Về sự khởi đầu của Đàng Trong, những khuất khúc và kiến giải

dokimtruong_nguyenhoangbuoidau

Chúa Nguyễn Hoàng (1525 – 1613)

Hoàng Cương

Nhóm Nghiên cứu lịch sử

Năm 1558 Nguyễn Hoàng được cử đi trấn xứ Thuận Hóa.

Về sự kiện này, người ta thường nói tới vai trò của Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Hoàng, Ngọc Bảo, vai trò chủ thể của Trịnh Kiểm lại trở nên bị động. Đó là sự hời hợt trong nhận thức.

Thời điểm đó Trịnh Kiểm đang chuẩn bị ra đánh lâu dài ở phía Bắc, xảy ra từ 1559 đến 1561, Nguyễn Hoàng lại dẫn theo những bộ khúc đi về phía Nam (1), có thể cho chúng ta nhận định đó là giải pháp đẩy Nguyễn Hoàng và lực lượng thân cận ra khỏi vùng đất căn bản để tránh khả năng gây biến. Mặt khác, nhà Mạc khá mạnh về thủy quân, có khả năng tấn công Thuận Hóa bằng đường thủy, nên cũng có thể Trịnh Kiểm muốn mượn tay đối phương để trừ bỏ Nguyễn Hoàng.

Đối chiếu khu vực Thuận Hóa trên bản đồ và về quá trình hiện diện đã nhiều thế kỷ của người Việt thì ở giai đoạn này việc đi Thuận Hóa không còn mang tính chất đi mở mang khai phá gì nữa cả, mà đơn giản chỉ là trấn nhậm. Quảng Nam, trấn cực nam ở thời điểm đó, mới là địa bàn có khả năng mở rộng.

Năm 1570 Nguyễn Hoàng được Trịnh Kiểm giao kiêm quản trấn Quảng Nam, đây mới là điều kiện để thực hiện việc nam tiến(2). Cột mốc 1570, chứ không phải 1558, mới phù hợp hơn để gắn vào công cuộc mở cõi của các chúa Nguyễn.

Khó mà lý giải cho quyết định này nếu không có việc Trịnh Kiểm ngầm sai ba anh em Mỹ Lương, Văn Lan, Nghĩa Sơn, thế lực được họ Trịnh sủng ái tại Thuận Hóa, đánh úp Nguyễn Hoàng (3). Nghĩa là bề ngoài giả bộ tin tưởng và ưu ái, nhưng lại có phương án trừ bỏ. Cách làm này không phải là hiếm, trường hợp Trịnh Tùng xử lý viên tướng Lê Cập Đệ vào năm 1572 là một ví dụ (4).

Theo bức thư Trịnh Tùng gửi trách Nguyễn Hoàng năm 1600: “Nhiều lần gửi thư giục cậu đốc thu tiền thuế, vận tải lương thực để giúp việc chi dùng của nước, cậu thường lấy cớ đường biển gian hiểm mà từ. Đến khi kinh thành đã lấy lại, thiên hạ đã yên, cậu mới ung dung theo đạo nghĩa… ” (9), thì rõ ràng Nguyễn Hoàng đã có biểu hiện bất tuân lệnh. Trước đó, năm 1586 Trịnh Tùng đã cử Hiến sát sứ Nguyễn Tạo vào đo khám ruộng để thu thuế, Nguyễn Hoàng đã mua chuộc và thu phục Nguyễn Tạo khiến việc kê khai chỉ diễn ra đại khái, muốn kê sao cũng được, rồi lại rút bớt đi phân nửa.

Như vậy, cục diện phân chia thực tế đã hình thành với việc Nguyễn Hoàng được trấn thủ toàn bộ phần lãnh thổ phía nam dãy Hoành Sơn, cái chết của Trịnh Kiểm năm 1570, với sự phá sản kế hoạch của Trịnh Kiểm.

Điều này có vẻ mâu thuẫn với sự an toàn của Nguyễn Hoàng khi ra Bắc năm 1593, mà theo lý lẽ thì có thể đủ khép tội. Ít nhất thì Trịnh Tùng cũng có thể lấy việc thuyên chuyển để cử người thân tín vào cai quản Thuận Quảng, coi như cắt hẳn hậu phương của người cậu nguy hiểm. Chỉ nhìn tập trung vào Nguyễn Hoàng thì đây là điều không thể giải thích, nếu người ta không chú ý tới vai trò của Nguyễn Phúc Nguyên.

Nguyễn Phúc Nguyên sinh năm 1563. Năm 1585 đã chứng tỏ khả năng khi cầm quân đánh tan một đội thuyền ngoại quốc, được đặc biệt khen ngợi. Năm 1593 khi Nguyễn Hoàng cùng bốn người con ra bắc thì Nguyễn Phúc Nguyên chính là người nắm giữ căn cứ. Điều này nên được nhìn nhận là điểm mấu chốt cho sự an toàn của Nguyễn Hoàng, người đã cùng bốn con trai phần nào đó đóng vai trò con tin. Thời gian này Trịnh Tùng vẫn phải tập trung đánh dẹp ở phía bắc nên hai bên đều có lý do để kéo dài sự hòa hoãn.

Đại Việt Sử Ký Toàn Thư cũng cho biết là đến tháng 5 năm 1593 Nguyễn Hoàng ra bắc mới đem sổ sách về binh lương, tiền lụa, vàng bạc, châu báu, kho tàng của hai trấn Thuận Hóa Quảng Nam dâng nộp (10). Như vậy là trước đó thì giữ làm của riêng. Sự thất bại của nhà Mạc đã khiến lực lượng Nguyễn Hoàng có nguy cơ sẽ là đối tượng tiếp theo của họ Trịnh, đó mới có thể là lý do cho việc phải ra bắc và thay đổi cách hành xử.

Nếu chỉ căn cứ trên sử sách chính thống thì vẫn khó lý giải là việc Nguyễn Hoàng dám thoái thác hỗ trợ nhà Lê trong giai đoạn chiến tranh với nhà Mạc. Tuy nhiên, có những chứng cứ để cho rằng các nhà chép sử thời Nguyễn đã chép sai nhiều sự thật.

Có những chứng cứ về một sự liên kết giữa Nguyễn Hoàng và phía nhà Mạc, lý do đủ khiến Nguyễn Hoàng có thể tự tin.

Thứ nhất là sự xuất hiện của nhân vật Mạc Thị Giai, con gái của phụ chính Mạc Kính Điển bên phía nhà Mạc, vợ chính của Nguyễn Phúc Nguyên.

Theo sử nhà Nguyễn thì bà sinh năm 1578 và vào Thuận Hóa năm 15 tuổi, tức là sau khi nhà Mạc mất Thăng Long (11).

Theo sách Đại Việt Sử Ký Toàn Thư thì Mạc Kính Điển có chín người con gái. Thời điểm Mạc Kính Điển chết, năm 1580, thì chỉ có người con gái nhỏ nhất, mới ba tuổi là chưa được phong hiệu. Các ghi nhận của nhà Lê về Mạc Kính Điển có lẽ chính xác vì vai trò to lớn của Mạc Kính Điển và vì năm 1580 bên phía nhà Lê Trung Hưng đã là một triều đình ổn định với đủ ban văn võ nên có điều kiện để theo dõi và ghi chép. Vậy theo sử nhà Nguyễn thì người con gái út ba tuổi đó phải là Mạc Thị Giai, theo cách tính tuổi của thời xưa người sinh năm 1578 sẽ là ba tuổi vào năm 1580.

Tuy nhiên Mạc Thị Giai còn có một người em gái tên là Mạc Thị Lâu, cũng vào Thuận Hóa và về sau lấy một vị quốc sư ở Đàng Trong là Võ Quới Công (12), như vậy người con gái của Mạc Kính Điển vào Thuận Hóa khi sau khi nhà Mạc thất bại phải là Mạc Thị Lâu. Bộ sử Đại Nam thực lục cũng ghi nhận Mạc Thị Giai là con gái trưởng của Mạc Kính Điển (13), vậy đã khá lớn tuổi ở thời điểm sau năm 1592 nên không thể đến thời điểm đó bà mới trở thành vợ của Nguyễn Phúc Nguyên, vị tiềm chúa mà lúc đó cũng đã trên ba mươi tuổi nên khả năng chưa lập chính thất là rất khó xảy ra. Chi tiết Mạc Thị Giai là sinh năm 1578 và lấy Nguyễn Phúc Nguyên sau năm 1592 tất phải là sự chép lùi thời điểm một cách cố ý, tức là cuộc kết hợp này vốn xảy ra trước khi nhà Mạc thất bại.

Như vậy con gái của Mạc Kính Điển lấy con trai Nguyễn Hoàng ở thời điểm vẫn còn phân tranh Lê-Mạc. Thời điểm có lẽ trước năm 1580, vào giai đoạn Mạc Kính Điển còn sống, nếu căn cứ trên năm sinh của Nguyễn Phúc Nguyên là 1563 và độ tuổi lập gia thất hồi xưa là khoảng 15-16 tuổi. Bản lý lịch của Mạc Thị Giai chắc hẳn đã bị sử gia triều Nguyễn nhập nhèm với người em gái Mạc Thị Lâu về tuổi và thời gian vào Thuận Hóa.

Thứ hai là sự xuất hiện của Mạc Cảnh Huống, em của tổng súy Mạc Kính Điển, bên cạnh Nguyễn Hoàng. Hai người này trở thành anh em cọc chèo (13), và Mạc Cảnh Huống được ghi nhận là một trong ba công thần khai quốc của Đàng Trong (14). Thân phận thực của Mạc Cảnh Huống có lẽ đã không bị phát hiện bởi phía nhà Lê nên không có sự ghi nhận. Sử nhà Nguyễn chép Mạc Cảnh Huống vào Thuận Hóa theo Nguyễn Hoàng năm 1558 và được liệt kê cùng với Thái phó Nguyễn Ư Dĩ, cậu ruột của Nguyễn Hoàng, với Luân quận công Tống Phước Trị (15), người đồng hương và là tiền nhiệm sau đó ở lại phụ tá, góp công hàng đầu trong việc mở mang khai phá. Về mặt thời điểm có vẻ thiếu hợp lý, bởi lúc đó ông còn trẻ, lại chưa có danh vọng gì ở phía bắc thì không thể có ngay vị trí quan trọng ngang hàng với Thái phó và Luân quận công được. Mặt khác, khó có thể nhìn thấy cơ hội cho Nguyễn Hoàng ở thời điểm năm 1558 để một hoàng tử nhà Mạc đi theo.

Thời gian Mạc Cảnh Huống vào Thuận Hóa là năm 1568, theo bản gia phả dòng họ từ lâu được giới nghiên cứu biết đến. Ghi chép này có vẻ hợp lý hơn (16). Ông đóng làm tới chức thống binh và còn là người tham mưu trong màn trướng, như vậy vai trò của Mạc Cảnh Huống là về mặt quân sự.

Mạc Cảnh Huống lấy Nguyễn Thị Ngọc Dương, dì ruột Nguyễn Phúc Nguyên. Từ nhỏ vị tiềm chúa đã là con nuôi của cặp vợ chồng này(17). Người cháu gái là Mạc Thị Giai, con gái trưởng của Mạc Kính Điển, lấy Nguyễn Phúc Nguyên. Con trai trưởng của Mạc Cảnh Huống là Mạc Cảnh Vinh về sau cũng phò tá đắc lực cho Nguyễn Phúc Nguyên, năm 1629 ông đánh dẹp loạn ở Phú Yên, giúp lập nên dinh Trấn Biên, vì có công lao ấy nên được đặc cách cho dùng ấn son. Sử nhà Nguyễn đã hoàn toàn không đề cập đến nguyên nhân Mạc Cảnh Huống theo giúp chúa Nguyễn (18).

Với việc hai người thân của phụ chính Mạc Kính Điển vào nam và có địa vị quan trọng ở Đàng Trong, có thể xác định rằng hai bên đã có mối liên kết, đã có nguồn hỗ trợ từ nhà Mạc. Đó chính là cơ sở quan trọng để Nguyễn Hoàng quyết tâm tạo dựng Đàng Trong.

Điều củng cố cho diễn giải trên là nhà Mạc không cất đại binh tấn công Đàng Trong.

Có một cuộc tấn công quy mô nhỏ của tướng Lập Bạo bên phía nhà Mạc được chép là vào năm 1572 với 60 chiếc thuyền(19). Về việc này sử chép khá thiếu hợp lý khi cho rằng Lập Bạo chỉ dẫn 60 chiếc thuyền mà cũng uy hiếp được hai trấn Thuận Quảng là thiếu cơ sở thực tế. Đây có thể là một câu chuyện được dựng lên hoặc chỉnh sửa. Một cuộc tấn công của nhà Mạc được lực lượng Thuận Quảng của Nguyễn Hoàng đến mức phải cầu đến thần linh trợ giúp (20). Theo sách Nam Triều Công Nghiệp Diễn Chí thì cuộc tấn công xảy ra khi Nguyễn Hoàng vừa mới vào Thuận Hóa, lực lượng còn yếu, chứ không phải khi đã kiêm quản cả hai trấn.

Sau khi nhà Mạc thất bại thì sự liên kết này hiển nhiên không còn giá trị lợi dụng. Việc thừa nhận nó không những không còn cần thiết mà còn có chỗ bất lợi cho họ Nguyễn, đó là phải thừa nhận sự lắt léo của công cuộc phò Lê, điều mà vẫn còn giá trị lợi dụng. Có thể vì thế mà sử gia nhà Nguyễn coi đó là một chương cần phải cắt bỏ, dẫn tới sự mâu thuẫn khó giải thích của lịch sử.

Về lời tiên tri của Nguyễn Bỉnh Khiêm.

Như đề cập ở phần đầu của bài này thì Nguyễn Bỉnh Khiêm có lẽ không có vai trò gì trong sự kiện năm 1558. Theo sách Nam Triều Công Nghiệp Diễn Chí thì lời tư vấn của Nguyễn Bỉnh Khiêm dành cho Nguyễn Hoàng là vào năm 1600, lúc Nguyễn Hoàng đang lâm vào thế bí ở đất bắc (21). Trên thực tế thời điểm đó Nguyễn Bỉnh Khiêm chết đã 15 năm rồi nên câu chuyện nếu có thì cũng sai về thời điểm. Sử gia đã không giải thích hợp lý bối cảnh giai thoại “Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân”.

Liệu có cách giải thích nào hợp lý?

Có một thực tế là nhiều câu chuyện mang vẻ huyền bí thường được dựng nên để phục vụ ý đồ của một số người. Chẳng hạn câu “Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân” được đồn thổi giữa bối cảnh Đàng Ngoài đang loạn lạc sẽ có tác dụng rất lớn lôi kéo dân chúng di cư vào Đàng Trong, phục vụ cho lợi ích chúa Nguyễn.

Cơ sở của câu chuyện này, nếu có, thì phải dựa trên hai yếu tố thực tế.

Một là, sự mô tả Nguyễn Bỉnh Khiêm là một nhân vật đứng trung gian trong cuộc tranh chấp, là không đúng. Nếu một trí thức thuộc hàng biểu tượng, sống ở đất Bắc, mà lại có thái độ như thế thì nhà Mạc không có lý do để giữ được Thăng Long đến 65 năm trước sức tấn công bền bỉ từ phía Thanh Nghệ. Nếu xem xét kỹ trước tác của Nguyễn Bỉnh Khiêm, về những lời của vua Mạc Mậu Hợp và Sách Quốc công Giáp Hải dành cho ông thì rõ ràng Nguyễn Bỉnh Khiêm đứng hẳn về phía nhà Mạc và có thời gian phục vụ triều Mạc khá dài chứ không chỉ có tám năm như nhiều ý kiến về sau(22).

Hai là Nguyễn Ư Dĩ vốn là người Hải Dương, tức là đồng hương với Nguyễn Bỉnh Khiêm. Nguyễn Hoàng, vì vậy là người có một phần liên hệ thân thiết ở phía bắc, triều Nguyễn về sau đã cho lập đền thờ Nguyễn Minh Biện, ông ngoại của Nguyễn Hoàng, ở Tứ Kỳ và phong là trung đẳng thần (23). Lại có những người từ vùng Cổ Trai của nhà Mạc vào lập làng Cổ Trai ở Quảng Trị vào khoảng những năm 1560, họ còn lập nên chùa Lam Sơn mà Mạc Cảnh Huống và Mạc Thị Giai đã ở đó trước khi gặp cha con Nguyễn Hoàng (theo khảo cứu của L. Cadière trong bài viết “Về bà vợ của Sãi Vương “) (24). Như vậy sự tiếp cận lẫn nhau giữa phe Nguyễn Hoàng với phe nhà Mạc là khả thi, dẫn tới những liên hệ phát sinh.

Có thể những hoạt động của Mạc Cảnh Huống, Mạc Thị Giai cùng với lời mách nước của Nguyễn Bỉnh Khiêm dành cho Nguyễn Hoàng là nằm trong cùng một kế hoạch. Việc Mạc Cảnh Huống vào giúp Nguyễn Hoàng xảy ra trước năm 1570 cho thấy đã sớm có sự liên hệ giữa hai bên. Một khả năng rất thực tế là nhà Mạc đã đưa ra kế hoạch lôi kéo thuyết phục được Nguyễn Hoàng lập cõi riêng ở phương Nam bằng việc thu lấy trấn Quảng Nam, nếu không thuyết phục được Trịnh Kiểm giao cho thì vẫn sẽ đoạt lấy bằng vũ lực. Sự yểm trợ bằng thủy quân, thế mạnh của nhà Mạc, có thể giúp Nguyễn Hoàng chiếm và giữ được Thuận Quảng. Nếu quả thực có câu mách nước “Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân” của Nguyễn Bỉnh Khiêm dành cho Nguyễn Hoàng thì đặt trong thời điểm này là thích hợp nhất.

Có lẽ Trịnh Kiểm đã cảnh giác nên tuy vẫn giả vờ giao cho Nguyễn Hoàng nhưng lại ngầm trừ bỏ, tính toán đó đã bị nắm bắt bởi người cơ trí hơn nên kế hoạch bị phá sản.

Những lý giải trên đây rõ ràng có tính thực tế hơn so với những ghi chép được thể hiện bởi sử quan nhà Nguyễn vào thế kỷ 19 và được thừa nhận cho đến nay.

Đối với trường hợp được cho là mách nước cho Trịnh Kiểm câu “giữ chùa thì ăn oản” lại càng thiếu cơ sở. Nguyễn Bỉnh Khiêm rõ ràng coi thế lực phía nam là nghịch tặc (xem chú thích 22). Ông cũng từng có lời khuyên Nguyễn Thiến bỏ Lê để về Mạc (25). Ông có sáu con trai phục vụ triều Mạc, những người này phải trốn tránh khi nhà Mạc thất bại, có người phải đổi ra họ Giang và con cháu giữ họ này đến nay. Vì vậy Trịnh Kiểm không thể cho người đi vấn kế Nguyễn Bỉnh Khiêm được.

Những huyền thoại bao quanh nhân vật Nguyễn Bỉnh Khiêm là rất phong phú và không ngừng được chắp nối và lý giải thêm. Việc đưa vào văn bản được biết chỉ mới bắt đầu từ cuốn sách “Nam Triều Công Nghiệp Diễn Chí” của Bảng trung hầu Nguyễn Khoa Chiêm, vào năm 1719 ở Đàng Trong với câu “Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân”, sau đó mới đến sách “Công Dư Tiệp Ký” của Vũ Phương Đề ở Đàng Ngoài năm 1755, chép những giai thoại mà sau này được đặt tên là “phiến ngữ toàn tam tính”, rồi đến nay thì ngay cả những cuốn sách lịch sử mang tính hàn lâm cũng đưa vào.

Có những lý do có thể là nguyên nhân cho hiện tượng này.Bàn thêm về hiện tượng Nguyễn Bỉnh Khiêm.Việc coi Nguyễn Bỉnh Khiêm tư vấn cho nhà Mạc lên Cao Bằng và cho Trịnh Kiểm giữ nhà Lê thì thiếu cơ sở thực tế.

Không có chứng cứ là sau thất bại ở Thăng Long thì nhà Mạc rút thẳng lên Cao Bằng. Ban đầu các lực lượng nhà Mạc hoạt động mạnh ở vùng Hải Dương và Quảng Ninh, về sau thất bại mới phải lùi dần lên khu vực miền núi hiểm trở. Cao Bằng rõ ràng là vùng phù hợp nhất vì vừa rộng, vừa hiểm yếu lại giáp biên giới nên dễ lẩn tránh khi bất lợi. Không thể nói rằng phải có con mắt chiến lược Nguyễn Bỉnh Khiêm mới nhìn ra.

Thứ nhất, vốn Nguyễn Bỉnh Khiêm là một nhân vật nổi bật của thời đại, ông lại là một nhà nghiên cứu về dịch lý và có tuổi thọ đến gần 100 năm, là điều rất hiếm. Đương thời ông đã được coi là một vị tiên nơi hạ giới (Giáp Hải gọi ông là thế thượng tiên). Vì vậy những huyền thoại quanh Nguyễn Bỉnh Khiêm có lẽ đã phát sinh để đáp ứng nhu cầu tin vào những điều huyền bí con người.

Thứ hai, là việc xây dựng huyền thoại trong trường hợp này có thể phục vụ cho mục đích của một số bên.

Những người hành nghề bằng huyền môn giải thích sấm ký để trục lợi.

Thế lực cai trị cũng có động cơ tẩy não dân chúng bằng việc gán nhà Lê thành hình tượng một ngôi chùa cần phải giữ, theo ý trời, qua đó giúp họ cơ sở kéo dài sự tồn tại của chế độ mãi mãi.

Qua việc xây dựng một hình ảnh Nguyễn Bỉnh Khiêm thành người không trung thành với nhà Mạc, họ còn đạt được mục đích hạ thấp kẻ thù.

Họ Nguyễn ở phương nam cũng có lợi ích xây dựng chính danh, mà việc mượn nhà huyền học Nguyễn Bỉnh Khiêm để gán vào một câu nói mang ý nghĩa thiên mệnh cho dòng họ mình là một cách rất hiệu quả.

Và như đề cập ở trên, thì khái niệm dung thân, đáng mơ ước đối với dân chúng thời loạn lạc, chắc chắn có tác dụng rất hiệu quả lôi kéo dân chúng Đàng Ngoài đi vào Đàng Trong. Vì thế chúa Nguyễn có động cơ để quảng bá lời được cho là tiên tri này.

Câu chuyện Nguyễn Bỉnh Khiêm là một minh chứng cho sự hời hợt về nhận thức lịch sử của số đông người Việt, điều đó cũng tạo ra một địa hạt màu mỡ cho những câu chuyện được kể theo cách đầy sự tính toán.

Những phân tích như trên về Nguyễn Bỉnh Khiêm không phải nhằm phủ nhận việc ông được cho là muốn mở rộng không gian sống cho người Việt về phía Nam. Việc một cá nhân vừa phục vụ chế độ vừa tìm cách đem lại lợi ích lâu dài cho dân chúng không phải là điều mâu thuẫn.

Nhận thức là một quá trình luôn vận động, qua đó những nhận thức sai lệch sẽ dần bị đào thải, để đi đến sự tường minh.

Việc tìm kiếm những tường minh về lịch sử là cần thiết cho sự trưởng thành. Tác giả mong nhận được ý kiến phản biện, trao đổi.

 


 

Nguồn tham khảo, trích dẫn, chú thích: 

1. Đại Việt sử ký toàn thư, bản dịch Cao Huy Giu, Đào Duy Anh hiệu đính và khảo chứng, Nxb Thời Đại, xb 2013, từ trang 845 đến trang 848.

Về việc Nguyễn Hoàng dẫn theo bộ khúc và những người đồng hương đi theo thì các sách Đại Nam Thực Lục tiền biên và Đại Nam liệt truyện đều có ghi nhận. Nguyễn Ư Dĩ là cậu ruột Nguyễn Hoàng, theo Đại Nam Liệt Truyện thì ông này từng được nhà Lê phong thái phó, cũng đi theo Nguyễn Hoàng trong đợt này.

2.  Đại Việt sử ký toàn thư, bản dịch Cao Huy Giu, Đào Duy Anh hiệu đính và khảo chứng, Nxb Thời Đại, xb 2013, tr845. Tháng 10 năm 1558 Thái sư Trịnh Kiểm vào chầu, dâng biểu tâu xin cho Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa, cùng phối hợp với Trấn quận công ở Quảng Nam để phòng thủ, phàm công việc ở địa phương không cứ lớn nhỏ và các ngạch thuế, nhất thiết giao cho, hàng năm đến kỳ thu nộp.

3. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, bản dịch Nguyễn Ngọc Tỉnh, Nxb Giáo Dục, xb 2002, tr 29,30

Nguyễn Khoa Chiêm, 1719, Nam Triều công nghiệp diễn chí, bản dịch Ngô Đức Thọ, Nguyễn Thúy Nga, Nxb KHXH, xb2016, tr 33,34,35

4. Đại Việt sử ký toàn thư, bản dịch Cao Huy Giu, Đào Duy Anh hiệu đính và khảo chứng, Nxb Thời Đại, xb 2013, tr 859, 860

5. Đại Việt sử ký toàn thư, bản dịch Cao Huy Giu, Đào Duy Anh hiệu đính và khảo chứng, Nxb Thời Đại, xb 2013, tr 858

Lê Qúy Đôn, Đại Việt thông sử, bản dịch Ngô Thế Long, ghi chép tương tự.

6. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, bản dịch Nguyễn Ngọc Tỉnh, Nxb Giáo Dục, xb 2002, tr 29,30

Nguyễn Khoa Chiêm, 1719, Nam Triều công nghiệp diễn chí, bản dịch Ngô Đức Thọ, Nguyễn Thúy Nga, Nxb KHXH, xb2016, tr 33,34,35

7. Quốc sử quán triều Nguyễn, Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, bản dịch Viện sử học, Nxb Giáo Dục, xb 1998, tr 655
8. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, bản dịch Nguyễn Ngọc Tỉnh, Nxb Giáo Dục, xb 2002, tr 32
9. Đại Việt sử ký toàn thư, bản dịch Cao Huy Giu, Đào Duy Anh hiệu đính và khảo chứng, Nxb Thời Đại, xb 2013, tr 914
10. Đại Việt sử ký toàn thư, bản dịch Cao Huy Giu, Đào Duy Anh hiệu đính và khảo chứng, Nxb Thời Đại, xb 2013, tr 890
11. Quốc sử quán triều, Nguyễn, Đại Nam thực lục, bản dịch Nguyễn Ngọc Tỉnh, Nxb Giáo Dục, xb 2002, tr 47 chép bà là con gái cả của Mạc Kính Điển, vợ cả của chúa Nguyễn Phúc Nguyên, bà mất năm 1630, thọ 53 tuổi. 
Nguyễn Phúc Tộc Thế Phả ghi rõ bà sinh năm Mậu Dần (1578) 

 Nguyễn Đức Minh, Lăng mộ bà Mạc Thị Giai,  http://vanhoaquangnamonline.gov.vn/bao-ton-bao-tang/lang-mo-ba-mac-thi-giai.html

Nguyễn Phước Tương, Hoàng hậu Mạc Thị Giai, https://mactrieu.vn/hoa-ng-ha-u-ma-c-thi-giai
14. 15. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, bản dịch Nguyễn Ngọc Tỉnh, Nxb Giáo Dục, xb 2002, tr 29,30
 Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam liệt truyện, bản dịch Đào Mộng Khương, Nxb Thuận Hóa, xb 2006, phần Truyện các bề tôi – Mạc Cảnh Huống 
16.  https://vi.wikipedia.org/wiki/M%E1%BA%A1c_Th%E1%BB%8B_Giai
 Nguyễn Đức Minh, Lăng mộ bà Mạc Thị Giai,  http://vanhoaquangnamonline.gov.vn/bao-ton-bao-tang/lang-mo-ba-mac-thi-giai.html
Nguyễn Phước Tương, Hoàng hậu Mạc Thị Giai, https://mactrieu.vn/hoa-ng-ha-u-ma-c-thi-giai
17.18. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam liệt truyện, bản dịch Đào Mộng Khương, Nxb Thuận Hóa, xb 2006, phần Truyện các bề tôi – Mạc Cảnh Huống 
19. 20. Các sách Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Nam thực lục,  Đại Nam liệt truyện có ghi sự kiện này.
21. Nguyễn Khoa Chiêm, 1719, Nam Triều công nghiệp diễn chí, bản dịch Ngô Đức Thọ, Nguyễn Thúy Nga, Nxb KHXH, xb2016, tr 65
22.Theo Trần Khuê, Nghiên cứu và tranh luận, Nxb KHXH, 1996, phần Cần hiểu đúng Nguyễn Bỉnh Khiêm & Vương triều Mạc):

“Một hệ thống luận cứ hiện thực và lịch sử chứng minh rằng Nguyễn Bỉnh Khiêm không hề có những mâu thuẫn kiểu đó. Ông không hề đứng trên các tập đoàn phong kiến mà dứt khoát đứng về một phía: tập đoàn nhà Mạc. Ông không hề phản đối chiến tranh chung chung mà phản đối những kẻ gây ra chiến tranh chống vua Mạc. 

Nghịch tặc xương cuồng phạm đế kinh
Chủ ưu thần nhục trọng thương tình 
(Lũ giặc ngang ngược điên khùng phạm cả vào kinh đô
Chúa lo thì tôi nhục, đáng thương tình biết bao)
(“Cảm hứng thi”) (tam) 
Thiên tâm như bất dung gian ngụy
Ứng vị vương sư trợ nhấtn kỳ.
(Lòng trời nếu chẳng dung tha kẻ gian ngụy
Thì hãy một phen trợ sức cho quân nhà vua).
(“Quá Hữu Giang”) (nhị). 

Rõ ràng “nghịch tặc”, “gian ngụy” và tất cả những chữ “tặc” khác trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm là chỉ tập đoàn Lê-Trịnh; còn các từ “chủ”, “vương sư” hoặc “cửu trùng”, “thánh chủ”, “quân vương”, “đại giá”, v.v… là dùng để chỉ vua nhà Mạc.

Đối với Nguyễn Bỉnh Khiêm, những kẻ chống lại vua nhà Mạc là “gian” là “ngụy”; Nguyễn Bỉnh Khiêm theo vua Mạc đánh dẹp bọn gian ngụy để cứu nhân dân thoát cảnh bị “treo ngược”: 

Đại giá tây tuần trú thử sơn.
Nhất phương sĩ nữ vọng an toàn
Đảo huyền dân cửu ly hung đạo:
Trắc đát thùy vô xúc thiện đoan.
(Tây hộ quá Lục Yên châu).
(Xa giá lớn đi miền Tây, đóng quân ở núi này,
Khắp vùng trai gái đều trông mong được sống yên ổn.
Lâu nay dân sa vào tay bọn trộm cướp hung dữ như kẻ bị treo ngược;
Không ai là không động lòng từ thiện, tỏ tình thương xót).
(“Hộ giá đi miền Tây qua châu Lục Yên”).

Đinh Gia Khánh, Bùi Duy Tân và một số vị nghiên cứu khác cứ cho rằng Nguyễn Bỉnh Khiêm mấy lần đi “tòng nhung” là do “bị vua Mạc ép đi thco quân”. Có lẽ một phần do các vị hiểu nhầm nghĩa từ “cưỡng” trong “cưỡng tòng nhung”, “cưỡng trí tòng nhung”, “cưỡng truy tù”… 

Từ “cưỡng” có ba nghĩa: 1. Không chịu khuất (resister, contrarier); 2. Ép buộc (foreer, obliger, contraindre); 3. Gắng sức (s’efforeer). Vì hiểu nhầm nên ông Đinh Gia Khánh và ông Hữu Thế mới dịch thành “gắng gượng”: 

Tuổi quá sáu chục, gắng gượng theo quân.
(Niên du lục thập cưỡng tòng nhung). 
Gượng dấn mình dự cuộc viễn chinh. 
(Cưỡng trí tòng nhung tán viễn chinh).
Chỉ có ông Lỗ Công hiểu đúng và dịch đúng: 
Tuổi già gắng gỏi việc binh nhung
Giết giặc mong vì nước dốc trung. 
(Lão lai tương dữ cưỡng tòng nhung 
Diệt tặc do hoài báo quốc trung).
Và ông Hữu Thế cũng có một lần dịch đúng: 
Già si đần, gặp thời loạn lạc
Gắng theo quân bàn bạc mưu cơ. 
(Lão độn trùng phùng thư loạn ly 
Dự tham nhung mạc cường truy tùy). 

(Cũng nên lưu ý “cưỡng” có thể dùng làm ngoại động từ (verbe transitif) cũng có thể dùng làm nội động lừ (verbe intransitif). Trong các bài thơ chữ Hán của Nguyễn Bỉnh Khiêm hầu hết từ “cưõng” được dùng làm nội động từ. Do đó chủ ngữ ẩn trong các dòng thơ này không thể là vua Mạc mà chính là một đại từ phản thân (pronom réfléchi) chỉ tác giả Nguyễn Bỉnh Khiêm. Dịch là “gắng sức” hay “gắng gỏi” mới chính xác và mới bảo đảm được sự nhất quán của nội dung tác phẩm vì thực tế Nguyễn Bỉnh Khiêm chưa bao giờ bị ép buộc và ông cũng chưa bao giờ nói rằng mình bị ép buộc. Ông cho việc “tòng nhung” giết giặc là trách nhiệm của mình đối với vua, với dân. 

Ông hành động vì muốn báo dân ơn nước:
Diệt tặc do hoài báo quốc trung.

Vì muốn cho nhân dân sống yên vui: 
Đồ thán dân giai nhẩm tịch tê
(Dân lầm than khổ cực đều được nằm trên nệm chiếu yên ổn).

Ông hành động vì nghĩa:
Trì khu mị đạn hiệu vi cung
Sinh bình chí nghĩa quan hoài thiết
(Ruổi rong chẳng quản thân hèn. 
Tấm lòng chí nghĩa vững bền sắt son).

Hơn nữa, vì muốn làm sáng đại nghĩa: 
Vị quốc tồn cô minh đại nghĩa
Chỉ kỳ diệt tặc phục thần châu
(Vì nước bảo toàn ấu chúa, nêu rõ nghĩa lớn
Định thời hạn giết giặc, khôi phục kinh đô).”

23. Theo Đại Nam Liệt Truyện
24.  L. Cadière, 1922, Những người bạn cố đô Huế, bản dịch của Phan Xưng, Nxb Thận Hóa, 2001, Tập IX, tr 264,265
25.  Qua bài thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm gửi khuyên Nguyễn Thiến hồi tâm quay lại với triều Mạc, trong bài thơ Loạn trung ký Nguyễn Cảo Xuyên có câu: “Ta giúp con côi vì nghĩa trọng/ Ông khi xử biến há cam tâm”

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s