ChỈ XHCN mới có cải cách ruộng đất ?

Ngọc Ánh

Nhật Bản và Đài Loan

Một nhầm lẫn phổ biến trong cách nhìn nhận CCRĐ là coi việc chia lại ruộng đất cho nông dân như một thành tựu đặc trưng của chủ nghĩa cộng sản – hàm ý rằng dù có sai lầm trong thực thi, công lao kinh tế vẫn lớn hơn tội lỗi. Nhầm lẫn này bỏ qua một thực tế lịch sử có tính hệ thống: hầu như mọi quốc gia chuyển đổi từ chế độ quân chủ phong kiến sang nhà nước hiện đại trong thế kỷ 20 đều tiến hành cải cách ruộng đất, bất kể màu sắc chính trị. Đây không phải là sáng kiến của cộng sản mà là yêu cầu tất yếu của quá trình hiện đại hóa nông nghiệp và xây dựng nền tảng chính trị cho nhà nước mới. Điều phân biệt mô hình cộng sản không phải là việc chia đất – mà là việc chia đất được gắn liền với tiêu diệt thể xác và xã hội của một giai cấp.

Hàn Quốc tiến hành cải cách ruộng đất được lập pháp năm 1949 và thực thi trong giai đoạn 1950–1951 dưới chính phủ Lý Thừa Vãn – một chính quyền chống cộng quyết liệt – thông qua cơ chế mua lại có đền bù và bán lại cho tá điền với giá ưu đãi. Mexico thực hiện tái phân phối đất đai quy mô lớn từ thập niên 1930 dưới chính phủ dân tộc chủ nghĩa của Cárdenas. Ấn Độ sau độc lập năm 1947 tiến hành bãi bỏ chế độ địa chủ zamindari trên toàn lãnh thổ thông qua hàng loạt đạo luật của chính phủ dân chủ Nehru – một quá trình tái phân phối đất đai ảnh hưởng đến hàng trăm triệu nông dân mà không cần đấu tố hay hành quyết. Bolivia, Ai Cập, Đài Loan, Nhật Bản – tất cả đều cải cách ruộng đất trong cùng thời kỳ, với các chính phủ có hệ tư tưởng hoàn toàn khác nhau. Nông dân không cần cộng sản để được chia đất; họ cần một nhà nước có đủ ý chí chính trị và năng lực hành chính để thực hiện quá trình chuyển giao đó.

Một lập luận thường được đưa ra, ngầm hoặc tường minh, là bạo lực là cái giá không thể tránh khỏi để phá vỡ cấu trúc sở hữu đất đai cũ đủ nhanh và đủ triệt để. Bằng chứng lịch sử so sánh bác bỏ điều đó. Trong cùng thập niên, hai xã hội châu Á khác đã tiến hành cải cách ruộng đất với quy mô tái phân phối tương đương mà không cần đấu tố, không cần chỉ tiêu xử tử, không cần phá hủy cấu trúc xã hội nông thôn.

Nhật Bản thực hiện cải cách ruộng đất từ năm 1946 đến 1950 dưới sự giám sát của lực lượng chiếm đóng Mỹ. Chính phủ mua lại đất của địa chủ theo giá ấn định và bán lại cho tá điền với điều khoản dài hạn. Trước cải cách, khoảng 45 phần trăm diện tích canh tác là đất cho thuê – tức gần một nửa nông dân không sở hữu đất họ canh tác. Sau cải cách, tỷ lệ đó giảm xuống dưới 10 phần trăm, biến phần lớn tá điền thành chủ canh trong vòng vài năm. Không có phiên đấu tố, không có hành quyết, không có chỉ tiêu giai cấp. Đài Loan tiến hành cải cách tương tự từ 1949 đến 1953 theo mô hình “người cày có ruộng,” thông qua cơ chế mua lại có đền bù bằng cổ phiếu doanh nghiệp nhà nước. Tầng lớp địa chủ cũ được chuyển hóa thành nhà đầu tư công nghiệp thay vì bị tiêu diệt, và cấu trúc xã hội nông thôn được tái tổ chức mà không để lại vết thương thế hệ.

Sự so sánh này không nhằm lý tưởng hóa các mô hình Nhật Bản hay Đài Loan, vốn có bối cảnh địa chính trị khác biệt đáng kể so với Việt Nam đang trong chiến tranh. Dù vậy, chính sự khác biệt về bối cảnh đó không xóa bỏ được điều mà so sánh này chứng minh: về mặt kỹ thuật, cải cách ruộng đất quy mô lớn không nhất thiết phải gắn với đấu tố và hành quyết hàng loạt. Nếu bạo lực không phải là tất yếu về mặt kỹ thuật, thì nó phải được giải thích bằng những lý do khác – và những lý do đó nằm ở mục tiêu chính trị của việc xóa sổ một giai cấp, tái cấu trúc quan hệ quyền lực ở nông thôn, và ràng buộc quần chúng bằng sự đồng lõa không thể rút lại. Đất đai là phương tiện; sự tái cấu trúc xã hội toàn diện mới là mục đích.

Tiền lệ của cải cách ruộng đất tại miền Bắc Việt Nam

Cải cách ruộng đất tại miền Bắc Việt Nam (1953–1956) thường được trình bày như một chính sách đúng đắn bị thực thi sai – sai lầm trong kỹ thuật, sai lầm của cấp dưới, sai lầm có thể sửa. Nói rằng giới lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam hoàn toàn bất ngờ trước sự khốc liệt của CCRĐ là không chính xác về mặt lịch sử. Chiến dịch được thực hiện với sự cố vấn trực tiếp từ các chuyên gia Trung Quốc, những người vừa tiến hành một cuộc cải cách ruộng đất toàn quốc (1950–1953) với kịch bản gần như giống hệt: phân loại giai cấp cưỡng bức, đấu tố công khai và hành quyết hàng loạt. Trong chuyến thăm Liên Xô và Trung Quốc đầu năm 1950, Hồ Chí Minh đã gặp riêng Stalin tại Moscow và Mao Trạch Đông tại Bắc Kinh – cả hai đều thúc ép ông phải tiến hành cải cách ruộng đất để khẳng định tính chất cộng sản của cuộc kháng chiến. Áp lực nhận viện trợ quân sự từ khối Xô–Trung gắn liền với yêu cầu phải chứng minh Đảng là tổ chức cộng sản thực thụ, không chỉ là phong trào dân tộc.

Các nhà nghiên cứu như Edwin Moise và Trần Phương chỉ ra rằng mục tiêu của chiến dịch không thuần túy là kinh tế. Bên cạnh việc chia lại ruộng đất, đây là một chiến dịch tiêu diệt cấu trúc quyền lực cũ ở nông thôn. Trong khuôn khổ học thuyết đấu tranh giai cấp thời bấy giờ, bạo lực không phải là sản phẩm ngoài ý muốn mà là một phần của logic vận hành được dự tính sẵn.

Tuy nhiên, ngay cả khi chấp nhận rằng một mức độ bạo lực nào đó là có chủ đích, quy mô thảm họa thực tế vẫn không thể giải thích hoàn toàn bằng ý đồ từ trên xuống. Một phần quan trọng của lời giải nằm ở sự không tương thích cấu trúc giữa bối cảnh nông thôn Việt Nam và mô hình được nhập khẩu nguyên xi từ Trung Quốc. Ở đồng bằng Hoa Nam, nơi mô hình này được thử nghiệm, sở hữu đất đai tập trung hơn và ranh giới giai cấp sắc nét hơn. Ở đồng bằng sông Hồng, ruộng đất vốn đã được phân tán qua nhiều thế hệ thừa kế, tạo ra một cấu trúc sở hữu manh mún với ranh giới mờ giữa địa chủ, phú nông và trung nông. Áp đặt một khung phân loại giai cấp thiết kế cho xã hội nông thôn Trung Quốc lên một thực tế xã hội khác biệt như vậy là một rủi ro lớn có thể nhận diện được từ trước – nhưng dường như đã bị đánh giá thấp hoặc không được điều chỉnh đầy đủ trong thiết kế chính sách, và điều đó làm nặng thêm trách nhiệm của những người đã biết rõ tiền lệ mà vẫn không can thiệp.

Thế giới quan nhị nguyên

Để hiểu tại sao bộ máy CCRĐ vận hành theo cách nó đã vận hành, cần bắt đầu từ nền tảng triết học làm cho toàn bộ cấu trúc đó trở nên khả thi về mặt đạo đức trong mắt những người thực hiện nó. Nền tảng đó là thế giới quan nhị nguyên: mọi sự vật và con người đều được chia vào hai cực đối lập không thể dung hòa. Trong cách áp dụng thực tiễn tại Việt Nam giai đoạn này, tư duy đó không để chỗ cho vùng xám, không để chỗ cho địa chủ tốt hay xấu về mặt cá nhân – chỉ tồn tại vị thế giai cấp.

Chủ nghĩa Marx–Lenin dựa trên phép biện chứng duy vật nhìn nhận sự phát triển của xã hội qua đấu tranh giữa các mặt đối lập. Không có sự thỏa thuận hay cải cách nửa vời: một cực phải phủ định cực kia để tạo ra hình thái xã hội mới. Học thuyết đấu tranh giai cấp, trong cách diễn giải cực đoan được áp dụng thời kỳ đó, gắn đạo đức vào vị thế giai cấp – những gì có lợi cho giai cấp công nông là đúng; những gì thuộc về giai cấp tư sản và địa chủ là sai – bất kể hành vi cụ thể của từng cá nhân. Đây là điểm mấu chốt: khi đạo đức được xác định bởi gốc gác thay vì hành động, việc tiêu diệt một người không còn đòi hỏi phải chứng minh tội lỗi cụ thể của họ.

Tư duy nhị nguyên có những chức năng chính trị rõ ràng. Nó đơn giản hóa kẻ thù bằng cách biến các vấn đề kinh tế–xã hội phức tạp thành cuộc chiến đạo đức giữa thiện và ác. Nó hợp thức hóa bạo lực bằng cách định nghĩa kẻ thù là “xấu tuyệt đối,” phi nhân hóa họ và từ đó triệt tiêu sự thấu cảm cùng các rào cản lương tâm. Nó tạo ra sự đoàn kết cưỡng ép bằng cách buộc những người trung dung phải chọn phe – khẩu hiệu “ai không đi theo chúng ta tức là chống lại chúng ta” triệt tiêu mọi tiếng nói ôn hòa và biến sự im lặng thành sự đồng thuận bắt buộc.

Nhà nghiên cứu Raymond Aron từng gọi chủ nghĩa cộng sản là “tôn giáo của những người trí thức,” và cách ví von đó không phải không có cơ sở. Giống như các hệ thống tôn giáo giáo điều chia thế giới thành thiên đường và địa ngục, tư duy cộng sản chia thế giới thành tương lai xã hội chủ nghĩa tươi sáng và quá khứ phong kiến–tư bản đen tối. Đảng nắm giữ vị trí của giáo hội: tổ chức duy nhất có thẩm quyền diễn giải chân lý lịch sử. Khi đã tin vào một chân lý tuyệt đối, bất kỳ ý kiến nào khác biệt đều là tà đạo. Điều này không chỉ triệt tiêu đối thoại mà còn làm cho việc thừa nhận sai lầm trở nên cực kỳ tốn kém về mặt chính trị – vì một học thuyết tuyệt đối không thể sai, chỉ có người thực thi có thể sai.

Hệ thống chỉ tiêu

Từ nền tảng triết học đó, bộ máy thực thi được thiết kế với ba cơ chế bổ trợ nhau. Thứ nhất là hệ thống chỉ tiêu cứng: các đội cải cách được giao nhiệm vụ phải xác định khoảng năm phần trăm dân số trong mỗi xã là địa chủ – theo chỉ tiêu phổ biến được ghi nhận trong nhiều tài liệu thời kỳ đó. Ở miền Bắc Việt Nam, nơi cấu trúc sở hữu đất đai manh mún, con số địa chủ thực tế theo bất kỳ định nghĩa hợp lý nào cũng thấp hơn nhiều. Khi không tìm đủ địa chủ thực sự, các đội buộc phải “đôn” phú nông, trung nông, thậm chí đảng viên và người có công với kháng chiến lên đủ chỉ tiêu. Áp lực chính trị đi kèm: bất kỳ đội nào không đạt chỉ tiêu đều bị coi là “hữu khuynh” hoặc bị địa chủ mua chuộc, tức là tự biến mình thành đối tượng nghi ngờ tiếp theo.

Thứ hai là việc thay thế hệ thống tư pháp chính quy bằng các Tòa án Nhân dân đặc biệt. Bị cáo không có luật sư, không có quyền tranh tụng thực chất. Quyền xét xử nằm trong tay những bần cố nông đang sục sôi khí thế đấu tranh giai cấp, được dẫn dắt bởi các đội cải cách có chỉ tiêu cần hoàn thành. Phán quyết dựa trên cảm xúc và thành phần giai cấp thay vì bằng chứng pháp lý. Thiết chế này không phải là sự suy thoái của hệ thống tư pháp – nó là sự thay thế có chủ đích bằng một thiết chế khác với mục tiêu khác: không phải tìm ra sự thật mà là hoàn thành chỉ tiêu xử lý giai cấp thù địch đủ nhanh.

Thứ ba là học thuyết hành động “thà đánh nhầm hơn bỏ sót” – không phải là khẩu hiệu bộc phát mà là một nguyên tắc vận hành được nhắc lại chính thức. Học thuyết này phản ánh một thứ tự ưu tiên rõ ràng: việc triệt hạ những người có tiềm năng chống đối được ưu tiên tuyệt đối hơn việc đảm bảo công lý cho cá nhân. Khi một người đã bị mặc định là nguy hiểm do gốc gác giai cấp, việc họ thực tế tốt hay xấu trở nên vô nghĩa. Một nhân tố thường bị xem nhẹ là vai trò của La Quý Ba – cố vấn chính trị cấp cao của Trung Quốc tại Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – trong việc chủ động thúc ép phía Việt Nam tăng tỷ lệ đấu tố và xử tử khi thấy kết quả ban đầu chưa đủ quyết liệt theo tiêu chuẩn của họ. Bạo lực không chỉ bị đẩy lên bởi logic nội tại của hệ thống chỉ tiêu, mà còn bởi áp lực ngoại sinh từ những người coi kinh nghiệm của một cuộc cải cách khác, ở một xã hội khác, là chuẩn mực phổ quát.

Hệ quả của ba cơ chế đó là mức độ sai lệch không thể giải thích là ngẫu nhiên. Sau giai đoạn sửa sai năm 1956, một số nghiên cứu cho thấy tỷ lệ địa chủ bị quy sai ở nhiều địa phương có thể rất cao – có nơi được ước tính lên tới bảy mươi đến tám mươi phần trăm, nghĩa là trong mười người bị xử, chỉ có hai hoặc ba người thực sự sở hữu đất cho thuê theo bất kỳ tiêu chuẩn hợp lý nào.

Mục tiêu: Xóa sổ giai cấp, không chỉ phân chia tài sản

Câu hỏi tại sao không đơn giản tịch thu tài sản theo con đường hành chính có một câu trả lời nằm ở logic quyền lực dài hạn. Địa chủ không chỉ là người giàu – họ là tầng lớp tinh hoa cũ của nông thôn Việt Nam, với kỹ năng quản trị, mạng lưới quan hệ và uy tín tích lũy qua nhiều thế hệ. Nếu chỉ tịch thu tài sản mà để họ tồn tại như một giai cấp, khả năng tổ chức lại lực lượng khi có thời cơ vẫn luôn hiện hữu. Để Đảng kiểm soát tuyệt đối nông thôn, cấu trúc uy tín truyền thống của các gia đình địa chủ phải bị phá vỡ triệt để – không chỉ về tài sản mà về vị thế tinh thần.

Đấu tố vì thế không chỉ là để đòi lại ruộng đất mà là để hạ bệ thần tượng. Khi những người từng được kính trọng trong làng xã qua nhiều thế hệ bị lôi ra sỉ nhục công khai, quyền lực của truyền thống và trật tự cũ sụp đổ trong tâm lý người nông dân. Khoảng trống uy tín đó sau đó được lấp đầy bởi chi bộ Đảng địa phương và các cán bộ mới – những người không có uy tín truyền thống nhưng có quyền lực nhà nước đứng sau.

Một mục tiêu thứ ba, thường ít được phân tích hơn, là tái cấu trúc tâm lý xã hội thông qua sự đồng lõa cưỡng ép. Có thể hiểu một phần tác dụng của các buổi đấu tố công khai là tạo ra một dạng ràng buộc tâm lý tập thể: khi một cộng đồng cùng tham gia và chứng kiến việc xử tử người mà họ từng quen biết – thậm chí từng mang ơn – họ đã bước qua một ngưỡng khó quay lại. Những nông dân tham gia đấu tố có lý do thực tế để lo ngại rằng nếu chế độ cũ quay lại, họ sẽ là người đầu tiên phải trả giá. Dù cơ chế này không nhất thiết là tính toán có ý thức của mọi cá nhân tham gia, tác dụng ràng buộc của nó – gắn số phận người dân vào sự tồn tại của chế độ mới – là có thể quan sát được qua hành vi chính trị của nông thôn miền Bắc những thập kỷ sau.

Chế độ lý lịch được duy trì nhiều thập kỷ sau đó là bằng chứng rõ nhất cho thấy mục tiêu không phải là trừng phạt cá nhân mà là kiềm chế vĩnh viễn một giai cấp bị xem là nguy hiểm về chính trị. Con em địa chủ tiếp tục gánh chịu phân biệt đối xử trong giáo dục và việc làm dù không có bất kỳ hành động chống đối nào. Tội lỗi được truyền theo huyết thống, không theo hành vi.

Kiến tạo hình tượng kẻ thù

Để bộ máy bạo lực có thể vận hành mà không vấp phải sự kháng cự của lương tâm tập thể, đối tượng bị tiêu diệt trước tiên phải bị tước bỏ tư cách con người. Sách giáo khoa, văn học và điện ảnh thời kỳ đó có xu hướng chủ đạo là khắc họa địa chủ qua những tính cách đơn giản hóa và cực đoan hóa: tham lam, dâm đãng, ác độc, ngu ngốc. Hình tượng “lão địa chủ gian ác” đối lập với “anh nông dân hiền lành” trở thành mô-típ lặp đi lặp lại qua nhiều thế hệ giáo dục.

Mô-típ này phi lý về mặt kinh tế. Để quản lý một trang trại lớn, tích lũy đất đai và duy trì tài sản qua nhiều thế hệ trong môi trường nông thôn khắc nghiệt, người chủ đất phải có kỹ năng quản trị và nhạy bén nhất định. Một người thực sự ngu ngốc và lười biếng không thể giữ được tài sản trong hoàn cảnh đó. Sự tích lũy qua nhiều đời đòi hỏi kỷ luật canh tác, khả năng tính toán mùa vụ và ứng phó với rủi ro – những năng lực mà mô-típ tuyên truyền cố tình xóa bỏ. Thực tế lịch sử cho thấy nhiều gia đình địa chủ đã đóng góp tài chính cho Tuần lễ Vàng và nuôi giấu cán bộ kháng chiến trước năm 1953. Ranh giới giữa “địa chủ” và “nông dân giàu” ở miền Bắc Việt Nam thường rất mong manh – chính sự mong manh đó về sau bị khai thác để biến bất kỳ ai khá hơn hàng xóm một chút thành đối tượng có thể “đôn” lên đủ chỉ tiêu.

Trong lý thuyết đấu tranh giai cấp, sự tử tế cá nhân là vô nghĩa về mặt chính trị. Khái niệm tội lỗi về vị thế định nghĩa một địa chủ dù hiền lành đến đâu vẫn là tội phạm vì sở hữu tư liệu sản xuất. Hơn nữa, nếu thừa nhận có địa chủ giàu lên nhờ siêng năng và tài năng quản trị, chính quyền sẽ vô tình thừa nhận hệ thống cũ có sự công bằng nhất định – điều đó làm suy yếu tính chính danh của toàn bộ cuộc cách mạng. Vì vậy, mọi sự giàu có trong quá khứ buộc phải được diễn giải là kết quả của bóc lột, không có ngoại lệ.

Di chứng nhận thức của quá trình phi nhân hóa này kéo dài qua nhiều thế hệ. Khi một thông điệp được lặp đi lặp lại trong suốt nhiều năm học, nó trở thành tri thức mặc định không cần kiểm chứng. Tâm lý nghi ngờ và bài trừ người giàu, sự hả hê trước thất bại của doanh nhân thành đạt, và sự khó khăn trong việc phục dựng lịch sử khách quan về vai trò của tầng lớp tinh hoa nông thôn đều là những di chứng có thể truy ngược về nguồn gốc này. Nghịch lý nằm ở chỗ: các doanh nghiệp và chủ trang trại lớn ngày nay cũng tích tụ đất đai và thuê mướn lao động – về bản chất kinh tế không khác nhiều so với địa chủ ngày xưa. Sự khác biệt duy nhất là họ hoạt động trong một khung pháp lý được nhà nước bảo trợ và được gọi bằng những cái tên hợp thời hơn. Điều này cho thấy vấn đề không bao giờ thực sự là sở hữu đất đai hay thuê mướn lao động – mà là ai đang nắm quyền kiểm soát ngôn ngữ để định nghĩa đâu là bóc lột và đâu là hợp pháp.

Tâm lý đám đông

Bộ máy do trung ương thiết kế sẽ không thể vận hành nếu không có nhiên liệu sẵn có tại chỗ. Nhiên liệu đó là tâm lý tỵ nạnh đặc trưng của cộng đồng nông nghiệp tự cung tự cấp. Nhà nhân học George Foster mô tả nông thôn truyền thống qua khái niệm “nền kinh tế có hạn”: người dân tin rằng tổng tài nguyên trong cộng đồng là cố định, và nếu ai đó giàu lên, họ đã lấy đi phần của người khác. Tư duy này không phải là đặc tính tâm lý cá nhân mà là sản phẩm của một cấu trúc kinh tế nơi đất đai là nguồn sống duy nhất và tổng diện tích đất không thay đổi.

Làng xã là cộng đồng đóng, nơi sự riêng tư gần như không tồn tại. Việc một gia đình mua thêm ruộng, xây nhà ngói hay đơn giản là có bữa ăn ngon hơn bình thường đều nằm trong tầm mắt của hàng xóm và liên tục kích hoạt bản năng so sánh. Văn hóa làng xã đề cao sự cào bằng để duy trì tính gắn kết, và bất kỳ ai vượt trội lên đều dễ bị coi là mối đe dọa cho sự cân bằng của cộng đồng. Ở thành phố, sự ẩn danh làm giảm áp lực so sánh và người ta có thể hình dung con đường vươn lên qua kinh doanh hay nghề nghiệp. Ở nông thôn xưa, không có con đường nào khác để vươn lên ngoài việc chiếm hữu nguồn tài nguyên hữu hạn đó – điều đó làm cho lòng ghen tị mang tính cấu trúc hơn là cảm xúc.

Khi CCRĐ tràn về, tuyên truyền giai cấp cung cấp cho sự tỵ nạnh tiềm ẩn này một vỏ bọc đạo đức. Thay vì thừa nhận “tôi ghét anh vì anh giàu hơn tôi,” người ta có thể dõng dạc nói “tôi đấu tố anh vì anh là địa chủ bóc lột.” Mâu thuẫn cá nhân vụn vặt – tranh chấp ranh giới đất, ân oán lời ăn tiếng nói tích lũy qua nhiều năm, ác cảm với thái độ được cho là trịnh thượng của người khá giả hơn – đột nhiên tìm được một kênh giải thoát được xã hội thừa nhận và nhà nước bảo hộ. Nhiều buổi đấu tố thực chất là nơi giải quyết những tư thù mà trong điều kiện bình thường không có cơ chế xử lý.

Tiếng kêu oan của nạn nhân bị triệt tiêu bởi cơ chế vòng xoáy im lặng. Những người có lương tri, khi thấy đám đông đang cuồng nhiệt và chính quyền ủng hộ bạo lực, chọn im lặng vì sợ hãi. Sự im lặng đó lại bị đám đông hiểu là đồng thuận, khiến tiếng nói của nạn nhân càng cô độc. Về mặt nhân khẩu học, địa chủ chỉ chiếm hai đến năm phần trăm dân số. Khi chính quyền đứng về phía đại đa số còn lại và trao cho họ quyền xét xử, tiếng kêu cứu của thiểu số bị nhấn chìm một cách vật lý, không chỉ về mặt chính trị.

Cấu trúc quyền lực

Bộ máy CCRĐ không vận hành như một khối thống nhất với một động cơ duy nhất. Các nhà khoa học chính trị như Hannah Arendt và Sheila Fitzpatrick chỉ ra rằng trong các cuộc đại thanh lọc xã hội, động cơ phân thành các tầng nấc rất khác nhau – và sự phối hợp giữa các tầng đó, chứ không phải bất kỳ tầng đơn lẻ nào, tạo ra hiệu ứng tổng thể.

Ở cấp lãnh đạo tối cao, hành động mang tính thực dụng chính trị cao độ. Lý tưởng giai cấp là ngôn ngữ huy động quần chúng, không nhất thiết là niềm tin cá nhân. Bằng kỹ thuật “bàn tay sạch,” họ ký sắc lệnh và đưa ra chỉ tiêu mà hiếm khi trực tiếp nhúng tay vào bạo lực. Điều này giúp giữ được hình ảnh “sáng suốt” và tạo điều kiện để đổ lỗi cho “cấp dưới làm sai” khi tình hình vượt quá kiểm soát – như đã xảy ra năm 1956.

Tầng lớp cán bộ trung gian vận hành trong tâm thế sợ hãi theo cả hai chiều: sợ địa chủ chưa bị lật đổ, và sợ cấp trên quy mình là hữu khuynh. Trong tâm thế đó, báo cáo thành tích thổi phồng không phải là gian lận có tính toán mà là cơ chế bảo vệ bản thân. Cấp trên nhận báo cáo tốt lấy đó làm minh chứng cho sự đúng đắn của đường lối và tiếp tục thúc đẩy, cấp dưới nhận áp lực tăng cao và phải tìm thêm địa chủ. Vòng lặp tự duy trì này chạy đến khi bạo lực quay ngược lại đe dọa chính những người trong hàng ngũ.

Ở cấp đội cải cách và đám đông thực thi, hai động cơ song hành: sự cuồng tín lý tưởng thực sự và lợi ích vật chất cụ thể. Nhiều cán bộ trẻ được đào tạo cấp tốc trong các lớp chỉnh huấn và được bơm một nhãn quan thế giới nhị nguyên – địa chủ là quỷ, nông dân là thánh – đến mức họ tin thật lòng vào sứ mệnh lịch sử của mình. Sự nguy hiểm không nằm ở sự ác ý mà nằm ở chỗ: những người làm điều ác nhân danh điều thiện thường làm triệt để hơn những người biết mình đang làm ác. Bên cạnh đó, CCRĐ là cơ hội đổi đời nhanh nhất cho những người xuất thân bần hàn: quyền sinh quyền sát, vị thế chính trị trong bộ máy mới, và quyền lợi vật chất từ tài sản chia chác. Khi đã nhận của cải đó, họ trở thành đồng phạm của hệ thống và không còn con đường nào khác ngoài tiếp tục bảo vệ nó.

Trách nhiệm bị phân tán theo chiều dọc của cấu trúc này là một trong những lý do bộ máy có thể duy trì bạo lực trong thời gian dài mà không sụp đổ từ bên trong. Mỗi cá nhân cảm thấy mình chỉ là một mắt xích, làm theo lệnh trên hoặc theo áp lực đám đông – không phải người quyết định tối hậu. Cảm giác tội lỗi cá nhân bị triệt tiêu trong logic tập thể. Điều này gần với những gì Hannah Arendt, khi phân tích phiên tòa xét xử Eichmann, gọi là “sự tầm thường của cái ác”: không cần những kẻ hung ác đặc biệt để thực hiện những tội ác đặc biệt, chỉ cần những con người bình thường đặt trong một hệ thống tổ chức triệt tiêu phán xét cá nhân.

Lời xin lỗi năm 1956

Sau khi Hội nghị Trung ương 10 khóa II thừa nhận sai lầm vào năm 1956, Hồ Chí Minh công khai xin lỗi trước quốc dân. Cuộc chỉnh huấn sau đó minh oan cho hàng chục nghìn người và trả lại danh dự cho nhiều đảng viên bị quy sai. Nhưng bản chất của lời xin lỗi cần được đặt đúng bối cảnh: Đảng thừa nhận việc đánh sai thành phần – tức là đánh nhầm người tốt, đảng viên, trung nông – nhưng không phủ nhận mục tiêu xóa bỏ giai cấp địa chủ. Những người được minh oan là những người bị quy sai giai cấp, không phải những địa chủ thực sự. Giới hạn của sự thừa nhận được vạch rõ ngay trong cách nó được diễn đạt: sai lầm nằm ở kỹ thuật thực thi, không nằm ở mục tiêu chiến lược.

Ngoài lý do ý thức hệ, còn một lý do thực dụng thuần túy khiến sửa sai thực chất là bất khả: ruộng đất đã được chia cho hàng triệu hộ nông dân. Hoàn trả ngay cả một phần nhỏ sẽ kéo theo một cuộc khủng hoảng xã hội mới với quy mô tương đương – hàng triệu gia đình vừa được cấp đất sẽ phải trả lại, tạo ra làn sóng phẫn nộ không kém những gì vừa xảy ra. Tính không thể đảo ngược này không hoàn toàn nằm trong kế hoạch ban đầu; nó là hệ quả của tốc độ và quy mô triển khai. Nhưng một khi đã xảy ra, nó trở thành cái bẫy cấu trúc khóa chặt mọi khả năng công lý thực chất.

Phong trào Nhân Văn–Giai Phẩm (1956) là bằng chứng thực nghiệm rõ nhất về giới hạn thực sự của lời xin lỗi đó. Xuất hiện cùng giai đoạn với quá trình sửa sai sau CCRĐ, nhóm trí thức và văn nghệ sĩ này – phần lớn là đảng viên hoặc người có công với kháng chiến – dùng văn chương và báo chí để yêu cầu quyền được nói sự thật về những gì đang xảy ra: sự độc đoán của bộ máy, việc đánh oan người vô tội, sự thiếu vắng tự do sáng tạo. Chính yêu cầu tối thiểu đó đã đủ để biến họ thành đối tượng của một chiến dịch vùi dập kéo dài nhiều thập kỷ. Trần Dần, Hoàng Cầm, Lê Đạt, Phùng Quán bị bắt giữ, khai trừ khỏi Đảng hoặc bị đưa đi cải tạo.

Sự kiện Nhân Văn–Giai Phẩm phân định rõ ranh giới vận hành thực sự của hệ thống: sự thừa nhận sai lầm được phép xảy ra từ trên xuống, theo kênh chính thức và theo liều lượng được kiểm soát – nhưng bất kỳ nỗ lực nào từ bên dưới để tự mình đánh giá và phê phán đều bị dập tắt ngay lập tức. Nói cách khác, Đảng có thể tự phê phán; không ai khác được phép làm điều đó thay Đảng.

Vòng lặp của quyền lực

CCRĐ đặt ra một câu hỏi vượt ra ngoài phạm vi của chính nó: tại sao những người từng là lực lượng cách mạng lại có xu hướng trở thành lực lượng bảo thủ nhất sau khi đã giành được quyền lực? Câu trả lời nằm ở cấu trúc lợi ích, không phải ở sự suy thoái đạo đức cá nhân. Khi một chế độ tồn tại đủ lâu, nó tạo ra một mạng lưới thân hữu nơi lợi ích kinh tế của tư nhân gắn chặt với quyền lực chính trị. Nếu chế độ thay đổi căn bản, nhóm này không chỉ mất chức vụ mà còn mất tài sản và đối mặt với khả năng truy tố pháp lý về những gì đã làm trong thời gian nắm quyền.

Chi phí để thay đổi của tầng lớp này vì thế cao hơn rất nhiều so với chi phí để duy trì nguyên trạng. Họ sẽ dùng mọi nguồn lực sẵn có – truyền thông, luật pháp, lực lượng vũ trang – để lý luận rằng chế độ hiện tại là tối ưu. Hệ tư tưởng lúc này không còn là niềm tin mà là tấm khiên che đỡ đặc quyền. Đây là lý do tại sao trong các chế độ có tuổi thọ dài, ngôn ngữ cách mạng thường tồn tại lâu hơn nhiều so với tinh thần cách mạng – nó được duy trì không phải vì người ta còn tin vào nó mà vì nó vẫn còn hữu ích.

Đây là nơi hai thời điểm lịch sử gặp nhau theo một cách đáng chú ý. Những người cộng sản khi giành chính quyền hiểu rõ rằng nếu không triệt hạ tầng lớp cũ hoàn toàn, mầm mống phục hồi sẽ luôn hiện hữu – vì tầng lớp đó có đủ nguồn lực, kỹ năng và động lực để tổ chức lại khi có thời cơ. Họ xóa sổ giai cấp địa chủ chính xác vì họ hiểu logic đó. Nhiều thập kỷ sau, chính những người hưởng lợi từ hệ thống được tạo ra bởi cuộc cách mạng đó trở thành tầng lớp tinh hoa mới với tài sản, mạng lưới quan hệ và vị thế tích lũy qua nhiều thế hệ – và họ áp dụng đúng cùng logic sinh tồn để chống lại bất kỳ sự thay đổi nào có thể đẩy họ vào vị thế của những người đã bị họ xóa sổ trước đây. Sự “tinh ý” mà những người cộng sản đầu tiên thể hiện trong việc triệt hạ đối thủ tiềm tàng nay được tầng lớp kế thừa áp dụng để bảo vệ chính mình. Vòng lặp khép lại không phải vì ai phản bội lý tưởng – mà vì logic sinh tồn chính trị không phân biệt thời đại hay màu cờ.

Hình ảnh này khắc họa nông dân Nhật Bản làm việc trên ruộng lúa sau cải cách ruộng đất 1946-1950 dưới sự giám sát của Mỹ, khi tỷ lệ đất thuê giảm mạnh từ 45% xuống dưới 10%

Bình luận về bài viết này