Bài hát đầu lòng nhạc sỹ Diệp Minh Tuyền

Nhạc sỹ Diệp Minh Tuyền trong kháng chiến Chống Mỹ

 * Vũ Ngọc Phương

 Năm 1965, Mỹ mở rộng chiến tranh ném bom phá hoại miền Bắc. Cha Mẹ tôi ( Nhà văn Vũ Ngọc Phan và Nhà thơ Hằng Phương – Lê Hằng Phương, sau này có tên đường phố Hằng Phương Nữ sỹ ở Việt Nam). Tôi lúc đó 14 tuổi, học lớp 8 Hệ phổ thông 10 năm ở miền Bắc lúc bấy giờ, được Cha Mẹ tôi đưa đi sơ tán ở Thôn Mã Cháy, Xã Trung Hòa, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Hà Bắc. Đây là vùng trung du, bán sơn địa tiếp giáp với Thái Nguyên cách một dòng sông Cầu nước xanh trong với hai bờ sông cao ngút tầm mắt.

Một ngày đầu Xuân năm 1965, trời còn se lạnh, tôi theo Cha lên xe Com măng ca sản xuất ở Liên Xô cùng các cô, chú Viện Văn học đi sơ tán. Xe nhỏ, chỗ ngồi chật ních. Xe chạy từ sáng sớm ở 20 Lý Thái Tổ, vượt cầu Long Biên, qua cầu Đuống rồi rẽ sang quốc lộ 3 đi Thái Nguyên. Đường quốc lộ 3 lúc đó chỗ trải nhựa, chỗ chỉ là đường đá sỏi xe chạy qua lạo sạo. Đường chỉ rộng hơn 4 m, còn lại hai bên là đường đất với hai hàng cây Sà cừ cổ thụ rợp bóng che kín đường, thảng hoặc mới có vài khe lọt nắng. Hai bên đường hoang vắng, xa xa trong nắng mờ có bóng lũy tre mấy làng. Gần đến Ga xe lửa Trung Giã mới có vài nhà dân ven đường mở quán bán nước trà tươi, lỏng chỏng trên chõng tre là mấy lọ thủy tinh xanh xám đựng kẹo lạc, kẹo bột. Xe rẽ đường đất đỏ trên Ga Trung Giã bắt đầu xóc nẩy, chạy một hồi nữa thì qua hai làng nhỏ rồi xuống sát ven sông Cầu có ruộng trồng ngô kính đặc. Tất cả xuống xe đi bộ, mỗi người chỉ có một túi xách tay nhỏ nên nối nhau hàng một đi xuống ven sông đang mùa nước cạn lên đò sang bên kia là Thôn Mã Cháy, nơi cả Viện Văn về ở sơ tán trong nhà dân. Đò vào bờ bên kia sông Cầu, một bờ sông dựng đứng cao đến hàng chục mét, đứng dưới nhìn lên bờ sông xanh cỏ cắt ngang một vạch trên nền trời xanh trong lớt phớt những vạch mây trắng. Tôi lội xuống nước sông xanh trong, tay xách túi du lịch, ghé vai cõng Cha lúc đó mặc áo dài tay mầu cỏ úa – Mầu áo Phòng không, quần ka ki ghi, Cha đi đôi dép nhựa Tiền phong được cơ quan cấp, … Đưa Cha lên bờ cát ven sông. Nhờ tập luyện từ hơn 10, tôi đã cao 1,71m, to khỏe hơn nhiều người. Ấn tượng về ngày đầu sơ tán vẫn như ngày hôm qua mỗi khi nhớ về Cha, Mẹ tôi lúc sinh thời.

Lúc mới đến nơi sơ tán, cơ quan bố trí cho hai Cha Con ở nhà của Cụ Hảo, thôn Cây Dung. Từ đường chính đi ngoằn ngèo ngõ nhỏ rộng chừng vừa một con trâu đi, hai bên tường các nhà đắp đất trình. Lối sau nhà Cụ Hảo phải qua một nhà khác rồi đến bờ tre ven đầm nước. Nhà cụ Hảo dựng bằng gỗ xoan, mái lợp ngói ta, ba gian hai chái dựng trên nền đất cao xây bao quanh bằng đá ong. Từ ngoài cổng vào là chuồng trâu, lợn có đặt hai nồi đất nung to để ai đi, về tè lấy nước tưới ruộng mầu. Nhà chính ba gian, hai trái. Tường xây đá ong vữa đất sét. Cả nhà bề ngang khoảng 6m rất nóng mùa hè, lạnh mùa đông.  Gian giữa là gian thờ, hai gian liền bên kê hai gường tre, dát mương đập dập. Phía trước ba gian là mái hiên được chắn vách dại đan bằng tre chẻ tuốt nhỏ ken nhau. Mỗi gian chỉ rộng chừng 2,5m. Hai bên chái nhà thì bên phải nhìn từ trong ra bên phải là nơi ở của hai vợ chồng người con trai cả tên là Tuấn, đã có người vợ xinh nhỏ nhắn nhưng mấy năm chưa có con. Chái nhà bên trái là nơi ở bà vợ Cụ Hảo và đứa con trai út. Cụ Hảo người tầm thước, mặt vuông to, ba chòm râu đã lốm đốm bạc, hay chuyện của người có học thức. Cụ hay ngồi nói chuyện với Cha tôi vào buổi tối hồi mới đến. Sau mấy tháng Cha con tôi lại được cơ quan Viện Văn chuyển sang ở nhờ nhà Cụ Hợp bên xóm Đồng Dãn.

Sau mấy tháng lại chuyển sang ở nhờ nhà Cụ Hợp cũng ở sâu bên bờ đầm rộng, hai bên bờ lau sậy và từng bụi tre già mọc ken nhau, dân vẫn đặt cạm (Bẫy) bắt chồn, chuột,… Ven bờ đầm có đường mòn hẹp vừa một người đi chạy ra đầu xóm có một đường xóm đất đỏ rộng chừng 4m, hai bên đường là dốc đồi được vạt đi xây nhà. Nếu đi từ nhà Cụ Hợp sang thì có nhà người con gái cả của Cụ tên là chị Hợp ở bên trái đường, nhà có sân rộng lát gạch, bao quanh là tường trình đất, sát cổng có một cây Mít cổ thụ quả rất sai và to cỡ thùng nhựa xách nước 20 lít bây giờ. Mít Mật nhưng múi to dài hơn 20cm, vàng ruộm nguyên múi như mít dai, không nát như các loại mít mật thường. Xế bên đường trên vạt đồi cao hơn là một nhà nhỏ lợp rạ dầy, có hai chú cán bộ Viện Văn học ở nhờ nhà chủ một chị có 2 con nhỏ, chồng đi bộ đội. Một chú cao gầy long khòng, mái tóc xõa mồm như hơi móm, răng mọc xiên xẹo hở ra mỗi khi nói, khi cười tên là Diệp Minh Tuyền. Một chú tầm thước, to khỏe tên là Sinh (Tôi không biết họ và tên đệm của Chú). Cả hai chú đều là học sinh miền Nam tập kết ra Bắc được đi học khoa Văn trường Đại học Lômnoxop, Liên Xô rồi về làm ở Tổ Cổ, Cận, Dân gian do Cha tôi phụ trách. Sau 1970, chuyên Ngành dân gian tách ra thành Viên Dân gian, còn Cổ – Cận đổi thành Ban Nghiên cứu lý luận thuộc Viện Văn học

Tôi nhớ chú Diệp Minh Tuyền có một cây đàn guitar gỗ, hàng ngày sau giờ làm chú lại ôm đàn vừa gẩy, vừa lẩm bẩm gì đó. Tôi thích nhạc, thích hát nên chiều tối hay sang ngồi ngoài sân đất nện nghe Chú Diệp Minh Tuyền đàn, hát. Tôi nhớ sau nghỉ hè sang nghe Chú đàn thì chợt Chú bảo: “ Này nhỏ, tau mới làm bài hát, hát nghe coi”. Rồi chú hát, sau chú hay hát nhiều lần bài này thành ra tôi cũng thuộc. Lời bài ca như vầy:

Như có lời hẹn trước,

Mỗi mùa xuân én về,

Đến trường em xây tổ

Trên cửa sổ sau hè.

 

Năm nay én lại về,

Cả buổi chiều ngẩn ngơ

Tìm hoài mái trường cũ

Trên nền gạch trơ vơ

 

Én ơi Én đừng sợ

Trường xưa Mỹ phá rồi

Trường ta giờ lại mở

Dưới lùm cây ven đồi

 

Én đến đây cho vui

Én cứ về xây tổ

Đã có anh bộ đội

Ở trên đồi Én ơi!

Không nhớ là tên bài hát có phải là “ Bài ca chim Én” không? Nhưng lời bài hát, giai điệu, tiết tấu hơi buồn cứ theo tôi suốt chặng đời. Sau này được nghe những ca khúc của chú Diệp Minh Tuyền viết ở miền Nam thời Chống Mỹ và sau 1975 thường có giai điệu dù rộn rang vẫn có tiết tấu trầm buồn, da diết. Bài hát này, theo Chú Diệp Minh Tuyền viết cả lời và nhạc tâm sự:

“ Thật là bài hát  đầu lòng,..” đã mất nhiều tháng mới được.

Tôi còn nhớ một đêm trăng suông, hai chú cháu ngồi ngoài sân nghe chú hát đệm đàn, nghe xong tôi bảo: “ Giờ có vẻ vần điệu rồi”. Chú Diệp Minh Tuyền cười trếu tráo: “ Bài này thật là bài hát. Thằng nhỏ này nói như Ông Cụ vậy nghen”

 

Thời đó thiếu đói một tuần ăn đến 5, 6 ngày ngô xay ngâm nước vôi cho nở rồi bung 3 chảo to. Đến chủ nhật được “ Ăn Tươi” là cơm độn khoai với canh rau muống. Cha tôi gửi tôi ở trên sơ tán cùng Viện Văn học. Bếp ăn tập thể của Viện được dựng 5 gian nhà khung cột, vì kèo bằng luồng, mái lợp tranh ở ngoài bãi đất trống ven xóm bên đầm nước trông sang bên kia đầm là nhà Cụ Hảo tôi ở đầu tiên. Giữa gian nhà ăn có một bàn gỗ to để đánh bong bàn sau khi ăn, đấy là cách giải trí duy nhất lúc bấy giờ nên gần như tất cả cán bộ Viện đều tham gia. Tôi cũng được chơi ghé nhưng kém, người hay chơi bóng với tôi nhất là Chú Hồ Sinh Nhật, to khỏe, người miền Trung, bị thương mất bàn tay phải trong kháng chiến Chống Pháp ở Nam bộ và Chú Đặng văn Lung người nhỏ, nhanh nhẹn. Một chú không tham gia đánh bong nhưng hay xem cổ vũ là Chú Ngọc Anh, người gầy cao dong dỏng, da trắng xanh, đầu năm 1965 xung phong đi B (miền Nam) rồi hy sinh ở Tây Nguyên trong lúc đổ dầu vào đèn măng xong,… Cha tôi nghe tin cứ phàn nàn mãi vì mất một người tài năng nghiên cứu Văn học Dân gian khi nói chuyện với các Cán bộ Viện Văn.

Không biết kiếm đâu, Chú Diệp Minh Tuyền có được khoảng 0,5 Kg gạo nếp, chú Sinh có mấy lạng đậu xanh nguyên hột chưa xay. Tối thứ 7, các chú giao tôi về nấu xôi để sáng chủ nhật 3 chú cháu ăn. Tôi mang về nhà Cụ Hợp mượn nồi nấu, nhưng dốt không biết đậu xanh phải xay ra mới chính thành ra gạo thì chín nhưng đậu xanh rắn câng câng khi mang sang nhà hai chú không ăn được. Chú Sinh giận mắng tôi, Chú Diệp Minh Tuyền can: “ Nó không biết, thôi ta nghiền ra nấu cháo”. Bữa cháo nghiền ấy còn ít đường cát (Đường Đỏ), Chú Diệp Minh Tuyền đem cả ra đổ vào nồi cháo, tôi ngồi ăn cùng mà thấy đắng ngắt.

Cuối năm, cả hai Chú Diệp Minh Tuyền và Chú Sinh về Hà Nội tập huấn đi B. Cũng thời gian đó có Đoàn Quân y đến trường Phổ thông tôi học sơ tán khám tuyển “ Binh chủng Đặc biệt” cả trường có mình tôi trúng tuyển được đưa về khám ở Quân y Viện 108 lại qua được hết các vòng khám. Sau mới biết năm đó cả tỉnh Hà Bắc có mỗi mình tôi trúng tuyển khám “ Binh chủng Đặc biệt” chính là tuyển Phi công chiến đấu.

Mẹ tôi, Nhà thơ Hằng Phương ( Hằng Phương Nữ sỹ ) nhân viết bài thơ Vui Ngày Kỷ Niệm 25-12-1965 có nhắc việc này:

VUI NGÀY KỶ NIỆM

 

Hôm nay, vui kỷ niệm

Ngày cưới bốn mươi năm

Đầu đôi ta đều bạc

Đất nước rạng màu xuân.

 

Tóc chấm vai ngày ấy

Em đã về với anh

Như đôi chim vụng dại

Giữa cuộc sống chênh vênh.

 

Rồi con thơ bận bịu

Gạo chợ ngày càng cao

Mái nhà thưa gió lọt

Người viết, bóng đèn chao.

 

Mùa thu Cách mạng đến

Căn nhà nhỏ sáng trưng

Bút mừng được giải phóng

Con vui vẻ đến trường.

 

Con lớn đi bộ đội

Pháp thua trận Điện Biên

Qua chín năm kháng chiến

Mới lại có hoà bình.

 

Từ núi rừng chiến thắng

Về thăm lại vườn xưa

Giặc đốt nhà cháy trụi

Trơ nền cũ nắng mưa.

 

Rồi đến ngày chống Mỹ

Con út tuổi nên người

Mơ Đảng cho đôi cánh

Được diệt giặc trên trời…

 

Một mai đây thống nhất

Về quê cũ Quảng Nam

Thăm bà con cô bác

Thăm lại gốc mai vàng.

 

Dù cho giặc tàn phá

Đất dưới chân vẫn còn

Quê nội và quê ngoại

Vẫn một lòng thắm son.

 

Trải hai lần kháng chiến

Gian khổ có nhau cùng

Tóc bạc như xanh lại

Màu tươi mới non sông.

Đầu những năm 80/ Thế kỷ XX, khi vừa bước vào tuổi 30, tôi được các Chú, các Bác Thời đại Hồ chí Minh chọn cho đi đào tạo, sau về tham gia Công tác Đặc biệt thời kỳ 1980 – 1995, sau rồi lại tiếp những việc lo toan vừa xã hội, vừa gia đình. Nhiều lần vào Thành phố Hồ Chí Minh xong việc lại lên đường, biết Chú Diệp Minh Tuyền thường có nhiều ca khúc, thơ,… Đăng báo nhưng lần lữa không sao gặp lại được Chú. Tôi cũng có hỏi những cán bộ làm ở Ban Thống Nhất trước năm 1975, sau vẫn tiếp tục làm công tác chính sách cho Cán bộ đi B thời Chống Mỹ nhưng không ai biết chú Sinh cán bộ Viện Văn học đi B là ai, có thể khi đi đã đổi tên khác, và Chú Sinh đã hòa lẫn vào nghìn vạn cán bộ, chiến sỹ, đồng bào đã chiến đấu, hy sinh vì Độc lập – Tự do của Tổ quốc.

Hà Nội, ngày 06 tháng 06 năm 2023

 

_________________________________

* Hiện là Chủ Tịch Trung ương Hội Khoa học phát triển nguồn Nhân Lực – Nhân Tài Việt Nam qua các Kỳ Đại hội toàn quốc 2012 – 2027.

One thought on “Bài hát đầu lòng nhạc sỹ Diệp Minh Tuyền

Bình luận về bài viết này