
Khái Hưng
Công tác tuyên truyền tác chiến không vận hành tự phát mà được đặt trong một bộ máy tổ chức có cấu trúc chặt chẽ từ trung ương đến cơ sở. Ngay sau Hội nghị thành lập Đảng (đầu năm 1930), Ban Chấp hành Trung ương thành lập Ban Cổ động và Tuyên truyền – tiền thân của Ban Tuyên giáo Trung ương – với nhiệm vụ tuyên truyền, giác ngộ quần chúng về chủ nghĩa Mác-Lênin và đường lối cách mạng. Tháng 8/1930, Ban xuất bản tờ “Ngày quốc tế đỏ 1/8” – mốc hoạt động đầu tiên được ghi nhận. Từ đó, cấu trúc này được nhân rộng xuống toàn bộ các cấp: tỉnh, huyện, xã, cơ quan, đơn vị, trường học, lực lượng vũ trang.
Hạ tầng truyền tải bao gồm hệ thống báo chí và tạp chí lý luận, hệ thống học viện và trường chính trị các cấp, đội ngũ cán bộ tuyên huấn được đào tạo chuyên biệt. Trong môi trường kỹ thuật số hiện nay, hệ thống này mở rộng thêm các tài khoản và fanpage được xác thực trên các nền tảng lớn, với đội ngũ cộng tác viên yêu cầu vừa “vững lý luận” vừa “thạo công nghệ”. Tính hiệu quả của hệ thống không chỉ nằm ở chất lượng ngôn ngữ mà còn ở độ phủ và tốc độ – khả năng đưa cùng một khung diễn ngôn xuống đồng thời đến toàn bộ các cấp trong thời gian ngắn nhất.
Nguyên tắc xây-chống và phân tầng đối tượng
Lý luận tuyên giáo vận hành theo nguyên tắc cặp đôi “xây là cơ bản, chống phải quyết liệt”. Vế “xây” là chủ động tạo ra biểu tượng, hình tượng và câu chuyện tích cực: hình tượng lãnh tụ (hy sinh, trí tuệ, gần dân), hình tượng Đảng (tiên phong, đại diện cho nhân dân và dân tộc), hình tượng người chiến sĩ và người lao động như những chủ thể lịch sử. Những hình tượng này tự tạo ra một trường ngữ nghĩa độc lập – một khung tham chiếu mà mọi sự kiện đều có thể được neo vào. Vế “chống” vận hành bên trong khung đó, và mỗi cặp đối lập ta/địch lại đồng thời nhắc lại và củng cố khung tham chiếu đã được “xây” sẵn.
Cùng một thông điệp lõi được mã hóa thành ba lớp ngôn ngữ khác nhau tùy đối tượng. Cán bộ, đảng viên tiếp nhận qua giáo dục lý luận – ngôn ngữ hệ thống, trừu tượng, giải thích đầy đủ các khái niệm như “chuyên chính vô sản” hay “đấu tranh giai cấp” thay vì chỉ dùng như nhãn dán. Quần chúng nhân dân tiếp nhận qua tuyên truyền – các công thức đối xứng ta/địch được triển khai nhiều nhất ở tầng này, đủ đơn giản để lan rộng, đủ cảm xúc để tạo phản ứng. Quần chúng trong thời điểm hành động cụ thể tiếp nhận qua cổ động – khẩu hiệu ngắn gọn, ít lý luận, mục tiêu không phải thuyết phục mà là thúc đẩy tham gia ngay lập tức.
Nắm bắt và định hướng dư luận
Bên cạnh việc phát thông điệp, hệ thống còn vận hành một vòng phản hồi liên tục. Tài liệu tuyên giáo nội bộ mô tả nhiệm vụ theo dõi dư luận xã hội là thường xuyên, đặc biệt trước, trong và sau các sự kiện chính trị, ngày lễ, hoặc “các vụ việc phức tạp, nhạy cảm”. Quy trình gồm hai chiều: nắm bắt – liên tục thu thập thông tin về trạng thái dư luận trong nhân dân, trên báo chí và mạng xã hội; và định hướng – triển khai thông tin phản bác, chuyển hướng, hoặc trấn an kịp thời khi dư luận lệch khỏi quỹ đạo mong muốn. Đây là kỹ thuật phản ứng có kiểm soát, biến hệ thống tuyên truyền từ cơ chế phát một chiều thành cơ chế điều hướng liên tục.
Ngữ nghĩa đối xứng ta/địch
Cốt lõi của vế “chống” là cấu trúc ngữ nghĩa đối xứng – cùng một hành động hay kết quả được mô tả bằng hai hệ thống từ ngữ hoàn toàn khác nhau tùy theo chủ thể thực hiện là “ta” hay “địch”.
Về thất bại và rút lui, thất bại quy mô lớn được tái định khung theo công thức “abc là cuộc diễn tập lớn cho xyz” – biến sự kiện tiêu cực thành tiền đề tất yếu của thắng lợi về sau. Ví dụ điển hình được lưu hành: “Xô Viết Nghệ Tĩnh là cuộc diễn tập lớn cho CMT8”, “Mậu Thân 68 là cuộc diễn tập lớn cho mùa xuân 75”. Ở cấp chiến thuật: ta rút lui là “chủ động rút lui để bảo toàn lực lượng”; địch rút lui là “giặc hoảng loạn rút lui”.
Khi không bên nào đạt ưu thế rõ ràng: ta giữ trận địa là “chiến đấu dũng cảm, cầm chân địch trên nhiều mặt trận”; địch không hạ được ta là “giặc điên cuồng chống trả” – cùng một trạng thái bế tắc, nhưng sự kiên cường của ta là dũng khí, sự kiên cường của địch là hung hãn mù quáng. Về mưu lược: ta dùng mưu là “mưu trí dũng cảm”; địch dùng mưu là “thủ đoạn hèn hạ” – cùng một bản chất hành vi nhưng được phân loại vào hai phạm trù đạo đức hoàn toàn đối lập.
Cùng hành vi khủng bố: địch khủng bố ta là “chính sách khủng bố tàn bạo dã man”; ta khủng bố địch là “giáng những đòn sấm sét từ trong lòng địch”. Cùng hành vi ám sát chính trị: địch ám sát ta là “sát hại hèn hạ”; ta ám sát địch là “tên abc lập tức phải đền tội” – ngôn ngữ của công lý thay vì tội ác. Về viện trợ nước ngoài: ta nhận viện trợ là “tranh thủ sự ủng hộ của dư luận quốc tế và nhân dân tiến bộ thế giới”; địch nhận viện trợ là “liếm gót sắt đế quốc, ăn bơ thừa sữa cặn”.
Về kinh tế và chính trị: địch thu đất đai tài sản là “bóc lột tàn bạo”; ta thu đất đai tài sản là “trưng thu phục vụ cách mạng, đóng góp cho cách mạng”. Địch đàn áp đối thủ chính trị là “phản dân chủ, đàn áp đẫm máu”; ta đàn áp đối thủ chính trị là “chuyên chính vô sản” – không phải đàn áp mà là cơ chế quản trị tất yếu. Địch cải cách kinh tế – xã hội là “bóc lột kiểu mới, mị dân xoa dịu đấu tranh giai cấp”; ta cải cách là “chính sách kinh tế mới” – trung tính, kỹ trị, không mang tải đạo đức tiêu cực.
Trong môi trường kỹ thuật số, nguyên tắc đối xứng tiếp tục được áp dụng: ta kiểm soát nội dung mạng xã hội là “bảo vệ không gian mạng an toàn, lành mạnh”; địch lan truyền thông tin trái chiều là “thế lực thù địch xuyên tạc, tung tin giả gây rối loạn xã hội”.
Các cơ chế ngôn ngữ nền tảng
Nhìn xuyên suốt các cặp đối lập trên, hệ thống vận hành theo bốn cơ chế nhất quán. Chuyển dịch chủ thể hành động – cùng hành động nhưng ta luôn ở thế chủ động, kiểm soát; địch luôn ở thế bị động, hỗn loạn, hoặc phản ứng. Tải đạo đức bất đối xứng – từ ngữ mô tả hành vi của ta mang tải đạo đức dương (dũng cảm, sáng suốt, chính đáng); từ ngữ mô tả cùng hành vi của địch mang tải đạo đức âm (hèn hạ, điên cuồng, tàn bạo). Tái định khung nhân quả – thất bại của ta là bước đệm tất yếu dẫn đến thắng lợi; thất bại của địch là sự sụp đổ tất yếu theo quy luật lịch sử, kết cục không thể tránh khỏi của một chế độ phi nghĩa. Chính danh hóa qua ngôn ngữ lý luận – các hành động có vấn đề về mặt đạo đức được bọc trong khái niệm lý luận (trưng thu, chuyên chính) để tạo khoảng cách với nội hàm thực tế, biến hành động thành phạm trù tư tưởng.