Vẻ đẹp của chính trị

Justice

Phạm Đoan Trang

CHÍNH TRỊ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TẤT CẢ CHÚNG TA

Điều đầu tiên cần khẳng định là trong một xã hội tôn trọng đa nguyên, thì mọi người đều được tự do thích, theo đuổi, hoặc không thích, không theo đuổi cái gì đó. Nghĩa là người có thể đi làm kinh doanh, kẻ thì dấn thân cho sự nghiệp khoa học, một số khác lại đam mê nghệ thuật. Không nhất thiết ai cũng phải lao vào các hoạt động “vì cộng đồng” hoặc phải hăng hái đọc báo, xem tivi, nghe đài, hăng hái bàn luận về những vấn đề vĩ mô… Không phải nhất định chỉ có xả thân và cống hiến, “là con của vạn nhà, là em của vạn kiếp phôi pha” thì mới được xem là có “thời thanh niên sôi nổi” và tươi đẹp. (Nhưng tất nhiên, cũng phải thừa nhận là giữa các ngành nghề, các nhóm công việc khác nhau, có những nghề mang lại sự thú vị cao hơn cho người thực hành chúng – mà chính trị là một trong số đó).

Song, có một khoảng cách giữa thái độ không thích, không quan tâm, không dây dưa (đó là quyền của bạn, và là điều được chấp nhận, trên tinh thần đa nguyên), và sự kém hiểu biết về chính trị (có thể dẫn đến sự vô cảm).

Chính trị là quá trình ra quyết định và thực thi quyết định đó trong một nhóm, một cộng đồng bất kỳ, có thể ở quy mô một xã hội, đất nước. Bạn sẽ thấy ngay rằng, mâu thuẫn, xung đột là một phần tất yếu của quá trình ấy; hay nói cách khác, một trong các đặc điểm của chính trị là sự mâu thuẫn, xung đột. Chẳng quyết định nào, chẳng chính sách nào có thể đạt được đồng thuận. Vấn đề của tất cả mọi người là làm thế nào để giảm bớt tác hại của mâu thuẫn, xung đột ấy, dù không phải là triệt tiêu nó; nhưng đấy là chủ đề của những bài viết khác. Ở đây, chúng ta biết rằng chính trị thì phải mâu thuẫn.

Một nhà khoa học chính trị nổi tiếng người Mỹ, ông Austin Ranney (1920-2006), từng viết: “Chắc chắn, trong bất kỳ xã hội nào, cũng có rất nhiều mâu thuẫn trong những lĩnh vực ngoài chính trị, như kinh tế, học thuật, thể thao, và hôn nhân. Cái chính là không một xã hội nào – truyền thống hay hiện đại, tiến bộ nhiều hay ít, dân chủ hay độc tài – lại hoàn toàn không có mâu thuẫn chính trị cả. Và trong xã hội hiện đại, mọi mâu thuẫn xoay quanh vấn đề giá trị (cái gì tốt hay xấu, tốt nhiều hay tốt ít, xấu nhiều hay xấu ít, lợi hay hại, nên hay không nên… – ND) sớm muộn đều trở thành mâu thuẫn chính trị”.

Mà cuộc sống của bạn thì lại luôn đầy những xung đột, mâu thuẫn phải giải quyết. Nói cách khác, bạn luôn phải đối diện và xử lý mâu thuẫn.

Thế nghĩa là dù làm gì, bạn cũng không thoát khỏi tầm ảnh hưởng của chính trị được đâu.

Ngay trong lớp bạn, trường bạn, Ban Giám hiệu thay toàn bộ giảng viên từng du học ở Liên Xô bằng giảng viên học ở Mỹ về, đã là một quyết định chính trị ảnh hưởng đến bạn rồi. Bạn vận động thầy cô, bạn bè, để nam và nữ sinh viên đều có thể bơi chung bể trong môn thể dục hoặc ngược lại, nhất định phải tách riêng họ ra, đã là làm chính trị rồi.

Trong cơ quan, bạn khen ngợi anh A, ném đá chị B, dìm cô C, nâng chú D, để cho sếp chú ý đến bạn hơn một chút, hoặc để các đồng nghiệp yêu quý bạn hơn, đều là làm chính trị cả. Kể cả bạn quyết định không tham gia bè phái, chỉ tập trung chuyên môn thôi, đó cũng là một quyết định có tính chất chính trị và ngay cả khi ấy thì bạn cũng vẫn sẽ chịu ảnh hưởng từ sếp, từ đồng nghiệp, từ các chính sách của cơ quan.

Chính trị bao trùm như thế. Vấn đề là điều ấy không xấu như bạn nghĩ. Nếu bạn vận động thành công để trường lớp, cơ quan, tổ dân phố, ra những chính sách có lợi cho bạn và những người bạn ưu ái, thì bạn sẽ thấy chính trị tốt quá, phải không? Và có một nghịch lý thú vị mà Austin Ranney chỉ ra, là trong khi người ta khinh ghét chính trị gia, coi chính trị là bẩn thỉu, thì người ta cũng lại ngưỡng mộ các vị lãnh đạo nhà nước, các nguyên thủ quốc gia, lãnh tụ, và luôn thấy họ đẹp, họ đúng, họ sáng suốt…

Vậy vì sao bạn không quan tâm đến chính trị, đến công cuộc sửa đổi hiến pháp – đạo luật “nguồn của mọi đạo luật”? Chúng ảnh hưởng đến bạn kia mà.

ĐỪNG LÊN ÁN NGƯỜI VÔ CẢM!

Trong hệ thống đánh giá và biểu dương, khen thưởng thành tích của Đảng và Nhà nước, các bạn thường thấy có một tiêu chí là “ý thức chính trị cao”, “bản lĩnh chính trị vững vàng”, theo nghĩa là “hiểu rõ và hướng tới bảo vệ lợi ích của Đảng, trung thành với Đảng – lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”.

Trên thực tế, khái niệm “ý thức/ bản lĩnh chính trị” có lẽ đơn giản hơn. Người có ý thức chính trị là người hiểu rằng “chính trị là quá trình ra quyết định và thực thi quyết định đó trong một nhóm, một cộng đồng, một xã hội, một quốc gia”, nó có ảnh hưởng tới tất cả mọi người và đấy là lý do để tất cả nên có sự quan tâm, tìm hiểu ở mức cần thiết đến chính trị, đến các vấn đề chung của nhóm, cộng đồng, xã hội hay quốc gia đó.

Bất cứ khi nào bạn đặt ra và/hoặc tìm cách trả lời chỉ một trong các câu hỏi sau đây, là khi đó bạn đã có ý thức chính trị:

  • Tại sao một số người bạn yêu quý, bạn nể phục, lại không ở vị trí lãnh đạo “cho thiên hạ nhờ”? (trong công ty, trong tổ chức của bạn, cũng như trong một ngành nghề nào đấy – ví dụ bạn có ông chú là một vị bác sĩ rất có tâm, có tài, chẳng nhẽ không thể để chú làm Bộ trưởng Y tế thay Bộ trưởng Nguyễn Thị Kim Tiến?)
  • Nếu bạn muốn đưa những người đó lên vị trí lãnh đạo thì bạn cần làm gì?
  • Bạn không muốn học môn kinh tế chính trị Marx-Lenin, hoặc ngược lại, muốn học kỹ hơn, đầy đủ hơn, thì phải làm thế nào?
  • Các ý kiến, đề xuất của bạn ở lớp, ở trường, cơ quan, công ty, NGO của bạn… có kết quả gì không?
  • v.v.

Chỉ cần đặt ra một trong số câu hỏi như thế, là bạn đã có ý thức chính trị rồi. Ý thức chính trị sẽ là cao nhất khi bạn tự hỏi: Mình muốn sống trong một tập thể/ cộng đồng/ xã hội/ đất nước như thế nào, và mình sẽ làm gì để đạt được điều đó?

Sự vô cảm đến từ đâu?

Paulo Freire (1921-1997) – nhà giáo dục nổi tiếng người Brasil, tác giả của cuốn sách sư phạm rất có ảnh hưởng ở thế giới thứ ba “Pedagogy of the Oppressed” (tạm dịch: Giáo dục dành cho người bị áp bức, xuất bản lần đầu năm 1970) – cho rằng con người có những nhu cầu căn bản về vật chất và tâm lý-xã hội: Phàm là người thì ai cũng có nhu cầu ăn ngủ, có chỗ ở, được chăm sóc sức khoẻ và chữa bệnh, được an toàn, được bảo vệ bởi pháp luật và lực lượng công quyền đáng tin cậy, được sống với người mình yêu, được thuộc về một cộng đồng, được mang bản sắc của một dân tộc, được làm việc và chăm lo cho gia đình, được tôn trọng, được giáo dục và được có các cơ hội để phát triển năng lực của mình. Paulo Freire tin rằng, nếu các nhu cầu căn bản đó không được đáp ứng, thì kết cục tất yếu là những căn bệnh tập thể, bệnh của cộng đồng sẽ xuất hiện, mà phổ biến nhất là bạo lực, sự vô cảm, ma tuý và rượu.

Ông viết: “Không ai có thể đáp ứng tất cả nhu cầu của mình. Chỉ khi nào ở trong một cộng đồng, được sự hỗ trợ của những người khác, chúng ta mới có thể thoả mãn các nhu cầu của chúng ta. Những tôn giáo tốt đẹp, những chính quyền tốt đẹp, thì đều chú tâm đến việc xây dựng một xã hội như thế”.

Ông khẳng định: “Vô cảm không phải là trạng thái tự nhiên của con người. Trạng thái tự nhiên luôn là hướng tới đáp ứng các nhu cầu của mọi người khác. Chỉ khi các nỗ lực đó liên tục bị ngăn trở, người ta mới rơi vào trạng thái vô cảm”.

Sự vô cảm được hình thành như vậy. Và Paulo Freire bảo rằng, nếu chính quyền thất bại trong việc tạo điều kiện cho người dân – ở bất kỳ bộ phận nào trong xã hội – thoả mãn được nhu cầu căn bản, thì điều đó sẽ tác động ngược trở lại cả xã hội, và gây thiệt hại về dài hạn. “Một xu chi ngày hôm nay vào nhu cầu của người dân, sẽ tiết kiệm được 10 USD phải chi ngày mai vào công an, cảnh sát, nhà tù, các chương trình phục hồi nhân phẩm”.

Vô cảm là hệ quả tất yếu của một nền chính trị xấu, một nền chính trị đã bị mất đi vẻ đẹp của nó.

Và cùng với sự vô cảm là…

Khi người dân của một quốc gia phải sống nhiều năm trong tình trạng bị một thiểu số kiểm soát, chi phối lâu dài về chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá, v.v., suy nghĩ của họ dần dần bị định hình, khiến họ tin tưởng vào sự ưu việt của thiểu số đó. Họ có xu hướng nghĩ rằng thiểu số ấy luôn đúng đắn, sáng suốt, ngoài ra thì không còn gương mặt nào sáng giá để lãnh đạo xã hội cả; các lực lượng khác đều dở tệ, không có khả năng thay thế đội ngũ lãnh đạo hiện nay. Nói chung, họ không được khuyến khích tư duy, trong khi lại luôn được khuyến khích (và bản thân họ cũng khuyên lẫn nhau) là nên sống đơn giản, vui vẻ, còn những vấn đề “vĩ mô” thì đã có một thiểu số lo – nhóm thiểu số này thay mặt toàn dân điều hành đất nước, ra các chính sách có ảnh hưởng đến cả nước, trong đó có cả phần lợi ích của chính những người đang sống đơn giản, vui vẻ.

Cùng trong quá trình ấy, bản thân nhóm thiểu số lãnh đạo cũng được định hình tư duy để tin rằng họ là giới tinh hoa, họ cao hơn các nhóm khác, họ cao hơn “dân” một bậc, và tóm lại, họ là lãnh đạo. Những việc mỗi cá nhân gọi là “dân” ấy làm chỉ ảnh hưởng tới cá nhân đó, nhiều hơn thì đến nồi cơm gia đình của ông/bà ta, cùng lắm là đến cơ quan, công sở của ông/bà thôi. Chứ còn những việc lớn, trọng đại, có ảnh hưởng tới toàn xã hội, đòi hỏi tầm vóc chiến lược, trí tuệ sáng suốt, phải là việc lãnh đạo đang làm đây này. Mà vì làm việc lớn, quan trọng, cho nên họ nghiễm nhiên cho rằng họ phải được “tạo điều kiện” hơn “dân”: Cái này trong tiếng Việt gọi là “có tiêu chuẩn”, ví dụ có tiêu chuẩn nhà riêng, xe riêng, thậm chí chuyên cơ.

Và như vậy, cùng với trạng thái vô cảm của dân, là sự tự kiêu ngày càng lớn của chính quyền.

Chữa bệnh vô cảm

Như Paulo Freire đã nói, thực chất vô cảm là một dạng bệnh của cộng đồng (cùng với bạo lực, ma tuý và rượu chè). Nhưng ông cũng nhấn mạnh với chúng ta rằng bệnh ấy có ở nhiều xã hội, và chúng ta không nên tiếp tục công kích những cá nhân vô cảm – vốn cũng chỉ là “nạn nhân của áp chế và bóc lột” – vì những biểu hiện đó của họ.

Ông khuyên những người có tinh thần cộng đồng, muốn đấu tranh với bệnh vô cảm thì phải tạo đủ sức mạnh và niềm tin để đi xuyên qua sự vô cảm và khuyến khích các động lực trong cộng đồng. “Hãy giúp mọi người tìm ra những niềm hy vọng mới, hãy tạo ra nguồn năng lượng mới, để cùng nhau vượt qua bệnh vô cảm”.

Còn bạn, nếu bạn vẫn quyết tâm “không quan tâm đến chính trị”, thì chỉ xin bạn nhớ: Bạn có quyền như thế, nhưng điều đó không tốt cho cả bạn lẫn cộng đồng.

“THAM GIA CHÍNH TRỊ” LÀ LÀM GÌ?

Chúng ta thường hay nghe, trong xã hội, có những người hay nói: “Tôi không làm chính trị”, “Tôi biết thế thôi chứ tôi không tham gia”… Nếu ta hỏi lại: “Làm chính trị là làm gì cơ?”, câu trả lời của họ sẽ là: “Thì tức là tham gia chính trường, đấu đá, leo cao, tranh giành quyền lực…”.

Đó có lẽ cũng là cách hiểu của đại đa số người dân Việt Nam về hành động “làm chính trị”. Cách hiểu ấy cho thấy rằng, chúng ta gần như không biết gì về chính trị, và quan niệm của chúng ta về lĩnh vực bao trùm xã hội này đã bị bóp méo quá nhiều bởi một chính quyền, một nền giáo dục, một nền văn hóa chính trị hoàn toàn không khuyến khích người dân tư duy để “nâng cao nhận thức chính trị”.

Trên thực tế, nếu chúng ta hiểu chính trị là “quá trình ra quyết định và thực thi quyết định đó trong một nhóm, một cộng đồng, một xã hội, một quốc gia”, thì hoạt động chính trị hẳn phải rộng hơn rất nhiều so với việc “đấu đá, leo cao”, và nó càng không phải chỉ giới hạn trong một giới gọi là “lãnh đạo”. Hoạt động chính trị, theo nghĩa rộng, là tất cả những gì bạn làm để tạo áp lực lên một cá nhân, một cơ quan, một tổ chức, nhằm thuyết phục họ hành động như ý bạn muốn.

Phong trào “trên 25 độ C”

Ta hãy lấy một ví dụ vui vui và đơn giản (dĩ nhiên là bịa) để cùng hiểu thế nào là “hoạt động chính trị” theo nghĩa rộng. Giả sử bạn làm việc ở TP.HCM, và bạn nhận thấy là các cơ quan, công sở nơi bạn đến đều để điều hòa nhiệt độ ở mức rất lạnh, có khi chỉ 17-18 độ C, vừa tốn năng lượng (điện), vừa hại môi trường, vừa hại sức khỏe – lần nào vào phòng họp, bạn cũng rét run cầm cập.

Bạn nghĩ là sẽ phải làm thế nào đó để tổ chức của bạn, hoặc các cơ quan, công sở mà bạn biết, hoặc nhiều hơn nữa, mọi cơ quan, công sở trên địa bàn thành phố đều đặt máy điều hoà nhiệt độ ở mức cao hơn, chẳng hạn trên 25 độ C. (Như vậy là bạn đã có ý thức chính trị).

Sau đấy thì bạn sẽ hành động. Đầu tiên là ngay trong tổ chức của bạn. Có nhiều cách để bạn thuyết phục cơ quan làm điều bạn đang muốn: Bạn có thể gặp riêng sếp, “bỏ nhỏ”, rỉ tai, nhờ sếp ra quy định yêu cầu toàn thể nhân viên “chỉ để điều hòa nhiệt độ từ 25 độ C trở lên”. Bạn có thể gửi thư chung cho cả cơ quan, kêu gọi, vận động “anh chị em tăng điều hòa nhiệt độ lên đê!”, rồi thủ thỉ “trên 25 độ C, vừa tiết kiệm điện, vừa đảm bảo chênh lệnh nhiệt độ hợp lý so với bên ngoài, đỡ hại sức khỏe”. Để thuyết phục hơn, bạn thậm chí còn nghĩ ra một phong trào, mang cái tên chung, chẳng hạn, là “Trên 25 độ C”.

Nếu bạn muốn đi xa hơn, làm sao để tất cả các cơ quan, công sở, đều thực hiện “trên 25 độ C”, thì bạn sẽ phải tính toán thêm một chút, để người ta không bảo bạn là điên, dở hơi, rỗi việc. Trong những trường hợp như vậy, thường thì bạn nên “có tổ chức”.

  • Bạn phải huy động thêm một số người cùng nghĩ như bạn vào việc thuyết phục;
  • Hoặc bạn phải lôi kéo được một tổ chức nào đó có liên quan, ví dụ một NGO, một cơ quan báo chí, một kênh truyền hình về môi trường, cùng tham gia ủng hộ, đứng sau lưng bạn
  • Hoặc bạn thành lập một tổ chức của riêng bạn. Việc này thì không đơn giản, bởi vì bạn sẽ phải tính đến các yếu tố như: thủ tục thành lập, nhân sự, vốn, mục đích (cái này các NGO thường hay gọi là “sứ mệnh”, còn ngôn ngữ hành chính nước ta hay gọi là “chức năng, nhiệm vụ”). Không lẽ lập một tổ chức chỉ để vận động các cơ quan, công sở tăng điều hoà nhiệt độ lên trên 25 độ C?
  • Hoặc, trong kỷ nguyên Web 2.0 hiện nay, cách đơn giản là bạn phát động một phong trào “25 độ C” trên mạng xã hội và được đông đảo người dùng Internet hưởng ứng.
  • v.v.

Nào, ta thử bảo vệ môi trường!

Nếu mối quan tâm của bạn vượt khỏi chuyện “để điều hòa nhiệt độ trên 25 độ C”, mà là bảo vệ môi trường, tiết kiệm năng lượng nói chung, thì bạn có thể thực hiện nhiều hành động chính trị hơn nữa, ví dụ:

– Bỏ phiếu cho đại biểu quốc hội nào thể hiện sự quan tâm đến vấn đề môi trường, đưa việc cải thiện môi trường vào chương trình hành động… Đến đây, bạn sẽ thấy thực tế chính trị ở Việt Nam không cho phép bạn chọn được người mà bạn ủng hộ vào cương vị bạn cho là thích hợp.

– Tiếp xúc với các đại biểu quốc hội để nhờ vả, thuyết phục họ lưu tâm đến các vấn đề môi trường và đưa ra các đạo luật hay chính sách mà bạn cho là thích hợp. Cái này gọi là “vận động lập pháp”, “vận động chính sách”. Đến đây, bạn sẽ thấy thực tế chính trị ở Việt Nam không cho phép bạn vận động một cách đàng hoàng, minh bạch, mà nó chỉ có nghĩa là “đi đêm”, “hối lộ”.

– Tổ chức và tham dự các hội nghị, hội thảo, thảo luận bàn tròn v.v. về các chủ đề môi trường. Đến đây, bạn sẽ thấy thực tế chính trị ở Việt Nam không cho phép bạn dễ dàng tổ chức hội nghị, hội thảo, thảo luận bàn tròn v.v.

– Viết bài đăng báo. Đến đây, bạn sẽ thấy thực tế chính trị ở Việt Nam là rất khó có diễn đàn nào để bạn lên tiếng. Cứ cho là bạn có khả năng và kỹ thuật viết, bạn viết một bài báo rất chuyên nghiệp, cũng không chắc là bài của bạn sẽ được đăng tải trên báo chí chính thống, có khi chỉ đơn giản vì ban biên tập không quan tâm đến vấn đề môi trường. Bạn muốn tìm một tờ báo về môi trường, thì lại không có, mà giả sử có thì cũng không được tới 1000 người đọc. Nếu bạn tự quay phóng sự truyền hình để gửi tới đài truyền hình (trung ương hoặc địa phương) thì lại càng khó khăn hơn nữa, gần như không có cơ may nào để tác phẩm của bạn được phát sóng.

– Thành lập một tổ chức về môi trường. Đến đây bạn sẽ thấy thực tế chính trị ở Việt Nam không cho phép bạn dễ dàng lập hội.

– Tham gia một tổ chức về môi trường. Đến đây bạn sẽ thấy thực tế chính trị ở Việt Nam không cho phép các tổ chức dân sự dễ dàng hoạt động. Họ vấp phải đủ vấn đề: thủ tục, nền tảng luật pháp, nhân sự, tài chính, v.v.

– Làm đơn khiếu nại, tố cáo, khởi kiện. Đến đây bạn sẽ thấy thực tế chính trị ở Việt Nam không cho phép các vụ việc của một cá nhân được giải quyết nhanh chóng, dễ dàng, thuận tiện. Đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiện tụng của bạn sẽ bị chìm lấp trong hàng nghìn đơn thư khác, vụ việc của bạn rất có nguy cơ bị lãng quên.

– v.v.

Có thể còn nhiều hành động chính trị khác nữa, gồm cả những hành động mà bạn chắc hẳn chưa từng nghĩ tới và không biết đó chính là “làm chính trị”.

Nếu bạn quan tâm, chúng ta sẽ tìm hiểu về chúng trong bài sau, tức là phần tiếp theo của bài này, để trả lời một cách cụ thể: Tham gia chính trị là làm gì (lý thuyết và thực tế trên thế giới)? Chúng ta sẽ biết được rằng, những cuộc “đấu đá, tranh giành quyền lực nội bộ” chỉ là một trong những hình thức hoạt động chính trị mà thôi; khái niệm làm chính trị rộng hơn và có thể đẹp đẽ hơn thế rất nhiều.

VẬN ĐỘNG HÀNH LANG, THÀNH LẬP ĐẢNG…

Với cách hiểu chính trị là “quá trình ra quyết định và thực thi quyết định đó trong một nhóm, một cộng đồng, một xã hội, một quốc gia”, hoạt động chính trị, theo nghĩa rộng, là tất cả những gì bạn làm để tạo áp lực lên một cá nhân, một cơ quan, một tổ chức, nhằm thuyết phục họ hành động như ý bạn muốn. Còn theo nghĩa hẹp, hoạt động chính trị là công việc của những người làm chính trị như một nghề để sống; tuy nhiên, chúng ta sẽ bàn đến các chính trị gia chuyên nghiệp trong một kỳ khác của loạt bài này.

Trở lại với cách hiểu hoạt động chính trị là tất cả những gì bạn làm để thuyết phục cá nhân, cơ quan, tổ chức, bạn thấy ngay là nó quá rộng: Từ việc nhỏ như vận động cả công ty đặt điều hòa nhiệt độ ở mức trên 25 độ C, cho đến việc lớn hơn như làm thế nào để GS-TS. Nguyễn Minh Thuyết tiếp tục làm đại biểu quốc hội thêm một khóa thứ ba, trong khóa này dứt khoát phải làm sao để bác ấy thúc đẩy vấn đề bảo vệ môi trường và xử lý dứt điểm chuyện vệ sinh an toàn thực phẩm… cái gì cũng là hoạt động chính trị cả.

Quá rộng, quá nhiều và bao trùm, nhưng bạn đừng “ngộp thở” vội, vì chúng ta sẽ phân loại các hoạt động chính trị ngay bây giờ (1). Về cơ bản, có các hình thức hoạt động chính trị như sau: vận động; hoạt động đảng phái; làm truyền thông; khiếu kiện; biểu tình; đình công; tẩy chay; bất tuân dân sự; bạo động, ám sát. (Bạn có thể thấy hình thức cuối cùng, “bạo động, ám sát”, là đầy màu sắc bạo lực, vô luật, vô chính phủ. Đúng vậy, nhưng chúng vẫn cứ là hoạt động chính trị và vì thế vẫn sẽ được liệt kê ở đây.)

Vận động

Vài năm gần đây, trong ngôn ngữ chính trị của Việt Nam xuất hiện một số từ mới như “vận động hành lang”, “vận động chính sách”, dịch từ tiếng Anh “lobby” và “policy advocacy”, gọi chung là “vận động”. Đó là việc một cá nhân, hoặc một nhóm lợi ích có tổ chức, tác động lên quá trình hoạch định chính sách để chính sách được ban hành theo ý họ, bằng cách gặp gỡ trao đổi, thuyết phục, hối lộ, đe dọa người làm chính sách. Ví dụ bạn mời sếp đi nhậu, hoặc đến nhà sếp biếu vợ sếp mảnh khăn kết hợp với cái phong bì, để nhờ sếp hạ thấp tiêu chuẩn cho chức vụ trưởng/phó phòng… đều là vận động cả.

Trên bình diện quốc gia, người làm chính sách có thể là quan chức chính phủ, dân biểu (nghị sĩ, ở ta gọi là “đại biểu quốc hội”), và cả tòa án. Riêng ở Việt Nam, “đối tượng” làm chính sách bao gồm một lực lượng tối quan trọng là lãnh đạo các cơ quan Đảng, từ Trung ương đến địa phương.

Vận động, theo nghĩa nguyên thủy của nó, là một hoạt động chính đáng, hợp pháp và cần thiết. Tuy nhiên, điều kiện tiên quyết để nó chính đáng, hợp pháp, là vận động phải đảm bảo công khai, minh bạch – mà công khai, minh bạch những gì, hình thức vận động cụ thể như thế nào, thì do luật pháp quy định. Ví dụ, công chúng có quyền biết là nhóm lợi ích nào đang ủng hộ và tác động để dự án Đường sắt cao tốc Bắc-Nam được thông qua, nhóm lợi ích nào đứng sau chủ trương khai thác bauxite Tây Nguyên… Thậm chí luật còn phải quy định rõ: Đưa bao nhiêu tiền thì là hợp lý và chấp nhận được?

Nếu không có luật, không có sự công khai minh bạch, thì vận động sẽ trở thành “đi đêm”, “hối lộ”, “móc ngoặc”, “tham nhũng chính sách” như ở Việt Nam.

Về phần mình, nếu bạn (hoặc nhóm lợi ích của bạn, nếu có) muốn vận động thành công thì điều kiện tiên quyết là bạn phải có khả năng “tiếp cận đối tượng hoạch định chính sách” hoặc phải biết sử dụng người có khả năng làm việc đó. Tóm lại là biết “đi đúng cửa” – chuyện này thì ở nước nào cũng vậy.

Hoạt động đảng phái

Vận động là hình thức hoạt động chính trị mà một cá nhân – như bạn – cũng có thể làm. Nhưng tất nhiên, nó sẽ hiệu quả hơn nếu bạn có tổ chức. Giống như khi bạn muốn tất cả các cơ quan, công sở, đều thực hiện phong trào “trên 25 độ C”, thì bạn nên huy động thêm một số người cùng nghĩ như bạn vào việc thuyết phục, hoặc bạn phải lôi kéo được một tổ chức nào đó có liên quan, ví dụ một NGO (2), một cơ quan báo chí, một kênh truyền hình về môi trường, cùng tham gia ủng hộ/ bảo trợ/ tài trợ cho bạn. Một tiếng nói đơn lẻ khó mà có sức mạnh như nhiều tiếng nói cùng kết hợp một cách có tổ chức.

Cho nên hoạt động chính trị gắn với tổ chức, đảng phái là vì thế. Để hiệu quả, bạn sẽ phải hoặc là thành lập một tổ chức/ chính đảng mới; hoặc gia nhập một tổ chức/ chính đảng có sẵn; hoặc bố trí, chỉ định nhân sự vào một tổ chức/ chính đảng nào đó có ảnh hưởng quyết định chính sách (hiểu nôm na là “cài cắm người”).

Việc đoàn kết, tập hợp lại là điều đương nhiên để có thể thực hiện một mục đích chung, chẳng hạn để tiếng nói của mình được lắng nghe; vậy nên nó đã trở thành một trong các quyền con người căn bản, ngôn ngữ chính trị gọi là “quyền lập hội” (bao gồm cả thành lập đảng phái). Định nghĩa một cách đầy đủ hơn: Quyền lập hội (freedom of association) là quyền của mỗi cá nhân được hợp tác cùng các cá nhân khác trong việc lên tiếng, thúc đẩy, theo đuổi và bảo vệ một/những lợi ích chung của họ. Quyền này đôi khi cũng được gọi là quyền tụ tập (freedom of assembly, freedom to assemble).

Như vậy, bạn có thể thấy khiếu kiện tập thể, biểu tình, thành lập đảng mới, đều là thực hiện quyền tự do tụ tập/ quyền tự do lập hội của mình. Và chắc rằng đến đây thì bạn cũng đã hiểu vì sao luật về hội của Việt Nam mãi vẫn chưa được thông qua, sau ít nhất 16 lần dự thảo (tính đến năm 2010); vì sao Nhà nước lại ra Nghị định 38 xử phạt hành chính các hành vi tụ tập đông người; vì sao nước ta bao lâu nay chẳng có đảng nào khác ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền…

Bạn cũng có thể tự hỏi: Vậy nếu là người dân thấp cổ bé họng, không có khả năng tiếp cận nhà làm chính sách để mà lobby, cũng không được kết hợp với những người khác, không được “có tổ chức” đứng sau lưng, thì còn biết làm cách nào để lên tiếng, để nguyện vọng của mình được lắng nghe và thực hiện đây?

Trong thời đại Internet, công nghệ Web 2.0 (chứ không phải Đảng và Nhà nước ta) đã đem đến một cách mới cho người dân lên tiếng. Cách đó đã được sử dụng và mang lại hiệu quả nhất định trong nhiều sự kiện chính trị vài năm trở lại đây, và các blogger, Facebooker gọi nó là “làm truyền thông”. Và bạn biết không, đó cũng chính là một hình thức hoạt động chính trị.

(1) Cách phân loại này dựa trên một số lý thuyết về khoa học chính trị, đặc biệt là của nhà chính trị học người Mỹ Austin Ranney, cùng với nhìn nhận của tôi về thực tế ở Việt Nam.

(2) NGO, viết tắt của cụm từ tiếng Anh non-governmental organization, nghĩa là tổ chức phi chính phủ.

LÀM TRUYỀN THÔNG HAY LÀ “TUYÊN TRUYỀN PHẢN TUYÊN TRUYỀN”

Chúng ta đã biết, qua các bài trước, rằng trong xã hội Việt Nam, tồn tại một thực tế là người dân thấp cổ bé họng không có khả năng tiếp cận nhà làm chính sách để mà lobby. Nếu không tin, đố bạn hẹn gặp được Đại biểu Quốc hội của địa phương bạn để phản ánh chuyện bạn bức xúc về giá thực phẩm quá cao mà vệ sinh an toàn thực phẩm thì không đảm bảo đấy.

Chúng ta cũng biết một thực tế là người dân thấp cổ bé họng rất khó có khả năng kết hợp lại với nhau, ví dụ trong một cuộc biểu tình/ đình công, trong một tổ chức, hoặc có được một tổ chức đứng sau tài trợ, bảo trợ, để giúp họ lên tiếng với nhà làm chính sách. Nếu không tin, đố bạn giúp công nhân ở một khu công nghiệp có vốn đầu tư từ Trung Quốc, ở gần nhà bạn nhất, tiến hành đình công đòi giới chủ phải tăng lương cho họ từ 1/5 tới đấy.

Vậy người dân còn cách nào để lên tiếng, để nguyện vọng của mình được lắng nghe và thực hiện? Ở Việt Nam, câu hỏi này chưa có lời đáp, nhưng trong một xã hội tự do, vận hành bình thường, thì có một lực lượng chuyên giúp họ làm việc ấy, đó là báo chí hay nói rộng hơn, truyền thông. (*)

“Hệ thần kinh” của xã hội

Có thể bạn sẽ nghĩ: Báo chí như ở Việt Nam thì quan trọng gì, bao nhiêu lâu nay tôi không đọc báo, không xem thời sự truyền hình, cũng chẳng chết, vẫn sống khoẻ.

Nhưng đó là bạn đang nói trong bối cảnh Việt Nam, với một nền báo chí không chuyên nghiệp, không hề được tự do “phản ánh hiện thực khách quan”, nhất là nếu việc phản ánh ấy “chưa có lợi trong tình hình hiện nay” như cách nói của Ban Tuyên giáo.

Chứ còn trên lý thuyết và trên thực tế, báo chí, truyền thông đại chúng vô cùng quan trọng trong xã hội. Đơn giản là nó cung cấp thông tin để giúp người ta ra quyết định. Một ví dụ được nhà khoa học chính trị người Mỹ Austin Ranney viện dẫn: Tháng 11/1996, có khoảng 96 triệu dân Mỹ đi bỏ phiếu bầu cử Tổng thống để chọn ra 1 trong 3 ứng viên là Bill Clinton, Bob Dole và Ross Perot. Câu hỏi mà ông Ranney đặt ra là: Liệu có bao nhiêu người trong số họ quen biết Clinton, Dole và Perot? Bao nhiêu người trong số 96 triệu từng trò chuyện, làm việc với các ứng viên, đánh giá được năng lực cá nhân, cách ứng viên cư xử trong tình huống khủng hoảng v.v.? Ông Ranney bảo, tỷ lệ có lẽ chỉ tới 1 phần nghìn. Vậy thì người dân Mỹ lấy thông tin từ đâu để biết được năng lực, kinh nghiệm sống, tính cách, nhân cách, suy nghĩ của mỗi ứng viên?

Câu trả lời là: Thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng – báo, đài, tivi và giờ là mạng Internet. Và bạn hãy chú ý rằng đó phải là một lượng thông tin khổng lồ, tràn ngập, được đăng tải trong một thời gian dài trước kỳ bầu cử, chứ không phải chỉ là vài dòng thông tin tiểu sử mà bạn đọc được loáng thoáng ở điểm bầu cử Quốc hội gần nhà bạn, nhân mấy phút ngẩng đầu lên trước khi bỏ phiếu vào hòm.

Truyền thông giúp người dân trong xã hội có thông tin, và nhờ đó có sự hiểu biết, kiến thức, nhận thức. Đồng thời nó cũng giúp giới làm chính sách hiểu được tình hình thực tế, nguyện vọng, nhu cầu của mọi người; và xin bạn nhớ là chính quyền dân chủ hay độc tài đều cần biết những thông tin đó cả. Có điều cách phản ứng của họ khác nhau.

Chính quyền dân chủ thì để cho một nền báo chí tự do làm “tấm gương phản ánh xã hội”, trước, trong và sau khi ban hành mỗi chính sách, đạo luật. Họ cho phép tồn tại cả “thăm dò dư luận” (một cách khoa học, khách quan), trưng cầu dân ý, và nhiều cách khác để hiểu người dân muốn gì.
Chính quyền phi dân chủ thì sử dụng báo chí làm công cụ tuyên truyền, giải thích chính sách, định hướng dư luận, vận động dư luận ủng hộ chính sách, chủ trương, đường lối của mình. Và để biết người dân nghĩ gì, họ… dùng tới lực lượng an ninh, chỉ điểm và thiết bị nghe lén. Bởi vì nói sao thì nói, suy nghĩ của dân chúng luôn là điều mà các chính trị gia thèm khát được biết, có điều thay vì để báo chí làm việc đó một cách chuyên nghiệp thì nhà cầm quyền tin dùng công an, cảnh sát, an ninh mà thôi. Càng phi dân chủ, họ càng huy động công an vào công tác “tìm hiểu dư luận” nhiều hơn – thực tế này đã và đang xảy ra ở Liên Xô, Đông Đức, Bắc Triều Tiên, Trung Quốc, Việt Nam…

“Không quản thì nguy to”

Có thể bạn nghĩ, sẽ ra sao nếu mặt bằng dân trí thấp, trình độ nhà báo thì yếu kém, nôm na là dốt? Một nền báo chí như thế mà không “quản lý” thì nguy, nguy lắm.

Nhưng nếu chuyện đó là có thực, nhà báo kém cỏi thực, đưa tin sai, vu khống, bôi nhọ hết người này đến người kia, thì luật pháp ở đâu mà không có công cụ để xử lý nhà báo? Đó là chưa kể, bên cạnh luật pháp, còn có các công cụ khác như văn hoá xã hội, đạo đức nghề nghiệp. Một nhà báo dối trá hoàn toàn có thể bị hội của anh/cô ta tẩy chay (nếu đó là hội nghề nghiệp đúng nghĩa như kiểu hội “25 độ C” mà chúng ta từng nhắc tới).

Và, có một thực tế là, thời trước, ở nơi nào mà báo chí càng kém phát triển thì thông tin vỉa hè, “phi chính thống” càng lên ngôi. Thập niên 1980, ở Việt Nam, báo chí bị kiểm soát chặt chẽ, không có vai trò nổi bật nào trong đời sống xã hội ngoài làm giấy gói xôi. Người dân khi ấy chẳng thể biết “khủng hoảng kinh tế”, “khủng hoảng tài chính toàn cầu” là thế nào, “mở cửa”, “hội nhập” là cái gì. Càng không có chuyện báo chí đưa tin và bài phân tích, bình luận về “gói kích cầu”, “cắt giảm đầu tư công”, “tăng giá điện”, “giảm giá xăng”, chuyên gia kinh tế A nói thế này, Bộ trưởng X bảo thế kia v.v.

Còn trong cuộc khủng hoảng kinh tế hiện nay, nhờ thông tin dồi dào hơn (và phần rất lớn không phải đến từ báo chí mà lại là từ blog, mạng xã hội), chúng ta có một cảm giác rằng, dù có thể gây hoang mang, nhưng thông tin luôn mang lại sự hiểu biết và ở một mức độ nào đó, cả sự an ủi và chia sẻ. Cảm giác này thật khác với thời 1986, khi mỗi cơ quan, mỗi gia đình, thậm chí mỗi cá nhân, đều như những ốc đảo, một mình chiến đấu với lạm phát phi mã, đời sống khó khăn, trong tình trạng không biết “ở trên” đang làm gì, ở ngoài đang làm gì và như thế nào… Cô độc và đáng sợ.

Cần chú ý là, khi nền báo chí kém phát triển thì không chỉ thông tin vỉa hè lên ngôi, mà ngay cả thông tin báo chí cũng thành ra “vỉa hè hoá”, “tin vịt hoá”. Người nào từng sống qua thời bao cấp ở Việt Nam hẳn vẫn còn nhớ, thỉnh thoảng, đâu đó lại rộ lên chuyện “con cua hình mặt người” hay “chuột nhiễm xạ ở Chernobyl, to như con chó”, v.v. Tất cả đều là chuyện nhảm nhí, và bạn biết không, phần lớn tin bài ấy được sản xuất bởi các báo của ngành… công an. Có thể nói, “quản thì mới nguy to”.

Đó là chuyện ngày trước, còn thời nay, nếu báo chí chính thống không chứng tỏ được uy tín, sức nặng của nó, thì đến lượt truyền thông Internet (blog, mạng xã hội, diễn đàn v.v.) trỗi dậy. Bây giờ, nhà báo không thực hiện chức năng nghề nghiệp của mình, thì giới blogger và Facebooker sẽ “làm truyền thông”.

“Làm truyền thông” là hoạt động chính trị

Với cách hiểu theo nghĩa rộng – “ hoạt động chính trị, theo nghĩa rộng, là tất cả những gì bạn làm để tạo áp lực lên một cá nhân, một cơ quan, một tổ chức, nhằm thuyết phục họ hành động như ý bạn muốn” – bạn có thể thấy là “làm truyền thông” đương nhiên cũng là một hình thức hoạt động chính trị. Các tổ chức, nhóm, hội (như hội “25 độ C” chẳng hạn), các đảng phái, đều có thể hoặc lập đội ngũ truyền thông riêng của mình (ví dụ báo Nhân Dân là cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Việt Nam); có thể gây tác động lên giới truyền thông, thông qua truyền thông để thuyết phục dư luận theo ý mình muốn. Dư luận ở đây bao gồm tất cả: người dân, quan chức, nhà hoạch định chính sách, v.v.

Khi các blogger, Facebooker đến những “điểm nóng” về đất đai như Tiên Lãng, Văn Giang, để viết bài, phỏng vấn, chụp ảnh tung lên mạng, họ gọi hành động đó đơn giản là “làm truyền thông” – có gì đâu, đơn giản là truyền tải thông tin thôi mà. Nhưng chính là họ đang tác động để dư luận hiểu các khía cạnh khác của sự việc – nhất là những phần mà hệ thống báo chí của Đảng và Nhà nước ta không/chưa/ngại đề cập. Việc ấy của họ thực chất là “làm chính trị”, với ý nghĩa thật đẹp đẽ của khái niệm “chính trị” này.

* Truyền thông hiểu đơn giản là “truyền thông tin”, nghĩa là việc một cá nhân/tổ chức truyền tải thông tin (dưới các hình thức ngôn ngữ, hình ảnh, âm thanh, tín hiệu) cho một/các cá nhân/tổ chức khác biết. Nó cũng có thể được phân loại thành truyền thông cá nhân – thông qua tiếp xúc trực tiếp giữa người với người như trò chuyện hoặc sử dụng thư tín, điện thoại; và truyền thông đại chúng – truyền tải thông tin đến một lượng lớn khán/thính/độc giả nhưng không tiếp xúc trực tiếp với họ. Báo chí, truyền hình-phát thanh, điện ảnh, Internet đều là các phương tiện truyền thông đại chúng.

KIỆN, TẠI SAO KHÔNG?

Năm 2012, UBND TP. Hà Nội có một báo cáo, theo đó, trong 9 tháng đầu năm đã có “178 đoàn đông người đi khiếu kiện”, nổi bật như “vụ việc của 100 công dân phường Dương Nội, 70 người phường Kiến Hưng, 40 người phường Yên Nghĩa (Hà Đông), 150 tiểu thương chợ Nghĩa Tân (Cầu Giấy), đoàn 200 người dân xã Tiên Dương (Đông Anh), bệnh binh 5 xã ở huyện Quốc Oai, 160 người dân phố Tân Mai (thị xã Xuân Mai)…”. (nguồn: VnExpress, 27/9/2012)

VnExpress dẫn lời Bí thư Thành ủy Hà Nội Phạm Quang Nghị kể, buổi sáng ông mở cửa là đã thấy dân đứng chờ đưa đơn, 19h trở về nhà cũng có người chờ đưa đơn, chưa kể ở cơ quan cũng thường nhận đơn khiếu nại.

Nếu hiện tại, bạn đang là người không có gì liên quan đến “cửa quan”, thì nghe nói vậy, chắc bạn cũng thấy… sốt ruột. Cho nên, có thể bạn sẽ đồng tình với ý kiến của Chủ tịch TP Hà Nội, ông Nguyễn Thế Thảo. Ông Thảo bảo, việc bà con đi kiện, “mặc áo màu Quốc kỳ, mang theo khẩu hiệu đòi đất đã làm xấu hình ảnh thủ đô, ảnh hưởng đến ngoại giao”. Tất nhiên, ông cũng thừa nhận, khiếu kiện là “bày tỏ nguyện vọng cá nhân”.

Dù sao cũng may cho ông Thảo là ông phát biểu như vậy ở Việt Nam. Chứ nếu ông phát ngôn tương tự tại một quốc gia dân chủ, nơi có nền truyền thông phát triển và (phần nào vì thế) nhận thức chính trị của người dân cao hơn, ông có thể phải lãnh nhiều hậu quả nghiêm trọng sau đó: bị báo chí phê phán, bị công chúng khiển trách, thậm chí bị mất chức. Có lẽ bạn cũng thấy: Ở các quốc gia dân chủ, quan chức rất hạn chế việc chê dân – kể cả khi dân sai đi nữa. Huống chi, kiện tụng lại còn là một hình thức sinh hoạt chính trị của người dân.

“Đáo tụng đình”, có gì mà vô phúc

Khiếu kiện (khiếu nại + khởi kiện) là việc một cá nhân/ tổ chức yêu cầu cơ quan hành chính (trong trường hợp khiếu nại) hoặc toà án (trong trường hợp khởi kiện) buộc một cá nhân/ tổ chức khác phải làm, hoặc ngừng làm, điều gì đó. Đối chiếu với cách hiểu “hoạt động chính trị, theo nghĩa rộng, là tất cả những gì bạn làm để tạo áp lực lên một cá nhân, một cơ quan, một tổ chức, nhằm thuyết phục họ hành động như ý bạn muốn”, thì bạn sẽ thấy khiếu kiện cũng là hành động chính trị.

Quốc gia vô địch về việc người dân tham gia chính trị bằng cách kiện có lẽ là Mỹ. Tại đây, chuyện một công dân đâm đơn kiện quan chức chính quyền hoặc công dân khác xâm hại quyền lợi của mình là “chuyện thường ngày ở huyện”. Hàng xóm không chăm sóc vườn, để cây leo mọc tràn lan sang vườn nhà mình: kiện. Đi xin việc, công ty tuyển dụng ưu tiên người ngoại hình đẹp: kiện. Uống café nóng bị bỏng: kiện. Để tăng khả năng thắng kiện thì phải thuê luật sư, kết quả là nước Mỹ có mật độ luật sư trên đầu người cao nhất thế giới. Nhà khoa học chính trị Austin Ranney đưa ra con số, cứ 440 người Mỹ thì có một luật sư, trong khi ở Nhật Bản tỷ lệ này là 10.000:1.

Quá nhiều luật sư, điều này đã khơi nguồn cho nhiều chuyện cười ở Mỹ và về Mỹ, như là quốc gia đầy một bọn ăn không ngồi rồi, rảnh rỗi sinh ra đâm bị thóc chọc bị gạo v.v. Nhưng nhìn từ góc độ chính trị, quản lý xã hội, thì sẽ thấy đó là biểu hiện của việc người Mỹ tin vào luật pháp, luôn có ý thức sử dụng luật pháp làm công cụ giải quyết các rắc rối và bảo vệ quyền lợi của mình. Trong văn hoá chính trị Mỹ, không có khái niệm “vô phúc đáo tụng đình” – nghĩa là vô phúc thì mới phải đến chỗ xử kiện, ra toà, tóm lại là “đến cửa quan” – như ở Trung Quốc hay Việt Nam ta.

Chắc chắn rằng, không một quan chức nào trong bộ máy chính quyền Mỹ dám nói dân chúng “đi kiện làm xấu hình ảnh đất nước”; và nói chung là hệ thống tư pháp Mỹ không đợi đến khi dân chúng kéo nhau đi khiếu kiện tập thể thì mới “xin chủ trương giải quyết”.

Thực tế nào đáng lo ngại?

Xu hướng gần đây của quan chức Việt Nam và những người ủng hộ chính quyền là vin vào chuyện người dân khiếu kiện sai để tìm cách “xiết” hoạt động này lại. Ví dụ, UBND TP. Hà Nội cho rằng: “Năm 2012, trong 23.629 đơn thư khiếu nại-tố cáo có nội dung chủ yếu liên quan đến các lĩnh vực quản lý, sử dụng đất đai, giải phóng mặt bằng, quản lý trật tự xây dựng, giao đất nông nghiệp, chỉ có 12% khiếu nại đúng, 14% khiếu nại có đúng, có sai, còn lại có tới 70% khiếu nại sai”. Quan chức coi đây như một “thực tế đáng lo ngại”, và từ đó, có ý kiến là phải tìm kiếm chế tài cụ thể để xử lý các trường hợp khiếu nại-tố cáo sai sự thật. (nguồn: Hà Nội Mới, 13/4/2013)

Ở đây, xin các bạn chú ý: Nếu tố cáo sai sự thật (tức là bịa đặt người khác phạm tội), theo luật pháp Việt Nam hiện hành, người tố cáo có thể phải chịu hình phạt cho tội vu khống. Nhưng với khiếu nại, kiện tụng, không nền luật pháp tiến bộ nào lại quan niệm đó là “thực tế đáng lo ngại” do người dân gây ra và cần chế tài xử lý. Nếu có vấn đề gì nghiêm trọng với việc khiếu nại xảy ra nhiều quá, thì vấn đề đó nằm ở chỗ chính quyền: Họ đã làm gì, đã ra quyết định hay chính sách gì sai lầm để khiếu nại tràn lan? (Theo định nghĩa của Luật Khiếu nại-Tố cáo 2011, khiếu nại hiểu nôm na là công dân đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước).

Thực tế đáng lo ngại ở đây là: 1. Pháp luật chưa được sử dụng như một công cụ hiệu quả để bảo vệ người dân; 2. Nhận thức chính trị yếu kém của quan chức Nhà nước.

Hãy biết bảo vệ mình!

Còn bạn, những lúc bạn hoặc người thân của bạn dính líu vào tranh chấp, mâu thuẫn, hay cảm thấy quyền lợi chính đáng của mình bị thiệt thòi, đã bao giờ bạn thử nghĩ tới chuyện đi kiện chưa? Bạn hãy quan niệm đó là một việc bình thường để tự bảo vệ mình và bảo vệ người có liên quan. Có khi chỉ đơn giản như là trường hợp ba sinh viên Đại học Luật TP.HCM mới đây đã gửi thư yêu cầu Đoàn trường xin lỗi họ vì hành vi xâm phạm bí mật đời tư (tự tiện công bố kết quả học tập của hai sinh viên lên mạng), và nếu Đoàn không chịu xin lỗi, họ sẽ kiện.

Đây là một câu chuyện có thật, để các bạn tham khảo: Một nữ nhân viên văn phòng 29 tuổi ở Hà Nội cho biết, chị nhớ như in nỗi xấu hổ của mình vào năm thứ ba đại học, khi chị là sinh viên duy nhất trong lớp thi trượt một môn chuyên ngành. Điều này được giáo viên bộ môn thông báo công khai trước hơn 100 sinh viên của lớp và những tràng cười nhanh chóng lan đi khắp cả khoa, vì môn đó được cho là rất dễ, tưởng như ai thi cũng đỗ.

Đặt sang một bên những chuyện như “sự tế nhị”, “phép lịch sự”, “tâm lý sư phạm” v.v. thì cái đáng nói ở đây là ý thức về quyền riêng tư: Người dân Việt Nam gần như không có khái niệm về nó, nên nhiều khi vô tư vi phạm quyền riêng tư của người khác và cũng không có ý thức bảo vệ sự riêng tư của bản thân mình. Và chúng ta lại càng chưa biết, chưa nghĩ đến việc dùng đến công cụ luật pháp để “đòi lại công bằng cho bản thân”, khi quyền ấy cũng như nhiều quyền khác bị xâm phạm. Nhưng lỗi không hoàn toàn thuộc về chúng ta, bởi thực tế là chính quyền đâu có thích chúng ta đi kiện, “làm xấu hình ảnh đất nước”.

BIỂU TÌNH, ĐÌNH CÔNG VÀ TẨY CHAY

Sau những cuộc biểu tình (có thể chỉ vài chục, cũng có lần tới vài trăm người tham gia) ở Hà Nội và TP. HCM để chống chính sách đối ngoại hung hăng của Trung Quốc trên Biển Đông, đến giờ, số đông chúng ta hẳn là đã hình thành một khái niệm nào đó về biểu tình – cho dù là tán đồng hay phản đối hành động đó.

Trên lý thuyết, biểu tình được định nghĩa là một hành động chính trị, trong đó nhiều người tham gia tuần hành cùng nhau nhằm thể hiện một chính kiến, ví dụ bày tỏ sự ủng hộ hoặc phản đối một cá nhân/ tổ chức/ sự việc nào đó. Việc tuần hành có thể được thực hiện bằng đi bộ, đạp xe hoặc sử dụng phương tiện khác. Việc tuần hành có thể kết hợp với gây tiếng động – gọi loa, gõ trống, khua chiêng, thổi kèn, hô khẩu hiệu, hát. Trong nhiều cuộc biểu tình ở nước ngoài, người ta còn đốt cả ảnh, hình nộm của quan chức. Tuần hành thường bắt đầu và/ hoặc kết thúc bằng một cuộc tụ tập tại một địa điểm nhất định, tại đây người ta cùng đọc và nghe diễn văn, tuyên cáo, tuyên bố, v.v. Phong toả đường đi lối lại, và ngồi bệt (tọa kháng) cũng được coi là biểu tình – trường hợp sau được gọi là “biểu tình ngồi”.

Chẳng hạn, để phản đối chính quyền Trung Quốc tham lam, ưa gây hấn và bắt nạt các quốc gia nhỏ yếu, hoặc để phản đối chính sách đối ngoại thiếu minh bạch và thiếu nhất quán của Nhà nước Việt Nam trong vấn đề Biển Đông, một nhóm công dân ở Hà Nội có thể tuần hành đến Đại sứ quán Trung Quốc hoặc Bộ Ngoại giao Việt Nam, tụ tập trước cổng các cơ quan này, tổ chức mít-tinh, ra thông cáo, đọc diễn văn, v.v.

Biểu tình có thể là phi bạo lực hoặc bạo lực, hoặc lúc đầu thì ôn hoà nhưng về sau lại nảy sinh bạo lực – giữa công an, cảnh sát với những người tuần hành, hoặc giữa chính những người tham gia với nhau, ví dụ nhóm ủng hộ mâu thuẫn, đánh lộn với nhóm phản đối. Cho nên, luật pháp ở các quốc gia đa phần đều loại bỏ bạo lực, chỉ chấp nhận biểu tình ôn hoà; và sự hiện diện của lực lượng công an, cảnh sát chỉ là để ngăn chặn bạo lực xảy ra.

Với những hành động được chấp nhận (tuần hành, hô khẩu hiệu, hát, v.v.), các bạn có thể thấy ngay là không cuộc biểu tình nào lại không mang tính chất “gây rối trật tự công cộng” ở một mức độ nào đó. Nói cách khác, đã là biểu tình thì phải tạo chú ý, mà đã tạo chú ý thì những người biểu tình không thể không làm ồn; chưa nói đã là một cuộc tụ tập nơi công cộng thì đương nhiên phải có tổ chức. Lấy lý do “gây rối trật tự công cộng” để giải tán biểu tình chỉ là một chiêu bài để đàn áp quyền tự do tụ tập (freedom of assembly) và tự do thể hiện chính kiến (freedom of expression, còn được dịch là “tự do biểu đạt”) của người dân.

Đình công – quyền của người lao động

Theo nghĩa nguyên thuỷ, đình công chỉ giới hạn trong lĩnh vực sản xuất và dịch vụ, khi những người làm công tổ chức ngừng làm việc trên quy mô tập thể để phản đối hoặc ra yêu sách nào đó với giới chủ: tăng lương, giảm giờ làm, cải thiện điều kiện vệ sinh, an toàn lao động, v.v. Tuy nhiên, trên thực tế, cũng có khi đình công vươn ra ngoài quan hệ giữa người lao động và giới chủ và dẫn đến thay đổi trong chính sách của nhà nước, thậm chí thay đổi chính thể. Ví dụ đáng nhớ nhất là những cuộc đình công của phong trào Công đoàn Đoàn kết ở Ba Lan những năm 1980.

Ở Việt Nam, theo báo cáo của Tổng Liên đoàn Lao động, từ khi Luật Lao động có hiệu lực (năm 1995) cho đến năm 2012, cả nước xảy ra 4.922 cuộc đình công (nguồn: Dân Trí ngày 6/4/2013). Bài báo của Dân Trí cũng cho biết, hầu hết đình công đều tự phát, “100% không do công đoàn cơ sở tổ chức và lãnh đạo”, “không theo đúng trình tự pháp luật quy định, có xu hướng lây lan từ doanh nghiệp này sang doanh nghiệp khác”.

Nếu điều này là có thật, nhà hoạch định chính sách có trách nhiệm sẽ phải nhận thấy ít nhất hai câu hỏi đặt ra: 1. Trình tự pháp luật quy định có vấn đề gì không? 2. Công đoàn cơ sở đã thật sự đại diện cho người lao động chưa? Trong một xã hội dân chủ, nếu nhà hoạch định chính sách không nhận ra vấn đề thì sẽ có những cá nhân, tổ chức dân sự vận động để ông/bà ta phải “làm gì đó cho công nhân đi”, bằng không sẽ mất chức. Ở Việt Nam thì chưa được như vậy, thậm chí, ngay cả chuyện bạn đến gặp Chủ tịch Công đoàn đề nghị tổ chức đình công cũng đã là việc không nên làm – vì… bạn có chắc là Công đoàn đứng về phía bạn không?

“Tẩy chay các chú”

Tẩy chay là việc một số người/ nhóm (tức là cá nhân hoặc tổ chức) từ chối giao thiệp, giao dịch mua bán với một đối tượng nào đó, ví dụ một doanh nghiệp bóc lột lao động, hoặc toàn bộ hàng hoá của các doanh nghiệp bán hàng giả hàng rởm, gây ô nhiễm môi trường, đối xử thô lỗ và từng lăng mạ khách hàng v.v.

Chuyện tẩy chay không còn là mới mẻ, nhất là trong nền kinh tế toàn cầu hoá. Ví dụ, ở Hàn Quốc từng có phong trào tẩy chay thịt bò Mỹ (năm 2008), còn tại Trung Quốc, khi tranh chấp biển đảo với Nhật Bản leo thang, nhiều hiệu sách Bắc Kinh đã ngừng bán các ấn phẩm của Nhật. Tương tự, doanh nghiệp xuất khẩu chuối Philippines khốn đốn khi đối tác Trung Quốc đồng loạt từ chối nhập khẩu để trả đũa Philippines trong tranh chấp chủ quyền. Ngay sau sự cố này, cơ quan xúc tiến thương mại của Philippines đã phải tính đến khả năng tìm kiếm, mở rộng thị trường hoa quả ở các nước khác, như châu Âu.

Tại Việt Nam, vào năm 1919, cũng từng có phong trào “tẩy chay các chú”, tức là tẩy chay các chú khách (doanh nhân Hoa kiều). Tinh thần chung là “người Việt Nam buôn bán với nhau, không mua hàng của Hoa kiều”. Có tài liệu nói rằng phong trào được sự hưởng ứng của cả giới doanh thương lẫn sinh viên, viên chức tại Hà Nội, Sài Gòn, Hải Phòng, Nam Định… 89 năm sau, vào năm 2008, với sự cố Vedan xả nước “giết” sông Thị Vải, một chiến dịch tẩy chay đã nổi lên, khởi đầu từ những lời kêu gọi trên mạng Internet. Nhiều siêu thị lớn tại Hà Nội và TP.HCM đồng loạt ngừng phân phối sản phẩm bột ngọt Vedan. Không rõ chiến dịch này kéo dài bao lâu.

Tuy nhiên, về căn bản, tẩy chay rất hiếm xảy ra ở Việt Nam, ngay cả trong những chuyện không liên quan gì đến chính quyền, nghĩa là chẳng có gì nhạy cảm: Như các hàng “phở quát, cháo chửi” khét tiếng ở thủ đô Hà Nội chẳng hạn, chưa bao giờ họ nghĩ đến khả năng bị tẩy chay.

Một nhân viên kiểm toán xã hội ở tập đoàn Bureau Veritas từng cho người viết bài này biết: “Người tiêu dùng có ý thức cao là người không chỉ quan tâm tới chất lượng và giá cả, mà còn rất quan tâm tới một điểm thứ ba, là sản phẩm được làm ra như thế nào. Ở các nước phát triển, người ta sẵn sàng tẩy chay một sản phẩm nếu họ biết rằng nhà sản xuất ra nó sử dụng lao động trẻ em, hay gây ảnh hưởng độc hại đến môi trường. Chỉ cần một lần vi phạm bị phát hiện, cả một thương hiệu nổi tiếng có thể đi tong”. Đối chiếu với đó, các bạn có thể thấy là người tiêu dùng Việt Nam còn chưa có ý thức bảo vệ chính mình, nói gì đến ý thức bảo vệ môi trường hay quan tâm đến quyền lợi của những người lao động khác.

Bên cạnh việc người dân thiếu hiểu biết về quyền lợi của mình, sự thiếu vắng các tổ chức dân sự đúng nghĩa cũng là nguyên nhân dẫn đến chuyện tẩy chay – với ý nghĩa là một hành động chính trị – hầu như không được sử dụng để gây áp lực. Kêu gọi tẩy chay trên mạng (như với vụ Vedan) có lẽ vẫn quá yếu, không đủ tạo hiệu quả đáng kể nào. Đình công, biểu tình trong văn hoá chính trị Việt Nam

Trở lại với chuyện biểu tình, có thể bạn cũng đã nhận thấy đó là một hình thức hoạt động chính trị có hiệu quả đối với những người tham gia, ở chỗ nó tác động mạnh tới cộng đồng, nó gây chú ý và khiến người biểu tình có thể tạo sức ép chính trị. Nhưng đối với những người khác, nó không thể không gây thiệt hại dù ít dù nhiều: Chẳng hạn, nó cản trở quyền tự do đi lại của một số công dân, có khi là rất nhiều công dân. Với đình công cũng vậy. Trên thế giới, từng có những cuộc biểu tình và đình công của ngành hàng không, đường sắt, taxi, làm trì trệ, thậm chí gây tê liệt giao thông của cả một thành phố.

Do vậy, để nhìn nhận sự việc một cách khách quan, đến đây, chúng ta sẽ đi sâu vào các khía cạnh có thể gây tranh cãi của biểu tình trong bối cảnh văn hoá chính trị Việt Nam, nơi số đông dân chúng vẫn giữ tâm lý sợ nhà nước, chưa suy nghĩ nhiều về nhân quyền và chưa biết cách “thực hành dân chủ”.

BIỂU TÌNH, ĐÌNH CÔNG TRONG VĂN HOÁ CHÍNH TRỊ VIỆT NAM

Mùa đông năm 2008, nhà báo Nguyễn Hoàng Linh (Tổng Biên tập tờ Nhịp Cầu Thế Giới của cộng đồng người Việt ở Hungary) chuẩn bị rời Budapest về Hà Nội nghỉ Giáng sinh. Vé máy bay đã mua, đồ đạc đã đóng gói, đã hẹn hò đầy đủ với người thân, bạn bè ở Việt Nam, nhưng sát ngày khởi hành, ông Linh sững sờ trước nguy cơ không đi được: Toàn bộ nhân viên Sân bay Quốc tế Budapest, giới tài xế xe buýt của Công ty Giao thông Công cộng Budapest BKV, phối hợp cùng ngành đường sắt, đang tổng đình công đòi tăng lương. Giao thông cả nước bị đình trệ. Hành khách và hành lý đều vạ vật, ngổn ngang trên sân bay.

Ông Linh gọi điện về Việt Nam báo rằng chuyến bay có thể bị hoãn vô thời hạn. Người thân, bạn bè của ông nghe tin, ai cũng bực bội “cái bọn đình công”: Ích kỷ, nhỏ nhen, lợi dụng đúng thời điểm mùa Giáng sinh, nhu cầu đi lại của nhân dân đang cao, để đình công, thật hãm tài.

Điều kỳ lạ là chính những người trong cuộc – dân Hungary và du khách ngoại quốc, “nạn nhân” trực tiếp của cuộc đình công – thì lại rất chịu đựng và không có ý kiến gì đặc biệt. Nhà báo Nguyễn Hoàng Linh tìm hiểu và thấy tuyệt nhiên không thấy ai có thái độ cáu kỉnh, trách móc. Thậm chí mọi người còn tỏ ra thông cảm với giới nhân viên đình công và ai cũng nhất trí là phải có sự phối hợp giữa sân bay, xe buýt với đường sắt, sao cho… thiệt hại lên đến mức cao nhất, bởi có vậy mới mong Chính phủ Hungary lùi bước trước các nghiệp đoàn.

Vì sao khác biệt?

Điều gì làm nên sự khác biệt giữa thái độ của người Việt Nam và người Hungary trước biểu tình và/hoặc đình công? Có thể đến lúc này bạn đã nhìn ra nguyên nhân rồi: Đó là sự khác biệt trong văn hoá chính trị của hai nước.

Các nhà khoa học định nghĩa văn hoá chính trị là “tập hợp các thái độ, giá trị, tình cảm, thông tin và kỹ năng về / liên quan đến chính trị của người dân trong một xã hội”, văn hoá chính trị “tạo nên môi trường tâm lý – xã hội, nơi diễn ra các xung đột chính trị, nơi người ta ban hành chính sách”.

Để dễ hiểu, bạn có thể hình dung văn hoá chính trị gồm hai thành tố căn bản: nhận thức chính trị (hiểu biết của người dân về chính trị) và tình cảm chính trị (cảm xúc, sở thích, yêu/ghét liên quan đến chính trị).

Đương nhiên là nhận thức chính trị và tình cảm chính trị của người dân mỗi nước mỗi khác. Nói về nhận thức chính trị, nếu bạn hỏi một người Mỹ xem Tổng thống Mỹ sống và làm việc ở đâu, nhiều khả năng ông/bà ta sẽ trả lời đúng, là Nhà Trắng. Còn nếu bạn hỏi ông bác và bà dì của bạn xem Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam sống và làm việc ở đâu, có khi bác và dì bạn mỗi người sẽ có một câu trả lời khác nhau, và ta chẳng biết câu nào đúng.

Nói như vậy, không có nghĩa là tác giả bài viết này cho rằng dân Mỹ nhận thức chính trị cao hơn dân Việt Nam, bởi vì một câu hỏi và câu trả lời khó nói lên được gì. Ngoài ra, giả sử có nghĩ thế thật, tác giả cũng không dám nói, vì… sợ cái thành tố thứ hai trong văn hoá chính trị, là tình cảm chính trị.

Về tình cảm chính trị cũng vậy, nó rất đa dạng. Ngay trong cùng một nước Mỹ, tại cùng một thời điểm, có người xem việc Mỹ phát động chiến tranh chống khủng bố, bắt đầu từ Afghanistan (năm 2001), là cần thiết, nên làm, đáng ủng hộ; ngược lại, có người thì căm ghét, phản đối. Tuy nhiên, cũng có những tình cảm chung của cả một cộng đồng, trên cơ sở những giá trị chung, hay là những quan niệm chung về cái tốt, cái xấu. Ví dụ ta có thể tin rằng đại đa số người Mỹ thích sự độc lập, thích quan niệm rằng dân chủ thì lành mạnh hơn là độc tài. Tình cảm ấy của họ dựa trên một giá trị chung mà họ đề cao, là tự do.

Tương tự, đại đa số người Việt Nam, nếu được khảo sát, sẽ nói rằng họ có thiện cảm với nước Lào hơn với Trung Quốc, mặc dù trên thực tế có thể họ chẳng biết nhiều về Lào, hoặc biết về Lào ít hơn về Trung Quốc. Vì một trong các giá trị chung của dân Việt Nam hiện nay có lẽ là tinh thần dân tộc chủ nghĩa (nationalism). Chúng ta tin rằng nationalism là một phẩm chất tốt đẹp, ngược với ở châu Âu, nơi nó lại đang bị coi là xấu, tiêu cực.

Và, tình cảm chính trị có thể khiến cho nhiều bạn đọc Việt Nam “ném đá” một tác giả nào đó ngay tắp lự nếu hắn dám nói rằng dân Mỹ nhận thức chính trị cao hơn dân Việt Nam.

Vì chúng ta thuộc về văn hoá chính trị Việt Nam…

Văn hoá chính trị – gồm nhận thức chính trị và tình cảm chính trị – là cái tạo nên sự khác biệt trong thái độ của một xã hội, một cộng đồng nào đó đối với biểu tình, đình công, và các hoạt động chính trị khác như thành lập đảng phái, vận động, kiện tụng, làm truyền thông, v.v.

Văn hoá chính trị là cái khiến cho, sau khi ba sinh viên Đại học Luật TP.HCM ra tuyên bố kêu gọi “công lý cho Đoàn Văn Vươn”, những người ra mặt phản đối họ nhất lại chính là… Đoàn trường. Và khi họ đòi Đoàn trường xin lỗi, nếu không sẽ kiện, một số “luật gia, luật sư tương lai”, bạn của họ, đã mở một chiến dịch công kích họ, thành lập cả “Hội những người bảo vệ hình ảnh của sinh viên Luật”. Nếu ở một nền văn hoá chính trị khác, với nhận thức chính trị khác, có lẽ các “luật gia, luật sư tương lai” đó phải phấn khởi khi có một vụ kiện như thế, và hơn ai hết, phải ủng hộ việc đồng nghiệp, đồng môn của mình làm.

Văn hoá chính trị là cái khiến cho một số người dân, khi ra công viên Nghĩa Đô ở Hà Nội sáng chủ nhật 5/5/2013 để tham gia “dã ngoại nhân quyền”, phải đối diện với ánh nhìn thiếu thiện cảm của những người khác. Và đây là một comment thể hiện tình cảm chính trị của nhiều người Việt Nam với “đám biểu tình”: “Họ đứng nói chán họ đi một vòng hồ, họ nói chán chẳng có ai nghe nên họ chuyển sang nói bằng loa nhưng cũng chẳng có ai quan tâm, nên họ về. Cả công viên bao nhiêu người qua lại chơi đùa, có ai để ý họ đâu? Người ta vẫn cứ chơi, hai quả đồi vẫn đông tấp nập mà”.

Đến đây câu hỏi đặt ra là: Vậy, có văn hoá chính trị tốt, văn hoá chính trị xấu không? Trả lời: Điều chắc chắn là văn hoá chính trị mỗi nơi mỗi khác, và thật khó tuyên bố cụ thể văn hoá chính trị nước này thì tốt, nước kia thì xấu. Thế nhưng, cũng có những giá trị chung, những giá trị phổ quát, mà nếu đã coi mình thuộc về nhân loại tiến bộ thì chúng ta sẽ tự nhiên thừa nhận, ví dụ những quyền căn bản của con người. Chúng ta khó có thể chấp nhận một xã hội nơi phụ nữ ngoại tình bị ném đá đến chết, người đồng tính bị xử tử, rồi ta bảo rằng “vì luật pháp, vì văn hoá chính trị của họ là như thế, tốt xấu kệ họ, nói chung đều đáng tôn trọng cả”.

Người viết xin để bạn đọc tuỳ ý đánh giá xem văn hoá chính trị Việt Nam hay dở thế nào. Còn về phong trào đình công ở Hungary tháng 12/2008, sau nhiều ngày giao thông bị tê liệt, Chính phủ Hungary và các nghiệp đoàn của bên đình công đã đạt được thỏa thuận vào phút cuối với sự nhượng bộ của chính quyền. Và nhà báo Nguyễn Hoàng Linh về Việt Nam, mang theo một trải nghiệm hồi hộp và thú vị về “bất tuân dân sự”.

Advertisements

One thought on “Vẻ đẹp của chính trị

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s