Thiếu Tướng Perry vào lãnh địa tướng quân

9645006

 Rhoda Blumberd

Trần Quang Nghĩa dịch

PHẦN I

 NGƯỜI MAN DI ĐẾN

1

Các Tàu Đen đến, ngày 8/7/1853

1 • NGƯỜI LẠ ĐẾN

Nếu quái vật xuất hiện trên đất Nhật hiệu quả có thể cũng không gây khiếp đảm hơn.

Những cư dân trong làng đánh cá Shimoda là những người đầu tiên phát hiện ra bốn khối khổng lồ, hai khối bốc ra khói, trên mặt đại dương và tiến gần lại bờ biển. “Những con rồng thở ra khói,” một vài người la lên. “Những tàu lạ bốc lửa,” những người khác tiếp nối. Theo truyền thuyết dân gian, khói trên sóng nước là do những con trai thở ra. Chỉ có trẻ con mới tin chuyện như thế. Có lẽ kẻ thù biết cách đẩy núi lửa về đất Nhật. Ắt hẳn có điều gì đó khủng khiếp sắp sửa xảy ra vào ngày này, thứ sáu, ngày 8/7/1853.

Ngư phủ vội vã kéo lưới về, chụp lấy mái chèo, và cuống quýt chèo về bờ. Họ ở gần nên biết được những khối bí mật trôi nổi này chính là những con tàu lạ. Những con tàu đen ợ ra khói đen! Họ chưa hề thấy một vật như thế. Thậm chí họ không biết có sự tồn tại của tàu hơi nước, và họ khiếp đảm trước số lượng và kích cỡ các súng thần công.

Bọn man di đến từ tầng mây! Không biết họ có xâm lăng, bắt cóc, tàn sát, rồi hủy diệt mọi thứ? Miền đất thiêng liêng  Mặt Trời Mọc sẽ ra sao?

Báo động vang lên cùng khắp. Chuông chùa ngân vang, và các người đưa tin truyền tin tức ra khắp nước Nhật để cảnh báo mọi người rằng kẻ thù xa lạ đang tiến đến trên những con tàu.

Tin đồn loan truyền rằng “100,000 bạch quỷ” chuẩn bị dày xéo đất nước. Dân chúng kinh hoàng. Họ mang của cải quí giá và đồ đạc toả đi mọi hướng để lánh nạn bọn man rợ xâm lăng.

Đàn bà và trẻ con bị khóa kín cửa ở nhà hoặc gởi đến bạn bè và người thân ở nội địa, tránh xa bờ biển hiểm nghèo.

Các người đưa tin vội vã đến thủ đô Edo (Tokyo ngày nay) để cảnh báo với các quan chức chính quyền. Edo, thành phố lớn nhất thế giới với hơn một triệu dân, lâm vào cảnh hỗn loạn đúng vào ngày các con tàu xuất hiện. Phụ nữ ẵm con chạy tán loạn khắp đường phố. Các ông thì cõng mẹ, không biết trốn đi đàng nào.

Ai có thể kiểm soát được cơn hỗn loạn? Hoàng đế Komei sống cô lập trong hoàng cung của mình ở Kyoto. Mặc dù ngài được tôn thờ như dòng dõi thần linh của Thái dương Thần Nữ, Amaterasu, ngài chỉ là con rối bất lực, chủ yếu chỉ có trách nhiệm điều hành những lễ nghi tôn giáo. Trong giờ nhàn rỗi ngài nghiên cứu cổ thư và làm thơ. Người Nhật xem hoàng đế của mình là “người sống ở trên các tầng mây”. Theo luật, ngài không được rời hoàng cung trừ khi được chính quyền ban phép đặc biệt. Vùng ảnh hưởng của hoàng đế là thuộc thế giới khác. Mọi quyết định thế tục đều do các shogun (tướng quân), người nắm quyền thực sự trong hơn 700 năm qua, đưa ra.

Từ shogun có nghĩa là “vị thống soái đánh đuổi bọn man di.” Thật thích đáng biết bao vào thời điểm này! Chắc chắn Shogun sẽ truyền lệnh!

Nhưng Shogun  Ieyoshi, người đánh chiếm lâu đài ở Edo vào năm 1853, là một người nhu nhược. Thậm chí không ai buồn nói cho  ông biết tin tức đáng sợ này. Ba ngày sau khi tàu đến, trong khi ngồi thưởng thức vở kịch Noh được trình diễn cho ông trong lâu đài, ông mới nghe thoáng được lời râm ran về các con tàu. Tin tức khiến ông choáng váng phải đi nằm, tâm trí bất an.

Vì Shogun bất lực, các cố vấn của ông, gọi là Bakufu, thay ông cai trị đất nước. Nhưng theo một báo cáo, “Họ bị chấn động đến nỗi không thể mở miệng.” Bakufu lẽ ra không phải kinh ngạc đến thế. Trước khi đến Nhật hạm đội Mỹ đã bỏ neo tại Loo Choo (giờ là Okinawa). Các do thám Nhật ở đó đã gởi tin báo là các tàu Mỹ đang trên đường đến Nhật. Nhưng vì những lý do bí ẩn, chính quyền không quan tâm đến các báo cáo này cho đến khi các con Tàu Đen đến nơi vào ngày 8/7. Sau khi bình tĩnh trở lại, họ ra lệnh những đại gia tộc chuẩn bị đánh đuổi bọn man rợ.

Bị cách ly khỏi phần còn lại của thế giới, xem Thái Bình Dương là chiến hào của mình, Nhật Bản đã duy trì một xã hội phong kiến tương tự như của châu Âu thời Trung cổ. Có các lãnh chúa (daimyos), hiệp sĩ (samurai), và tôi tớ lao động trên lãnh địa của lãnh chúa và nộp tô cho chủ nhân.

2

Một samurai sẵn sàng chiến đấu

Xứ sở không có chiến tranh kể từ khi xâm lăng Triều Tiên vào năm 1597. Đã qua 256 năm rồi. Dù sao thì các lãnh chúa phong kiến cũng có thể động viên bình sĩ. Những người chưa từng ra trận bắt đầu đánh sạch rỉ sét ra khỏi giáo gươm. Họ cắm lông mới vào các mũi tên cổ của gia đình. Các thợ may bị cưỡng bách vào lao dịch để gắn dây lụa lên áo giáp, may chiến y, và khâu mũ bông để nâng đỡ mũ sắt nặng. 17,000 chiến binh đã sẵn sàng lâm chiến.

Khi các con tàu tiến về đất liền ngày đầu tiên đó, các thuyền phòng vệ Nhật ra khơi để bao vây kẻ thù. Nhưng họ không thể đuổi kịp các con tàu địch quá ma thuật đến nỗi có thể lao tới ngược gió mà không cần dùng buồm hoặc mái chèo.

Lúc 5 giờ chiều các tàu lạ neo đậu cách bờ một dặm rưỡi, tại Vịnh Edo. Họ cách thủ đô không tới 35 dặm. Những dốc đá đẹp, những ngọn đồi xanh cuồn cuộn, và trên hết, Núi Phú Sĩ đội tuyết tạo nên một cảnh tượng đẹp đến não lòng. Sau hoàng hôn, những đốm lửa hiệu lấm tấm trên mặt đất, và tiếng chuông chùa ngân vang không ngớt.

Đêm đó một thiên thạch có chiếc đuôi bốc lửa lướt qua bầu trời như một tên lửa. Một điềm xấu của các thần linh! Chùa chiền và đền thờ đều đóng chặt cửa. Các nhà sư bảo với Phật tử là bọn người man rợ sắp sửa đến đây để trừng phạt họ vì những tội lỗi của mình.

2 • CON TÀU ĐEN CỦA BỌN XẤU ÁC

3

Chiếc Susquehanna là tàu buồm chạy bằng hơi nước

Bốn con tàu và 560 thuyền viên của Hải quân Mỹ đã gây ra cơn cuồng loạn này. Tàu Mississippi và Susquehanna chạy bằng hơi nước. Tàu Plymouth và Saratoga là tàu ba cột buồm được tàu hơi nước kéo đằng sau. Người Nhật gọi bốn tàu này là “Tàu Đen của Bọn Xấu Ác.”

Thiếu tướng Hải quân Matthew Calbraith Perry chỉ huy đội tàu. Ông không đến đây để xâm lăng. Ông hi vọng là người đem đến hoà bình và biến Đế chế cô lập Nhật Bản thành một thành viên của “gia đình những quốc gia văn minh” trên thế giới. Sứ mạng của ông là mở cánh cửa Nhật Bản. Nó đã đóng sập cửa với tất cả trừ một số ít thương buôn Trung Quốc và Hà Lan, những người được chính thức cho phép vào đã hơn 200 năm.

Perry hi vọng trao được thư của Tổng thống Millard Fillmore cho Hoàng đế Nhật, đề nghị rằng “Hoa Kỳ và Nhật Bản sẽ sống trong hòa hiếu và cùng xúc tiến thương mại.” Bức thư yêu cầu Nhật mở cửa các cảng để các con tàu Mỹ có thể ăn than và đồ tiếp tế.

Mỹ đã đầu tư 17 triệu đô trong ngành kỹ nghệ săn bắt cá voi ở Thái Bình Dương, nên cần các cảng của Nhật để tàu săn cá voi ăn than và lấy đồ tiếp tế. Dầu cá voi rất cần thiết để đốt sáng và bôi trơn động cơ.

Thư của Tổng thống Fillmore cũng yêu cầu những người đã đắm tàu trôi giạt trên bờ biển Nhật trước đây được đối xử tử tế. Điểm này được nhấn mạnh vì nhiều tàu săn cá voi Mỹ đã bị đắm ngoài khơi Nhật Bản trong những trận bão dữ dội, và những người trôi giạt đã bị cầm tù và ngược đãi.

Perry dự tính trao thư xong sẽ ra đi trong hoà bình. Ông sẽ trú đông ở Hong Kong. Với chỉ có bốn tàu và đồ cung cấp chỉ kéo dài không quá một tháng, ông không thể nán đợi thư phúc đáp của Hoàng đế, nhưng ông dự tính sẽ trở lại trong mùa xuân – khi đồ cung cấp nhiều hơn và đội tàu nhiều chiếc hơn.

Ngài Thiếu tướng cũng xác định không sử dụng vũ lực trừ khi để tự vệ. Nhưng ông cảm thấy rằng mình không thể tin cậy hoàn toàn những người phương Đông lạ lẫm này. Ông không dám liều lĩnh, vì ông nhớ lại tàu Morrison, một con tàu Mỹ đã chạy vào Vịnh Edo trong một sứ mạng hòa bình vào năm 1837. Lý do là để trao lại 7 người Nhật bị đắm tàu trở về xứ sở của họ. Nhưng người Nhật đã khai hỏa và buộc tàu phải quay về biển.

4

Thiếu Tướng Hải quân Matthew C. Perry

Để đề phòng, đoàn tàu của Perry neo đậu theo đội hình chiến đấu mặt hướng về bờ biển. Đại bác và súng đều nạp đạn. Mọi chiến sĩ đều ở vị trí chiến đấu.

Các thuyền phòng vệ của Nhật tiến đến các tàu Mỹ đang neo đậu. Mỗi con thuyền, tiến lên  do 6 đến 8 tay chèo đứng, chứa khoảng 30 binh lính. Buộc dây thừng vào tàu, họ cố leo lên boong tàu. Thiếu tướng Perry ra lệnh cho thủy thủ cắt dây thừng và dùng chĩa và đoản kiếm lưỡi cong để đuổi người Nhật đi xuống. Một số cố leo lên dây neo tàu Mississippi

Chỉ cần đập vào các ngón tay là binh sĩ Nhật đã rơi tõm xuống biển. Tất cả binh lính Nhật hú hét và la ó một cách giận dữ.

Việc Perry thẳng thừng không cho phép họ lên tàu là dựa vào kinh nghiệm bẽ bàng trước đây của một thiếu tướng Mỹ khác. Bảy năm trước, vào năm 1846, Thiếu tướng James Biddle đã bỏ neo ở Vịnh Edo, hi vọng trao được thư của chính quyền Hoa Kỳ cho Hoàng đế. Bức thư yêu cầu được tự do giao thương giữa hai đất nước. Để thể hiện tình thân hữu, Biddle cho phép nhiều đám binh lính Nhật lên tàu. Một tên lính thô lỗ xô đẩy Biddle khiến ông té ngã. Với thái độ hòa hiếu, Biddle ôn tồn chấp nhận lời xin lỗi, mà người Nhật cho là một cử chỉ yếu đuối và hèn nhát. Các quan chức Nhật chế giễu ông, không chịu giao văn kiện, và lệnh cho ông ra đi lập tức. Vì đã có lệnh không được gây xung đột, Biddle liền giong buồm ra đi.

Perry quyết định rằng trừ khi các thỏa thuận thành công, ông sẽ không cho phép nhiều hơn ba viên chức lên tàu mỗi lần.

Một thuyền phòng vệ Nhật cập sát con tàu chỉ huy của Thiếu tướng, tàu Susquehanna. Người Nhật giơ cao một lệnh chỉ viết bằng chữ Pháp to, “Hãy ra khỏi đây! Không được bỏ neo!” Rồi một tên Nhật hô to bằng tiếng Anh, “Tôi nói được tiếng Hà Lan.” Y xin được lên tàu. AntÓn koPortman, thông ngôn Hà Lan – Nhật của Perry, bước lên boong. Ông giải thích rằng Thiếu tướng chỉ tiếp những quan chức cao cấp nhất lên tàu. Khi được đáp là có một viên chức quan trọng trên thuyền phòng vệ, ông hạ thang dây xuống.

5

Thông ngôn AntÓn Portman, do một họa sĩ Nhật vô danh vẽ

Nakajima, được giới thiệu là  xã phó của ngôi làng Uraga nhỏ gần đấy, leo lên. Thật ra, Nakajima không phải là xã phó, mà chỉ là một viên chức nhỏ. Y được một thông ngôn nói được tiếng Hà Lan tháp tùng.

Thiếu tướng Perry vẫn rút vào cabin của mình. Ông từ chối xuất hiện trước một xã phó hoặc bất cứ ai ngoài sứ giả quan trọng nhất của Hoàng đế. Trung úy John Contee được lệnh tiếp Nakajima. Contee giải thích rằng những ý định của Thiếu tướng là có tính thân hữu. Perry chỉ muốn trình một bức thư của Tổng thống Hoa Kỳ lên Hoàng đế Nhật Bản.

Nakajima trả lời rằng các tàu Mỹ phải đi đến cảng Nagasaki, nơi có trạm thương mại Hà Lan để người Hà Lan có thể làm trung gian.

Trung úy chuyển lời Perry bảo rằng mình sẽ không bao giờ đi đến Nagasaki và nếu tất cả con thuyền phòng vệ không giải tán ngay lập tức sẽ gặp rắc rối. Nakajima bước tới cầu tàu, hô lớn ra lệnh và vẩy quạt, và tất cả con thuyền phòng vệ trừ thuyền ông đều lui về ngay lập tức. Khi Nakajima rời đi y hứa sẽ có một quan chức cao cấp hơn sẽ đến gặp Perry vào hôm sau, thứ bảy, ngày 9/7.

Đêm đó, khi thiên thạch lướt qua bầu trời, Perry ghi chú trong nhật ký của mình đây là một điềm lành: “. . . chúng tôi cầu nguyện Thượng đế cho nỗ lực hiện giờ của chúng tôi nhằm mang dân tộc kỳ lạ và cô lập này về với gia đình các quốc gia văn minh có thể thành tựu mà không phải đổ máu.”

3 • CHÀO NGÀI BÍ ẨN CAO CẢ VÀ HÙNG MẠNH

Lúc bình minh người Mỹ rất đỗi ngạc nhiên khi thấy một thuyền chở đầy các họa sĩ dừng gần tàu Susquehanna. Sử dụng những cọ lông tinh tế, mực mài và những xấp giấy gạo, họ phác họa những con tàu và bất kỳ thủy thủ nào họ nhìn thấy. Sự tò mò của họ rõ ràng là đã thắng nỗi sợ hãi. Trong vòng một tuần, các bức tranh những con Tàu Đen và “những người man di lông lá” được rao bán trên đường phố và các cửa hiệu. Chúng cũng được sao chép lại trên những cờ kỷ niệm, tranh cuộn, quạt giấy, và khăn.

6

Một cái nhìn khác của người Nhật đối với Thiếu tướng Perry

Trong khi những phóng viên-nghệ sĩ này hoạt động như những thông tin viên chiến tranh, bờ biển sôi sục hoạt động. Phụ nữ và trẻ con khuân những giỏ cát giúp các ông dựng lên các pháo đài mới. Hàng ngàn lính tráng bước tới lui trong khi các chỉ huy của họ xác định những vị trí chiến đấu có tính chiến lược. Họ phô trương những lá cờ đầy màu sắc trang trí với những quân hiệu của lãnh chúa họ. Một số nhắm súng hỏa mai vào đoàn tàu của Perry. Họ dựng những tấm bạt dọc theo bờ biển để che giấu những hoạt động của mình, nhưng người Mỹ có thể nhìn qua được. Các thủy thủ thích thú và đặt tên cho những tấm bạt là “đồn vải bố”

7

Hoạ sĩ Nhật đặt tên cho bức tranh này là Chân dung một Quan chức Cao cấp của Cộng Hòa Bắc Mỹ

Lúc bảy giờ sáng, Kayama, người được gọi là “thống đốc” của làng Uraga, được chào đón lên tàu Susquehanna. Thật ra y chỉ là cảnh sát trưởng. Xã trưởng thực sự của làng, vốn không muốn gặp những tên man di, cho phép Kayama thay thế mình. Mặc bộ áo lụa có thêu, đội mũ sơn mài có quai đeo quanh cằm, và mang guốc lộc cộc, nhân vật bé choắt này trông khôi hài và bối rối, nhất là khi viên thông ngôn giới thiệu y là một nhân vật quan trọng.

Thiếu tướng Perry vẫn không thèm tiếp y. Ông vẫn rút trong cabin của mình, vì ông đoán trúng bóc Kayama không phải là sứ thần của Hoàng đế. Vì ông luôn ẩn nấp như một thần linh, nên người Nhật chẳng mấy chốc gọi ông là “Hoàng đế Mỹ,” và gọi khu vực ông ở là “Nơi Cư Ngụ của Ngài Bí Ẩn Cao Cả và Hùng Mạnh”.

Trung tá Franklin Buchanan và Henry Adam tiếp chuyện với Kayama. Cuộc đàm thoại rất vất vả vì phải dịch từ tiếng Anh ra tiếng Hà Lan và rồi sang tiếng Nhật, và ngược lại. Con trai Oliver của Perry hoạt động như một người trung gian. Trên boong tàu anh như là thư ký của cha mình, chạy tới lui chuyển lệnh cho Buchanan và Adams, và báo cáo lại cho cha. 

8

Con trai Oliver của Perry; Trung tá Henry Adams.

Kayama nhấn mạnh rằng người Mỹ phải đi đến Nagasaki. Y giải thích rằng thư gởi Hoàng đế không thể được nhận ở bất kỳ cảng nào khác. Perry không chịu thua và hăm dọa đích thân trao thư tại hoàng cung ở Edo. Nghe thế Kayama hoảng sợ, và hứa sẽ tâu lên Hoàng đế. Rồi y rụt rè hỏi tại sao chỉ trao một bức thư nhỏ bé cho Hoàng đế mà phải cần đến bốn con tàu. “Vì tôn kính ngài,” Perry đáp. (Thiếu tướng không có cách nào biết được là Shogun đã chiếm cung điện Edo, và Hoàng đế bây giờ chỉ là một tên bù nhìn bất lực sống ở Kyoto bao quanh bởi những tai mắt của Shogun.)

Kayama càng lo sợ hơn khi y thấy các thuyền nhỏ được hạ xuống từ các tàu lớn và đang tiến sát đất liền. Y hô hoán rằng người Mỹ đang vi phạm luật pháp của người Nhật. Các sĩ quan bẽ lại rằng mình đang tuân thủ luật pháp của Mỹ. Họ phải thám sát con nước ở  bờ biển – để chuẩn bị khi được lệnh vào đất liền.

Trong những chuyến khảo sát một người Mỹ nhìn người lính Nhật qua ống dòm. Họ liền né tránh, ắt tưởng rằng ống ngắm là một loại súng mới.

Tiếng nhạc kỳ lạ phát ra từ các con tàu vào Chủ nhật, ngày 10/7. Thủy thủ đoàn hát quốc ca, theo tiếng nhạc của một ban nhạc mà những nhạc cụ chưa hề được biết đến trong xứ Nhật. Một chiếc thuyền đầy người Nhật xin được lên thăm tàu, nhưng bị từ chối vì Chủ nhật là ngày nghỉ của người Cơ đốc.

Vào sáng thứ hai các con thuyền khảo sát tiến xa hơn đến tận Vịnh Edo. Kayama lên tàu trong nỗi hoang mang. Các hoạt động của người Mỹ đã gây lo lắng sâu sắc cho Edo, vì nguồn cung ứng lương thực chính yếu thành phố phụ thuộc vào lưu thông thuyền bè. Nỗi sợ ngoại bang ngăn những con thuyền chở lương thực không dám ra khơi. 

Dù có sự khẩn cầu của Kayama, người Mỹ tiếp tục lập biểu đồ thủy triều ở bờ biển. Các thuyền khảo sát tiến gần đủ đến các chiến luỹ đến nỗi người Mỹ thấy được chúng được làm bằng đất và gỗ. Có một số súng thần công, nhưng đều nhỏ và cổ. Hầu hết loại bắn đạn 8 cân có từ 200 hoặc 300 năm trước, đã không được sử dụng từ lâu. Có khi người Nhật không biết cách sử dụng chúng ra sao.

9

Các đội khảo sát gặp gỡ các thuyền phòng vệ Nhật vào thứ hai, 11/7/1853. (Bên trái, một thuyền mành ven bờ của Nhật.)

Các binh lính trung thành với hai lãnh chúa xin phép được bắn vào tàu Mỹ. May thay, các lãnh chúa của họ quyết định khoan dùng hoả lực, nhờ đó ngăn ngừa được một cuộc chiến có thể bùng phát.

Mặc dù các viên chức đều vô cùng hoang mang, phần đông dân chúng đã bình tâm trở lại sau cú sốc của ngày đầu. Một số còn vẫy chào các thuyền khảo sát và mang cho họ nước uống và quả đào. Một thuyền phòng vệ Nhật còn mời một số chuyên viên khảo sát lên thuyền họ. Người khách Mỹ thích thú và làm mê hoặc chủ nhà khi bắn vài phát đạn súng Colt lên trời.

Người Mỹ cảm kích trước lòng tốt và tính thân thiện của người Nhật. Trước đây họ từng nghĩ mình đã giong buồm vượt biên giới của nền văn minh thế giới và sẽ đương đầu với bọn man rợ. Giờ đối diện với họ, người Mỹ bắt đầu nhận ra rằng những người dễ thương này cũng lịch sự và hiếu khách như bất cứ dân tộc nào họ gặp. Chưa kể họ còn chưa khám phá ra Nhật Bản là một quốc gia có nền văn hóa và văn minh trình độ cao. Sáng sớm thứ ba, 12/7, Kayama đi lên tàu Mỹ và một lần nữa yêu cầu họ đi đến Nagasaki. Qua người thông ngôn, Perty khẳng định rằng nếu bức thư của Tổng thống không được sớm phúc đáp thì ông sẽ “xem đất nước mình bị sỉ nhục  và sẽ không chịu trách nhiệm cho những hậu quả xảy ra. Ông hi vọng sẽ nhận được trả lời trong một vài ngày tới, và chỉ nhận thư trả lời không ở đâu khác trừ quanh đây.”

Kayama vội vàng quay trở lại Uraga để tham vấn với các viên chức, rồi trở lại tàu chiều hôm đó. Y thông báo sẽ dựng một nhà khách trên bờ biển để tiếp nhận thư và một yếu nhân sẽ đến tiếp thư.

Kayama và tùy tùng liền nhẹ nhõm, nhất là sau vài chầu uýt ki khoản đãi. Họ đỏ gay mặt và hào hứng hơn, nhưng cung cách vẫn lịch thiệp, và óc tò mò thì không hề sút giảm. Perry cho phép họ đi một vòng thăm tàu và quan sát đại bác cùng máy móc.

Khác với đa số quần chúng, các thông ngôn của Kayama biết chút ít về khoa học Tây phương và địa lý thế giới. Nhờ biết tiếng Hà Lan và Trung Quốc nên họ có dịp học được những sự kiện về những vùng đất cấm bên kia Đại dương. Họ hỏi về những con đường xuyên qua núi và những tuyến đường sắt được xây dựng băng qua eo biển Panama. Khi người ta đem đến cho họ quả cầu địa lý họ lập tức chỉ ngay ra Washington và New York.

Đến 7 giờ tối người Nhật mới rời tàu, cúi rất thấp sau mỗi bước chân lui ra. Người Mỹ ấn tượng trước sự lễ phép của họ. Người Mỹ nhận xét rằng ngay cả khi xuống thuyền mình trên đường trở lại bờ biển, họ cũng lễ nghĩa, lịch sự, và cũng kính nhau như đối với người Mỹ. Phép lịch sự thích đáng không phải kiểu cách bên ngoài mà thuộc tư cách điển hình.

Vào thứ tư, ngày 13/7, Kayama lên tàu để trình một văn kiện từ Hoàng đế. Nó ủy quyền cho những quan chức cao cấp gặp gỡ Perry. Chiếu chỉ hoàng gia, bọc trong vải nhung và đựng trong một hộp gỗ đàn hương, được Kayama đón nhận với vẻ cung kinh, và không cho phép ai sờ đến. Người Mỹ được trao bản dịch, nói rằng Ngài Toda, “Hoàng thân Izu,” và Ido, “Hoàng thân Iwami”, được ủy quyền để tiếp nhận bức thư của Tổng thống. Những “hoàng thân này” thực ra là các xã trưởng của Uraga.

Thói hai mặt Đông phương? Không hẳn chỉ Đông phương! Người Mỹ cũng quá rành nghệ thuật loè bịp. Trong những lần trao đổi với Kayama người Mỹ xưng Perry là “đề đốc,” vì tước hiệu này nghe oai vệ hơn chức thiếu tướng, vốn thấp hơn.

4 • ĐỔ BỘ LÊN MIỀN ĐẤT THIÊNG

Thay vì dùng một trong các tòa nhà có sẵn, người Nhật dựng một kiến trúc gỗ tạm thời để tiếp đón người Mỹ. Nó toạ lạc trong một làng đánh cá nhỏ gần Uraga.

Vào bình minh thứ năm ngày 14/7, tàu Susquehanna và Mississippi đi chuyển đến sát bãi biển, bỏ neo, và hướng các khẩu đại bác về hướng bờ biển. Thủy thủ chuẩn bị tác chiến trong trường hợp đoàn người đổ bộ bị tấn công.

Kayama lên tàu như một chủ nhân danh dự. Y ăn mặc nghi lễ trong một lễ phục bằng lụa nhiều màu sắc, nhung vàng, và dãi vàng. Kayama có thể trông cốt cách đối với người Nhật, nhưng người Mỹ phải cố nín cười. Quần y vừa ngắn ngủn lại thùng thình đến nỗi các thủy thủ nghĩ y mặc váy ngủ thì đúng hơn.

Tất cả thành viên của thủy thủ đoàn đều náo nức muốn đặt chân lên đất Nhật, nhưng vì tàu phải có người ứng trực, họ phải bắt thăm xem ai được lên bờ. 15 thuyền hạ xuống chở khoảng 100 lính thủy, 100 thủy thủ, và 40 quân nhạc. Thuyền phòng vệ Nhật cập hai bên sườn thuyền Mỹ. Như thói quen, những tay chèo vừa chéo vừa hô theo nhịp để lấy sức.

Các thủy thủ và lính thủy Mỹ mặc đồng phục xanh trắng, sĩ quan mặc lễ phục, và tất cả đều trang bị vũ khí với đoản kiếm và súng. Về phần “Đề đốc” Perry, đồng phục nặng nề của ông gài nút đến tận cổ mặc dù thời tiết tháng 7 thật oi bức. Cao ráo và uy nghiêm, với thanh kiếm vắt bên sườn, ông thật trông giống một Lãnh chúa cao tột.

Perry cho thấy mình là một người trình diễn bậc thầy, vì ông bố trí và đạo diễn cách đi đứng. Trước tiên, các lính thủy xếp thành hai hàng trên cầu cảng. Rồi tới thủy thủ, bước theo tiếng nhạc quân hành của hai ban nhạc. Các đại bác bắn chào khi Thiếu tướng bước xuống. Quân nhạc chơi bài “Chào, Columbia” khi ông đặt chân lên bờ. Perry bước đi giữa hai vệ sĩ da đen cao to, đẹp trai, gây ấn tượng. Người Nhật  chưa hề nhìn thấy người da đen nào trước đây.

Người Mỹ chắc không thể sững sờ hơn nếu bộ máy thời gian đưa họ ngược về thời vương triều Vua Arthur. Bãi biển là một cảnh tượng hoành tráng phong kiến. Hàng ngàn binh lính Nhật mặc áo giáp xếp hàng trên bãi biển. Một số cầm giáo, một số là cung thủ, trang bị cung dài 8 bộ. Các chiến binh samurai mang song kiếm có mặt ở mọi nơi. Những hàng kỵ binh đứng phía sau bộ binh. Cờ phướng rợp trời phất phới mang huy hiệu các lãnh chúa mà binh lính ấy nguyện trung thành. Theo truyền thống, gương mặt chiến binh phải trông thật đằng đằng sát khí. Một số mang những mặt nạ trông dữ tợn được thiết kế để hù dọa kẻ thù. Binh lính trừng cặp mắt sáng quắc khi người Mỹ đi qua.

Ở hậu cảnh là các dân làng lũ lượt, họ nhảy lên và ngước cổ để nhìn cho rõ bọn người man di. Các quân phục sĩ quan với các nút lấp lánh và các cầu vai rực rỡ khiến họ thích thú. Họ chưa hề thấy giống người gì có mũi cao hoặc tóc nào nâu, nào vàng và đỏ như thế. Và kích cỡ nữa! Bọn người xa lạ là những tên khổng lồ đối với tầm vóc của người Nhật, trung bình chỉ có 5 bộ 1 in-xơ.

10

Cuộc Đổ Bô Đầu Tiên của người Mỹ lên đất Nhật, ngày 14/7/1853

Thiếu tướng và các sĩ quan bước vào một lều bạt dùng làm tiền sảnh, rồi sau đó bước lên một lối đi trải thảm đến sảnh chính. Các bức vách phủ những lá cờ lụa tím to lớn phô bày những phù hiệu áo giáp của hoàng gia. Sàn được lót vải đỏ.

Người Mỹ không biết rằng 10 samurai đang ẩn nấp bên dưới sàn nhà, sẵn sàng chỉ chờ một tín hiệu là xông lên và lấy đầu Perry và tùy tùng.

Ngay khi Perry bước vào, “các hoàng thân” Ido và Toda đứng dậy từ những chiếc ghế thấp và cúi đầu chào. Người Mỹ được mời ngồi trên những chiếc ghế vừa được lấy vội vàng từ một ngôi đền gần đó, những chiếc ghế được các nhà sư ngồi khi tiến hành tang lễ. Chỉ lúc đó họ mới được lắc lư hai chân, vì người Nhật thường quì và ngồi trên hai gót chân – một tư thế mà người phương Tây thấy còn khó khăn.

Bức thư của Tổng thống Fillmore được đựng trong một hộp gỗ hồng xinh xắn có khóa và bản lề bằng vàng. Khi Thiếu tướng ra hiệu, thủy thủ bước đến trao hộp cho vệ sĩ, rồi vệ sĩ đặt hộp thư vào trong hộp màu tía tô người Nhật đưa. Một lá thư từ Perry với bản dịch tiếng Hà Lan và Trung Quốc cũng được trình lên.

Kayama tiến đến Hoàng thân Ido, quì mọp, cúi đầu sát đất, rồi nâng tay nhận một chỉ dụ. Y đem đến trao cho Thiếu tướng, rồi cúi mọp thêm lần nữa trước “Ngài Bí Ẩn Cao Cả và Hùng Mạnh.”

Perry không hi vọng nhận được thư phúc đáp. Người thông ngôn người Hà Lan của ông, Portman, cho biết đây chỉ là lễ tiếp nhận của Hoàng đế. Chỉ dụ cho biết: “Thư của Tổng thống Hoa Kỳ và một bản sao đã được tiếp nhận và sẽ giao lại cho Hoàng đế. . . Do đó, khi thư đã tiếp nhận xong, ngài có thể ra về.”

Toàn bộ thủ tục chỉ kéo dài khoảng 20 phút. Ido và Toda không hề thốt ra lời nào, vì nói chuyện với ngoại nhân là phạm pháp. Một sự im lặng kéo dài khi Perry thông báo qua người thông ngôn rằng ông sẽ ra đi trong hai hoặc ba ngày tới, và sẽ trở lại vào mùa xuân. “Cùng với bốn con tàu sao?” Những người thông ngôn Nhật hỏi.

11

Lễ tiếp nhận thư của Tổng thống

“Cả bốn chiếc,” Perry đáp, “và chắc chắn nhiều hơn, vì đây chỉ là một phần của hạm đội.”

 Đoàn tàu khởi hành ngày 17/7, ba ngày sau khi giao thư, chín ngày sau khi đến Vịnh Edo.

Trước khi người Mỹ ra đi, Kayama lên boong mang theo quà tặng gồm thực phẩm, quạt, ống điếu, và chén bát. Đáp lại, Perry tặng y vải in hoa, đường, rượu vang, và sách vở. Thoạt đầu, Kayama nhận lấy một cách miễn cưỡng vì sở hữu đồ ngoại bị cấm chỉ. Tuy nhiên y không cưỡng lại được. Y giấu các cuốn sách và rượu dưới chiếc áo rộng thùng thình. Sau khi cúi chào tạm biệt những người bạn Mỹ, y bước đi mà mắt đẫm lệ. Tâm trạng y đỡ buồn hơn khi bước xuống thuyền mình. Y đập gãy cổ chai rượu vang và uống cạn.

Tội nghiệp Kayama bị trừng phạt. Ido phá hủy các quà tặng của người Mỹ và giáng chức y vì y đã tỏ ra quá thân thiện với người Mỹ.

Perry rất tự hào về thành tựu của mình. Gần 60 tuổi, ông đã đóng góp thêm cho sự nghiệp lâu dài và nổi bật của mình. Là một sĩ quan của Hải quân Hoa Kỳ, ông đã chỉ huy thành công lực lượng hải quân Mỹ hùng hậu nhất trong cuộc chiến Mexico (1846-1848). Ông đã thương thảo thành công với các lãnh đạo Mễ và các chỉ huy Phi châu. Ông hiện đại hoá hải quân bằng cách ủng hộ việc chế tạo và sử dụng các tàu chiến chạy bằng hơi nước. Nhưng ông biết rằng việc gặp gỡ người Nhật có ý nghĩa hơn bất cứ thành tựu nào trước đây. Cả nước Nga và Anh đều ra sức mở cửa các cảng của Nhật cho các tàu nước ngoài nhưng đều thất bại. Mặc dù  không được chào đón và bị áp đảo về quân số, ông đã hiên ngang bước lên miền đất thiêng của một dân tộc khép kín. Ông là đại sứ Tây phương đầu tiên được Nhật tiếp đón trong hơn 200 năm. Tự hào biết bao khi ông không phải bắn một phát đạn nào!

Trong một lá thư gởi cho vợ Perry viết, “Thành tựu này anh xem là sự kiện quan trọng nhất trong đời. Buổi lễ rất hoành tráng, và anh là người Cơ đốc đầu tiên đặt chân một cách hòa bình trên vùng đất này của nước Nhật mà không chịu sự bẽ mặt nào.

Thiếu tướng muốn ám chỉ người Hà Lan, lúc đó bị người Nhật làm nhục.

5 • ĐẢO NGỤC TÙ HÀ LAN

Mặc dù người Hà Lan được phép điều hành trạm buôn bán gần Nagasaki, họ sống như tù nhân. Họ bị cầm chân trên Deshima, một đảo tí xíu hình quạt ở cảng Nagasaki. Đảo đài 200 mét và rộng 80 mét. Nội địa chỉ cách đảo một vài mét, nhưng một bức tường cao phong tỏa tầm nhìn của họ. Một cây cầu đá bên ngoài nối đảo Deshima với Nagasaki. Đảo được các lính Nhật canh gác chỉ cho phép những ai có giấy phép đặc biệt mới được qua.

Vào thời điểm đó chỉ có 12 hay 13 người Hà Lan sống ở Deshima. Vợ và con họ không được phép ở lại hay thậm chí được thăm viếng.

  Người Hà Lan được phép thuê tôi tớ và nhân công Nhật. Nhưng để được làm thuê ở Deshima, những người này phải dùng máu mình kí lời tuyên thệ không được tỏ ra thân thiết với người Hà Lan. Họ không được tiết lộ bất kỳ thông tin nào về xứ sở, dù vặt vãnh đến đâu. Họ không được chuyện trò với người Hà Lan, ngoài việc nói những điều cần thiết cho công việc. Theo luật họ phải trở lại Nagasaki trước hoàng hôn. Cổng cầu sẽ khoá chặt từ hoàng hôn đến bình minh.

Những người khác có mặt trên đảo là các mật vụ, và một ít thông ngôn Nhật. Các học giả Nhật cũng thỉnh thoảng đến thăm hòn đảo bé tí để biết tin tức từ thế giới bên ngoài. Tại Deshima họ có thể xem được những bộ sách về nghệ thuật, tập quán và những tiến bộ khoa học ở châu Âu. Họ đặc biệt hứng thú với những khám phá y học và thiên văn học.

12

Tranh vẽ một người Hà Lan

 Người Hà Lan không thể rời hòn đảo ngục tù nếu không có giấy phép đặc biệt, phải xin ít nhất 24 tiếng trước. Nếu ai muốn đi vãn cảnh trên đường phố Nagasaki, y phải được tháp tùng bởi nhiều người thông ngôn và viên chức, và bù lại những người này lại mời thêm những bạn bè khác gia nhập nhóm. Cuộc đi dạo trên đất liền thường kéo theo một cái đuôi hộ tống gồm 30 người Nhật. Nếu hai người Hà Lan được phép lên bờ, số người đi theo tăng gấp đôi. Và họ kỳ vọng người Hà Lan sẽ đãi họ một bữa ăn chiều thịnh soạn. Thật không đáng chút nào. Chỉ có phiền toái và tốn kém khi được đi thăm thú kiểu đó.

Mỗi năm một lần, vào xuân, chủ hãng Hà Lan và một số nhân viên phải thân hành đến Edo để trả lễ cho vị Shogun. Chuyến đi mất ba tháng: một tháng đi, một tháng ở lại, một tháng về. Các do thám được cài vào đoàn người để bảo đảm họ không đi ngả khác hoặc trà trộn với người bản xứ. Thậm chí khi đi thăm viếng họ cũng bị quản thúc.

Phải cần hơn 100 tôi tớ để vận chuyển tư trang và đồ đạc. Ghế, bàn, chén đĩa, dao nĩa, và rượu vang Âu cùng thực phẩm được mang theo để họ có thể tận hưởng một trong số it lạc thú của mình: ăn uống theo phong cách Hà Lan tại bất cứ đâu họ dừng chân. Cuộc hành hương đúng là chuyện đi đốt tiền, vì ngoài những phí tổn du hành, họ còn phải mua quà biếu đắt giá cho Tướng quân.

Khi đến Edo, người Hà Lan bị cấm cửa trong phòng và bị canh gác cẩn thận. Họ đợi, đôi khi hàng tuần, cho đến khi được báo Shogun muốn gặp họ ở lâu đài.

Sau khi gởi quà biếu gồm vải vóc, rượu, bản đồ, và sách vở, thêm một báo cáo viết tay về tình hình thế giới, họ khúm núm trước Lãnh chúa Vĩ đại của Miền Đất Mặt Trời Mọc. Ngay khi bước vào Đại Sảnh  100 Chiếu, họ quì mọp và cúi chào dưới chân vị Shogun, rồi bò lui ra. Không ai dám nhìn quanh quất, e rằng phạm lỗi bất kính.

Toàn bộ thủ tục chỉ mất một vài phút. Thật là mất tư cách, nhưng không nhục nhã bằng những hành động mà một số người Hà Lan bị buộc phải làm trong quá khứ. Để làm vui mắt Shogun, họ bị buộc phải nhảy nhót, khiêu vũ, hát hò, làm trò hề và hôn hít nhau. Nếu họ muốn tiếp tục làm ăn họ phải chìu theo mọi ý muốn ngông cuồng của Shogun. Xuất khẩu đồng, sắt, vàng, lụa, và sơn mài; nhập khẩu các hàng hóa Âu châu như vũ khí, vải vóc, thuốc lá, và kính đeo mắt đem lại lợi tức quá đủ để họ chịu nhục mà chìu theo các trò hạ cấp của Shogun. Cho dù nhà buôn Hà Lan bị hạn chế mỗi năm chỉ được đi và đến một tàu buôn duy nhất.

Thiếu tướng Perry biết về chuyện của người Hạ Lan ở Deshima qua một quyển sách nhan đề Tập Quán và Phong Tục của Người Nhật. Nó được viết bởi một thầy thuốc người Đức, Philip von Siebold, được người Hà Lan thuê làm việc ở Deshima vào thập niên 1820. Von Siebold đã tháp tùng người Hà Lan đến triều đình Shogun. Ông sau đó bị người Nhật trục xuất, có lẽ vì ông biết quá nhiều về Miền Đất Cấm.

6 • CẤM CỬA NGOẠI BANG

 Người Nhật không phải lúc nào cũng cắt đứt với thế giới bên ngoài. Trước khi họ bế quan tỏa cảng vào thế kỷ 17 họ đã từng giao thương với các xứ lân bang như Trung Quốc, Triều Tiên, Cambodia (Miên), Thái Lan, Philippin và nhất là Việt Nam. Nhật Bản cũng chào đón những con tàu đến từ châu Âu.

Người Bồ Đào Nha là người Âu châu đầu tiên đặt chân đến nước Nhật – có tên Cipango, xứ sở thần thoại mà chính Columbus cũng từng ao ước được đến. Họ đến vào năm 1542, khi một con tàu của họ bị bão đẩy trôi giạt vào đó. Người Nhật đón chào thủy thủ Bồ Đào Nha, nhất là vì họ cung cấp súng.

Năm 1549 nhà truyền giáo Bồ Đào Nha St. Francis Xavier dòng Jesuit đưa đạo Cơ đốc vào đất Nhật. Các giáo sĩ Tây Ban Nha lập tức nối gót và dựng lên các xứ đạo. Kết quả là hàng ngàn người Nhật đã được cải đạo.

Năm 1600 người Anh đầu tiên đến Nhật. Ông là Will Adams, hoa tiêu của một con tàu Hà Lan đổ bộ vào Nhật với 24 người sống sót từ một thủy thủ đoàn hơn 100 người. Vì kiến thức rộng lớn của ông về thế giới bên ngoài, Shogun Ieyasu tuyên bố rằng ông quá quí giá không thể cho ông quay về nước Anh. Ông trở thành người thông ngôn, thầy dạy, trưởng chuyên viên đóng tàu, cố vấn của Shogun. Shogun phong ông làm samurai và dàn xếp cho ông một người vợ Nhật.

Adams cảnh báo Shogun về các vụ xâm chiếm của nước Anh, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha. Ông kể vụ Tây Ban Nha xâm lăng châu Mỹ và Philippin, và vụ Bồ Đào Nha chiếm đóng Đông Ấn (Indonesia). Shogun Ieyasu đã từ lâu nghi ngờ các nhà truyền giáo Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha là những đặc vụ tiền sát cho âm mưu tấn chiếm, và giờ đây cố vấn người Anh của ông đã khẳng định mối ngờ vực của mình. Năm 1614 Ieyasu trục xuất tất cả giáo sĩ và nhà truyền giáo ngoại quốc ra khỏi đất Nhật.

Sau khi Shogun mất vào năm 1616, đạo Cơ đốc bị cấm và bị phạt tội tử hình. Những hành động bức hại giáo dân Cơ đốc tiếp diễn sau đó. Dẫm đạp lên thánh giá là nghi lễ hàng năm. Thậm chí đến thế kỷ 19, các nhà buôn Hà Lan, các nạn nhân đắm tàu, và các gia đình Nhật đã cải đạo cũng buộc phải dẫm đạp các biểu tượng thánh của đạo Cơ đốc. Ai bất tuân sẽ bị tội chết.

Người Anh và Hà Lan thì được phép buôn bán. Họ được dung nạp vì họ không “buôn bán” tôn giáo. Năm 1623 người Anh ngừng việc giao thương với Nhật vì không mấy lợi lộc. Chỉ có người Hà Lan ở lại. Năm 1641 người Nhật đã gom họ lên Deshima, trạm buôn bán nhỏ ở cảng Nagasaki được mô tả trong Chương 5.

Để đảm bảo sự cô lập, một loạt những sắc luật được ban hành:

  • Không dân Nhật nào được đi ra nước ngoài.
  • Không người Nhật bị đắm tàu được phép trở về nhà từ nước ngoài.
  • Không người ngoại quốc nào được dung nạp.
  • Không con tàu lớn nào được đóng. Chỉ được đóng những con tàu nhỏ, theo đúng thiết kế qui định để không thể đi xa bờ.

Bị phong kín không cho tiếp xúc với ngoại bang, dân chúng không biết gì về sự tồn tại của Hoa Kỳ. Họ chưa hề nghe về Cách Mạng Pháp hoặc Cách Mạng Kỹ Nghệ. Họ chưa từng nhìn thấy hình vẽ động cơ hơi nước, đường sắt, điện tín, và những vũ khí hiện đại. Chỉ có những học giả và chính khách biết được những sự kiện và những tiến bộ xảy ra ở châu Âu và châu Mỹ.

Người Mỹ và người Âu cũng không biết gì nhiều về nước Nhật. Nhiều người cho rằng đó là một hòn đảo hẻo lánh ở Thái Bình Dương nơi cư dân là người man rợ, chậm tiến.

Thu thập được thông tin về Nhật Bản là một phần quan trọng cho việc chuẩn bị của Thiếu tướng Perry. Trước khi rời Mỹ ông đi đến Tiểu bang New York, Massachusetts, Pennsylvania, và Washington, D.C., thu thập sách vở và phỏng vấn nhiều người. Ông hỏi các thuyền trưởng tàu săn cá voi về những con nước ở Nhật, và phỏng vấn các thủy thủ đã từng bị đắm tàu và bị người Nhật cầm tù. Người Hà Lan cũng giúp đỡ Perry. Họ cung cấp bản đồ Nhật Bản thông qua các sứ quán Mỹ ở Hà Lan. Nhưng ông chưa hề được biết về những tổ chức chính trị của nước Nhật.

Như tất cả những viên chức chính quyền Hoa Kỳ ông nghĩ rằng “hoàng đế” và “shogun” là cùng một người. Và mặc dù ông hiểu biết thêm về một số lãnh vực xã hội của họ ông không tường tận về văn hóa và cấu trúc xã hội độc đáo của họ.

7 • THỜI KỲ ĐẠI THÁI BÌNH

Thời kỳ Đại Thái Bình mà Perry đến là Thời kỳ Tokugawa. Các shogun thuộc dòng dõi Tokugawa cai trị nước Nhật từ năm 1603 đã duy trì khắt khe một xã hội phong kiến trung cổ. Các luật lệ, tập tục, thậm chí các phong cách cũng không thay đổi đáng kể sau 250 năm. Mặc dù thỉnh thoảng cũng có những vụ nổi loạn vì đói kém lương thực, nhưng không có vụ nổi dậy nào lớn. Vì đất nước cô lập không tiếp xúc với ngoại bang, nên không có chiến tranh nào xảy ra. Thời kỳ Tokugawa cũng được biết duới tên “Thời Đại Thái Bình”.

Thái bình đem lại nhiều phần thưởng. Nội thương phát đạt. Các thị trấn lớn phát triển thành các thành phố. Có 5 đại học lớn dành cho các lãnh chúa và samurai, và nhiều trường địa phương được lãnh chúa dựng lên cho tôi tớ mình. Tỉ lệ biết chữ ở Nhật trong giữa thế kỷ 19 chắc chắn cao hơn  hầu hết các nước Âu châu. Gần như phân nửa dân số biết đọc và biết viết.

Nghệ thuật đơm hoa. Đó là thời kỳ xuất hiện những tiểu thuyết lớn, các triết học, kịch nghệ, thi cả, hội họa, và tranh khắc gỗ. Thời Đại Thái Bình là thời đại vàng của văn hóa và sáng tạo.

Thiếu tướng Perry lầm lẫn biết bao khi tưởng rằng Nhật là nước không văn minh. Mặc dù về kỹ nghệ họ đi sau phương Tây, nhưng không có xứ nào khác trên thế giới văn minh hơn và nghệ sĩ hơn. Cũng không có chính quyền nào ở bất cứ đâu được tổ chức chặt chẽ hơn.

13

Đại Môn ở Edo, trong khu kịch nghệ

Tuy nhiên, giá phải trả cho nền thái bình thịnh trị này là sự mất tự do hoàn toàn. Đối với phần đông dân chúng cuộc sống còn nhiều cơ cực. Nhân dân bị buộc tuân thủ những luật lệ khắt khe bao trùm lên mọi lãnh vực của đời sống. Hàng hóa nào có thể mua, kích thước và loại nhà có thể ở, nhân vật nào phải cúi chào, tất tật luật lệ đều được qui định. Qui định liệt kê 216 loại y phục cho mọi người từ hoàng đế đến dân dã thấp kém nhất. Thậm chí hình dáng, màu sắc, và kích cỡ đường kim mũi chỉ đều được chỉ rõ. Những ai bất tuân sẽ bị nghiêm phạt.

Địa vị của mỗi người đều được kế thừa. Có bốn tầng lớp xếp bên dưới lãnh chúa. Theo thứ bậc từ cao đến thấp là chiến binh (samurai), nông dân, nghệ nhân, và thương nhân. Thương nhân được xếp hạng thấp vì họ được coi là thành phần không sản xuất – chỉ là những trung gian làm giàu từ lao động của người khác. Thành phần duy nhất thấp hơn con buôn được gọi là tiện dân (eta), không được xem là tầng lớp nào. Họ là những người lo việc tống táng, thợ thuộc da, và đồ tể. Những người này cũng không được kể đến và không được ghi trong điều tra dân số. Đất họ ở không được đo đạc một cách chính thức. Tiện dân được coi như bọn cô hồn không thực sự tồn tại.

Bộ luật qui định những hoạt động của mọi người, từ triều thần xuống đến con buôn và tiện dân.

Hoàng đế

Luật triều đình qui định rằng hoàng đế phải dành toàn bộ thời gian nghiền ngẫm kinh sách và bồi dưỡng truyền thống thi ca. Ngoài vai trò là chủ tể các nghi thức tôn giáo, ngài còn được giao nhiệm vụ phong chức tước và cấp bậc (cho những người được Shogun chấp thuận). Mặc dù không ai không ghi nhận vị thế cao tột của ngài và tôn kính ngài như thần linh, vậy mà ngài không khác một tù nhân của shogun. Nhà cai trị thần thánh này thường bị cấm cố trong khu vực hoàng cung, dưới sự giám sát mật. Luật ngăn cấm bất kỳ ai trừ người được Shogun giao phó được đem tin ra ngoài hoàng cung. Bất cứ ai tìm cách nhìn mặt hoàng đế đều bị lưu đày.

 Shogun

Là “vị thống soái đánh đuổi bọn man di”, vị shogun được kỳ vọng sẽ bảo vệ đất nước chống lại ngoại bang. Về lý thuyết, nhiệm vụ lớn nhất của ngài là đáp ứng nguyện vọng của vương triều. Trong thực tế, ngài là quyền lực đằng sau ngai vàng. Qui tắc ứng xử và bộ luật đều được ngài ban hành. Kết quả là một shogun không bị chế tài bởi các qui định khắt khe.

14

Một lãnh chúa

Các Lãnh chúa

Luật lệ cho Viện Quân sự áp dụng cho các lãnh chúa. Những lãnh chúa không thể kết hôn mà không có sự tán thành của Shogun. Số tôi tớ của họ và kích cỡ các lâu đài của họ cũng được luật qui định. Họ bị cấm giao du với dân chúng ngoài lãnh địa của mình. (Điều này ngăn không cho các lãnh chúa cấu kết nhau để làm phản). Họ được yêu cầu đóng góp những chi phí để sửa sang lâu đài, đường xá, và thành lũy không chỉ trên lãnh địa của mình mà còn trên những khu vực khác của đất nước. (Điều này ngăn không cho các lãnh chúa quá giàu có và hùng mạnh). Qui luật Thế Thân có tính áp bức nhất. Theo đó, các lãnh chúa cứ cách năm phải đến Edo cư ngụ một thời gian bên cạnh Shogun. Khi họ trở lại nhà, họ phải để vợ và con cái ở lại Edo làm con tin. (Điều này bảo đảm các lãnh chúa phải trung thành với Shogun).

Có khoảng 250 lãnh chúa ở Nhật Bản khi người Mỹ đến. Có xấp xỉ 350,000 samurai phục vụ các lãnh chúa như những hiệp sĩ trung cổ.

Samurai

Samurai là các sư phụ của nông dân, nghệ nhân, và nhà buôn. Họ tổ chức những người này thành tổ gồm 5 gia đình. Mỗi tổ viên trong tổ có trách nhiệm về hành vi mẫu mực của những tổ viên khác. Tất cả thành viên đều có thể bị xử phạt nếu một thành viên không đóng thuế, làm việc cần mẫn, hoặc tỏ ra bất kính đối với người trên.

Một samurai có hai thanh kiếm. Một đoản kiếm ngắn hơn được sử dụng để cắt thủ cấp của đối thủ bị đánh bại. Nó cũng được dùng để hành xử seppuku, tự sát theo nghi thức. (Tiếng bình dân gọi là hara-kiri có nghĩa là “mổ bụng”). Một samurai lúc nào cũng sẵn sàng để chết bằng cách mổ bụng mình nếu họ hay lãnh chúa của họ bị bôi nhọ. Seppuku được coi là hoàn thiện nếu samurai sáng tác một bài thơ trước khi hoặc trong lúc tự sát. Một người bạn thân thường ở bên để giúp kết thúc cơn thống khổ bằng cách cắt đầu samurai sau khi ông mổ bụng.

Thanh kiếm dài hơn, loại kiếm sắc nhất trên thế giới, có thể cắt đứt đinh sắt hoặc chẻ kẻ thù làm hai phần từ đầu đến chân. Nó đôi khi cũng hữu dụng, vì samurai tận hưởng quyền được giết và bỏ đi. Một luật qui định: “Dân thường nào xúc phạm đối với một samurai hoặc không tôn kính đối với người trên có thể bị chém ngã quị tại chỗ.” Các người thấp hèn không nhanh nhẹn cúi đầu người trên cũng đủ bị mất đầu.

15

Tranh khắc gỗ một samurai trong thời bình do hoạ sĩ Shunyei thực hiện

1617

Hai samurai, vẽ bằng mực tàu của họa sĩ Yoshitoshi

Dù có quyền hành, một samurai hoàn toàn phụ thuộc vào lãnh chúa của mình, được nhận một thù lao khiêm nhượng. Bị cấm làm việc hoặc tham gia ngành nghề thương mại, nhờ đó các samurai  không mấy khó khăn khi phải tuân thủ luật sống đức hạnh, thanh đạm và giản dị. Trong thời Đại Thái Bình, các samurai quản lý tài sản của lãnh chúa mình và giám sát việc tu bổ đường xá và tòa nhà công cộng.

Một samurai không chỉ là một chiến binh quyết liệt. Theo qui luật, “Nghệ thuật thời bình trong tay trái, nghệ thuật chiến đấu trong tay phải. Cả hai đều phải được làm chủ.” Một samurai được cổ vũ phải học vấn và hưởng thụ nghệ thuật. Dù bản tính dữ dội, các samurai cũng tận hưởng những hội ngắm trăng, ngắm hoa anh đào nở, xướng họa thơ văn, cắm hoa, trà đạo và đốt hương trầm. Nhiều samurai là những học giả, thi nhân, và hoạ sĩ nổi tiếng.

Vào thế kỷ 19 hầu như mỗi khu vực đều có trường đào luyện các samurai. Mỗi học viên được phân loại tùy theo gia thế, và những qui định nghiêm nhặt xác định nên cấp bậc của họ. Tại một trường, chẳng hạn, học viên xuất thân từ những gia tộc tiếng tăm thường có một tôi tớ đi theo để cầm dù che mưa nắng, một tôi tớ khác gìn giữ giày dép khi anh ta vào lớp học. Con cái của những samurai cấp thấp tự mang dù và nhờ trường giữ dùm giày dép mình. Một số lãnh chúa xếp đến 30 loại samurai, mỗi loại yêu cầu tuân theo những bộ qui tắc ứng xử riêng.

Ronin là những chiến binh samurai lãng tử không phục vụ dưới trướng lãnh chúa nào. Nhiều ronin có văn hóa, và tôn trọng pháp luật. Nhưng những người khác thì côn đô thứ thiệt, lang bạt khắp vùng quê làm kẻ đạo tặc.

Nông dân

Nông dân chiếm hơn 80 phần trăm dân số thế kỷ 19 của Nhật gồm 30 triệu người. Thứ bậc của nông dân được xác định bằng lượng thóc gạo họ thu hoạch được. Sản lượng 500 hộc, chẳng hạn, được phép ở nhà lớn – miễn là nhà không được có phòng khách và mái không được lợp ngói. Sản lượng 100 học có nghĩa là túp lều nhỏ và sàn nhà không trải chiếu.

Nông dân bị cấm uống saki hoặc hút thuốc. Loại đèn lồng, bình hoa, y phục, và thậm chí chất lượng búp bê con cái họ chơi đùa đều được qui định. Họ phải mặc quần áo vải bông, không được mặc lụa là – cho dù trong nhà có nuôi tằm. Luật cũng qui định chính xác ngày nào được bắt đầu thay y phục mùa hè sang y phục mùa đông và ngược lại, bất kể thời tiết có thay đổi. Nông dân không được ra khỏi lãnh địa của mình nếu không được phép. Họ thường bị bắt phải lao dịch sửa chữa đường xá không công, nghĩa là buộc phải bỏ bê việc đồng áng của mình. Họ phải nộp từ 40 đến 80 phần trăm sản lượng mùa màng cho các lãnh chúa. Kết quả là phần đông nông dân đều nghèo khổ.

Thợ thủ công

Thị trấn và thành phố lớn như Kyoto, Edo, và Osaka là trung tâm của những tầng lớp thấp, thợ thủ công và nhà buôn. Thợ thủ công là những người có tay nghề cao. Họ làm sơn mài, đúc kiếm, dệt vải, và sản xuất đồ gốm và giấy mà chất lượng và tính thẩm mỹ không ở đâu trên thế giới sánh bằng. Những hãng giấy bán những sản phẩm độc đáo này cho các lãnh chúa giàu có và triều đình.

Những cửa hàng lớn bán hàng hóa cho dân chúng sử dụng những kỹ thuật kinh doanh giống như chúng ta sử dụng ngày nay. Hàng hóa họ được quảng cáo, đóng gói sẵn và giá cả được niêm yết. Nhiều chủ tiệm trở nên giàu có. Những thương nhân mua, bán, và chuyên chở  thực phẩm và hàng hóa tiêu dùng cũng tích lũy được của cải.

Dù sao đi nữa, các nhà buôn, như phần còn lại của dân số, phải hành xử thận trọng. Đôi khi những ai phô trương sự giàu có bằng cách sống xa xỉ sẽ bị tố cáo và thương vụ của họ bị chính quyền thay thế làm chủ. Các do thám giả đóng vai khách hàng lúc nào cũng sẵn sàng tố cáo những nhà buôn hay chỉ trích các chính sách của nhà nước.

Mặc dù luật cổ nhằm kiểm soát cuộc sống của họ, nhưng tầng lớp thương nhân bắt đầu thoát khỏi những trói buộc của luật lệ vì các cấp trên của họ cần đến sự giúp đỡ của họ. Không chỉ có samurai mà các lãnh chúa và các viên chức của Shogun còn mượn tiền họ. Nhiều nhà buôn nâng cấp vị thứ xã hội của mình bằng cách chi tiền để trở thành samurai. Họ cũng được nhận làm con nuôi của những samurai mượn tiền họ hoặc muốn có một thành viên giàu có trong gia đình.

Vào giữa thế kỷ 19 hệ thống giai tầng đang sụp đổ. Các nhà buôn trở nên hùng mạnh và có ảnh hưởng vì họ tài trợ cho các lãnh chúa. Nhiều thương nhân bức xúc và chống đối chính sách bế quan tỏa cảng của chính quyền. Các học giả và nhà hoạt động chính trị cũng muốn chấm dứt sự cô lập của đất nước. Do đó, các đề nghị của Perry đã được cứu xét nghiêm túc.

8 • MÂY BAY QUA MIỀN ĐẤT MẶT TRỜI MỌC

Không lâu sau khi Thiếu tướng Perry ra khơi, các cố vấn của Shogun phân phát những bản dịch bức thư của Tổng thống Fillmore cho tất cả lãnh chúa và hỏi ý kiến họ. Điều này chưa từng có tiền lệ. Không bao giờ trước đây chính quyền Tokugawa nhờ các lãnh chúa tư vấn bất cứ vấn đề gì. Nhưng chính quyền tướng quân biết rằng khi mà xứ sở không thể nào phòng vệ trước một quyền lực ngoại bang, thì không thể nào kéo dài chính sách bế quan tỏa cảng được nữa mà không phải lâm chiến. Các cố vấn của Tướng quân hi vọng rằng các lãnh chúa sẽ đề nghị một hiệp ước với người Mỹ, và do đó nhận trách nhiệm kết thúc sự cô lập.

Các lãnh chúa hỏi ý các samurai uyên bác trước khi soạn ra những đề nghị. Một số tán thành giao thương với Hoa Kỳ, trong khi một số khác muốn hoãn lại các quyết định để đất nước có thời gian củng cố phòng thủ. Thậm chí có người khăng khăng duy trì chính sách cô lập hoàn toàn dù phải liều mình lâm chiến. .

“Tôn kính Hoàng đế; Đánh đuổi Man đi” là khẩu hiệu tập kết để hậu thuẫn cho phe chống đối Tướng quân. Những người chủ trương cô lập cực đoan này muốn lật đổ Tướng quân và phục hồi quyền lực cho Hoàng đế. Họ cho rằng Shogun đã “bẽ mặt” khi cho phép ngoại bang đặt chân lên miền đất thiêng liêng. “Y không còn xứng đáng tước vị “đại thống soái đánh đuổi man đi”.

18

Tấm bản đồ cổ thế giới của Nhật Bản này ghi “Từ Nhật Bản, Bắc Mỹ cách 500 rỉ (dặm Nhật) và không có nước nào ở khoảng giữa. Hà Lan cách 13,000 rỉ. Các xứ sở chỉ có phụ nữ, của người lùn, và người độc nhãn lần lượt cách 14,000, 15,000, và 17,000 ri “. Xứ Bắc Mỹ được vẽ trên góc trái trên.

Aizawa Seishisai, một trong những lãnh đạo của nhóm chống-Shogun, viết, “Miền đất thiêng liêng của chúng ta toạ lạc trên đỉnh trái đất. Người Mỹ chiếm vùng xa xôi nhất trên trái đất. Do đó dân chúng Mỹ đều ngu ngốc và giản đơn.” Theo kiến thức địa lý của ông, mọi xứ Tây phương chiếm những vị trí ở “các cơ quan thấp kém như chân và bàn chân của thế giới.” Ông cảnh báo rằng những bàn chân này dẫm đạp lên các xứ sở khác. Nếu bọn man đi được phép giao thương, họ sẽ bắt Nhật Bản làm nạn nhân theo cách mà nước Anh đã đối xử với Trung Quốc trong cuộc Chiến tranh Nha phiến (1839-1842) khi tàu chiến của họ đã dội bom và đánh chiếm các thành phố Trung Quốc, cưỡng bách Trung Quốc phải mở cảng, và nhường Hong Kong làm thuộc địa của họ.

19

Một samurai mặc áo giáp

Một lãnh chúa, Hoàng thân Moto, nấu chảy chuông chùa để đúc súng thần công mới. Ông gởi một số súng cho Edo để sử dụng chống lại người Mỹ, phát biểu, “Nếu chúng ta không đánh đuổi chúng bây giờ, chúng ta sẽ không bao giờ có được một cơ hội khác.”

“Đạo lý Đông phương, Khoa học Tây phương” là khẩu hiệu của các học giả tán thành thương thảo với người Mỹ. Họ ngưỡng mộ phương Tây vì những thành tựu rực rỡ của họ trong khoa học, kỹ nghệ, và vũ khí. Họ lý luận rằng những vấn đề tài chính của chính quyền có thể được giải quyết bằng việc ngoại thương. Và họ nhận ra rằng quân đội thiếu huấn luyện, vũ trang thô sơ, đại bác lỗi thời của xứ sở không thể là đối thủ của đạo quân tình nhuệ và vũ khí hiện đại của Perry. Nhóm này chủ trương mở rộng cửa cho Mỹ lẫn nước ngoài khác.

Samurai Yoshida Shoin, một trong các lãnh tụ của họ, khẳng định rằng Nhật phải học tập kỹ thuật Tây phương nhanh như có thể, trong khi vẫn duy trì những giá trị đạo đức của văn minh Nhật. Ông nghiên cứu công trình học tập người Hà Lan ở Nagasaki, và khao khát đất nước thay đổi để có dịp ra nước ngoài học tập trực tiếp từ phương Tây, để trở về chấn hưng xứ sở. 

Hoàng đế nhận được một bản sao bức thư của Tổng thống Fillmore. Đây là điều bất thường nhất, vì nhà trị vì thần thánh của Miền đất Mặt Trời Mọc được kỳ vọng là không cần băn khoăn về những sự kiện thế tục. Nhưng chính quyền quá bức xúc trước khủng hoảng do các Tàu Đen gây ra đến nỗi họ hi vọng Hoàng đế sẽ gạn hỏi nhờ các thần linh giúp đỡ.

 Khi Hoàng đế Komei nhìn thấy bức thư, ngài la lên là không bao giờ nên cho phép  bọn man di đặt chân lên miền đất thiêng liêng Nhật Bản. Sau khi ra lệnh cho các tu sĩ tiến hành những nghi lễ cúng bái đặc biệt tại Đền Thần đạo Ise thờ Thái dương Thần nữ, ngài thành kính khấn vái, cầu xin một cơn bão kamikaze (“thần phong”) sẽ hủy diệt đoàn tàu xâm lăng của người Mỹ. (Đúng là có cơn gió lớn thổi qua đoàn tàu của Perry, một ngày sau khi rời nước Nhật.)

20

Hoàng đế Komei

Các cố vấn của Shogun lâm vào tình thế tiến thoái lưỡng nan. Họ biết rằng họ không thể đường đầu với người Mỹ. Nhưng họ cũng sợ một hiệp ước có thể dẫn đến sự sụp đổ của chính quyền họ. Tuy nhiên, để dự phòng, họ bãi bỏ luật cấm đóng tàu lớn và đặt mua vài tàu chiến của người Hà Lan. Họ cũng quay ra tìm tư vấn từ một người dân Nhật đã từng sống 10 năm ở Hoa Kỳ.

Người Mỹ gốc Nhật

Manjiro là một đứa bé đánh cá 14 tuổi khi bị đắm tàu và trôi giạt vào một hoang đảo. Một tàu săn cá voi Mỹ cứu vớt cậu, và vị thuyền trưởng nhận cậu làm con nuôi, mang cậu về Fairhaven, Massachussets và xin cho cậu vào trường học, lấy tên John Mung. (Manjiro nghe lạ lẫm và khó phát âm). Cậu sau đó trở thành xếp phó công nhân trên một tàu săn cá voi và tham gia trong chuyến đổ xô đi tìm vàng đến California, tại đó cậu xoay sở và kiếm được kha khá của cải.

Manjiro yêu nước Mỹ, nhưng cậu thấy nhớ nhà và tha thiết muốn gặp lại mẹ. Cậu sắp xếp cho một chuyến tàu bỏ cậu ngoài khơi Nagasaki. Cậu liều mạng, vì biết rằng Luật Loại Trừ của Nhật qui định rằng “Ai đi ra nước ngoài mà sau đó quay về xứ sẽ bị tử hình.”

Khi cậu đến Nagasaki, Manjiro bị bắt giam và buộc phải giẫm đạp lên thánh giá để chứng tỏ mình không có ý định theo đạo Cơ đốc. Cậu bị xét xử 18 lần! Tuy nhiên, vì kiến thức rộng rãi về nước Mỹ, cậu được xem là vốn quí giết đi thì phí phạm. Không những được thả ra, cậu được phong làm samurai.

Sau khi Perry đến, Shogun cho vời Manjiro, người duy nhất trong xứ hiểu biết trực tiếp về nước Mỹ. Mặc dù một số thành viên chính phủ muốn cậu làm thông ngôn chính thức tại Bộ Đàm phán, những người khác chống đối. Họ nhất định không cho phép Manjiro tiếp xúc người Mỹ. Họ cảm thấy rằng cậu quá cảm tình với Hoa Kỳ vì đã được bọn man di đối xử quá tử tế đến nỗi cậu cảm thấy mình có món nợ phải trả. Cậu bảo với một số cố vấn của Shogun rằng “người Mỹ đã khao khát từ lâu được thiết lập những mối quan hệ thân hữu” và rằng “họ không có ý chiếm đất đai của nước khác.” Cậu mô tả bọn xa lạ kia là những con người vạm vỡ, năng nổ, đầy năng lực và thân tình.” Nhưng cậu cũng nhắc nhở với Shogun rằng “ít có vũ khí nước ngoài nào có thể làm người Mỹ khiếp sợ đến mất khôn.”

Những lời Manjiro mô tả về lối sống Mỹ cuốn hút, làm sửng sờ, và biến đổi thái độ của các cấp trên của cậu về “bọn bạch quỷ” này. Cậu vén bức màn bí mật che phủ vùng đất Bắc Mỹ xa lạ bằng những báo cáo về những tập tục kỳ lạ của họ. Những nhận xét sau đây của Manjiro được ghi chép trong văn kiện chính thức:

Khi một thành niên muốn két hôn anh ta tự mình đi tìm một phụ nữ trẻ mà không cần có người  mai mối.

 Làm lễ kết hôn, người Mỹ chỉ cần tuyên bố với thánh thần, và thế là thành vợ chồng. Sau lễ cưới họ thường đi du lịch ra vùng núi. Họ phóng túng nhưng bù lại cũng rất lịch lãm.

Đàn ông và đàn bà Mỹ làm tình công khai. (Họ hôn hít nơi công cộng).

Người đàn ông cất mũ khi thăm viếng. Y không bao giờ cúi chào. . . y ngồi trên ghế thay vì ngồi trên sàn.

 Y có thói quen đọc sách khi đi cầu.

Phụ nữ Mỹ có những tập tục kỳ lạ. Chẳng hạn, một số họ khoét một lỗ qua dái tai và luồn một vòng vàng hay bạc qua lỗ này như một món trang sức.

Phụ nữ không dùng son phấn, và những thứ tương tự.

Người mẹ ưu tiên cho con bú sữa của bò thay cho sữa mẹ. Nhưng điều lạ là thói quen này không tạo ra những hậu quả bệnh hoạn nào được báo cáo.

Nhiều sử gia khẳng định rằng Manjiro tạo được ảnh hưởng giúp cho hiệp ước với Mỹ thành tựu. Nếu không có cậu, sứ mạng của Perry có thể đã đổ vỡ. Cho dù ông không được phép rời Edo, Manjiro đóng một vai trò cốt lõi trong mọi tiến trình thương thảo sau đó.

21

Cảnh tượng đoàn tàu hùng hậu, dưới quyền chỉ huy của Thiếu tướng Perry, trực chỉ phương Đông, trong chuyến trở lại Nhật Bản vào ngày 13/2/1853


(còn tiếp)

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s