Bảo Đại, Ngô Đình Diệm và những gì lịch sử đã khác đi

My Thuy

Bảo Đại: Người trẻ có hoài bão, vị vua không ngai

Khi tách khỏi các góc nhìn chính trị một chiều, giới sử học trung lập quốc tế không nhìn nhận cựu hoàng Bảo Đại đơn thuần qua cái mác “bù nhìn” hay “ông vua ăn chơi” – những nhãn hiệu xuất phát từ tuyên truyền của các phía đối lập nhau. Thay vào đó, họ đánh giá ông như một nhân vật bi kịch bị kẹt giữa những dòng thác chính trị quá lớn so với những gì một cá nhân có thể chèo chống.

Khi chính thức về nước thân chính năm 1932 sau thời gian dài du học tại Pháp, nơi ông theo học tại Sciences Po, Bảo Đại là một người trẻ mang tư tưởng tiến bộ phương Tây. Ngay những năm đầu cầm quyền, ông cố gắng cải tổ bộ máy hành chính Huế: loại bỏ các quan lại bảo thủ như Thượng thư Nguyễn Hữu Bài, giảm bớt các nghi lễ phong kiến rườm rà, bãi bỏ tục quỳ lạy và cho phép thần dân nhìn thẳng mặt vua. Những động thái này không phải là sự phô trương hình thức – chúng phản ánh một cố gắng thực chất để hiện đại hóa thiết chế quân chủ từ bên trong.

Song giới sử học cũng chỉ ra rằng ông nhanh chóng nhận ra mình hoàn toàn không có thực quyền. Mọi quyết định lớn đều bị kiểm soát bởi Khâm sứ Pháp. Sự bế tắc này đẩy ông vào tâm lý buông xuôi – ông tìm đến săn bắn và các thú vui khác như cách khỏa lấp sự bất lực của một vị vua không ngai thực sự. Đây không phải là bản chất của một kẻ hèn yếu, mà là phản ứng hợp lý của một người đã nhìn thấy rõ cái cơ cấu quyền lực bóp nghẹt mọi ý chí cải cách của mình.

Ngày 25 tháng 8 năm 1945, Bảo Đại tuyên bố thoái vị; lễ trao ấn kiếm chính thức cho phái đoàn Việt Minh diễn ra năm ngày sau tại Ngọ Môn, Huế. Toàn bộ chuỗi sự kiện này được các nhà sử học quốc tế đánh giá cao về mặt nhân văn và tính chính danh lịch sử. Câu nói của ông – “Thà làm dân một nước tự do còn hơn làm vua một nước nô lệ” – được công nhận là một tuyên bố yêu nước chân thành, không phải một màn diễn chính trị. Hành động này giúp Việt Nam tránh được một cuộc nội chiến đẫm máu vào đúng thời điểm đó, chuyển giao quyền lực một cách hòa bình và hợp pháp. Ông được trao danh hiệu “Cố vấn đặc biệt” cho Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – một vai trò hoàn toàn không có thực quyền và nhanh chóng trở nên hư danh khi ông bị đưa sang Trung Quốc rồi ra nước ngoài trong những tháng tiếp theo.

Giai đoạn từ năm 1949, khi ông trở lại làm Quốc trưởng Quốc gia Việt Nam dưới sự bảo trợ của Pháp, là giai đoạn gây tranh cãi nhất. Các nhà sử học phương Tây phân tích rằng Bảo Đại cố gắng tận dụng Pháp để xây dựng một giải pháp thay thế chủ nghĩa cộng sản, đạt được độc lập thực chất thông qua con đường ngoại giao – cụ thể là Hiệp định Élysée năm 1949. Ông muốn tạo ra một thế cân bằng chính trị. Nhưng thực tế lịch sử chứng minh ông đã đánh giá quá cao sự thành thật của người Pháp: Paris chỉ muốn dùng uy tín dòng tộc của ông như một bức bình phong để hợp thức hóa cuộc chiến thuộc địa đang ngày càng khó biện hộ trước dư luận quốc tế. Bản thân ông tiếp tục bị cô lập về chính trị, dành phần lớn thời gian ở các khu nghỉ dưỡng tại Đà Lạt, Nha Trang hoặc ở Pháp, khiến hình ảnh của ông mờ nhạt dần và mất đi sự ủng hộ của quần chúng.

Kết cục đến vào năm 1955, khi cuộc trưng cầu dân ý do Thủ tướng Ngô Đình Diệm tổ chức với sự hậu thuẫn của Mỹ truất phế ông để thành lập nền Cộng hòa. Giới sử học đồng thuận rằng cuộc trưng cầu này có sự gian lận dàn xếp lộ liễu, nhưng nó cũng phản ánh một thực tế không thể phủ nhận: vai trò chính trị của Bảo Đại tại Việt Nam đã hoàn toàn chấm dứt. Sự xuất hiện của các thế lực mới – Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa đang hình thành – không còn chỗ cho một vị lãnh tụ mang tư tưởng quân chủ của một triều đại đã tàn.

Trong mắt các nhà sử học trung lập, Bảo Đại không phải kẻ phản bội hay tội đồ, mà là một chính khách yếu thế, thiếu sự quyết liệt và nhạy bén mà một giai đoạn lịch sử cực kỳ khốc liệt đòi hỏi. Ông là đại diện cuối cùng của một triều đại phong kiến đã suy tàn, bị ném vào một thời kỳ mà lòng yêu nước mang tính quý tộc và ôn hòa của ông không thể tồn tại được trước sức mạnh của súng đạn và các học thuyết chính trị toàn cầu đang nghiền nát tất cả.

Ngô Đình Diệm: Đồng minh ngang bướng

Dưới góc nhìn của các nhà sử học trung lập quốc tế – đặc biệt là các học giả như Edward Miller, Philip Catton và Fredrik Logevall – chính quyền Ngô Đình Diệm (1954–1963) coi ông là một nhà quốc gia chủ nghĩa cực đoan, kiên định và có tính độc lập rất cao. Sự sụp đổ của ông vào năm 1963 không phải vì ông nghe lời Mỹ, mà chính vì ông từ chối làm theo các yêu cầu của Mỹ – một chi tiết thường bị bỏ qua hoặc đảo ngược trong nhiều cách kể lịch sử.

Thuật ngữ “bù nhìn” dùng để chỉ một chính thể hoàn toàn do ngoại bang giật dây và không có tư tưởng riêng. Giới sử học trung lập bác bỏ cách gọi này đối với ông Diệm vì nhiều lý do có thể kiểm chứng. Ngô Đình Diệm là người chống Pháp nổi tiếng từ thập niên 1930 – ông từng từ chức Thượng thư Bộ Lại để phản đối chính sách thuộc địa, một hành động đòi hỏi can đảm chính trị thực sự vào thời điểm đó. Khi lên nắm quyền năm 1954, ông kiên quyết đẩy hoàn toàn ảnh hưởng của quân đội và cố vấn Pháp ra khỏi miền Nam Việt Nam, dứt khoát hơn bất kỳ ai đã kỳ vọng.

Ông và em trai Ngô Đình Nhu không sao chép nguyên bản mô hình dân chủ kiểu Mỹ. Họ tự xây dựng một học thuyết chính trị-xã hội riêng gọi là Chủ nghĩa Nhân vị, kết hợp giữa triết học Công giáo và Nho giáo, nhằm đối trọng lại cả chủ nghĩa cộng sản lẫn chủ nghĩa tư bản phương Tây. Dù học thuyết này có những hạn chế nghiêm trọng trong thực tiễn, việc nó tồn tại cho thấy đây là một chính quyền có tư tưởng độc lập, không phải một bộ máy được lắp ráp theo bản thiết kế của Washington.

Tài liệu giải mật của Lầu Năm Góc cho thấy quan hệ giữa ông Diệm và Washington luôn trong trạng thái căng thẳng. Ông nhận viện trợ kinh tế và quân sự của Mỹ nhưng kiên quyết từ chối cho Mỹ đưa quân viễn chinh vào Việt Nam, đồng thời không cho phép các cố vấn Mỹ can thiệp sâu vào các kế hoạch quân sự và cải cách hành chính. Đây không phải là thái độ của một con rối.

Song chính những đức tính này lại tồn tại cùng với những khuyết tật đưa chính quyền ông vào ngõ cụt.

Một điểm thường bị bỏ qua: quan hệ Mỹ-Diệm không phải do Kennedy thiết kế. Đó là di sản của Tổng thống Dwight D. Eisenhower. Chính Eisenhower, sau Hiệp định Geneva năm 1954 phân chia đất nước, đã quyết định đặt cược vào Ngô Đình Diệm như giải pháp thay thế cho cả chủ nghĩa cộng sản lẫn sự trở lại của người Pháp, và cam kết viện trợ trực tiếp cho chính quyền Sài Gòn bỏ qua Paris. Kennedy khi lên nắm quyền năm 1961 thừa hưởng một cam kết đã được thể chế hóa sâu – điều này giải thích phần lớn tại sao ông khó thoát ra dù muốn.

Những năm đầu dưới thời Diệm (1954–1959) chứng kiến những thành tựu đáng kể: ông dẹp tan hoặc thu phục các giáo phái vũ trang như Bình Xuyên, Cao Đài, Hòa Hảo để thống nhất quyền lực về chính phủ trung ương; tiếp nhận và định cư thành công gần một triệu người di cư từ miền Bắc; thiết lập nền tảng thể chế cho Việt Nam Cộng hòa và tạo ra sự khởi sắc ban đầu ở các đô thị. Đây là những thành tích mà cả thế giới quan sát với sự bất ngờ tích cực, và chúng không phải ngẫu nhiên.

Nhưng sự độc đoán và thế giới quan bảo thủ của ông dần phá huỷ những nền tảng đó. Quyền lực tập trung vào tay anh em ruột thịt: Ngô Đình Nhu kiêm nhiệm vai trò cố vấn tối cao và điều hành thực tế hệ thống mật vụ cùng Đảng Cần Lao; Ngô Đình Cẩn nắm quyền lực không chính thức như một lãnh chúa miền Trung; Tổng giám mục Ngô Đình Thục đứng đầu giáo hội Công giáo miền Nam. Sự tha hóa này gây ra bất mãn ngày càng sâu trong giới trí thức và quân đội.

Chương trình Ấp Chiến lược là trường hợp điển hình của một ý tưởng chiến lược không tệ bị thực thi sai đến mức phản tác dụng. Nền tảng khái niệm của nó vay mượn từ chiến lược “làng chiến lược” mà người Anh đã áp dụng thành công ở Malaya để cô lập du kích cộng sản khỏi dân thường – một học thuyết được giới quân sự đánh giá cao. Nhưng dưới tay ông Ngô Đình Nhu, chương trình được đẩy với tốc độ và quy mô quá lớn so với năng lực thực thi, trong khi cách tiến hành mang tính cưỡng bức: nông dân bị ép rời bỏ ruộng vườn cha ông, làng mạc bị giải tán theo mệnh lệnh hành chính từ trên xuống, không có đủ nguồn lực để bù đắp thiệt hại kinh tế cho người dân bị di dời. Kết quả là chương trình phá vỡ cấu kết cộng đồng truyền thống và đẩy một bộ phận lớn nông dân về phía Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam – tức là thực thi sai đã biến một công cụ chiến lược có giá trị thành lực đẩy ngược.

Khủng hoảng Phật giáo năm 1963 là giọt nước tràn ly. Sự thiên vị Công giáo của chính quyền và cách hành xử bạo lực trước các cuộc biểu tình của Phật tử – tầng lớp chiếm đa số trong dân số miền Nam – làm mất sạch tính chính danh của ông trong mắt công chúng và quốc tế. Hình ảnh các tăng ni tự thiêu đã trở thành biểu tượng của một chính quyền tự xa rời quần chúng.

Giới sử học quốc tế định nghĩa chính quyền Ngô Đình Diệm không phải là bù nhìn, mà là một chính thể độc tài gia đình trị – một đồng minh phức tạp và ngang bướng của Mỹ chứ không phải tay sai. Mỹ cần Ngô Đình Diệm như một tiền đồn chống cộng tại Đông Nam Á; Ngô Đình Diệm cần tiền của Mỹ để xây dựng quốc gia theo ý chí riêng của mình. Đây là một mối quan hệ giao dịch giữa hai bên đều có tính toán riêng, không phải quan hệ chủ-tớ.

Cuộc đảo chính năm 1963: Sai lầm chiến lược không thể sửa chữa

Câu hỏi liệu việc lật đổ Ngô Đình Diệm có phải là sai lầm chiến lược hay không là một trong những cuộc tranh luận lớn và gay gắt nhất của lịch sử Chiến tranh Việt Nam. Dưới góc nhìn của giới sử học trung lập quốc tế và chính các chính khách Mỹ về sau – bao gồm Robert McNamara trong hồi ký của ông – cuộc đảo chính ngày 1 tháng 11 năm 1963, kết thúc bằng vụ sát hại anh em ông Ngô Đình Diệm ngày hôm sau, được coi là một sai lầm chiến lược nghiêm trọng, thiệt nhiều hơn được đối với nền chính trị và quân sự của miền Nam Việt Nam.

Khi ông Diệm còn sống, dù chính quyền của ông độc tài và bị chỉ trích, ông vẫn là một biểu tượng có uy tín cá nhân đủ để tạo ra một cấu trúc thượng tầng ổn định. Việc triệt hạ ông đã tạo ra một khoảng trống quyền lực không thể lấp đầy. Ngay sau khi ông nằm xuống, miền Nam rơi vào một chuỗi đảo chính và phản đảo chính liên miên giữa các tướng lĩnh – Dương Văn Minh, Nguyễn Khánh, Trần Thiện Khiêm và nhiều người khác. Trong vòng chưa đầy hai năm, chính phủ Sài Gòn thay đổi nhân sự hàng chục lần. Bộ máy hành chính từ trung ương đến địa phương hoàn toàn tê liệt. Giới sử học quốc tế nhận định đây là bước lùi thảm hại: việc lật đổ một chế độ độc tài nhưng ổn định để thay bằng một chuỗi các chế độ quân phiệt bất lực là một phép tính âm không thể biện hộ về mặt chiến lược.

Hệ thống Ấp Chiến lược – xương sống trong chiến lược chống nổi dậy của anh em ông Diệm – bị phe đảo chính phá bỏ hoặc bỏ mặc do muốn xóa sạch tàn dư của chế độ cũ. Tận dụng khoảng thời gian chính quyền Sài Gòn mải mê tranh giành quyền lực ở đô thị, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam nhanh chóng mở rộng tầm kiểm soát ở vùng nông thôn. Tài liệu giải mật của Mỹ và chính các lãnh đạo Lê Duẩn về sau đều thừa nhận rằng Bộ Chính trị miền Bắc ban đầu bất ngờ và sau đó vô cùng phấn khởi trước tin ông Diệm bị lật đổ – họ hiểu rằng đối thủ kiên định nhất của họ ở miền Nam đã bị chính đồng minh của mình loại bỏ.

Cái thiệt mang tính bản chất nhất nằm ở chỗ miền Nam mất đi tính tự chủ chiến lược. Ông Ngô Đình Diệm, tuy nhận tiền Mỹ, luôn bảo vệ nguyên tắc cốt lõi: đây là cuộc chiến của người Việt Nam, Mỹ chỉ đóng vai trò hỗ trợ. Khi ông bị giết, các chính quyền quân sự sau đó – yếu thế hơn nhiều về tính chính danh lẫn uy tín – buộc phải dựa hoàn toàn vào Mỹ để tồn tại. Chính vì sự hỗn loạn này, Mỹ buộc phải đổ quân viễn chinh vào chiến đấu trực tiếp tại bãi biển Đà Nẵng năm 1965. Động thái đó vô tình tước bỏ tính “chính nghĩa quốc gia” của Việt Nam Cộng hòa trong mắt quốc tế, biến cuộc chiến thành “cuộc chiến của Mỹ” và tạo lợi thế tuyên truyền cực lớn cho miền Bắc – chính xác là điều mà Hà Nội không thể tự tạo ra nếu không có sự tiếp tay vô tình từ Washington.

Các nhà sử học cũng ghi nhận rằng ở thời điểm tháng 11 năm 1963, tình hình đã rơi vào ngõ cụt không có lối thoát ôn hòa. Khủng hoảng Phật giáo đã đẩy hàng triệu người dân vào thế đối đầu với chính phủ. Nghiêm trọng hơn, Washington nhận được thông tin – mà tài liệu lịch sử sau này xác nhận là có cơ sở – rằng ông Ngô Đình Nhu đang bí mật liên lạc với phía miền Bắc thông qua trung gian, tìm kiếm một giải pháp hòa hợp dân tộc nhằm đẩy Mỹ ra ngoài. Điều này khiến Washington hoảng loạn và quyết định thay ngựa giữa dòng. Như giới sử học mô tả, đây giống như “phá sập một ngôi nhà dột để rồi nhận ra mình chỉ còn một mảnh đất hoang giữa bão tố”: dù chế độ Ngô Đình Diệm có nhiều khuyết tật nghiêm trọng, việc tiêu diệt nó đã kích hoạt một chuỗi domino mà miền Nam không bao giờ có thể phục hồi lại trạng thái ổn định như trước được nữa.

Sau năm 1963: “Sự phụ thuộc mang tính sinh tồn”

Các nhà sử học quốc tế – trong đó có George Herring – thường dùng cụm từ “sự phụ thuộc mang tính sinh tồn” để mô tả mối quan hệ giữa các chính quyền miền Nam sau năm 1963 với Hoa Kỳ. Các chính quyền này không hẳn là những con rối bị giật dây trong mọi quyết định nhỏ nhặt, nhưng họ đã bị tước đi quyền tự quyết chiến lược và bị đặt vào cái thế mà nếu không nghe lời Mỹ, họ sẽ không thể sống sót.

Sự khác biệt rõ nhất nằm ở quyền chỉ huy tối cao trên chiến trường. Thời ông Diệm, quân đội Việt Nam Cộng hòa là lực lượng tác chiến chính, Mỹ chỉ gửi cố vấn. Sau năm 1963, khi hơn 500.000 quân viễn chinh Mỹ đổ bộ, các tướng lĩnh Sài Gòn phải nhường hoàn toàn quyền chủ động chiến lược cho Đại tướng Mỹ William Westmoreland. Quân đội Mỹ đảm nhận các trận đánh lớn theo chiến thuật “tìm và diệt”, còn quân đội Việt Nam Cộng hòa bị đẩy xuống vai trò thứ yếu – bình định và giữ an ninh địa phương. Một chính quyền không có quyền quyết định tối cao về việc đánh ở đâu, đánh khi nào và đánh bằng cách nào trên chính lãnh thổ mình thì khó có thể gọi là một chính quyền có chủ quyền thực chất.

Mỹ không trực tiếp viết ra các đạo luật cho Sài Gòn, nhưng sử dụng đòn bẩy viện trợ để buộc các chính quyền sau ông Diệm vận hành theo ý Washington. Các đời đại sứ Mỹ như Maxwell Taylor hay Ellsworth Bunker có tiếng nói mang tính quyết định đến việc tướng nào được cầm quyền. Để chứng minh với người dân Mỹ rằng Washington đang bảo vệ một “nền dân chủ” ở Đông Nam Á, Mỹ ép chính quyền quân sự phải tổ chức bầu cử tổng thống năm 1967 – bầu cử không phải vì sự trưởng thành thể chế của miền Nam, mà vì nhu cầu hình ảnh của Washington.

Minh chứng rõ nhất cho sự bất lực này đến vào quá trình đàm phán Hiệp định Paris năm 1972–1973. Khi Nixon và Kissinger đi đêm với Bắc Kinh và Hà Nội để tìm đường rút quân Mỹ về nước, chính quyền Nguyễn Văn Thiệu hoàn toàn bị gạt ra ngoài lề trong các cuộc đàm phán bí mật. Khi bản dự thảo hiệp định được đưa ra, Tổng thống Thiệu kiên quyết từ chối ký vì ông nhận ra những điều khoản có hại sâu sắc cho miền Nam – đặc biệt là việc cho phép quân đội miền Bắc ở lại miền Nam sau ngừng bắn, một điều khoản mà bất kỳ ai có hiểu biết quân sự đều biết là bản án tử hình cho chế độ. Nixon đã gửi tối hậu thư, đe dọa rằng nếu không ký, Mỹ sẽ cắt toàn bộ viện trợ ngay lập tức và ngầm ám chỉ số phận của ông Thiệu có thể sẽ giống ông Diệm. Cuối cùng, ông Thiệu buộc phải đặt bút ký vào một văn bản mà ông biết trước là bản án tử hình cho chế độ của mình.

Bằng cách đồng ý lật đổ Ngô Đình Diệm để đổi lấy sự bảo hộ sâu hơn của Mỹ, các tướng lĩnh Sài Gòn đã vô tình biến Việt Nam Cộng hòa từ một quốc gia có chủ quyền tương đối trở thành một thực thể phụ thuộc. Khi Mỹ quyết định rút lui vì lợi ích địa chính trị của họ thay đổi, thực thể đó mất đi bệ đỡ sinh tồn.

Các nhà sử học quốc tế dựa vào các tập hồ sơ giải mật của Lầu Năm Góc, các ghi âm trực tiếp tại Nhà Trắng của Tổng thống Kennedy và các phân tích chiến lược thời kỳ Chiến tranh Lạnh. Phần lớn các nghiên cứu nghiêm túc đồng thuận rằng nếu Ngô Đình Diệm còn sống, cục diện chiến tranh chắc chắn đã đi theo một chiều hướng khác, và khả năng rất cao là Mỹ sẽ không đổ quân viễn chinh ồ ạt vào miền Nam.

Lý do lớn nhất khiến Mỹ phải đưa hơn nửa triệu quân vào Việt Nam năm 1965 là để cứu vãn một bàn cờ đã vỡ nợ sau khi ông Diệm bị giết. Nếu ông còn sống và giữ được sự ổn định tương đối, lý do cốt lõi đó sẽ biến mất. Hồ sơ lịch sử ghi nhận nhất quán rằng ông Diệm coi việc quân đội nước ngoài chiến đấu trên đất Việt Nam là sự tự sát về mặt chính trị – mất tính chính nghĩa quốc gia, thứ duy nhất phân biệt chính quyền Sài Gòn với một bộ máy do ngoại bang dựng lên. Lập trường này được ông bày tỏ nhiều lần trong các cuộc gặp với đại sứ và cố vấn Mỹ đến mức Washington hiểu rõ: đưa quân vào là mất Diệm.

Trong kịch bản ông Diệm còn sống, bản chất cuộc chiến sẽ không bị “Mỹ hóa”. Trận chiến sẽ chủ yếu diễn ra ở phong vũ biểu chính trị và tình báo, thay vì các trận ném bom rải thảm bằng B-52 và các chiến dịch “Tìm và Diệt” quy mô lớn. Trọng tâm là Ấp Chiến lược và lực lượng Bảo an binh nhằm kiểm soát nông thôn. Không có quân Mỹ, quân đội miền Bắc cũng sẽ không có cớ “chống xâm lược Mỹ” để đẩy mạnh chiến tranh tổng lực, đồng thời vấp phải một hệ thống kiểm soát an ninh nội địa chặt chẽ hơn nhiều so với những gì các chính quyền hậu đảo chính có thể duy trì.

Chứng cứ lịch sử hiện đại, đặc biệt qua các nghiên cứu của Edward Miller và Fredrik Logevall, hé lộ một hướng đi mà ít người biết đến: các tiếp xúc thăm dò giữa anh em ông Diệm và phía Hà Nội. Trong những tháng cuối năm 1963, nhận thấy Mỹ đang có ý định lật đổ mình, ông Ngô Đình Nhu đã thông qua trung gian – cụ thể là Đại sứ Ba Lan tại Sài Gòn Mieczyslaw Maneli và người Pháp – để mở những kênh liên lạc mật với đại diện của chính phủ Hà Nội, cụ thể là thông qua Phạm Hùng. Mức độ nghiêm túc và khả năng thành công thực sự của những tiếp xúc này vẫn còn tranh cãi trong giới sử học – có người coi đây là một chiến lược có tính toán, có người coi đây chỉ là bước đi thăm dò của một chính quyền đang hấp hối tìm lối thoát. Song ý tưởng nền của cuộc thương lượng được ghi nhận là: miền Nam sẽ giảm bớt sự hiện diện của cố vấn Mỹ, đổi lại miền Bắc sẽ giảm cường độ hoạt động của Mặt trận Dân tộc Giải phóng, và hai miền sẽ tiến tới một thỏa thuận “trung lập hóa” mở đường cho lộ trình thống nhất hòa bình dài hạn mà không cần súng đạn.

Chính việc phát hiện ra anh em ông Diệm đang bí mật tiếp cận Hà Nội để gạt Mỹ ra rìa đã khiến Washington hoảng sợ và quyết định bật đèn xanh cho cuộc đảo chính. Phát hiện này, nếu đặt trong toàn bộ bức tranh, tạo ra một nghịch lý đau đớn: chính nỗ lực thoát khỏi vòng ảnh hưởng của Mỹ của anh em họ Ngô đã kéo theo cái chết của chính họ, và cái chết đó lại kéo theo sự can thiệp sâu hơn của Mỹ vào Việt Nam – đúng là điều mà anh em họ Ngô muốn ngăn chặn.

Trong thực tế lịch sử không có ông Diệm, Mỹ trực tiếp tham chiến với hơn 500.000 quân, cuộc chiến trở thành chiến tranh tổng lực hủy diệt và quốc tế hóa cao độ, kết thúc bằng sự sụp đổ của miền Nam năm 1975. Trong kịch bản giả định với ông Diệm còn sống, kết cục chính trị hoặc là miền Nam giữ được thế độc lập độc tài như Hàn Quốc hay Đài Loan thời đó, hoặc hai miền đạt được thỏa hiệp trung lập hóa từ sớm. Dù theo hướng nào, đất nước có thể tránh được một cuộc chiến tranh hủy diệt kéo dài mười năm, cướp đi sinh mạng của hơn ba triệu người Việt Nam.

Cái chết của Kennedy: Bản lề thứ hai

Cái chết của Tổng thống Mỹ John F. Kennedy vào ngày 22 tháng 11 năm 1963 – chỉ đúng 21 ngày sau cái chết của Ngô Đình Diệm – là một trong những bước ngoặt lớn nhất của thế kỷ 20. Hai sự kiện trong cùng một tháng, mỗi sự kiện độc lập có đủ sức thay đổi lịch sử, khi ráp lại với nhau đã khép lại cánh cửa của mọi phương án thay thế.

Kennedy đang tìm đường rút dần cố vấn khỏi Việt Nam, thể hiện cụ thể qua Bản ghi nhớ Hành động An ninh Quốc gia số 263 – NSAM 263 – vạch kế hoạch rút 1.000 cố vấn Mỹ ra khỏi Việt Nam vào cuối năm 1963 và rút hết vào năm 1965. Kennedy coi Việt Nam là một cái bẫy có thể làm hỏng chương trình cải cách nội địa của mình, và NSAM 263 là bằng chứng ông đang tìm đường ra trước khi bị ám sát.

Người kế nhiệm ông, Phó Tổng thống Lyndon B. Johnson, có thế giới quan hoàn toàn khác. Johnson bị ám ảnh bởi việc “để mất Việt Nam vào tay cộng sản” sẽ hủy hoại sự nghiệp chính trị của ông và làm nhục nước Mỹ. Ngay sau khi lên nắm quyền, ông ký sắc lệnh NSAM 273, đảo ngược hoàn toàn chính sách của Kennedy và cam kết hỗ trợ tối đa cho chính quyền quân sự Sài Gòn. Chỉ hai năm sau, năm 1965, Johnson ra lệnh ném bom miền Bắc và đổ quân viễn chinh vào miền Nam, chính thức mở đầu giai đoạn đẫm máu nhất của cuộc chiến.

Về mặt lịch sử chính thức, Ủy ban Warren năm 1964 kết luận rằng Lee Harvey Oswald là sát thủ duy nhất hành động độc lập, không có âm mưu nào liên quan đến Việt Nam. Ủy ban Hạ viện Mỹ về các vụ ám sát – HSCA – năm 1979 đưa ra kết luận khác: có khả năng cao là một âm mưu tập thể, dựa chủ yếu trên phân tích âm thanh từ máy ghi âm của cảnh sát Dallas cho thấy có thể có nhiều hơn một phát súng. Tuy nhiên kết luận này có vị thế học thuật yếu hơn nhiều so với vẻ ngoài của nó: năm 1982, Hội đồng Khoa học Quốc gia Mỹ xem xét lại toàn bộ bằng chứng âm thanh và kết luận rằng phân tích gốc của HSCA mắc lỗi phương pháp nghiêm trọng – băng ghi âm được dùng làm cơ sở không được thu âm vào thời điểm vụ ám sát như HSCA giả định. Điều đó có nghĩa là nền tảng thực nghiệm chính của kết luận “âm mưu tập thể” đã bị chính cộng đồng khoa học Mỹ bác bỏ. Phần lớn giới sử học hiện nay xem HSCA 1979 là một cuộc điều tra có động cơ chính trị hơn là một kết luận học thuật đáng tin cậy.

Trong số hàng trăm giả thuyết, có một nhánh liên quan trực tiếp đến Chiến tranh Việt Nam và thu hút sự chú ý của giới phân tích độc lập. Giả thuyết về “Phức hợp Công nghiệp-Quân sự” – được khai thác sâu sắc trong bộ phim JFK của đạo diễn Oliver Stone – lập luận rằng giới tài phiệt vũ khí, các tướng lĩnh diều hâu tại Lầu Năm Góc và CIA thời điểm đó rất muốn Mỹ nhảy vào cuộc chiến Việt Nam vì nó sẽ mang lại những khoản lợi nhuận khổng lồ từ sản xuất bom đạn, máy bay và khí tài quân sự. Họ nhận ra Kennedy đang hòa hoãn với Liên Xô sau Khủng hoảng tên lửa Cuba năm 1962 và muốn rút lui khỏi Việt Nam. Việc loại bỏ Kennedy và thay thế bằng Johnson là cách duy nhất để duy trì ngân sách quốc phòng khổng lồ và kích hoạt leo thang chiến tranh. Một giả thuyết khác, ít bằng chứng hơn nhưng đáng ghi nhận, cho rằng cái chết của Kennedy là sự trả báo cho cái chết của anh em ông Diệm – chính quyền Kennedy đã bật đèn xanh cho cuộc đảo chính ở Sài Gòn nhưng không lường trước rằng các tướng lĩnh sẽ sát hại ông Diệm một cách dã man đến thế.

Dưới góc nhìn sử học nghiêm túc, không có đủ bằng chứng tài liệu để chứng minh Lầu Năm Góc hay CIA đã giết Kennedy vì vấn đề Việt Nam. Hầu hết các sử gia coi việc hai vụ ám sát diễn ra cách nhau ba tuần là một sự trùng hợp lịch sử mang tính bi kịch tuyệt đối. Song giới sử học đồng ý ở một điểm: dù ai đã bắn Kennedy, kẻ hưởng lợi lớn nhất từ phát đạn đó là phe diều hâu muốn leo thang chiến tranh tại Mỹ.

Cái chết của Ngô Đình Diệm làm mất đi sự ổn định của miền Nam Việt Nam. Cái chết của Kennedy làm mất đi cơ hội rút lui của nước Mỹ. Hai sự kiện này, khi vô tình ráp lại với nhau trong cùng một tháng, đã tạo thành một chiếc bản lề lịch sử, đóng sập cánh cửa của mọi phương án thay thế và đẩy cả hai dân tộc vào một cuộc chiến tranh hủy diệt kéo dài suốt hơn một thập kỷ sau đó.

Bình luận về bài viết này