Nam tiến (bài kết)

CHƯƠNG 3: NHỮNG DI SẢN LỊCH SỬ CỦA NAM TIẾN VỚI LỊCH SỬ DÂN TỘC

Một gốc sông Đồng Nai nhìn từ Cù Lao Phố, nơi một thời từng được mệnh danh là Nông Nại Đại Phố

Một gốc sông Đồng Nai nhìn từ Cù Lao Phố, nơi một thời từng được mệnh danh là Nông Nại Đại Phố

Đổng Thành Danh

Sau khi tìm hiểu, nghiên cứu những nguyên nhân, tiền đề, điều kiện phát xuất, cũng như diễn biến, các giai đoạn các sự kiện liên quan đến cuộc Nam tiến của dân tộc. Tôi nhận thấy tầm quan trọng của công việc đánh giá lại những hệ thống các di sản lịch sử của quá trình Nam Tiến đối với diễn trình phát triển của lịch sử Việt Nam. Khái niệm “di sản” được tôi sử dụng ở đây có hai yếu tố là những di sản thực tiễn hay hệ quả của quá trình Nam tiến và những di sản lý luận, khoa học tức là đánh giá, công lao và vai trò của các tổ chức, các tập thể các cá nhân trong bước được Nam tiến.

Về thực tiễn, Nam tiến để lại cho chúng ta những điều cần phải suy ngẩm, bàn luận, về sự giao thoa văn hóa các tộc người trên quá trình Nam tiến, về sự hình thành chủ nghĩa địa phương ở Nam Bộ thế kỷ XVIII – XIX…hiểu được những điều đó chúng ta sẽ thắt chặt tình đoàn kết giữa các dân tộc, xóa bỏ những ngăn cách vùng miền, quê quán, góp phần xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân vững mạnh, thúc đẩy nội lực phát triển của đất nước.

Về lý luận, di sản lịch sử này để lại cho chúng ta vai trò của các vương triều, các tập thể, cá nhân có công lao trong cuộc mở cõi của dân tộc và nhiệm vụ của chúng ta là phải đánh giá công lao của họ, một cách công bằng, không chung chung, không đại khái… Hướng chúng ta đến với những đánh giá công bằng hơn với các vương triều, tập thể và cá nhân, nhận thức được vai trò của họ với quá trình Nam tiến và với chính lịch sử dân tộc.

Trong chương này, tôi sẽ đánh giá, xem xét những hệ thống di sản đó, của tiến trình Nam tiến. Hầu làm sáng tỏ những vấn đề quan trọng của tiến trình lịch sử Việt Nam.

1. Hệ quả của quá trình Nam tiến. 

1.1. Mở ra một vùng đất mới, với những điều kiện, nguồn lợi cho sự phát triển.

            Trong lịch sử cổ – trung đại, vấn đề lãnh thổ có một ý nghĩa hết sức quna trọng chi phối sự phát triển, sự hùng mạnh của một quốc gia, một dân tộc. Trong lịch sử thời xưa, một quốc gia muốn phát triển thì phải có một địa bàn rộng lớn để phát triển, tất nhiên bản thân họ phải đủ mạnh để có được và tự bản thân bảo vệ được vùng lãnh thổ đó. Hiếm có một quốc gia nào hùng mạnh không có một địa bàn đủ rộng lớn, ngược lại vào thời đó một quốc gia được xếp là hùng mạnh thì phải có lãnh thổ rộng lớn, và khi đã có lãnh thổ rộng lớn thì lúc nào quốc gia đó cũng muốn mở rộng thêm lãnh thổ của mình.

            Lãnh thổ được mở rộng không chỉ đem lại một diện tích canh tác lớn, những vùng lãnh thổ trù phú với những nguồn lợi quan trọng. Mà đối với một dân tộc đang phát triển, dân số ngày càng đông, tình trạng nhân mãn, càng cho yêu cầu lãnh thổ ngày càng cần thết, đó là một vấn đề sống còn với các quốc gia. Vấn đề lãnh thổ như vậy, vào thời xưa, sẽ là một vấn đề quan trọng, chi phối rất nhiều đến sự phát triển của một quốc gia, dân tộc.                    

            Trước năm 1069, lãnh thổ nước Việt Nam  luôn gắn liền với khu vực lưu vực các con sông Hồng, sông Mã, trên của nước Văn Lang xưa, phía Nam kéo dài chỉ đến tận dãy Hoàng Sơn (nay là ranh giới giữa Thanh Hóa và Quảng Bình). Có thể nói trước năm 1069, đây là phần đất đai gắn liền với hầu hết tiến trình lịch sử của cộng đồng Việt tộc, ngày từ thời nguyên thủy, đến khi hình thành những nhà nước sơ khai, trên cơ sở tập hợp 15 bộ lạc – nhà nước Văn Lang.

            Hiện tại, chúng ta chưa thể xác định được một cột mốc chính thức cho sự ra đời của nhà nước Văn Lang, nhưng có thể đoán định nó đã tồn tại hơn 500 năm trước công nguyên. Nhự vậy từ thời Văn Lang, sang thời Bắc thuộc hàng ngàn năm, đến năm 1069. Địa bàn cư trú chính và gắn liền với lịch sử dân tộc Việt là phía Bắc dãy Hoàng Sơn, lãnh thổ người Việt ở phía Nam dãy Hoàng Sơn, chỉ mới bắt đầu từ năm 1069, đến thời điểm này chưa đến 1000 năm.

            Trên địa bàn cư trú đó, người Việt cổ nổi tiếng với hoạt động nông nghiệp lúc nước, dân tộc Việt hình thành trên lưu vực các công sông Hồng, sông Mã, dông Chu, những con sông này tạo nên những lượng phù sa lớn, bồi đắp cho lưu vực xung quanh đó, tạo nên những vùng đồng bằng trù phú ở miền Bắc bộ. Và ngay từ thời xưa đã phát triển nghề luyện kim, trước hết là đồ đồng, hoạt đồng làm đổng của người Việt nổi tiếng đến nổi, trống đồng, một sản phẩm kỹ nghệ, văn hóa, đã trở thành một biểu tượng của dân tộc Việt, văn hóa Việt.

            Bắt đầu từ năm 1069, người Việt thực hiện cuộc Nam tiến lịch sử của mình, trãi qua bao thâm trầm, biến thiên, trên vùng đất cũ, những người Việt không mảnh đất dung thân, hay vì một hoàn cảnh nào đó. Đưa mình vào Nam, hòa trung vào dòng chảy Nam tiến của dân tộc Việt trên quy mô từ nhà nước đến dân gian. Trên phần lãnh thổ mới, người Việt đã lao động sản xuất và dần dần, từng bước, từng bước, tiến về Nam cho đến ngày gặp mũi Cà Mau.

            Như vậy, cho đến giữa thế kỷ XVIII, lãnh thổ của người Việt đã tiến từ phía Nam dãy Hoàng Sơn với cột mốc 1069, đến tận mũi Cà Mau với cột mộc 1757. Trong vòng 688 năm đó, người Việt đã mở rộng lãnh thổ của đất nước mình ra gấp ba lần, với những phần lãnh thổ trù phú hơn, đa dạng hơn, đáp ứng được tình trạng nhân mãn ngày càng tăng của dân tộc. Miền Bắc, dù cũng trù phú, đồng bằng màu mỡ, nhưng ngày càng không đáp ứng được, nhu cầu tăng trưởng, phát triển không ngừng của dân cư.

            Nam tiến, buổi ban đầu đã phần nào giúp cho nhiều người Việt thoát khỏi tình trạng đói khổ, vô sản ở phía Bắc, để tiến vào Nam mưu cầu sự phát triển và tự bao giờ Nam tiến đã đưa phần lớn dân cư vào Nam, phát triển dòng giống Đại Việt. Sự đa dạng về tài nguyên ở miền Trung, cũng như sự trù phú bật nhất về lúa gạo của vùng đất Nam bộ, không chỉ giúp cho những cư dân Việt ở đây có một cuộc sống ấm no trù phú, mà còn đỡ được gánh nặng từ tình trạng nhân mãn tăng nhanh cho vùng đồng bằng Bắc bộ.

            Thử làm một so sánh, mấy chục năm trước, trong những miêu tả về nông thôn miền Bắc, luôn là những lối xóm, đường làng chật hẹp, những căn nhà san sát nhau, chằng chịt. Trong khi đó ở miền Nam, ruộng vường bao la, cò bay thẳng cánh, nhà dân sinh sống thì xa nhau, rộng lớn. Nếu như, không có cuộc Nam tiến, phần đông dân chúng phải tập trung ở miền Bắc, vốn đã chật hẹp. Tình trạng, đói kém, mất mùa ở miền Bắc đã nói ở phần một cũng cho chúng ta thấy, gánh nặng của tình trạng nhân mãn thời kỳ này.

            Trở lại vấn đề mở đầu, một quốc gia chỉ hùng mạnh khi có một lãnh thổ đủ lớn. Công cuộc Nam tiến, tự bản thân nó, mang một ý nghĩa quan trọng với tiến trình lịch sử dân tộc, chính nhờlãnh thổ được mở rộng, mà người lưu dân Việt, thoát ra khỏi cuộc sống vô sản, đói kém, vốn chật hẹp, khép kín, tăng diện tích quốc gia lên ba lần, trước hết là đã giải quyết được tình trạng nhân mãn. Sau nữa, cũng sẽ làm cho thực lực quốc gia Đại Việt thêm hùng mạnh, với những nguồn lợi từ tài nguyên, vàng, muối, thủy sản (miền trung), lúa gạo, nông sản (Nam bộ), trước là có thể được tự cường trước kẻ thù truyền kíp ở phía Bắc – Trung Quốc, sau là có thể khẳng định được tầm ảnh hưởng, sự vị nể, kính trọng của các nước lân bang như Chân Lạp, Lào…

            Li tana nhận định về sự hình thành, sự giàu có, lợi thế và triển vọng phát triển của xứ Đàng Trong, một hệ quả của quá trình Nam tiến như sau: “Sự hình thành Đàng Trong là một sự thay đổi sâu sắc và căn bản trong lịch sử Việt Nam, mà tầm quan trọng có thể so sánh với việc Việt Nam giành lại độc lập từ Trung Quốc thế kỷ 10…Trong vài thập niên ngắn, dù là một khu vực mới mở, ít dân hơn, và vào giai đoạn này còn nhỏ hơn đồng bằng sông Hồng, nhưng Đàng Trong trở nên giàu có và mạnh hơn vùng đất phương bắc (mặc dù không đủ mạnh để lật đổ họ Trịnh). Cả điều kiện kinh tế của người dân và sự cởi mở có thể so sánh của xã hội tại Đàng Trong tương phản một cách có lợi so với cái gọi là “chính quyền trung ương” của vương quốc nhà Lê…”[1].

            Có thể nói, quá trình Nam tiến đã đưa cư dân Việt vôn chuyên sống bằng nghề nông, khi xuống vùng đất Trung bộ, khô hạn, khí hậu khắc nghiệt, hằng năm luôn bị ảnh hưởng của lũ lụt. Nhưng lại nằm ở địa thế bờ biển dài rộng, có chổ neo đậu thuyền bè, nhiều vùng nước sâu, thích hợp cho việc xây dựng các hải cảng, vịnh biển trên dọc con đường “thiên lý” từ Bắc vào Nam, biển miền Trung và Đông Nam bộ đem lại cho Việt Nam một lượng lớn hải sản cá, tôm, mực, ngày nay có một số mặt hàng còn dùng để xuất khẩu ra nước ngoài. Cũng chính nhờ biển của miền Trung và Đông Nam bộ, mà Việt Nam vươn bàn tay của mình ra làm chủ cả một vùng biển rộng đến gần triệu cây số vuông, trên biển Đông, đưa Việt Nam vào hàng các quốc gia biển.

            Riêng vùng đất Nam bộ, gần như là vùng đất trù phú bật nhất cả nước. Khu vực Gia Định – Đồng Nai, ngay từ đầu đã đập vào mắt người Hoa, như là một vùng đất có vị trí, tầm vóc quan trọng cho một trung tâm thương mại sầm uất sau này. Sự có mặt của lưu dân Việt – Hoa tại đây đã giúp tạo nên một vùng phố, những thương cảng “trên bến dưới thuyền”. Có thể nói chính người Việt, người Hoa đã phát hiện ra được tầm quan trọng của khu vực này, xây dựng nơi này phát triển. Ngày nay khu vực này đã trở thành “đầu tàu” của cả nước, nơi tập trung các trung tâm kinh tế hàng đầu cả nước như thành phố Hồ Chí Minh, Biên Hòa (Đồng Nai), Thủ Dầu Một (Bình Dương).

            Đi xa hơn về phía Nam, tại vùng đồng bằng sông Cửu Long, vùng đất được xem là vựa lúa lớn nhất cả nước. Nguồn lúa gạo ở nơi đây đã trở thành một trong những nguồn cung cấp quan trọng của cả nước, nó không chỉ cung cấp đã lương thực cho nhân dân, mà còn là mặt hàng xuất cảng nổi tiếng ở các thương cảng miền Nam. Ngày nay, lúa gạo ở đây trở thành mặt hàng xuất khẩu chủ đạo của nước ta, đưa nước ta vào hàng các nước xuất khẩu lúa gạo hàng đầu thế giới.

            Những phác thảo trên, phần nào giúp chúng ta thấy được những hình dung về vai trò của quá trình Nam tiến trong tiến trình phát triển của dân tộc, của đất nước không chỉ trong lịch sử, mà còn được minh chứng ở hiện tại. Việc mở ra những vùng lãnh thổ mới ở miền Trung và miền Nam, như vậy, không chỉ giải quyết được vấn đề nhân mãn, đáp ứng được nhu cầu phát triển của một dân tộc, một quốc gia đang vươn lên mạnh mẽ mà còn đem lại một nguồn lớn về vật chất, nguồn động lực quan trọng thức đẩy sự phát triển mạnh mẽ hơn nữa của quốc gia và dân tộc.

1.2. Quá trình mở đất cũng là quá trình tiếp biến, giao lưu văn hóa với các tộc người, tạo nên một bản sắc “Việt Nam mới”.

            Cũng trên quá trình mở cõi về Nam đấy! Người Việt Nam, đã giao lưu tiếp xúc mình với những nền văn hóa, những cộng đồng dân tộc khác. Cộng với một hoàn cảnh tự nhiên, địa lý khác, người Việt Nam đã biến đổi mình, thay thế mình, cho phù hợp với cuộc sống, điệu kiện ở vùng đất mới. Trên cơ sở đó một dân tộc Việt Nam mới, một lối sống mới, một vùng đất mới tạo nên một “Việt Nam mới” (khái niệm được tác giả Litana sử dụng).

            “Việt Nam mới” ở đây, buổi ban đầu là những vùng đất Bồ Chính, Địa Lý, Ma Linh, những Thuận Châu, Hóa Châu, những Chiêm Động, Cổ Lũy. Sau này, chính là xứ Đàng Trong của chúa Nguyễn, hay sau đó nữa là Gia Định Thành Tổng Trấn dưới thời nhà Nguyễn. Cái “Việt Nam mới” ở đây có thể cần phải được xem xét trên rất nhiều bình diện, trước hết là vùng đất “mới” với những điều kiện, hoàn cảnh mới, điều đó đã đành nhưng không đủ, còn có cả những tư duy mới, nhân sinh quan mới, lối sống mới, văn hóa mới, chính những cái mới đó đã làm nên bản sắc của người Đàng Trong (khác với người Đàng Ngoài), bản sắc miền Trung, miền Nam (khác với miền Bắc).

            Sự mới mẽ hay một cái gì đó khác biệt với trước kia, trên vùng lãnh thổ mới này, đã xuất hiện từ từ qua một quá trình lâu dài, Nam tiến, từ triều Lý, Trần cho đến Lê. Nhưng sự khác biệt mạnh mẻ nhất, rõ ràng nhất được định hình thật sự vào thời phân liệt Đàng Trong (tức là vùng đất mới) và Đàng Ngoài (vùng đất truyền thống). Tác giả Litana viết về điều này như sau: “…Đây không đơn thuần là một sự mở rộng về nam của xã hội và nền kinh tế cũ của người Việt, mà đúng hơn, một xã hội mới đã phát triển, với một nền tảng văn hoá khác và những hoàn cảnh kinh tế, chính trị khác.…phương nam như một thực thể riêng, và sự trỗi dậy của những khác biệt giữa hai khu vực…Những thành công của nhà Nguyễn [ở Đàng Trong] đã tạo nên một xã hội mới và một văn hoá mới…”[2].

            Trong bài viết, Văn hóa chính trị của các chúa Nguyễn trong việc mở mang lãnh thổ Đàng Trong (PGS. TS Võ Văn Sen và thạc sỉ Trần Nam Tiến), các tác giả nhận định: “…Trên bước đường Nam Tiến của tộc Việt…họ đã hình thành một dạng tiếp biến khác bất ngờ trong sinh cảnh mới: từ ăn mấm đồng, mấm tôm đến nước mấm, ruốc; từ quê hương của tin ngưỡng tam giáo đến quê hương của tín ngưởng Ấn Độ giáo…; từ truyền thống “quai đê lấp biển” đến việc đối mặt với Đại dương…”[3] Đó chính là một bản sắc mới, trong sinh hoạt, tín ngưỡng, văn hóa ở vùng đất mới, trên bước đường Nam tiến của người Việt.

            Trong phần này, tôi muốn làm nổi bật tính mới của vùng đất này, thời hậu Nam tiến trên khung nền của vấn đề bản sắc vùng, bản sắc vùng mới ở đây được hình thành từ những cái mới trong hoàn cảnh, lối sống mới, một vùng đất mới, với những cộng đồng tộc người bản địa mới, tạo nên những sự va chạm, tiếp xúc giao lưu giữa những nền văn minh, những cộng đồng tộc người. Chính từ đó, người Việt bắt đầu có những cái mới về tư duy nhận thức, đến hành vi, lối sống, cách sinh hoạt cũng như những nét mới về văn hóa, tín ngưỡng…Cái mới này là cái mới ở cấp độ vùng, để so sánh với cái cũ ở khu vực phía Bắc, cái mới trên bình diện rộng, tạo nên sự đa dạng, phong phú trong tư duy, bản sặc, lối sống và văn hóa đất nước. Bình diện ruộng ở đây là bình diện vùng, chứ không phải là cấp độ địa phương nhỏ lẻ, cái “mới”, cái phong phú, đa dạng ở đây thuộc hệ quả của Nam tiến là cái mới cấp độ miền Bắc, Trung, Nam chứ không phải cấp độ các tỉnh, huyện hay cấp độ các dân tộc thiểu số nhỏ bé, bởi vì những sự da dạng ở cấp độ này ở riêng miền Bắc cũng có và rất phong phú, rất đa dạng.

            1.2.1. Những cái “mới” về tư duy, nhận thức của vùng.

            Trước hết, khi dân Việt bắt đầu tiến xuống phía Nam, dựng lên những thôn xóm người Việt đầu tiên. Đặc biệt là sau khi họ Nguyễn vào Nam gây dựng cơ đồ riêng cho mình, số lượng những lưu dân di cư đến vùng đất mới mà sử liệu ghi nhận với số lượng rất đông. Trong quá trình định cư đầu tiên ở vùng đất mới, người Việt đã quần tụ nhau, dựng nên các thôn ấp, xóm làng cũng cộng cư, trong quá trình này do những điều kiện khắc nghiệt, nguy hiểm, còn hoang dại, nhiều thú dữ ở vùng đất mới. Người Việt đã tập hợp nhau lại sống theo lối sống quần cư, trên tinh thần đoàn kết, tương thân, hổ trợ lẫn nhau trên bước đường khai thiên mở cõi. Nhưng khác với làng xóm của người Việt ở vùng Bắc bộ, vốn là một đơn vị xã hội khép kín, nằm sâu trong lũy tre xanh với hình ảnh những ngôi đình làng, cây đa, bến nước, con đò truyền thống, dựa trên chế độ công điền công thổ. Thì giờ đây càng về phương Nam, đặc biệt ở Nam bộ, làng Việt ngày càng có tính chất mở, được hình thành theo các sông rạch, nhà cửa nằm ở giữa vườn trái cây, phía trước là con sông, phía sau là đồng ruộng.

            Phần lớn những người vào Nam, là những người chấp nhận gian truân, mạo hiểm, họ chấp nhận rời bỏ quê hương, bản quán gắn bó từ bao đời, vĩnh viễn định cư ở vùng đất mới nên. Hơn nữa trong quá trình Nam tiến, nhu cầu xây dựng khai hoang những đất đai rất khó khăn, giữa vùng hoang sơn cùng cốc, thú dữ, đặc biệt một xứ sở khô cằn, nắng nóng, nhưng lại liên tục gặp bão lụt hằng năm như miền Trung hay hoang dại, hiểm trở như Nam bộ, vùng đất mà “dưới sông cá lội trên rừng cọp um”, con chim kêu phải sợ, con cá vùng phải kinh”. Thì yêu cầu, những lưu dân phải xây dựng một ý chỉ, kiên cường, nghị lực phi thường để vươn lên làm chủ tự nhiên, chính điều này tạo nên một phần tính cách miền trung chịu khó,chịu khó, tính cách kiên cường, mạnh mẽ của người Nam bộ trước là trong việc khắc phục, khai thác tự nhiên, sau là chống giặc ngoại xâm, trở thành “thành đồng tổ quốc”[4].

            Điều kiện, đất đai mới với diện tích nông nghiệp lớn, nhưng dân số ít, mật độ nhân mãn không đông như ở Bắc bộ, cũng làm cho người dân phương Nam, đặc biệt là Nam bộ, có tính tình phóng khoáng, tư duy cởi mở, làm ăn, sinh hoạt phong phú hơn các vùng khác. Trong một chỉ dụ của Minh Mạng, nói về tính cách người Nam bộ ông nói: “…nhân dân 6 tỉnh…kẻ sĩ chỉ quen lười biếng, dân phong có thói kiêu sa, ham mê tuồng hát…thóc gạo thì phí phạm, ăn mặc thì xa hoa[5]”. Đoạn trích trên xuất phát từ thái độ kì thị của Minh Mạng đối với người dân Nam bộ, nhưng cũng phần nào đánh giá đúng hoàn cảnh, lối sống của người dân Nam bộ thời đó. Do những nguồn lợi từ lúc gạo, trái cây, nông sản địa phương cuộc sống của người dân Nam bộ rất sung túc, họ không thiết tha mấy với chuyện học hành theo nho giáo, để ra đổ đạt làm quan như người vùng khác, họ sống phóng khoáng, ăn uống, chi tiền, ăn mặc nhìn có vẻ sang trọng hơn vùng khác.  Điều này, làm cho tư duy, lối sống, cách sinh hoạt văn hóa của người phương Nam có phần nào phóng khoáng, cởi mở hơn, cũng chính là một bản sắc trong tư duy, nhận thức của người dân vùng đất phía Nam.

            Tôi xin mượn nhận định của Li tana để nói về những nét khác biệt trong tư duy, nhận thức và tính cách của người phương Nam, tại vùng đất mới, như là hệ quả của Nam tiến: “…Tính di động dễ dàng ở miền Nam cũng trực tiếp xung khắc với tính cách ưu tiên của tập thể, một giáo lý căn bản của Khổng giáo nhấn mạnh giá trị của nhóm xã hội – gia đình, làng – hơn là nhu cầu hoặc mong ước của những thành viên của nó… Hickey cũng nhấn mạnh điểm này: [Với ngôi làng mới, của miền Nam, được thành lập bởi những người có địa vị thấp chứ không phải bậc vị vọng của xã hội cổ truyền, một số lượng tri thức riêng tư liên quan những phương thức cũ không tránh khỏi bị mất đi… Tuy vậy, cũng theo lý lẽ đó, những người khai hoang lại ít chịu ràng buộc bởi những gò bó của một địa vị xã hội và những quy định trong cách hành xử của xã hội cũ, vì thế họ được tự do sáng tạo, một đặc điểm thiết yếu cho việc thay đổi thành công (và tồn tại) khi họ tiếp tục tiến xuống phía nam].  Những hoàn cảnh như vậy khiến con người cởi mở và tự phát hơn, để trở thành những người dám chịu rủi ro như Nguyễn Hoàng, người mà Keith Taylor đã tinh tế mô tả là “dám mạo hiểm mà không sợ bị quy là phản loạn, bởi vì ông đã tìm thấy một nơi mà chuyện gán ghép này không còn ý nghiã” . Đó là một thế giới rộng hơn, và cho con người cảm thức lớn hơn về tự do…”[6]. 

            1.2.2. Những cái “mới” về lối sống, sinh hoạt, văn hóa.

            Người Việt, khi tiến về phía Nam định cư, họ mang theo nền văn hóa Việt ở nơi quê hương bản quán của mình như truyền thống gia đình, giòng họ, nếp sống cộng đồng, những quan niệm về đạo đức truyền thống. từ truyền thống dung hòa giữa Nho – Phật – Lão, đến những phong tục tập quán như chiếc áo dài tứ thân, chiếc khăn mỏ quạ, chiếc nón quai thao…Nhưng khi hướng về phương Nam, người Việt vốn mang đậm bản sắc văn hóa Á Đông, thấm nhuần đạo đức nho giáo. Những nét văn hóa mới trong lòng người dân Việt đã hình thành.

            Văn hóa Champa, ở phương Nam, mạng đậm ảnh hưởng văn hóa Ấn Độ, người Champa súng bái ba vị thần của Ấn Độ giáo là Bhrama, Siva, Vishnu, trong đó thần Siva được tôn thờ phổ biến, dưới biểu hiện của Linga. Nhà vua Champa cổ tôn sùng Ấn giáo, thường đặt tên mình theo Phạn ngữ, dấu ấn Ấn Độ được thể hiện qua hệ thống các đền tháp, các hình tượng nghệ thuật, âm nhạc, văn học lấy nền tảng từ Ấn Độ. Dấu ấn Ấn Độ giáo còn tồn tại cho đến ngày hôm nay trong văn hóa, tín ngưỡng của dân tộc Chăm.

            Quá trình Nam tiến trước hết đã tạo ra những cuộc va chạm giữa các nền văn minh mà lớn nhất là hai lần va chạm Việt – Chăm, Việt – Khmer. Cả ba nền văn minh này, một ảnh hưởng Trung Hoa (Việt), hai ảnh hưởng Ấn Độ (Chăm, Khmer), nhưng đều có chung một cơ tầng văn hóa bản địa, với những nét văn hóa truyền thống còn được lưu giữ như tôn sùng thần thánh trong dân gian, ăn trầu, và đặc biệt nhất là những cơ sở truyền thống của tín ngưỡng nông nghiệp với tín ngưỡng phồn thực, triết lý nhị nguyên, trong tự nhiên…

            Trong quá trình định cư về phương Nam, người Việt với việc cộng cư hàng trăm năm ở vùng đất mới, cũng đã có những giao lưu tiếp biến với các tộc người bản địa về những dạng thức vật chất đến tinh thần. Những điều đó, phần nào tạo nên những khác biệt giữa người Việt phương Nam với người Việt phương Bắc. Những điều đó, tôi xem như là một hệ quả của quá trình Nam tiến.

            Khi người Việt bắt đầu di cư và thành lập thôn xóm ở phương Nam, bên cạnh họ còn có cả người Chăm, người Khmer…trong quá trình đó các dân tộc này đã cộng cư và ảnh hưởng mạnh mẽ đến văn hóa của nhau, một quá trình giao lưu, tiếp biến, hòa trộn văn hóa được tiến hành trong cuộc sống, lao động hằng ngày của các cư dân, các tộc người. Qúa trình giao lưu, tiếp biến này người Việt không có ở phía Bắc, bởi vì khi ở phía Bắc dù cũng có rất nhiều dân tộc nhiều nền văn hóa, nhưng văn hóa của người Kinh vẫn là chính, họ chiếm số đông nên quá trình tiếp biến, hội nhập văn hóa của họ không mạnh, không diễn ra trên quy mô văn hóa miền như ở miền Trung và Miền Nam. Trong khi đó nhìn về phương Nam, người Việt mới di cư đến đây, sống trong điều kiện mới, giao lưu, hội nhập với cả một cộng đồng lớn như người Chăm, Khmer, vì thế quá trình giao lưu văn hóa diễn ra trên quy mô lớn. Góp phần tạo nên bản sắc văn hóa phương Nam của riêng người Việt không lẫn vào đâu được với văn hóa Bắc bộ.

            Quá trình giao lưu, tiếp biến về sinh hoạt, lối sống, văn hóa, văn minh. Để tạo nên một bản sắc mới có thể được làm rõ trên các điểm sau đây:

  • Cái “mới” trên bình diện sinh hoạt vật chất:

            Nông nghiệp: người Việt khi di cư vào phía Nam phải đối mặt với vùng đất đai khô cằn, hằng năm nắng hạn đặc biệt là ở miền Trung, nên họ phải sử dựng giống lúa của người Champa, tục gọi là lúa Chiêm để cày cấy, đây là một giống lúa ngắn ngày và chịu hạn rất tốt. Khi chuyển xuống định cư ở phương Nam, người Việt ở Trung bộ còn kiêm thêm nghề làm vườn, người Nam bộ thì chuyên trồng trái cây…Chế độ gặt lúa thu hoạch hằng năm cũng có nhiều thay đổi để phù hợp đất đai, thổ nhưỡng vùng đất mới như người Việt phương Nam đã biết làm ruộng hai mùa[7].

            Về dụng cụ sản xuất, cái cày của người miền Bắc thì không mạnh ở đế và có một cái lươi nhỏ khá nhẹ, loại cày này này thích hợp với đất không rắn, ít cỏ. Trong khi đó về phía Nam đất rắn và nhiều cỏ, để có thể canh tác tốt, người Việt dùng cây cày của người Chăm, cày của người Chăm cứng, có đế vững nên rất thích hợp cho sản xuất nông nghiệp, loại cày này được còn được người Việt cải biến, nhưng người Việt cũng chế thêm một cái nang để điều chỉnh góc. Các bộ phận của cây cày lấy từ mô hình Chăm thì giữ tên gọi theo tiếng Chăm, trong khi các phần gắn với cái nang thì mang tên Việt (to nang hay tế nang). Loại cày mới này được người Việt mang theo khi họ chuyển đến đồng bằng sông; Người Việt khi xuống miền trung cũng tiếp thu chiếc ghe bàu của người Chăm để làm phương tiện đi lại, sinh hoạt, sản xuất trên biển[8]

            Tiến xa hơn xuống khu vực phía Nam, người Việt còn cải tiến dụng cụ cắt cỏ, thu hoạch của người Khmer cải biến thành chiếc phảng để thu hoạch lúa, phát hoang cỏ, người Việt còn cải biên bếp của người Khmer tạo nên chiếc Cà Ráng, một dụng cụ dùng để nhóm lửa trên ghe, thuyền an toàn, khó cháy, trong điều kiện một vùng đất đầy sông, hồ, kênh rạch chằn chịt, ghe thuyền là nguồn sinh sống, di chuyển chính[9]

            Thủ công nghiệp: Trước hết người Việt ở phía Nam học hỏi từ người Chăm các nghề như dệt vãi (trong khi miền Bắc sử dụng phổ biến lụa). Người Việt về phương Nam còn biết làm đường phổi, làm muối (đặc biệt ở Quảng Nam, Quảng Ngãi). Người Việt vào miền Trung, cũng rất giỏi nghề khai thác Vàng, đặc biệt là ở Quảng Nam.

            Người Việt ở phương Nam, còn rất giỏi nghề đi biển, trước đây ở Bắc bộ, nghề đánh cá cũng rất phát triển, nhưng khi người Việt tiến về phía Nam, đặc biệt là khu vực trung bộ, thì bên cạnh nghề nông như truyền thống, phần lớn dân cư Đàng Trong, dân miền Trung sau này sống bằng nghề đánh bắt hải sản biển.

            Về nhà cửa, ăn mặc: nhà cửa của người phương Nam cơ bản như nhà Bắc bộ, nhưng phần đầu hồi trong những căn nhà 3, 5 gian thưởng ngăn có lẽ do tiếp thu từ nhà lá của người Chăm. Nhà của người Huế, thường có thêm những mảnh vườn rộng, theo kiểu nhà vườn, rất diển hình ở các thôn Vĩ Dạ hay Thủy Bạn…Về trang phục người Việt cũng có nhiều tiếp thu như người Việt phương Nam, mặc áo dài truyền thống Việt Nam có cổ, xẽ tà, trong khi người miền Bắc mặc áo từ thân, khăn mỏ quạ, có lẽ do là tiếp thu và có cải biến từ chiếc áo dài Chăm (không cổ, không xẻ tà)[10]…Những dấu vết giao lưu này được nói đến trong sách Ô Châu Cận Lục như: “Đàn bà mặc váy Chiêm, đàn ông dùng quạt Bắc”, ngoài ra hình ảnh trong các bức tranh vẽ về người Đàng Trong của John Barrow, trong sách một chuyến du hành Nam Hà năm 1792 – 1793. Cho thấy những ảnh hưởng về trang phục của người Việt với người bản địa… Về ẩm thực người Việt phương Nam, thì ăn mấm ruốc, nước mắm, khác với người Bắc bộ ăn mắm tôm…

  • Cái “mới” trên bình diện sinh hoạt tinh thần.

            Về tiếng nói: một đặc điểm đầu tiên được nhận thấy như là sự khác biệt giữa người Bắc bộ và Trung, bộ, Nam bộ chính là vấn đề tiếng nói, đi từ Thanh Hóa đến Sài Gòn mỗi vùng miền đều có một tiếng nói đặc trưng riêng của mình vùng Quảng Bình, Quảng Trị khác, vùng Thừa Thiên Huế khác, Quảng Nam khác, Phú Yên, Bình Định lại khác…Nguyên nhân của tình trạng này có thể là do sự tiếp xúc với tiếng nói của cư dân bản địa, trong một thời gian dài, hai ba thê hệ ra đời dần dần biến đổi dọng nói, ngữ điệu tùy theo từng vùng.

            Về tôn giáo, tín ngưỡng: đặc điểm chính của tín ngưỡng người Việt là sinh hoạt theo truyền thống phật giáo, và thờ các vị thành hoàng làng, các người có công với nước với dân, (tùy địa phương), điều này phổ biến trong cả nước. Những ở khu vực miền trung và Nam bộ lại có những hệ thống tín ngưỡng riêng biệt mà miền Bắc không có hoặc không phổ biến. Điều này bắt nguồn từ quá trình tụ cư sinh sống giữa người Việt với lưu dân bản địa, rồi tiếp thu, cải biến các vị thần, các tín ngưỡng của các dân tộc đó, thành tín ngưỡng của mình mang sắc thái vùng miền.

            Một đặc điểm khác biệt, quan trọng trong sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng của người Việt ở phương Nam là sự phi nho giáo, sự quay trở về với tín ngưỡng tự nhiên, truyền thống thờ thần đại phương. Người phương Nam, cho đến tận triều Nguyễn không hề xem trọng đàn xã tắc. Theo nhà nghiên cứu Tạ Chí Đại Trường, các đền xã tắc không xuất hiện cho mãi đến đời vua Minh Mạng (1819-1841), khi triều Nguyễn, lúc này đã cai trị toàn Việt Nam, có nỗ lực thống nhất tư tưởng tôn giáo trên toàn quốc[11].

            Sự khác biệt giữa miền Bắc và phương Nam trong đặc điểm này. Li Tana nhận định: “…so sánh với miền bắc, nơi chế độ thi cử kiểu Trung Hoa bảo đảm rằng Nho giáo không bao giờ để mất sức hút đối với giai tầng sĩ phu tinh hoa, tư tưởng Nho giáo lại chỉ đóng vai trò xã hội, chính trị nhỏ hơn nhiều ở Đàng Trong. Tôi mượn lời của Nola Cooke:  Nho giáo ở Đàng Trong trở thành chuyện lựa chọn và thực hành cá nhân, ở một mức độ không thấy có ở miền bắc kể từ thế kỷ 13. Trên thực tế, vị trí của nó trong không gian tư tưởng ở phương nam khiêm tốn đến nỗi không ai màng đến việc ghi chép lại sự kiện khi một ngôi đền nhỏ kiểu Văn Miếu đầu tiên được dựng lên ở đó…”[12].

             Nhưng  cũng theo bà, nhà Nguyễn không loại bỏ các truyền thống Việt Nam; đặc biệt, họ lấy Phật giáo Đại thừa làm giải pháp cho nhu cầu tinh thần và ý thức hệ cho một tông tộc cai trị mới. Phật giáo một mặt đẩy mạnh bản sắc dân tộc của người Việt và củng cố tính hợp pháp cho các nhà cai trị họ Nguyễn. Từ Nguyễn Hoàng trở về sau, các chúa Nguyễn thời kì đầu tất thảy đều là những tín đồ sùng mộ Phật giáo . nhưng chính điều này đã tạo nên sự khác biệt cho xã hội, tôn giáo phương Nam so với phương Bắc cũng thời điểm. 

             Tiếp đến, một tín ngưỡng khá phổ biến và khác biệt nhiều với phương Bắc là tục thờ Cá Ông của người miền Trung và một phần miền Nam. Do truyền thông ngư nghiệp, người ngư dân thường xuyên đi biển, đối mặt với gió to sống lớn, họ tôn thờ cá ông như là một biểu tượng cho đức tin của họ, để Cá Ông phù hộ cho họ trong những chuyến hãi trình dài trên đại dương đài hiểm nguy.

            Mặc khác, cư dân Việt khi đến miền Nam cũng sử dụng các thần linh có nguốn gốc địa phương, vốn là thần của người Chăm hay người Khmer và tôn thờ họ, biến hóa thành thần linh của mình, phủ lên họ một tinh chất Việt. Chẳng hạn như thần Thiên Y Na, mà nguồn gốc có thể từ thần mẹ xứ sở Po Nagar của người Chăm, hay bà Chúa Xứ ở miền Nam bộ…Người Việt Nam Trung bộ gần đây vẫn còn tục Tá thổ, tức là cúng đất của người Chăm, vật phẩm cúng đều là các đồ ăn truyền thống của người Chăm, mang đậm dấu ấn Chăm[13].    

            Về âm nhạc, ca kịch: hành trình Nam tiến, cũng làm biến đổi người Việt về âm nhạc, diễn xướng, nghệ thuật. Chẳng hạn, người Việt ở phía Bắc phát gốc có hát chèo, tuồng, hát xoan, hay nổi tiếng nhất là quan họ. Nhưng khi về phía Nam, ở miền Trung bộ một loại hình  nghệ thuất mới ra đời đó là hát bội, ở phía Nam lại là cải lương, đặc biệt cải lương trở thành những đặc thù cho cả vùng Nam bộ[14].

            Ở trên, tôi vừa nêu lên những điểm khác biệt chính yếu giữa vùng Bắc bộ với phương Nam, một hệ quả trực tiếp của Nam tiến, hệ quả này đã tạo nên một Việt Nam mới, dưới nhiều cái nhìn đã chiều từ tư duy, nhận thức, đến những yếu tố về văn hóa vật chất và tinh thần.

  • Những hệ quả khác.
    • Tính địa phương, tự trị của người Nam bộ.

            Trước hết, cuộc Nam tiến không chỉ tạo ra những biến đổi từ tư duy, nhận thức đến văn hóa, lối sống của người phương Nam, mà nó còn tạo nên những bản sắc địa phương mang màu sắc vùng, rất đậm nét, đặc biệt là ở Nam bộ. Tính đặc thù của Nam bộ thể hiện ở chổ, vùng tập trung của đông đảo các tộc người (mà thời kỳ bấy giờ số lượng người Hoa, người Việt không chênh lệch nhau lắm), thứ hai đây là nơi phát triển của thiên chúa giáo, một tôn giao mà ở các cùng khác bị đàn áp, trong nhận thức và tư duy của người Nam bộ họ xem trọng tư do, khinh thường sự ràng buộc của triều đình Trung ương. Một vùng đất mà tính địa phương rất cao độ, họ yêu cầu sự tự trị, về những quy chế riêng biệt của mình phải được chính quyền trung ương tôn trọng.. Trên thực, vua Gia Long đã nhận ra được điều đó và ông đã cho vùng đất này hưởng tự trị dưới hình thức Gia Định Thành.

            Nhà Nguyễn được thiết lập, những đặc thù của tính khác biệt như trong phậ khinh nho của vùng Đàng Trong không còn nữa, nhà Nguyễn áp đặt nho giáo ít nhất là lên phần đất miền Trung, người miềnTrung ở gần triều đình ngày càng bị giáo hóa theo thuần phong mĩ tục, nho giáo hầu như khó phân biệt với Bắc bộ. Nhưng Nam bộ với tư cách một thực thể riêng vẫn luôn trở thành một phần tách biệt với cả nước, như chính lời nhận xét của Minh Mạng về con người nơi đây: “…Hơn 200 năm nay, nhân dân 6 tỉnh…kẻ sỉ chỉ quen lười biếng, dân phong tập thói kiêu xa, ham mê tuống hát, say sưa thuốc phiện, phí phạm thóc gạo, ăn mặc xa hoa…tự cho rằng ở nơi biên viễn chỉ biết có súy phủ, mà không biết có triều đình!…”[15].

            Như vậy, do một điều kiện sống khác, một hoàng cảnh khác người Nam bộ không trọng nho giáo, không thiết tha với con đường quan trường (kẻ sĩ chỉ quen lươi biếng), trong quá trình lao động thuận lợi, lúc nông nhàn họ thường xem hát làm tiêu khiển, do điều kiện lúa gạo sung túc, giàu có nên họ thường đem gạo buôn bán, phân phát (phí phạm thóc gạo). Cuối cùng họ coi trọng tính địa phương của mình hơn các khu vực khác, họ chỉ biết có chính quyền của mình (chính quyền Gia Định Thành), biết có Tổng trấn của mình, mà không xem trọng triều đình. Hiện trạng này kéo dài cho đến tận thời Minh Mạng, khi ông quyết tâm dùng bạo lực để buộc Nam bộ phải quy phục triều đình.

            Kẻ thù luôn lợi dụng điều đó để làm yếu khối đoàn kết nước ta như thời Pháp đánh Gia Định, rôi sau đó là âm mưu lập xứ Nam kỳ tự trị…Ngày nay, tính địa phương này vẫn còn hiện hữu ít nhiều nhưng không còn mạnh mẽ nữa, đất nước đã bước vào thời kỳ đoàn kết cao độ, ngày nay dân tộc Việt Nam đã là một khối đại đoàn kết thống nhất… Vấn đề này, cần có một nghiên cứu khác chuyên sâu hơn, ở trên tôi chỉ nêu vài dòng lược khảo, để xem đó như là một hệ quả của quá trình Nam tiến.

1.3.2. Sự suy vong của một quốc gia trên tiến trình Nam tiến.

            Để có được sự thành công của công cuộc Nam tiến, không chỉ là mồ hôi, máu xương của người Việt từ bao đời bỏ ra. Mà trong quá trình đó, dân tộc Việt  còn đẩy dân tộc Champa vào con đường suy vong và cuối cùng chấm dứt vĩnh viễn trong lịch sử. Ngày nay, đất nước này chỉ còn để lại một chuổi các di tích dài những đền, tháp lăng tẩm trên dọc dãi đất miền Trung, họ chỉ còn để lại những tộc người vốn là thần dân của vương quốc Champa cổ như người Chăm, người Raglai, và một số các tộc người thiểu số.

            Học giả Trần Trọng Kim nhận định: “…Đã là đối địch thì không sao tránh khỏi được cái luật chung của tạo-hóa là:  khỏe còn, yếu chết. Vì vậy cho nên từ khi vua Thánh-tông nhà Lê đã lấy đất Quảng nam và đã chia nước Chiêm ra làm 3 nước rồi, thì từ đó về sau thế-lực nước ấy mỗi ngày một kém, dân tình mỗi ngày một suy. Chẳng những là đến nỗi mất nước với chúa Nguyễn mà chủng-loại Chiêm-thành bây giờ cũng chẳng còn  được mấy nghìn người nữa. Một nước trước như thế, mà nay như thế, dẫu rằng nước  ấy  đồng hóa với nước ta mặc lòng, song nghĩ cũng thương-tâm thay cho những nước yếu-hèn không tránh khỏi được cái họa:  cá nhỏ bị cá lớn nuốt…”[16].

            Thôi thì quy luật “mạnh được yếu thua”, “cá lớn nuốt các bé” đã đành! Nhưng ngày này, chúng ta cần nên xem trọng những di sản mà tổ tiên người Champa, để lại chấp nhận nó bảo vệ nó, giúp đỡ các cộng đồng các dân tộc ở miền Trung lẫn miền Nam thoát khỏi cái đói cái ngheo, quan tâm ưu tiên đến họ nhiều hơn, đặc biệt công nhận họ là những sắc dân bản địa như người da đỏ ở Mỹ, Úc chẳng hạn. Đàng và nhà nước ta trong những năm gần đây rất quan tâm đến việc cải thiện đời sông người dân tộc cũng như tạo điều kiện bảo tồn lưu giữ nền văn hóa của họ.

  • Sự phân hóa người Bắc, Trung, Nam và những vấn đề xung đột tộc người.

            Một vấn đề tiêu cựu đặc ra trong quá trình Nam tiến rất phổ biến là sự phân hóa người Bắc, Trung, Nam trong một bộ phận người dân Việt Nam từ xưa đến nay. Do nhận thức yếu kém về lịch sử họ phân biệt nhau, người miền Bắc nói người miền Nam ăn chơi, xa xỉ, như lời nhận định ở trên của Minh Mạng về Nam bộ, còn người miền Nam thì chê người miền Bắc hà tiện, keo kiệt…. Hiện nay, dù tư duy, suy nghĩa có nhiều thông thoáng, nhưng trong một bộ phận người dân vẫn đề cao tính vùng miền, người miền Nam ghét người miền Bắc và ngược lại…

            Cũng như vậy, vấn đề dân tộc một vấn đề được các chính quyền từ xưa đến nay quan tâm. Trước đây, do nhiều nguyên nhân thỉnh thoảng đã có những xung đột sắc tộc nghiêm trọng như cuộc nổi loạn của người Chăm năm 1794, rồi các xung đột tộc người ở Nam bộ vào thời nhà Nguyễn, khi người Khmer nổi lên chống lại người Việt. Gần đây, dưới sự lãnh đạo sáng suốt cảu Đảng và nhà nước, mâu thuẫn dân tộc phần nào được giải tỏa, các công đồng tộc người chung sống hòa bình. Nhưng vấn đề nãy vẫn luôn luôn bị các kẻ thù, các thế lực chống đối lợi dụng kích động người dân tộc đứng lên phục quốc hay chống lại người Việt…  

            Đây là những tư duy, hành động tiêu cực cần nhanh chóng bị loại bỏ, để tạo nên một khối đoàn kết vùng miền, các dân tộc. Đảng và nhà nước ta, cần quan tâm hơn nhầm cải thiện đời sống đồng bào dân tộc, xóa bỏ các rào cản vùng miền, tôn giáo, nhầm xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân thật vững mạnh. Trong thời gian gần đây, những tư duy nhận thức tiêu cực trên đang ngày càng bị loại bỏ, dân tộc Việt Nam dù vùng miền, dân tộc hay tôn giáo gì thì đều được hưởng mọi quyền lợi như nhau không phân biệt, đều là công dân trong Đại gia đình Việt Nam thống nhất.

            Tóm lại, quá trình Nam tiến có hai hệ quả lớn: một là mở rộng lãnh thổ, sát nhập thêm vào lãnh thổ Việt Nam những vùng miền trù phú, giàu có, tạo những nội lực quan trọng cho sự phát triển của quốc gia và dân tộc. Thứ hai, qua quá trình đưa bản sắc Việt từ phương Bắc vào tiếp xúc với các dân tộc phương Nam, đã tạo nên các bản sắc vùng miền khác với khởi thủy từ vùng Bắc bộ, những bản sắc khác biệt này bắt nguồn từ nhận thức, tư duy đến lối sống sinh hoạt văn hóa (trên các bình diện văn hóa vật chất và tinh thần).

  • Những vương triều, cộng đồng và cá nhân, vai trò của họ với quá trình Nam Tiến.

Trong phần trên, tôi vừa trình bày hệ quả của quá trình Nam tiến, mà tôi còn gọi là di sản thực tiễn của quá trình Nam tiến. Trong phần này tôi xin trình bày di sản về khoa học Lý luận của Nam tiến: theo đó tôi sẽ thử đánh giá, nhận dịnh về công lao và vai trò của các vương triều phong kiến, các cộng đồng, các tổ chức, cũng như vai trò của các cá nhân trong quá trình đó. Từ đó, góp phần đánh giá đúng tầm quan trọng của họ trong quá trình Nam tiến nói riêng, cũng như tiến trình lịch sử dân tộc nói chung.

2.1. Các Vương triều phong kiến Việt Nam với công cuộc Nam tiến.

2.1.1. Các vương triều Lý – Trần – Hồ – Lê.

            Nhà lý, vương triều đã mở đầu cho công cuộc Nam tiến của dân tộc Việt Nam. Với tư cách là một vương triều độc lập, vươn lên sau suốt hàng ngàn năm Bắc thuộc, vương triều này không ngửng hoàn thiện mình từ thể chế hành chính, tìềm lực quốc gia về kinh tế cũng như về quân sự.

            Vương triều Lý, trong cương vị lãnh đạo quốc gia đã mưu cầu đến sự phát tiển của quốc gia, thực hiện chính sách “ngự binh ư nông” để cũng cố nông nghiệp và điều khiển quân đội. Nhà Lý từ các vua Lý Thái Tổ, đến Lý Thánh Tông, không ngừng xây dựng hoàn thiện binh chế, không ngừng tăng cường huấn luyện binh sĩ, chế tạo vũ khí đóng tầu thuyền. Trước để xây dựng khả năng tự cường trước nhà Tống, sau là để khẳng định sức mạnh trước các quốc gia lân bang.

            Trên bước đường mưu cầu cho sự phát triển của quốc gia, dân tộc, khẳng định sức mạnh quốc gia, tôn nghiêm quốc thể. Vua Lý Thánh Tông tiến hành cuộc hành quân năm 1069, vua Champa phải dâng ba châu Bồ Chính, Địa Lý, Ma Linh (từ Hoàng Sơn đến Cửu Việt, tương đương Quảng Bình và Bắc Quảng Trị) nhầm ngăn chặn sự chống đối liên tục của Champa ở phương Nam, giữ vững sự an toàn của biên cương, cũng như mở rộng lãnh thổ quốc gia và sức mạnh của dân tộc[17].

            Năm 1075, một lần nữa nhà Lý đã thể hiện khát vọng quyết tâm cảu mình trong việc giữ vững và khẳng định chủ quyền ở vùng đất mới. Với việc cử Lý Thường Kiệt đi đánh quân Champa ở biên thùy, vẽ địa đồ ba châu và lập chiếu đưa những cư lưu người Việt đầu tiên đến sinh sống. 

            Nhà Lý, như vậy đã đặt những nền tảng đầu tiên cho tiến trình Nam tiến của dân tộc. Dân gian có câu: “đầu xuôi thì đuôi lọt”,với tư cách là một triều đại đi tiên phong trên con dường mở cõi, nhà Lý đã tạo nên những căn bản quan trọng cho các vương triều sau kế tục sự nghiệp Nam tiến vĩ đại của dân tộc Việt Nam.

            Nối tiếp nhà Lý, năm 1307, nhà Trần tiếp thu vùng đất châu Ô, Lý (Nam Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế và Nam Quảng Nam) một sính lế của vua Champa đâng cho Đại Việt để cưới công chúa Huyền Trân. Đến lượt mình, dù cũng thực hiện quá trình Nam tiến một cách thụ động, nhà Trần cũng đã nhanh chóng khẳng định quyết tâm của mình trong việc xây dựng, giữ vững vùng tuyến biên cương mới này, bằng việc đổi hai châu này thành châu Thuận, châu Hóa. Cử đại thần Đoàn Nhữ Hài đến vỗ về dân chúng, đặt chức quan, đưa lưu dân vào lập nghiệp trong vùng đất mới[18].

            Như vậy, dù tiếp nhận một cách “thụ động” vùng đất mới nhưng nhà Trần, tiếp nối nhà Lý đã nhanh chóng thiết lập hệ thống hành chính, đưa cư dân Việt vào định cư ở vùng đất mới, cũng là để nhanh chóng cũng cố sức mạnh, tuyên bố chủ quyền với vùng đất Thuận hóa. Nếu như nhà Lý, đã đi tiên phong trong cuộc Nam tiến, thì đến lượt mình nhà Trần, đã nhanh chóng kiểm soát, tổ chức vùng đất mới vào lãnh thổ quốc gia, một vùng  đệm quan trọng cho quá trình Nam tiến. Chính từ thuận Hóa, vùng đồng bằng gần như trù phú nhất miền Trung, vùng đất có địa thế phòng thủ chiến lược của Champa đã thuộc về Đại Việt, từ Thuận Hóa đất đai rộng mở, bước chân Nam tiến của người Việt tự đó mà càng thêm cũng cố và sẽ tạo điều kiện cho những chặng đường tiếp sau.

            Đến thời Hồ, cuộc Nam tiến bắt đầu chuyển sang thế chủ động. Hồ Qúy Ly rồi Hồ Hán Thương nhiều lần chủ trương đánh Champa. Năm 1402, nhà Hồ đánh Champa, ép vua họ phải giao hai vùng đất Chiêm Động và Cổ Lũy (tương đương Nam Quảng Nam và Quảng Ngãi). Nhà Hồ, thật sư đã bước một bước rất lớn trong quá trình Nam tiến, lần đầu tiên người Việt chủ động đánh, rồi lấy đất ở phía Nam.

Cũng chính nhà Hồ, lần đầu tiên thể hiện được một quyết tâm khẳng định và giữ vững chủ quyền của quốc gia trên vùng đất mới, chưa từng thấy từ hai triều đại trước. Đầu tiên, nhà Hồ đã khuyến khích nhân dân đến đây, còn cấp trâu, bò, nông cụ cho họ, tổ chức nhiều đợt di dân cưỡng bách, xây dựng những di dân này theo các quy chế nghiêm ngặt, như “thích chữ lên tay”…Đến đây, thật sự nhà Hồ đã tạo những căn bản nữa cho cuộc Nam tiến tiếp tục sau này[19].

            Thời Lê Sơ ghi nhận sự kiện Nam tiến thời Lê Thánh Tông, khi vua thực hiện cuộc hành quân năm 1471, sau đó lấy vùng đất Chiêm Động, Cổ lũy vốn trước kia nhà Hồ đã lấy, nhưng đến thời thuộc Minh bị Champa chiếm lại và còn sát nhập thêm vùng Vijaya hay Bình Định ngày nay vào bản đồ Đại Việt.

            Vai trò quan trọng của nhà Lê đối với cuộc Nam tiến, là ở chổ vương triều này đã chiếm lĩnh được một vùng đất rộng lớn chưa từng có từ trước  của cuộc Nam tiến (từ sông Thu Bồn đến đèo Cù Mông), cũng chính cuộc hành quân này, nhà Lê đã chiếm được Vijaya, khu vực trung tâm của vương quốc, phân tách Champa làm ba phần làm suy yếu thực lực của vương quốc Champa, kể từ nay vương quốc này chỉ còn tồn tại một cách yếu ớt, trong cơn thoi thót cuối cùng và chỉ còn chờ cho đến ngày cáo chung. Vương quốc đó, không còn có thể chống cự lại Đại Việt, từ giờ trở đi chỉ còn là một chư hầu của Đại Việt, để sau này chúa Nguyễn tiếp tục hành trình Nam tiến một cách thuận lợi.

2.1.2. Các chúa Nguyễn ở Đàng Trong.

            Năm 1558, chúa Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa, sau đó đó kiêm luôn trấn thủ Quảng Nam, vùng đất biên cương này tuy đã có rất nhiều người dân đến di cư từ trước, nhưng nói chung so với cả nước vẫn là một vùng hẻo lánh, xa xôi, dân cư thưa thớt. Nguyễn Hoàng và các chúa Nguyễn tiếp sau ông đã xây dựng nơi đây thành một vùng đất đai trù phú, đúng vào lúc tình trạng nhâm mãn, đói kém ở phương Bắc đang bùng nổ, hàng ngàn, hàng vạn lưu dân lại bước chân của chủa Nguyễn vượt đèo ngang, núi sông rộng mở, vùng đất Thuận Quảng lúc ấy, đâu chỉ là nơi dung thân cho riêng một dòng họ chúa Nguyễn, nó còn là nơi dành cho “những người đã không có quyền sống trên vùng đất cũ”[20]

            Từ lúc đó một nhu cầu xây dựng một vùng đất hầu làm đối địch với chúa Trịnh ở phương Bắc xuất hiện. Nam tiến thời bấy giờ trở thành vấn đề sống còn với họ Nguyễn, Nam tiến trở thành một yêu cầu tất yếu, tự lúc đó quả trình Nam tiến đã chuyển từ tự phát đã sang tự giác. Các chúa Nguyễn một mặt tiếp tục thu hẹp dần lãnh thổ của Champa, một vương quốc đang trong cơn “hấp hối”, mặt khác các chúa Nguyễn đã vươn ra biển tiến xuống phương Nam xa xôi, trước là kết giao với Chân Lạp, sau là đưa dân vào phương Nam sinh tụ và lần hồi, từng bước bằng nhiều phương cách đã sát nhập toàn bộ vùng đất Thủy Chân Lạp mà ngay nay là Nam bộ vào lãnh thổ xứ Đàng Trong. Hoàng thành cuộc Nam tiến trường kỳ của dân tộc Việt.

            Nhìn vào cuộc Nam tiến của dân tộc Việt Nam, chúng ta sẽ thấy rằng các chúa Nguyễn có vai trò rất lớn trong công cuộc Nam tiến. Vai trò này thể hiện ở chổ quá trình Nam tiến của chúa Nguyễn so với các vương triều trước diễn ra trong thời gian ngắn nhất (1611 – 1757), nhưng lại mở rộng ra phần lãnh thổ tương đương, thậm chí, rộng hơn bất kỳ một triều đại nào đã thức hiện. Mặt khác, cuộc Nam tiến cảu các chúa Nguyễn đã đưa người Việt đến với vùng đồng bằng sông Cửu Long, vùng đất đã cung cấp cho đất nước một sản lượng lúa rất lớn, đến nổi người ta xem vùng đất này    như là vựa lúa lớn nhất của cả nước.

            Giáo sư Phan Huy Lê khẳng định công lao mở cõi của các chúa Nguyễn trong một hội thảo về Chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam, tại Thanh Hóa năm 2008 như sau: “… Những kết quả nghiên cứu cho phép khẳng định c6ng lao mở mang bờ cõi từ Thuận Hóa Quảng Nam vào đến vùng đồng bằng Sông Cửu Long của các chúa Nguyễn ở Đàng Trong…Công cuộc khai phá với nhữngchính sách và biện pháp tích cực của chính quyền chúa Nguyễn đã biến vùng Thuận Quảng còn hoang sơ vào giữa thế kỷ XVI, trở thành một vùng kinh tế phát triển làm bàn đạp cho công cuộc mở mang bờ cõi về phương Nam. Vào giữa thế kỷ XVII – XVIII vùng đồng bằng sông Cửu Long là một vựa lúc cảu Đàng Trong với năng suất đạt tới 100, 200, 300 lần như Lê Qúy Đôn đã ghi chép. Các nghề thủ công, quan hệ tiền tệ trong nước và mậu dịch ngoài nước đều phát triển nhanh chóng. Một loạt các đô thị, thương cảng ra đời thu hút nhiều thuyền buôn nước ngoài…Các chúa Nguyễn…có công lớn trong sự nghiệp khai phá và phát triển vùng đất mới, mở rộng lãnh thổ phía Nam bao gồm cả các hải đảo ven bờ và quân đảo Hoàng Sa và Trường Sa trên biển động…”[21].

            Gần đây, vai trò lịch sử của các nói chung và vai trò mở mang bờ cõi của các chúa Nguyễn nói riêng đã được nhiều học giả nổi tiếng ghi nhận, cá nhân tôi cho rằng  so với các vương triều trước, các chúa Nguyễn đã có công lao rất lớn trong việc thực hiện công cuộc Nam tiến của dân tộc. Tất nhiên, công cuộc Nam tiến thời các chúa Nguyễn không thể thực hiện nếu không có những nền tảng từ các triều đại trước, nhưng đến thời chúa Nguyễn quá trình này diễn ra nhanh chóng, quy mô lãnh thổ được mở ra lại lớn tương đương với các triều trước, các chúa Nguyễn mở cõi đến tận vùng Nam bộ, nơi có thể xây dựng các thương cảng, các trung tâm buôn bán sầm uất nhất đất nước (xứ Gia Định – Đồng Nai), nơi có vựa lúa, vựa trái cây, nguồn nông – ngư sản lớn nhất cả nước (đồng bằng sông Cửu Long)…

2.2. Các cộng đồng và cá nhân với công cuộc Nam tiến.

Trong lộ trình Nam tiến trường kỳ và vĩ đại của dân tộc, biết bao con người, biết bao nhân vật đã được lịch sử ghi nhận như công chúa Huyền Trân, người con gái “làm dâu xứ người đền nợ Ô, Lý”, như chúa tiên Nguyễn Hoàng, như công chúa Ngọc vạn, như Lễ Thành Hầu Nguyễn hữu Cảnh người có công lớn trong cuộc khai sáng vùng đất phương Nam, như Trần Thượng Xuyên người có công khai phá đất Đồng Nai đại phố…

Nhưng trên bước đường khai thiên lập địa, trên con đường tiên phong đi mở cõi đó đâu chỉ có huyền Trân Công chúa, đâu chỉ có Nguyễn Hoàng, Nguyễn Hữu Cảnh, Trần Thượng Xuyên, còn có biết bao con người vô danh hoặc hữu danh khác nữa từ những bệt tiền hiền của các dòng họ ở miền Trung, theo bước chân những ông vua, những triều đại bước chân vào Nam lập nên cơ nghiệp cho dòng họ, gây dựng cơ đồ muôn đời cho dân tộc trên vùng đất lạ. Họ những con người vô danh và hữu danh đó, đáng để lịch sử ghi nhận.

Làm sao có thể kể hết công lao của họ trong tiến trình Nam tiến trường kỳ của dân tộc, có những người được lịch sử ghi công, có những người được con chấu mình ghi công, nhưng cũng có những người không được lịch sử biết tên, không được ai ghi nhận…Từ lúc họ đi khai hoang, mở đất trước là mưu cầu lợi ích cho mình sau là mưu cầu lợi ích cho con cháu sau này, nhưng dù muốn dù không, dù được ghi nhận hay không được biết đến, tựu chung lại tất cả họ đã làm nên lịch sử, họ có công với lịch sử, đáng được lịch sử ngưỡng vọng.

Trong phần này, tôi không thể kể hết những tên tuổi, quê quán của họ, chỉ xin ghi nhận lại một số nhận vật tiêu biểu được lịch sử ghi nhận như Lý thường Kiệt, công chúa Huyền Trân, Lê Thánh Tông, Nguyễn Hoàng, công chúa Ngọc Vạn, Nguyễn Hữu Cảnh…

  • Lý Thường Kiệt.

Vào thời Lý, vua Lý Thánh Tông là người chủ trương chính phạt Champa, nhưng vua không chủ trương lấy đất của Champa, vua cũng có công trong cuộc mở cõi buổi ban đầu này. Nhưng Lý Thường Kiệt, với tư cách là tướng tiên phong cho vua Lý bắt vua Champa năm 1069, rồi trực tiếp cầm binh đánh Champa năm 1075, giữ vững vùng đất này, cũng như vẻ địa đồ, trực tiếp thực hiện chiếu đưa lưu dân người Việt vào đây đi khai thác, thì ngài thật sự là người có công đầu của nhà Lý, trong cuộc Nam tiến.

Lý Thường Kiệt sinh năm 1019, mất năm 1105. Ban đầu ông làm nội thị cho vua Thái Tông, năm 1054, vua Thánh Tông phong ông chức Bổng hành quân hiệu uý. Ông thường ngày ở cạnh vua, thường can gián. Vì có công lao, ông được thăng làm Kiểm hiệu thái bảo. Trong các năm 1061, 1069 ông cùng vua đi đánh dẹp người Mường nổi loạn và nước Champa ở phía Nam. Năm 1072, ông trở thành phụ chính dịa thần thời Lý Nhân Tông, có công lớn trong cuộc kháng chiến chống Tống năm 1075 – 1076. Ông được phong chức Thái úy, tước Khai quốc công và trở thành một đại thần quan trọng nhất thời Lý.

Đối với cuộc hành quân năm 1069, ông cũng vua Lý Thánh Tông đánh Champa và được giữ chức tiến phong trong mọi trận đánh khi vua Champa, Rudravaman II (Chế Củ) chạy về biên giới Chân Lạp, ông là người trực tiếp truy kích, bắt sống vua. Năm 1075, khi Champa quấy nhiễu biên cương ông lại thân chinh đánh Champa, giữ yên ba vùng Bồ Chính, Địa Lý, Ma Linh, tiến hành vẽ bản đồ và chiêu tập dân đến đây sinh sống, khai phá.

Nhận xét về công lao này, học giả Hoàng Xuân Hãn nhận định: “…Trong cuộc nam phạt, Lý Thường Kiệt vừa làm tham mưu, vừa làm thống soái. Ông đã có công lấy thành, bắt chúa Chiêm, cho nên nước ta mới được nhường khoảnh đất ba châu phía nam dãy Hoành Sơn. Trong cuộc nam tiến của dân tộc Việt Nam, Lý Thường Kiệt có công đệ nhất, vì đã mở đường cho các đời Trần, Hồ, Lê, Nguyễn sau. Trước đó, tuy Lê Đại Hành, Lý Thái Tông cũng đánh chiếm Chiêm Thành, nhưng mỗi lúc chỉ bắt người, lấy của rồi về, chứ không hề nghĩ tới mở mang bờ cõi…”[22].

  • Công chúa Huyền Trân.

                     Công chúa Huyền Trân là một nàng công chúa thời Trần, không có nhiều tài liệu cho chúng ta biết thân thế của nàng, cuộc đời của nàng, ngoài các tác phẩm văn học mang nhiều tính ước lệ. Chúng ta chỉ biết công chúa là con của vua Trần Nhân Tông, em vua Trần Anh Tông. Vào cuối thế kỷ thứ XII – đầu thế kỷ XIV, sau cuộc kháng chiến chống Mông – Nguyên, mối quan hệ Đại Việt – Champa rất tốt đẹp. Nhân một chuyến ngao du sang Champa, thượng hoàng Nhân Tông đã hứa gả Huyền Trân cho vua Chmap Simhavarman III (Chế Mân), dù gặp nhiều phản đối, nhưng khi vua Champa lấy hai châu Ô, Lý làm sính lễ cưới công chúa, thì phái Đại Việt chấp thuận.

                Năm 1306, công chúa Huyền Trân về làm dâu xứ Chiêm, được vua Chế Mân phong tước hoàng hậu Paramecvari. Đám cưới được hơn một năm, Chế Mân từ trần (1307). Vua Trần Anh Tông thương em, sợ Huyền Trân bị đưa lên giàn hỏa thiêu chết theo chồng trong tục lệ Chiêm Thành, nên nhà vua cho tướng Trần Khắc Chung (tức Đỗ Khắc Chung) sang Chiêm lấy cớ viếng tang, rồi lập mưu đưa Huyền Trân và con là Đa Da trở về Đại Việt[23].

                Cuộc đời làm dâu đất Champa của công chú Huyền Trân đã được văn thơ, nghệ thuật ghi nhận và hết lời ca ngợi. Công chúa Huyền Trân, chính là đại diện tiêu biểu cho công cuộc Nam tiến vào thời kỳ nhà Trần. Việc sát nhập vùng đất Thuận Hóa như đã nói có một tầm vóc hết sức quản trọng đối với quá trình Nam tiến. Công chúa Huyền Trần với tư cách đánh đổi Thuận Hóa, như vậy có một ý nghĩa quan trọng.

  • Lê Thánh Tông.

                Lê Thánh Tông (1442 – 1497), tên thật là Lê Tư Thành, năm 1460 ông lê ngôi vua, Trong lúc trị vì, Lê Thánh Tông đã đề xuất nhiều cải cách trong hệ thống quân sựhành chínhkinh tếgiáo dục và luật pháp. Ngoài ra, ông đã tiến hành công cuộc Nam tiến, mở mang bờ cõi Đại Việt bằng cách đánh chiếm kinh đô của vương quốc Chiêm Thành (1471), sáp nhập một phần lãnh thổ Chiêm Thành vào Đại Việt; đồng thời có cuộc hành quân về phía Tây đất nước vào năm 1479.

                Như vậy, vua Lê Thánh Tông là người có công quan trọng trong cuộc Nam tiến của dân tộc, trong cuộc hành quân năm 1471, ông đã mở rộng bờ cõi từ phía Nam sông Thu Bồn đến tận đèo Cù Mông, tạo một tiền đề quan trọng cho các chúa Nguyễn thực hiện và hoàng thành công cuộc Nam tiến. Tác gải Trần Trong Kim nhận định về vua như sau: “… Ngài trị vì được 38 năm, sửa sang được nhiều việc chính trị, mở mang sự học hành, chỉnh đốn các việc vũ bị, đánh dẹp nước Chiêm.., mở thêm bờ cõi, khiến cho nước Nam…bấy giờ được văn minh thêm ra và lại lừng lẫy một phương, kể từ xưa đến nay chưa bao giờ cường thịnh như vậy…[24].

  • Nguyễn Hoàng.

                Nguyễn Hoàng (1525 – 1613), Dưới triều nhà Lê trung hưng, ông là một tướng tài lập nhiều công lớn, được vua Lê phong tước Thái úy Đoan Quốc Công. Năm 1545, cha ông là Nguyễn Kim bị đầu độc, quyền lực trong triều rơi vào tay anh rể ông là Trịnh Kiểm, nhầm thoát khỏi sự kiểm soát của trịnh Kiểm, ông dùng mưu, ông xin vào trấn thủ ở Thuận Hoá, sau kiêm luôn Quảng Nam.

                Sau khi vào trần thủ Thuận Quảng, chúa tiên Nguyễn Hoàng luôn khát vọng xây dựng nên một giang san riêng, hầu làm đối trọng với vùng đất do chúa Trịnh kiểm soát ở phía Bắc. Ông một mặt xây dựng cũng cố vùng Thuận Hóa, tiến hành chiến tranh chống lại quân Trịnh ở phía Bắc, một mặt thực hiện cuộc Nam tiến về phương Nam. Ông là vị chúa đầu tiên của nhà Nguyễn thực hiện cuộc Nam tiến (năm 1611, chúa Nguyễn Hoàng cho chiếm Phú Yên) và cũng chính ông đã để lại di chiếu cho các chúa sau phải tiếp nối mình mà mở cõi, hầu xây dựng một quốc gia đũ mạnh, đủ tiềm lực đối chọi với kẻ thù ở Đàng Ngoài, giữ vững giang san của họ Nguyễn ở Đàng Trong.

                Nếu như xem giai đoạn Nam tiến dưới thời các cháu Nguyễn là thời kỳ từ tự phát sang tự giác (như đã nói ở các chương trước). Thì ta thấy rằng, kể từ thời chúa Nguyễn Hoàng yêu cầu lịch sử, cũng như quyền lợi dòng tộc đặc ra cho ông là bên cạnh việc Bắc cự Trịnh, trong thì lo xây dựng, phát triển xứ Thuận Quảng, thì cũng đặc ra yêu cầu Nam tiến, chính nhờ cuộc Nam tiến về đất Thuận Quảng mà ông đã có được chổ dung thân, dấy nghiệp muôn đời, thì nay muốn giữ được cơ nghiệp đó, ông và các người kế tục phải tiếp tục Nam tiến, tiếp tục mở cõi về phương Nam, như là một tất yếu nếu như muốn dòng tộc, giang sơn của mình trường cửu. có thể nói  Ông có thể coi là người tiên phong trong việc mở rộng bờ cõi đất nước xuống phía nam, mở đầu cho việc hùng cứ phương nam của 9 chúa Nguyễn.

  • Công Nữ Ngọc Vạn.

                Công nữ Ngọc Vạn là một nhân vật hết sức đặc biệt, hầu như các tại liệu chính thống viết về lịch sử chúa Nguyễn và nhà Nguyễn đều không nhắc gì đến tên của bà. Nhưng trong quá trình nghiên cứu về những vấn đề liên quan đến bà, từ các nhà khoa học lớn như Phan Khoang, Trần Thuận, Nguyễn Đình Tư, Phan Văn Hoàng…, khi đối chiếu với các tài liệu của biên niên sử Campuchia đều xác nhận rằng, công chúa Ngọc Vạn là con của chúa Nguyễn Phúc Nguyên, được gả cho vua Chân Lạp Chey Chette II, vào khoảng những năm 1620, để nhầm thiết lập mối ban giao thân thiện giữa hai quốc gia.

Về sự kiện này, Phan Khoang viết : “…Từ thế kỷ 17 đã có nhiều người Việt Nam đến hai xứ Đồng Nai và Mỗi Xuy của Chân Lạp (tức Biên HòaBà Rịa ngày nay), để vỡ đất làm ruộng. Vua Chân Lạp Chey Chetta II muốn tìm một đối lực để chống lại lân bang Xiêm La nguy hiểm kia, đã xin cưới một công nữ con chúa Nguyễn làm hoàng hậu, trông mong sự ủng hộ của triều đình Thuận Hóa và chúa Hy Tông (chúa Sãi) có mưu đồ xa xôi, năm 1620, đã gả cho vua Chân Lạp một công nữ. Cuộc hôn nhân này có ảnh hưởng lớn lao đến vận mạng Chân Lạp sau này. Bà hoàng hậu đem nhiều người Việt đến, có người được giữ chức hệ trọng trong triều, bà lại lập một xưởng thợ và nhiều nhà buôn gần kinh đô. Đến năm 1623, một sứ bộ của chúa Nguyễn đến Oudong yêu cầu được lập cơ sở ở Prey Kôr tức Sài Gòn ngày nay và được ở đấy một sở thu thuế hàng hóa. Vua Chey Chetta chấp thuận và triều đình Thuận Hóa khuyến khích người Việt di cư đến đấy làm ăn rồi lấy cớ để giúp chính quyền Miên gìn giữa trật tự, còn phải một tướng lãnh đến đóng ở Prey Kôr nữa. Khi Chey Chatta mất, vùng đất từ Prey Kôr trở ra Bắc đến biên giới Chiêm Thành (tức là Sài Gòn, Bà Rịa, Biên Hòa ngày nay), đã có nhiều người Việt đến ở và khai thác đất đai…”[25].

Có thể thấy, dù tài liệu của nhà Nguyễn không ghi nhận về tên của công chúa Ngọc Vạn, nhưng từ tại liệu của Campuchia và một số các tài liệu khác, các tác giả đến nay đều thống nhất rằng chúa Nguyễn Phúc Nguyên đã gả một người con gái cho Chey Chetta II. Bà hoàng này không chỉ có vai trò quan trọng trong việc xây dựng mối quan hệ hữu hảo giữa chúa Nguyễn và Chân Lạp, trong lúc Chân Lạp đang muốn tìm kiếm một đồng minh giúp sức đối đầu với Xiêm La và trong lúc chúa Nguyễn đang tính đến truyện đưa người Việt vào khai phá Nam bộ. Mà bà, với sự sủng ái của quốc vương Chân lạp đã làm hậu thuẫn cho những lưu dân Việt đầu tiên vào đất Thủy Chân Lạp, nhờ đó chúa Nguyễn từ việc đặt hai trạm thu thuế ở đất Chân Lạp tại Sài Gòn đến việc cam thiệp vào nội tình Chân Lạp, dần dần từng bước thu lấy những vùng đất một của Chân Lạp, sát nhập vào lãnh thổ Đàng Trong, từ Đồng Nai – Gia Định, đến Hà tiên và sau này là Tầm Phong Long.

Như vậy công nữ Ngọc Vạn với tư cách là cầu nối giữa chúa Nguyễn và Chân Lạp, đã có công lao rất lớn dù chỉ là gián tiếp trong công cuộc Nam tiến của dân tộc, nhờ bà mà các chúa Nguyễn đã sát nhập, khẳng định chủ quyền ở vùng đất Nam bộ vốn là Thủy Chân Lạp và hoàn thành cuộc Nam tiến của người Việt. đánh giá về công lao của công nữ Ngọc Vạn TS. Trần Thuận viết: “Cuộc hôn nhân này mặc dầu không được sử nhà Nguyễn ghi chép vì một lý do nào đó…Ngọc Vạn, rõ ràng là một chiếc cầu nối trong quan hệ Việt–Miên ở thế kỷ 17…Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, từng có những người phụ nữ làm nên đại cuộc như Hai Bà TrưngBà Triệu,…góp phần giành giữ nền độc lập cho Tổ quốc, và cũng từng có những người phụ nữ lặng lẽ hy sinh để cha anh làm nên nghiệp lớn như Huyền Trân, Ngọc Vạn, Ngọc Khoa…Chính họ là những con người làm nên lịch sử. Đáng kính thay!…”[26].

  • Nguyễn Hữu Cảnh.

Nguyễn Hữu Cảnh (1650 – 1700) làm tướng dưới thời chúa Nguyễn Phúc Chu. Đầu năm 1692, chúa Nguyễn Phúc Chu (16911725) phái Nguyễn Hữu Cảnh làm Thống binh cùng với tham mưu Nguyễn Đình Quang đem quân đánh Champa, bình định biên cương với, thành lập trấn Thuận Thành (đất Ninh ThuậnBình Thuận ngày nay). Sau đó Nguyễn Hữu Cảnh lại tiếp tục ở lại vùng đất này, một mặt bình định các phong trào chống đối của dân bản xứ, mặt khác Nguyễn Hữu Cảnh trực tiếp tổ chức hành chính, xây dựng quân đội, ổn định, chiêu dụ nhân dân bản địa, cũng như tổ chức sắp xếp cho lưu dân người Việt đến định cư trên vùng đất mới.

Đến những năm 90 của thế kỷ XVII, vùng đất Gia Định – Đồng Nai vẫn thuộc chủ quyền Chân Lạp, dù người Việt, người Hoa đã đến đây và gần như chiếm số đông ở vùng đất này, nhưng họ vẫn chỉ ở trong thân phận dân ngụ cư. Chúa Nguyễn chưa xác lập chủ quyền ở vùng đất này, điều đó đồng nghĩa với ước vọng mở cõi của tiên chúa Nguyễn Hoàng chưa hoàn thành. Năm 1698, chúa Nguyễn Phúc Chu cử Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lược xứ Đồng Nai – Gia Định, chính thức xác lập chủ quyền của chúa Nguyễn ở vùng đất này. Nguyễn Hữu Cảnh liền bắt tay vào việc thiết lập bộ máy hành chính, dựa trên cơ sở các lưu dân đã định cư ở đây, ông lập ra phủ Gia Định bao gồm hai dinh Trấn Biên và Phiên Trấn…[27].

                Nguyễn Hữu Cảnh tuy không phải là người trực tiếp kinh lược sát nhập cả vùng Nam bộ vào lãnh thổ Đàng Trong. Nhưng ông với tư cách một thống suất trước là tiên phong sát nhập vùng đất cuối cùng của Champa tức là Trấn Thuận Thành (tương đương với Ninh Thuận và Bình Thuận), sau là người đi kinh lược xứ Đồng Nai – Gia Định. Một con người có công lao rất lớn trong việc sát nhập xứ Đồng Nai – Gia Định (gần như tương đương với vùng Đông Nam bộ ngày nay).

                Ông không chỉ có công lớn trong việc tổ chức, thiết lập hệ thống hành chính mà còn có công lớn trong việc chiêu mộ dân chúng vào vùng đất mới tổ chức sản xuất cho họ, giữ vững chủ quyền ở vùng đất mới. Chính từ cuộc kinh lược của ông, các chúa Nguyễn nói riêng và người Việt nói riêng đã làm chủ cả một vùng đất chiến lược của Nam bộ, tạo một bàn đạp, một thế đứng vững chắc cho người Việt tiếp tục tiến xuống miền đồng bằng sông Cửu Long và hoàn thành công cuộc Nam tiến sau này. Có thể nói Nguyễn Hữu Cảnh đã đóng góp một phần rất quan trọng vào hệ di sản Nam tiến của dân tộc.

  • Các nhận vật khác.

Ở trên, chỉ là những nhân vật tiêu biểu, có đóng góp được lịch sử ghi nhận nhiều nhất trong quá trình mở mang bờ cõi xuống phương Nam. Tôi không hề có những so sanh rằng vai trò của nhân vật này quan trọng hơn nhân vật khác nhưng họ là những nhân vật tiêu biểu nhất đại diện nhất, còn những tên tuổi khác vì thời gian và vì hạn chế của bài viết nên tôi không nêu ra ở trên. Dưới đây xin liệt kê một số nhân vật khác:

Vua Lý Thánh Tông, người thân chinh đi đánh Champa năm 1069, từ đó mà vua Champa Chế Củ dâng đất cho ta, lần đầu tiên mở đầu cuộc Nam tiến.

Đời nhà Trần, sau Huyền Trân Công Chúa,lịch sử còn ghi nhận về một viên quan tên là Đoàn Nhữ Hài, không có nhiều ghi chép về ông. Nhưng sử liệu ghi nhận năm 1306, khi tiếp thu hai châu Ô, Lý đởi thành Thuận, Hóa châu. Ông là người được vua Trần cử về Nam thiết lập bộ máy hành chính, an ủi, chiêu dụ nhân dân địa phương, tổ chức, tô cư dân người Việt đến định cư trên vùng đất mới.

Hồ Quý Ly, người đã cho quân chinh phạt Champa, buộc họ phải dâng đất Chiêm Động, Cỗ Lũy, sau đó ông còn tổ chức cho luu dân đến khai phá vùng đất mới, cuộc di dân do ông thực hiện được ghi nhận là cuộc di dân quy mô đầu tiên trong quá trình Nam tiến.

Đến thời chúa Nguyễn, nhiều nhân vật và nhiều tên tuổi khác đã xuất hiện đóng góp vào quá trình Nam tiến như:

Chủ sự Văn Phong (không rõ họ), vào năm 1611, chính nhân vật này đã được Nguyễn Hoàng cử đi chính phạt Champa, mở ra vùng đất Phú Yên bây giờ. Những ngoài ra các tài liệu của nhà Nguyễn từ Đại Nam Thực Lục đến Đại nam liệt truyệnhầu như không hề nhắc gì đến nhân vật này nữa, ngoài một lần vao năm 1611.

Lương Văn Chánh, người được lịch sử ghi nhận với vai trò, tổ chức lưu dân từ thế kỷ thứ XVI – XVII vượt đèo Cù Mong vào định cư trên vùng đất mới nay là tỉnh Phú Yên, đây là đợt di tập dân cư đầu tiên được chú Nguyễn tổ chức, vì vậy đây là đợt di dân quan trọng vào thời kỳ chúa Nguyễn trên vùng đất Trung bộ.

Trần Thượng Xuyên, ông là một người Hoa, gốc Quảng Đông, vốn là một tướng quân nhà Minh, khi nhà Minh bị lật đổ nhà Thanh nắm quyền. Ông cùng với tướng quân Dương Ngạn Địch và gia quyến, thân thuộc khoảng 3000 người vượt thuyền xuống phương Nam. Ông thần phục chúa Nguyễn, được chúa Nguyễn giao cho khai phá vùng đất Đồng Nai ngày này, ông đã tổ chức dân chúng khai hoang, lập làng và nhành chóng biến vùng đất hoang sơ này thành một vùng thương mại, phố thị sầm uất, trên bến dưới thuyền, tạo nên vùng Nông Nại đại phố, được ghi nhận là vùng đất giàu có bật nhất miền Nam thời bấy giờ. Nhắc đến Trần Thượng Xuyên, không thể không nhắc đến Dương Ngạn Địch, người đã có công lớn trong việc khai phá đất Mỹ Tho. Cả hai ông đã đóng góp xứng đáng cho quá trình Nam tiến.

Mạc Cửu, cũng là một người Hoa, không muốn làm tôi nhà Thanh nên vào đất Chân Lạp làm ăn, được vua họ nâng đỡ, nhận thấy tầm quan trọng có thể phát triển của vùng đất Hà Tiên, ông xin vào làm ăn, tổ chức dân khai phá và lập làng xóm trên vùng đất này, sau đó còn mở rộng ra thêm. Năm 1708, Mạc Cửu đem phần đất của mình vào quy phục chúa Nguyễn, nhận sự bảo hộ của chúa Nguyễn. Vùng đất Hà Tiên này có ý nghĩa lớn trong quá trình Nam tiến, chính từ đây chúa Nguyễn đã cường tõa sức mạnh của mình đến vùng đồng bằng sông Cửu Long, tạo một gọng kìm để không lâu sau đó chúa Nguyễn sát nhập luôn vùng đất giữa Hà Tiên và Gia Định – Đồng Nai vào lãnh thổ Đàng Trong.

Nói đến Mạc Cửu, chúng ta không thể không ghi nhận về con trai ông, Mạc thiên Tứ, một nhân vật cũng giúp đở cho chúa Nguyễn rất nhiều trong công cuộc Nam tiến. Thứ nhất ông đã mở ra thêm nhiều vùng đất nữa của Chân Lạp, ròi sát nhập vào đất Hà Tiên, tức cũng là đất Đàng Trong, thứ hai ông nhiều lần làm trung gian cho vua Chân Lạp dâng đất cho chúa Nguyễn để lên ngôi hoặc chuộc tội. Mạc thiên Tứ đã góp một phần quan trọng vài tiến trình Nam tiến trong giai đoạn này.

Và còn rất, rất nhiều, rất nhiều những con người nữa từ các bật quan lại, thủ lĩnh của những đợt di dân, của những lần mở đất. Cho đến các bật dân dã, những người tu binh…được lịch sử đại phương, gia phả dòng họ ghi lại, cho đến các nhân vật vô danh mà không ai biết tên, ghi nhớ. Nhưng chính họ, tất cả họ đã làm nên lịch sử, nếu công cuộc Nam tiến có ý nghĩa quan trọng toi lớn đối với chiều dài phát triển của lịch sử dân tộc, một bước ngoặc to lớn làm biến đổi dân tộc theo hướng tích cực, theo hướng phát  triển. thì họ, những người đã đóng góp công sức của mình vào công cuộc mở cõi, đáng được lịch sử, các thế hệ sau tưởng nhớ và ngưỡng vọng.

Tiểu kết: Trong chương này tôi nghiên cứu về hệ thống các di sản của tiến trình Nam tiến từ những hệ quả của quá trình này như mở ra vùng đất mới, một vùng đất với nhiều lợi thế phát triển cho đất nước, cũng như tạo nên quá trình cộng cư các dân tộc để tạo nên những bản sắc “Việt Nam mới” trên các bình diện tư duy, nhận thức, lối sống và sinh hoạt văn hóa…Cho đến các di sản thực tiễn như đánh gia công lao, vai trò của các vương triều (Lý – Trần – Hồ – Lê, đặc biệt là các chúa Nguyễn) và các cá nhân (Lý Thường Kiệt, công chúa Huyền Trân, Lê Thánh Tông, Nguyễn Hoàng, công nữ Ngọc Vạn, Nguyễn Hữu Cảnh…).

Chú thích:

[1] Li Tana: Một Việt Nam khác? Vương quốc của họ Nguyễn, trích trong những vấn đề lịch sử Việt Nam, Nxb Trẻ, tr

[2] Li Tana: Một Việt Nam khác? Vương quốc của họ Nguyễn, trích trong những vấn đề lịch sử Việt Nam, Nxb Trẻ, tr

[3] PGS. TS. Võ Văn Sen – ths Trần Nam Tiến: Văn hóa chính trị của các chúa Nguyễn trong việc mở mang lãnh thổ Đàng Trong, trích trong Kỷ Yếu Hội Thảo Về chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trong lịch sử, Nxb Thế giới, HN, 2008, tr 187.

[4] PGS. TS. Võ Văn Sen – ths Trần Nam Tiến: Văn hóa chính trị của các chúa Nguyễn trong việc mở mang lãnh thổ Đàng Trong, trích trong Kỷ Yếu Hội Thảo Về chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trong lịch sử, Nxb Thế giới, HN, 2008, tr 188.

[5] Choi Byung Wook: Vùng đất Nam bộ dười triều Minh Mạng, Nxb Thế giới, HN, 2011,tr 167.

[6] Li Tana: Một Việt Nam khác? Vương quốc của họ Nguyễn, trích trong những vấn đề lịch sử Việt Nam, Nxb Trẻ, tr

[7] Trần Quốc vượng (1996): Theo dòng lịch sử, Nxb Văn hóa, Hà Nội, tr 431.

[8] Li Tana: Một Việt Nam khác? Vương quốc của họ Nguyễn, trích trong những vấn đề lịch sử Việt Nam, Nxb Trẻ, tr

[9] Nhiều tác giả: Văn hóa dân gian của người Việt ở Nam Bộ, Nxb khoa học xã hội, HN, 1992, tr 43 – 44.

[10] Phan Thị Yến Tuyết (1993), Nhà ở, trang phục, ăn uống của các dân tộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long, Hà Nội: Khoa học Xã hội, trang 92.

[11] Tạ Chí Đại Trường, Thần, người và đất Việt (California: Văn Nghệ, 1989), trang 235.

[12] Li Tana: Một Việt Nam khác? Vương quốc của họ Nguyễn, trích trong những vấn đề lịch sử Việt Nam, Nxb Trẻ, tr 

[13] Nguyên Ngọc: Nghĩ về phương Nam trong văn hóa Việt, trích trong Văn hóa thời hội nhập, nhiều tác giả, Nxb Trẻ, 2006, tr 103.

[14] Phan Khoang (1970): Việt sử: xứ Đàng Trong (1558 – 1777), Nxb Khai Trí, Tr 634 – 635.

[15] Choi Byung Wook: Vùng đất Nam bộ dười triều Minh Mạng, Nxb Thế giới, HN, 2011,tr 167.

[16] Trần Trọng Kim (2009): Việt Nam Sử Lược, Nxb Thời đại, HN, tr362.

 

[17] Khuyết danh: Việt Sử Lược, Nxb Thuận Hóa, 2005, tr96, 97.

[18] Nhiều tác giả: Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Nxb KH-XH, 1993, tr219.

[19] Như trên, tr300.

[20] Huỳnh Lứa, “Quá trình khai phá vùng Đồng Nai – Cửu Long và hình thành một số tính cách, nếp sống và tập quán của người nông dân Nam Bộ”, trong cuốn Mấy đặc điểm Đồng bằng sông Cửu Long, Viện Văn hoá, Hà Nội, 1984, trang 121.

[21] Báo cáo đề dẫn của giáo sư Phan Huy Lê tại hội thảo Về chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trong lịch sử, Nxb Thế giới, HN, 2008, tr17.

[22] Hoàng Xuân Hãn: Lý Thường Kiệt: lịch sử bang giao và tôn giáo, Nxb Văn học, 1995, tr48.

[23] Nhiều tác giả: Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Nxb KH-XH, 1993, tr218 – 219.

[24] Trần Trọng Kim (2009): Việt Nam Sử Lược, Nxb Thời đại, HN, tr273.

[25] Phan Khoang (1970): Việt sử: xứ Đàng Trong (1558 – 1777), Nxb Khai Trí, Tr 400 – 401.

[26] TS. Trần Thuận: Cuộc nhân duyên giữa công chúa Ngọc Vạn và Quốc vương Chân Lạp đôi điều suy ngẫm, trich trong  trích trong Kỷ Yếu Hội Thảo Về chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trong lịch sử, Nxb Thế giới, HN, 2008, tr 207. 

[27] Như Hiên  Nguyễn Ngọc Hiền (1993): Lê Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh và công cuộc khai sang miền Nam nước Việt cuối thể kỷ XVII, Nxb Văn Hóa – Thông Tin, Hà Nội, tr 104 – 109.

 

KẾT LUẬN

Ở trên, tôi đã nghiên cứu về quá trình mở mang bờ cõi về phương Nam, một quá trình thường được gọi là cuộc Nam tiến của người Việt Nam. Từ vùng đất quanh lưu vực sông Hồng sông Mã, sông Chu, tại sao họ lại tiến xuống đến tận vùng đồng bằng sông Cửu Long, để tổ quốc này, có hình thế như hiện nay. Trong đó, tôi đã phân chia ra làm ba phần lớn để nghiên cứu về tiến trình này.

Chương 1, tôi bắt đầu nghiên cứu về bối cảnh lịch sử của quốc gia, đất nước, những nguyên nhân từ trực tiếp đến gián tiếp, đưa đẩy người Việt Nam tiến về phương Nam. Trong quá trình nghiên cứu tôi nhận ra được những nguyên nhân khách quan, chủ quan từ sự phát triển của dân tộc, dân cư, tình trạng nhân mãn ngày càng đông đúc ở Bắc bộ, đến tình trạng chiến tranh xung đột Trịnh – Nguyễn, làm cho sản xuất đình đốn, làng xã tiêu điều, nông dân phải di cư vào Nam. Nhưng đó chỉ là ở cấp độ dân cư, trên cấp độ nhà nước Nam tiến, nằm trong một chủ trương nhầm phát triển lãnh thổ, khẳng định sức mạnh với lân bang, chống lại các thế lực đối đầu, nhầm gọng kìm và tiêu diệt Đại Việt từ thời Lý đến thời Lê. Đặc biệt vào  thời các chúa Nguyễn, Nam tiến chính là một chiến lược quan trọng, nhầm tạo ra sức mạnh, để có thể đề kháng chống lại quân Trịnh từ phương Bắc, Nam tiến đã trở thành một yêu cầu tất yếu.

Để có được một quá trình Nam tiến như vậy, người Việt cũng còn phải dựa rất nhiều vào các diều kiện, hoàn cảnh chủ quan là sự phát triển mạnh mẽ của quốc gia Đại Việt nhất là thời Lê sơ và thời các chúa Nguyễn, bên cạnh đó những điều kiện chủ quan như sự suy yếu của Champa và Chân Lạp, hy vọng tìm kiếm một đồng minh nhầm hạn chế ảnh hưởng của Xiêm La ở Chân Lạp, cũng đưa các vị vua Chân Lạp, kết thân và nhận sự bảo hộ của các chúa Nguyễn. Trên cơ sở những điều kiện, hoàn cảnh trong nước, trong khu vực tùy thời điểm, người Việt lại đề ra những chủ trương, những đối sách khác nhau để thực hiện cuộc Nam tiến như: dùng quân chinh phạt, đưa lưu dân đi khai hoang, tiến hành các cuộc hôn nhân chính trị, tham gia dàn xếp nội tình Chân Lạp…Cững tương ứng với mỗi thời kỳ lịch sử này mỗi lực lượng thành phần tham gia vào dòng người Nam tiến cũng khác, từ các quan lại chấn giữ rồi ở luôn trong vùng đất mới, các quân lính, các tội nhân lưu đầy hay các di dân vì không thể sống ở vùng đất cũ mà vào Nam,… hòa chung vào những dấu chân ngàn năm đi mở đất.

Ở chương 2, tôi bắt đầu nghiên cứu về tiến trình của cuộc Nam tiến, theo cách phân kỳ lịch sử. Bắt đầu từ thời Lý năm 1069, mở đất Bồ Chính, Địa Lý, Ma Linh (Quảng Bình, Bắc Quảng Trị). năm 1306, mở đất Thuận châu, Hóa châu (từ Nam Quảng Trị đến Bắc Quảng Nam). năm 1402, dưới thời Hồ mở đất Chiêm Động, Cổ Lũy (Quang Nam, Quảng Ngãi)…cho đến tận ngày Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lược xứ Đồng Nai Gia Định (1698), ngày chúa Nguyễn sát nhập Hà Tiên (1708), cuối cùng là sát nhập vùng đất Tầm Phong Long (1757). Thông qua nghiên cứu, tôi đã nêu ra những sự kiện, những trận đánh, những tình huống, những vùng đất, những con người. Tôi cố lý giải những vấn đề về sự kiện dẫn đến việc mở đất, ranh giới chính thức của nước ta sau mỗi lần mở đất, địa mạo những vùng đất được mở ra, sơ lược về quá trình lập thôn xóm, tổ chức hành chính của chính quyền và cư dân người Việt đến định cư ở các vùng đó ở đó, công lao, vai trò của từng nhân vật trong quá trình đó, hay ý nghĩa, vị trí của mỗi một lần mở đất đó.  

Chương 3, tôi bắt đầu phân tích, nghiên cứu về những di sản thực tiễn lẫn di sản lý luận, khoa học của quá trình Nam tiến (đây là những cách gọi của cá nhân tôi). Di sản thực tiễn, tức là nhưng hệ quả của quá trình Nam tiến như việc mở ra vùng đất mới, với những nguồn lợi vô cùng, trước là giải quyết được nhu cầu nhân mãn ở miền Bắc, sau là tạo những điều kiện cho sự phát triển cảu quốc gia, dân tộc; hay quá trình tiếp thu, hòa nập giữa người Việt và các tộc người bản địa, ở vùng đất mới, để tạo nên một bản sắc Việt Nam hoàn toàn khác với vùng khởi thủy của người Việt ở Bắc bộ, từ các yếu tố tư duy, nhận thức, đến lối sống, sinh hoạt, văn hóa…Di sản khoa học hay thực tiễn, mã tôi nêu ra ở trên chính là công tác đánh giá, nhận thức vai trò của các triều đại, các cá nhân đối với quá trình Nam tiến. Để từ đó, chúng ta có thể thấu triệt được, những vấn đề lịch sử, đánh giá đúng công trạng ý nghĩa của mỗi triều đại, mỗi con người đối với tiến trình mở cõi nói riêng và tiến trình lịch sử dân tộc nói chung.

Với việc nghiên cứu đề tài này, tôi hy vọng sẽ đóng góp một phần rất nhỏ những suy tư, những trăn trở của tôi về một vấn đề quan trọng trong lịch sử dân tộc. Nhưng từ trước đến nay, vẫn chưa được quan tâm đúng mức. Gần đây, trong các bài viết, sách báo, tham luận, luận văn nhiều tác giả, nhà sử học đã quan tâm hơn đến vấn đề Nam tiến, đặc biệt là các nhà sử học phía Nam. Những bài viết, những tham luận tại các buổi hội thảo, trong các công trình nghiên cứu trên, đã bắt đầu có nhiều đánh giá, nhiều nghiên cứu đi vào trọng tâm vấn đề này. Có thể nói, những điều trên đã góp phần làm thay đổi nhiều nhận định sai lệch của một số người khi nghiên cứu vấn đề này, cho rằng đây là vấn đề nhạy cảm, nghiên cứu nó sẽ dẫn đến những xung đột tộc người, dẫn đến những biểu hiện tiêu cực…

Thực tế này, nhận thức này, đang làm ảnh hưởng đến quá trình nghiên cứu lịch sử trong thời gian qua, làm cho một phần lịch sử bị chôn vùi, bị tránh né, không được phổ cập đến nhân dân. Vì thế, nhiều nhân vật lịch sử liên quan đến cuộc mở cõi như công chúa Huyền Trân, công nữ Ngọc Vạn, Nguyễn Hữu Cảnh dù đã được ghi nhận, nhưng so với những người được xem là anh hùng dân tộc, anh hùng chống ngoại xâm, họ vẫn chỉ là những nhân vật chưa được nhiều người biết đến. Công chúa Huyền Trân chưa được chính sử nhắc đến nhiều, công nữ Ngọc Vạn không có một nơi thờ tự, tưởng nhớ, lăng của Nguyễn Hữu Cảnh ngày nay ở Đồng Nai, ngoài một ngày lễ được tổ chức mỗi năm một lần, còn lại rất ít người lui đến thấp một nén hương cho ông, trong lăng ông hiện chỉ có một cụ bà tuổi đã cao trông nôm mỗi ngày, mỗi tháng bà chỉ được địa phương cấp cho gần 300.000 để phụ cấp (tư liệu thực tế)…

Mục đích của tôi khi nghiên cứu đề tài này không ngoài một ý định gì khác ngoài ý định khoa học, đi tìm tính khách quan của lịch sử. Tôi hy vọng, mĩnh sẽ nhận thức đúng vai trò của các vương triều, các nhân vật đã tham dự vào quá trình Nam tiến. Tôi cho rằng, so với những anh hùng chống ngoại xâm, những người đã tham gia vào hành trình Nam tiến  có công trạng ngang nhau, đáng được lịch sử ghi nhận, nhân dân biết đến như nhau. Bởi vì, xét cho cùng việc làm của họ dù có khác nhau, cách thức tiến hành khác nhau nhưng đều xuất phát từ một mục đích là duy trì sự trường tồn của giống nòi, quốc gia hay dân tộc, cũng như để lại những điều kiện tốt đẹp cho sự phát triển của các thế hệ sau mình. Bản thân những người đi tiên phong trên quá trình mở cõi cũng đã bỏ biết bao công sức, xương máu, chấp nhận đối mặt với hiểm nguy để cầu mong một cuốc sống sung túc hơn, đầy đũ hơn, không chỉ của riêng mình, mà còn cho cả các thế hệ con cháu sau này của mình nữa.

Tiến sĩ Trần Thuận có lý khi nhận định: “…Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, từng có những người phụ nữ làm nên đại cuộc như Hai Bà TrưngBà Triệu,…góp phần giành giữ nền độc lập cho Tổ quốc, và cũng từng có những người phụ nữ lặng lẽ hy sinh để cha anh làm nên nghiệp lớn như Huyền Trân, Ngọc Vạn, Ngọc Khoa…Chính họ là những con người làm nên lịch sử. Đáng kính thay!”. Vậy, dù là người có công chống ngoại xâm hay người có công mở cõi, tất cả họ đều đáng được lịch sử ghi công, được nhân dân ngưỡng vọng.

Lịch sử mở nước của dân tộc ta đã được ghi vào thơ của Huỳnh Văn Nghệ: “Từ độ mang gươm đi mở cõi, trời Nam thương nhớ đất Thăng Long”, hay trong trường ca “Con đường cái quan” của nhạc sĩ Phạm Duy như sau: “Năm tê trong lúc sang Xuân. Tôi theo Công chúa Huyền Trân tôi lên đường. Đường máu xương đã lắm oán thương. Đổi sắc hương lấy cõi giang san. Tôi đi theo bước ái tình. Đi cho trăm họ được hòa bình ấm no”. Câu chuyện về những lưu dân đi mở đất còn được đề cập và luôn sống mãi với chúng ta qua những bài văn về đất và người Nam bộ của tác giả Sơn Nam.

Chúng ta sẽ phải quan tâm nhiều hơn đến những nhân vật đã có công lao mở cõi, đơn cử một trường hợp, với công lao của mình, công nữ Ngọc Khoa cần có một nơi thờ tự, hay ít nhất chỉ là một tượng đài, để thể hiện sự ghi ơn của đời sau với những bật tiền nhân đã có công mở nước. Lịch sử Việt Nam 4000 năm qua đã qua, đâu chỉ là lịch sử giữ nước và dựng nước mà còn là lịch sử của những năm tháng dài đi mở nước!

 

                                                                  PHỤ LỤC            

Phụ lục 1: Bảng tóm tắt niên đại của quá trình Nam Tiến.

 Bảng 1: Sát nhập Champa:

Triều đại   Triều vua (chúa)  Niên đại       Sự kiện và lãnh thổ được mở mang
  Lý   Lý Thánh Tông    1069   Vua Lý Thánh Tông thân chinh đánh Champa, bắt được vua Rudravarma (Chế Củ), vua Champa dân ba vùng đất Bồ Chính, Địa Lý, Ma Linh (Quảng Bình và Bắc Quảng Trị ngày nay).
 Trần   Trần Anh Tông  1307  Vua Champa Simhavarman đổi hai Châu Ô và Lý để cưới công chúa Đại Việt Huyền Trân.

  Nhà Trần đổi Châu Ố thành Thuận châu (Nam Quảng Trị), đổi châu Lý thành Hóa châu (Thừa Thiên – Huế).

Hồ  Hồ Hán Thương   1403   Nhà Hồ đem quân đánh Champa, lấy đất Chiêm Động và Cổ Lũy của Champa.

  Đổi Chiêm Động thành phủ Thăng, Hoa (Quảng Nam), đổi Cổ Lũy thành phủ Tư, Nghĩa (Quảng Ngãi).

  Vào Thời Đại Việt thuộc Minh, Champa chiếm lại vùng đất này.

Lê Sơ   Lê Thánh Tông  1071   Vua Lê Thánh Tông nhân Champa xâm lấn, đem quân đánh vào tận kinh đô Vijaya (Đồ Bàn) Bình Định ngày nay.

  Lấy lại vùng đất Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa trước kia lập thành phủ Thăng Hoa. Lấy thêm vùng đất Bình Định ngày nay nhập vào lãnh thổ Đại Việt.

  Chia vùng đất từ đèo Cù Mông đến đèo Cả (Phú Yên) là nước Hoa Anh, về phía Nam (Khánh Hòa đến Bình Thuận) vẫn là nước Champa, phía Tây (Bắc Tây Nguyên) là nước Nam Bàn (Thủy Xá và Hỏa Xá).

  Như vậy, đến 1472 lãnh thổ Đại Việt đã đến đèo Cù Mông (giữa Bình Định và Phú Yên) ngày nay.

 Lê Trung Hưng

 Thời đại Chúa Nguyễn ở Đàng Trong

  Nguyễn Hoàng  1611   Chúa Nguyễn Hoàng sai chủ sữ Văn Phong (không rõ họ) đánh Champa (lúc đó do PoNit làm vua) lấy đất Phú Yên.

  Chia Phú Yên ra làm hai huyện Đồng Xuân và Tuy Hòa.

 Nguyễn Phúc Tần 1653  Chúa sai Cai Cơ Hùng Lộ sang đánh vua Champa Po Rôme (Bà Tấm). Lấy đất từ sông Phan Rang trở ra lập phủ Thái Ninh và phủ Diên Ninh nay thuộc Khánh Hòa.
 Nguyễn Phúc Chu 1693   Lấy  lý do vua Champa  là Po Saot (Bà Tranh) bỏ không tiến cống, chúa Nguyễn sai quan tổng binh là Nguyễn Hữu Cảnh đem binh đi đánh bắt được Bà Tranh cùng thân thuộc về Phú Xuân (Huế).

  Chúa Nguyễn lấy hết đất Champa (Ninh Thuận và Bình Tuận) làm Thuận Phủ. Đến đây coi như hoàn thành việc lấy đất Champa.

  Từ đây nước  Champa không còn tồn tại độc lập nữa mặc dù vẫn còn tự trị cho đến tận năm 1832.

Bảng 2: Mở đất Campuchia:

Phụ Lục 2: Khu vực hành chính được thiết lập qua các thời kỳ Nam Tiến.

Cham

Pa

  Lý

 Trần

  Hồ

  Lê

                  Chúa Nguyễn ở Đàng Trong
Nguyễn

 Hoàng

Nguyễn

Phúc Tần

Nguyễn Phúc Chu Nguyễn Phúc

Trú

Nguyễn Phúc Khoát
Bồ Chính Châu Bồ Chính

(1069)

Lộ  Tân Bình

____

Thừa Tuyên Thuận Hóa (1066)

Xứ

Thuận

Hóa

Dinh Bố Chính (dinh Ngói)

Dinh Lưu Đồn (dinh Mười)

Dinh Quảng Bình (dinh Trạm)[1]

Cựu dinh (Ái Tử)[2]

Chính dinh (Phú Xuân)[3]

Dinh Quảng Nam (dinh Chiêm)[4]

Địa Lý Địa Lý

(1069)

Đổi làm châu Lâm Bình (1076)

Ma Linh

Ma Linh (1069) đổi là Minh Linh (1076)

Lộ

Thuận Hóa gồm:

Châu

Minh  Linh

Châu Thuận

(1306)

Châu Hóa (1306)

Lộ

Thuận Hóa

Châu Ô _____
Châu Lý _____

Chiêm Động

____

_____

Lộ Thăng Hoa (1403)

châu Thăng, Hoa

Châu Tư, Nghĩa

Thừa Tuyên Quảng Nam (1471)

Dinh

Quảng Nam

Cổ Lũy

____

_____

           Vijaya hay  Đồ Bàn 

    Vùng đất giữa đèo Cù Mông và đèo Cả Phủ

Phú Yên

(1611)

Dinh Trấn Biên (1739) sau đổi làm Dinh Phú Yên[5]

                       Kauthara thuộc Champa

Dinh

Thái Khang

(1653)

Và một phần Nam bộ sau này

1742 đổi Dinh Thái Khanh    thành Dinh Bình Khang[6]

                              Panduranga thuộc Champa

Phủ Bình Thuận (1693) đổi thành Trấn Thuận

Thành (1694)

        Lập Dinh

 Bình Thuận[7]

               Vùng đất Đông Lục Chân Lạp thuộc Chân Lạp

Phủ

Gia Định (1698):

Dinh Trấn Biên – huyện Phước Long, Dinh Phiên Trấn – Huyện Tân Bình

    Dinh Trấn Biên[8]

  Dinh Phiên Trấn[9]

                       Tây Lục Chân Lạp thuộc Chân Lạp

Trấn hà Tiên (1708)     Trấn Hà Tiên[10]
Lập Châu Định Viễn và

dinh Long Hồ

thuộc Phủ Gia Định

(1732)

Dinh Long

Hồ[11]

                          Srok – trang (Sóc Trăng), Preah Trapeang (Trà Vinh)

                      và Tầm Phong Long (An Giang và một phần Vĩnh Long)

                                                       thuộc Chân Lạp

Lập 5

đạo: Đông Khẩu,

Tân

Châu,

Châu

Đốc,

Kiên Giang,

Long Xuyên

(1757)[12]

Phụ Lục 3: Sát nhập vùng đất Tây Nguyên.

   Đề tài nghiên cứu của chúng tôi ở trên đây chủ yếu là về cuộc Nam Tiến trong giai đoạn 1069 – 1757. Do đó chỉ có phần sát nhập Champa và Thủy Chân Lạp mà không có khu vực Tây Nguyên. Nhưng thiết nghĩ khu vực Tây Nguyên cũng là một địa bàn quan trọng trong việc nghiên cứu về Nam tiến nên tiện đây cũng xin đưa vào phần Phụ Lục, để xét xem Tây Nguyên đã gia nhập vào bản đồ nước Việt Như thế nào.

   Vùng đất Tây Nguyên (Kom Tum, Gia Lai, Đắk Lắc, Đắk Nông và Lâm Đông ngày nay). Từ xưa vốn là vùng đất tự trị, địa bàn sinh sống của các bộ tộc thiểu số như Ba Na, Ê Đê, Xơ Đang, Mạ… vẫn đang ở trong giai đoạn tan rã của chế độ công xã nguyên thủy, chưa phát triển thành một quốc gia hoàn chỉnh. Đây là khu vực đệm giữa Chân Lạp và Champa từ trước thể kỷ XV, nhưng có nhiều căn cứ khoa học, khảo cổ, nhân chủng, văn hóa cho thấy đa số các dân tộc ở đây lệ thuộc vào Champa.

  Bằng cứ đầu tiên ghi nhận mối quan hệ của Đại Việt và khu vực Tây Nguyên chính là Tháng 2 năm  (1471), vua Lê Thánh Tông đem quân đánh Champa chia lãnh thổ Champa thành các tiểu quốc nhỏ thuần phục Đại Việt. Phần đất Phan Lung (Phan Rang ngày nay) do viên tướng Chăm là Bồ Trì trấn giữ. Phong cho Hoa Anh vương tạo nên nước Hoa Anh (Phú Yên). Vùng đất phía Tây núi Thạch Bi, tức miền bắc Tây Nguyên ngày nay được lập thành nước Nam Bàn[13].

   Trong một số tài liệu vào thế kỷ XVI – XVIII đã có những ghi nhận về các bộ tộc Mọi Đá Vách (Hré), Mọi Hời (Hroi, Kor, Bru, Ktu và Pacoh), Mọi Đá Hàm (Djarai), Mọi Bồ Nông (Mnong) và Bồ Van (Rhadé Epan), Mọi Vị (Raglai) và Mọi Bà Rịa (Mạ) để chỉ các bộ tộc thiểu số sinh trú ở vùng Nam Tây Nguyên ngày nay.

   Sau khi Chúa Nguyễn Hoàng vào Nam trấn thủ Thuận Hóa và Quảng Nam, các Chúa Nguyễn ra sức loại trừ các ảnh hưởng còn lại của Champa và cũng phái một số sứ đoàn để thiết lập quyền lực ở khu vực Tây Nguyên, bước đầu nhận được sự cộng tác của họ. Tuy nhiên, các bộ tộc ở đây vẫn còn manh mún, lạc hậu và vùng đất cũng rất hiểm trở xa xôi cho nên các chúa Nguyễn chỉ thiết lập quyền lực rất lỏng lẻo ở đây. Trên thực tế, vào thời kỳ chúa Nguyễn, Tây Nguyên chỉ là một vùng đất bảo hộ của chúa Nguyễn, chứa chưa chính thức năm trong bản đồ xứ Đàng Trong.

   Đến thời nhà Nguyễn, đặc biệt là dưới thời Minh Mạng, nhà vua đã chính thức coi vùng đất Tây Nguyên thuộc về nước Đại Nam, bằng chứng là Đại Nam Nhất Thống Toàn Đồ (1834) đã đưa Tây Nguyên vào, trở thành một khu tự trị của ta, từ đó Việt Nam đã chính thức coi Tây Nguyên là một phần lãnh thổ quốc gia, cho dù cho đến hơn trăm năm sau người Kinh vẫn chưa lên sinh sống nhiều ở đó. 

  Vào thời Pháp thuộc người Pháp đưa Tây Nguyên vào xứ Đông Dương và công nhận quy chế tự trị của nó và không cho người Việt lên đây sinh sống, kể từ thời này người Pháp bắt đầu xây dựng nhiều hệ thống đường xá hiện đại chính vì thế việc lên Tây Nguyên không còn khó khăn như trước nữa.

  Thời kỳ quốc gia Việt Nam (1949 – 1955) Tây Nguyên dù là một phần của quốc gia nhưng vẫn được tự trị theo quy chế Hoàng Triều Cương Thổ do Quốc trưởng Bảo Đại ban hành năm 1950.  Năm 1955, Ngô Đình Diệm phế truất Bảo Đại, lập ra Việt Nam Cộng Hòa và trở thành Tổng thống, nhân đó ông đưa hàng trăm ngàn người di cư vào Nam sau hiệp định Geneve năm 1954 từ đó quy chế tự trị của Tây Nguyên cũng bị xóa bỏ, người Việt ồ ạt lên Tây Nguyên làm ăn, sinh sống.

   Ngày nay, các dân tộc Tây Nguyên đang không ngừng hòa nhập vào cộng đồng các dân tộc Việt Nam, vùng đất Tây Nguyên đang không ngừng hội nhập vào đất nước Việt Nam thống nhất mà đa dạng.

[1] 3 dinh Bồ Chính, Lưu Đồn, Quảng Bình đến thời Nguyễn (1932) là tình Quảng Bình.

[2] Đến năm 1832 là tỉnh Quảng Trị.

[3] Đến năm 1832 là Thừa Thiên.

[4] Năm 1832 chia ra làm 3 tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định.

[5] Năm 1832 là tỉnh Phú Yên.

[6] Năm 1832 là tỉnh Khánh Hòa.

[7] Năm 1832 là tỉnh Bình Thuận.

[8] Năm 1832 là tình Biên Hòa.

[9] Năm 1832 là tỉnh Gia Định (Phiên An) và một phần Định Tường.

[10] Năm 1832 là tỉnh Hà Tiên.

[11] Năm 1832 là tỉnh Vĩnh Long và một phần Định Tường.

[12]  Năm 1832 là tỉnh An Giang.

[13] Lê Qúy Đôn: Phủ Biên Tạp Lục, tr

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Anh Nguyễn (11 – 1957): Mạc Cửu với đất Hà Tiên, Văn hóa Nguyệt san bộ mới số 26, tr 1030 – 1036.
  2. Bình Nguyên Lộc (1970): Việc mãi nô dưới vòm trời Đông Phố và chủ đất thật của vùng đất Đồng Nai, tạp san Sử Địa số 19 – 20.
  3. Ban chỉ đạo lễ kỷ niệm 300 năm vùng đất Biên Hòa – Đồng Nai (1998): Biên Hòa – Đồng Nai 300 Năm Hình Thành Và Phát Triển, Nxb Đồng Nai.
  4. Chu Đạt Quan (2007): Chân Lạp Phong Thổ Ký, Nxb Thế giới, Hà Nội.
  5. Choi Byung Wook (2011): Vùng đất Nam Bộ dưới triều Minh Mạng, Nxb Thế giới, Hà Nội.
  6. Chương trình nghiên cứu gia phả Việt Nam (2006): Mạc Thị Gia Phả, Nxb Thế giới, Hà Nội.
  7. Christophoro Borri (1998): Xứ Đàng Trong năm 1921, bản dịch của Nguyễn Khắc Xuyên và Nguyễn Nghị, Nxb tp Hồ Chí Minh.
  8. Dương Văn An (1997): Ô châu cận lục, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.
  9. Dohamide và Dorohiem (1965): Dân Tộc Chàm Lược Sử, tác giả xuất bản, Saigon.
  10. Đào Duy Anh (2005): Đất nước Việt Nam qua các đời, Nxb Văn hóa thông tin.
  11. Đào Duy Anh (2011): Lịch Sử Việt Nam (từ nguồn gốc đến thế kỷ XIX), Nxb. Khoa Học Xã Hội, Hà Nội.
  12. Hội Đồng Trị Sự Nguyễn Phúc Tộc (1995): Nguyễn Phúc Tộc Thế Phả, Nxb Thuận Hóa, Huế.
  13. Hoàng Xuân Hãn (1995): Lý Thường Kiệt; lịch sử bang giao và tông giáo thời Lý, Nxb Văn Học, Hà Nội.
  14. Hồ Trung Tú (2012): Có 500 năm như thế, Nxb Đà Nẵng.
  15. Huỳnh Lứa (1987): Lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ, Nxb TP Hồ Chí Minh.
  16. Huỳnh Lứa (2000): Góp phần tìm hiểu vùng đất Nam Bộ các thế kỷ XVII, XVIII, XIX, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.
  17. Huỳnh Minh (1966): Bạc Liêu xưa và nay, tác giả xuất bản, Saigon.
  18. Huỳnh Minh (1966): Cần Thơ Xưa Và Nay, tác giả xuất bản, Saigon.
  19. Huỳnh Minh (1967): Vĩnh Long Xưa Và Nay, Cánh Bằng – tác giả xuất bản, Saigon.
  20. Huỳnh Minh (1969): Gò Công Xưa Và Nay, Cánh Bằng – tác giả xuất bản, Saigon.
  21. Huỳnh Minh (1970): Vũng Tàu Xưa Và Nay, tác giả xuất bản, Saigon.
  22. Huỳnh Minh (1969): Định Tường Xưa Và Nay, tác giả xuất bản, Saigon.
  23. Huỳnh Minh (1971): Sa Đéc Xưa Và Nay, tác giả xuất bản, Saigon.
  24. Huỳnh Minh (1972): Tây Ninh Xưa Và Nay, tác giả xuất bản, Saigon.
  25. Huỳnh Minh (1973): Gia Định Xưa và Nay, tác giả xuất bản, Saigon.
  26. Hãn Nguyên (1970): Hà Tiên, Chìa Khóa Nam Tiến Của Dân Tộc Việt Nam Xuống Đồng Bằng Sông Cửu Long, tập san Sử Địa số 19 – 20.
  27. Lê Qúy Đôn: Phủ biên tạp lục, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nôi,
  28. Lê Văn Siêu (2009): Việt Nam Văn Minh Sử. Nxb.Văn Học, Hà Nội.
  29. Lương Ninh (2004): Lịch Sử Vương Quốc Champa, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội.
  30. Li Tana (1999): Xứ Đàng Trong: tình hình kinh tế – xã hội thế kỷ XVII – XVIII, Nxb Trẻ, Hà Nội.
  31. Georges Maspero (1928): Le Royaume de Champa (Vương Quốc Champa), bàn dịch của Lê Tư Lành năm 1963.
  32. Mãn Khánh Dương Kỵ: Từ Tinh thần quốc gia của nước Việt Nam đến sự thống nhất của nước ấy, Tri Tân số 126 – 127 (1944), số 128 (2 – 1944).
  33. Mãn Khánh Dương Kỵ: Lược Xét Nguyên Nhân Bại Vong Của Chiêm Thành và Những Ảnh Hưởng Của Người Chiêm Mà Dân Tộc Ta Đã Chịu, Tri Tân số 92, 93, 94 (1943).
  34. Nguyên Ngọc (chủ biên) (2005): Tìm hiểu con người xứ Quảng, Nxb Đà Nẵng.
  35. Ngô Thời Sĩ (2001): Việt Sử Tiêu Án, Nxb Thanh niên, Hà Nội.
  36. Nguyễn Quang Ngọc – chủ biên (2000): Tiến trình lịch sử Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
  37. Nguyễn Quang Thắng (2005): Quảng Nam Trong Hành Trình Mở Cõi và giữ nước, Nxb Tổng hợp Tp HCM.
  38. Nguyễn Văn Siêu (1997): Đại Việt Địa Dư Toàn Biên, Nxb Văn hóa, Hà Nội.
  39. Nguyễn Bá Trạc: Lịch sử dân tộc khái thác về cõi Nam, Nam Phong q XI, số 65 (11 – 1922), tr 339 – 352.
  40. Nguyễn Văn Hiếu: Cuộc tiến hóa của dân tộc Việt Nam, Nam Phong số 205 (1- 10 – 1934), tr95 – 102, số 206 (16 – 10 – 1934), tr 153 – 157.
  41. Nguyễn Văn Hầu: Sự thôn thuộc và khai thác đất Tẩm Phong Long – Chặng cuối cùng của cuộc Nam Tiến, tạp san Sử Địa, 19 – 20.
  42. Nguyễn Văn Hầu (1970): Lê Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh Người Có Kỳ Công Trong Việc Khai Thác Miền Nam, Nguyễn Hiến Lê xuất bản, Saigon.
  43. Nguyễn Đình Đầu (1994): Tổng kết địa bạ triều Nguyễn – Nam Kỳ lục tỉnh, Nxb TP Hồ Chí Minh.
  44. Nguyễn Đình Tư (2003): Non Nước Ninh Thuận, Nxb Thanh Niên.
  45. Nguyễn Đình Tư (2003): Non Nước Phú Yên, Nxb Thanh Niên.
  46. Nguyễn Đình Tư (2003): Non Nước Khánh Hòa, Nxb Thanh Niên.
  47. Như Hiên Nguyễn Ngọc Hiền (1993): Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh và cuộc khai sáng miền Nam nước Việt cuối thể kỷ XVII, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội.
  48. Nhiều tác giả (1993): Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.
  49. Nhiều tác giả (2007): Nam Bộ xưa và nay, Nxb Thời đại
  50. Nhiều tác giả: Nam Bộ đất và người, Nxb
  51. Nhiều tác giả: Những Vấn Đề Lịch Sử Việt Nam, Nxb Trẻ, Hà Nội,
  52. Nhiều tác giả (kỷ yếu hội thảo) (2008): Chúa Nguyễn và Vương Triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam, Nxb Thế giới, Hà Nội.
  53. Nhiều tác giả (1992): Văn hóa dân gian của người Việt ở Nam Bộ, Nxb khoa học xã hội, Hà Nội.
  54. Phù Lang Trương Bá Phát (1970): Lịch Sử Cuộc Nam Tiến Của Dân Tộc Việt, Sử Địa số 19 – 20.
  55. Phạm Quỳnh: Cuộc Nam tiến của dân Việt Nam, Nam Phong, q XXX, số 169 (2 – 1932), tr152 – 153.
  56. Phạm Trung Việt – Huỳnh Minh (2003): Non Nước Xứ Quảng, Nxb Thanh Niên.
  57. Phan Huy Chú (2005): Lịch triều hiến chương loại chí (gồm 3 tập) Nxb Giáo dục, Hà Nội.
  58. Phan Khoang (1970): Việt sử: xứ Đàng Trong 1558 – 1777: Cuộc Nam tiến của dân tộc Việt Nam, Nxb Khai Trí, Saigon.
  59. Phan Khoang: Từ cuộc bảo hộ đến cuộc đô hộ nước Cao Miên thời nhà Nguyễn, tạp san Sử Địa số 17 – 18 (6 – 1970), tr 17 – 25.
  60. Phan Thị Yến Tuyết (1993), Nhà ở, trang phục, ăn uống của các dân tộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long, Hà Nội: Khoa học Xã hội.
  61. Sơn Nam (1994): Lịch Sử khẩn hoang miền Nam, Nxb Văn nghệ, TP Hồ Chí Minh.
  62. Sơn Nam (1970): Việc Khẩn Hoang Vùng Rạch Giá, tập san Sử Địa 19 -20.
  63. Sở Văn hóa Thông tin Quảng Nam (2002): Vai Trò Của Dinh Trấn Quảng Nam, Nxb Quảng Nam.
  64. Từ Nguyên: Lược Sử Cuộc Nam Tiến Của Dân Tộc Việt Nam, Văn hóa Nguyệt san bộ mới số 43 (8- 1959), số 44 (9 -2959).
  65. Tạp San Sử Địa số 19 – 20 (2970): Chuyên khảo đạc biệt về cuộc Nam Tiến Của Dân Tộc Việt Nam.
  66. Trần Trọng Kim (2009): Việt Nam Sử Lược, Nxb Thời đại, Hà Nội.
  67. Trần Quốc vượng (1996): Theo dòng lịch sử, Nxb Văn hóa, Hà Nội.
  68. Trần Văn Giàu (chủ biên) (1987): Địa Chí Văn Hóa thành phố Hồ Chí Minh (3 tập), Nxb thành phố Hồ Chí Minh.
  69. Trần Huy Bá: Việt Nam Xưa Đã Thôn Tính Mấy Nước, Tri Tân số 15 (19 -9-1941).
  70. Trịnh Hoài Đức (1993): Gia Định Thành Thông Chí, Nxb Giáo Dục, Hà Nội.
  71. Trương Hữu Quýnh (chủ biên) (2008): Đại Cương Lịch Sử Việt Nam – tập 1, Nxb Giáo Dục, Hà Nội.
  72. Thanh Sơn: Cuộc Nam Tiến Dưới Triều Trần, Văn hóa Nguyệt san bộ mới số 22 (6 – 1957), tr 467 – 470.
  73. Khuyết danh (1993): Việt Sử Lược, Nxb Đại học Tổng hợp TP.Hồ Chí Minh.
  74. Quốc Sử Quán Triều Nguyễn (1998): Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục (2 tập), Giáo Dục, Hà Nội.
  75. Quốc Sử Quán Triều Nguyễn (2002): Đại Nam Thực Lục, tập 1, tập 2, Nxb. Giáo Dục, Hà Nội.
  76. Quốc Sử Quán Triều Nguyễn (2010): Minh Mạng Chính Yếu, Nxb Thuận Hóa, Huế.
  77. Quốc Sử Quán Triều Nguyễn (2005): Đại Nam Liệt Truyện (4 tập), Nxb Thuận Hóa, Huế.
  78. Quốc Sử Quán Triều Nguyễn (2006): Đại Nam Nhất Thống Chí (5 tập), Nxb Thuận Hóa, Huế.
  79. Uỷ ban Nhân dân tỉnh Phú Yên (2011): Lương Văn Chánh – Thân Thế Và Sự Nghiệp, Nxb Từ điển Bách khao, Hà Nội.
Advertisements

2 thoughts on “Nam tiến (bài kết)

  1. Nghiencuulichsu trình bầy các bảng và Phụ lục rất kém.
    Khổ bạn đọc. Nhưng có lẽ tác giả còn khổ hơn.
    Mong tìm cách cải tiến. Nhất là những bài giá trị lớn, như bài này

  2. Khả năng tư duy trên bản đồ chủa nghiencuulichsu cực kém. Phần lớn Tây Nguyên người Kinh mới chỉ di cư ồ ạt lên từ thời Diệm. Trong khi dải đất dọc tây Trường Sơn thuộc nước ta từ rất sớm nay đã là đất Lào lại không đả động!

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s