Văn hóa múa lân của người Hoa

mua lan 2.jpg

Huỳnh Gia Bửu

Hàng năm vào khoảng tháng chạp âm lịch, không khí lễ tết đã bắt đầu bao trùm khắp nơi. Người người nhà nhà đều bận rộn, hân hoan chuẩn bị đón tết. Mỗi nhà, mỗi hộ đều tất bật ngược xuôi sắm sửa đồ đạc, trang hoàng lại nhà cửa. Có người thì sắm con gà, bán con vịt, nhà thì sơn sửa phòng ốc, có gia đình thì dán câu đối đỏ, cặp liễn. Khắp nơi như cùng hòa quyện vào không khí tấp nập, náo nhiệt đó nhưng với tâm trạng vô cùng háo hức, đợi chờ.

Nhất là tại khu người Hoa ở Q.5, Chợ Lớn, TP.HCM. Không khí lễ tết kéo dài từ cuối tháng 11 âm lịch cho đến hết tháng giêng năm sau mới dứt hẳn. Vào mỗi dịp tết đến, người Hoa có những phong tục, tập tục rất đặc trưng, mang phong cách rất riêng và độc đáo. Thí dụ có thể xét đến việc dán câu đối liễn trước cổng nhà hoặc dán giấy đỏ có đề chữ vàng khắp tường nhà.

Nguồn gốc câu đối liễn ngày tết

Tương truyền vào thời Trung Hoa cổ đại xưa, có một con thú có tên gọi là “Con Niên” cực kỳ hung dữ xuất hiện vào cuối đông – đầu xuân. Con niên kéo xuống xóm làng phá hoại mùa màng và thậm chí là ăn thịt người. Cứ vào mỗi mùa con niên xuống làng kiếm ăn, người dân sống trong cảnh vô cùng khó khăn và lúc nào cũng lo sợ bị con niên cướp mất sinh mạng.

Mỗi mùa Niên về sẽ kéo dài khoản 1 tuần cho đến 10 ngày, trùng vào ngày 20 mấy tháng chạp cho đến mùng 7 tháng giêng âm lịch ngày nay. Cho nên cứ vào mùng 7 tháng giêng hàng năm, người Hoa gọi ngày đó là “Nhân nhân sinh nhật” (mọi người cùng sinh nhật) – Ý như là được tái sinh khi không bị con Niên ăn thịt. Họ sẽ cúng bái ăn mừng cho những người còn sống vì thoát khỏi nạn con niên. Cho nên tết người Hoa gọi là “Quá Niên” – Thoát khỏi tai họa con Niên.

Tuy con Niên hung dữ là thế nhưng lại rất sợ nhìn thấy màu đỏ và tiếng ồn. Chính vì nắm được yếu điểm này của con Niên, nên người cứ mỗi khi tết về sẽ dán đầy giấy đỏ trước cửa nhà và đánh trống đánh chiêng cũng như đốt pháo để con Niên không dám vào nhà quấy phá dân làng.

Sau này con niên được thuần phục bởi ông Đại Đầu Phật (có tên gọi khác là Ông Địa) bằng cách cho con niên ăn một loại thảo dược gọi là Linh Chi Thảo. Con niên sau khi ăn xong ngủ 1 giấc tỉnh dậy bỗng nhiên trở nên hiền lành và trở thành thú cưỡi của Ông Địa. Con vật bỗng nhiên không còn là nỗi khiếp sợ của dân làng mà trái lại còn rất gần gũi với con người, nhất là trẻ em. Để quên đi vấn nạn con niên mỗi khi xuân về, về sau người ta mới đổi gọi con niên thành con lân như ngày nay chúng ta vẫn thường gọi.

Tuy đã qua đi vấn nạn con niên, nhưng do thói quen dán giấy đỏ trước nhà mỗi khi tết đến nên người Hoa vẫn giữa lại thói quen đó và dần dần trở thành tập tục truyền thống duy trì đến ngày nay. Tuy nhiên, nếu chỉ dán giấy đỏ không thì nhìn nó khá là đơn điệu cho nên những nhà thơ, nhà văn và nhà thư pháp xưa mới nãy ra ý tưởng đề thơ, viết chữ, viết câu đối lên những tấm giấy đỏ đó để thêm phần nho nhã.

Những câu đối liễn ngày tết thông thường sẽ được viết trên giấy đỏ chữ vàng hoặc chữ đen. Những chữ được viết trên đó là những lời chúc, câu chúc may mắn với hy vọng qua năm mới gia chủ sẽ gặp được nhiều điều tốt lành, may mắn. Những lời chúc thông thường sẽ là: “Tấn tài tấn lộc”, “Mã đáo thành công”, “Vạn sự như ý”,….

Ngày nay, trong cộng đồng người Hoa tại TP.HCM nói chung cũng như tại Q.5 nói riêng đều vẫn giữ lại được tập tục dán câu đối liễn ngày tết trước cửa nhà cũng như thích xem múa lân. Thậm chí có nhà hàng năm đều mời lân đến nhà biểu diễn với ý nghĩ “Lân sẽ mang tài lộc cũng như may mắn đến cho  gia đình”

Múa lân du nhập vào Việt Nam

Múa lân là một môn nghệ thuật có từ lâu đời, nó gắn liền với phong tục, tập quán và các ngày lễ hội lớn của người Trung Hoa. Nhất là vào mỗi khi tết đến, múa lân là món đặc sản không thể thiếu của người Hoa. Múa lân được chia ra làm 2 loại: Nam sư và Bắc sư. Nam sư tức là con lân chúng ta thường hay gọi – thịnh hành ở miền Nam, Trung Quốc nhất là tại Quảng Đông. Bắc sư còn gọi là múa sư tử thì được người miền Bắc Trung Quốc ưa chuộng có xuất xứ tại Bắc Kinh.

Múa lân được phân ra thành 2 trường phái chính: Phật Sơn và Hạt Sơn. Lân múa theo phái Phật Sơn thuộc hổ báo hình, được múa mô phỏng theo cử chỉ, điệu bộ của loài hổ, loài báo động tác mạnh mẽ, oai phong thích hợp cho múa dưới đất hơn. Còn lân múa theo phái Hạt Sơn thuộc Long hình, được mô phỏng theo hình dáng và hành động của loài mèo động tác nhanh nhẹn, nhẹ nhàng thích hợp cho múa trên cao hơn ví dụ như lân lên mai hoa thung chẳng hạn.

lan

Phật Sơn (trái) – Hạt Sơn (phải)

Luật ngầm trong văn hóa múa lân xưa

Trong giai đoạn sơ khai của các đoàn lân người Hoa ở Sài Gòn nói chung cũng như vùng Q.5 nói riêng, mỗi đoàn lân đều chỉ có duy nhất một con lân để đi biểu diễn vào các dịp lễ tết. Lúc bấy giờ, yêu cầu múa lân rất chặc chẻ, bài bản và đặc biệt mỗi bài múa lân diễn trong thời gian rất dài. Một bài múa lân được xem là tiêu chuẩn sẽ múa khoảng 1 giờ, có bài đặc biệt múa hơn 1 giờ thậm chí lâu hơn nữa. Hơn nữa, đầu lân khi xưa không nhỏ gọn và nhẹ như hiện tại, đầu lân xưa rất to, nặng và hết sức cồng kềnh. Do đó yêu cầu người múa phải có sức khỏe phi thường, cộng thêm thời gian múa dài cũng như đòi hỏi người múa phải đúng bài bảng cũng như mã bộ vững chắc cho nên đa phần người múa lân phải từ cấp huấn luyện viên trở lên mới có khả năng đảm nhiệm được. Có nhiều trường hợp quan trọng, thậm chí là sẽ do sư phụ đứng đầu đoàn lân đó đích thân biểu diễn.

Ngoài những yếu tố nêu trên ra, một lý do cũng vô cùng quan trọng là để bảo vệ đầu lân cũng như danh tiếng của đoàn lân đó. Đầu lân và cái trống là 2 vật biểu trưng cho mồi đoàn lân khi ấy, cho nên người múa đầu lân cũng như những người đứng xung quanh cái trống đều là những vị sư phụ có võ nghệ cao cường. khi xưa, xã hội còn loạn lạc, các đoàn lân rất hay gây gỗ đánh nhau. Mổi khi giáp mặt ngoài đường, 2 đoàn lân sẽ đi song song ngược hướng nhau. Mỗi vị sư phụ múa đầu lân sẽ kẹp tấm danh thiếp của đoàn lân mình vào trong miệng con lân rồi 2 bên giao lưu trao đổi danh thiếp bằng cách múa lân. Sau khi trao đổi danh thiếp qua lại với nhau, nhất định 2 bên phải đi thẳng không được quay đầu nhìn lại. Động tác quay đầu nhìn lại sẽ mang ý ngầm như là “Kênh nhau” hoặc mang hàm ý muốn gây hấn.

Một khi cuộc chiến đã xảy ra thì cái đầu lân và trống là 2 vật được cả 2 bên đặc biệt chú ý đến. Mỗi bên đều sẽ cố sức bảo vệ đầu lân và mặt trống của mình và ngược lại sẽ tìm kiếm và tìm cách phá hoại lân và trống của đoàn lân đối địch. Trong suốt cuộc  chiến, môn sinh hai phía bị thương vô số, rất khó phân biệt được bên nào là thắng, còn bên nào là bại. Cho nên trong giới võ lâm xưa, có một quy luật được xem là luật bất thành văn, khi đội nào bị đối phương đâm thủng trống cũng như hư hại đầu lân trước thì bị xem là kẻ thua trận, danh tiếng của đội đó sẽ bị xuống cấp trầm trọng. Thông thường, các vị võ sư đứng 2 bên trống, tay sẽ cầm cây “Thử Vĩ Côn” – cây có hình dáng giống đuôi chuột có một đầu lớn ở gốc và nhỏ dần về ngọn. Cũng có võ sư sẽ sử dụng cặp uyên ương đao (2 cây đao ngắn, nhét 2 bên eo) để bảo hộ trống và lân.

Có 5 điều cấm kỵ khi 2 đoàn lân đi vào thế đối đầu nhau, bao gồm:
1. Khi 2 con lân đối diện nhau không được đưa chân lên vuốt sừng. Hành động đó thể hiện sự vô lễ, muốn thị oai và khiêu chiến.
2. Không được đưa chân lên vuốt râu. Hành động vuốt râu tỏ vẻ trịch thượng, bề trên và kiêu ngạo, xem đối phương thấp hơn mình 1 bậc.
3. Không được có động tác rửa răng (đưa đầu lân ra phía trước và cuối xuống chân cào qua cào lại). Hành động giống như chuẩn bị mài răng cho sắc bén để cắn và ăn thịt đối thủ.
4. Không được mở to 1 bên mắt con lân nhưng 1 bên thì nhấp nháy liên tục thể hiện thái độ cực kỳ khinh thường và xem nhẹ đối phương. Một khi có hành động như vậy thì cơ hội đánh nhau sẽ rất cao.
5. Không được quay lại tự liếm hoặc cắn đuôi, mang ý nghĩa vô cùng sĩ nhục và khinh bỉ đối phương. Sau khi hành động này diễn ra chắc chắn sẽ có một trận đánh nhau quyết liệt.

Thêm một quy luật tuy không nói ra nhưng tất cả những ai muốn thành lập đoàn lân đều phải làm theo, đó là đoàn lân mới thành lập nhất quyết không được có lân trắng hoặc râu bạc. Nếu muốn có lân trắng, đoàn lân phải hoạt động ít nhất liên tục trong 5 năm mới có quyền lên râu bạc. Đến lúc đó, đoàn lân mới được xem là đoàn lân cũ, lão làng bằng không chỉ được xem là lân mới, lân trẻ mà thôi. Lân mới khi gặp lân cũ phải lại 3 lại chào lân cũ trước, sau đó lân cũ cũng sẽ lại 3 lại đáp lễ lại. Đó cũng là một trong những luật ngầm trong giới võ lâm xưa mà hiện tại đã mai một thậm chí là biến mất.

Nguồn bài đăng

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s