Thịt chó có phải món ăn truyền thống của người Việt ?

thit cho 2.png

Tôn Thất Thọ

Trong tập sách Món ngon Hà Nội, khi đề cập món thịt chó, nhà văn Vũ Bằng đã viết:

       “Ngả con cầy ra đánh chén! “Sống ở trên đời, ăn miếng dồi chó, chết xuống âm phủ biết có hay không?”.

     Thôi thì được ngày nào hãy cứ biết chiều ông thần khẩu ngày ấy đã, sau ra sao sẽ liệu. Ấy thế mà chưa biết chừng ăn một bữa cầy vào, cái vận mình nó lại chuyển hung thành cát, chuyển đen thành đỏ thì lại càng hay, chớ có sao đâu?

   Thật vậy, thịt cầy ở nước ta không phải là một món ăn như thịt dê, thịt lợn, nhưng nó lại còn là một niềm tin tưởng trong dân gian nữa.

    Vận đương xúi quẩy, ăn một bữa thịt chó vào, người ta rất có hy vọng giải đen. Đánh bạc thua liền ba đêm, này! Ăn một bữa thịt chó, có người gỡ lại hết cả tiền thua, mà lại còn được thêm là khác. Thử hỏi trong tất cả các món ăn trên thế giới có món ăn nào khả dĩ lại di chuyển được vận hạn của con người đến thế hay không?

     Nhưng dẫu sao, chuyện di chuyển vận hạn cũng là chuyện của tương lai huyền bí. Nói ngay chuyện thiết thực ở trước mắt mà chơi.” 

            Trên website MonngonHanoi.com, một bài viết có đoạn với nội dung tương tự: 

      “Trước tiên đó là thói quen “giải đen” cuối tháng bằng thịt chó. Người Việt kiêng không bao giờ ăn thịt chó vào ngày đầu năm, đầu tháng, song họ tin rằng ăn thịt chó vào những ngày cuối năm, cuối tháng lại có thể xua đi vận đen đủi, “rửa sạch” rủi ro để bước sang năm mới may mắn hơn. Sang đến đầu tháng người ta thường ăn những món ăn như tiết canh với màu đỏ của huyết hi vọng cả tháng sẽ gặp nhiều điềm lành. 

       Thế mới nói, niềm tin về thực phẩm may mắn không chỉ dừng lại ở những món ăn may mắn đó còn là những món ăn giúp xua đi vận hạn, rủi ro. Xét ở khía cạnh nào đó, việc người Việt đi đêm thường mang theo mình nhánh tỏi, cành dâu cũng là từ triết l‎ý đó mà ra. Họ tin rằng nhánh tỏi, cành dâu đó sẽ giúp họ xua đi quỷ dữ, tà ma và mọi điều xấu xa trong đêm tối nhanh chóng đi đến ánh sáng để đón nhận điều tốt đẹp.” 

         Bài viết này có mục đích tìm hiểu người Việt bắt đầu nuôi chó và biết ăn thịt chó từ lúc nào mà lại có “tính triết lý”đến như thế !?

thit cho 3.png

          Cách đây vài năm, học giả Hoàng Xuân Hãn đã phát hiện một tập sách ghi các món ăn xưa của người Việt  mà ông gọi là cảo được viết bằng chữ Nôm. Cảo ghi chép những món ăn cách đây hơn 250 năm  cùng với cách làm. Cảo ấy mang tên “Thực vật tất khảo tường kí lục”, nghĩa là “Tập ghi rõ ràng những phép phải khảo khi làm các món ăn”. Các điều ghi lại trong cảo nầy theo các thời điểm cho ta biết cảo được chép  vào khoảng đầu đời vua Cảnh Hưng nhà Lê (1744). Nội dung sách cổ này không thấy đề cập gì đến món thịt chó !

         Như thế có thể nói rằng: thịt chó không phải là món ăn truyền thống của người Việt, vì thế việc kiêng cữ ăn thịt chó trong những thời điểm nhất định chắc chắn là do đệ tử của món cờ tây sau này đặt ra mà thôi !    

          Theo lời một nhà văn tiền chiến, vào khoảng thập niên 1930, Hà Nội chỉ mới có 4 hay 5 quán thịt chó. Trong khi đó ở miền Nam chưa có quán nào cả và cũng rất ít người biết ăn. Lý do là vì miền Nam lệ thuộc nhiều vào văn hóa Pháp, họ rất thương chó, và dĩ nhiên là họ có đủ mọi phương tiện luật pháp để ngăn cấm. (Nhưng cũng có thể  là do chưa có ai bày cách làm thịt chó, nhất là cách dùng các thứ gia vị!).  Cũng theo nhà văn này, ở trong Nam, tương tự như món Phở, chỉ biết thưởng thức món thịt chó từ sau phong trào “di cư” 1954 của dân miền Bắc.

          Như vậy có thể đoán là thịt chó chỉ phổ biến và thịnh hành trong dân gian ở miền Bắc vào khoảng thập niên 1910-1920. Thời điểm này trùng hợp với tình trạng chiến tranh và loạn sứ quân bên Trung Quốc sau Cách mạng Tân Hợi (1911), phải chăng sự thiếu thốn là lý do đầu tiên đưa đến việc nhiều người phải dùng đến món thịt chó như bên Trung Quốc, và từ đó mới phổ biến lan sang tới Việt Nam, vì  theo địa lý nhân văn về chuyện ăn uống, món gì thịnh hành tại các tỉnh láng giềng thuộc miền nam Trung Quốc, thì thế nào cũng lan truyền qua Việt Nam theo đường biên giới. Điều này có thể kiểm chứng được bằng dữ kiện cho thấy, đa số cư dân ở các vùng ven biển từ Móng Cái- Lạng Sơn chạy dọc theo bờ biển về đến Hải Phòng đều biết ăn và làm thịt Cầy ( có người cho rằng, từ Cầy có lẽ xuất phát từ chữ Cẩu nhưng được đọc âm khác đi vì kiêng cữ, sợ nói thành “thịt Cậu” chăng ?) 

       Nhiều cư dân  tại Sài Gòn cũ cho biết:  những quán thịt chó chỉ xuất hiện lần đầu tiên tại Sài Gòn là vào những năm 30-40 của thế kỷ trước, và cũng chỉ bó hẹp trong cộng đồng những người Bắc vào Nam lập nghiệp. Trước 1975, tại một vài xóm đạo, chợ Ông Tạ, giáo xứ Tân Hương ở Tân Bình và Thủ Đức,… những “tông đồ” có thể tìm cho mình những thứ khoái khẩu, “nguyên zin” với cách pha chế được bê nguyên từ phương Bắc vào.      

         Về việc nuôi chó, theo nhiều tài liệu thì người Việt nuôi chó từ rất lâu,có người cho là từ thời các vua Hùng, nhưng chắc chắn không phải để ăn thịt. Nhưng có lẽ vì giống chó sinh sôi nẩy nở quá nhanh nên mới xãy ra tình trạng “lạm phát” chó, rồi lan tràn sinh sản ở khắp nơi. Và có lẽ vì thế mới phát sinh ra cái món ăn thịt chó phổ biến ngày càng rộng rãi. 

           Một lập luận khác có phần chính xác hơn để giải thích lý do tại sao loài chó nhà phát triển mau lẹ ở nước ta từ khi người Âu châu sang giao thương buôn bán.

           Theo nhiều sử liệu, thật sự các giống chó nhà được huấn luyện thuần thục đã theo chân các nhà truyền giáo và thủy thủ người Âu trên các thương thuyền cập bến vào Trung Quốc và Việt Nam từ thế kỷ XVII, đó là thời kỳ Trịnh- Nguyễn phân tranh. Nhưng dânViệt thời bấy giờ còn quá nghèo đói, miếng ăn còn chưa có thì còn đâu cho chó ăn. Riêng với giới quan lại hay nhà Nho thời bấy giờ vì do ảnh hưởng Trung Hoa từ văn hóa Khổng-Mạnh, chuyện nuôi chó trong nhà không phù hợp với phong tục dân gian, nên đã không có cơ hội tồn tại được. Khách đến nhà mà bị chó sủa hay nhảy chồm vào người, thì chắc bị coi là “đại thất lễ”, xúc phạm khó tha thứ được đối với những người được giáo dục từ cửa Khổng sân Trình. Chưa nói đến chuyện chó có tật làm bậy, nhất là phóng uế bừa bãi!

        Do đó, có thể  nói rằng các giống chó nhà sau này, phần lớn đều có xuất xứ từ nước ngoài đem vào, và chỉ phát triển vào khoảng ba, bốn trăm năm nay. 

        Về phương diện văn chương bình dân, trong tác phẩm Lục súc tranh công (khuyết danh) viết bằng chữ Nôm, xuất hiện khoảng đầu TK XX, con chó có mặt để nói về công trạng của mình: 

  “Đêm năm canh con mắt như chong:

 Đứa đạo tặc nép oai khủng động.

 Ngày sáu khắc, lỗ tai bằng trống,

 Đứa gian tham thấy bóng cũng kinh.

 Lại đến ngày kỵ lạp tiên sinh,

 Cũng ra sức săn chồn, đuổi sóc.

 Bao quản chui gai, lước góc,

 Chi này múa mỏ, lòn hang…”

 

Khi sống thì giữ gìn của đời,

 Khi thác xuống giữ cầu âm giái,

 Người có phước, muông đưa ra khỏi,

 Ai vô nhân, qua chẳng đặng đâu!

 Chủ có lòng suy trước, xét sau,

 Khi lâm tử gạo tiền tống táng.

 Chủ đã có công dày ngãi rộng,

 Muông dễ không tiếp rước đãi đưa…” 

            Trong 6 con này chỉ có chó là sống gần người nhất (ngay trong nhà), biểu lộ tình cảm rõ nhất, khôn nhất và trung thành bậc nhất, nên chó được thương nhất là điều dễ hiểu. Mấy con kia thì vì bắt buộc chúng mới làm chớ không phải như chó: thương chủ, trung thành và bảo vệ chủ. 

       Trước thời điểm ra đời của Lục súc tranh công, có lẽ dân Việt chỉ biết chó qua văn chương Hán học. chữ “Cẩu” đầu tiên xuất hiện trong bài thơ tả cảnh hai ông quan chữi nhau của Cao Bá Quát làm vào thời vua Tự Đức (1847-1883). Các danh  từ về chó có trong thơ văn như Khuyễn mã hay Sài lang, là nói về các loài Chó Sói (Wolf) hay Khuyễn (Hyena) hung dữ, xấu xí đáng ghét, không phải là loài chó nhà hiền lành thông minh và đẹp như sau này. Trong các sách truyện đời xưa, khi dùng từ “quân cẩu trệ” là muốn ám chỉ sự nhục mạ đối tượng. Đó là bằng chứng văn hóa Á châu rất ghét, nếu không nói là khinh bỉ loài chó!. 

           Một thực tế không ai phủ nhận, chó nhà là loài thú thông minh nhất trong các giống thú vật kể cả các loài khỉ vượn. Loài chó nhà khôn như thế nào thì hầu như ai cũng đã từng biết hay nghe thấy rồi. Nhưng đặc biệt là khả năng đánh hơi cùng với một trí nhớ về mùi rất nhạy vượt xa hơn cả con người. Trong rất nhiều trường hợp, người chủ cũ đi xa vài năm trở về, chó vẫn nhận ra ngay nhờ đánh hơi và nhớ được mùi, trước cả khi người trong nhà nhận diện ra khách quen! 

            Kế đến, như đã nói về nguồn gốc, trải qua cả ngàn năm hay hàng trăm thế hệ được sống chung với người, trong từng tế bào di truyền của các loài chó nhà đã được khắc ghi hình ảnh và mùi riêng. Con người đối với loài chó nhà, vừa là sinh vật sống chung đáng tin cậy, mà cũng là ân nhân nuôi dưỡng hay cho ăn. Những loại chó nhà hầu như đều mất hết khả năng săn mồi hay tự kiếm ăn, và chắc sẽ chết sau một thời gian nếu không có ai nuôi cho ăn. Đã có nhiều trường hợp nói về chó trung thành xãy ra khi người chủ qua đời. Do chó đánh hơi được mùi riêng của thân xác người chủ, hay áo quần tẩm liệm trong quan tài, nên theo ra nghĩa địa nằm chờ cho ăn (thường là chó già đã theo chủ lâu năm, yếu đuối và bệnh tật), và không may là bị đói lạnh rồi kiệt sức chết luôn theo chủ! 

          Có lẽ đó là lý do chính mà đa số người Việt đã không ăn thịt chó. Hiện nay, trên thế giới chỉ có Việt Nam và 2 nước khác (Trung Quốc và Hàn Quốc) coi thịt chó là món ăn được bày bán công khai ở khắp mọi nẻo đường…!

Advertisements

13 thoughts on “Thịt chó có phải món ăn truyền thống của người Việt ?

  1. Bài viết cũng đúng nhưng chưa đầy đủ, nặng tính phiến diện cá nhân quá!
    1, Về việc nuôi chó thì chó đã ở cùng con người và tham gia săn bắn từ rất lâu sao lại bảo đến thời Pháp mới có. Thế tác giả có biết Nguyễn Xí là ai và nổi tiếng vì cái gì không?
    2, “Riêng với giới quan lại hay nhà Nho thời bấy giờ vì do ảnh hưởng Trung Hoa từ văn hóa Khổng-Mạnh, chuyện nuôi chó trong nhà không phù hợp với phong tục dân gian, nên đã không có cơ hội tồn tại được.” Thế ông có biết chỉ Việt Nam là một trong rất ít nước có các tượng chó đá và tồn tại trong các gia đình, đền chùa, mồ mả không?
    3, Ngoài các từ “Khuyễn mã hay Sài lang” thì còn nhiều từ khác nói đến chó nữa mà tác giả quên hoặc chưa biết “Ưng khuyển”, “Cẩu nhi”…. Khuyển mã là nói đến việc một người cố gắng tận tâm mang hết sức ra để giúp chủ như con chó, con ngựa chứ không phải “Chó sói” như tác giả nghĩ.

    Các vấn đề khác cũng mang nặng tính suy diễn cá nhân nên không bàn sâu nữa!

    Trân trọng!

    • Việc nuôi chó để ăn thịt có từ bao giờ, hình tượng con chó đối với văn hóa Việt ra sao, cái đó thuộc về lịch sử. Mà lịch sử của loài người vốn đã phức tạp, huống chi là lịch sử loài…chó !
      Nội dung chính và quan trọng của bài viết là:
      Người Việt nuôi chó ĐỂ ĂN THỊT có từ bao giờ? Và thịt chó có phải là món ăn truyền thống của người Việt hay không ?
      Thế thôi ! Đề nghị thảo luận về 2 kết luận đó thôi !

      • Chưa ai xác định thế nào “món ăn truyền thống”cả. Yếu tố nào khiến cho món ăn trở thành món truyền thống, thời gian ư? Bao nhiêu năm, bao nhiêu thế kỷ? Mức độ phổ biến ư? Bao nhiêu phần trăm dân số thích ăn, bao nhiêu vùng miền? Và còn nhiều yếu tố khác nữa, chẳng hạn cách chế biến. THế nên đề nghị thảo luận thịt chó có phải món ăn truyền thống của người Việt không mà chưa xác định các yếu tố trên thì có mà thảo luận cả ngày!

  2. Việc nuôi chó để ăn thịt có từ bao giờ, hình tượng con chó đối với văn hóa Việt ra sao, cái đó thuộc về lịch sử. Mà lịch sử của loài người vốn đã phức tạp, huống chi là lịch sử loài…chó !
    Mục đích chính và quan trọng của bài viết là:
    Người Việt chưa bao giờ nuôi chó để ăn thịt ! Và thịt chó KHÔNG bao giờ là món ăn truyền thống của VN.
    Thế thôi ! Đề nghị thảo luận về 2 kết luận đó thôi !

    • Tôi thấy từ xưa ở các làng quê ngày giỗ chạp ngoài làm mâm cỗ cúng thì món thịt chó để liên hoan con cháu trong gia đình.thế mà tác giả bảo là không phải món ăn truyền thống.thấy tác giả chưa hiểu nhiều về văn hóa việt….

      • Xin cho biết làng quê ở vùng miền nào và khoảng thời gian nào ? Và nếu là truyền thống thì xin dẫn chứng là bắt đầu vào triều đại nao ? Trân trọng

      • “Tôi thấy từ xưa ở các làng quê ngày giỗ chạp ngoài làm mâm cỗ cúng thì món thịt chó để liên hoan con cháu trong gia đình”
        Đây là việc có thật, được đề cập đến trong một số tác phẩm, chẳng hạn quyển “Quê người” của Tô Hoài, dù là truyện nhưng chi tiết ăn thịt chó trong đám giỗ chắc chắn dựa trên sự thật xảy ra vào thời thực dân, khi nông thôn miền Bắc bị thiếu thực phẩm trầm trọng.

      • Tôi đọc ở đâu đó không nhớ dõ hình như ở An Nam chí lược thì món thịt chó đã có từ thời Trần các vua chúa thời xưa cũng ăn thịt chó.còn tôi thấy tất cả các làng quê bắc bộ đều ăn thịt chó trong ngày giỗ.theo thiển ý của tôi ông mình ăn đến mình ăn thì nó là truyền thống.xin hỏi tác giả định nghĩa thế nào là món ăn truyền thống,phở Hà Nội có là món ăn truyền thống không.

      • Tôi đọc ở đâu đó không nhớ dõ hình như ở An Nam chí lược thì món thịt chó đã có từ thời Trần các vua chúa thời xưa cũng ăn thịt chó.còn tôi thấy tất cả các làng quê bắc bộ đều ăn thịt chó trong ngày giỗ.theo thiển ý của tôi ông cha mình ăn đến mình ăn thì nó là truyền thống.xin hỏi tác giả định nghĩa thế nào là món ăn truyền thống,phở Hà Nội có là món ăn truyền thống không.

    • Thói quen ăn thịt chó xuất phát từ tình trạng thiếu thực phẩm ở nông thôn Miền Bắc thời xa xưa. Khi người Bắc di cư vào miền Nam năm 1954, họ mang theo thói quen đó. Do đa số người di cư năm 1954 theo công giáo nên người miền Nam tưởng là người công giáo ăn thịt chó.

  3. Từ ngày qua Mỹ sống ,mình tận mắt chứng kiến nhiều người nuôi chó ,dắt chó đi chơi,tắm gội bằng dầu thơm rồi ngủ với chó . Xem ra xã hội Mỹ quý trọng con chó nhiều lúc còn hơn con người. Không rõ do luật lệ quy định hay tập quán mà người Mỹ có câu nói phân chia cao thấp,trọng ,khinh: Nhất là con nít trong nhà,thứ nhì phụ nữ,thứ ba con cầy.Chót bẹt là thằng đàn ông ! Với sự cưng chìu ,thân thiết như thế nên chuyện làm thịt con vật thương yêu của mình rõ ràng không bao giờ xãy ra. Tuy nhiên dù khôn lanh, trung thành với chủ và có nhiều tính tốt nữa so với các con vật nuôi khác thì con chó cũng là loài ” hạ đẵng ” không có trí khôn và nhiều khả năng trí tuệ khác như con người.Bằng chứng thỉnh thoãng chúng ta nghe đâu đó chó cắn chết chủ . Ở Mỹ,người ta cho con nít chơi,ôm ấp với chó từ bé .Và con vật thân thương này sống gắn bó với nó gần như suốt đời nên không tránh khỏi hình thành ở trẻ lối suy nghỉ xem con chó như người thân trong nhà. Hệ lụy là nhiều phụ nữ đơn thân thường ngủ và giao cấu với chó mà tưởng như chồng mình. Thật kinh tởm.
    Người Việt mình từ xa xưa đã có nuôi chó với hai mục đích : Giử nhà và ăn …cứt ,dọn vệ sinh khi có con nít trong nhà và thỉnh thoãng chúng chạy ra đồng vắng để tìm món ăn khoái khẩu của chúng bởi họa hoằn mới có cơm thừa cá cặn nhưng thường là đói ăn. Theo tôi nghỉ thói quen ăn thịt chó có lẽ xuất phát từ một thời điểm đói ăn nào đó trong lịch sử của dân cư miền Bắc nước ta .Dần dần thành thói quen như bây giờ.
    Ứng xử văn minh là không nên ăn thịt chó bởi chó là con vật có ích ,gần gũi với đời sống con người.đồng thời cũng đừng xem nó như người thân,thậm chí còn quý trọng hơn con người như những một bộ phận dân Mỹ sống ở vùng nông thôn,ít học.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s