Việt Nam thiên sử bi hùng 1945-1975- Bài 16

Max Hastings

Trần Quang Nghĩa dịch

CHƯƠNG 16 : BÙN NGẬP ĐẾN THẮT LƯNG

1 Người Yêu Hòa Bình

Hai cuộc chiến Việt Nam song hành diễn tiến vào năm 1967: cuộc chiến thứ nhất tất nhiên là cuộc chiến tăng cường diễn ra trên chiến trường Việt Nam; cuộc chiến thứ hai là cuộc đấu tranh ngày càng dữ dội chống lại cuộc chiến thứ nhất diễn ra ngay quốc nội Mỹ. Tivi đài CBS bắt đầu phát thanh chương trình phim hài Anh Em Nhà Smothers, một sô trở thành ăn khách bất ngờ của mùa diễn. Mặc dù các câu nói châm biếm đối với tiêu chuẩn thế kỷ 21 là tương đối mềm, một sự huyên náo bùng nổ về việc liệu nhạc sĩ dân ca Pete Seeger có nên được phép xuất hiện với vai trò một khách mời. Ông cuối cùng trình diễn một bài hát gây kích động trong đó cao trào vang lên ‘Chúng tôi bùn ngập đến thắt lưng/Mà thằng điên to xác cứ bắt chúng ta tiến lên.’ Bài hát được cho là nói về một trung đội diễn tập vào năm 1941 tại Louisiana, nhưng không một khán giả nào nghi ngờ hoặc tỏ ra nghi ngờ,  rằng thực sự bài hát nói về Việt Nam và sự lãnh đạo của Lyndon Johnson.

Mùa xuân đó, sự chống đối trong nước đối với việc Mỹ đem quân tham chiến bùng nổ để trở thành một phong trào rộng khắp, dính chùm với,  dù không chỉ bó hẹp trong,  phong trào hippy và thế hệ tàu điện ngầm mới sử dụng cần sa và tự do luyến ái. Thủ lĩnh hippy râu tóc xồm xoàm Jerry Rubin nói, ‘Tồn tại một cuộc chiến đang xảy ra giữa người trẻ và người già đang điều hành  đất nước này.’ Một thiên hà các ngôi sao và người nổi tiếng xuất hiện chống chiến tranh,  dẫn đầu là phần đông thành viên trong gia đình Kennedy  và các bạn thân của họ như J.K. Galbraith và Arthur Schlesinger, và cũng bao gồm Joan Baez và Bob Dylan, Norman Mailer và Jane Fonda, Bác sĩ Nhi Benjamin Spock, triết gia Anh Bertrand Russell, nhiều nghệ sĩ, học giả và kẻ tả khuynh ở cả hai bên bờ Đại Tây Dương,  cùng với các lãnh tụ các phong trào đòi nhân quyền cho người da màu.  Martin Luther King tuyên bố vào tháng 8 1967: ‘Những lời hứa hẹn về Xã hội Vĩ đại đã bị bắn chết trên chiến trường Việt Nam.’

Tại cuộc điều trần xác nhận hồi tháng 4 của nhà ngoại giao kỳ cựu Ellsworth Bunker trước khi kế vị Henry Cabot Lodge, vị đại sứ Mỹ tại Sài Gòn mới được bổ nhiệm tái xác nhận mục tiêu của chiến tranh là một Miền Nam tự do và bền vững. Thượng nghị sĩ Fulbright cật vấn ‘liệu quyền tự quyết của 15 triệu người Việt có xứng đáng với các thiệt hại nó gây ra cho đất nước chúng ta’. Hết tháng này đến tháng khác, các cuộc biểu tình càng tăng quy mô cho đến tháng 10 50,000 người phản chiến tụ tập tại Washington, tại đó 10,000 binh sĩ được triển khai để bảo vệ Ngũ Giác Đài.

Thượng nghị sĩ Edward Kennedy tuyên bố: ‘Không có một quốc gia vĩ đại nào có thể dám tuyên bố mình đã giành được tự do và dân chủ cho một dân tộc khác nếu . . . nỗ lực của quốc gia đó chỉ làm hủy hoại đất nước họ và lối sống họ.’

Những người hậu thuẫn chiến tranh tự xem mình là người yêu nước cũng như là kẻ thù của chủ nghĩa cộng sản.  Tờ New York Times ghi lại những lời lẽ đanh thép của một giáo sĩ phái Cải Cách, mới trở về từ Việt Nam,  xác nhận rằng những kẻ tấn công vào nền hành pháp  ‘là tiếp tay kéo dài chiến tranh  … làm những gì “bọn diều hâu” ở Hà Nội mong muốn nhất’ là mô tả Hoa Kỳ như là ‘người gây hấn và Việt Cộng và bọn Miền Bắc là những nạn nhân vô tội’. . Carl McIntire, người sáng lập giáo phái Bible Presbyterian, tuyên bố cuộc đấu tranh là ‘chính nghĩa công chính và thiêng liêng ‘  trong khi nhà truyền giáo Billy James Hargis lập luận rằng người Mỹ đang chiến đấu cho ‘tự do … an ninh Hoa Kỳ ‘. Các biên tập viên của Christianity Today, một tuần san truyền giáo, thúc giục dội bom nhiều hơn nữa.

Trong khi đó,  tại đầu mút đối nghịch của quang phổ,  phong trào phản chiến ngày một điên cuồng. Nhiều người Mỹ thân thiết với Việt Nam phàn nàn cung cách mà quốc gia họ đang tiến hành cuộc chiến. Tuy nhiên,  họ cũng nhìn nhận sự tàn bạo của người cộng sản và bản chất chuyên chế của chế độ Hà Nội,  và do đó bất bình trước những người phản chiến sử dụng các bài hát để kể tội  tổng thống mình – ‘Này, này, LBJ, bao nhiêu đứa trẻ ông đã giết chết hôm nay? – mặc nhiên xác nhận tính tốt đẹp của kẻ thù.  Khi Frank Scotton nói chuyện với sinh viên, ông thất vọng nhận ra rằng họ mặc nhiên nhìn nhận tính hợp pháp của cuộc chiến phát động nhân danh Hồ Chí Minh: ‘Khi tôi phản bác điều đó, họ không hiểu tôi đang nói gì – như thể tôi bắt đầu nói về toán học cao cấp.’ Chủ tịch Ban Tham mưu Liên quân rất sốc khi nghe một người phản chiến,  đối mặt với chứng cứ tù binh Mỹ bị tra tấn,  tuyên bố rằng lỗi là ở các phi công Mỹ, vì đã đánh bom.

Henry Kissinger có lần tỏ vẻ khinh miệt đối với ‘chủ nghĩa khổ dâm vô hạn của trí thức Mỹ, đối với họ đó là một biểu tượng của niềm tin khiến họ cho rằng mọi khó khăn của mối quan hệ (Đông-Tây) là do sự ngu ngốc và ngang ngạnh mà người Mỹ gây ra’. Đây là thời kỳ quái đản trong lịch sử khi mà một phần không nhỏ tuổi trẻ Tây phương tuyên bố mình ngưỡng mộ Mao Trạch Đông, Fidel Castro, Che Guevara và những người cách mạng khác, không cần biết đến sự áp bức và bạo lực mà các người hùng của họ xiển dương  – và, trong trường hợp Mao,  hành động giết người tập thể do y chủ trì, tồi tệ không sao sánh được hơn bất kỳ nỗi kinh hoàng hiện đại nào mà Hoa Kỳ có thể nhận lãnh trách nhiệm. 

Hậu quả của làn sóng hỗn loạn đang dâng lên trong nước thật là sâu sắc, nhất là trên sân trường đại học. Kể từ khi bắt đầu cuộc chiến,  cho dù trên chiến trường một số quân nhân, thủy thủ và phi công đã tỏ ra vụng về và nhiều người đã cho thấy  mình thật vô cảm, nhưng tinh thần dấn thân vẫn lan tỏa vào một nhiệm vụ không được chào đón nhưng cần thiết.  Từ 1968 trở đi, tuy nhiên,  tình trạng này thay đổi. Khi các cựu binh trở về nhà, họ được người mới thay thế,  nhiều người trong số này lây bệnh bất đồng chính kiến,  hút sách và không có niềm tin.  Khi một sĩ quan hướng dẫn của MACV báo cáo rằng trong tiểu đoàn sắp đến một số người có trình độ đại học,  Tướng Creighton Abrams cho rằng nghe có vẻ tốt. Tuy nhiên,  một sĩ quan của ông nói một cách u ám, ‘Càng học nhiều càng dễ viết thư cho quốc hội.’

Robert Holcombe là một người New York da đen đã trốn quân dịch một năm và cuối cùng đọc lời tuyên thệ quân sự với tay bị còng. Con trai một giáo viên,  y là một tên nổi loạn bẩm sinh, thành viên cực đoan của các cuộc biểu tình ngồi và thảo luận trong đại học, chuyện ngấu nghiến sách đỏ Mao Tuyển và bị tống cổ khỏi đại học Tennessee vì tham gia bạo loạn.  Sau này y nói, ‘Tôi đã đọc hàng tấn sách chính trị từ Cuba, Trung Quốc,  và cả Hà Nội.  Chiến tranh thực sự chỉ tiến hành vì của cải.  Theo tôi nhìn thấy, chúng ta đặt một chân vào một xứ nhỏ ở phương Đông chỉ vì nó có đồn điền cao su, lúa gạo, gỗ và có thể có dầu. Và dân chúng ở đó. Một nguồn lao động rẻ mạt.’ Vậy là ở cuối cuộc chơi dài húc nhau với  chính quyền, y tỏ vẻ không muốn phục vụ quân đội Mỹ ở Việt Nam. 

Holcombe, dù trong năm 1967 vẫn chưa đến gần cuộc chiến,  là một hình mẫu của điều đang đến. Một cuộc khảo sát binh sĩ đến Việt Nam trong năm đó cho thấy một trong năm người đã chơi cần sa, một tỷ lệ mà ba năm sau tăng đến phân nửa. Tỷ lệ trong nước những người chơi thuốc tăng lên từ một phần tư năm 1967 đến hai phần ba năm 1971. Một nhóm quân nhân đọc mà không tin vào mắt mình những lời độc hại từ phong trào phản chiến Mỹ, trong các tờ báo gửi từ quê nhà đến ruộng lúa hoặc vùng cỏ voi. Trung sĩ của Trung uý Andy Finlayson phẫn nộ khi đơn vị của anh nhặt được các truyền đơn cộng sản viết bằng tiếng Anh trích lại các lời lên án chiến tranh của Eugene McCarthy và của Robert Kennedy. ‘Khổ thay tôi không thể đưa cho trung sĩ lý lẽ xác đáng tại sao các chính trị gia này lại thốt ra những điều như thế,’ người sĩ quan TQLC chuyên nghiệp này nói. Một số chiến binh Mỹ sau này hóa ra tin tưởng rằng – đúng ra, mãi mãi sau này khăng khăng cho rằng – thay vì đánh thua trên chiến trường,  họ đã bị phản bội bởi tinh thần hèn yếu ở quê nhà, ‘cú đâm sau lưng chiến sĩ’.

Đại uý người Texas John McNamara viết từ Đà Nẵng,  nhận xét rằng mình và phần đông đồng đội bị ‘tổn thương bởi các chứng cứ bất đồng dân sự  (ở Hoa Kỳ) … Tôi đã nhìn thấy một xe khách bị trúng mìn Việt Cộng ngày hôm đó: phụ nữ, trẻ em,  và thú vật vương vãi khắp nơi.’ Nhưng ông nhìn nhận mình hoang mang: ‘Chúng tôi không làm việc đó. Câu hỏi lớn lao hơn là, tôi và chính quyền tôi và nói rộng ra nền văn minh Tây phương có tạo ra các điều kiện nuôi dưỡng các tên khủng bố Á châu hay không? Ngay cả người cộng sản còn kinh ngạc trước sự thái quá của phong trào phản chiến Hoa Kỳ. Nhà hoạt động cực đoan Tom Hayden, người sau này lấy Jane Fonda, thăm viếng Hà Nội và trở thành người bênh vực nhiệt thành cho Miền Bắc.  Một trong ít khoảnh khắc khôi hài trong thời gian bị giam giữ trong rừng của Doug Ramsey xảy ra khi tên của Hayden được nhắc đến trong một cuộc hỏi cung. Người tù hỏi các cán bộ thẩm vấn cho biết ý kiến về ông ta. Một cán bộ trả lời lạnh lùng, ‘Chúng tôi ngưỡng mộ ý thức hệ của ông, nhưng khinh bỉ ông với tư cách một con người. Làm sao anh có thể tôn trọng một người đã phản bội đất nước mình?’

Một đề tài gây tranh cãi là việc chống đối chiến tranh trong nước bị ảnh hưởng bao nhiêu bởi nguyên tắc, bao nhiêu bởi việc sợ phải đi nghĩa vụ, vốn là một động lực cá nhân quan trọng hơn hết khiến người trẻ lao vào cuộc thập tự chinh chống lại một cuộc chiến  có thể tiêu hao hai năm tuổi trẻ,  và tệ nhất tước đi mạng sống của mình. 

Thống kê cho thấy tương đối ít người Mỹ chiến đấu trái với ý muốn của mình. 25 trong số 27 triệu người ở tuổi nghĩa vụ của thời chiến không hề bắn một viên đạn. Tuy nhiên, trong số những người đi lính – bao gồm một phần tư của khoảng  2.15 triệu  người Mỹ phục vụ tại Việt Nam – 17,725 đã chết. Một cuộc khảo sát Harris phát hiện rằng người Mỹ xem họ là ‘những thằng khờ, đánh liều mạng sống trong một cuộc chiến sai lầm,  tại một nơi sai lầm, vào một thời điểm sai lầm ‘.

Phe hậu thuẫn cuộc chiến nhấn mạnh sự kiện là chỉ có 1 phần trăm người Mỹ ở tuổi nghĩa vụ không chịu đăng ký, và một tỷ lệ nhỏ tương tự từ chối thủ tục nhập ngũ. Tuy nhiên, điều này không tính đến một loạt rất nhiều các trường hợp miễn nghĩa vụ mà những anh chàng lanh lợi có thể lợi dụng. Trước năm 1966 thanh niên có gia đình được miễn nghĩa vụ,  khiến số hôn nhân ở tuổi vị thành niên tăng lên 10 phần trăm. Những người khác được miễn vì đang đi học – như lựa chọn của Bill Clinton và Donald Trump: Hiệu trưởng Yale Kingman Brewster phát biểu cách buồn thảm về tình trạng trốn tránh nghĩa vụ đầy yếm thế, một sự băng hoại về mục tiêu giáo dục, một sự bôi nhọ tinh thần dân tộc’.

Quân nhân bị gọi vào lính Don Graham nhớ lại thế hệ của cha mình thường phân biệt với nhau ai có tham dự,  ai không tham dự Thế Chiến II: ‘Cha tôi không thể quên việc Hubert Humphrey (phó tổng thống) thuộc diện 4F nên ở lại trong nước. Vì vậy ở Việt Nam gần như tôi không gặp ai từng vào đại học  … Tôi chợt nhận ra rằng người thắng cuộc vào thế hệ tôi chính là người học trường luật.’ Mark Rudd, lãnh đạo hội Sinh viên cho một Xã hội Dân chủ, ra sức vận động hoãn thi hành nghĩa vụ với lý do mình là một nhà cách mạng chuyên nghiệp. Sau này anh được tuyên bố không đủ sức khỏe, mặc dù chắc chắn ban tuyển mộ sợ nếu buộc anh mặc quân phục sẽ có tác động tiêu cực đối với quân đội.

Phụ huynh của một trong bốn sinh viên đại học khuyến khích con trai họ trốn tránh nghĩa vụ.  Một số thoát được vì họ có thể tuyên bố mình thuộc diện ‘cá tính có nghi vấn về đạo đức’, chẳng hạn bị kết tội ăn trộm gia súc, chơi cần sa hoặc giết một con chim ưng. Các người đồng tính cũng được miễn. Các vệ binh quốc gia cũng khỏi phải đi nghĩa vụ – một lộ trình được George W. Bush ưng ý, cùng với 10 cầu thủ của đội bóng Dallas Cowboys, được ban quản lý sắp xếp cho họ vào đơn vị Vệ binh địa phương. Một số bác sĩ lanh lợi tham gia Bộ phận Dịch vụ Sức khỏe liên bang, trở thành- như họ tự gọi đùa – ‘Mũ Nồi Vàng’: 9 người như thế sau này đoạt giải Nobel. Các nhân viên kiểm tra y tế quen biết hoặc chịu nhận hối lộ có thể giúp bọn trẻ giàu có khỏi đi quân dịch, một đại lộ mà Donald Trump cũng lợi dụng. Có thể giả vờ bị ung thư bộ phận tiêu hóa bằng cách trích ra một số máu, rồi uống nó trước lúc kiểm tra y tế. Một số ban tuyển mộ thành phố được nhận diện là quá dễ dãi với trường hợp miễn giảm, như Seattle, Washington, và Butte, Montana. Hội đồng các thành phố Berkeley, California chấp nhận một nghị quyết cấm cảnh sát bắt giữ những người bỏ ngũ.

Lawrence Baskir và William Strauss, tác giả của một nghiên cứu về việc nghĩa vụ thời chiến,  viết: ‘Những người bị gọi đi quân dịch chiến đấu và hy sinh ở Việt Nam chủ yếu là “những kẻ thất thế” trong xã hội, cũng giống những kẻ đứng chót lớp, giữ công việc thấp kém nhất hoặc đứng ở bậc thang cuối cùng trong mọi cạnh tranh xã hội.’ Chỉ 7 phần trăm những người từ các gia đình có lợi tức cao hoặc trung bình là tham gia tác chiến; 9 phần trăm người tốt nghiệp đại học, đối với 14 phần trăm người bỏ học ở trung học. Năm 1965 người da màu chiếm một phần tư số người đi lính bị chết trong chiến đấu, một sự kiện khiến Bộ Quốc phòng bối rối, phải điều chỉnh sự phân phối có tuyển chọn để giảm bớt đáng kể tỷ lệ này. Tướng Westmoreland sau này nói rằng thay vì nhân dân Mỹ ‘mang lấy gánh nặng … những người duy nhất  … chịu trả giá và sẵn sàng hy sinh là những người có mặt trên chiến trường,  chủ yếu là con trai của những gia đình nghèo’.

Vì vậy nhà sử học Quân đội Hoa Kỳ Conrad Crane đã tái khảo sát thống kê về việc phục vụ tại Việt Nam để làm sáng tỏ quan điểm này. Ông trích dẫn một nghiên cứu năm 1992 cho thấy rằng trong khi 30 phần trăm của tổng số binh sĩ chết trong chiến đấu đến từ một phần ba giới có lợi tức thấp nhất, 26 phần trăm đến từ nhóm có lợi tức cao nhất. Mặc dù 12.5 phần trăm của tổng số binh sĩ chết trong chiến đấu là da màu và 5 phần trăm gốc Mỹ Latinh, những con số này biểu thị các tổn thất thấp hơn một chút so với các tỷ lệ số nam thanh niên đến tuổi gọi lính của nhóm thiểu số đó. Những người hiếu chiến da màu vốn thuyết phục với thế giới,  cũng như với chính mình, rằng họ đang gánh chịu phần đóng góp xương máu bất công trong cuộc chiến so với người da trắng đã cường điệu hóa tình huống của mình. 

Một số thanh niên mới lớn chọn lập trường nguyên tắc chống lại việc bắt lính: nghi thức đốt thẻ quân dịch đầu tiên xảy ra vào năm 1964. 50,000 người cự tuyệt trở thành kẻ lẩn trốn,  và một số chấp nhận mưu chước kỳ lạ.  Một người về miền núi, và sống 6 năm trong căn nhà gỗ. Một người Minnesota trốn lính bị bắt ở Eureka, California, trong khi làm công việc là đóng vai ông già Noel tại một cửa hàng bách hóa. Một số sử dụng chứng minh thư giả. Vùng New England được đặt tên ‘Canada nhỏ’ vì có quá nhiều người lẩn trốn ở đấy lảng vảng trong các trang trại hay công viên. Đối với bọn lưu vong,  thì Mexico là nơi nhiều cảm tình nhất, nhưng kiếm tiền thì rất căng. Một số nơi đến mới là Thụy Điển – cùng với Canada là lựa chọn hàng đầu của kẻ lẩn trốn Mỹ – nhưng họ buộc phải trở thành hành khất,  vì phúc lợi chỉ cấp 15 đô mỗi tuần; nhưng rồi một chính quyền Thụy Điển thương cảm tăng phụ cấp lên gấp đôi  – khiến quốc hội Mỹ nổi giận. 

Một người đào ngũ trải qua toàn bộ thời kỳ chiến tranh Việt Nam bằng cách đạp xe vòng quanh Canada, sống bằng của bố thí.  Một người khác lập luận,  ‘Tôi không trốn nghĩa vụ  – tôi là một nô lệ trốn thoát của thế kỷ 20.’ Một anh lính trẻ đào ngũ đến Canada trong khi được nghỉ phép trước khi lên đường,  từ đó anh viết cho người bạn đang phục vụ ở chiến trường: ‘Tao không phải là người chủ hòa, nhưng vào quân đội tao bỗng nhận thức chiến tranh đó là gì – một cuộc chiến kỳ thị sắc tộc được tiến hành vì lợi ích của bộ máy chiến tranh khổng lồ của Mỹ … Bọn mầy ở trong tư thế thuận lợi nhất để cho nhân dân Mỹ hiểu rõ thứ rác rưởi nào đang được tiến hành nhân danh họ.’ Một số kẻ trốn tránh ắt hẳn sau đó sẽ tự hỏi liệu cuộc sống lưu vong lâu dài có đáng không, bởi vì hệ thống tư pháp Mỹ đối xử độ lượng với hơn nửa triệu người trốn nghĩa vụ: chỉ 25,000 người bị truy tố, và 3,250 bị tống giam.  Trong số những kẻ chống đối có tiếng tăm, vào năm 1967  Muhammad Ali bị kết án 5 năm tù, nhưng chưa hề ngồi tù một ngày nào cả. 

Dù sao đi nữa,  về phương diện này  người da màu thường xui xẻo, nhận các mức án lâu hơn bọn vi phạm da trắng. Bang  Mississippi và Louisiana trở nên tai tiếng vì sử dụng luật nghĩa vụ như một vũ khí chống những người tranh đấu nhân quyền. Chỉ một trong 7 người bị gọi nghĩa vụ ra chiến trường.  Tất cả trừ 3 phần trăm những người này cuối cùng trở về nhà, 10 phần trăm bị thương cần bệnh viện chăm sóc.  Nhiều người cũng chịu các gánh nặng tâm lý về ký ức khiến cuộc sống họ bất hạnh hơn sau chiến tranh. 

Xứng đáng ghi nhận rằng đại đa số những thanh niên yêu nước không hề mong muốn ra trận nhưng vẫn đến phục vụ ở Việt Nam không hề than phiền hay ăn vạ, bởi vì họ tin đó là bổn phận của mình. Trên một nông trại ở South Dakota, ông thân của  Larry Pressler bảo với các con trai không nên tìm cách trốn nghĩa vụ. Nếu họ thoát được,  một người nào đó nghèo hơn họ sẽ phải thế chỗ,  ‘và con sẽ phải hối tiếc điều đó đến suốt đời.’ Hai anh em nhà Pressler ra đi, chiến đấu,  và bình yên trở về. David Rogers, con trai một nhà nghiên cứu hoá học ở New Jersey, học Anh ngữ và lịch sử tại Đại học Hamilton. Dù cha ông là một người theo giáo phái Quây-cơ kịch liệt chống đối chiến tranh, nhưng anh là một chàng trai trẻ biết suy nghĩ, không thể cho phép mình ở lại nhà: ‘Không lựa chọn nào dễ dàng. Tôi xuất thân từ một thị trấn nhỏ. Tôi cảm thấy không đúng khi để người khác thế chỗ của mình. Rồi tôi bắt gặp một tấm ảnh chụp một quân y sĩ đang chăm sóc người bệnh và nghĩ, “Việc này mình làm được. “‘ Anh thách thức cơn nóng giận của cha để phục vụ như một y tá bộ binh. Rất nhiều thanh niên Mỹ nghe theo tiếng gọi hơn là cự tuyệt nó,  cho dù bọn cự tuyệt lại gần như được công chúng biết đến. 

Một điểm nữa về phong trào phản chiến cần được xem xét: người Mỹ sẽ chấp nhận gần như bất cứ điều gì trừ sự thất bại. Cuộc chiến thử thách quá sức chịu đựng lòng kiên nhẫn của nền dân chủ hùng mạnh nhất thế giới.  Nhiều công dân của nó trở nên cáu kỉnh không phải vì chính nghĩa của mình có vẻ sai lầm về mặt đạo lý , nhưng chỉ vì nó dường như chắc chắn chịu số phận bi thảm.

2 Người Cầm Súng

Ở  Việt Nam,  vào mùa xuân 1967 Frank Scotton thuộc số  người suy sụp sâu sắc: ‘Rõ ràng chúng ta đang phạm nhiều sai lầm, đặt cơ sở tiến hành chiến tranh trên việc hủy diệt khủng khiếp môi trường của những con người chúng ta đến để bảo vệ.’ Vào ngày 21 tháng 2, nhà báo Pháp gan dạ Bernard Fall chết vì giẫm phải mìn khi tháp tùng một cuộc càn quét trong  ‘Đường phố Không Vui Thú ‘ gần Đà Nẵng. Anh được các kẻ hoài nghi ca ngợi như là người có tầm nhìn, vì luôn khăng khăng cho rằng Mỹ đang lặp lại tất cả lỗi lầm của Pháp trong thập niên 1950, chỉ khác là có hỏa lực dữ dội hơn. Lực lượng ‘Thế giới Tự do’ giờ lên đến 1.3 triệu quân Miền Nam và Hoa Kỳ,  một người lính cho mỗi 15 dân, với 2,000 máy bay chiến thuật  được yểm trợ bởi các B-52 của Bộ Tư lệnh Không quân Chiến lược. Trong khi sân bay O’Hare của Chicago khoe là có đến 690,000 máy bay lên xuống một năm,  thì Tân Sơn Nhất có thể đến 804,000, Đà Nẵng 846,000 và Biên Hòa phá kỷ lục là 857,000 – và các con số này không kể các trực thăng. 

Scotton giữ mãi một xác tín rằng chiến lược đáng tin cậy duy nhất là triển khai các lực lượng Mỹ có chiều sâu và thường trực dọc theo chiến tuyến giữa  Quảng Trị và Cửu Long. ‘Nếu chúng ta không làm điều này, chúng ta lâm vào cảnh ngộ một cuộc chiến kéo dài, loại chiến tranh mà người Mỹ rất kém.’ Tuy vậy vẫn còn nhiều nghi ngờ liệu việc đóng kín Đường mòn Hồ Chí Minh có khả thi hay không; hơn nữa,  cho dù có thành công cũng sẽ không thể chữa được sự yếu kém của chế độ Saigon. Quan điểm của Scotton dù sao cũng được các cựu binh chia sẻ rộng rãi. 

Ở ngoài chiến trường  hoặc đúng ra một trăm chiến trường trên các đồi cao,  trên đồng ruộng bằng phẳng và trong rậm rạp, theo chỉ thị của người Mỹ QĐVNCH đã trở thành người đứng bên lề,  trong khi các lực lượng Mỹ tiến hành hàng loạt các cuộc hành quân đẫm máu, hỗn loạn để tìm kiếm, giao tranh  và hủy diệt cả các đội hình Miền Bắc lẫn du kích Việt Cộng  – vào năm 1967-1968 vẫn còn có nhiều VC hơn bộ đội Miền Bắc. Westmoreland thúc ép các chỉ huy của mình hãy luôn cho binh sĩ di chuyển, luôn cho kẻ địch vào thế bất lợi. Sau một trận đánh gần biên giới Cao Miên vào ngày 31 tháng 3 – 1 tháng 4, trong đó một trung đoàn VC bị Bộ binh 1/26th của Trung tá Alexander Haig gây tổn thất, thủ lĩnh của MACV cằn nhằn tư lệnh quân đoàn Bruce Palmer vì không truy kích quân địch đang rút lui.

‘Một trong những nỗi thống khổ bạn trải qua,’ Fred Weyand nói, lúc đó đang chỉ huy Sư đoàn 25, ‘là bạn tiến hành một chiến dịch càn quét  … có thể giết được 15 tên. Rồi,  sau chiến dịch, chúng tôi phải rút ra khỏi đó . . . và khi  quay lại một tháng sau, chúng tôi lại gặp vấn đề như cũ lần nữa.’ Weyand cực lực chỉ trích niềm tin của Westmoreland cho rằng Quân đội Mỹ có thể đè bẹp kẻ địch bằng cuộc chiến tiêu hao: ‘Nghe đúng là khôi hài. ‘ Người Mỹ không có đủ bộ binh để giữ vững thứ gì vượt quá tầm pháo binh từ mạng lưới các căn cứ yểm trợ pháo giờ được đào đắp và củng cố trên khắp đất nước,  hầu hết trên đỉnh đồi đắt đỏ, trơ trụi thảm thực vật.  Bộ binh xông tới, chiến đấu, di chuyển tiếp,  để lại phía sau những hộp lương thực đựng khẩu phần tác chiến  và đạn dược bị vứt bỏ mà du kích VC trở lại thấy hầu hết còn sử dụng được. 

Các sĩ quan và binh lính biết sợ từ ‘đếm xác’, nhưng trong một cuộc chiến không có viễn cảnh dựng cờ trên thủ đô quân địch, dường như không có thước đo nào khác khả thi hơn. Trái với tin tưởng thông thường,  đây không phải là một khái niệm nguyên gốc: mỗi quân đội trong mỗi cuộc chiến đều phán xét mức phát triển của mình một phần bởi số quân địch giết được hay bắt sống được.  Tuy nhiên,  ở Việt Nam,  việc này trở thành nỗi ám ảnh đến nỗi các chỉ huy đày đọa cấp dưới phải giao nộp đủ số xác chết. Thái độ của họ khiến cấp dưới sinh ra tính cẩu thả, có khi một tính còn tệ hơn,  không phân biệt trong số xác chết, xác nào là xác Việt Cộng, xác nào là xác nông dân bất hạnh. 

Đại uý Vince Felletter của Dù 101 than phiền rằng các cấp trên của ông ‘hơi nhạy cảm về trò đếm xác’. Có lần, đại đội ông bắt đầu đào hố hầm thì bắt gặp một hố chôn tập thể của bộ đội Miền Bắc: ‘Lữ đoàn thực sự muốn chúng tôi đào lên hết mọi xác và báo cáo cho họ số xác chết để họ ghi vào thành tích của lần chạm trán trước đây.’ Sư đoàn 9 trong vùng Cửu Long đặc biệt mang nhiều tai tiếng: tại bộ chỉ huy của nó, một biểu đồ trên tường đo lường ‘tính hiệu quả’ bằng ‘số  địch bị loại mỗi đại đội mỗi ngày trên chiến trường ‘. Lực lượng Địa phương quân và Nghĩa quân đạt điểm 0.30 mỗi binh chủng,  QĐVNCH 0.75 và binh sĩ Mỹ 1.50. Một đồ thị trên tường cuối cùng cho thấy số xác đếm của sư đoàn 9 tăng lên từ 1,998 trong quý 2 năm 1967 đến 2,671 trong cùng thời kỳ trong năm 1968, 8,138 trong quý 2 năm 1969. Abrams sau này chỉ trích gay gắt ‘tính tôn thờ các biểu đồ … Nó cuối cùng đưa đến việc coi các biểu đồ quỷ tha ma bắt chính là toàn bộ cuộc chiến,  thay vì con người thật, việc thật.’ John Vann chất chứa sự khinh miệt lên phương thức theo đó số xác đếm lấy được,  bảo với  Frank Scotton về ‘một hành vi điên cuồng đáng hổ thẹn của Sư đoàn 9’. Hai tỉnh trong đó áp dung phương thức này trung bình mỗi tháng gây ra 500 dân thường thương vong,  trong khi 12 tỉnh khác của Quân đoàn IV chỉ có 400 thương vong.  Vann nói về tư lệnh sư đoàn 9 sau này, Julian Ewell, rằng y ‘có thể giết chết cả bà mình nếu có thể kể bà ấy vào số xác đếm của y.’

Ewell cung cấp một hình mẫu cho vai chính là Tướng Lemming quái đản trong tiểu thuyết The Lionheads của Josiah Bunting, một đả kích hư cấu về cách tiến hành chiến tranh của Hoa Kỳ,  được viết bởi một sĩ quan chuyên nghiệp trước đây của Sư đoàn 9.

Vậy mà sai lầm khi xem năm 1967-68 là thời điểm thất bại chiến thuật của Mỹ: bất cứ khi nào binh sĩ của Westmoreland có thể dồn kẻ thù vào đường cùng, họ giáng trả những thương vong nặng nề.  Các tài liệu bắt được cho thấy một tình trạng sa sút trong tinh thần của nhiều đơn vị VC và bộ đội. Một tài liệu trình bày các nỗ lực tuyên truyền của Sư đoàn 2 cộng sản nhằm chống lại ‘nỗi sợ hãi một cuộc chiến kéo dài, miễn cưỡng chiến đấu … và chấm dứt tình trạng đào ngũ, phản bội,  đầu hàng và tự tử.’

Các chỉ huy cộng sản nổi giận trước các báo cáo binh sĩ quay lưng đi trong khi đụng độ. Robert Komer, giám đốc công tác bình định hóa, viết cho tổng thống vào ngày 28 tháng 2 1967: ‘Phung phí   đắt đỏ,  nhưng không thể chối cải, chúng ta đang trên đà chiến thắng ở Miền Nam.  Một số ít các chương trình của chúng ta  – dân sự hay quân sự – rất có hiệu quả,  nhưng chúng ta đang nghiền nát kẻ thù chỉ bằng sức nặng và khối lượng.’

Sau một trận đánh giữa năm 1967 trong đó Tiểu đoàn 514 VC trong vùng châu thổ bị đánh bằng lực lượng trực thăng vận lẫn thủy vận, một chiến binh cộng sản còn sống than thở rằng trong khi họ được học tập là ‘bọn mũi lõ’ đánh đấm rất tồi, thì giờ đây họ thấy ‘lính Mỹ chiến đấu ác liệt  … giỏi hơn bọn lính ngụy nhiều ‘. Các Tham mưu trưởng Liên quân viết cho McNamara vào ngày 17 tháng 10: ‘Các hoạt động chiến lược và quân sự hiện thời đang tạo ra các tiến bộ vững chắc  … Kẻ địch ắt hẳn đang gặp khó khăn lớn hơn nhiều so với các thống kê mà chiến trường hiện thời và tình báo cứng chỉ ra.’ Giữa cả núi các sai sót đang ngự trị trong kho tài liệu của cuộc chiến, thì đánh giá này không phải không có lý.

Tại các buổi thảo luận ở bộ chính trị Hà Nội, ‘các ý kiến khác biệt mô tả tầm vóc của thắng lợi có thể đạt được ‘. Vào cuối năm 1967 Sân Rồng ước tính rằng họ có 232,000 chiến binh ở Miền Nam  – 190 tiểu đoàn  – so với 204,000 người vào năm trước. Sự gia tăng do nhiều đơn vị bộ đội chính quy Miền Bắc chuyển vào nam, và chấp nhận không chùn bước trước các tổn thất. 

Theo chiến sử Hà Nội,  các lãnh tụ của nó nhìn nhận đây là thời điểm khó khăn và thất vọng: ‘Trừ các tiểu đoàn Mỹ mà chúng ta đã tiêu diệt trong thung lũng la Drang vào tháng 11 năm 1965, từ đó đến nay chúng ta chưa có một trận đánh nào có thể hoàn tất các mục tiêu đề ra.’ Trừ khi họ theo đuổi một sáng kiến ngoạn mục nào đó. Miền Bắc thấy mình lâm vào cảnh ngộ phải mãi mãi kẹt trong một cuộc chiến bế tắc: sức kiên nhẫn của họ không phải, như họ hay hô hào, là không có giới hạn. Kế hoạch chiến lược tháng bảy 1967 của  Hà Nội kêu gọi ‘một sự tập trung tối đa nỗ lực nhằm đạt được một thắng lợi quyết định qua một cuộc tổng công kích-nổi dậy, dù phải trả giá thế nào ‘. Đây là nguồn gốc của trận công kích Tết 1968, một cú đánh thoát thai một phần từ các hy vọng hão huyền  – và một phần vì muốn nôn nóng cho nhân dân thấy thành quả. 

Nhưng người Mỹ cũng có vô vàn khó khăn của riêng mình. Phong trào phản chiến đang gia tăng sức kéo nhanh hơn mức độ tiến bộ của Quân đội Mỹ ở Đông Nam Á. Các nhà hoạch định chính sách chín chắn chợt hiểu ra rằng đó là một điểm yếu,  chứ không phải điểm mạnh, khi Miền Bắc biết mở rộng các mục tiêu đến chân trời,  thì mục tiêu của người Mỹ lại rất bó hẹp. Điều này hạn chế các phương thức có thể chấp nhận được để hoàn thành chúng, trên hết là hạn chế phương thức xâm lăng Miền Bắc. Earle Wheeler viết vào ngày 9 tháng 8 1967: ‘Chính quyền chúng ta cứ lặp đi lặp lại làm rõ là … chúng ta không đem quân ra để hủy diệt chế độ Hà Nội  … cũng không đem quân hủy diệt Miền Bắc.  Chúng ta chỉ đơn giản muốn Miền Bắc ngừng chỉ đạo và hậu thuẫn cuộc nổi dậy của Việt Cộng  ở Miền Nam và rút bộ đội về bắc.’

Hơn nữa,  Hoa Kỳ không hề giải quyết các vấn đề gây ra do một chuỗi lệnh hỗn loạn của các đồng minh.  Tình báo là một điểm yếu mãn tính. Khi có lần Fred Weyand trách cứ  Bill Colby vì CIA không có khả năng dự đoán các vụ chuyển quân của địch,  Colby trả lời,  ‘Ngài biết không,  tôi sẵn sàng đổi lấy mọi lợi thế của chúng ta ở Miền Nam để lấy chỉ một lợi thế của Miền Bắc.’

Weyand bình luận: ‘Tôi chỉ biết kinh ngạc là xứ sở này của chúng ta, với tất cả sức mạnh mà chúng ta có, lại không có được lợi thế đó. Nó cho bạn biết một điều gì đó về sức mạnh của hệ thống cộng sản, một sức mạnh có thể giữ chặt chúng ta trong bóng tối như thế đó. Mỗi gia đình Miền Bắc ắt hẳn phải có người thân bị tử trận hay bị thương, hoặc một người mà họ biết,  vậy mà chính quyền đó có thể duy trì quyền kiểm soát đối với họ, còn chúng ta thì không thể duy trì quyền kiểm soát ngay cả đường phố New York. ‘

Giữa người Mỹ và người Miền Nam ít có tin cậy nhau,  và thật ra ngay giữa bên trong lực lượng của chế độ Sài Gòn,  bởi vì cộng sản xâm nhập quá sâu. Trung tướng Bruce Palmer kinh ngạc khi một tư lệnh sư đoàn QĐVNCH cứ khăng khăng kéo ông ra khỏi phòng, tránh xa các sĩ quan tham mưu,  trước khi bàn chuyện chiến sự quan trọng.  Rồi vị tướng Việt Nam giải thích rằng sĩ quan tình báo của mình bị nghi ngờ là một đặc vụ của địch cài vào. Palmer là một trong số nhiều quân nhân phẫn nộ trước sự hậu thuẫn chính trị sa sút ở Washington,  cho dù những người của Quân đội Mỹ rộng lớn đang ngày đêm chiến đấu và hy sinh để hoàn thành các mong muốn mà chính quyền tuyên bố. Vị tướng viết sau chuyến viếng thăm của McNamara vào tháng 6 1967: ‘Chuyện đã rõ mười mươi là các lãnh dạo quân sự và chính trị của chúng ta đang xa cách nhau.’

Người Mỹ đến càng đông càng làm ô nhiễm Việt Nam một cách đau đớn.  Một nhà báo mô tả một  cảnh tượng đặc thù ở Đà Nẵng: ‘Trên phố chính cạnh bãi biển  … Từng đống núi quân nhu được xáp nhập với từng dải đống núi thùng và công-tan-nơ thực phẩm đóng hộp, nước ngọt, giày bốt nhựa, máy thu thanh bán dẫn, máy phát điện, máy điều hòa, các mảnh tháo rời của pháo hạng nặng, xe tăng,  xe tải, gậy đánh bóng chày, bánh ngọt và tạp chí lá cãi. Mỗi công ty ở Mỹ có vẻ như đều đổ vào đây các hàng hoá dư thừa của họ, chẳng bao lâu đã trở thành rác.’ Dây kẽm gai chất đống cạnh các khối bê tông; các bà già ngồi xổm cạnh các thùng quân nhu, trong khi bọn trẻ xin xỏ thuốc lá từ bọn lính canh, thực tập nói tiếng Anh ba rọi giữa các đống thừa mứa hàng hoá đe dọa chôn lấp xã hội của chúng. Hơn nữa,  nhiều tư lệnh ngày càng ngờ vực liệu các tiện nghi xài phung phí cho binh lính Mỹ, điển hình là việc phát kem cho vài đơn vị trên chiến trường,  có vực dậy tinh thần chiến đấu như dự kiến,  hay chỉ bào mòn tinh thần chiến đấu.

Phần đông truyền thông thế giới không còn tin vào những gì giới quân sự nói cho dù hôm nay thứ hai hay thứ ba.  Vào ngày 3 tháng 9 1967 Richard Harwood của tờ Washington Post, vốn trước đây là cựu binh TQLC  của trận Iwo Jima, viết một bài báo có nhan đề ‘Cuộc Chiến Không Như Báo Cáo ’. Ông nêu ra một ví dụ về điều mà ông nhận thức là sự lừa đối chính thức.  MACV, Harwood viết, đã báo cáo thành tích chiến đấu ‘được cải thiện nhiều’ trong năm 1966 tại trung đoàn xe bọc thép Miền Nam đóng tại Saigon. Vậy mà làm sao xác nhận này khớp  với sự kiện là Phân đoàn 8 của nó báo cáo  chỉ giết được 1 kẻ địch; Phân đoàn 5, 12; Phân đoàn 10, 23; Phân đoàn 9, 148 – trong khi tất cả phân đoàn này chỉ mất 14 người? Việc MACV phun ra các con số để chứng tỏ tình hình đang diễn tiến tốt hơn dường như chỉ có thể tin được đối với những người viết thư gửi Ông già Noel hy vọng nhận được một câu trả lời chính xác. 

Nhưng tinh thần của những người phản chiến, của kẻ trốn tránh nghĩa vụ và của Seeger, vẫn chưa lan đến phần đông người Mỹ ở điểm đầu chiến tuyến. Marine Walt Boomer hăm hở: ‘Nếu có một thời điểm nào tốt đẹp để chiến đấu ở Việt Nam,  thì đó là năm 1967. Không có ma túy, không có vấn đề chủng tộc. Dù có bất cứ việc gì xảy ra ở Đà Nẵng,  ở chiến trường chúng tôi không hay biết gì về nó.’ Boomer, con trai một doanh nhân nhỏ ở North Carolina và là người tốt nghiệp đại học Duke, trở thành một trong các chiến binh xuất sắc nhất của đất nước mình.  Một sĩ quan như thế ít suy nghĩ về chiến tranh rộng lớn: anh chỉ tận hưởng việc làm tròn vai trò anh đã được huấn luyện, chỉ huy một đại đội mà các thành viên trong đó anh tôn trọng một cách sâu sắc như ‘những chàng trai quả cảm.  Chúng tôi hoạt động trong môi trường khép kín của Quân đoàn. Tôi không hay biết chuyện gì xảy ra bên ngoài. ‘

Đại uý Jim Williams, con trai một giám thị trường ở Winona, Minnesota, nhất trí: ‘Đó là thời điểm của lòng ái quốc chân thực,  thấm đẫm tình cảm và tự hào hậu Thế Chiến II.’ Williams trải nhiều thời gian trong năm 1967 chỉ huy một đơn vị trinh sát gần biên giới Lào,  giữa những người Thượng cưỡi voi mang hàng hoá ra chợ bán. Đây là thời điểm trước khi bộ đội Miền Bắc vây hãm Khe Sanh,  và vùng đất này còn đủ yên tĩnh cho anh dự lễ Mét trong ngôi giáo đường địa phương được một giáo sĩ truyền giáo cử hành.

3 Kỹ năng tác chiến

Nếu một binh sĩ muốn được yên lành, cách tốt nhất là tuyệt đối bất động,  tốt hơn là nằm trong một hố cá nhân: mỗi sự xê dịch sẽ khiến y dễ bị tổn thương.  Nhưng nhiệm vụ của bộ binh là di chuyến.  Họ dành nhiều thời gian trên chiến trường tìm kiếm kẻ địch trong đội hình trung đội,  đại đội,  hoặc tiểu đoàn. Đối với 50,000 lẻ người Mỹ hoàn thành vai trò như thế tại bất cứ thời điểm nào, thiên nhiên Á châu xa lạ trở thành cảnh tượng bình thường mới: màu xanh lá rực rỡ của đồng lúa,  màu xanh thẫm của rặng dừa,  các bé quê lùa trâu ra đồng, nông dân lầm lũi với lòng nhẫn nại của hàng thế kỷ bước theo sau chiếc cày gỗ do trâu kéo. Hoàng hôn các người lính nhìn đàn trâu được lùa về chuồng, mình mẫy đóng cứng bùn vì suốt ngày dầm mình trong vũng lầy, không khác chính họ. Và đâu đó lấp ló bên trong vẻ duyên dáng thôn dã này là bóng dáng kẻ thù.

Walt Boomer nói: ‘Mỗi ngày chúng tôi đón chờ một trận giao đấu, hy vọng theo điều kiện của mình.  Chẳng bao lâu tôi nhận ra rằng,  “Tên đang ngồi kia đang theo dõi. Y chỉ đợi bạn một phút giây lơ đãng là y sẽ xông tới thịt bạn.” Y rành địa hình còn chúng tôi thì không.  Tôi nhớ một ngày khủng khiếp lúc đó chúng tôi đang tiến xuống một thung lũng rất hẹp đầy bụi rậm, và chúng tôi bị đánh khá rát: chúng phục kích một trung đội, giết chết 3 người; tôi mất một chàng trai có huy chương Thập tự Hải quân. Chúng tôi nghĩ mình được pháo và phi cơ yểm trợ – chỉ cần cầm chân chúng, là chúng tôi có thể dập chúng. Nhưng chúng đã rút nhanh. Hoạt động đó không phải là một phần của điều gì rộng lớn hơn,  mà chỉ là của tôi và đại đội đi qua vùng quê và càn quét  – dù điều đó có nghĩa là gì. Chúng tôi đã giết được bao nhiêu địch? Tôi không biết. Các chỉ huy luôn tức tối vì tỷ số tiêu diệt địch quá kém.’

Binh sĩ chịu thử thách nghiệt ngã khi vác một tải trọng trên lưng vượt qua địa hình hiểm trở dưới cái nóng gay gắt,  thậm chí trước khi quân địch xuất hiện. Mỗi người mang một vũ khí,  một hộp quân nhu bằng thép, được sử dụng để giấy và đồ linh tinh được khô ráo; ít nhất 8 băng đạn và đạn lấp đầy băng; bốn lựu đạn phân mảnh và hai lựu đạn khói; bốn bi đông nước,  ít khi đủ dùng – tại những vùng khô ráo một người lo xa  thường lên đường với khoảng 8 lít nước. Một số chịu thêm gánh nặng bằng phần cứng mang theo, có lẽ một khẩu 0.45. Về phần lương thực, Andy Finlayson mang theo trong chuyến tuần tra trinh sát 5 ngày một hộp đậu với xúc xích xông khói, một hộp mỳ Ý với thịt viên, bốn họp trái cây, ba hộp nhỏ thức ăn nhẹ. David Rogers sống nhờ vào bơ đậu phộng và bánh quy phết mứt, trái cây,  và bánh ngọt.  Vì vậy không có gì ngạc nhiên khi hầu hết bộ binh đều sụt cân, sụt nhiều cân. Walt Boomer vào Việt Nam cân nặng 180 cân, khi đi ra chỉ còn 155 cân.

Đại uý Chuck Reindenlaugh viết cho bà xã: ‘Không nơi nào trên trái đất kém thích hợp để tiến hành một cuộc chiến quy ước hơn ở đây.  . . Nước sình ngập đến đầu gối; cây và bụi rậm chằng chịt quấn lấy nhau, nhiều nơi không thể cho một thân người chui qua lọt; những vòm cây cao đan bện vào nhau che hết ánh sang mặt trời.’ Những người cận thị vừa bước đi vừa sợ cành lá dây leo quẹt rớt mắt kính xuống mặt đất tối âm u và mất tăm. Sĩ quan Anh Freddy Spencer Chapman đặt tựa đề cho hồi ký cổ điển viết về chiến dịch Mã Lai 1942 ‘Rừng Đứng Trung Lập’, và điều này cũng đúng ở Việt Nam một thế hệ sau: những chàng trai nông thôn đương đầu tốt nhất, được nuôi dưỡng không biết sợ cảnh hoang dã  – vòm lá ba tầng, rắn rết, vượn hú. Tuy nhiên,  nhiều người Mỹ lớn lên trong thành phố.  Thật khó cho họ phải đi dễ dàng qua rừng rậm, trong đó các đường mòn thường có đặt bẫy mìn. Tại nơi mà tầm nhìn chỉ một đến hai mét, mỗi người phải dòm chừng người trước mặt: kẻ nào bất cẩn sẽ lạc đường và biến mất. Đại đội của Walt Boomer mất một TQLC trong một cuộc càn quét: ‘Chúng tôi phải dừng cuộc hành quân và đổ xô đi tìm anh trước khi bộ đội Miền Bắc bắt được anh.’

Phần đông người Mỹ di chuyển ồn ào. ‘Cách tốt nhất để bị giết,’ Andy Finlayson viết, ‘là đơn giản cứ nói chuyện vô tư với giọng nói bình thường  … Bạn thường không hề nhìn thấy kẻ địch của mình, nhưng một tiếng nói vang lên giống như một nam châm bắt dính đạn.’ Một đơn vị ra sức đi nhanh sẽ gây ra tiếng động như một đàn voi, đạp gãy cành khô và tre. 

Trong một xứ sở nặng nề và thù địch, người dẫn đầu thận trọng có thể tiến lên từng bước mỗi 5, 6 giây, 10 bước một phút, 300 mét một giờ. Một đội tuần tra tầm xa, muốn che giấu triệt để,  có khi cả ngày chỉ đi được một dặm, với người đi sau cùng phải xóa đi dấu vết.

Mặc dù sĩ quan di chuyển theo bản đồ và la bàn Lensmatic, một người được chỉ định đếm bước họ đã tiến lên bao xa. Người dẫn đầu chỉ đơn giản tiến lên với sự đề phòng nghiêm nhặt,  giao phó cho người đi sau sử dụng rựa. Walt Boomer luôn chọn người đi đầu là ‘tay săn thành thạo nhất, với giác quan thứ 6’. Reg Edwards trở nên ít sợ sệt khi dẫn đầu vì anh học được từ kinh nghiệm là người dẫn đầu luôn sống sót khi đụng độ  – những người ngay phía sau chắc chắn bị thịt hơn. Khoảng cách ít nhất 4 mét giữa các binh sĩ là cấp thiết,  nhất là trong các vùng nhiều bẫy mìn: chen chúc nhau nghĩa là nhiều thương tật tàn phế và chết chóc hơn. Hành động ít khi bắt đầu ngay giữa hàng quân, thành ra đó là nơi được binh sĩ ưa thích. ‘Cầm đèn đỏ’ cũng đòi hỏi phải nhiều kỹ năng sinh tồn như người dẫn đầu – anh ta là người bọc lót, có nhiệm vụ phát hiện kẻ thù lén lút phía sau.

Tim O’Brien, trong số các nhà biên niên sống động nhất của trải nghiệm bộ binh, viết: ‘Nếu bạn không mang ba lô,  bạn đang chờ đợi.  Đào hố cá nhân. Đập muổi. Mặt trời và cái nóng và ruộng lúa bát ngát. Thậm chí trong bụi cây rậm dày, nơi bạn có thể chết bằng bất cứ cách nào, cuộc chiến buồn tẻ một cách trần trụi và gây hấn … Bạn đang ngồi trên đỉnh đồi cao,  ruộng lúa phẳng phiu trải rộng bên dưới, và ngày trôi qua bình lặng và nóng bức và hoàn toàn trống rỗng, và bạn cảm thấy nỗi chán chường nhỏ giọt xuống tâm hồn bạn như một vòi nước rò rỉ . . . Bạn cố được thư giãn. Bạn lơi lỏng ngón tay và để đầu óc lan man. Vâng, bạn nghĩ, điều đó không quá tệ. Và ngay lúc đó bạn nghe tiếng súng nổ sau lưng  và gan ruột bạn như muốn dội ngược lên cuống họng  và bạn kêu en éc lên như heo bị chọc tiết.’

Một số cuộc giao tranh bắt đầu với việc phi cơ oanh kích lên một vùng tiếp đất nóng, nơi kẻ thù đang chiếm đóng. Họ phản pháo ngay trước khi bộ binh từ trực thăng nhảy xuống trận địa. Phil Caputo viết rằng một cuộc hành quân như thế ‘tạo ra các sức ép xúc cảm khốc liệt hơn một cuộc tấn công quy ước trên bộ. Nó là khoảng không gian khép kín, tiếng ồn, tốc độ, và trên tất cả,  ý thức của sự bất lực hoàn toàn. Có một chút phấn khích đối với việc đó ngay lần đầu, nhưng sau đó, nó là một trong các trải nghiệm khó chịu hơn mà chiến tranh hiện đại mang đến.’ Thật hào hứng khi cưỡi con chim đầu tiên bay đến trận địa,  nhưng con chim thứ hai thường là đích nhắm lựa chọn của kẻ thù. Fred Childs đang đứng trên rìa một chiếc Huey lơ lửng một vài bộ bên trên vùng tiếp đất, thình lình hai người bên phía đối diện cùng nhảy xuống,  khiến trực thăng nghiêng đi và Childs rớt khỏi cửa trực thăng và đụng đầu xuống đất.  Bị chấn động, anh không nhớ gì về trận đánh diễn ra sau đó.

Một hôm gần Chu Lai, một binh sĩ da màu tên Davis nhận một viên đạn khi anh chạm đất, nhưng vẫn bắn trả. Khi một binh sĩ bị thương khác, Taylor, chỉ biết nằm đấy nức nở,  Davis chế nhạo anh ta không thương tiếc,  thúc giục anh chiến đấu: ‘Mầy khóc vì biết mình sẽ chết. Vậy thì tiến lên để mang vài tên gook theo bọn mình.’ Taylor hờn dỗi đáp, ‘Tao không chết,’ khiến Davis liền khích anh lần nữa: ‘Mầy không chết, vậy tại sao ngồi đó khóc? Mầy khóc vì mầy là tên nhớt chúa.’ Sau đó cả hai tiếp tục bắn trả cho đến khi một trực thăng đến tải thương.  Đại đội trưởng 29 tuổi Vince Felletter có lần mất 6 người khi nhảy ra khỏi một trực thăng Huey trúng đạn, xác trực thăng rơi ngay xuống đầu họ, cánh quạt quay phành phạch, cắt đứt tứ chi những người sống sót một cách ghê rợn, thảm khốc. Đêm sau tiểu đoàn gửi xuống một gà tây nóng hổi cho đại đội  – ‘Có lẽ để chia buồn với chúng tôi, tôi đoán thế.’ Nhưng cử chỉ này lại hóa ra hỏng bét: toàn bộ đại đội bị trúng độc thực phẩm,  và đến bình minh 14 người được trực thăng y tế chở đến bệnh viện quân y với nhiệt độ 40 độ C. Felletter nói: ‘Đó là thời gian chỉ huy  tồi tệ nhất của tôi.’

Trên bộ, mùi hương cũng có thể giết hại một cách chắc chắn như tiếng động. Hai bên đều trân trọng các trinh sát viên của mình,  một số người trong đó sở hữu các giác quan cực kì bén nhạy.  Một bộ đội Miền Bắc tên Nga được đặt cho biệt danh ‘chó chăn cừu Đức bởi vì,  theo lời một đồng chí, ‘Mũi anh đã trở thành huyền thoại. Mỗi lần anh nói anh “ngửi” được lính Mỹ, thì y như rằng anh đều đúng.’ Một số sĩ quan Mỹ, nhất là những người lãnh đạo đội tuần tra xâm nhập sâu, cấm hút thuốc lá, chỉ được nhai thuốc thay thế.

Thật khó để cường điệu hóa sự căng thẳng của các trận càn quét,  trong đó những ngày thiếu thốn, bẩn thỉu, gắng sức và cảnh giác có thể kết thúc bằng việc ngồi túm tụm lại với nhau làm mồi cho một trận phục kích. Đại uý Julius Johnson cho rằng vấn đề lớn nhất của anh là ‘giữ cho binh sĩ lúc nào cũng tỉnh táo,  sau một hai tuần  không đụng độ, để duy trì sự nhạy bén cho phép họ chỉ bị bất ngờ ở phát súng đầu tiên, là bật dậy đánh trả phát súng thứ hai ‘. Họ thường nhại lại Thánh Thi 23: ‘Dầu khi tôi đi trong thung lũng của bóng tối và cái chết, Tôi sẽ chẳng sợ tai họa nào; vì Chúa ở cùng tôi … Pháo của Chúa và B-52 của Chúa nghe lời kêu gọi sẽ đến an ủi tôi.’ (Thay vì ‘cây gậy và cây trượng của Chúa sẽ an ủi tôi’).

Ẩm độ thường trực làm rỉ sét chốt lựu đạn, hộp sắt, súng ống,  dây điện. Cách tốt nhất để xua đuổi côn trùng là nhúng quần áo và giày bốt vào dung dịch chống côn trùng,  nhưng chẳng được bao lâu. Không có cách phòng ngừa đỉa: binh lính mặc vớ bó sát ống quần, nhưng con vật ngọ nguậy khủng khiếp vẫn chui vào được,  đầu chúng đục một lỗ nhỏ xíu qua lớp da trước khi bạn thấy đau.  Có thể gỡ chúng ra bằng một đầu thuốc lá đang cháy chỉ khi dừng quân vào buổi chiều.

Bẫy mìn được phát hiện thường nhất vào buổi sáng sớm, khi binh sĩ còn khỏe khoắn.  Trung sĩ  Mike Sutton đang bì bõm qua một đầm lầy ngập mặn đến thắt lưng đến giữa một đống ống tre anh bỗng thấy mình vướng phải một dây bẫy; anh không bao giờ quên cái giây phút toát mồ hôi lạnh trước khí anh lùi lại  … và còn sống. Thời điểm nguy hiểm nhất đến vào chiều tối, khi binh sĩ bẩn thỉu, đói khát,  mình mẩy đầy vết cắn chích của sâu bọ, mệt mỏi sau khi leo đồi, vượt đầm. Đó là lúc cần thay đổi người dẫn đầu, nhằm làm mới lại sự cảnh giới. Một tiếng hét điên cuồng ‘ĐỤNG RỒI!’ có nghĩa là, luôn là quá muộn màng, có người nghe một tiếng ‘pop!’ khi quả mìn bị kích nổ, thế là cả toán lao chúi xuống đất. Gần như luôn luôn kẻ địch là người khởi phát giao tranh,  với một loạt đạn và một trận mưa lựu đạn Trung Cộng giết chết một,  hai,  ba lính Mỹ trước khi họ có thể phản ứng.  Một TQLC viết: ‘Đang mệt mỏi và chán chường vì phải ráng sức và chống lại cái nóng, chỉ cần một tiếng hét, hay ai đó xê dịch thật nhanh là bạn liền phản ứng sống động như chưa từng thấy. Mũi bạn, tai bạn, mắt bạn, thình lình trở nên bén nhạy hơn hẳn. Đó là một cuộc xung kích thực sự.’

Người Mỹ có hoả lực áp đảo, nhưng điều này không có nghĩa nhiều đối với binh sĩ đang đương đầu với.một kẻ thù gần như vô hình trong một vùng quê khép kín. David Rogers nói: ‘Chúng tôi cảm thấy mình ngang sức với kẻ địch. Các B-52 sẽ không giải quyết được vấn đề của bạn khi bạn bị đánh úp; tôi không bao giờ thấy mình có sức mạnh vượt trội. Súng chống tăng của Liên Xô tốt hơn súng chống tăng của Mỹ. Khẩu AK-47 của địch tốt hơn khẩu M-16 của chúng tôi.’ Tại trung tâm của mỗi toán quân là súng máy M-60, một vũ khí siêu đẳng bắn ra một hoả lực khủng khiếp, chỉ có điều vác trên vai khá nặng – hơn 13 ký kể cả dây đeo – và lắp đạn thì nặng hơn. Một số mang súng phóng lựu M-79, trông giống một khẩu súng lục bị cưa bớt và bắn đạn 40mm. M-79 và súng chống tăng là các yểm trợ tức thì có sẵn.

 Rogers nói rằng trong một cuộc trao đổi hỏa lực ‘đôi khi chúng tôi khai hỏa súng chống tăng LAW vì nó gây âm thanh rất oách’ – vực dậy tinh thần binh sĩ. Lựu đạn cay cũng nhằm xua đuổi kẻ địch ra khỏi vị trí cố thủ lì lợm, hoặc kiểm tra sự có mặt của địch trong các hệ thống đường hầm được phát hiện.

 Binh sĩ kinh khiếp trước yểm trợ không kích và pháo 105mm của lực lượng mình được gọi đến: ‘Chỉ cần nói một vài lời trong máy truyền tin hai chiều,  tôi đã thi triển được một kỳ tích hủy diệt ma thuật,’ một sĩ quan sững sờ cho biết. Pháo thủ bắn thử cách đó 5, 6 dặm đạn khói để đánh dấu mục tiêu của mình, rồi đợi quan sát viên tiền tiêu tháp tùng trung đội hoặc đại đội điều chỉnh hỏa lực. Đây là lý do tại sao các binh sĩ thông cảm cho các sai lầm của sĩ quan, nhưng không bao giờ tha thứ cho sự đọc tọa độ sai, khiến pháo bên ta giết chết lính phía mình. Các FO hướng dẫn phi cơ trên một lộ trình phía bên kia tiền tuyến, bởi vì nếu họ tấn công từ phía sau, vũ khí ngắn sẽ bắn hạ người Mỹ. Walt Boomer nói: ‘Chúng tôi khoái bom napam. Tôi không biết nó lợi hại cỡ nào, nhưng chắc chắn nó làm bốc lên tinh thần binh sĩ.’ Một số lượng khổng lồ bom từ phi cơ ném xuống rơi hoang phí trên vùng đất hoang dã không người ở. Khi Andy Finlayson dẫn đầu một toán tuần tra được trực thăng chở vào một cánh rừng để khảo sát tác động của một vụ đánh phá bằng B-52, họ nhận thấy cảnh hoang tàn thường lệ,  cùng với chứng cứ cho thấy gần đây có nhiều người đi qua khu vực mục tiêu.  Tuy nhiên,  các vũng máu duy nhất có vẻ như của một con voi hay trâu.

Trong một trận giao chiến nhiều bộ binh Mỹ – nếu súng trường họ hoạt động tốt  – không thể cưỡng lại việc xã đạn bắn vào cây xanh như thể đó là ngày Bốn Tháng Bảy (Quốc Khánh Mỹ). Tiền tiêu Bill Hardwick viết: ‘Kỷ luật tác xạ kém là điểm đặc hữu.  Đôi lúc cảm thấy khoan khoái… khi được ria một vài tràng đạn … dấu hiệu của một tay nghiệp dư. Kẻ địch luôn có kỷ luật tác xạ tuyệt vời.’ Một phần bởi vì Việt Cộng mang theo tương đối ít đạn dược, đôi khi không hơn hai băng đạn, và điều này có thể tạo cho người Mỹ hoặc người Miền Nam một lợi thế trong trận giao tranh kéo dài. Đại uý Joe Tenney than phiền nhiều binh sĩ trong đại đội của anh dường như không nhắm bắn gì cả: ‘Có lần tôi chính mắt trông thấy một chiến binh địch chạy qua vùng đạn lửa trong một vụ phục kích mà không hề lãnh một viên đạn nào, mặc dù có đến 9 người bắn y.’

Về phần viên đạn đang đến,  Tim O’Brien viết về ‘tiếng thịch nặng nề của viên đạn, như một quả đấm, cách nó làm bạn hết thở và khiến bạn ho,  cách thức âm thanh của viên đạn đến khoảng 10 năm sau, và mùi của chính con người bạn, những điều bạn nghĩ về và nói ra và làm ngay sau đó , cách thức đôi mắt bạn tập trung vào một hòn sỏi trắng nhỏ xíu hoặc một lá cỏ và bạn bắt đầu nghĩ ngợi. Ôi, đó là vật cuối cùng mình nhìn thấy,  hòn sỏi đó, lá cỏ đó, khiến bạn muốn khóc.’

Cụm từ.gây tranh cãi nhất trong mỗi tự điển của bộ binh là ‘bị ghim xuống’. Nó có thể nghĩa là một tiểu đội, trung đội, đại đội bị mắc kẹt trong một hoả lực ác liệt của địch ngay trước mặt, tiến lên là tự sát. Thường hơn,  nó có nghĩa hôm đó không ai cảm thấy đủ dũng khí đáng thưởng một Huy chương Danh dự; dường như biết khôn thì hãy nằm sấp và gọi pháo kích hoặc không kích, đó là lý do tại sao đa phần chiến tranh Việt Nam là chiến tranh của lính truyền tin. Phần nhiều các trận giao tranh là ngắn ngủi: trong một vụ kéo dài đúng 30 giây, 15 trong số 35 TQLC tuần tra bị thương vong. Thường một toán VC sử dụng vũ khí chỉ trong một hai phút, trước khi pháo binh vào cuộc. Vince Felletter nói, ‘Họ có thể “nghỉ chơi” dễ dàng hơn chúng ta nhiều.’

Đối với các chỉ huy cấp bậc thấp thật gay go khi truyền lệnh cho binh sĩ trong trận địa rậm rạp bụi cây, nơi dấu hiệu tay không thể nhìn thấy và tiếng la hét không thể nghe được bên trên tiếng ồn ào điếc tai của lựu đạn, súng máy, tiếng kêu thét đau đớn và sợ hãi.  Một số chỉ huy tiểu đoàn ra lệnh cho các đơn vị của họ từ các trực thăng Huey vần vũ trên không, một việc làm ít gây ấn tượng đối với binh sĩ của mình. Đại tá và sĩ quan hành quân của Đại uý Ken Moorefield có thể lơ lửng ở cao độ 1,000 bộ, lữ đoàn trưởng ở cao độ 1,500 bộ, tư lệnh sư đoàn 25,000, ‘và tôi thề có Chúa có ngày tôi sẽ tham dự một trận đánh trong đó tư lệnh tất cả lực lượng Hoa Kỳ (tức tổng thống) sẽ ở cao độ 3,500 bộ … Theo quan điểm của một số bộ binh ở dưới đất đang toát mồ hôi đực mồ hôi cái, đối diện với đạn lửa cận kề, không thể nào tôn trọng hoặc nhìn nhận người lãnh đạo của mình ở tuốt trên cao trong bộ quân phục mới gột hồ.’

Các đại đội trưởng đôi khi điên tiết vì các sĩ quan cấp trên luôn ra sức quản lý vi mô các trận đánh. Vince Felletter nói: ‘Tôi bực mình vì tiểu đoàn trưởng cứ hết đẩy rồi xô khiến tôi gắt gỏng bảo ông ra chỗ khác chơi cho đến khi trận chiến đã qua.  Tôi hơi mất bình tĩnh  … và điều đó gây nhiều phiền phức.’

Bất cứ chuyện gì cũng có thể xảy ra trong một vụ đụng độ: các tay súng trong trung đội của Charlie Shyab bắn vài phát đạn lướt qua đầu các binh sĩ nào lùi lại sợ xáp chiến. Mỗi trung đội đều có những kẻ như thế. Shyab phải thay thế một quân y không dám ra trận địa nữa, và bị chuyển về làm tại căn cứ. Khi đại đội gặp rắc rối trên Núi Chu Moor, những binh sĩ sống sót bị sốc khi phát hiện trung sĩ của mình, vốn được xem là anh chàng tử tế,  ‘bỗng phát hoảng. Ông không có mặt ở đấy cùng với chúng tôi.’ Người hạ sĩ quan đi biệt tăm, cõng một lính bị thương ra phía sau.

Mọi lính bộ binh đều xưng với  y sĩ quân y của mình là ‘Bác sĩ’, biết rằng nếu mình bị dính đạn thì anh ta cũng gần như là một bác sĩ thực thụ mà họ có được trước khi thượng đế phán xét liệu họ sẽ sống hay chết. Trong những chuyến trinh sát  David Rogers mang theo vật dụng y tế trong một túi dùng đựng chất nổ C4: các viên muối, vải băng bó, moc-phin giảm đau, 2 hộp lòng trắng trứng, dịch truyền tĩnh mạch, lựu đạn khói để gọi trực thăng. Trong những nhiệm vụ chiến trường bình thường lại bổ sung một áo vét chống đạn AK-54, chứa đầy ống moc-phin và các vật dụng cứu thương khác. Anh cũng mang theo kéo gắn vào khoen chữ D. Anh nói: ‘Hầu hết vết thương có lỗ nhỏ đi vào cơ thể và một lỗ lớn đạn chui ra. Tôi thực tình không biết xử trí ra sao với một anh chàng lãnh một vết thương không gọn ghẽ: một số mảnh pháo ắt đã lọt vào cơ thể anh. Anh còn sống khi chúng tôi khiêng anh lên trực thăng,  nhưng tắt thở trước khi đến Củ Chi.’ Fred Hillyard, một sĩ quan West Point 26 tuổi, nhận thấy rằng thường cường độ tấn công giảm xuống vì ưu tiên dành cho việc tản thương,  ưu tiên này biến mất nếu người này mất. Anh kể ‘nỗi xúc động người ta cảm nhận đối với một thương binh và rồi điều đó thay đổi khi anh ta trở thành KIA (Killed in Action: Chết khi thi hành nhiệm vụ). Ánh sáng bên trong một cơ thể quá trọng đại đến nổi khi nó tắt đi, bạn tràn ngập một cảm xúc hoàn toàn khác … Sau đó là gánh nặng hậu cần.’ Jim Williams nói rằng khi binh sĩ bỏ dở chiến đấu để cõng đồng đội bị thương,  ‘một phần việc đó chỉ là cái cớ để y ra khỏi vùng lửa đạn, và điều đó làm tụi tôi tiêu đời – theo nghĩa đen – bởi vì một khi bạn mất ưu thế hỏa lực thì kẻ địch giành được nó và thế là bạn bị ghim xuống.’ Anh bảo với đại đội mình: ‘Tôi không quan tâm cho dù người ngã xuống là mẹ các anh, cứ để bà nằm đấy còn các anh thì cứ tiến lên.’

Một sĩ quan cộng sản biểu lộ ngờ vực về năng lực của binh sĩ Mỹ vì các lý do thông thường  – ‘Họ mang theo nhiều đồ xa xỉ, quá nặng nề,  quá chậm chạp. Từ xa đã thấy họ rồi.’ Dù sao, kỹ năng tác chiến của bộ đội không phải lúc nào cũng vượt trội: các lính Mỹ phục kích có thể được đánh động trước một kẻ thù đang đến gần bởi cùng các âm thanh chính họ đã gây ra – tiếng kim loại va vào nhau,  tiếng hộp đựng thức ăn kêu,  tiếng chít chát bất cẩn. Có lần trong một trận đánh giữa lúc quân Mỹ đang mất nhuệ khí, thì tinh thần họ bỗng trỗi dậy khi một binh sĩ bắt đầu chế nhạo địch. Lại Andy Finlayson: ‘Tức thì tất cả bọn tôi đều cười lớn và la hét khích quân địch nhào vô ăn thua… Tôi không biết có phải vì hỏa lực nặng chúng tôi rót vào, hay vì tiếng cười vang và những quả lựu đạn, hay một lý do nào khác, khiến kẻ địch rút đi.’

Sau một trận giết chóc, binh sĩ cố ngồi lại và cầu nguyện cho các đồng đội ngã xuống, mặc dù thói quen đó phải bị bãi bỏ khi số thương vong tăng lên. Việc cắt xén thi thể địch làm kỷ niệm được bắt chước lan tràn. Một chương trình truyền hình tháng 10 1967 đem lại ô nhục cho giới truyền thông: một nhà quay phim đài CBS trao cho một người lính một con dao và bảo y cắt tai một thi thể VC để câu khán giả truyền hình. Cả người quay phim lẫn phóng viên trốn khỏi xứ sở hơn là ra làm chứng tại tòa án binh sau đó xét xử người lính. Tuy nhiên,  người ta biết rằng binh sĩ cũng thường tìm kiếm những vật kỷ niệm như thế. Một hôm quân y tiểu đoàn của Walt Boomer dẫn Đại uý qua một bên và cảnh báo rằng người của anh đang sưu tập tai người. Boomer tập hợp đại đội quanh ông tối hôm đó và nói, ‘Nếu các anh tiếp tục làm việc này, tôi sẽ giết các anh. Mẹ các anh sẽ nói sao về việc làm này?’ Ông tin rằng việc chỉ huy nghiêm khắc là cách duy nhất để kiểm tra sự thái quá: Từ việc cắt tai bạn có thể bị cuốn vào những hành động tàn bạo hơn. Mỹ Lai xảy ra vì các sĩ quan thất bại.’ Một số người thay vào đó mãn nguyện với việc để lại một lá ách bích lên xác một VC.

John McNamara viết thư về nhà nói rằng mình hãi hùng trước việc bàn luận vô tội vạ về nhu cầu sử dụng các chiến thuật khủng bố chống lại các tên khủng bố. Với Không Kỵ 1, Don Graham cảm thấy ‘thực sự tự hào’ khi anh thấy một vị đại tá cách chức một đại đội trưởng ngay tại chiến trường khi lính của y đốt bừa bãi nhà dân.

Cho dù niềm tin tôn giáo là khẩu phần khan hiếm  – ít hơn một phần năm tham dự đều đặn các thánh lễ, và hai phần ba không hề đi – nhưng phần đông đều siêng năng cầu nguyện. Trong Chiến dịch Swift tháng 9 1967, tuyên úy Vincent Capodanno an ủi một thương binh, ‘Hãy bình tâm, anh TQLC.  Sẽ sớm có người đến đây giúp đỡ. Hôm nay Chúa sẽ ở cùng tất cả chúng ta.’ Người thương binh sau này xác nhận rằng sự hiện diện của Capodanno đã trao tặng cho anh một cảm giác bình an phi thường. Vị tuyên úy bị tử thương chẳng bao lâu sau đó, được truy tặng Huy chương Danh dự, và được Giáo hội Thiên Chúa tuyên bố là một  ‘Tôi Tớ của Chúa Trời’. Chỉ sự hiện diện của Capodanno tại thời điểm hệ trọng đã chiếm được lòng kính trọng của đàn chiên mình,  mặc dù việc này có thể hơi quá lời. James May mô tả vị đại điện Chúa trong đơn vị anh tìm cách phô diễn tình huynh đệ với binh sĩ bằng cách phát ra những lời nguyền rủa thô bỉ như,  ‘Xin Chúa Trời làm ơn cho bom rơi thẳng xuống bọn chó đẻ da vàng.’ Một vị tuyên úy khác được chụp ảnh đang mang một khẩu súng trường và vài quả lựu đạn,  trong khi một người khác thích thay ca với xạ thủ ở cửa trực thăng. 

Một đơn vị trên chiến trường thường dừng chân vào chiều tối, trên nơi đất cao nếu có thể,  để được tầm nhìn bao quát. Binh sĩ kết thúc một ngày với quần áo bám cứng đất đỏ trộn với mồ hôi, và khoan khoái biết bao khi được gội sạch bằng cát trên dòng sông, nếu có. Walt Boomer bắt binh lính cạo râu – ‘Tôi muốn họ suy nghĩ với tính xảo quyệt của thú vật,  nhưng tôi không muốn họ trở thành thú vật.’ Tuy nhiên,  ít sĩ quan nào dám cưỡng chế loại kỷ luật như thế,  nhất là khi chiến tranh kéo dài hơn và tồi tệ hơn.

Phần nhiều ban đêm họ phải đào hố, công việc mà họ căm ghét, mặc dù việc đó thường tạo nên sự khác biệt giữa sống và chết. Các đơn vị tốt đào hố hai người sâu đến 1 mét, vừa đào vừa chửi thề vì thường gặp đá và rễ cây bên dưới lớp đất mỏng ở bề mặt.  Khi mưa xuống, một điều rất thường, nước trút như thác làm sụp hố và mái lợp bằng poncho, lại kích hoạt một tràng chửi tục tĩu khác. Đào hố xong là nấu ăn, thường trên một lò tự chế bằng hộp thiếc đựng khẩu phần tác chiến đục nhiều lỗ, đốt bằng những miếng nhỏ chất nổ dẻo C-4, rít và bùng ra tia lửa nóng trắng. Mọi người đều thích trái cây đóng hộp và bánh ngọt, trong khi không ai thích thịt heo và đậu lima trừ Walt Boomer. Các đơn vị bộ binh được phát khẩu phần tác chiến, trừ lính trinh sát thì nhận khẩu phần trinh sát, được ưa chuộng hơn. Một số người chịu khó chế biến,  chẳng hạn lấy khoai tây từ hộp thịt-hầm-khoai tây, nghiền nát nó với chất thay thế kem khô, trong khi nấu thịt hầm và nước thịt trong một hộp nhôm. Họ pha cà phê hoặc ca cao, rồi ăn bánh quy có thể phết với phô mai chảy, rắc nhúm rau thơm hoặc củ hành khô.

Sau hai tuần, mọi thứ đều có vị giống nhau,  và đôi khi họ tự hỏi mình may mắn mới được còn sống để ăn: nếu thời tiết khép chặt vòng vây,  ngày tiếp tế bằng trực thăng, cùng với thư và có khi bia, bị hủy bỏ. Phần đông đơn vị đôi khi cũng lâm vào cảnh đói meo, mặc dù không hề đói đến ngấu nghiến như địch thủ của mình. Điều hiểm nghèo tệ hại nhất là cạn kiệt pin trong máy truyền tin, một hiểm họa đặc biệt cho các chuyến tuần tra thâm nhập sâu. Nếu đường liên lạc cắt đứt, cũng có nghĩa là cắt đứt yểm trợ hỏa lực, giải cứu,  và thậm chí sự sống còn. Gần như ai cũng hút thuốc lá, và thuốc lá đi kèm trong khẩu phần tác chiến cùng với kẹo, lưỡi lam cạo râu, kem và bàn chải đánh răng, giấy trắng và viết chì. Thuốc viên đóng một vai trò lớn: họ ngậm các viên muối cục, thanh lọc nước bằng các viên Halizone khiến nước có mùi vị như chất i-ốt, và nếu họ vẫn còn bị tiêu chảy thì phải uống hai viên  Lomotil, bốn lần một ngày. Họ phải nuốt viên thuốc chống sốt rét mỗi ngày trước mặt quân y, bởi vì một số người muốn lên cơn sốt để khỏi hành quân. Vào năm 1967-68, tuy việc lạm dụng ma túy có tăng lên,  phần nhiều chỉ hạn chế ở hậu phương: các sĩ quan và hạ sĩ quan vẫn còn có đủ uy quyền để làm sạch quân nhân tại mặt trận. 

Vào những buổi chiều tối nằm trên võng, hoặc nằm dài trên những giấy bìa thùng đựng khẩu phần trải phẳng ra, một số lấy các cuốn sách đã bầm vập ra đọc. Andy Finlayson đọc ngấu nghiến trên những chuyến tuần tra quan sát.  Anh nuốt các sách lịch sử,  khoa học chính trị, nhân chủng học, Conrad, Hardy, Hemingway, Updike và tác phẩm cổ điển Nhật như Thuyện Kể Genji. Tuy vậy,  truyện tranh khôi hài được ưa chuộng hơn. Harold Bryan đôi khi chỉ đọc Kinh Thánh mà mẹ anh gửi cho anh,  ‘khi tôi không tìm thấy cuốn Playboy (cuốn sách ảnh tươi mát rất được phổ biến thời đó) nào. Ai không thích đọc thì nói chuyện phiếm. David Rogers: ‘Bạn sẽ nghỉ ngợi về gia đình  – “Họ giờ này đang làm gì?”‘ Tôi có một thằng bạn, một trung sĩ, vốn thích chơi ô chữ. Chúng tôi đã trải qua nhiều, và giờ rất gần gũi nhau.’ Sớm muộn gì mọi câu chuyện đều quay về đề tài ám ảnh mọi người: DEROS – ‘Date Estimated Return from OverSeas’ (Ước tính Ngày về từ Nước ngoài), mà mỗi người đều khao khát cháy bỏng trong tim, nhất là khi y gần đến ngày đó. Bài hát ‘Boonierat’ biểu tượng của Dù 101 bắt đầu như sau: ‘Tôi đặt chân lên xứ sở này/Dâng hiến một năm cho nơi đây/Bạn thân duy nhất là khẩu súng/Nguyện cầu duy nhất là được sống.’ Một số người mang ra mặt trận các ‘gậy tính ngày về’ – các gậy chống được chạm khắc tỉ mỉ; những người khác quay sang dùng lịch và tranh dân gian để đánh dấu ngày tháng. Tuy vậy,  một tân binh được cho là xui xẻo khi hỏi một người lính cũ y đã ở VN bao lâu rồi,  trước khi y thấy thích hợp để trả lời.

John Del Vecchio viết: ‘Đối với nhiều binh sĩ Việt Nam là nơi sầu não, tuyệt vọng,  một thung lũng của nỗi khủng khiếp. Phần nhiều  nỗi lo lắng không đến từ bộ đội địch, cũng không từ rừng rậm … mà vì hoàn cảnh phải rời bỏ vợ con, bạn bè và người thân  và hoàn toàn phó mặc cho số phận.’ Một số viết thư,  số khác thu âm. Một ít tên khá ba trợn thu cả tiếng súng cối và pháo 105mm. Băng nghe dĩ nhiên là sống động, nhưng làm kinh hãi bỏ mẹ các người thân bất hạnh ở nhà. Trong khi đó nhiều binh sĩ rảnh rỗi làm trò hề chọc cười. Tim O’Brien viết: ‘Tuổi trung bình trong trung đội chúng tôi là 19 hoặc 20, và kết quả là họ xem mọi việc đều có thể đùa giỡn được,  như một sự kiện thể thao tại một trường cải huấn. Trận tranh đua có thể nguy hiểm chết người, nhưng vẫn chứa nỗi hân hoan trẻ thơ trong đó, với lắm trò đùa giỡn ầm ĩ. Một số, do cố tình hoặc thiếu suy nghĩ,  mang tính bông đùa vào cả trận địa,  và phải trả giá. Một chàng trai ‘lúc nào cùng đùa giỡn được’, cho đến một buổi sáng anh chàng làm trò phía ngoài vòng đai, và giẫm phải mìn, mất một chân.

Trong giờ giấc ban đêm, giấc ngủ mọi người đều bị gián đoạn khi đến phiên mình canh gác, hoặc nếu xui xẻo đi ra ngoài với đội tuần tra, đi nhón gót sợ phải giẫm lên thứ gì đó chết người,  cố gắng tránh vấp phải rễ cây đước hoặc rơi xuống một bờ ruộng.  Ai cùng ghét việc tuần tra đêm, biết rằng kỹ năng xê dịch không gây tiếng động của mình còn kém, nhất là vào mùa khô khi cây khô và lá khô nào cũng kêu răng rắc dưới đôi giày. Vào ban đêm VC có thể đi lại tự do trong ấp và làng, tin chắc là mình không hề gặp bọn Mỹ hoặc Ngụy. Walt Boomer: ‘Ban đêm chúng tôi không ở đó, còn VC thì luôn ở đó.’

Thường nhất, các chỉ huy tự bằng lòng với việc ra ngoài phục kích, cách căn cứ từ 100 đến 1,000 ya. Trung sĩ Jerry Ledoux nói: ‘Tôi luôn tỉnh thức, nhưng tôi hoảng kinh khi gặp các anh chàng ngái ra trò ngay lúc có nhiệm vụ cảnh giác. Một số người đúng là không nhận ra rằng đây không phải trò đùa, mà là vấn đề sống-chết.’ Đại uý

Joe Tenney nhất trí: ‘Có quá nhiều người ngủ gật khi cảnh chừng, mà không có sĩ quan hoặc hạ sĩ quan kiểm tra.’ Thậm chí nếu một tiểu đội phục kích tỉnh táo, khi gặp một số lớn binh địch xuất hiện, phải có sự đồng tình bắn hay không bắn. Wayne Miller đôi khi quá lạnh, ẩm ướt và khổ sở đến nỗi anh phải đi tiểu ra quần, một phần cái ướt nóng hổi khiến anh dễ chịu, một phần đứng lên đi tiểu thì quá nguy hiểm  – nhiều người bị bắn bởi chính đồng đội yếu bóng vía. Trong một tá vụ đụng độ trong thời gian 8 tháng phục vụ trên chiến trường, anh không bao giờ biết liệu anh có bắn trúng ai không,  nhưng một đêm anh đang canh chừng một mìn Claymore trong một vụ phục kích thì ba VC đi qua. Anh đã được dặn dò là không làm gì trước khí có tiếng súng nổ. Rồi súng nổ, địch phóng chạy trở lại con đường mòn, một anh tạm dừng ngay trước nơi ẩn nấp của Miller. Anh liền bật hộp kích nổ, và trông thấy với sự mê hoặc hãi hùng khi những thân người này tan rã trước mắt anh.

Là một đại đội trưởng 1967, Walt Boomer nói: ‘Tôi nhận thấy rằng mình chỉ tiến bộ sau một vài tháng.  Nhưng ngay khi điều đó xảy ra,  bạn đã chuẩn bị ra khỏi cuộc chơi.’ Trong những tuần lễ cuối của anh,  ở phía bắc gần vùng Phi Quân sự, ‘sứ mạng của chúng tôi là tìm bộ đội Miền Bắc.  Đó là một con đường sống tàn nhẫn. Chúng tôi luôn di chuyển  – có lần hành quân suốt 45 ngày đêm không tắm gội. Chúng tôi sống không khác loài cầm thú – và không gặt hái nhiều thành quả.  Khi thì kẻ địch tìm thấy chúng tôi với thế thượng phong,  khi thì chúng tôi tìm thấy địch trong thế áp đảo: Bộ đội Miền Bắc hiểu rằng nếu họ đương đầu trực diện với chúng tôi họ sẽ chết. Chúng tôi không hiểu ra rằng cho dù chúng tôi có bắn giết được bao nhiêu đi nữa, vẫn không bao giờ đủ.

4 Súng Ổng

Trong một vùng quê chật hẹp hỏa lực Mỹ không phát huy tính vượt trội. Ở đó, vũ khí cá nhân của bộ binh mới là thứ đáng kể, và Westmoreland phải trả giá bằng sự khủng hoảng lòng tin cậy trong quân đội mình. Quốc gia có nền công nghệ tiên tiến nhất trên mặt đất lại trang bị cho bộ binh mình một khẩu súng thấp kém hơn thứ mà hầu hết bộ đội Hà Nội trang bị. Xác nhận này cần phải được làm rõ: trên trường bắn, khẩu súng Mỹ tốt hơn nhiều.  Nhưng tại vùng quê hoang vu hẻo lánh thì không. Phẩm chất vượt trội của khẩu AK cộng sản nằm ở chỗ một nông dân tay mơ nằm vùi cùng với khẩu súng AK của mình trong đất, bùn lầy hoặc nước đầm, có thể đứng dậy bắn một tràng đạn tự động ngon lành, điều mà chỉ một sự bảo trì sơ sài cũng gây trục trặc cho hầu hết khẩu M-16.

AK-47, được đánh số theo năm ra đời của nguyên mẫu, là sáng chế của đội thiết kế do Trung sĩ Mikhail Kalashnikov cầm đầu, ông là một cựu binh xe tăng Hồng Quân bị thương vào năm 1941 và sau đó được sử dụng như một chuyên gia vũ khí cá nhân. Niềm cảm hứng cho khẩu AK là vỏ đạn trung gian 7.62 x 39mm do người Đức sáng chế bắn ở cự ly trung bình – 50 đến 200 ya. 

Kalashnikov và nhóm hợp tác lấy viên đạn tương đối nhẹ này và xây dựng quanh nó một khẩu súng tấn công đơn giản không thể tin được, cơ chế khai hỏa của nó có điều gì đó giống khẩu M-1 của Mỹ. Độ tin cậy của nó nhờ vào sự kiện nó chỉ có 8 bộ phận chuyển động lớn, nặng nề, ráp với nhau lỏng lẻo đến nỗi bụi bặm không làm chuyển động gặp trở ngại. Lớp crôm của nòng, buồng hơi và pít tông làm tăng độ bền của súng. Các khuyết điểm duy nhất của súng là nó bắn hơi lệch về bên trái, và tiếng ‘clack’ khá lớn khi kéo cần lên đạn

Độ không chính xác của  AK-47 không quan trọng; vì nó có thể khiến du kích quân tạo ra hỏa lực ác liệt,  thường là bán tự động hay từng loạt ngắn. Gần 100 triệu khẩu đã được sản xuất từ năm 1947, tại những nhà máy trên khắp thế giới cộng sản. Tác phẩm của Kalashnikov đã chứng tỏ là vũ khí có tầm ảnh hưởng lớn nhất trong lịch sử, vũ khí được chọn của người cách mạng từ Angola đến Philippin, được nhận diện lập tức bởi băng đạn hình quả chuối. Vào năm 1963 Trung Quốc bắt đầu cung cấp cho Miền Bắc biến thể Norinco-56 của họ, trở thành công cụ chịu trách nhiệm cho việc sát hại hoặc gây thương tích cho binh sĩ Mỹ và QĐVNCH nhiều hơn bất cứ vũ khí nào trên mặt trận.

Trong thời kỳ Triều Tiên Quân đội Mỹ xem AK với vẻ khinh thị, chỉ là khẩu súng máy tầm thường. Ngũ Giác Đài bác bỏ một đề nghị của Anh vào năm 1953 muốn trang bị NATO một vũ khí tấn công hạng nhẹ tương tự cỡ .280, vì thích M-14 bán tự động, tầm xa, thân dài 4 bộ và nặng 12 cân của mình hơn. Tuy nhiên,  vào tháng 10 1962, McNamara viết cho thư ký quân đội Cyrus Vance: ‘Tôi đã bắt gặp chứng cứ  … có vẻ cho thấy với khẩu M-14, chúng ta đang trang bị cho các lực lượng của ta một vũ khí rõ ràng thấp kém về hỏa lực và hiệu quả tác chiến hơn khẩu súng trường mà Liên Xô trang bị cho họ và các lực lượng chư hầu của họ trên khắp thế giới từ năm 1950.’

Quân đội không có gì trên ngăn tủ của mình để dùng nó đáp ứng với lời kêu gọi  cho một vũ khí Mỹ mới.  Họ quay sang Colt, nhà sản xuất một khẩu súng cỡ nhỏ đặt tên AR-15 hay ArmaLite. Khẩu súng này gốc được chế tạo trong một xưởng tại một gara Hollywood  của George Sullivan, một kỹ sư hàng không hãng Lockheed mê say vũ khí nhỏ. Sullivan thuê Eugene Stoner, một cựu TQLC có trình độ súng ống, cầm đầu một nhóm thiết kế.  Fairchild Aviation mua lại công ty của họ, vốn đã sản xuất một vài khẩu súng tuy chưa đi vào sản xuất đại trà, nhưng khiến quân lực quan tâm. Khẩu AR-15 của Stoner tiến hóa thành một vũ khí cỡ 5.56mm tiện lợi chỉ cân nặng 6.35 cân chưa có đạn, dài 39 in-xơ, vỏ ngoài bằng nhựa màu đen. Vào năm 1959 Fairchild bán ArmaLite cho hãng Colt, và Colt bắt đầu xúc tiến tiếp thị khẩu AR-15, được sản xuất tại nhà máy Hartford, Connecticut.

Những thử nghiệm đầu tiên tại Việt Nam gây ra phấn khởi, nhất là ở tính chính xác  và nhẹ nhàng của nó, nhưng có vấn đề là đạn có tốc độ quá cao dễ bị vỡ ra nhiều mảnh khi đụng vào mục tiêu,  tạo ra hiệu ứng đum-đum và do đó có thể vi phạm luật quốc tế về chiến tranh (vì ở đầu ra của viên đạn vết thương tan hoác một lỗ rất to nên bị cấm dùng trong chiến tranh vì trông khá vô nhân đạo:ND). Các thí nghiệm thực địa bí mật rùng rợn được tiến hành ở Trường Bắn Aberdeen của Quân đội tại  Maryland vào các con dê angora còn sống, cắt đứt đầu người và tứ chi tuồn vào từ Ấn. Thí nghiệm kết luận với tin tốt đẹp là AR-15 gây tổn thương xương sọ nhiều hơn AK-47  hoặc M-14.  Vào tháng giêng 1963 Earle Wheeler báo cáo rằng súng mới rõ ràng vượt trội hơn khẩu Kalashnikov. Ông nhìn nhận còn một số hoài nghi về độ tin cậy của nó, nhưng cho rằng những khuyết điểm này có thể ‘sẵn sàng được điều chỉnh’. Vào tháng 12 Ngũ Giác Đài ký hợp đồng lớn đầu tiên mua 104,000 khẩu, giờ được gọi là M-16.

Đến 1965 M-16 vẫn còn được thử nghiệm thực địa,  và báo cáo cho các kết quả lẫn lộn.  Trung tướng Hal Moore duyệt xét và mê tơi khẩu súng sau khi Kỵ binh 1/7th sử dụng nó tại trận thung lũng Drang,  và việc này thuyết phục Westmoreland ủng hộ nó. Trong khi đó Colt lốp-bi cho Đồi Capitol (tức Quốc Hội Mỹ), khai thác các báo cáo của giới truyền thông cho rằng binh sĩ ở chiến trường cảm thấy bị thua thiệt khi đấu với AK-47 bằng M-14 đã lão. Thượng nghị sĩ có ảnh hưởng Richard Russell điện thoại cho McNamara vào ngày 7 tháng 12 và nói ngắn gọn,  ‘Mua 100,000 khẩu súng hôm nay đi, không tôi loan chuyện này cho báo chí.’ Hợp đồng liền được ký kết. Colt đã công bố thâm thụt tài chính trong năm 1963, nhưng M-16 đã đẩy nó lên thời kỳ tăng vọt: vũ khí mới rốt cục sẽ bán được 8 triệu khẩu.

 

Nhưng vấn đề nơi thực địa bao quát bắt đầu ngay khi các sai sót thiết kế khó chịu trở nên hiển hiện.  Quân đội yêu cầu một vũ khí có khả năng bắn tầm xa, hiệu quả ở khoảng cách 500 ya, tạo áp lực căng thẳng lên các bộ phận hoạt động của một vũ khí tự động nhẹ, nhất là thuốc súng dạng bội bi trong vỏ đạn gây ra sức nổ siêu năng lượng và làm dơ nòng súng nặng nề. Tờ The Shooting Times, cẩm nang của những người say mê súng dân sự, gặp sự cố hỏng hóc của M-16 lặp đi lặp lại trong bài kiểm tra. Các báo cáo của nó được in ra cho rằng những khuyết điểm này nên được điều chỉnh trước khi giao cho quân đội  – nhưng chúng vẫn không được điều chỉnh.  Nhà sử học về súng C.J. Chivers đã viết: ‘Quân đội và Công ty Colt thực tế đã sản xuất hàng loạt khẩu súng nguyên mẫu, và đang tinh chỉnh nó khi nó trục trặc trong tay binh sĩ.’

Qua năm 1966, binh sĩ đang chiến đấu ở Việt Nam gặp các vấn đề dai dẳng với vũ khí mới của mình, vốn nhanh chóng bị bào mòn trong điều kiện nhiệt đới. Sau khi một viên đạn được bắn đi, vỏ đạn thường kẹt trong ổ đạn. Lúc đó người lính phải dùng một cây que đẩy nó – nếu ý may mắn tìm được que – xuống nòng súng, dưới hỏa lực của địch. Luôn có tình trạng thiếu hụt công cụ bảo trì kinh niên,  khiến mọi người sử dụng dây điện thoại hoặc dây nylon thay thế. Một số viết thư về nhà, nhờ người thân gửi ra chiến trường các que chùi. Trong số 2,000 khẩu M-16 kiểm tra đầu tiên bởi hãng chế tạo vũ khí,  384 khẩu trục trặc.

 

Tai tiếng thực sự của khẩu súng bắt đầu ở đây. Sau những cánh cửa đóng kín,  Quân đội Hoa Kỳ biết rằng mình đối mặt với một vụ khủng hoảng: nó đang trang bị cho bộ binh một công cụ không thích hợp để tác chiến sống còn. Tuy nhiên,  hàng tháng trời, nó ra sức giấu nhẹm vụ này. ‘Những rắc rối mới nhú lên’ bị đổ lỗi cho binh sĩ sử dụng thao tác lau chùi cẩu thả. Đại tá Richard Hallocks của Cục Phát triển Nghiên cứu Cao cấp của quân đội  cầm đầu một chiến dịch nhằm che giấu các khiếm khuyết của M-16, trước hết là đối với Quốc Hội.  Ông đặt con dấu ‘BÍ MẬT GIỮ KÍN’ trên một bảng ghi nhớ của Cục về khẩu súng. Một vụ bưng bít có tính thể chế được phát động,  để bảo đảm cho việc tung ra thị trường của khẩu M-16 có thể tiếp tục không bị gián đoạn.  Vào tháng 2, TQLC bắt đầu nhận vũ khí tại Việt Nam.  Khi binh lính sử dụng khiếu nại về tình trạng kẹt, người ta lại đổ lỗi cho người sử dụng vụng về. Tại một cuộc họp báo ở Đà Nẵng  Trung tướng Lew Walt nhấn mạnh rằng binh lính ông ‘100 phần trăm chịu khẩu súng mới. MACV cảnh báo các sĩ quan thông tin của mình không nhìn nhận gì về sự trục trặc của M-16.

Các TQLC và binh sĩ nổi giận dù sao đi nữa cũng bắt đầu viết thư về nhà. Vào ngày 26 tháng 3 1967 Tờ Washington Daily News vạch  trần câu chuyện, xác nhận một lòng tin lớn mạnh trong các binh sĩ là loại súng cũ của người cộng sản ưu việt hơn súng mới của Mỹ. Các câu chuyện bất thường bắt đầu rỉ rả về các trận đụng độ trong đó hàng chục người bỗng thấy mình đấu vật với các khẩu súng bị kẹt đạn. Sau một trận đánh một TQLC được trích dẫn trong một tờ báo địa phương Mỹ Asbury Park Evening News, nói: ‘Bạn biết cái gì giết chết phần đông binh lính chúng ta không? Chính khẩu súng trường của chúng ta  … Thực tế là mỗi binh sĩ bị tử trận của chúng ta đều được tìm thấy với khẩu súng bị tháo rời nằm cạnh anh nơi anh đang bận sửa chữa nó.’ Điều này chắc chắn là cường điệu,  nhưng Quốc Hội bắt đầu chú ý. Vào ngày 20 tháng 5 1967 một dân biểu từ New Jersey gửi mục tin trong tờ Asbury Park đến McNamara, để sau đó không thể nói là mình không hay biết.

Đây là thời điểm TQLC đang giao tranh trong cái gọi là  trận đánh Trên Đồi, trong đó hơn 150 người chết – một số họ mang súng nhưng không bắn được.  Vào tháng 7, các TQLC 2/3rd chịu các tổn thất to lớn giữa những khó khăn tiếp tục với khẩu M-16. Đại uý Gerry Turley mô tả việc đổi vũ khí cho tiểu đoàn anh là ‘một thảm họa … Chúng tôi vừa được lệnh,  “Bỏ các M-14 vào đống này, và nhận M-16 từ đống kia.” Tỷ số súng trục trặc tăng lên 75 phần trăm.  Chúng tôi phản ánh và họ chỉ nhún vai “Chùi sạch hơn nữa.”‘ Khi tiểu đoàn mất tất cả năm đại đội trưởng trong 30 ngày giao tranh ác liệt,  một số sĩ quan đổ lỗi công khai sự thương vong cao là do vũ khí mới. Turley nói: ‘Bạn có thể tưởng tượng điều đó gây ảnh hưởng thế nào cho tiểu đoàn bộ binh hay không? Nhân tố tinh thần binh sĩ thật là thảm hại.’

Một Trung uý 23 tuổi tên  Michael Chernevak viết về nhà mô tả chi tiết cách nào trong một trận đánh 40 vũ khí của đại đội trục trặc mà anh lại là sĩ quan điều hành.  Anh gửi bản sao bức thư cho dân biểu của mình, cho Bobby Kennedy, và cho cánh báo chí đứng đầu là Washington Post, công bố bức thư vào ngày 29 tháng 10. TQLC phản ứng bằng cách xem xét không phải khiếm khuyết của khẩu súng, mà thay vào đó tội của người viết thư. Chernevak nhận một lời khiển trách chính thức.

Nhưng một đại diện của Colt ở châu Á, Kanemitsu Ito, viết cho giám đốc của mình phát biểu rằng các cáo buộc về khiếm khuyết của sản phẩm đã được xác minh. Chính ông đã dự một buổi họp với các TQLC mà ông mô tả như đứng trước mặt ‘một lồng sư tử đang gầm gừ phẫn nộ’. Ito nói rằng hầu hết binh sĩ đều thù ghét khẩu súng mới,’ và có quyền thù ghét nó. Colt đáp ứng với các tin tức nội bộ  và với các bài viết được đăng tải bằng các che chắn chứa đầy dối trá.  Họ ương ngạnh cự tuyệt nhìn nhận khẩu súng họ bị sai sót. Đến cuối năm 1967 các M-16 được trực thăng đổ đống xuống cho các tiểu đoàn TQLC ngay trên mặt trận,  mà không được huấn luyện làm quen trước. Walt Boomer nói: ‘Đó quả là một ác mộng.  Trong một cuộc phục kích nửa số súng bị trục trặc.  Tôi đã luôn yêu quý Quân đoàn TQLC,  nhưng tôi cũng cho họ chịu trách nhiệm cho các hành động ngu ngốc.’ Tương tự như vậy, Judd Kinne luôn cho rằng M-14 là vũ khí tốt hơn.

AK-47 không phải lúc nào cũng được mọi người ngưỡng mộ: một sĩ quan Miền Nam cho binh sĩ mình kiểm tra súng, báo cáo rằng phần đông cuối cùng buông bỏ chúng, cho rằng nó khó thay băng đạn khi đang chạy, chúng dễ rỉ sét, và trở nên nhanh chóng giảm tác dụng khi khai hỏa thật rát. Quân đội Hoa Kỳ và Quân đoàn TQLC phải học cách sống chung với M-16, và chiến đấu với nó; nhiều phụ tùng lau chùi được phân phát. Hai năm sau một phiên bản cải tiến với một bộ phận giảm sốc mới và một nòng mạ crôm hoạt động tốt hơn. . Nhưng điều cơ bản vẫn giữ nguyên là trong khi M-16 là một vũ khí tinh tế hơn AK-47 nhiều,  thì ngược lại nó không cứng cáp bằng.

Như nhiều người ngây ngô, William Westmoreland thích làm ngôi sao, ít nhất cho đến khi ánh lóe sáng rực của nó hủy hoại tiếng tăm của ông.  Một hôm khi vị thủ lĩnh MACV đi thăm Không Kỵ 1, Don Graham tháp tùng một vài giờ với ông lớn và ba phụ tá. Anh hỏi một phụ tá, ‘Thưa ngài, chính xác ngài làm việc gì cho tướng quân?’ Câu trả lời là: ‘Tôi mang theo quân phục mới ủi sạch sẽ cho ông để ông trông không tệ hại khi gặp binh sĩ.’ Vào tháng 11 1967, theo yêu cầu của Lyndon Johnson vị tướng làm một chuyến về nước thu hút sự chú ý của công chúng,  để góp thêm sức nặng của ông cho bảo đảm cuộc chiến đang trên chiều hướng tốt đẹp. 

Trong chốn riêng tư, Westmoreland không nghĩ điều gì như thế – ông luôn yêu cầu thêm,  thêm nhiều quân nữa. Dù sao đi nữa thì ông cũng làm tròn công việc mà tổng tư lệnh muốn.  Tờ Washington Star sử dụng lời lẽ của ông trong phóng sự ngày 7 tháng 11 có tựa đề ‘Theo Một Ý Nghĩa Quân Sự Cuộc Chiến Sắp Sửa Thắng Lợi’. Bob Considine của tờ  Philadelphia Inquirer vang dội bài hát của vị tướng khi ông viết: ‘Hãy thôi nhằn nhì. Chúng ta đang chiến thắng cuộc chiến tồi tệ này. Nó không,  xin lặp lại  không,  bế tắc.’ Vào ngày 21 tháng 11 Westmoreland bảo với Câu lạc bộ Báo chí Quốc gia: ‘Địch đã không thắng một trận đánh lớn nào trong hơn một năm  … Lực lượng lớn của họ chỉ có thể chiến đấu tại rìa khu vực ẩn náu của họ  … Lực lượng du kích của họ đang suy giảm với tốc độ đều đặn. Các vấn đề về tinh thần chiến đấu của họ đang phát triển.’ Even James Reston, một kẻ hoài nghi mãn tính, giờ cũng cảm thấy buộc phải xem sự bày tỏ niềm tin của Westmoreland với sự tôn trọng. Sau lần xuất hiện tại Câu lạc bộ Báo chí Quốc gia, phe trung thành và ái quốc trên khắp nước Mỹ tập kết sau lưng vị tổng tư lệnh và vị tướng của họ. Hơn nữa,  họ còn hô hào lớn tiếng hơn lên án những kẻ nói không. Tại hội nghị Liên đoàn Lao động và Đại hội các Tổ chức Công nghiệp Hoa Kỳ vào ngày 2 tháng 12, ngoại trưởng Dean Rusk so sánh bọn phản chiến với quân đoàn bão táp của Hitler.

Nhưng Đại uý John McNamara viết thư về nhà: ‘Giữa VC/Bộ đội và cá nhân tôi có một sự tôn trọng chân thật và cùng chia sẻ… Chúng ta đang tiến gần đến một tình huống đáng sợ như người Pháp  – bất khuất về quân sự nhưng phân mảnh một cách tuyệt vọng về chính trị.’ Sau này anh viết: ‘Lúc đó tôi hoang mang về những gì lẽ ra chúng ta nên làm, và giờ này tôi cũng còn hoang mang.  Vào thời gian tôi về nước (tháng 7 1968) tôi cảm tạ Chúa cho tôi ra khỏi đó, và tôi sẽ không khuyên ai khác nên đi.  Chúng ta có thể ở đó suốt 20 năm mà không tạo ra sự khác biệt.  Thực tế trung tâm là chúng ta không thế tìm ra kẻ thù.’

. recommended to anyone else that they should go. We could be there twenty years without making any difference. The central fact was that we couldn’t find the enemy.’ Graham viewed the war from what might be called a privileged low level, but he was right

Như nhiều sĩ quan Miền Bắc ngay thẳng Phạm Phú Bằng không giấu được nỗi ngán sợ trước các cuộc tấn công của Mỹ ở tỉnh Tây Ninh vào tháng 8 1967 trong Chiến dịch Junction City: ‘họ cứ tiến lên và tiến lên’. Bộ đội anh thấy mình cạn kiệt lương thực, đồ dùng y tế, vũ khí,  quân nhu.  Bằng tin rằng giờ phút cuối của mình đã đến khi đơn vị anh được giao nhiệm vụ hậu quân trong một cánh rừng hừng hực lửa hỗ trợ cho sư đoàn rút ra. Hết giờ này đến giờ khác họ sấp trên vũ khí của mình chờ đợi chiến đấu  và chết. Nhưng quân Mỹ cứ vượt qua mặt họ. Chầm chậm gần như không tin được,  Bằng và đồng đội nhận ra rằng mình còn sống để chiến đấu vào một ngày khác  – đứng ra nhiều ngày khác. 

Năng lượng và tính dã man của cộng sản dường như không hề giảm sút sau tất cả trận càn quét,  tuần tra,  không kích với mật danh thật mỹ miều.  Vào tháng 12 1967, đã chiếm được cộng đồng đồng bào Thượng Đak Son ở Cao nguyên Trung phần, họ giết hơn 250 trong số 2,000 dân trước khi đốt rụi làng. Và tại Sân Rồng, các tướng lĩnh Miền Bắc đang lên kế hoạch cho những sự kiện to tát hơn.


Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s