạt được vị thế một cứu tinh dân tộc trong nhóm cánh hữu. Nhỏ người và nhanh nhẹn, với đầu cạo sát, râu kiểu Mông Cổ và cặp mắt nhỏ, Kornilov xuất thân từ một gia đình Cô-dắc miệt Siberia. Cha ông là một tiểu chủ và một quân nhân, được thăng đến chức sĩ quan cấp thấp. Mẹ ông thuộc tộc người Buryat. Gia thế tương đối bình dân này khiến Kornilov cách biệt với các vị tướng khác của Nga, hầu hết đều xuất thân từ giới quí tộc. Trong không khí dân chủ của năm 1917 nó là gia thế lý tưởng cho một người hùng quân sự dân tộc. Sự nghiệp quân sự thời trẻ của Kornilov khởi đầu ở Trung Á. Ông đã làm chủ ngôn ngữ Thổ của vùng đó và đã lập ra đội cận vệ người Thổ cho riêng mình, ăn mặc y phục màu tím đỏ, và gọi ông là ‘Boyar Vĩ đại’ của họ. Việc bổ nhiệm Kornilov không xứng tầm với thành tích quân sự của ông. Vào năm 1914, ở tuổi 44, ông lên chức không cao hơn tư lệnh sư đoàn trong Quân đoàn 8. Brusilov, tư lệnh của ông, nhớ ông là con người gan dạ và sôi nổi, được binh sĩ yêu mến, nhưng thường không tuân lệnh. Năm 1915 Kornilov bị thương và bị quân Áo bắt làm tù binh vì không tuân lệnh Brusilov rút lui sư đoàn mình ra khỏi Mặt trận. Năm sau ông trốn khỏi trại tập trung, hóa trang là một người lính Áo, lội bộ tìm đường về Nga. Thay vì ra tòa án binh, ông được chào đón như một người hùng.

Chính vào lúc này Kornilov bắt đầu thu hút những người hậu thuẫn mạnh mẽ về mặt chính trị như Rodzianko và Guchkov. Họ vận động cho ông được bổ nhiệm làm Tư lệnh Quân khu Petrograd vào tháng ba 1917. Trong những vụ nổi dậy Tháng Tư Kornilov đã doạ đem binh sĩ xuống đường nhưng Xô-Viết đã chống đối và kiểm soát lực lượng đồn trú, buộc Kornilov phải từ chức. Các nhóm cánh hữu khác nhau thấy bị xúc phạm khi Xô-Viết can thiệp vào những vấn đề quân sự, và nhìn vào Kornilov như là người hùng của lý tưởng họ. Họ đoàn kết với nhau trong việc chống đối ảnh hưởng gia tăng của Xô-Viết đối với chính quyền, đặc biệt những vấn đề đối ngoại và quân sự sau cuộc khủng hoảng Tháng Tư. Miliukov, người bị buộc từ chức Bộ trưởng Ngoại giao, bắt đầu ve vãn các ý tưởng phản cách mạng. ‘Rõ ràng là các lãnh đạo Xô-Viết đang cố tình dẫn dắt chúng ta vào việc bại trận và lụn bại kinh tế,’ ông viết cho một người bạn vào cuối tháng sáu. ‘Tận thâm tâm cả hai chúng ta đều biết rằng việc giải cứu nước Nga phải được tìm thấy trong việc phục hồi quân chủ, và những gì xảy ra trong hai tháng vừa qua chứng tỏ rằng nhân dân không có khả năng hành xử quyền tự do.’ Các ông chủ doanh nghiệp, càng ngày càng chống đối các chính sách của Skobelev, Bộ trưởng Lao động thuộc Men-se-vich, và các quí tộc địa chủ thì căm thù Chernov, Bộ trưởng Nông nghiệp thuộc SR, cũng bắt đầu tập hợp sau lưng chính nghĩa chống Xô-Viết.  Liên minh các Sĩ quan và Liên minh Cô-dắc mở chiến dịch bãi bỏ các ủy ban quân nhân và phục hồi kỷ luật quân đội. Và tất cả những nhóm này đến với nhau qua Trung tâm Cộng Hòa, một tổ chức bí mật các nhà ái quốc tư sản, sĩ quan và các cựu binh được thành lập vào tháng 5 bên trên một ngân hàng ở phố Nevsky Prospekt.

Kornilov là tớ, hơn là chủ, của những lợi ích chính trị này. Nhận thức chính trị của ông không mấy phát triển. Một quân nhân điển hình, ông là người rất kiệm lời, và thậm chí còn kiệm ý tưởng hơn. ‘Trái tim sư tử, bộ óc cừu’ là lời tuyên án của Alexeev về ông. Trong thời gian ở tù ông đã đọc tiểu sử Napoleon, ông có vẻ tin rằng mình được giao phó vận mệnh tương tự cứu vớt nước Nga. Tất cả điều cần có để ngăn chặn làn sóng vô chính phủ là một vị Tướng trên lưng Bạch Mã.

Phần nhiều những tuyên bố chính trị của Kornilov được Boris Savinkov, Thứ trưởng Bộ Chiến tranh của Kerensky, chấp bút. Thời trẻ Savinkov từng là nhân vật huyền thoại – thi sĩ, ‘chiến bình cho tự do’ và tay liều lĩnh – trong phong trào khủng bố của SR. Ông dính líu trong vụ ám sát một vài nhân vật trong chính quyền, kế cả Plehve, vào đầu thế kỷ. Tuy nhiên, như nhiều nhà khủng bố, ông có một khí chất mạnh mẽ, quyền uy: ‘Anh là Lênin những ở khác phía,’ Kerensky có lần bảo với ông. Sau một thời gian đi lưu đày nước ngoài, Savinkov trở lại Nga vào năm 1917, và ghép mình vào phong trào chống Xô-Viết (mà ông gọi là ‘Hội đồng Đại biểu của Chuột, Chó và Gà’). Chính ông đã xếp đặt để bổ nhiệm Kornilov, trước tiên vào ngày 8/7, làm Tư lệnh Mặt trận Tây-Nam, và rồi mười ngày sau, làm Tổng Tư lệnh.

Ngoài một người hậu thuẫn tiếng tăm cho kỷ luật quân đội, không rõ Kerensky hiểu mình được gì thêm nơi Tư lệnh mới của mình. Kerensky ôm những tham vọng kiểu Bonaparte của riêng mình, tất nhiên, và không nghi ngờ gì hi vọng rằng trong Kornilov ông có thể tim được một người mạnh mẽ để ủng hộ mình. Nhưng Kerensky có biết Kornilov và đồng minh của mình cũng có những kế hoạch tương tự để sử dụng mình không? Brusilov sau này cho biết rằng Kerensky đã hỏi ông ta liệu ông ta có ‘hậu thuẫn mình trong trường hợp ông ta xét thấy phải hoàn thành cách mạng bằng cách tự phong Nhà Chuyên Chế’. Brusilov đã từ chối, nghĩ rằng Kerensky quá ư điên rồ cho vai trò này. Đoạn Kerensky hỏi ông ta có sẵn sàng để làm một nhà Chuyên chế  không. Nhưng một lần nữa Brusilov từ chối, so sánh ý kiến đó như ‘xây đập khi sông đang vào lũ’. Việc Brusilov từ chối ắt hẳn là một yếu tố khiến Kerensky quyết định thay thế ông bằng một Tư lệnh có những bản năng nguyên sơ hơn. Để được bổ nhiệm, Savinkov đã khuyên Kornilov nhấn mạnh vai trò của các quân ủy như một công cụ kiểm soát quyền lực của các ủy ban quân nhân tại kỳ họp Stavka ngày 16/7. Khuynh hướng này ôn hòa hơn khuynh hướng của Denikin và các tướng lĩnh khác muốn bãi bỏ ngay lập tức các ủy ban quân nhân, và sẽ khiến cho Kerensky có thể xoa dịu cánh Hữu trong khi cứu được cấu trúc cơ bản của cải cách dân chủ của mình. Do đó Kornilov tạo ra ấn tượng là mình sẵn sàng thích hợp choi kế hoạch của Kerensky.

Vậy mà sau khi được bổ nhiệm Kornilov bắt đầu ra điều kiện với Kerensky. Trong thời gian ngắn ngủi giữ chức tư lệnh Mặt trận Tây-Nam ông đã xoay sở buộc Kerensky phục hồi án tử hình tại Mặt trận (Kornilov đã thi hành việc này tự ý mình bằng cách ban lệnh xử bắn tất cả lính đào ngũ). Giờ, như một điều kiện để nắm chức Tổng Tư lệnh, ông yêu cầu mở rộng án tử hình cho hậu phương, trong khi ông, người đứng đầu quân đội, chỉ chịu trách nhiệm trước lương tâm và quốc gia như một tổng thể. Thật ra, đây là thách thức đối với quyền hành của Chính quyền Lâm thời, mà Kornilov rõ ràng tin nó chỉ là tù nhân của Xô-Viết; và mặc dù dưới sức ép của Kerensky cuối cùng ông đã rút lại tối hậu thư này, nhưng việc đưa ra toan tính này cũng có ý đồ rõ ràng. Trong những ngày sau đó ông trình lên Kerensky một loạt cải cách do Savinkov soạn thảo. Trước tiên là lãnh vực quân sự: chấm dứt quyền hành các ủy ban quân nhân; cấm binh sĩ họp hành tại Mặt trận; và giải tán các trung đoàn cách mạng. Nhưng sau ngày ⅜ qui mô cải cách mở rộng mạnh mẽ hơn nữa bao gồm áp đặt lệnh thiết quân luật trên toàn quốc; phục hồi án tử hình cho dân thường; quân sự hóa đường sắt và các ngành công nghiệp quốc phòng với luật cấm đình công và mít tinh của công nhân, người cầm đầu có thể bị tử hình; và cưỡng bách mức sản lượng, ai vi phạm lập tức bị đuổi việc. Đây đúng là yêu sách thiết lập một nền độc tài quân phiệt.

Một trong những huyền thoại lâu đời nhất của Cách Mạng Nga là chuyện Kornilov lên kế hoạch đảo chính Chính quyền Lâm thời. Đây là phiên bản các sự kiện của Kerensky. Sau khi thất thế ông trải phần đời lưu vong dài và buồn phiền còn lại ra sức chứng minh điều ấy trong những ký ức dày cộm và dối trá của mình. Các sử gia Xô-Viết cũng tiếp tay cho câu chuyện vì nó ủng hộ cho quan điểm của Lênin cho rằng sau tháng 7 ‘nền độc tài quân sự’ được kết nạp trong một cuộc đấu tranh trần trụi giành quyền lực. Nhưng chứng cứ cho thấy Kornilov, chẳng những không có âm mưu lật đổ Chính quyền Lâm thời, mà thật ra còn dự tính cứu lấy nó. Bằng cách ép buộc Kerensky thông qua những cải cách của mình, ông nhắm đến việc cứu chính quyền khởi rơi vào ảnh hưởng của Xô viết và do đó ‘cứu lấy nước Nga’, theo cách ông nhìn thấy, khỏi tai họa đang treo lơ lửng trên đầu. Kornilov, nói cách khác, cho rằng nên độc tài là hợp pháp theo nghĩa mà Kerensky sẽ ủng hộ nó. Chỉ đến khi Kerensky dấy lên mối ngờ vực, trên cơ sở là những kế hoạch của vị Tướng sẽ tổn hại đến vị thế của mình, thì ‘cú đảo chính’ mới được Thủ tướng khui ra. Kerensky cương quyết đóng vai của Napoleon và sợ Kornilov là đối thủ cạnh tranh. Nếu bạn muốn vì von, nó như một vấn nạn hai người mà chỉ có một con bạch mã.

Không có điều gì để bác bỏ chuyện có nhiều người hậu thuẫn Kornilov và xúi giục ông loại bỏ Chính quyền Lâm thời. Liên minh Sĩ quan, chẳng hạn, đưa ra những kế hoạch  đảo chính, trong khi ‘một hội nghị quần chúng’ vào giữa tháng 8 gồm phần lớn người Kadet và các doanh nhân cánh hữu, công khai khuyến khích Kornilov theo hướng đó. Tại  tâm điểm của giới khuynh hữu này là Vasolii Zavoiko, một nhân vật hơi mờ nhạt – kẻ đầu cơ bất động sản, nhà tài chính kỹ nghệ,nhà báo và hoạt đầu chính trị – mà, theo Tướng Martynov, hành động như ‘người dẫn đạo của Kornilov, thậm chí có thể cho là  cố vấn của ông về mọi vấn đề nhà nước’. Kế hoạch của Zavoiko cho một cú đảo chính quá tiếng tăm đến nỗi ngay cả Whitehall cũng đã nghe về nó: ngay từ 8/8 Bộ Ngoại giao ở London bảo Buchanan, Đại sứ của Anh ở Petrograd, rằng theo nguồn tin quân sự của bộ, Zavoiko đang âm mưu lật đổ Chính quyền Lâm thời. Nó cũng không chối là chính Kornilov cũng có tham vọng của riêng mình trong lãnh vực chính trị – việc tôn sùng Kornilov, mà ông ta giúp khởi phát, là một mình chứng cho điều này – và ắt hẳn ông ta đã bị cám dỗ trước những thôi thúc không ngừng của người hậu thuẫn, như Zavoiko, để khai thác tiếng tăm của mình nhằm khắc ghi hình ảnh của mình như một nhà độc tài. Tổng Tư lệnh coi thường Kerensky là ‘yếu đuối và có tính đàn bà’, và thấy  bộ máy quản trị của ông ta phụ thuộc vô hi vọng vào các Xô-Viết. Stepun đúc kết sự va chạm giữa Kornilov và Kerensky như là sự va chạm của hai thế giới khác biệt – thể giới của các sĩ quan và thế giới của các trí thức – bên này không thể hiểu được bên kia.

Việc Kornilov không tin cậy vào Chính quyền Lâm thời có thể đã tăng lên khi Kerensky trù trừ công nhận các cải cách của mình. Vào ngày 10/8 Kornilov xuất hiện không mời tại Cung điện Mùa Đông với cận vệ của mình, trang bị hai súng máy, để thuyết phục Kerensky chấp nhận những đề xuất của ông. Kornilov không được phép nói trước toàn thể nội các, mà chỉ với ‘tam đầu chế’ nội bộ gồm Kerensky, Tereshchenko và Nekrasov. Họ cảnh báo ông đừng hi vọng  những cải cách của mình sẽ sớm biến thành luật. Kornilov và Kerensky to tiếng với nhau, người này lên án người kia đưa đất nước đến chỗ lụn bại. Chiều đó, trong bữa ăn, Kornilov bảo với Rodzianko rằng nếu Kerensky không chịu thông qua cải cách ông ta sẽ cho quân đội chống lại ông. Vào hôm sau đúng là ông chỉ thị cho Lữ đoàn Kỵ binh III, trong đó có Sư đoàn Hoang dã tai tiếng (sở dĩ có tên này là do binh lính thuộc các bộ tộc bản địa vùng Caucassus), chuyển đến đóng ở vùng quanh Velikie Luki, từ đó có thể thẳng đến thủ đô nhanh chóng. Không rõ liệu binh sĩ của Krymov được bố trí để bảo vệ Chính quyền Lâm thời chống lại cuộc nổi dậy Bôn-se-vich tiềm năng một khi cải cách được thông qua, hay là nó có mục đích hăm dọa đảo chính nếu chính quyền không chịu thông qua cải cách. Có lẽ cả hai đều đúng. Kornilov bảo với Tướng Lukomsky rằng mình ‘không có ý định chống lại Chính quyền Lâm thời’ và hi vọng ‘phút cuối cùng sẽ thỏa thuận thành công với nó’, nhưng nếu thất bại ‘có thể cũng cần giáng một đòn cho bọn Bôn-se-vich mà không cần sự tán thành của họ’. Đây không phải là lời thú tội về toan tính lật đổ chính quyền, nhưng là lời hăm dọa cứu nó khỏi cánh Tả, cho dù Kerensky không muốn.

Vậy mà vào thời gian Savinkov đến thăm Stavka, ngày 22-4 tháng 8, Kornilov tin rằng điều này sẽ không cần thiết. Thứ trưởng Bộ Chiến tranh đã trấn an ông rằng Kerensky sắp sửa chuẩn y những yêu sách của ông trong một ít ngày tới. Ông hi vọng rằng điều đó sẽ dẫn đến việc cải cách Chính quyền Lâm thời thành một dạng độc tài tập thể – một Hội đồng Vệ Quốc, như Kornilov thích gọi như vậy – do Kerensky cầm đầu và bao gồm Savinkov, Kornilov và những ‘công chúng’ từ những nhóm yêu nước khác nhau. Sợ một cuộc nổi dậy của Bôn-se-vich – mà các lực lượng Xô-Viết có thể tiếp tay – chống lại việc thiết quân luật, Savinkov cũng yêu cầu Kornilov chuyển Lữ đoàn Kỵ binh III từ Velikie Luki đến Petrograd. Có tin đồn về một cú đảo chính của Bôn-se-vich dự kiến vào cuối tháng 8 và mọi người đồng y sẽ trừng trị thẳng tay. Vào ngày 25/8 Kornilov ra lịnh Krymov chiếm đóng thủ đô, giải tán Xô-Viết và giải giới lực lượng đồn trú trong trường hợp Bôn-se-vich nổi dậy. Ông nghĩ mình đang hành động theo chỉ thị của Kerensky để bảo vệ Chính Quyền Lâm thời, không phải để lật đổ nó.

Nhưng Kerensky vẫn còn phân vân. Chiến lược chính trị của riêng ông kể từ Tháng Hai là dựa vào ý tưởng giạng chân hai bên Tả Hữu: chính vì điều này nên ông mới là nhân vật trung tâm của liên minh và mang ông đến biên giới của độc tài. Nhưng khủng hoảng mùa hè và sự phân cực đang lớn dần giữa Tả và Hữu khiến việc này trở nên khó khăn:  tâm điểm  chính trị, mà ông nhắm đứng trên đó, nhanh chóng biến mất. Xô-Viết không còn tin cậy khả năng của ông – và đúng ra, ước muốn của ông – để bảo vệ những thành tựu của cách mạng chống lại ‘phản cách mạng’; trong khi cánh Hữu trách ông không đủ cứng rắn với Bôn-se-vich. Kerensky không thể quyết phải đi đường nào, dao động một cách tuyệt vọng.

Những đề xuất cải cách của Kornilov buộc ông phải quyết định giữa Hữu và Tả. Đó là một quyết định chẳng khác nào tra tấn đối với ông. Một mặt, nếu ông từ chối đi với Kornilov chắc chắn Kadet sẽ rời bỏ liên minh mỏng manh của ông. Cũng có nguy cơ quân đội đảo chính, mà những Người Tháng Hai, như Kerensky, luôn có khuynh hướng đánh giá cao việc đó, vì trong suốt cuộc đời họ, quân đội lúc nào cũng chống cách mạng. Mặt khác, nếu ông bằng lòng thông qua những cải cách của Kornilov, ông sẽ có nguy cơ cắt đứt với cánh Tả và vi phạm lời cảm kết mình là ‘con tin của dân chủ’. Việc tái lập án tử hình đã làm mờ uy tín cách mạng của ông. Xô-Viết cực lực ra sức chống lại các đề xuất của Kornilov và, không như hồi tháng 7, có thể hậu thuẫn người Bôn-se-vich nổi dậy nếu những đề xuất này biến thành luật. Ngoài ra, Kerensky không tin là việc thiết quân luật có thể thực hiện được. Lực lượng đâu để có thể thi hành một kế hoạch lớn như thế? Có bao nhiêu sĩ quan có can đảm tử hình những binh lính nổi loạn? Ai sẽ cưỡng chế việc quân sự hoá đường sắt và nhà máy, bắn công nhân dám đi biểu tình? Toàn bộ ý tưởng dường như không thực tế.

Trong một nước đi tuyệt vọng Kerensky cho triệu tập một Hội nghị Nhà Nước tại Moscow, tổ chức tai Nhà hát Bolshoi vào 12-14 tháng 8. Kerensky hi vọng rằng hội nghị sẽ hòa giải Tả và Hữu và, trong một nỗ lực nhằm củng cố trung tâm chính trị, mà ông phụ thuộc vào đó, ông cho mời một số lớn ghế cho các đại biểu ôn hòa từ các zemstvo và hợp tác xã. Sergei Semenov được tham dự như một đại biểu của hợp tác xã từ Volokolamsk. Tuy nhiên, trái tim của Kerensky ắt hẳn đã trĩu xuống ngay tại phiên khai mạc. Sự phân cực của nước Nga thể hiện trung thực trong sự sắp xếp ghế ngồi trong khán phòng: bên phải lối đi chính giữa là các tầng lớp trung lưu, các chủ ngân hàng, kỹ nghệ gia và các đại biểu Duma trong áo choàng dài và cổ cồn; trong khi bên trái, đối diện với họ, như trong trận đánh, là các đại biểu Xô-Viết trong áo chẽn công nhân và quân phục. Cảnh tượng khiến nhớ lại phiên khai mạc Viện Duma vào năm 1906; hai nước Nga vẫn không nhích lại gần nhau hơn sau từng ấy năm. Người Bôn-se-vich đã quyết định tẩy chai hội nghị và kêu gọi đình công toàn thành phố. Xe điện không chạy, khách sạn và quán cà phê không mở cửa, kế cả căng tin của nhà hát, vì thế các đại biểu phải tự phục vụ giải khát cho mình.

Kerensky muốn giành trung tâm sân khấu tại hội nghị; nhưng, trong sự giận dữ của ông, Kornilov đã độc chiếm. Vị Tướng khải hoàn tiến vào Moscow ngay giữa hội nghị. Các phụ nữ trung lưu ném hoa chào đón tại Ga Alexandrovsky. Nữ Bá tước Morozova quì gối trước mặt ông, trong khi đảng viên Kadet, Rodichev, kêu gọi ông ‘Hãy cứu nước Nga và một dân tộc biết ơn sẽ tôn vinh ngài.’ Người Đàn Ông trên lưng Bạch Mã’ đã đến. Ông được một đám sĩ quan công kênh từ nhà ga và được hoan hô trên đường phố bởi những đám đông các người yêu nước cánh hữu. Ngồi trên một ô tô mui trần, đi đâu là đoàn mô tô hộ tống mà bất kỳ một nhà độc tài nào của thế kỷ 20 cũng thèm muốn, ông đi hành hương đến nhà nguyện Iversky thiêng liêng, nơi các sa hoàng thường đến cầu nguyện mỗi khi đến Moscow. Ngày hôm sau,ông bước vào phòng hội nghị trong một tràng pháo tay đứng dậy chào đón từ cánh Hữu, trong khi những người cánh Tả ngồi yên như tượng đá. Bài diễn văn của ông nghèo nàn – ngôn từ không phải là sức mạnh của ông – nhưng hình như điều đó không thành vấn đề: vấn đề là ông đứng ở bên nào. Dù với tất cả tài hùng biện hoa mỹ, Kerensky cũng không thể làm gì để làm lu mờ được ông. Bài diễn văn cuối cùng bế mạc hội nghị của Kerensky quá dài dòng. Ngài Thủ tướng nói dông dài thiếu mạch lạc và dường như mất phương hướng. Có một chỗ ông ngừng lại để lấy hơi, và như để thương hại, các đại biểu đứng dậy vỗ tay. Hội nghị đã kết thúc. Kerensky mệt phờ ngồi phịch xuống ghế. Ông vẫn chưa nói hết câu.

Hội nghị Moscow đánh dấu sự thoái trào về tinh thần của Kerensky: hai tháng giữa hội nghị và việc Bôn-se-vich chiếm lấy quyền lực thực sự không hơn một cơn hấp hối kéo dài của Chính quyền Lâm thời. Đây là thời khắc khi giới trí thức dân chủ, đã đầu tư quá nhiều để tạo dựng hình ảnh cho Kerensky, cuối cùng quay ra thù ghét ông.

Kerensky hoàn toàn biết rõ ngày tàn của mình. ‘Tôi là một người ốm,’ ông tâm sự với Savinkov ba ngày sau. ‘Không, không đúng lắm. Tôi đã chết, và tôi không là gì hết. Tại Hội nghị tôi đã chết.’ Dường như chỉ là vấn đề thời gian trước khi ông khuất phục trước Kornilov. Dưới sức ép ngày càng tăng ông hứa với Savinkov sẽ thông qua những cải cách của ông ta, biết rằng làm thế mình rút lại chỉ là bù nhìn khi hợp pháp hóa sự độc tài quân phiệt.

Nhưng rồi, bất ngờ, Kerensky tìm được một cách không ngờ tới để cứu vớt tình thế. Đó là sự can thiệp của V. N. Lvov, một đại biểu Octobrist Duma khóa 4 và gần đây là Tổng Đại diện Hội đồng Tôn giáo Thần thánh, tình nguyện làm trung gian cho Kerensky và Kornilova. Lvov là một trong trong nhiều nhân vật lịch sử Nga dường như bước ra từ tiểu thuyết của Gogol hoặc Dostoevsky. Một người quí tộc không có tài năng hoặc nghề nghiệp gì đặc biệt, ảo tưởng mình được Chúa phú cho sự vĩ đại, vậy mà kết thúc cuộc đời trong cảnh nghèo túng và địên đại sống vất vưởng trên đường phố Paris. Sau khi bị loại khỏi chức Tổng Đại diện Hội đồng Tôn giáo vào tháng 7, ông chui vào nhóm cánh hữu xúi giục Kornilov nắm quyền độc tài. Chính trong trường hợp này mà y tiếp cận Kerensky vào ngày 22/8 và đưa ra đề nghị khuyên ông hợp tác với Kornilov để dung hòa một đường lối tạo ra một ‘chính quyền mạnh’. Kerensky rất thường được các ‘đấng cứu tinh đất nước ‘ tự phong đến xin tiếp kiến và rất ít khi chú ý đến họ. Nhưng người này thì khác. Lvov đã cảnh báo với ông rằng Bộ Tổng Tham mưu đang lên kế hoạch ám sát ông. Kerensky gần đây đã rất quan tâm đến mối đe doạ tiềm năng này. Sau này Kerensky tuyên bố rằng mình không chỉ thị cho Lvov để thỏa thuận với Kornilov; nhưng Lvov không nghĩ như vậy; dường như chắc chắn là, nếu chỉ vì sợ cho mạng sống, ông thực sự chỉ thị cho Lvov tìm hiểu những toan tính của Kornilov. Cũng có thể Kerensky đã có mưu tính sử dụng Lvov cho những điều sắp xảy ra.

Lvov đến Mogilev vào ngày 24/8 và trình diện với Kornilov như là sứ giả của Thủ tướng. Kornilov không hỏi giấy tờ y và điều đó cho thấy là một sai lầm nghiêm trọng (ông sau này nói rằng ông ngỡ Lvov là một ‘người chính trực’). Lvov tuyên bố mình được chỉ thị để tìm hiểu quan điểm của Tướng quân về phương hướng củng cố chính quyền và, theo sáng kiến của mình, đưa ra ba đề xuất: Kerensky nắm quyền độc tài; Hội đồng Đốc chính, tức độc tài tập thể, với Kornilov là một thành viên; hoặc Kornilov quyền độc tài với Kerensky và Savinkov giữ chức bộ trưởng. Cho rằng điều này có nghĩa Kerensky chịu cho mình nắm quyền, nên Kornilov nói mình thích giải pháp cuối cùng, nhưng sẽ sẵn sàng phụ tá Kerensky nếu xét việc đó là tốt nhất. Ông bảo Lvov mời dùm Kerensky đến Mogilev để bàn bạc kỹ hơn vì sợ cho an nguy của mình nếu có đảo chính Bôn-se-vich ở Petrograd. Ngay sau khi buổi họp kết thúc, Lvov trở lại thủ đô. Kornilov rõ ràng có cảm tưởng là mình đang bắt đầu một tiến trình thương thảo với Kerensky để cải cách Chính quyền Lâm thời thành một thể chế độc tài.

Ngày hôm sau, 26/8, Lvov gặp Kerensky lần nữa tại Cung điện Mùa Đông. Y tuyên bố rằng Kornilov giờ đang yêu sách quyền lực cho cả nhân mình (tất nhiên ông ta không nói đúng như vậy) và, theo yêu cầu của Kerensky, liệt kê ba điểm trong ‘tối hậu thư’ của ông ta: áp đặt thiết quân luật tại Petrograd; chuyển giao toàn bộ quyền hành dân sự cho Tổng Tư lệnh; và sự từ chức của tất cả bộ trưởng, kế cả Kerensky, treo lại việc Kornilov sẽ  thành lập nội các mới. Kerensky luôn cho rằng khi ông thấy ba yêu sách này mọi việc trở nên sáng tỏ: Kornilov đang chuẩn bị đảo chính. Thật ra không có gì rõ ràng. Có một điều, người ta có thể hỏi tại sao Kornilov đã chọn một người vô tướng như Lvov để giao bảng yêu sách của mình. Điều khác nữa, sẽ có lý hơn nếu kiểm tra với Kornilov liệu ông ta có thực sự yêu sách được làm Độc Tài không. Nhưng Kerensky không quan tâm đến những chi tiết ấy. Trái lại, ông bỗng nhận ra rằng – và đây không nghi ngờ gì chính là điều ông thực sự cho đó là mặc khải chớp sáng chói loà của mình – rằng chừng nào mà mọi sự đều được giữ cho mơ hồ thì ông có thể thành công trong việc bóc trần Kornilov chính là một người phản quốc âm mưu chống lại Chính quyền Lâm thời. Vận mạng chính trị của ông do đó sẽ sống lại khi cách mạng đoàn kết sau lưng ông đánh bại đối thủ của mình.

Để có chứng cứ về ‘âm muu’, Kerensky đồng ý gặp Lvov tại Bô Chiến tranh tối hôm đó để liên lạc trực tiếp với Kornilov qua máy tê-lếch Hughes (một loại máy telex cổ lỗ). Đến giờ hẹn  Lvov không xuất hiện, vì thế Kerensky bắt đầu trao đổi riêng với Kornilov, trong đó ông nhận mình là Lvov vắng mặt. Ông bảo Kornilov khẳng định lại những gì mà Lvov đã nói với mình (Kerensky) – mà không nói rõ đó là gì – và lặp lại yêu cầu nhân danh Lvov. Kornilov làm theo – mà không biết mình được yêu cầu khẳng định điều gì – và thúc giục Kerensky đến gặp mình ở Mogilev ngay lập tức. Kornilov ắt hẳn tin là đây chỉ là khúc dạo đầu của những thương thảo cho việc cải cách chính quyền. Ông không có nghĩ là những gì mình nói sẽ sớm được Kerensky sử dụng để buộc ông tội phản quốc. Tối đó ông bàn bạc với Tướng Lukomsky và đồng ý là Kerensky và Savinkov sẽ phải có chân trong nội các. Ông cũng gởi những điện tín cho các nhân vật quần chúng khác nhau mời họ đến Mogilev tham gia thương thảo. Khó có thể coi đó là những hành động của một người muốn  thành nhà độc tài.

 Mạng theo bản ghi chép từ máy Hughes và những ‘yêu sách’ của Kornilov, như Lvov đã liệt kê, Kerensky triệu tập nội các vào nửa đêm, tại đó ông trình ra ‘âm mưu phản cách mạng’ với chứng cứ được thành lập và yêu cầu được ban cho ‘quyền hành đầy đủ’ để giải quyết tình trạng khẩn cấp. Không nghi ngờ gì ông hi vọng tự đặt mình vào vai trò người hùng của nước Nga tự do, tuyên bố cách mạng lâm nguy và tập hợp quốc gia sau lưng mình trong cuộc chiến đấu chống Kornilov. Nekrasov nhớ là Kerensky đã nói: ‘Tôi sẽ không ban cho chúng cách mạng, như thể cách mạng là của ông. Savinkov, trong số những người khác, nhận ra có sự hiểu lầm và giục Kerensky liên lạc lần nữa với Kornilov để hỏi ông ta có khẳng định mình đã yêu sách ba điều như Klov liệt ra hay không. Nhưng Kerensky không chịu, và toàn thể bộ trưởng đồng ý với ông đã quá muộn cho bất cứ hoà giải nào. Họ từ chức một loạt, khiến Kerensky có thể thành nhà Chuyên chính – chính cái vị thế mà ông đã lên án Kornilov âm mưu muốn trở thành. Với nội các đã tạm treo ông gởi điện cách chức Kornilov; và rồi vào lúc 4 giờ sáng ngày 27/8, rút lui về phòng mình trong Cung điện Mùa Đông. Nhưng ‘vị Sa Hoàng’ mới của Nga  ắt hẳn quá phấn khích để có thể ngủ được và, theo Lvov, người bị canh chừng ở phòng bên, ông bước tới bước lui hát những bài aria nhạc kịch ưa thích của mình.

Khi Kornilov nhận được điện báo tin mình bị cách chức ông cho rằng Kerensky đã bị bọn Bôn-se-vich bắt làm tù binh. Chỉ có một nội các đầy đủ mới có quyền cách chức Tổng Tư lệnh, trong khi bức điện chỉ có chữ ký ‘Kerensky’. Nó cũng không hợp lý dưới ánh sáng của thỏa thuận ông  tin rằng mình vừa kết thúc qua máy Hughes. Kornilov không chịu từ chức, và ra lệnh cho binh sĩ của Krymov tiến về thủ đô và áp đặt thiết quân luật. Mặc dù lệnh này sau đó được kể như là bằng chứng phạm tội của Kornilov, rõ ràng ông ra lệnh vì hiểu rằng – và phù hợp với lời chỉ dẫn của Savinkov – binh lính của Krymov có nhiệm vụ giải cứu Chính quyền Lâm thời khỏi tay bọn Bôn-se-vich. Nhiều yêu cầu khác nhau kêu gọi làm rõ điểm này bằng cách liên lạc trực tiếp với Kornilov, và nếu việc này được thực hiện toàn bộ khủng hoảng có thể tránh được. Nhưng Kerensky nhất định muốn kết tội Kornilov mà không cần xét xử. Theo lệnh của Kerensky, một ấn bản đặc biệt của báo chí kết án Kornilov tội phản quốc chống cách mạng. Kornilov phản ứng lại bằng cách kêu gọi tất cả tư lệnh Mặt trận bác bỏ sự kiện này do Lvov tiếp tay  như một  ‘khiêu khích lớn’ bởi một chính quyền rõ ràng đã rơi vào sự kiểm soát của bọn Bôn-se-vich và Bô Tham mưu Đức. Ông, Tướng Kornilov, ‘con trai một chiến binh Cô-dắc’, sẽ ‘giải cứu nước Nga’.

Cuối cùng đây là sự nổi loạn: đã bị tố cáo là nổi loạn, Kornilov chọn nổi loạn để đáp trả. Vài vị tướng cao cấp tuyên bố ủng hộ ông. Giờ Kerensky đương đầu với một vụ ‘phản cách mạng’ thực sự. Vào ngày 29/8 ông tự phong là Tổng Tư lệnh mới, với Alexeev là Tham mưu trưởng của mình. Ông đánh điện cho Krymov ra lệnh dừng tiến quân, một số đơn vị đã đến ngoại ô phía nam thủ đô. Ban Điều hành Xô-Viết, chia rẽ về việc có nên ủng hộ Nhà Chuyên chính Cách Mạng hay không, quay sang việc bảo vệ ông ta khi nghe tin Krymov tiến tới. Xô-Viết kêu gọi các người hậu thuẫn trang bị vũ khí chiến đấu chống bọn ‘phản cách mạng’ và biến Smolny thành bộ tư lệnh chỉ huy tác chiến. Không khí trở lại thời Điện Tauride trong những Ngày Tháng Hai, khi những binh sĩ mệt mỏi nằm la liệt quanh trụ sở Xô-Viết đợi chờ các vị tướng tấn công.

Một Ủy ban Chống Phản Cách Mạng được Xô-Viết dựng lên, với ba đại diện cho mỗi đảng Men-se-vich, SR và Bôn-se-vich, để động viên lực lượng bảo vệ thủ đô. Việc này đánh dấu sự trở lại về mặt chính trị của người Bôn-se-vich sau những Ngày Tháng Bảy  và một số vác lãnh đạo Bôn-se-vich tiếng tăm lục tục trở về sau khi được phóng thích khỏi nhà tù không lâu sau đó. Trotsky có mặt trong số đó.  Ủy ban Chống Phản Cách Mạng đại diện cho mặt trận đoàn kết của phong trào Xô-Viết. Nhưng nó thực ra phụ thuộc vào tổ chức quân sự của Bôn-se-vích, mà không có nó, theo lời của Sukhanov, Ủy ban chỉ biết ‘ngồi chơi xơi nước, với lời kêu gọi và diễn văn vu vơ của những người đã mất hết quyền hành.’ Chỉ có Bôn-se-vich có khả năng động viên và vũ trang quần chúng công nhân bình sĩ, và hiện giờ họ đang cộng tác mật thiết với các đồng chí trong Xô-Viết. Trên khắp vùng kỹ nghệ phía bắc những ủy ban cách mạng đặc biệt được thành lập song hành với Ủy ban Chống Phản Cách Mạng. Một số tự gọi mình là ‘Uỷ ban An toàn Công chúng’ bắt chước phe Jacobin. Không có lãnh đạo thực sự của phong trào tạm thời này. Lực lượng đồn trú ra lệnh báo động và phái những phân đội binh sĩ bảo vệ cách mạng. Các thủy thủ Kronstadt lại xuất hiện lần nữa, trước để lật đổ Chính quyền Lâm thời, còn lần này để bảo vệ nó. Hồng Vệ binh và các nghiệp đoàn tổ chức phòng thủ nhà máy. Vikzhel, Nghiệp đoàn Công nhân Đường sắt, dựng lên một văn phòng để chiến đấu với lực lượng của Krymov và xoay sở để cản trở bước tiến của họ về Petrograd bằng cách giữ lại máy móc và cản trở tuyến đường sắt.

Trong khi đó, binh lính của Krymov bị những người kích động Xô-Viết quấy rối. Họ không muốn lật đổ Chính quyền Lâm thời – Kornilov đã chỉ thị là bảo vệ nó chống lại Bôn-se-vich mà – và khi mà họ được bảo không có nguy cơ gì từ cánh Tả, họ liền buông bỏ vũ khí. Trái với huyền sử Xô-Viết, không có giao tranh thực sự xảy ra trong việc đánh gục Kornilov. Điểm cốt yếu sẽ là gì? Cả hai bên đều nhằm bảo vệ Chính Quyền Lâm Thời, và ngay khi điều này được xác nhận họ trở thành bạn. Sư đoàn Hoang dã được thuyết phục không đánh đấm bởi một phái đoàn đồng hương, người Hồi giáo Caucassus, tình cờ dự hội nghị Xô-Viết ở Petrograd vào thời điểm đó. Các kỵ binh kéo cờ đỏ ghi dòng chữ ‘Ruộng đất và Tự do’, bắt giữ các chỉ huy, và gởi một phái đoàn đến Petrograd với cam kết trung thành với chính quyền. Chuyến tàu chở Sư đoàn Don Cô-dắc 1 với Krymov và ban tham mưu, bị các công nhân đường sắt chặn lại ở Liga. Những đại biểu từ Xô-Viết phiền hà họ bằng những lời lẽ tuyên truyền qua cửa sổ. Krymov không thể làm gì – lính Cô-dắc theo về phe Xô-Viết hàng loạt. Vào ngày 30/8 ông đồng y đi đến Petrograd với một đại diện chính quyền và, ngày hôm sau được gặp Kerensky. Krymov cố gắng giải thích mình mang binh lính tới là để bảo vệ chính quyền. Nhưng Kerensky không nghe gì và ra lệnh sẽ xử ông ở tòa án binh. Krymov bỏ đi trong tuyệt vọng và đi đến căn hộ một người bạn. Anh nói với bạn: ‘Lá bài cuối cùng để cứu Tổ quốc đã bị ăn đứt – cuộc đời không còn gì đáng sống.’ Rút lui vào phòng riêng, ông viết vài lời cho Kornilov, rồi bắn qua tim.

* * *

Cuộc nổi loạn của Kornilov đã qua. Ngày hôm sau, 1/9, Alexeev nắm quyền Stavka, và Kornilov bị quản thúc tại nhà, rồi chuyển đến Tu viện Bykhov, gần Mogilev, nơi ông bị giam với 30 sĩ quan khác bị nghi có dính líu vào ‘âm mưu phản cách mạng’. Nhưng nếu Kerensky đã hi vọng củng cố quyền lực của riêng mình bằng cách đánh bại Kornilov, thế thì chính xác ông đã được điều ngược lại. Vụ Kornilov, như giờ này được biết, hóa ra là một cây đinh đóng vào nắp hòm của chính ông. Nó chỉ làm tăng tốc sự phân cực xã hội và chính trị vốn đã làm xói mòn nền tảng của Chính quyền Lâm thời từ đầu mùa hè và theo nghĩa này đẩy cách mạng đến gần hơn đoạn kết tháng 10 của nó.

Một bên, Kerensky đã làm hỏng chết người mối quan hệ với cánh Hữu, mà đến giờ phút này vẫn còn trung thành với Kornilov và lên án Kerensky đã phản bội chính nghĩa của họ. Kornilov trở thành thánh tử đạo chính trị cho tất cả ai đổ lỗi cho chế độ Kerensky gây ra hỗn loạn tràn lan khắp nước. Về phương diện này, Vụ Kornilov có tác động chính trị lớn nhất sau khi nó đã kết thúc. Tu viện Bykhov hẳn nhiên được những người có cảm tình với phong trào Kornilov điều hành, vì điều kiện trong tù rất ư thoải mái. ‘Chúng tôi có cảm tưởng mọi người hơi lúng túng khi phải hành xử như những giám thị của chúng tôi,’ Anton Denikin nhớ lại. Kornilov được phép giữ lại đội cận vệ Thổ trung thành; và được quyền ra lệnh cho toàn bộ cấp dưới trong tù; gia đình sĩ quan được thăm viếng ngày hai lần (hôn thê của Denikin được sống chung trong tù); và thậm chí có đường dây liên lạc với Bộ Tổng Tham mưu, nơi phong trào Kornilov còn được nhiều hậu thuẫn. Các tù nhân Bykhov sau này sẽ trở thành hạt nhân thành lập – và do Kornilov và Denikin lãnh đạo – của Quân đoàn Tình nguyện, lực lượng Bạch vệ chủ yếu trong cuộc nội chiến. Chính trong Bykhov mà cương lĩnh của Quân đoàn Tình nguyện được phát thảo. Nó vừa loại ra Kerensky lẫn Bôn-se-vich. Thật ra, trong thời gian Bôn-se-vich chiếm lấy quyền lực không có phần tử nào trong số này đến bảo vệ Chính quyền Lâm thời.

Thế đứng bên Tả của Kerensky cũng yếu đi. Quần chúng công nhân và binh sĩ đã tập kết để bảo vệ Chính quyền Lâm thời trong thời gian khủng hoảng Kornilov giờ đâm ngờ vực Kerinsky có phần nào dính líu vào phong trào Kornilov. Nhiều người xem toàn bộ vấn đề như là mối hiềm khích cá nhân giữa hai người đều muốn làm Napoleon. Nhưng những người khác tin rằng Kerensky đã nằm trong liên minh với Kornilov, rồi sau đó đã tròng các kế hoạch ‘phản cách mạng’ của mình lên đầu ông ta. Sự quyết đoán càng được củng cố khi Kerensky không chịu tiến hành thủ tục dân chủ sau khi khủng hoảng đã qua. Có một điều, không có cuộc điều tra thực sự nào về vụ án, và điều này càng đổ thêm dầu vào mối nghi ngờ là Kerensky có điều gì đó che giấu. Việc ông ta tiếp tục ủng hộ liên minh với Kadet (rõ ràng đã kết giao với phong trào Kornily) và việc bổ nhiệm Alexeev (người được tin là có cảm tình với phong trào đó) được xem như là những lý do phụ thêm cho ngờ vực đối với tính toán của Kerensky.

Tập thể binh sĩ ngờ vực sĩ quan của mình ủng hộ Kornilov, kết quả là kỷ luật quân đội càng thê thảm. Hàng trăm sĩ quan bị binh lính mình bắt giữ – một số bị hành quyết hoặc đánh đập tàn nhẫn – vì bị gán tội ‘phản cách mạng’. Hội đồng quân nhân thông qua những nghị quyết trao quyền lực cho Xô-Viết và xúc tiến hoà bình. Cuộc khủng hoảng Kornilov đã nâng cao nhận thức trong hàng ngũ binh sĩ rằng hoà bình chỉ đạt được khi bản chất của quốc gia được thay đổi. Họ không còn dễ dàng tin vào lời hứa của các lãnh đạo ‘dân chủ’, và bắt đầu đòi quyền tự quyết. Điều này phản ánh trong áp lực từ bên dưới đòi mở hội nghị quân sự để thảo luận quyền lực và hòa bình. Nhưng đối với đa số binh lính có một giải pháp đơn giản hơn – đầu phiếu bằng chân tức đào ngũ. Trong những tuần tiếp sau khủng hoảng Kornilov tỉ số đào ngũ tăng vọt, với khoảng 10,000 người bỏ đơn vị mỗi ngày. Hầu hết đều là nông dân, háo hức trở về làng, vì mùa thu hoạch giờ đang rộn rã. Họ thường dẫn đầu trong trận tấn công vào thái ấp và giúp đỡ thành lập quyền hành Xô-Viết địa phương. Các tư lệnh cao cấp bắt đầu nhận ra rằng với đà đào ngũ này không thể nào tiếp tục chiến tranh. Phong trào Kornilov, nhắm đến việc giải cứu quân đội, đã kết thúc bằng việc phá hủy nó.

Trong những thành phố kỹ nghệ lớn cũng có những tiến trình cực đoan hóa tương tự xảy ra sau cuộc khủng hoảng Kornilov. Người Bôn-se-vich hưởng lợi chính từ sự kiện này, thắng đa số đầu tiên trong Xô-Viết Petrograd vào ngày 31/8. Không có phong trào Kornilov, họ có vẻ không bao giờ đạt đến quyền lực. Vào ngày 4/9 Trotsky cuối cùng được thả, cùng với hai nhà lãnh đạo Bôn-se-vich khác, Antonov-Ovseenko và P. E. Dybenko, những người được số phận giao cho vai trò nổi bật trong việc chiếm lấy quyền lực. Tổ chức Quân sự Bôn-se-vich, đã bị buộc đi vào bí mật sau những Ngày Tháng Bảy, giờ có thể mở rộng các hoạt động lật đổ dưới lớp vỏ ngụy trang

là người lo về quân sự trong  Ủy ban Chống Phản Cách Mạng. Hồng Vệ binh và các thủy thủ Kronstadt, sẽ là những bộ binh trong Tháng Mười, cũng trở nên hùng mạnh hơn. Toàn bộ là cuộc diễn tập cho việc cướp chính quyền, đặc biệt với công nhân, được huấn luyện sử dụng vũ khí. Khoảng 40,000 người được trang bị vũ khí trong khủng hoảng Kornilov, và hầu hết đều giữ lại súng sau khi khủng hoảng đã qua. Như Trotsky đã nói, ‘quân đội đứng lên để chống lại Kornilov là quân đội của cách mạng tháng Mười’.

Chiến thắng của Kerensky với Kornilov cũng là thảm bại chính trị của ông. Ông đã nắm được quyền lực độc tài nhưng mất tất cải quyền hành thực sự. ‘Uy tín của Kerensky và Chính quyền Lâm thời’, vợ Kerensky viết, ‘hoàn toàn bị  Vụ Kornilov phá hủy; và ông gần như không có người hậu thuẫn nào.’ Hội đồng Đốc chính năm người *, được thành lập vào ngày 1/9 và được sử dụng như một cấu trúc mỏng manh cho quyền độc tài của riêng Kerensky cho đến khi vấn đề quyền lực được giải quyết tại Hội nghị Dân chủ vào giữa tháng 9, chỉ gồm những kẻ tầm thường vô danh. Thành tựu duy nhất của chính quyền nhạc kịch hài này là tuyên bố nước Nga là một nền ‘cộng hoà’, mặc dù tuyên bố này phải do Quốc hội Lập hiến chính thức đưa ra. Đó là điển hình của một chính quyền chỉ tồn tại trên giấy; không ai chú ý đến nó. Quá các hành lang của Cung điện Mùa Đông, tất cả sắc lệnh của Kerensky đều bị phớt lờ. Có một khoảng trống quyền lực; và chỉ còn một vấn đề ai sẽ dám lấp đầy nó

*  Ngoài Kerensky, còn có: Tereshchenko (Ngoại trưởng); General Verkhov-sky (Chiến tranh); Admiral Verderevsky (Thủy quân); và A. M. Nikirin (Bưu Điện).

 

iv Những Chàng Hamlet của Chủ Nghĩa Xã Hội Dân Chủ

On s’engage et puis on voit.’ (Tiếng Pháp: Ta dấn thân và rồi ta thấy) Lênin thích nêu câu tục ngữ này của Napoleon. Nó diễn tả hoàn hảo triết lý cách mạng của ông: rằng cách mạng không tự tạo ra, mà phải do các lãnh tụ của chúng tạo ra. Lịch sử từ lâu thôi không còn là sự ghi chép những thành tựu của những con người phi thường: giờ đây tất cả chúng ta đều là các sử gia xã hội. Vậy mà lộ trình lịch sử có đầy những cú ngoặt bất ngờ chỉ có thể giải thích bởi kỳ tích của những lãnh tụ vĩ đại. Điều này đặc biệt đúng trong trường hợp cách mạng, khi các con sóng sự kiện có thể dễ dàng bị đảo lộn. Việc chiếm chính quyền tháng 10 là một ví dụ điển hình: ít có sự kiện lịch sử nào trong thời hiện đại minh họa tốt hơn tác dụng có tính chất quyết định của một cá nhân trên tiến trình của lịch sử. Không có sự can thiệp của Lênin chắc chắn cách mạng không bao giờ xảy ra- và lịch sử thế kỷ 20 sẽ rất khác.

.Vai trò của Kerensky nổi bật trong một tương phản trần trụi: ông hoàn toàn không thể kiểm soát các sự kiện. Những ai ở bên cạnh ông trong những tuần lễ cuối cùng này sẽ chứng kiến sự cô lập đang lớn dần của ông, ý chí sút giảm, sợ hãi gần như làm tê liệt cánh Tả, và trù trừ không dám ra những quyết định thích hợp chống lại nó. Những căng thẳng liên tục và những đêm không ngủ của năm 1917 đã bắt đầu ảnh hưởng tồi tệ đến sức khỏe ông – và giờ ông phải sống nhờ móc-phin và cô-cain.

Ekaterina Breshko-Breshkovskaya, cựu đảng viên SR và ‘bà ngoại của cách mạng’, đã chuyển về sống với Kerensky trong Cung điện Mùa Đông. Vào cuối tháng 7 các lãnh đạo Bôn-se-vich họp  tại Petrograd trong Đại hội Đảng Lần thứ 6 của họ. Bà xin Kerensky bắt giữ họ; nhưng ông từ chối, viện cớ cho có lệ là mình không biết họ họp ở đâu. Theo David Soskice, thư ký riêng của Kerensky, bà già tóc muối tiêu liền:

Quì xuống đất trước mặt Kerensky và lặp lại vài lần bằng giọng nói van xin khẳn thiết: ‘Già này xin ngài, Alexander Fedorovich, hãy dẹp hết Bôn-se-vich, nếu không chúng sẽ hủy diệt xứ sở của ngài và cách mạng.’ Đó là một cảnh tượng đau lòng. Nhìn người bà của Cách mạng Nga đã trải qua 38 năm trong tù và ở Siberia trong cuộc chiến đấu vì tự do của mình, nhìn thấy cảnh người bà cao quý và có văn hóa này quì mọp xuống đất theo kiểu chính thống giáo cổ xưa trước chàng trai trẻ Kerensky . . . Là một cảnh tượng tôi không bao giờ quên. Tôi nhìn Kerensky. Gương mặt vốn tái xanh của ông càng tái nhạt hơn. Đôi mắt phản ánh cuộc chiến đấu khủng khiếp đang xảy ra bên trong ông. Ông im lặng một lúc lâu, rồi cuối cùng cất tiếng trầm buồn: ‘Tôi biết làm thế nào?’ ‘Làm đi, A. F. , Già xin ngài đó’, và một lần nữa Babushka cúi gập người xuống đất. Kerensky không thể chịu được nữa. Ông bật dậy và chụp lấy điện thoại. ‘Trước tiên tôi muốn biết Hội nghị họp ở đâu và hội ý với Avksentiev ngay’, rồi ông gọi cho Bô Nội vụ. Nhưng Avksentiev không có ở văn phòng và vấn đề hoãn lại. Tôi nghĩ có lẽ Kerensky thấy nhẹ nhõm.

Hội nghị vẫn tiếp diễn không bị bắt bớ – và ba tháng sau người Bôn-se-vich chiếm được quyền lực.

Một trong nhiều dữ kiện nổi bật về việc chiếm quyền của Bôn-se-vich là nó đã được dự trù quá lâu mà không có ai sử dụng biện pháp nào để ngăn chặn: tê liệt của Chính quyền Lâm thời là như thế. Trong buổi tối ngày 25/10, khi các bộ trưởng ngồi trong Cung điện Mùa Đông đợi phút cuối cùng sẽ điểm, nhiều người trong số họ chỉ muốn nguyền rủa Kerensky vì đã không phá vỡ Đảng Bôn-se-vích sau những ngày Tháng Bảy. Nhưng việc đàn áp hợp pháp chống lại họ chắc chắn không thể đảo ngược mức ảnh hưởng đang tăng lên của họ. Nhưng sự thật là chính quyền không có biện pháp lẫn quyền hành để đàn áp một phong trào đã ăn rễ sâu vào quần chúng.

Sự phân cực xã hội trong mùa hè đã  cho Bôn-se-vich một số lượng đông đảo người theo đảng. Khủng hoảng Kornilov là một bước ngoặt quan trọng, vì dường như nó khẳng định thông điệp là hòa bình lẫn thay đổi xã hội triệt để không thể đạt được qua sự thỏa hiệp chính trị với bọn tư sản. Các hãng xưởng lớn trong thành phố chính, nơi ý thức đoàn kết giai cấp công nhân phát triển nhất, là những nơi đầu quân số đông vào Bôn-se-vich. Vào cuối tháng năm, đảng đã nắm quyền kiểm soát Văn phòng Trung tâm Ủy ban Nhà máy và, mặc dù các hoạt động nghiệp đoàn của đảng Men-se-vich vẫn còn lên cao cho mãi đến năm 1918, đảng Bôn-se-vich cũng thông qua được những nghị quyết của mình tại các hội đồng nghiệp đoàn quan trọng. Các nhà  hoạt động Bôn-se-vich trong các hãng xưởng thường là trẻ, thuộc giai cấp lao động và tích cực  hơn các đối thủ Men-se-vich hay SR. Điều này khiến họ thu hút đối với các công nhân chuyên lẫn không chuyên

 Khi mạng lưới tế bào đảng tại các hãng xưởng đã phát triển  Bôn-se-vich bất đầu kết nạp đảng viên trong số thành phần lao động, và kết quả là tài chính của họ tăng lên nhờ đảng phí thu được. Tại Đại hội Đảng lần 6 vào cuối tháng 7 chắc chắn số đảng viên Bôn-se-vich là 200,000, đến trước tháng 10 lên đến 350,000, và đại đa số là các công nhân cổ áo xanh.

 Người Bôn-se-vich đạt được thắng lợi ngoạn mục trong những kỳ tuyển cử Duma thành phố vào tháng 8 và 9. Ở Petrograd họ được tỉ số phiếu phổ thông từ 20 phần trăm vào tháng 5 tăng lên 33 phần trăm vào tháng 8. Ở Moscow, nơi Bôn-se-vich chỉ được vỏn vẹn 11 phần trăm vào tháng 6, vọt lên dẫn đầu với 51 phần trăm số phiếu bầu vào ngày 24/9, trong khi SR rớt thê thảm từ 56 xuống còn 14 phần trăm, và Men-se-vich từ 12 còn 4 phần trăm. Kadet, trái lại, vì là đảng duy nhất đại diện cho phe tư sản, tăng từ 17 đến 31 phần trăm. Kết quả bầu cử này làm nổi bật tính phân cực chính trị của đất nước – Dan gọi đó là ‘cuộc nội chiến trở lại’ – khi các cử tri quay sang hai đảng cực đoan với lời kêu gọi mang tính giai cấp rõ rệt. Sự dửng dưng của những người ngoại cuộc – đặc biệt những thành phần như thư ký văn phòng, buôn bán nhỏ và bán hàng, hiển nhiên là không theo phe đảng nào hoặc giai cấp nào – khiến cho đảng Bôn-se-vich thắng lợi. Sáu tháng chính trị không kết quả và những khủng hoảng nội các không dứt khiến họ không còn tin vào thùng phiếu. Các đảng dân chủ không mặn mà với chiến dịch tranh cử khiến số đông các cử tri không màng đến địa điểm bỏ phiếu. Ở Petrograd số cử tri đi bầu giảm một phần ba từ tháng 5, trong khi Moscow giảm gần phân nửa. Điều này tất nhiên làm lợi cho phe Bôn-se-vich, vốn tổ chức tranh cử rất năng nổ và bài bản hơn bất kì đảng nào khác. Có bao nhiêu cử tri chán ngán dân chủ dồn phiếu bầu cho Cộng sản?

Một chuyển hướng tương tự sang Bôn-se-vich xảy ra trong các  Xô-Viết. Ở đây cũng vậy, sự dửng dưng của quần chúng đã lấy mất đi của người Men-se-vich và SR sự hậu thuẫn trước đây lên cao của họ. Thoạt đầu, các Xô-Viết là các cơ quan công khai và dân chủ, tại đó những quyết định quan trọng được biểu quyết bởi các hội đồng được cử ra. Điều này khiến hoạt động của họ phần nào hỗn loạn, nhưng cũng gây ra hào hứng và có tính sáng tạo tập thể. Khi các lãnh đạo bắt đầu tham gia vào những nhiệm vụ chính quyền họ bắt đầu tổ chức hoạt động của các Xô-Viết theo hướng hành chính, và việc này khiến quần chúng trở nên xa cách với họ. Các phiên họp hội đồng từ từ thưa dần và vắng dần khi sáng kiến nhường chỗ cho điều hành và các ủy ban gần như là cơ quan hành chính, trong đó các thành viên của chúng càng ngày càng được chỉ định bởi các vụ họp kín trong đảng. Từ những cơ quan quần chúng trực tiếp tự trị, các Xô-Viết  đã bắt đầu biến thành những cấu trúc hành chính phức tạp, nhất là sau 1917. Lúc đó đây dường như là một phát triển tự nhiên: các công nhân được xem là thiếu kinh nghiệm chính trị cần thiết để đảm đương nhiệm vụ của chính quyền, trong khi các đảng trong Xô-Viết, vì các tình đồng chí cũ trong phong trào cách mạng, nên tự động tập trung quyền lực mà không mang tiếng là lạm dụng quyền lực phe đảng. Tất nhiên điều này là ngây thơ – và chỉ được chơi trong tay của người Bôn-se-vich, những ông chủ không tranh cãi của nền chính trị đảng phái, những người không ngừng sử dụng ngày càng nhiều những chiến thuật như thế để nắm quyền kiểm soát các ban điều hành Xô-Viết. Trong hàng chục Xô-Viết tỉnh lỵ người Bôn-se-vich xoay sở để đạt được đa số trong ban điều hành, mặc dù họ chỉ chiếm thiếu số trong hội đồng. Thông thường họ cho một bộ phận công nhân do họ điều khiển trà trộn với một bộ phận quân nhân và nông dân và, vì ‘vai trò lãnh đạo’ của trong phong trào cách mạng, công nhân được cho nhiều ghế hơn trong ban điều hành: ở Xô-Viết tỉnh Samara, chẳng hạn, người Bôn-se-vich chiếm 75 phần trăm ban điều hành trong khi chỉ chiếm 26 phần trăm trong hội đồng.

Nhưng sự áp đảo tăng lên của người Bôn-se-vich không chỉ do trò mưu mẹo đảng phái của họ: họ tác động không chỉ từ trên xuống mà còn từ dưới lên. Sự hành chính hóa các Xô-Viết đã giãn cách họ với cuộc sống của những công nhân bình thường, vốn bắt đầu giảm tham gia vào các Xô-Viết và không còn thiết đến chính trị hoặc quay sang tham gia những bộ phận đặc biệt của riêng họ như ủy ban trong nhà máy để có những sáng kiến độc lập. Điều này làm tăng thêm sức mạnh cho chiến dịch của Bôn-se-vich, vốn phần lớn thông qua những kênh của tổ chức quần chúng, vì đẩy những người Men-se-vich và SR ra khỏi các Xô-Viết là một phần  của mũi tiến công của Lênin tiến đến quyền lực của Xô-Viết. Việc làm sống lại các Xô-Viết sau khủng hoảng Kornilov do đó trùng hợp với sự cực đoan hóa của họ từ bên dưới, khi các hãng xưởng và lực lượng đồn trú ‘không chơi’ với người Men-se-vich và SR thân liên minh để về phe các người chiếm đa số (Bôn-se-vich, Anarchist, và SR tả khuynh), những người kêu gọi quyền lực Xô-Viết.

Ngay từ tháng 8, Bôn-se-vich đã giành được quyền kiểm soát  các Xô-Viết trong Ivanovo-Voznesentsk, Kronstadt, Ekaterinburg, Samara và Tsaritsyn. Nhưng sau khủng hoảng Kornilov nhiều Xô-Viết khác theo gương: Riga, Saratov và Moscow. Thậm chí Xô-Viết Petrograd cũng rơi vào tay Bôn-se-vich. Vào ngày 31/8 nó thông qua một kiến nghị của Bôn-se-vich kết án chính sách liên minh của các lãnh đạo Xô-Viết và kêu gọi thành lập một chính quyền Xô-Viết. Phân nửa đại biểu được bầu không có mặt tại phiên họp lịch sử này, mặc dù một số đại biểu Men-se-vich và SR bầu chống lại các lãnh đạo đảng của họ. Các lãnh đạo hăm dọa từ chức nếu số phiếu bầu không đảo ngược tại kỳ họp thứ hai vào ngày 9/9. Nhưng một lần nữa kiến nghị của Bôn-se-vich được thông qua. Trotsky, xuất hiện lần đầu tiên kể từ khi được ra tù, giải quyết một đòn ngôn từ quyết định bằng cách bắt buộc các lãnh đạo Xô-Viết công nhận Kerensky, vào thời gian này được nhiều người coi là một tên ‘phản cách mạng’, vẫn còn là một thành viên trong ban điều hành của họ. Vào ngày 25/9 ban lãnh đạo của Xô-Viết Petrograd hoàn toàn được điều chỉnh, với Bôn-se-vich chiếm 4 trong 7 ghế trong ban điều hành và Trotsky thay Chkheidze ngồi ghế Chủ tịch. Đây là sự khởi đầu của một kết thúc. Theo lời Sukhanov, Xô-Viết Petrograd giờ là vệ binh của Trotsky, sẵn sàng đợi lệnh ông là ào tới liên minh.

Chính nghĩa của Bôn-se-vich đã mạnh hơn bội phần kể từ khi Trotsky bước chân vào đảng. Không có ai khác  trong ban lãnh đạo sánh ngang với ông về phương diện ăn nói trước công chúng, và trong phần lớn thời kỳ cách mạng chính điều này đã khiến Trotsky, có thể hơn cả Lênin, trở thành nhà lãnh đạo được biết tiếng nhiều nhất trong xứ. * Trong khi Lênin vẫn là chiến lược gia hàng đầu của đảng, chủ yếu hoạt động đằng sau hậu trường, còn Trotsky trở thành suối nguồn chủ lực tạo nên hứng khởi cho quần chúng. Trong những tuần lễ trước ngày chiếm chính quyền ông gần như diễn thuyết mỗi đêm trước khán phòng đông nghẹt ở Cirque Moderne. Với giọng nói sang sảng, lập luận đanh thép và sự hóm hỉnh xuất thần, ông thôi miên thính giả với lời tố cáo Chính quyền Lâm thời. Bài diễn văn của ông có tính văn học (một số được thu băng). Xuất phát từ kỹ năng chọn từ biểu cảm, ngôn ngữ giàu hình tượng, nhịp điệu mạnh mẽ và đầy xúc cảm, và, có lẽ trên hết, phong thái kế chuyện dung dị mà ông sử dụng để đưa người nghe vào tình tiết mang tính luân lý từ đó ông rút ra những kết luận chính trị. Ông luôn thận trọng khi sử dụng những minh họa và đối chiếu từ thực tế cuộc sống của thính giả. Điều này khiến cho những bài diễn văn của ông mang tính thân thiết và nhờ đó ông lấy được tiếng tăm là ‘người của chúng ta’. Chính điều này đã cho ông sức mạnh phi thường để làm chủ đám đông, ngay cả đôi khi trước một thính giả thù địch. Sự cố với Chernov trong những Ngày Tháng Bảy là một ví dụ tốt, cũng như những tình huống trong thời kỳ nội chiến, khi Trotsky thuyết phục những băng đảng đào ngũ nguy hiểm khỏi Hồng quân để trở lại Mặt trận chống Bạch vệ.

*  Đã từng có cạnh tranh cá nhân khiến Trotsky không thể vào đảng Bôn-se-vich sớm hơn, mặc dù không có sự khác biệt ý thức hệ thực sự nào giữa ông và Lênin trong năm 1917. Ông không thể tự mình xuống nước xin vào đảng của Lênin  – một đảng mà ông đã từng phê phán quá đáng trong quá khứ. Như Lênin có lần trả lời khi được hỏi điều gì còn làm ông và Trotsky xa cách: ‘Này anh không biết à? Tham vọng, tham vọng, tham vọng.’ (Balabanoff, Cuộc đời Tôi, 175-6).

 

Trotsky mang theo Mezhraionka với mình vào đảng. Mezh-raionka, hay nhóm Liên-Quận, là một phe phái gồm những người SD theo chủ nghĩa quốc tế có mối quan hệ tốt với lực lượng đồn trú Petrograd. Tầm quan trọng của nó xuất phát không hẳn từ số lượng người theo nó (chắc chắn ít hơn 4,000 thành viên) mà từ tầm vóc những người lãnh đạo nó. Thực sự nó chỉ gồm một nhóm các tướng lĩnh xuất sắc mà không có binh sĩ. Vậy mà trong đó Bôn-se-vich sẽ thu nhận được một số nhà tổ chức, lý thuyết gia, nhà bút chiến tài ba nhất của họ: Trotsky, Lunacharsky, Antonov-Ovseenko, Ryazanov, Uritsky, Manuilsky, Pokrovsky, Yoffe và Volodarsky. Nhiều người trong số họ sẽ đóng vai trò nổi bật trong việc chiếm đoạt quyền lực và sau này trong việc phát triển chế độ Xô-Viết.

Vận hội lên cao của người Bôn-se-vich trong mùa hè và thu chủ yếu là nhờ sự kiện họ là đảng chính trị lớn duy nhất hậu thuẫn không hòa giải cho quyền lực Xô-Viết. * Điểm này cần nhấn mạnh, bởi vì một trong những quan niệm sai lầm căn bản của Cách Mạng Nga là cho rằng người Bôn-se-vich được đẩy tới quyền lực nhờ làn sóng ủng hộ của quần chúng dành cho đảng. Cuộc vùng dậy tháng 10 là một cú đảo chính, được hậu thuẫn tích cực bởi một thiểu số dân chúng (và đúng ra bị một vài lãnh đạo trong đảng Bôn-se-vich chống đối) . Nhưng nó xảy ra trong lòng một cuộc cách mạng xã hội, trọng tâm là vào sự nhận thức phổ biến về quyền lực Xô-Viết như là sự phủ định nhà nước và quyền tự trị trực tiếp của nhân dân, giống nhiều với lý tưởng volia (tiếng Nga: tự do) của nông dân thời cổ. Khoảng trống chính trị sinh ra do cuộc cách mạng xã hội này khiến Bôn-se-vich có thể chiếm lấy quyền lực trong các thành phố và củng cố chế độ độc tài vào mùa thu và đông. Khẩu hiệu ‘Tất Cả Quyền Lực Về Tay Xô-Viết!’ là một công cụ hữu dụng, một lá cờ hợp pháp hoá phổ quát che đậy tình trần trụi của tham vọng Lênin (đúng hơn là  ‘Tất Cả Quyền Lực Về Tay Đảng). Sau này, khi bản chất chuyên chính Bôn-se-vich đã rõ ràng, đảng đối diện với sự chống đối lên cao của chính những thành phần trong  xã hội mà vào 1917 đã tập kết sau lưng khẩu hiệu Xô-Viết.

*  Men-se-vich và SR chỉ có những phe cánh tả thiểu số hậu thuẫn cho chính quyền Xô-Viết, về chuyện này sẽ nói rõ ở những trang sau.

 

Yêu sách phố biển cho quyền lực Xô-Viết chưa hề được thể hiện trong ý muốn một nền độc tài của bất kỳ một đảng đặc biệt nào. Dòng thác của những nghị quyết, thỉnh nguyện thư và tuyên bố từ các hãng xưởng, đơn vị quân y và làng xã, sau cuộc khủng hoảng Kornilov, đều hậu thuẫn một chính quyền Xô-Viết với tất cả đảng xã hội cùng tham gia thành lập, và thường bày tỏ một sự thiếu kiên nhẫn sâu sắc trước những tranh chấp đảng phái giữa họ. Ngôn ngữ chính trị của họ về cơ bản không thay đối kể từ 1905: hình ảnh lấn át trong tâm khảm họ là hình ảnh của ‘narod’ (tiếng Nga: nhân dân), trong công cuộc đấu tranh giành tự do chống lại Kerenshchina (tiếng Nga: chế độ áp bức). Đúng là chế độ áp bức sau này được mô tả như là ‘tư sản’, chắc chắn là do ảnh hưởng tuyên truyền kích động của người Mác-xit và đặc biệt Bôn-se-vich. Nhưng khái niệm căn bản của những nghị quyết này, mà những người kích động lắp ghép vào đó ngôn ngữ giai cấp, về bản chất vẫn là một cuộc đấu tranh quần chúng giữa ‘ta’ và ‘chúng’, nizy và verkhi, giữa thường dân và nhóm ưu tú có đặc quyền cầm đầu chính quyền. Cảm xúc lấn át là cảm xúc phẫn nộ và bực tức vì không đạt được điều gì cụ thể, không có hoà bình, không có bánh mì, không có ruộng đất, sáu tháng sau Cách Mạng Tháng Hai, và trừ khi quyết định đoạn tuyệt với  tư sản trong liên minh, nếu không chỉ thêm một mùa đông nữa trong bế tắc.

Cái mà công nhân nhìn thấy ở quyền lực Xô-Viết, trên mọi thứ, là cơ hội kiếm soát môi trường nhà máy của họ. Họ muốn qui định mối quan hệ công nhân theo ý họ, ấn định lương bổng và điều kiện làm việc, và đánh bọn ‘phá hoại’, giảm sản lượng có mưu tính của bọn chủ hám lợi, mà nhiều công nhân đổ lỗi cho khủng hoảng kỹ nghệ. Trong bầu không khí sôi nổi đấu tranh giai cấp này, các công nhân càng ngày càng mất kiên nhẫn với sự lãnh đạo phong trào lao động của những ngườì Men-se-vich: chính sách của họ là làm trung gian nhưng tranh chấp lao động và hòa giải với chủ nhân gặp thất bại trong việc giải quyết nạn thất nghiệp đang tăng nhanh. Nhiều công nhân, đặc biệt những công nhân chịu ảnh hưởng của Bôn-se-vich, nhìn thấy cách giải quyết trong việc trưng thu nhà máy (hay quốc hữu hóa) bởi một Nhà Nước của Công Nhân, gọi là ‘Quyền lực Xô-Viết’ , sẽ lập ra một ban quản lý gồm các công nhân, kỹ thuật viên và viên chức Xô-Viết để điều hành hoạt động nhà máy.* Đây là một phần của ý thức chính trị đang lớn mạnh trong công nhân, nhận thức rằng những yêu sách chỉ có thể đạt được bằng cách thay đổi bản chất của chính nhà nước.

*  Đây là vắn tắt nội dung của Sắc lệnh Bôn-se-vich về Quyền Kiểm Soát của Công Nhân được thông qua ngày 14/11.

 

Tính chính trị hoá này đã thể hiện rõ trong cuộc nổi dậy bi thảm của các vụ đình công làm tê liệt xứ sở từ tháng 9 trở đi. Vì hậu quả lan tràn của nạn lạm phát, làn sóng đình công lần này lan rộng hơn trước nhiều: những người lao động không chuyên và bán trí thức, như các viên chức hành chính, thành phố, bệnh viện buộc phải gác lại tình thờ ơ trước kia để tham gia đình công vì vật giá leo thang. Nhưng vì các vụ đình công thường không giải quyết được gì – thậm chí còn phản tác dụng – trong việc chống lạm phát, chúng thường theo sau bởi những yêu sách chính trị sâu rộng hơn đòi tái thiết lại toàn bộ nền kinh tế. Các vụ đình công kỹ nghệ, vẫn là thông thường nhất, cũng chắc chắn kết thúc bằng bạo lực, thường là những vụ xung đột đẫm máu giữa công nhân – được vũ trang, huấn luyện và tổ chức bởi Hồng Vệ binh – và dân quân chính quyền. Chủ nhân và các người quản lý bị tấn công; hãng xưởng bị công nhân tràn ngập và chiếm đóng. Một số vụ đình công lan đến khu dân cư trong những vụ cướp phá cửa hàng, lò bánh, lục soát nhà cửa và bắt bớ các tư sản mà họ nghĩ là tích trữ lương thực. Các vụ cướp bóc và phạm tội, say sưa và đập phá, xung đột sắc tộc và bức hại người Do Thái cũng gia tăng trong tháng 9 và 10.

.Tháng 9 cũng chứng kiến sự vùng lên của nông dân chống lại chủ đất. Với mùa cày cấy vụ thu đến gần, thời điểm đã chín mùi cho thanh toán dứt điểm trật tự nông thôn cũ. Nông dân đã chán ngấy phải chờ đợi Chính quyền Lâm thời giao đất như đã hứa , và hầu hết làng xã giờ đã có những băng nhóm binh lính đào ngũ sẳn sàng cầm đầu dân làng tiến chiếm thái ấp. Trong khi những tháng trước phong trào nông dân còn hạn chế trong việc tranh cãi giá thuê đất, tịch thu gia súc và chiếm đất trồng trọt do ủy ban xã tổ chức, thì nay cướp bóc thẳng tay. Ở tỉnh Tambov hàng trăm thái ấp bị đốt rụi và đập phá, mục đích là để đuổi cổ bọn địa chủ ra ngoài. Làn sóng hủy hoại bạo lực này dường như bắt đầu với việc giết hại Hoàng thân Boris Vyazemsky, chủ của vài ngàn mẫu đất trong vùng Usman của Tambov. Các nông dân địa phương từ mùa xuân trước đã đòi ông bớt tiền thuê đất và trả lại 100 mẫu đồng cỏ tốt mà ông đã lấy của họ coi như bồi thường cho vụ tham gia cách mạng 1905 của họ. Nhưng cả hai yêu cầu ông đều từ khước. Vào ngày 24/8 khoảng 5,000 nông dân từ các làng lân cận chiếm lấy điền trang. Hung hăng sau khi nhậu đã vodka trong hầm rượu của Hoàng thân, và sẵn đầy đủ súng trường và chĩa ba, họ đẩy lui được một phân đội Cô-dắc, bắt giữ Vyazemsky và tổ chức một tòa án ‘nhân dân’, xử ông ta ra Mặt trận, để ông ta có thể học tập chiến đấu như các nông dân đã làm. Nhưng cũng có người hò hét ‘Hãy giết Hoàng thân, chúng tao chán ngấy hắn rồi!’, và thế là ông bị giết chết bởi đám đông say xỉn trước khi đến được ga tàu gần đó. Nhà thái ấp của Vyazemsky sau đó bị tàn phá, gia súc và công cụ được phân chia và chở về làng, còn đất cày thì bị nông dân tịch thu.

Những vụ cướp bóc tương tự tiếp diễn trên hàng chục điền trang khác, không chỉ ở Tambov mà còn ở các tỉnh lân cận Penza, Voronezh, Saratov, Kazan, Orel, Tula và Riazan. Ở tỉnh Penza khoảng 250 thái ấp ( một phần năm tổng số) bị đốt hoặc phá hủy chỉ riêng trong tháng 9 và 10. Một nhà nông học mô tả sống động cảnh tượng của điền trang bị cướp bóc ở tỉnh Saratov trong mùa thu 1917:

Đối với các cơ ngơi trong thái ấp, chúng đều bị phá hủy một cách vô nghĩa, chỉ còn trơ trọi các bức tường đứng đó. Cửa sổ và cửa cái là chịu tổn thất nặng nề nhất; trong hầu hết điền trang không còn thấy dấu vết cánh cửa nào. Mọi phương tiện vận chuyển đã bị phá hủy hoặc cướp đi. Những máy móc cồng kềnh như máy đập lúa chạy bằng hơi nước, đầu máy tàu, và máy buộc lúa được mang bỏ đi vất bừa bãi dọc đường hoặc trên cánh đồng không hiểu vì lý do gì. Các nông cụ cũng bị lấy đi. Bất cứ thứ gì có thể được sử dụng trong hộ gia đình nông dân đơn giản biến mất khỏi điền trang.

Thậm chí Yasnaya Polyana, điền trang của Tolstoy ở Tula, cũng không thoát khỏi cơn thịnh nộ của nông dân mà có lần ông xem là thần tượng. Sonya, goá phụ Tolstoy, giờ đã già và mù, đánh điện cho Kerensky nhớ cứu giúp, trong khi các cô con gái của bà đóng gói những quyển sách và bản thảo của cha minh trong những thùng gỗ và chất lên trong phòng khách, nơi họ đợi trong bóng tối đám đông cướp bóc sẽ đến. Họ đã trang bị dao và búa để một mất một còn nếu cần. Nhưng đám nông dân ăn cướp, nhìn thấy nhà không sáng đèn, tưởng là đã bị cướp bóc và phá hủy rồi nên di chuyển đến điền trang kể tiếp.

Việc thanh toán cuối cùng với đám quí tộc địa chủ thường xảy ra đồng thời với việc thành lập Xô-Viết trong làng hoặc huyện. Nông dân nhìn thấy các Xô-Viết hiện thực hóa volia (tiếng Nga: tự do) mà mình hằng ao ước, làng xã được trực tiếp tự trị không có sự can thiệp của giới địa chủ hoặc nhà nước. Các Xô-Viết làng thực sự không khác các công xã dưới một hình thức cách mạng hơn. Hội đồng Xô-Viết không khác với các buổi họp công khai của skhod (công xã), trừ ra có thể các bô lão râu bạc giờ được thay thế bằng các nông dân trẻ hơn, có học vấn hơn, như Sememov,người đã giúp thành lập Xô-Viết ở Andreevskoe. Các Xô-Viết nông thôn thường hành xử như những cộng hòa làng xã, không quan tâm nhiều đến các mệnh lệnh từ trung ương. Nhiều nơi sử dụng lực lượng cảnh sát của riêng họ và lập nên những toà án riêng , trong khi một số thậm chí có cờ riêng và biểu tượng riêng. Gần như tất cả đều có dân quân tình nguyện của riêng mình, tức Hồng Vệ binh, được các nông dân trẻ tổ chức giống quân đội để bảo vệ làng cách mạng và ranh giới của nó.

* * *

Quần chúng công nhân và quân nhân cũng đang chuyển hướng không cưỡng lại được theo quan điểm của riêng mình về quyền cai trị  Xô-Viết. Chỉ có chính quyền Xô-Viết có thể hi vọng thi triển quyền hành cho toàn xứ sở. Điều này đã từng xảy ra từ Cách Mạng Tháng Hai. Nhưng hết lần này đến lần khác các lãnh đạo Xô-Viết đã chọn cách tránh né nó – niềm tin giáo điều vào sự cần thiết phải có một ‘thời kỳ tư sản của cách mạng’ đã trói buộc họ vào việc gìn giữ vô vọng cho liên minh tiếp tục hoạt động – và mỗi lần đường phố vang vọng lời kêu gọi quyền lực Xô-Viết  thì họ lại bịt cả hai tai. Và vậy mà cuối cùng, sau cuộc khủng hoảng Kornilov, dường như đã đến lúc các đảng xã hội đã quyết định cắt đứt và thành lập một chính quyền của riêng mình. Những người Kadet, thành phần tư sản chính của liên minh, đã hoàn toàn mất uy tín vì hậu thuẫn cho vị tướng ‘phản cách mạng’; trong khi các đảng xã hội đang bị hàng ngũ họ lôi kéo về hướng quyền lực Xô-Viết. Khả năng đang bắt đầu lộ diện trong nửa đầu của tháng 9 rằng tất cả những đảng xã hội lớn, từ những người Xã hội Chủ nghĩa Dân tộc bên cánh hữu đến Bôn-se-vich bên cánh tả, có thể đến với nhau để thành lập một chính quyền chỉ dựa trên các Xô-Viết và các tổ chức dân chủ khác. Nó là một thời khắc lịch sử độc nhất, một cơ hội thoáng qua cho cách mạng đi theo một trào lưu khác với trào lưu đang theo. Nếu cơ hội này đã được chụp lấy, nước Nga có thể đã trở thành một nước dân chủ xã hội chủ nghĩa hơn là một nước độc tài Cộng sản; và, kết quả là, cuộc nội chiến đẫm máu – mà vào mùa thu 1917 chắc chắn là không tránh khỏi – có thể chỉ kéo dài vài tuần thay vì vài năm.

.

Ba đảng Xô-Viết  chính đều đang tiến về ý tưởng của một chính quyền xã hội chủ nghĩa, hoặc ít nhất một đoạn tuyệt dứt khoát với tư sản, trong những tuần theo sau khủng hoảng Kornilov. Phe Men-se-vich cánh tả của Martov, vốn tán thành chính quyền toàn-xã hội chủ nghĩa, đang nhận được sự hậu thuẫn mạnh mẽ trong hàng ngũ của đảng. Dưới sức ép của họ, Ủy ban Trung ương Men-se-vich cam kết hướng đến việc thành lập một ‘chính quyền dân chủ thuần nhất’ vào ngày 1/9. Các người SR cánh Tả cũng đang đạt được thắng lợi, xuất hiện một cách hiệu quả như một đảng riêng biệt sau cuộc khủng hoảng. Ba chính sách chủ yếu – một  chính quyền xã hội chủ nghĩa dựa trên Xô-Viết, việc trưng thu ngay lập tức các điền sản của giới quí tộc địa chủ và việc kết thúc chiến tranh – đáp ứng quá sức mong đợi với yêu sách đội ngũ SR, quần chúng nông dân và binh sĩ, mặc dù ảo tưởng như thế của họ với Kerensky và Chernov khiến nhiều người trong số họ bỏ SR và chuyển trực tiếp sang Bôn-se-vich. Xô-Viết tỉnh Saratov, quê hương của SR, đi theo Bôn-se-vich vào tháng 9.

Người Bôn-se-vich cũng đang ôm ấp ý tưởng về một liên minh xã hội dựa trên các Xô-Viết. Tất nhiên Kamenev đã từng luôn ủng hộ việc này. Ông đã bấy lâu tranh đấu để kềm giữ cho chiến dịch Bôn-se-vich vẫn nằm bên trong phong trào Xô-Viết và các định chế dân chủ của Cách Mạng Tháng Hai. Theo quan điểm của ông, xứ sở chưa chín mùi cho một cuộc nổi dậy của Bôn-se-vich, và bất cứ nỗ lực nào dàn xếp cho một cuộc nổi dậy sẽ chắc chắn dẫn đến nội chiến và sự thảm bại của đảng. Theo quan điểm của ông, người Bôn-se-vich không có lựa chọn nào khác trừ ra tiếp tục với chiến lược giành được hậu thuẫn trong các Xô-Viết, trong các Duma thành phố, và cuối cùng trong Quốc hội Lập hiến qua các cuộc bầu cử dân chủ. Họ cũng phải thuyết phục người Men-se-vich và SR cắt đứt liên minh và hợp tác với họ trong một chính quyền xã hội chủ nghĩa.

Cho đến cuộc khủng hoảng Kornilov, Lênin đã thẳng thừng chống đối ý tưởng thỏa hiệp với các lãnh đạo Xô-Viết. Sau những Ngày Tháng Bảy ông đã từ bỏ mọi hi vọng đạt được quyền lực qua các Xô-Viết: theo ông thấy, Chính quyền Lâm thời đã bị tóm lấy bởi một ‘thể chế độc tài quân sự’ đang tiến hành một ‘cuộc nội chiến’ chống giai cấp vô sản; các Xô-Viết đã mất tiềm năng cách mạng của mình và đang bị dẫn dắt, ‘như bầy cừu tới lò sát sinh’, bởi một nhóm các nhà lãnh đạo chỉ muốn xoa dịu bọn ‘phản cách mạng’. Chọn lựa duy nhất còn lại là bỏ hẳn khẩu hiệu ‘Tất Cả Quyền Lực Về Tay Xô-Viết!’ và tiến hành một vụ nổi dậy vũ trang để chuyển quyền lực cho các cơ quan vô sản đối thủ dưới sự lãnh đạo của Đảng Bôn-se-vich. Đó là một phát hiện về thái độ của Lênin đối với các Xô-Viết, mà trong cái tên của nó chế độ ông sẽ được thành lập, rằng bất cứ khi nào chúng không còn phục vụ được lợi ích của đảng ông, ông sẵn sàng vứt bỏ chúng. Thật hoàn toàn sai lầm khi lập luận, như Isaac Deutscher đã từng làm, là Lênin đang lên kế hoạch để biến Quốc hội Xô-Viết thành nền tảng lập hiến của quyền lực tối cao, như Hạ viện Anh với người Bôn-se-vich cai trị thông qua quốc hội này theo kiểu đảng nghị viện Tây phương *. Lênin không phải là nhà lập hiến Xô-Viết – và tất cả các hành động đầu tháng 10  làm chứng cho điều này. Các Xô-Viết, trong đầu óc của ông, luôn phụ thuộc vào đảng. Thậm chí trong Nhà Nước và Cách Mạng – được coi là tác phẩm về học thuyết chính trị ‘tự do chủ nghĩa’ nhất của ông, mà ông hoàn thành vào thời gian này – Lênin nhấn mạnh sự cần thiết của một nhà nước đảng trị mạnh mẽ và trấn áp, một Chuyên chính Vô Sản, trong thời kỳ quá độ đến Thiên đường Cộng sản khi ‘nhà nước tư sản’ phải bị đập tan. Ông hiếm khi đề cập đến các Xô-Viết.

Vậy mà, sau cuộc khủng hoảng Kornilov, chứng kiến việc các lãnh đạo Xô-Viết di chuyển về tả, thậm chí Lenin sẵn sàng xem xét ý tưởng thỏa hiệp với họ. Không phải là ông đã từ bỏ mục tiêu tối hậu là chuyên chính Bôn-se-vich. ‘Đảng ta’, ông trấn an cánh tả vào ngày 1/9 trong bài viết ‘Về sự Thỏa Hiệp’, ‘đang nỗ lực vươn tới sự thống trị chính trị cho chính mình.’ Nhưng sự chuyển hướng về cánh tả của các Xô-Viết, vốn tạo thuận lợi cho đảng, một lần nữa mở ra triển vọng tiến đến quyền lực Xô-Viết qua những biện pháp hoà bình. Cuối cùng, giờ thì Bôn-se-vich chắc chắn là một lực lượng áp đảo trong bất kỳ chính quyền nào dựa vào các Xô-Viết – và chính điều này khiến Lênin có thể xét đến việc trở về yêu sách ‘Tất cả quyền lực về tay Xô-Viết’ mà họ đã theo đuổi trước tháng 7. Trong hai tuần trước ngày khai mạc Hội nghị Dân chủ, vào ngày 14/9, khi vấn đề quyền lực phải giải quyết, Lênin ủng hộ những nỗ lực của Kamenev nhằm thuyết phục Men-se-vich và SR cắt đứt liên minh và tham gia với Bôn-se-vich trong một chính quyền xã hội chủ nghĩa dựa vào các Xô-Viết. Nếu các lãnh đạo Xô-Viết đồng ý nắm quyền, người Bôn-se-vich sẽ từ bỏ chiến dịch nổi dậy vũ trang và chỉ cạnh tranh quyền lực bên trong phong trào Xô-Viết. Nhưng ám chỉ của Lênin là rõ ràng: nếu các lãnh đạo Xô-Viết không chịu làm việc này, thì đảng sẽ sẵn sàng cho một vụ cướp chính quyền.

Số phận của nước Nga do đó phụ thuộc vào hành động của các lãnh đạo Xô-Viết tại Hội nghị Dân chủ. Đây là lúc mà giới lãnh đạo Xô-Viết phải trải qua bài kiểm tra cốt lõi – và cho thấy là họ thiếu xót. Hội nghị diễn ra trong Nhà hát Alexandrovsky, đúng là một địa điểm thích hợp vì hội thảo kết thúc bằng một trò hề. Ba nhóm chính trị ngay lập tức lộ diện rõ ràng: cánh Hữu, ủng hộ một liên minh với người Kadet; cánh Giữa, ủng hộ một liên minh với tư sản nhưng không có Kadet; và cánh Tả, ủng hộ một chính quyền xã hội chủ nghĩa, hoặc dựa vào các Xô-Viết hoặc rộng lớn hơn dựa vào các nhóm dân chủ có mặt tại hội nghị. Nhưng khi đến lúc bỏ phiếu thì có sự lộn xộn xảy ra . Thoạt đầu, hội nghị thông qua một nghị quyết (với 766 phiếu chống 688) ủng hộ nguyên tắc tổng quát của một liên minh với tư sản. Nhưng rồi nó thông qua hai tu chính loại trừ người Kadet khỏi liên minh như thế. Điều này làm cánh Hữu nổi giận đến nỗi sau đó họ ngã về phe cánh Tả trong lần bỏ phiếu thứ hai cho nghị quyết ban đầu và đánh bại nó với 813 phiếu chống 183. Sau bốn ngày tranh luận hội nghị kết thúc mà không có ý kiến gì về biện pháp sống còn vốn là mục tiêu đề ra của hội nghị. Đây không phải là lần đầu cũng như lần cuối trong lịch sử ngắn ngủi và gián đoạn của phong trào dân chủ Nga mà những kỹ năng cơ bản về việc ra quyết định thuộc lĩnh vực nghị viện cho thấy là vượt quá khả năng của các nhà lãnh đạo Nga; nhưng có lẽ lần này có tính nguy cấp nhất nếu xét về hậu quả.

Một phái đoàn bất thường gồm những đại biểu dự hội nghị nhanh chóng họp lại nhằm giải quyết khủng hoảng chính quyền. Nó bị áp đảo bởi các lãnh đạo SR và Men-se-vich ủng hộ một liên minh và, trái với kết quả bầu cử của hội nghị, ngay lập tức mở ra các thương thảo với Kadet. Vào ngày 24/9 đạt được thỏa thuận, và ngày hôm sau Kerensky cho biết tên nội các của mình. Nó chủ yếu giống như thỏa hiệp chính trị của Liên minh Lần 2 vào tháng 7, với các nhà xã hội ôn hòa chiếm đa số bộ và người Kadet kiểm soát những bộ chủ chốt. Nhưng Liên minh Lần 3 còn kém năng lực hơn các liên minh trước, vốn đã kém rồi. Nó gồm toàn những đảng viên Kadet hạng hai và những người Trudovik tàng tàng ở tỉnh không có kinh nghiệm thực tế trong điều hành chính quyền ở cấp độ quốc gia. Các người xã hội chỉ muốn nó có nhiệm vụ như một tiền nghị viện – một bộ phận giả hiệu, không quyền lực được Hội nghị Dân chủ chỉ định với hi vọng nhỏ nhoi là cho nền Cộng Hòa một hình thức hợp pháp nào đó cho đến khi một Quốc hội Lập hiến được triệu tập. Nhưng người Kadet đã ép buộc họ phải loại bỏ yêu cầu này nếu muốn họ tham gia liên minh. Do đó Chính quyền Lâm thời vẫn duy trì theo luật định quyền hành tối cao cho đến khi Quốc hội triệu tập. Nhưng nội các mới kiểu nhà hát này có tồn tại lâu đến đó chăng? Không có quyền lực thực tế, nó cho thấy không có khả năng thông qua những đạo  luật có ý nghĩa và chỉ hi vọng bám vào văn phòng cho đến kỳ bầu cử tháng 11. Sống sót trong sáu tuần – đó là tổng số những tham vọng cỏn con của nó – vậy mà nó chỉ kéo dài đến bốn.

Sự thất bại của Hội nghị Dân chủ là một bằng chứng công khai cho thấy sự phá sản chính trị của các lãnh đạo Xô-Viết. Sau lần cuối cùng họ công nhận không chịu nắm quyền này, phong trào ủng hộ các người Men-se-vich và SR bị sụp đổ thình lình và dứt khoát. Đảng Men-se-vich đã thực sự ngừng tồn tại ở Petrograd vào cuối tháng 9: hội nghị đảng toàn thành lần cuối không thể tổ chức được vì thiếu số lượng đại biểu. Không phải chỉ vì học thuyết Mác cứng nhắc của họ đã giữ họ lại trong liên minh, mà một sự thất bại nền tảng hơn nhiều là việc không nhận ra các lực lượng chính trị và xã hội đang lộ diện trong năm 1917. Gần như ngay từ đầu’, Leo Haimson, sử gia tiên phong của đảng Men-se-vich, viết, ‘họ đã cố gắng một cách có dũng khí nhằm làm chủ một sự hỗn loạn mà dần dần làm họ choáng ngợp. Không có kinh nghiệm hoạt động trước những tình huống không quen thuộc hoặc diễn biến không đúng như mong đợi.’ Họ đã không nhìn thấy được rằng lực lượng nòng cốt hậu thuẫn mình, các công nhân kỹ nghệ, đang dần cực đoan hóa, và rằng chỉ có một chính quyền Xô-Viết mới có thể hi vọng tác động quyền hành thực sự lên họ. Bị nghĩa vụ của riêng mình đối với nhà nước làm cho mù quáng, khiến họ bảo vệ nguyên tắc liên minh với bất cứ giá nào, họ không còn hành động hoặc suy nghĩ như những người cách mạng và không nhận ra tính cực đoan đang lớn mạnh và việc hậu thuẫn tăng tốc cho Bôn-se-vich của công nhân là biểu lộ cho ‘sự dốt nát’ và ‘non nớt’ của họ; và điều này càng làm họ khẳng định trong niềm tin giáo điều rằng các Xô-Viết không sẵn sàng nắm quyền. Các lãnh đạo SR cũng có tội tương tự là tự lừa dối mình trong niềm tin ngây thơ cho rằng yêu sách của nông dân về cải cách ruộng đất, vốn là mục tiêu thành lập của đảng SR, có thể được hoãn lại sau khi cuộc chiến kết thúc và nghị quyết về vấn đề quyền lực tại Quốc hội Lập hiến. Nông dân càng ngày càng không quan tâm đến hậu quả của cuộc chiến và đến hình thức chính quyền quốc gia: tất cả điều họ muốn là hoà bình, ruộng đất và tự do, như được thể hiện trong cái volia của các ủy ban làng xã tự trị và các Xô-Viết. Điều này sẽ được chứng tỏ bởi cuộc tranh đấu tai hoạ của SR trong năm 1918 để lật ngược Hiệp ước Brest-Litovsk và để tập hợp các nông dân Volga bảo vệ Quốc hội Lập hiến, sau khi nó bị Bôn-se-vich đóng cửa.

Sự thất bại của SR, cũng như của Men-se-vich, trên hết là sự thất bại của giới lãnh đạo. Cả hai đảng đều bị chia rẽ một cách vô vọng trên hai vấn đề nền tảng của năm 1917: phải làm gì với cuộc chiến và ở đâu để rút ra sự cân bằng giữa cách mạng chính trị và cách mạng xã hội. Các lãnh đạo cánh hữu là những người Defensist (những người Phòng thủ) và đặt nặng hơn vào cách mạng chính trị; trong khi các đồng chí cánh tả của họ gắn bó mạnh mẽ với hoà bình và cải cách cực đoan. Với di sản lịch sử Nga và hố ngăn cách văn hóa to lớn giữa giới trí thức và quần chúng như đã biết, có lẽ không có triển vọng thực sự, ít nhất trong năm 1917, để duy trì một cuộc cách mạng chính trị theo truyền thống châu Âu. Nhưng một nền dân chủ xã hội chủ nghĩa cũng có thể được ổn định vững chắc, nếu các lãnh đạo Xô-Viết đồng lòng thành lập một liên minh với Bôn-se-vich vào tháng 9 – và nếu Lênin sau đó đồng ý tôn trọng một liên minh như thế. Tất nhiên, đây là những từ ‘nếu’ quá lớn lao. Đúng là cuối cùng người SR tả khuynh một mình  làm đồng minh với Bôn-se-vich vào tháng 10, mặc dù vào giai đoạn đó Lênin không có ý định đối xử với họ như một thành viên ngang hàng. Về phần những người Men-se-vich tả khuynh, họ bị mắc cạn một cách vô vọng. Martov, lãnh tụ của họ, không thể tự hạ mình  để tham gia bất kỳ loại đồng minh nào với đối thủ cũ là Lênin, mặc dù đây là kết quả hợp lý của việc ông bất hòa với người Defensist, như phần đông những người ủng hộ ông nhận thấy. Một người trung thành với đảng đến phút cuối cùng, Martov vẫn ở lại trên con tàu Men-se-vich đang chìm.

Trotsky mô tả Martov là ‘chàng Hamlet (Tên nhân vật chính trong một tác phẩm cùng tên của văn hào Shakespeare)  của Chủ nghĩa Xã hội Dân chủ’ – và đây chính là đúc kết đúng đắn. Như rất nhiều cựu lãnh tụ xã hội bổng nhiên thấy mình đứng đầu phong trào Xô-Viết trong năm 1917, Martov là một người trí thức quá tốt để có thể là một chính trị gia thành công. Ông luôn do dự vì tình chính trực và cách tiếp cận chính trị có tính triết lý của mình. Ông có khuynh hướng chọn các đồng minh của mình dựa vào thế giới quan tổng quát của họ hơn là tính hợp thời hoặc thậm chí tính thực tiễn trong các chính sách của họ. Chính vì điều này đã gắn kết ông với người Men-se-vich hơn là quay sang làm đồng minh chiến thuật với người Bôn-se-vich vào tháng 9: ông xem các nguyên tắc Mác-xit của Men-se-vich quan trọng hơn là những lập luận thuần túy chính trị của Bôn-se-vich. Cách tiếp cận cao thượng này từ lâu đã khiến Martov nhận được nhiều khen tặng trong giới trí thức xã hội: thậm chí Lenin được nghe nói đã thổ lộ vào năm 1921 là tiếc nuối lớn nhất của ông là ‘Martov không ở với chúng ta. Thật là một đồng chí tuyệt vời, một con người thuần khiết làm sao!’ Vậy mà những nguyên tắc cao quý như thế lại là gánh nặng chết người cho nhà lãnh đạo cách mạng, và trong trường hợp của Martov chúng làm cho ông mềm yếu và do dự khi cần cứng rắn và quyết đoán.

Cũng tính trù trừ trí thức này là tính cách của nhiều nhà lãnh đạo Xô-Viết trong năm 1917 – và trong ý nghĩa này tất cả họ có thể được mô tả như là những chàng Hamlet của chủ nghĩa xã hội dân chủ. Chernov cũng là một nhân vật bi kích tương tự trong Đảng SR. Như Martov, ông là một nhà trí thức và lý thuyết gia về đảng xuất sắc, vậy mà ông lại hoàn toàn thiếu những phẩm chất cần thiết cần có để trở thành một lãnh đạo cách mạng thành công. Ông không có cái cứng rắn của sự quyết đoán và nghị lực, tính quyết tâm nhất quán để thi hành đến cùng chính sách của mình, cho dù điều này có nghĩa làm rạn nứt đảng, hoặc đúng ra là cái bản năng cơ bản biết xét đoán khi nào là thời điểm chín mùi để giành lấy quyền lực. Đó là sự khác biệt cốt lõi giữa một Chernov và một Lênin – và từ sự khác biệt đó mà vận mệnh nước Nga đổi chiều.

* * *

Với kế hoạch của Kamenev cho một liên minh xã hội đã bị ngăn trở khi Hội nghị Dân chủ thất bại, Lênin quay về với chiến dịch của mình trong đảng chuẩn bị cho một cuộc nổi dậy vũ trang tức thì. Ông đã bắt đầu chủ trương việc này trong hai bức thư gởi cho Ủy ban Trung ương viết trong thời gian lưu vong ở Phần Lan trước ngày Hội nghị. Bôn-se-vich, Lênin lập luận, ‘có thể và phải chiếm quyền lực nhà nước trong tay mình’. Có thể – bởi vì đảng đã chiếm đa số trong các cơ quan của Petrograd và Moscow, thế là đủ để ‘mang theo nhân dân với nó’ trong bất kỳ cuộc nội chiến nào, miễn là đảng khi đã nắm quyền phải đề xuất ngay hòa bình tức thì và cho  ruộng đất đến tay nông dân. Phải – bởi vì nếu đảng đợi đến khi triệu tập Quốc hội Lập hiến, ‘Kerensky và Công ty’ sẽ có những hành động ưu tiên chống lại sự chuyển giao quyền lực, hoặc bằng cách giao Petrograd cho Đức hoặc bằng cách trì hoãn triệu tập Quốc hội Lập hiến. Hội nghị Dân chủ phải bị lên án, vì nó chỉ đại diện ‘cho tầng lớp trên hay thỏa hiệp của giới tư sản. Chúng ta không được để các con số phiếu bầu đánh lừa: bầu cử không chứng tỏ điều gì cả. . . Đa số nhân dân đứng về phía chúng ta.’ Nhắc nhở cho các đồng chí của mình về châm ngôn của Mác ‘khởi nghĩa là một nghệ thuật’. Lênin đã kết luận rằng ‘sẽ là ngây thơ để chờ đợi một đa số ‘hình thức’ cho người Bôn-se-vich. Không có cách mạng nào đợi chuyện đó. . . Lịch sử sẽ không tha thứ cho chúng ta nếu chúng ta không nắm quyền lực ngay lúc này.’

Hai bức thư này đến Ủy ban Trung ương vào ngày 15/9. Những bức thư này, ít nhất, cũng khiến cho các lãnh đạo Bôn-se-vich còn lại hoàn toàn không thoải mái (‘Tất cả chúng tôi đều khiếp đảm’, Bukharin nhớ lại) vì Hội nghị Dân chủ chỉ mới bắt đầu và họ còn cam kết đi theo các chiến thuật hòa giải của Kamenev. Họ thậm chí còn tính đốt hết chỉ giữ lại một bản sao các bức thư, sợ lỡ chúng lọt vào tay cấp dưới sẽ xúi giục họ nổi dậy. Ủy ban Trung ương tiếp tục phớt lờ lời khuyên của Lênin và cho in thay thế những bài viết cũ của ông, trong đó ông đã hậu thuẫn đường hướng của Kamenev. Lênin tức điên lên. Trong khi ông vẫn còn sợ không dám trở lại Petrograd (Kerensky đã ra lệnh bắt giữ ông tại Hội nghị Dân chủ), ông rời Phần Lan để đi đến thị trấn nghỉ dưỡng Vyborg ở gần thủ đô hơn, chỉ cách 80 dặm. Trong những tuần sau đó ông công kích tới tấp Ủy ban Trung ương và các tổ chức đảng cấp dưới bằng một loạt thư nóng nảy, đầy những cụm từ thoá mạ và hằn học gạch dưới bằng nét mực đậm,  trong đó ông thúc giục họ nổi dậy vũ trang ngay lập tức. Ông lên án ‘các chiến thuật nghị viện’ của các lãnh đạo Bôn-se-vich; và chào đón một viễn cảnh nội chiến (‘hình thức ác liệt nhất của đấu tranh giai cấp’), mà họ đang cố lẫn tránh với giả định sai lầm là, như Công xã Paris, họ cũng sẽ bị đánh bại. Trái lại, Lênin nhấn mạnh, các lực lượng chống-Bôn-se-vich  sẽ không hơn lực lượng xếp hàng sau lưng phong trào Kornilov, và bất kỳ ‘dòng sông máu’ nào cũng đem đến ‘thắng lợi chắc chắn’ cho đảng.

Cuối cùng, vào ngày 29/9, ở cao điểm bực tức, Lênin nguệch ngoạc một tràng công kích dữ dội chống các lãnh đạo Bôn-se-vich, trong đó ông tố cáo họ là ‘những tên phản bội khốn khổ lý tưởng vô sản. Họ đã muốn hoãn lại vụ chuyển giao quyền lực cho đến kỳ Đại hội Xô-Viết, được ấn định nhóm họp vào 20/10, trong khi thời cơ đã chín mùi cho việc cướp chính quyền và bất cứ đình hoãn nào chỉ khiến Kerensky có thể sử dụng lực lượng quân sự chống lại họ. Các công nhân, Lênin nhấn mạnh, đã vững chắc sau lưng lý tưởng Bôn-se-vich; các nông dân đang bắt đầu tiến công vào các thái ấp, do đó loại bỏ nguy cơ của một Brumaire thứ 18, tức một vụ phản cách mạng ‘tiểu tư sản:’, như vào 1849; trong khi những vụ đình công và nổi loạn trên phần còn lại của châu Âu là ‘những triệu chứng không thể chối cải. . . rằng chúng ta đang chuẩn bị một cuộc cách mạng có tầm vóc  thế giới. ‘Bỏ lỡ một thời cơ như thế và “đợi” Đại hội Xô-Viết sẽ là điều cực kỳ ngu ngốc, hoặc là phản bội trắng trợn’, và nếu người Bôn-se-vich làm thế họ sẽ ‘che mặt mình vì xấu hổ và trở thành một đảng tự hủy diệt’. Như một tối hậu thư cuối cùng, ông thậm chí hăm dọa từ chức khỏi Ủy ban Trung ương, để được tự do hành động nổi dậy vũ trang với hàng ngũ đảng viên Bôn-se-vich cấp dưới, dự trù họp Hội nghị Đảng vào ngày 17/10. ‘Bởi vì theo quyết đoán sâu sát của tôi là nếu chúng ta “đợi” Đại hội Xô-Viết và đễ thời cơ này trôi qua, chúng ta sẽ hủy hoại cách mạng.’ Cơn thịnh nộ quen thuộc của Lênin đã lên đến  cao độ.

Tại sao Lênin quá khăng khăng cần phải nổi dậy vũ trang trước Đại hội Xô-Viết? Vào thời điểm đó tất cả các dấu hiệu đều về phe Bôn-se-vich: đất nước đang tan rã; các Xô-Viết đang chuyển sang cánh tả; và Đại hội sắp tới hầu như chắc chắn hậu thuẫn lời kêu gọi của Bôn-se-vich chuyển giao quyền lực về tay các Xô-Viết. Tại sao tiến hành một vụ nổi dậy sớm sủa và có nguy cơ nội chiến và thảm bại? Nhiều lãnh đạo Bôn-se-vich đã nhấn mạnh sự cần thiết chiếm quyền lực trùng khớp với Đại hội Xô-Viết. Đây là quan điểm của Trotsky và vài người Bôn-se-vich khác trong Xô-Viết Petrograd – và vì họ được thông tin sát sao về tâm trạng ở thủ đô và sẽ phải đóng vai trò cầm đầu trong bất kỳ vụ nổi dậy nào, quan điểm của họ có ảnh hưởng lớn đối với đảng nói chung. Trong khi những lãnh đạo này không chắc đảng có hậu thuẫn đầy đủ để biện minh cho một cuộc khởi nghĩa nhân danh chính mình, họ cho rằng mình có thể tiến hành thành công nhân danh các Xô-Viết. Vì người Bôn-se-vich đã điều hành chiến dịch của mình dựa trên khẩu hiệu quyền lực của Xô-Viết, nên họ cho rằng Đại hội là dịp cần thiết để hợp thức hóa cuộc nổi dậy và khiến nó có vẻ như do toàn thể các Xô-Viết chứ không do một đảng duy nhất. Bằng cách đi theo hướng này, vốn chỉ chậm vài ngày so với quyết định của mình, Lênin có thể nhận được sự hậu thuẫn rộng rãi trong đảng chống lại những người chống đối thẳng thừng hành động nổi dậy, như Kamenev và Zinoviev. Nhưng Lênin rất quyết liệt – việc chiếm đoạt quyền lực phải được tiến hành trước khi Đại hội nhóm họp. Ông tiếp tục nhấn mạnh vào điều này cho đến ngày trước Đại hội.

Lênin biện minh cho sự bực bội của mình với quan niệm rằng bất cứ sự trì hoãn nào cũng khiến cho Kerensky có thời gian tổ chức những biện pháp đàn áp: Petrograd sẽ bị bỏ rơi cho quân Đức; chính quyền sẽ dời về Moscow; và Đại hội Xô-Viết sẽ bị hủy bỏ. Điều này tất nhiên là vô lý. Kerensky chắc chắn không có khả năng đưa ra những quyết định như thế và, trong bất kỳ trường hợp nào, như Kamenev chỉ ra, chính quyền hoàn toàn bất lực để triển khai bất cứ toan tính phản cách mạng nào. Từ một vài bài viết khác của mình vào thời điểm này,* dường như Lênin đang cố tình tưởng tượng ra nguy cơ đàn áp của Kerensky để củng cố cho lập luận của mình về một cuộc nổi dậy sớm sủa, mặc dù có thể ông mất giao tiếp với tình hình thực tế ở Nga, đã ở Phần Lan từ tháng 7, nên đã tin vào điều ấy. Chắc hẳn có những tin đồn trong báo về việc chính quyền đang dự tính di tản thủ đô vào đầu tháng 10, và chúng không nghi ngờ gì củng cố quyết đoán của ông rằng một cuộc nội chiến đã bắt đầu, và rằng thắng lợi quân sự sẽ đi về phía bên nào dám ra đòn đầu tiên. ‘On s’engage et puis en voit.’

Nhưng còn một động lực khác khi muốn khởi nghĩa trước khi Đại hội Xô-Viết nhóm họp, ngoài những chiến thuật quân sự. Nếu việc chuyển giao quyền lực xảy ra bằng lá phiếu của Đại hội, kết quả gần như chắc chắn là một chính quyền liên minh tạo bởi tất cả các đảng Xô-Viết. Người Bôn-se-vich có thể được phần chia ghế bộ trưởng lớn nhất, nếu việc chia ghế dựa vào tí lệ phiếu bầu, nhưng vẫn còn phải trị vì chung với ít nhất là cánh tả – và có thể tắt cả – các đảng SR và Men-se-vich. Điều này sẽ là thắng lợi chính trị vang dội cho Kamenev, đối thủ chính của Lênin trong đảng Bôn-se-vich. Dưới sự lãnh đạo của ông, trung tâm quyền lực vẫn thuộc Đại hội Xô-Viết, hơn là đảng; và thậm chí có những nỗ lực mới nhằm thống nhất Bôn-se-vich và Men-se-vich. Về phần Lênin, ông có nguy cơ ‘nằm chơi xơi nước’, hoặc vì người Men-se-vich hay SR yêu cầu hoặc vì ông không chịu hợp tác với họ. Ngược lại, nếu việc cướp chính quyền của Bôn-se-vich thành công trước Đại hội, thế thì Lênin sẽ xuất hiện như một chúa tể  chính trị. Đa số Đại hội chắc chắn sẽ ủng hộ hành động của Bôn-se-vich, do đó trao cho đảng lập chính quyền của riêng mình. Nếu người Men-se-vich và SR chịu hạ mình chấp nhận việc chiếm đoạt quyền lực bằng bạo lực, như một sự đã rồi, thế thì họ sẽ  được Bôn-se-vich ban bố một vài vị trí nhỏ trong nội các của Lênin. Nếu không, họ không có lựa chọn nào khác hơn là chống lại họ, và để mặc Bôn-se-vich một mình trong chính quyền. Những nỗ lực liên minh của Kamenev do đó sẽ bị phá vỡ ; Lênin sẽ nắm Chuyên chính Vô Sản; và mặc dù hậu quả không tránh khỏi là nhấn chìm đất nước trong cảnh nội chiến, đây là điều mà Lênin chấp nhận – và thậm chí có thể chào đón – như một phần của tiến trình cách mạng.

*  Trong những ngày cuối cùng trước 25/10 Lênin nhấn mạnh rằng một cú đảo chính quân sự phải thành công, cho dù chỉ có một số rất nhỏ các chiến binh có kỷ luật tham gia, bởi vì lực lượng của Kerensky quá yếu.

 

Trở lại thủ đô, nơi ông ẩn nấp trong một căn hộ của một công nhân đảng viên, Margarita Fofanova, Lênin chủ trì một buổi họp bí mật của Ủy ban Trung ương Bôn-se-vich vào ngày 10/10. Nghị quyết sẵn sàng cho một cuộc nổi dậy được đưa ra trong phiên họp này. Một trớ trêu nhỏ của lịch sử là sự kiện này xảy ra trong ngôi nhà của một đảng viên Men-se-vich, Nikolai Sukhanov. Còn vợ ông, Galina Flakserman, là một đảng viên Bôn-se-vich lâu năm (hãy tưởng tượng ở nhà họ cãi cọ nhau như thế nào!). Bà bảo ông chồng nhiều chuyện đừng về nhà từ văn phòng của ông ở Smolny đêm đó. Lênin đến trễ và đội tóc giả để ngụy trang – Kollontai nhớ là ‘ông trông giống một giáo sĩ Tin lành’ – ông bỏ mũ áo rồi bước vào nhà và trong suốt buổi họp cứ sửa đi sửa lại mái tóc giả: trong lúc vội vã ông quên không đắp bột nên mái tóc giả cứ tuột lên tuột xuống cái đầu hói bóng lưỡng của ông. Trong số 21 Ủy viên Trung ương chỉ có 12 người hiện diện. Quyết định quan trọng nhất trong lịch sử Đảng Bôn-se-vich – phát động cuộc khởi nghĩa vũ trang – chỉ được biểu quyết bằng một thiểu số Ủy ban Trung ương: nó được thông qua bởi 10 phiếu chống 2 (Kamenev và Zinoviev). Việc này đúng là một ‘cú’ Lêninnit bên trong Đảng Bôn-se-vich *. Thêm một lần nữa, Lênin đã xoay sở để áp đặt ý chí của mình lên những lãnh đạo còn lại. Không có ảnh hưởng cá nhân có tính quyết định của ông, khó có thể tưởng tượng việc chiếm đoạt chính quyền của người Bôn-se-vich.

*  Hội nghị Đảng bộ Bôn-se-vich dự kiến vào ngày 17/10, được bí mật hủy bỏ cũng vào khoảng thời gian này – không nghi ngờ gì củng do Lênin đòi cho bằng được. Trong những ngày sau đó Kamenev và Zinoviev chĩa mũi tấn công vào cuộc khởi nghĩa với lời kêu gọi triệu tập một Hội nghị Đảng. Chúng ta còn thiếu những chứng cứ lưu trữ để có thể kể được đầy đủ về cuộc đấu tranh nội bộ đảng này.

 

Trong những giờ đầu sáng hôm sau, khi buổi họp tiến gần đến kết thúc, Lênin vội vàng ghi lại bằng viết chì nghị quyết lịch sử của buổi họp trên một tờ giấy xé ra từ một cuốn vở học sinh. Mặc dù chưa ấn định ngày giờ  cùng những chiến thuật cụ thể, nó công nhận ‘rằng một cuộc khởi nghĩa vũ trang là không thể tránh khỏi,và thời cơ đã chín mùi’, và chỉ thị cho các tổ chức đảng coi đó là ‘nhật lệnh’. Sau đó bà xã của Sukhanov mang ra ấm trà samovar truyền thống và dọn ra bàn ăn nào phô mai, xúc xích và bánh mì đen. Các người Bôn-se-vich ngay lập tức ngồi vào bàn. Việc bày mưu tính kế đã làm họ đói lả.

(còn tiếp)

 

 

 

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s