Từ khủng hoảng Congo đến cuộc nổi dậy Simba trong Chiến tranh Lạnh (1960-1964)

1.jpg

Đăng Phạm/ ncls group

 

Nói đến Chiến tranh Lạnh, người ta thường nói đến những sự kiện đình đám Chiến tranh Triều Tiên, Chiến tranh Việt Nam, khủng hoảng tên lửa Cuba hay cuộc chạy đua hạt nhân, vũ trụ,…Thế nhưng trong khoảng năm 1960-1965, có thể nói sự kiện vượt tên tất cả về độ nóng bỏng, không nào khác ngoài khủng hoảng Congo. Không quá khi nói rằng cuộc khủng hoảng ở Congo là đỉnh cao của sự đối đầu giữa 2 khối Xã hội chủ nghĩa (XHCN) và Tư bản chủ nghĩa trên Lục địa châu Phi, và là một trong những nấc thang cao nhất từng được leo đến của sự đối đầu đó trong suốt chiến tranh Lạnh. Không chỉ vậy, cuộc khủng hoảng này còn kèm theo đó là những xung đột ngoài lề từ sắc tộc, tôn giáo, địa chính trị,… phức tạp, mà nổi bật là vấn đề ý thức hệ và vấn đề dân tộc, thứ mà khi ở Việt Nam nó may mắn hòa làm một, thì ở Congo, nó rối tung rối mù dẫn đến cuộc chiến có thể coi là một không hai của chiến tranh Lạnh.

Ngoài ra, cuộc xung đột này cũng ghi dấu ấn về mặt ngoại giao, ghi nhận sự tham gia quy củ hơn rất nhiều của Lực lượng Gìn giữ hòa bình Liên Hợp quốc. Tuy nhiên, sau cùng, nó lại bị coi là một thất bại to lớn trong rất nhiều thất bại của Lực lượng gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc, đặt dấu hỏi về tính hữu dụng trên thực tế của lực lượng này. Cuối cùng, khủng hoảng Congo ghi dấu một sự kiện đen tối bậc nhất lịch sử Liên hợp quốc: cái chết đầy bí ẩn của Tổng thư ký Liên Hợp Quốc Dag Hammarskjöld.

Bài viết nhằm chia sẻ những kiến thức căn bản về cuộc khủng hoảng tại Congo từ năm 1960-1964, dựa trên những tài liệu ít ỏi mà người viết tổng hợp được. Xin được chia làm 2 phần: phần 1 về Cuộc khủng hoảng Congo từ năm 1960 đến năm 1965; phần 2 dành riêng để nói về Cuộc nổi dậy Simba, một sự kiện quân sự lớn và quan trọng nhất của cuộc khủng hoảng Congo

Phần 1: tổng quan cuộc khủng hoảng Congo

I) Sơ lược lịch sử Congo đến thời tiền thuộc địa (đến 1960)

Ngày nay, có 2 quốc gia cùng có tên Congo. Một là Cộng hòa dân chủ Congo (hay Congo-Kinshasa, là quốc gia nói tới trong bài viết này). Quốc gia thứ hai là Congo-Brazzaville, còn gọi là Cộng hòa Congo, nhỏ hơn nằm về phía Tây, không phải đối tượng của bài viết này.

Trên thực tế, cái tên Congo về mặt địa lý không phải chỉ một quốc gia. Nó vốn được dùng để chỉ khu vực rộng lớn nằm ở trung tâm châu Phi, và thường được coi là một trong những cái nôi của lịch sử loài người, bởi là nơi sinh sống của tộc người Pygmy nổi tiếng thấp lùn. Tộc người Pygmy được xem là bộ tộc lâu đời bậc nhất thế giới lưu trữ những lối sống cổ xưa từ thời nguyên thủy của nhân loại.

Dù vậy, do cách xa các nền văn minh lớn, vùng đất Congo gần như đứng ngoài sự tiến bộ của lịch sử. Cộng hòa dân chủ Congo trải qua quá trình lâu dài dưới hình thái kinh tế xã hội nguyên thủy với những cộng đồng người thị tộc, bộ lạc và liên minh bộ lạc. Phải đến thế kỷ 15 ở lưu vực Sông Congo đổ ra Ấn Độ Dương mới xuất hiện một Vương quốc khá rộng gọi là Vương quốc Kongo (lưu ý phân biệt với Congo ngày nay). Vương quốc Congo có lãnh thổ phần lớn nằm trên đất nước Angola, và hiện nay vẫn tồn tại chủ nghĩa ly khai, phục quốc ở miền Bắc Angola.

Cùng lúc đó, có một vùng đất rộng lớn nửa triệu km2, nằm biệt lập về phía tây nam có tên là Katanga (hãy nhớ tên vùng đất này vì nó sẽ được nhắc tới khá nhiều ở phần tiếp theo). Một vương quốc khác của người dân tộc Luba được hình thành ở Katanga. Vương quốc Luba chủ yếu giao tiếp với các lãnh thổ Đông Phi, bao gồm cả người Hồi giáo khi chinh phục vùng Đông Phi. Vì giao tiếp với người Hồi giáo, nên vương quốc Luba đã phát triển việc buôn bán nô lệ, thường xuyên bắt những người da đen ở vùng trung tâm Congo bán cho người Hồi Giáo. Tuy nhiên, vào thế kỷ 18 khi người Oman tấn công Đông Phi, vương quốc Luba đã hứng chịu sự tàn phá ghê gớm của người Hồi giáo. Người Luba cũng hứng chịu bệnh đậu mùa khủng khiếp làm dân số giảm đáng kể.

2 vương quốc Kongo và Luba nằm khá xa nhau, tách biệt về văn hóa. Nhưng sau cùng họ đều bị các đế quốc bên ngoài tiêu diệt dù theo những các rất khác nhau.

Đầu tiên người Bồ Đào Nha đặt chân lên bờ Đại Tây Dương, gặp gỡ vương quốc Kongo. Cuộc tiếp xúc đáng ngạc nhiên là vô cùng êm ấm. Người phương Tây có lẽ cũng không ngờ được chào đón nồng nhiệt, dẫn đến gặp tận Hoàng gia Kongo, được thưởng vô số tài sản, châu báu và nô lệ. Nhưng sự tham lam của một số tên đầu sỏ thực dân đã phá vỡ sự giao hảo, mở đầu bằng việc lính Bồ Đào Nha tự ý bắt nô lệ da đen mà không thông qua nhà vua Kongo. Điều này dẫn đến sự chống đối người Bồ Đào Nha của người dân Kongo. Mặc dù người Bồ Đào Nha vẫn giữ quan hệ tốt với nhà vua, và giúp ông đánh bại các bộ lạc nổi loạn, tình hình càng về sau càng xấu đi. Cuối cùng vào năm 1622, tình bạn này tan vỡ khi Bồ Đào Nha tấn công và tàn sát quân đội Kongo, dẫn đến hủy diệt vương quốc này, cùng lúc với việc xâm chiếm toàn bộ vùng Angola. Trải qua nhiều thế kỷ, đến thế kỷ 19, các đế quốc châu Âu hoàn tất chia sẻ châu Phi, trong đó Bồ Đào Nha chiếm Angola còn toàn bộ vùng Congo thuộc Vương quốc Bỉ. Vương quốc Kongo bị xóa sổ và chia cắt giữa 2 nước Angola và Congo.

Khác với Kongo, vương quốc Luba ở vùng Katanga (một lần nữa hãy nhớ tên vùng Katanga) đã có mối liên hệ từ lâu với Đông Phi, và số phận vương quốc phụ thuộc lớn vào lịch sử Đông Phi. Suốt hàng thể kỷ người Luba đã bắt các nô lệ da đen ở khắp nơi bán cho các thương nhân Arab, Ba Tư ở các vùng biển Đông Phi. Sau đó, người Bồ Đào Nha đặt chân đến Đông Phi, có nhiều hành động tấn công, cướp bóc người Luba. Dù vậy, đế chế của Bồ Đào Nha ở Đông Phi lại kết thúc nhanh chóng, khi họ bị người Oman (một nước thuộc bán đảo Arab, giáp Arab Saudi) đánh đuổi khỏi Đông Phi. Nhưng lần này, người Oman đã không còn mua bán đơn thuần với Vương quốc Luba như trước kia.

Từ năm 1860, những bộ lạc Đông Phi, trước kia vốn bị Luba bắt làm nô lệ, đã nổi dậy ngược lại và đánh vào vương quốc Luba. Sau đó, họ được người Oman hỗ trợ, đánh sâu vào lãnh thổ Luba và chiếm nhiều vùng rộng lớn. Chỉ trong 20 năm, từ 1860 đến 1880, vương quốc Luba bị dịch bệnh và chiến tranh xâm lược tàn phá khủng khiếp, đại đa số dân cư chết đói.

Đến năm 1890, người Bỉ đến thám hiểm và sáp nhập hoàn toàn vùng Katanga, vương quốc Luba bị xóa sổ.

II) Thời kỳ thuộc địa Congo và cuộc diệt chủng bị lãng quên ở Congo

Năm 1885, vua Leopon II của nước Bỉ đã tuyên bố chiếm lấy vùng Congo (mặc dù năm 1891 mới sáp nhập vùng Katanga). Nhưng Congo thậm chí không phải là thuộc địa của nước Bỉ, mà tệ hơn chỉ là tài sản riêng của vua Leopon II. Điều đó có nghĩa là, người dân Congo thậm chí không có quyền bằng dân các nước thuộc địa khác, mà chỉ tương đương như ”thú nuôi” của vua Bỉ mà thôi.

Thời kỳ Congo thuộc tài sản vua Bỉ có tên là “Nhà nước Congo tự do” (Congo Free State), ghi dấu một trong những tộc ác lớn nhất lịch sử nhân loại – tội ác giết chết 10 triệu người dân Congo.

Dưới sự kiểm soát của nhà vua Bỉ, toàn bộ những gì trên đất nước Congo đều là tài sản của nhà vua. Vua Leopold biến Congo thành vùng đất trồng cao su rộng lớn để bán đi khắp thế giới kiếm lời. Nhưng hai từ ”cao su” trong lịch sử Congo, gắn liền với máu và nước mắt, đến nỗi người ta dùng từ ”Rubber Terror” (khủng bố cao su). Có rất nhiều giai thoại về giai đoạn này.

-Vua thường bắt cả một làng phải đi trồng cao su, mang cả gia đình, người thân theo. Chỉ cần một người chống đối, cả ngôi làng có thể bị giết và thiêu rụi.

-Người ta gọi Cao su xuất xứ từ Congo thuộc Bỉ là ”Cao su đỏ” (Red Rubber System), đúng theo cả nghĩa đen và nghĩa bóng. Nghĩa bóng thì đã rõ ràng, nhưng nghĩa đen ở đây là phương thức khai thác cao su. Khác với cao su thân đứng ở Việt Nam, cao su ở Congo là cây dây leo (có hình minh họa ở dưới hoặc tra Landolphia owariensis trên Google). Thời điểm đó Bỉ chưa có cách cạo mủ cao su thân leo, người khai thác phải để mủ cây bám lên mình rồi sau đó bóc ra, vô cùng đau đớn và có lúc chảy máu dính vào mủ cao su có màu đỏ. Rất nhiều người đã chết sau khi lấy mủ cao su.

2.jpg

-Vua đặt ra hạn ngạch thuế cao su cho các làng xã phải nộp cao đến mức phi lý, những ngôi làng không nộp đủ sẽ bị tàn phá. Để ngăn chặn sự chống đối, vua Bỉ đã mua chuộc các bộ lạc ăn thịt người ở vùng Thượng Congo. Những bộ lạc này không phải là không cần nộp thuế cao su, nhưng là nộp theo cách khác: chặt tay những người không chịu nộp. Binh lính sau những lần thu thuế về nếu không thu đủ thuế thường sẽ mang theo một xâu bàn tay, bàn chân của những người bị chặt để được tha tội. Những người chết sẽ bị ăn thịt. Quy định quái ác này đã gây ra cả những vụ thảm sát ngay trong các làng mạc người Congo, khi người dân chém giết nhau để cướp cao su đi nộp.

3.jpg

Hình ảnh những người bị chặt tay đã trở thành biểu tượng tội ác của ”Nhà nước Congo tự do”, sau này đã tố cáo chính quyền này trước tòa án quốc tế. Các nước dù có là thực dân cũng không thể chấp nhận tội ác kinh tởm ngay giữa thế kỷ 20 như vậy. Năm 1908, các mục sư Đan Mạch đã đi khắp Congo, ghi và chup ảnh những tội ác tàn bạo của Bỉ với người dân bản xứ, tố cáo chúng lên quốc tế. Nước Bỉ buộc phải ra hầu tòa, chấp nhận áp quy chế thuộc địa cho Congo, nghĩa là người dân Congo có quyền ngang với người dân Bỉ trong nước. Đến đây chấm dứt phần nào tội ác của Nhà nước Congo tự do.

Trong hơn 20 năm, từ 1885 đến 1908, vua Leopold 2 của Bỉ đã gây ra cái chết của 10 triệu người dân Congo, khi dân số nước này chỉ có hơn 20 triệu người, tương đương với quy mô diệt chủng. Con số khủng khiếp này đã đưa Leopold 2 đi vào lịch sử với tư cách là tên vua độc ác bậc nhất lịch sử nhân loại. Nhưng từ đó đến nay, nước Bỉ chưa một lần đưa ra lời xin lỗi

Từ năm 1908 về sau, Congo hưởng quy chế thuộc địa. Dù không còn chịu những tội ác như trước, nhưng Congo vẫn là một nước vô cùng phát triển, do chính sách khai thác kiệt quệ mà không đầu tư của Bỉ. Đến những năm 1960, chỉ 1% đất nước Congo có đường sắt. Đường dây điện thoại chưa hề được nâng cấp kể từ năm 1935. Dịch vụ y tế kém phát triển đến nỗi có đến nửa triệu người Congo chết vì ”bệnh ngủ”, một căn bệnh xảy ra hầu hết châu Phi nhưng rất ít người chết. Liên hợp quốc coi cả 3 thuộc địa nước Bỉ là Congo, Rwanda và Burundi là 3 nước nghèo nhất thế giới.

Trong bối cảnh tăm tối của đất nước Congo, vùng Katanga lại có một vị thế khác. Đó là nhờ vào nguồn tài nguyên giàu có hàng đầu thế giới ở vùng này. Katanga tập trung hầu hết những mỏ kim loại quý nhất của Congo gồm Coban, Đồng, thiếc, urani, radi, kim cương,…Katanga sản xuất một nửa lượng Coban của thế giới. Nhưng trong chiến tranh Lạnh, thứ được nhòm ngó nhất của Katanga là Urani – chất dùng để sản xuất bom hạt nhân.

Nhờ vào việc khai thác kim loại đã đủ giàu, nhiều người địa phương Katanga đã mua chuộc giới chức người Bỉ. Nhờ vậy, vùng Katanga ít phải nộp thuế cao su, không những thế lãnh đạo địa phương còn do chính người Katanga đứng đầu, có quyền tự trị cao hơn hẳn. Cũng từ đó, nhiều lãnh đạo vùng Katanga có ý định ly khai khỏi nước Congo.

III) Độc lập và khủng hoảng

1) Patrice Lumumba và phong trào độc lập

Những năm 50-60, làn sóng độc lập càn quét châu Phi. Hàng loạt các quốc gia tuyên bố độc lập, hệ thống thuộc địa sụp đổ. Năm 1960 được gọi là năm châu Phi với 17 nước châu Phi tuyên bố độc lập, trong đó có Congo.

Trong quá trình độc lập của Congo, nổi lên vai trò của nhà cách mạng Patrice Lumumba.

4.jpg

Patrice Lumumba sinh ngày 2 tháng 7 năm 1925 trong một gia đình Thiên chúa giáo thuộc nhóm dân tộc Tetela, vùng Kasai, ông được đào tạo trong trường Công giáo độc lập với hệ thống trường học của thực dân Bỉ xây dựng ở Congo. Lumumba nói được tiếng Tetela (thổ ngữ), tiếng Pháp (ngôn ngữ chính thức của Congo), Lingala, Swahili và Tshiluba,..Lumumba tiếp xúc nhiều với các tác phẩm chống chủ nghĩa đế quốc và nhanh chóng hình thành tình cảm chống đế quốc. Tuy nhiên, chắc chắn một điều là ông chưa ngả sang chủ nghĩa xã hội.

Do hoạt động chống thực dân, ông bị bắt giam đến năm 1958 thì ra tù, tham gia Phong trào dân tộc Congo (MNC). Ông đã biến thành tổ chức đấu tranh mạnh mẽ cho độc lập của Congo. Phong trào mạnh mẽ của MNC buộc thực dân Bỉ trao trả độc lập cho Congo. Dù ông bị bắt lại cuối năm 1959, sự phản đối khiến Bỉ nhanh chóng thả Lumumba. Nhờ vậy tháng 1/1960, Lumumba vừa ra tù đã bay sang nước Bỉ, đàm phán trao trả độc lập cho Congo. Trở về quê nhà, ông đích thân cùng thủ tướng Bỉ Gaslon Eyskens ký hiệp ước độc lập.

Chiến thắng vang dội, Lumumba trở thành biểu tượng của nền độc lập, có uy tín rất lớn. Trong cuộc bầu cử năm 1960, Lumumba và Phong trào dân tộc Congo MNC chiến thắng áp đảo và ông trở thành Thủ tướng. Joseph Kasa-Vubu, một nhân vật nổi tiếng không kém Lumumba làm Tổng thống, trong khi Mobutu Sese Seko làm tổng chỉ huy quân đội (hãy cố gắng nhớ tên 3 người này).

5

Độc lập chưa lâu, Congo đã lâm vào một cuộc khủng hoảng, bắt đầu với vấn đề Katanga.

2/ Vấn đề Katanga – nguồn cơn khủng hoảng.

6.jpg

Như đã nói ở trên, Katanga là một vùng khác biệt của Congo, giàu có và độc lập hơn phần lớn đất nước. Nguồn lợi của Katanga đến từ những mỏ kim loại khổng lồ, cùng với nhiều công ty tư bản của Anh, Bỉ, Pháp,…đóng ở đó.

Khi Bỉ trao trả độc lập của Congo, nhiều lãnh đạo địa phương vùng Katanga có ý nghĩ không muốn chia sẻ túi tiền cho những vùng nghèo khó khác của đất nước. Vì vậy, đứng đầu là Moïse Tshombe, chính quyền Katanga đặt ra ý đồ ly khai. Và điều này được Bỉ ủng hộ, do các công ty giàu có của Bỉ đang ở vùng này. Ngày 11-7-1960, “Nhà nước (tỉnh) Katanga” tuyên bố độc lập dưới sự lãnh đạo của “Thủ tướng” Moïse Tshombe, với sự hỗ trợ của chính phủ Bỉ và các công ty khai thác mỏ.

Lợi dụng sự ly khai của Katanga, quân đội Bỉ đóng lại vùng này không rút đi. Điều này bị chính quyền trung ương Congo coi là vi phạm thỏa thuận độc lập. Lần lượt thủ tướng Lumumba và Tổng thống Kasa-vubu gửi 2 bức thư riêng lẻ tới Liên hợp quốc, nhờ họ can thiệp buộc Bỉ rút quân, do lúc này Congo chưa có quân đội. Liên hợp quốc ra nghị quyết số 143, yêu cầu Bỉ rút quân và lực lượng hòa bình LHQ đến thay thế. Nghị quyết thực thi một nửa: quân LHQ đến Congo nhưng quân Bỉ vẫn không rút.

Học theo Katanga, vùng Nam Kasai cũng tuyên bố ly khai. Tình hình Congo rối như tơ vò. Tình hình vô chính phủ gây ra nhiều vụ giết người, cướp bóc. Một số vụ tấn công nhằm vào dân thường da trắng tạo cớ cho Bỉ tăng cường lực lượng. Trong tình hình vốn đã rối ren đó, chính phủ trung ương của Congo lại bị chia rẽ. Thủ tướng Lumumba ủng hộ một nhà nước duy nhất, trong khi Tổng thống Kasa-vubu lại ủng hộ một liên bang Congo, với Katanga và các vùng khác tự trị. Xung đột trong chính phủ trung ương đẩy Congo lún sâu trong khủng hoảng, tạo điều kiện cho đại tá quân đội Mobutu Sese Seko dần thâu tóm quyền lực.

Như vậy đến đây, khẳng định bản chất của cuộc khủng hoảng Congo là xung đột lãnh thổ, dân tộc giữa vùng Katanga và chính quyền Congo, giữa Thủ tướng Lumumba và Tổng thống Kasa-vubu, hoàn toàn chưa có màu sắc ý thức hệ.

3/ Lumumba ngả sang Liên Xô – phương Tây can thiệp

Với bản chất ban đầu như vậy, quyết định ngả sang Liên Xô của thủ tướng Lumumba là ngọn gió thổi bùng cháy đất nước Congo.

Thực ra, ban đầu Lumumba định nhờ vả…Mỹ!!! Tháng 7/1960 bên lề hội nghị của LHQ, thủ tướng Lumumba đã gặp bộ trưởng ngoại giao Hoa Kỳ Christian Herter, bày tỏ lo ngại quân Bỉ và nhờ chính quyền Mỹ giúp đỡ. Dù Mỹ hứa sẽ giúp Congo ổn định tình hình, nhưng khi về đến Congo Lumumba đã biết Mỹ ”hứa lèo”. Tổng thống Eisenhower không hề có hành động nào ngăn chặn Bỉ.

Có lẽ chính người Mỹ cũng không ngờ, sự ”keo kiệt” (theo cách gọi của báo chí Mỹ), đã ”ném thẳng Congo vào tay Xô Viết”. Thất vọng với Eisenhower, thủ tướng Mobutu cầu viện Liên Xô. Và không hiểu có sự chuẩn bị trước nào không, ngay sau khi nhận yêu cầu 1000 cố vấn Liên Xô cùng hàng tấn trang bị đổ bộ vào Congo. Vừa mới tới Congo, Liên Xô nhanh chóng hỗ trợ Congo xây dựng quân đội. Họ nhanh chóng tổ chức chiến dịch tấn công đè bẹp vùng Nam Kasai (một trong 2 vùng đòi ly khai cùng vùng Katanga).

Việc ”nuốt chửng” Nam Kasai như một tối hậu thư gửi đến Katanga, đồng thời là thư tuyến chiến gửi đến phương Tây. Sự chống lưng của Liên Xô làm thủ tướng Lumumba nâng cao vị thế, đe dọa mọi đối thủ. Tổng thống Kasa-vubu lúc này lại nhờ cậy đến tướng quân đội Mobutu, người có uy tín lớn nhất trong quân đội Congo, do biết rõ ông ta là một người ghét Cộng sản.

Ngày 5 tháng 9 năm 1960, tổng thống Kasa-vubu lên đài phát thanh tuyên bố sa thải thủ tướng Lumumba. Đáp lại, thủ tướng Lumumba lại cũng lên đài phát thanh tuyên bố phế truất Tổng thống. Do cả 2 người đều có uy tín như nhau, quốc hội Congo không ngả theo bên nào, đất nước rơi vào khủng hoảng hiến pháp. Tình hình bế tắc đến ngày 14 tháng 9 năm 1960, quân đội của tướng Mobutu bất ngờ đảo chính, bắt giữ Tổng thống Kasa-vubu. Thủ tướng Lumumba đang ở nhà riêng, nhờ có lực lượng Liên hợp quốc bảo vệ đã trốn thoát.

Lúc này, Congo đã thực sự khủng hoảng. Nếu như trước đó Liên hợp quốc chỉ gọi là “Khủng hoảng Katanga” thì tháng 11 năm 1960 đã bắt đầu thảo luận về ”khủng hoảng Congo”. Ở đây, do biết Lumumba đã ngả về Liên Xô, các nước tư bản Anh, Mỹ, Pháp và Trung Hoa dân quốc…đã gây sức ép, buộc Liên Hợp quốc công nhận chính phủ quân sự của tướng Mobutu. Liên Xô kiên quyết phản đối nhưng không thể chống lại phe tư bản đang khống chế LHQ. Đến đây, thủ tướng Lumumba đã biết số phận của mình.

4/ Sát hại thủ tướng Lumumba – vết nhơ thế kỷ của nước Mỹ.

7.jpg

Theo sau nghị quyết Liên Hợp Quốc, quân Mỹ, Anh theo chân LHQ tràn vào Congo, tước khí giới quân đội của Lumumba. Cố vấn Liên Xô không dám can thiệp. Ở LHQ, Liên Xô kịch liệt lên án cả phương Tây lẫn tổng thư ký LHQ, ông Dag Hammarskjöld (người Thụy Điển).

Ở Congo, bị cộng đồng quốc tế quay lưng, thủ tướng Lumumba chạy về phía Đông, nơi những người trung thành với ông lập căn cứ kháng cự. Tuy nhiên, họ không chống lại được quân chính phủ. Quân kháng chiến nhanh chóng thất bại và ngày 1/12/1960, Lumumba bị bắt ở Lodi bởi quân của tướng Mobutu.

Nhưng quân Mobutu lại đẩy trách nhiệm cho quân ly khai ở Katanga. Thủ tướng Lumumba bị đưa đến Katanga cho quân ly khai của Moïse Tshombe giam giữ. Ở đây, họ bỏ đói và tra tấn Lumumba.

Việc bắt giữ Lumumba thì ai cũng biết. Thế giới thì bình tĩnh kêu gọi đối xử đúng luật với Lumumba. Nhưng đột ngột ngày 13/2/1960, chính quyền ly khai Katanga tuyên bố Lumumba đã chết. Cả thế giới rung chuyển. Càng chấn động hơn khi tin tức nói rằng Lumumba đã bị xử tử từ ngày 17/1/1960.

Thế giới hỗn loạn. Các nước Xã hội chủ nghĩa điên cuồng chỉ trích Liên hợp quốc. Đại sứ quán Mỹ ở Nam Tư bị tấn công phá hoại. Sứ quán Anh ở Tanzania bị ném bom. Khắp thế giới biểu tình giận dữ vì cái chết của nhà lãnh đạo độc lập Congo.

Nước Mỹ im lặng, nhưng thực ra trong sự im lặng đó là sự rối ren trong nội bộ lãnh đạo với tình báo. Chính quyền Mỹ biết CIA chỉ huy vụ bắt giữ Lumumba, tuy nhiên việc giết Lumumba thì họ chưa hề ra lệnh. Các tài liệu giải mật sau này đã tiết lộ sự chia rẽ sâu sắc giữa Nhà trắng và CIA trong vụ Lumumba, khi chính quyền cho rằng CIA đã đi quá giới hạn. Từ đó về sau, có nhiều nỗ lực kiềm chế hoạt động của CIA, nhưng các vụ ”vượt rào” của CIA vẫn diễn ra như cơm bữa. Mặc dù vậy, sau này người ta lại cho rằng, vai trò của tình báo Anh trong vụ việc lớn hơn của CIA.

Vụ ám sát Lumumba trở thành một vết nhơ thế kỷ của nước Mỹ nói chung và tình báo Mỹ nói riêng. Sau cái chết của Lumumba, các vụ giết chóc trả thù trên khắp Congo diễn ra, nhưng nhanh chóng bị bàn tay sắt máu của tướng Mobutu dập tắt.

5/ Dập tắt ly khai Katanga – kết thúc khủng hoảng lãnh thổ.

Cái chết của Lumumba đã tạm thời xóa bỏ lực lượng Cộng sản Congo khỏi cuộc chơi (nhưng chỉ là tạm thời).

Vấn đề cốt lõi tồn tại lúc này lại quay về vùng Katanga, nơi chính quyền ly khai dù cùng chống Cộng giống chính quyền Congo, nhưng không thể giải quyết vấn đề ly khai. Tướng Mobutu, với sự ủng hộ của quân đội, không giấu diếm ý đồ đàn áp vùng Katanga.

Lúc này, sự ủng hộ của phương Tây cho Katanga ít dần đi, chuyển hướng cho chính quyền của Mobutu. Để trả đũa việc này, quân đội Katanga của Tshombe đã bắt giữ lính LHQ người Ai-len làm tù binh, đòi LHQ phải nhượng bộ. Việc làm đã phản tác dụng, chỉ huy quân Liên Hợp quốc gửi thêm quân đến Katanga, đe dọa tấn công nếu Tshombe không thả lính Ai-len.

Ngày 18/9/1961, bi kịch ập đến khi Tổng thư ký LHQ Dag Hammarskjöld đang trên đường đến Congo hòa giải, máy bay chở ông bị rơi ở gần sân bay Ndola, Bắc Rhodesia (nay là Zambia, thuộc địa cũ của Anh). Cái chết của ông không bao giờ sáng tỏ.

Tổng thư ký mới, ông U Thant, người Myanmar, là một người cứng rắn với quân ly khai. Ông buộc thành công Katanga phải thả lính LHQ. Mặc dù vậy, tướng Mobutu vẫn quyết tấn công Katanga. Được sự thống nhất, quân của Mobutu cùng quân LHQ đã tấn công vùng Katanga ngày 24 tháng 12 năm 1962. Quân Katanga không chống cự được đã đầu hàng. Ngày 17 tháng 1 năm 1963, thủ tướng ly khai Tshombe đã đầu hàng, chấm dứt nhà nước ly khai Katanga.

Đất nước Congo tạm thời thống nhất lãnh thổ. Tuy nhiên, chia rẽ về ý thức hệ đã làm bùng nổ cuộc chiến mới, dẫn đến cuộc nổi dậy Simba của những người Cộng sản. Cuộc chiến này sẽ được nói tới ở bài sau.

*Bí ẩn vụ tai nạn của Tổng thư ký LHQ Dag Hammarskjöld

8910

Dag Hammarskjöld – là nhà ngoại giao Thụy Điển, nắm chức Tổng thư ký LHQ khi mới 47 tuổi (trẻ nhất) vào năm 1953. Ông được biết đến với nhiều thành công trong hòa giải quốc tế, điển hình là việc giải quyết vấn đề tù binh trong chiến tranh Triều Tiên, khi thuyết phục Trung Quốc thả các phi công Mỹ bị bắt.

Trong khủng hoảng Congo, Tổng thư ký Dag Hammarskjöld ban đầu cố hết sức để duy trì hòa bình bằng cách đưa lực lượng LHQ đến Congo. Nhưng ông thất bại trong việc bắt lính Bỉ rút đi. Cuối cùng, khi thủ tướng Lumumba bị ám sát, ông đã hứng rất nhiều chỉ trích của quốc tế.

Vậy nên khi căng thẳng giữa chính quyền Congo và vùng Katanga lên cao năm 1961, ông đã quyết đích thân đến châu Phi hòa giải. Tháng 9/1961, ông sắp đặt một cuộc gặp giữa lãnh đạo Congo và Katanga tại Ndola, thuộc nước Zambia. Nhưng chuyến bay của Tổng thư ký lại không có tiêm kích hộ tống.

Đêm tối ngày 17/9, sáng sớm ngày 18/9/1961, máy bay chở Tổng thư ký đâm vào núi, nổ tung. Toàn bộ hành khách gồm cả ông Dag Hammarskjöld thiệt mạng. Người kế nhiệm ông, U Thant người Myanmar đã giải quyết khủng hoảng Congo bằng cách đàn áp vùng Katanga.

Sau hàng chục năm, vụ tai nạn ngày 18/9/1961 vẫn là bí ẩn không lời giải của lịch sử.

Một báo cáo đặc biệt do Liên Hợp Quốc ban hành sau vụ tai nạn nói rằng một tia sáng trên bầu trời đã được nhìn thấy vào khoảng 01:00 ngày tai nạn. Theo báo cáo đặc biệt của Liên Hợp Quốc, chính thông tin này đã dẫn đến việc suy đoán vụ tai nạn này có thể không phải là một tai nạn và, rằng tổng thư ký đã bị ám sát. Nhưng rồi họ suy đoán rằng những tia sáng này có thể đã được gây ra bởi vụ nổ thứ cấp sau vụ tai nạn. Báo cáo được đưa ra ngày 19/19/1961, đã gây ra rất nhiều tranh cãi tại hội đồng bảo an.

Cơ quan điều tra của Bắc Rhodesia (Zambia sau này) đã điều tra độc lập với Liên Hợp Quốc. Họ tìm thấy vết đạn trên người phi công. Nhưng sau cùng, họ cho rằng vết đạn là từ súng lục phi công mang theo phát nổ, loại trừ khả năng có người bắn phi công.

Giả thiết khác là lỗi điều hành bay (có thể cố ý) của mặt đất. Các nhân viên điều hành của Bắc Rhodesia đã bị bắt thẩm vấn, nhưng không ai bị kết tội gì.

Cuối cùng, ngay cả các thuyết âm mưu cũng bế tắc, do lúc đó ai cũng có mục đích để giết Tổng thư ký LHQ. Liên Xô ngay trước khi tai nạn đã liên tục chỉ trích ông Dag Hammarskjöld vì để thủ tướng Lumumba bị giết. Nhưng Hoa Kỳ cũng có mục đích để giết Dag Hammarskjöld , do ông ngăn cản chính phủ Mobutu thân Mỹ tấn công vùng Katanga. Vùng Katanga, những người cho rằng Dag Hammarskjöld không mạnh dạn ngăn Congo tấn công mình, cũng có động cơ. Thậm chí có giả thuyết cho rằng Nam Phi là quốc gia đứng sau, do họ cung cấp nhiều lính đánh thuê cho Katanga. Giả thuyết này bùng nổ sau khi một vụ tai nạn tương tự xảy ra sau đó năm 1981, cướp đi sinh mạng lãnh tụ Cộng sản Mozambique Micheal Somora, nghi ngờ Nam Phi đứng sau.

Phần 2:  Cuộc nổi dậy Simba (1964-1965)
simpa revolution

Quân nổi dậy Simba với những chiếc mũ gắn lông, được các phù thủy nói rằng giúp họ tránh được đạn.

Như đã nói, cuộc khủng hoảng ở Congo là một chuỗi sự kiện cả chính trị lẫn quân sự phức tạp. Ban đầu từ khủng hoảng lãnh thổ do tỉnh Katanga ly khai, sau đó gây ra khủng hoảng hiến pháp do chia rẽ giữa tổng thống Kasa-vubu và thủ tướng Lumumba, và nấc thang cuối cùng lên đến xung đột ý thức hệ do thủ tướng Lumumba ngả theo những người Cộng sản Liên Xô, để rồi cuối cùng bị tình báo Mỹ sát hại.

Cái chết của Lumumba tưởng chừng đã gạt những người Cộng sản Congo khỏi cuộc chơi, nhường lại cho chỉ còn 2 phe: chính phủ Congo và tỉnh ly khai Katanga. Vậy nên, sau khi quân Katanga bị đánh bại vào đầu năm 1963, người ta nghĩ hòa bình đã trở lại và Liên hợp quốc đã tính đến phương án bầu cử tự do cho Congo.

Nhưng không! Những người Cộng sản đã bất ngờ quay lại, tiến hành một cuộc nổi dậy rộng khắp ở miền Đông đất nước, với tên gọi “Cuộc nổi dậy Simba” – một trong những sự kiện nóng bỏng bậc nhất thế giới thời Chiến tranh Lạnh. Bài viết này chỉ nói về cuộc nổi dậy Simba, nhưng thực tế còn có một cuộc nổi dậy khác cũng của những người Cộng sản ở phía Tây đất nước, tên là ”nổi dậy Kwilu”, xin phép không đề cập sâu

*Về tên gọi ”Simba”: những tín đồ phim ảnh không hề xa lạ với cái tên này, qua bộ phim ”Vua sư tử” của Disney. Nhân vật chính là một chú sư tử tên là Simba. Nhưng thực tế ”Simba” không phải là tên riêng, mà là danh từ chung trong tiếng Swahili nghĩa là ”con sư tử”. Tiếng Swahili là ngôn ngữ rất phổ biến ở Đông Phi, một phần rộng lớn lãnh thổ phía Đông của Congo cũng nói thứ tiếng này. Vì vậy, quân nổi dậy ở Congo đã tự xưng là ”Simba” nghĩa là ”sư tử” để thể hiện sức mạnh.

*Bối cảnh cuộc nổi dậy và lực lượng quân Simba

Sự kiện Thủ tướng Lumumba thân Liên Xô bị sát hại tháng 1 năm 1963 đã gây phẫn nộ toàn thế giới và cả trong đất nước Congo. Khắp nơi người ta lên án người Mỹ, hoặc Bỉ vì cho rằng họ dính líu đến cái chết của thủ tướng. Tuy nhiên, những người Cộng sản Congo hiểu rằng, tình hình vẫn không có lợi cho họ, do đại tá Mobutu Sese Seko vẫn có uy quyền rất lớn trong quân đội Congo, và ông này là một người chống Cộng kịch liệt. Hơn nữa, lực lượng ly khai ở Katanga dù đang chống chính phủ Congo nhưng cũng không chấp nhận những người Cộng sản. Chính quân ly khai Katanga là những người đã hành quyết tổng thống Lumumba, sau khi ông bị bắt trong lãnh thổ tỉnh Katanga.

Vì vậy, thay vì đối đầu trực tiếp, những người Cộng sản ủng hộ Lumumba chọn cách lui xa về phía Đông đất nước, thiết lập lực lượng kháng chiến chờ cơ hội. Tuy nhiên trong số đó, có một nhân vật tên là Pierre Mulele, là một người Cộng sản nhưng lại không theo Liên Xô. Ông này được đào tạo du kích nhiều năm ở Trung Quốc, và đã mang lính du kích đào tạo ở Trung Quốc về tiến hành nổi dậy ở quê nhà tại vùng Kwilu phía Tây đất nước, tách biệt với quân nổi dậy Simba ở phía Đông.

Với quân Simba, tình hình bắt đầu có lợi cho họ từ năm 1963. Đầu năm 1963, quân ly khai Katanga bị chính phủ Congo đánh bại. Đất nước Congo được thống nhất, tạm thời có được ổn định chính trị. Các kế hoạch bầu cử tự do cho Congo đã được lên kế hoạch, dù trên thực tế quân đội của đại tá Mobutu vẫn có can thiệp vào chính trường. Giai đoạn ổn định trong suốt năm 1963 tạo điều kiện cho quân Simba xây dựng lực lượng mà không bị quân đội Congo càn quét.

Quân Simba chọn căn cứ của mình tại một thành phố rất nổi tiếng là Stanleyville. Đây là một thành phố có lịch sử rất lâu, và khi người Bỉ đô hộ Congo đã biến thành phố thành trung tâm của miền Đông Congo, đặt tên là Stanleyville (còn tên địa phương của thành phố là Kisangani). Vì thành phố do người châu Âu xây dựng, nên có rất đông người châu Âu giàu có và nhiều người Thiên chúa giáo tập trung ở thành phố. Nói không quá, Stanleyville giống như một thành phố châu Âu giữa lòng châu Phi. Do ở rất xa thủ đô Kinhasa và bị bao phủ bởi rừng nhiệt đới rộng lớn, quân đội Congo không tới gần được thành phố này. Quân nổi dậy Simba đã xây dựng căn cứ du kích ngay bên cạnh thành phố của người châu Âu. Họ thỏa thuận sẽ không tấn công dân thường da trắng, đổi lại những người châu Âu sẽ không hợp tác với chính phủ Congo.

Thuận lợi với quân Simba còn đến từ nước láng giềng phía Đông, Tanganyika (nay là Tanzania). Tổng thống của Tanganyika là một nhà cách mạng rất nổi tiếng Julius Nyerere, với tư tưởng Xã hội chủ nghĩa độc lập của mình. Năm 1964 sau cuộc cách mạng nổ ra ở đảo quốc Zanzibar giàu có ngoài khơi Ấn Độ Dương, Zanzibar đã sáp nhập với Tanganyika, tạo thành nhà nước Tanzania thống nhất, đi theo con đường Xã hội chủ nghĩa. Vì vậy sau cách mạng rất nhiều hỗ trợ của Liên Xô, Trung Quốc, Cuba đã cập cảng Tanzania, từ đó tỏa đi các phong trào kháng chiến khác trên khắp châu Phi. Dĩ nhiên có phần cho quân Simba ở Congo. Với cuộc nổi dậy Simba, hàng trăm cố vấn quân sự Liên Xô, Cuba đã đến Congo qua ngả Tanzania hỗ trợ cho quân nổi dậy.

Trên thực tế, ban đầu Liên Xô có kế hoạch viện trợ (và đã thực hiện) thông qua nước Sudan ở phía Bắc. Một cầu không vận từng được thiết lập tại Juba (thủ đô của Nam Sudan sau này) với kế hoạch thả dù tiếp việc cho quân Simba ở biên giới Sudan. Tuy nhiên sau đó miền Nam Sudan rơi vào nội chiến giữa những người Thiên chúa giáo vào Hồi giáo (nền tảng cho sự ly khai của Nam Sudan sau này). Con đường tiếp viện bị gián đoạn khiến Liên Xô chuyển qua Tanzania ở phía Đông.

Và cuối cùng, không thể không nhắc tới vai trò của nhà cách mạng nổi tiếng: Che Guevara. Sau thành công của Cách mạng Cuba, Che Guevara đã nhanh chóng lên đường sang châu Phi tiếp tục thực hiện giấc mơ cách mạng. Ông thăm một loạt nước châu Phi mới độc lập, sau đó thăm Tiệp Khắc, Trung Quốc, cuối cùng bằng cách bí mật nào đó đã đến Congo vào năm 1963. Ở đây, Che Guevara cùng hàng trăm lính Cuba khác đã giúp đỡ quân Simba với hy vọng làm một cuộc cách mạng tương tự như Cuba. Tuy nhiên, Che Guevara đã nhanh chóng thất vọng vì sự yếu kém vô kỷ luật của quân Simba, nên sau đó đã rời khỏi Congo, dù một số lính Cuba vẫn ở lại chiến đấu.

Với những sự giúp đỡ đó, đến cuối năm 1963 quân Simba đã có đủ lực lượng để tiến hành nổi dậy. Do địa bàn của quân Simba lúc này rất rộng lớn, nên không biết chính xác họ có bao nhiêu quân. Người ta ước tính quân Simba có chừng vài chục nghìn lính vũ trang, cùng với hàng trăm nghìn người có cảm tình trên khắp miền Đông Congo. Về vũ khí, dù có được một số trang bị hiện đại của Liên Xô, Trung Quốc, đại đa số quân Simba vẫn trang bị súng đạn tương đối lạc hậu, với nhiều vũ khí từ thời thế chiến 2. Đối thủ của họ – quân đội Congo cũng không hơn họ là mấy. Nhưng vấn đề ở chỗ, quân đội Congo không phải đối thủ duy nhất của Simba!

Về chỉ huy, quân Simba trải trên một địa bàn rộng, nên khó xác định chỉ huy cao nhất. Quân Simba thường coi một số lãnh đạo là Nicholas Olenga hay Christophe Gbenye là chỉ huy tối cao. Nhưng trong hàng ngũ lãnh đạo Simba, sau này nổi lên một nhân vật quan trọng là Laurent-Désiré Kabila. Còn lý do là bởi Kabila sau này đã trở thành Tổng thống của Congo, nhưng vào tận năm 1997, hơn 30 năm sau cuộc nổi dậy Simba.

*Diễn biến chính

Kongo_1964_map_en.png

Thực tế vào lúc cuộc nổi dậy Simba bắt đầu vào cuối năm 1963, cuộc nổi dậy Kwilu ở phía Tây do Pierre Mulele thân Trung Quốc đã diễn ra vài tháng, và quân đội Congo dồn lực lượng của mình vào Kwilu để tiêu diệt quân của Mulele. Điều này tạo một khoảng trống ở phía Đông, nơi có những đơn vị lớn, trang bị tốt của quân Congo nhưng lại thiếu sự chỉ huy từ thủ đô.

Quân Simba vào thời điểm ban đầu chưa đánh lớn với quân chính phủ. Họ tổ chức vài cuộc tấn công nhỏ, nhưng trong mỗi cuộc tấn công họ lại gửi thư trước cho quân chính phủ, nói những lời de dọa về sự hùng hậu của lực lượng Simba. Không ít trong số đó là nói phóng đại để tác động tinh thần của quân Congo. Nhưng bằng một cách khó tin nào đó, cách làm này lại phát huy hiệu quả không ngờ. Nhiều đơn vị quân Congo đã bỏ chạy mà không cần giao chiến sau khi quân Simba gửi thư đe dọa, để lại số vũ khí lớn. Trong khi đó, ở thủ đô chính quyền Congo lại gần như bị che đậy khỏi những gì đang diễn ra ở miền Đông, một phần nguyên nhân là họ đang dồn lực ở vùng Kwilu.

Không chỉ gửi thư đe dọa, quân Simba còn có một phương thức mang màu sắc mê tín. Đó là họ cho binh sĩ mặc những trang phục kì quái của các phù thủy, nhảy múa trước quân chính phủ khi giao tranh. Những binh sĩ Congo, vốn là những người cũng mê tín, nghĩ rằng quân Simba đã được làm phép để không trúng đạn, nên đã không dám bắn.

Vì những lý do khá ngớ ngẩn trên, mà đến tháng 7 năm 1964 quân Simba với không nhiều thương vong đã chiếm được phần rộng lớn lãnh thổ phía Đông Congo, nắm giữ một nửa dân số. Đến lúc này giới quân sự ở thủ đô do đại tá Mobotu đứng đầu mới nhận thức được mối nguy từ quân Simba. Nhưng Mobutu lại quy trách nhiệm cho sự yếu kém của chính phủ trung ương do Tổng thống Kasa-vubu đứng đầu, và vì vậy ông gây sức ép lên Kasa-vubu để thay đổi chính phủ. Lúc này, người Mỹ và phương Tây cũng thực sự lo ngại trước nguy cơ quân Cộng sản thắng thế ở Congo. Vì vậy, họ đặt niềm tin vào tướng Mobutu, bắt đầu ủng hộ cho ông này. Theo đó, chính phủ Mỹ và Bỉ đã gây sức ép, thậm chí đe dọa để tổng thống Kasa-vubu thay đổi các vị trí chính phủ, theo sự sắp đặt của tướng Mobutu. Trong đó, có một quyết định hết sức gây ngạc nhiên là tướng Mobutu mời lại thủ tướng ly khai lúc trước của vùng Katanga, Moïse Tshombe, đang phải lưu vong trở về làm thủ tướng. Quyết định khiến đến cả người Mỹ cũng không hiểu, do Moïse Tshombe rõ ràng chính là đối thủ không đội trời chung của Mobutu hồi còn đánh nhau ở Katanga và đã bị Mobutu đánh bại. Nhưng Mobutu đưa cái lý của mình rằng Tshombe có kinh nghiệm đối phó với du kích hơn là quân chính phủ Congo.

Và Mobutu đã đúng. Tshombe quay lại chỉ huy đã thay đổi bộ mặt của quân Congo. Chỉ có điều vai trò của Tshombe không chỉ là ”có kinh nghiệm đối phó du kích” như Mobutu nói, mà quan trọng thực sự là Tshombe có quan hệ với lính đánh thuê. Sau khi trở về làm thủ tướng, Tshombe đã yêu cầu cho những Hiến binh Katanga (những người lính ly khai của Katanga ngày trước), trở về Congo chiến đấu. Trong số những Hiến binh Katanga, không ít người vốn là người da trắng, có quan hệ với các tập đoàn lính đánh thuê ở Châu Âu, Nam Phi. Với sự yêu cầu của Tshombe, nhiều nhóm lính đánh thuê châu Âu đã lên đường đến Congo chiến đấu. Đây mới chính là điều thay đổi cục diện cuộc chiến. Và đơn vị đánh thuê đã trở nên lẫy lừng danh tiếng sau cuộc chiến này, là ”Đơn vị biệt kích số 5” của Mike Hoare, biệt danh ”Mike điên loạn”, người được coi là lính đánh thuê nổi tiếng nhất lịch sử.

Hàng chục nghìn lính đánh thuê bắt đầu đến Congo ồ ạt từ tháng 7 năm 1964, đánh dấu giai đoạn phản công của chính phủ Congo.

Sự vượt trội của lính đánh thuê châu Âu đã làm thay đổi căn bản tình hình. Trong khi quân Simba tự tin rằng quân chính phủ Congo không thể nào hành quân xuyên qua rừng để tấn công căn cứ của Simba tại Stanleyville. Nhưng họ lại không ngờ lính đánh thuê lại sử dụng không vận để nhảy dù xuống Stanleyville. Vậy là chỉ mất 1 tháng, lính đánh thuê đã bao vây được Stanleyville vào tháng 8 năm 1964. Lúc này trong thành phố, hàng chục nghìn dân thường gốc Âu và hàng trăm nghìn người dân gốc Phi đang bị kẹt lại. Để ngăn một cuộc tấn công vào Stanleyville, quân Simba đã bắt đầu chiến dịch khủng bố, bắt cóc dân thường ở Stanleyville làm con tin. Họ cũng đồng thời thảm sát những linh mục Công giáo, giáo viên, quan chức, cảnh sát,…bất kể da đen hay trắng, những người mà quân Simba cho là có thể hợp tác với quân chính phủ Congo.

Từ tháng 8 năm 1964, tình hình con tin tại thành phố Stanleyville là thông tin nóng bỏng nhất, được cập nhật từng giờ trên truyền thông toàn thế giới. Trong những ngày đó, có 2 nguồn thông tin đáng tin cậy nhất được biết đến. Một là từ đoàn làm phim người Ý đang quay bộ phim tài liệu “Africa Addio”, những người đã có những thước phim gần như là duy nhất về đường phố Stanleyville trong những ngày diễn ra khủng hoảng con tin. 2 là từ một nhóm nữ tu đã trốn thoát khỏi quân Simba đã may mắn gặp được lính dù Bỉ trên đường trốn thoát, và kể lại những gì mà các linh mục và tu sĩ Công giáo đang phải đối mặt ở Stanleyville: bị sát hại, lao động khổ sai, cưỡng bức,… Những thông tin được lan truyền rằng con tin đang bị quân Simba dồn vào khách sạn Victoria trong thành phố. Những lời kể về thảm cảnh của con tin đã khiến chính phủ Bỉ đơn phương quyết định thực hiện cuộc tấn công vào Stanleyville bất chấp lo ngại về việc các con tin có thể bị sát hại. Cuộc đột kích mang tên ”Chiến dịch Dragon Rouge” được thực hiện.

Tháng 11 năm 1964, sư đoàn không quân 322 của quân đội Hoa Kỳ đã chở 150 biệt kích Mỹ và 350 lính dù Bỉ nhảy dù vào giữa Stanleyville. Cùng lúc đó dưới mặt đất, lính đánh thuê của Mike Hoare (biệt danh ”Mike điên loạn”) cũng tấn công vào thành phố. Trên đường phố Stanleyville lúc này tràn ngập xác dân thường bị giết hại, nhưng chủ yếu là người da đen. Số con tin da trắng vẫn bị giam ở khách sạn Victoria.

Với sự cuồng tín vào bùa chú, các phiến quân cùng với phù thủy của quân Simba mặc những bộ trang phục kỳ lạ, chạy ra nhảy múa làm phép thuật trước mặt lính châu Âu, như những gì họ đã làm khiến lính chính phủ Congo bỏ chạy. Nhưng lính Bỉ và Mỹ không quan tâm đến những phép mê tín đó, thản nhiên xả súng máy vào quân Simba. Kết quả là phần lớn 1.500 lính Simba ở Stanleyville bị tiêu diệt trong khi chỉ có 2 lính dù Bỉ thiệt mạng.

Với số lính ít ỏi còn lại, quân Simba đã kịp sát hại 24 con tin, làm 40 người bị thương rồi bỏ chạy, mang theo hàng trăm con tin khác. Lính dù Bỉ cũng kịp sơ tán gần 1.600 con tin gốc Âu và hơn 200 con tin người Congo.

Thế nhưng khó có thể nói là cuộc đột kích thắng lợi, với số con tin thiệt mạng như vậy. Đến tháng 12 năm 1964, quân Simba đã giết thêm 185 con tin da trắng và giết hại hàng nghìn dân thường Congo để trả thù. Do số dân thường Congo thiệt mạng quá lớn, đã khiến cho uy tín của thủ tướng Tshombe cũng như lính đánh thuê châu Âu giảm đáng kể.

Việc giải phóng thành phố Stanleyville là sự kiện đáng kể nhất của cuộc chiến. Sau sự kiện này quân Simba gần như bị đánh quỵ. Chia rẽ trong nội bộ càng khiến quân Simba bị suy yếu.Lúc này quân Simba bị chia làm 2 lực lượng, 1 ở phía bắc, tức là căn cứ ở Stanleyville, do Christophe Gbenye đứng đầu, nhận hỗ trợ của Liên Xô. Lực lượng thứ 2 ở phía Nam, căn cứ ở vùng Nam Kivu do Laurent-Désiré Kabila chỉ huy, liên kết với quân Cuba của Che Guevara.

Tuy nhiên sau những thất bại và vô kỷ luật của quân Simba, Che Guevara rời Congo, bỏ mặc cuộc nổi dậy. Vẫn còn hơn 100 lính Cuba ở lại chiến đấu. Trong lúc đó, tình hình khối Xã hội chủ nghĩa ở châu Phi và toàn thế giới cũng có bất ổn. Tháng 6 năm 1965 xảy ra đảo chính ở Algeria, một trong những nước châu Phi hỗ trợ quân Simba nhiều nhất. Trên thế giới, Liên Xô và Trung Quốc chia rẽ. Vì thế sự viện trợ cho quân Simba gần như bị chặn lại. Mùa hè năm 1965, quân chính phủ Congo phát động cuộc tấn công cuối cùng vào cả 2 căn cứ của quân Simba ở cả phía Bắc và phía Nam. Cả 2 căn cứ sụp đổ.

Dù cuộc nổi dậy cơ bản đã bị đánh bại, nhưng đến tận tháng 11 năm 1965 vẫn còn 100 lính Cuba ở lại Congo, do tướng Victor Dreke chỉ huy. Nhóm lính này sau đó rút lui hoàn toàn yên bình mà không hề bị quân chính phủ Congo đụng tới. Điều kỳ lạ này đã khiến nhiều người đặt ra một thuyết âm mưu rằng có một thỏa thuận ngầm giữa CIA với lính Cuba để họ rút lui an toàn. Bởi vì thực tế, trong chiến dịch ở Congo, CIA đã sử dụng 200 người gốc Cuba làm cố vấn cho quân chính phủ Congo. Sự có mặt của người Cuba ở cả 2 chiến tuyến trong cuộc chiến ở Congo là một chủ đề thú vị trong lịch sử Chiến tranh Lạnh.

*Kết quả sau cuộc nổi dậy

-Chính phủ Congo

Cuộc nổi dậy Simba, vào năm 1965 coi như là thất bại. Chính phủ Congo chiến thắng, hoàn tất việc thống nhất đất nước Congo rộng 2,3 triệu km2.

Tuy nhiên những mâu thuẫn sau khi chiến thắng lại không được thu hẹp, mà còn tăng thêm. Mặc dù được nhiều người coi là có công đánh bại quân Cộng sản, thủ tướng Tshombe lại bị Tổng thống Kasa-vubu cáo buộc tội ”phản quốc”. Lý do ở đây là do Tshombe đã nhờ sự can thiệp của lính đánh thuê châu Âu vào Congo. Sự có mặt của lính đánh thuê, dù đã giúp đánh bại quân Simba, nhưng họ lại có xu hướng đề cao việc giải cứu con tin da trắng, bỏ mặc dân thường da đen cho quân Simba thảm sát. Vì thế, Kasa-vubu cho rằng Tshombe và lính đánh thuê của ông ta phải chịu trách nhiệm cho cái chết của gần 100.000 người Congo trong cuộc nổi dậy. Cuối cùng, tháng 10 năm 1965, Tổng thống Kasa-vubu cách chức thủ tướng Tshombe, khiến ông một lần nữa phải lưu vong sang Tây Ban Nha. Sau sự kiện này, Kasa-vubu trục xuất lính đánh thuê châu Âu về nước.

Tuy nhiên, vấn đề lại phát sinh khi quốc hội Congo có nhiều nhân vật ủng hộ Tshombe, phản đối Tổng thống. Congo lại có nguy cơ lâm vào khủng hoảng. Để ngăn chặn, ngày 25/11/1965, tướng Mobutu Sese Seko một lần nữa âm thầm đảo chính, phế truất Kasa-vubu (Mobutu đã từng đảo chính vào năm 1961, cũng để lật đổ Kasa-vubu và thủ tướng Lumumba). Cuộc đảo chính này được Mỹ và phương Tây công nhận, thể hiện chính sách ủng hộ với Mobutu được thực hiện sau này.

Với cuộc đảo chính thứ 2, tướng Mobutu đã giành trọn quyền lực. Từ đây, đất nước Congo chuyển sang giai đoạn lịch sử hoàn toàn khác, khác đến cả tên gọi. Theo đó, Mobutu lên nắm quyền, thực hiện chính sách ”bản địa hóa” mọi thứ và thiết lập một chế độ độc tài.

Về chính sách bản địa hóa, Mobutu đổi tên đất nước thành Zaire, trong thổ ngữ địa phương là ”dòng sông nuốt mọi dòng sông”. Từ đó cho đến tận năm 1997 thế giới chỉ biết đến 1 đất nước Congo là Congo-Brazzaville, còn đất nước Congo trong bài được biết đến là nước Zaire.

Cùng với đó, Mobutu đổi quốc kỳ, thay đổi mọi tên địa danh do người Công giáo đặt sang tên bản địa Congo. Như thành phố Stanleyville diễn ra khủng hoảng con tin, được đổi thành Kisangani. Thủ đô Léopoldville (đặt theo tên vua Bỉ) đổi thành Kinhasa.

Về chế độ độc tài, Mobutu nắm quyền một cách độc đoán và vô cùng tham nhũng. Nên dưới thời Mobutu cai trị, dù Zaire yên bình, không đổ máu, nhưng người dân sống vô cùng nghèo khổ. Đại đa số tài sản từ bán tài nguyên của đất nước chảy vào túi Mobutu và các quan chức. Mobutu có một câu nói kinh điển với các quan chức của mình: “Cứ lấy đi, nhưng đừng lấy nhiều quá”. Người ta gọi Mobutu là người ”cắt đất nước ra bán lẻ”.

Chế độ của Mobutu sụp đổ vào năm 1997, và ông cũng mất vài năm sau. Cuộc đời và sự nghiệp của Mobutu còn gây rất nhiều tranh cãi.

-Quân nổi dậy Simba và Laurent-Désiré Kabila

Những người lính Simba phải chạy khỏi đất nước sau khi bị đánh bại. Những người thân Liên Xô lúc trước thì chạy đến Uganda, Sudan tị nạn. Những người hợp tác với Che Guevara lúc trước, như Laurent-Désiré Kabila, thì chọn cách sang Tanzania.

Tuy nhiên, lực lượng của Kabila lại không từ bỏ mà tiếp tục chiến đấu. Nhờ vào sự giúp đỡ của tổng thống Nyerere của Tanzania, Kabila và các đồng chí của mình xây căn cứ trên hồ Tanganyika, buôn lậu gỗ và vàng để duy trì kháng chiến. Họ đã ở đó trong hơn 35 năm.

Cuối cùng, vào năm 1996, khi mà chiến tranh Lạnh đã kết thúc, Liên Xô đã sụp đổ, tưởng chừng thế giới chẳng còn nhớ gì về thời kỳ đó nữa. Nhưng bất ngờ, từ biên giới Rwanda, quân của Kabila tấn công vào Zaire. Quân của Kabila được những người dân nghèo khổ chào đón như người hùng. Ông nhanh chóng lật đổ chế độ đang hấp hối của Mobutu, và trở thành tổng thống nước Zaire, mà không lâu sau đó ông đổi lại tên cũ Congo đến tận ngày nay (là Cộng hòa Dân chủ Congo – để phân biệt với Cộng hòa Congo).

Chiến thắng của Kabila, lại đặt ra một vấn đề để người ta xét lại. Vì Kabila đã duy trì cuộc kháng chiến của mình trong suốt 35 năm, người ta đặt câu hỏi rằng liệu có phải cuôc nổi dậy Simba không bị dập tắt năm 1965 mà kéo dài đến tận năm 1997? Và theo cách nghĩ như vậy, có phải nổi dậy Simba của những người Cộng sản cuối cùng đã thắng lợi? Vậy là vấn đề cuộc nổi dậy Simba tưởng chừng đã ngủ yên, lại sống dậy để người ta bàn tán.

——————–

Tham khảo:

-Tình báo Hoa Kỳ – Chuyên gia lật đổ (NXB Công an nhân dân)

-Congo – những trang lịch sử (Tạp chí nghiên cứu châu Phi và Trung Đông).

-The Congo: From Leopold to Kabila: A People’s History

(Georges Nzongola-Ntalaja)

-Red rubber (ghi chép của Edmund Dene Morel).

-Phim tài liệu: Africa Addio (1966).

-(PDF) Báo cáo đặc biệt về chuyến bay của Tổng thư ký” – 19 tháng 9 năm 1961.

https://www.un.org/Depts/dhl/dag/docs/s4940ad5ef.pdf

-Nguồn ảnh: Ngao5 – Otofun forum

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s