
Đình Thắng
Nền giáo dục Việt Nam trước và trong thời Pháp thuộc đại diện cho hai triết lý, cấu trúc và mục đích hoàn toàn khác nhau. Sự chuyển đổi này không đơn thuần là thay đổi ngôn ngữ hay sách giáo khoa, mà là một cuộc cải cách bứng rễ hệ tư tưởng cũ để thay bằng một hệ thống phục vụ cho chế độ cai trị mới.
Thời phong kiến, giáo dục mang mục đích đào tạo quan lại và người quân tử theo chuẩn mực Khổng giáo để giúp vua trị nước. Nội dung học gắn chặt với Tứ Thư, Ngũ Kinh, sử học và thi phú, hoàn toàn thiếu vắng khoa học tự nhiên và tư duy thực nghiệm. Ngôn ngữ chính là chữ Hán dùng để thi cử, còn chữ Nôm hiện diện trong văn học dân gian và thơ ca. Hệ thống không có cấu trúc chính quy: không chia lớp theo tuổi, không có thời khóa biểu hay giáo trình đồng bộ. Người mười lăm tuổi và người bốn mươi tuổi có thể ngồi chung một lớp của thầy đồ. Dù mang tính tự phát, mạng lưới trường tư tại làng xã lại phổ biến rộng rãi và tương đối dễ tiếp cận. Bất kỳ ai – trừ một số tầng lớp bị xã hội coi thường như xướng ca – đều có thể lều chõng đi thi.
Thời Pháp thuộc, mục đích chuyển sang đào tạo công chức, thông ngôn, ký lục và kỹ thuật viên cấp thấp phục vụ bộ máy cai trị và khai thác thuộc địa. Người Pháp không có nhu cầu đào tạo ra các nhà tư tưởng hay lãnh đạo vĩ mô người bản xứ, mà cần những nhân viên hành chính mẫn cán. Đặc biệt sau cải cách giáo dục năm 1906 dưới thời Toàn quyền Paul Beau và cải cách năm 1917 dưới thời Toàn quyền Albert Sarraut, hệ thống trường lớp được chuẩn hóa với ba cấp rõ ràng: tiểu học, trung học (Thành chung và Tú tài) và đại học. Chữ Quốc ngữ được dùng ở cấp tiểu học như công cụ chuyển tiếp, còn tiếng Pháp trở thành ngôn ngữ bắt buộc ở các bậc học cao hơn. Nội dung giảng dạy bao gồm các môn khoa học phương Tây: Toán, Lý, Hóa, Sinh, Địa lý, Lịch sử. Học sinh lần đầu tiên được tiếp cận với tư duy logic và phương pháp thực nghiệm.
Về tính phổ cập, hệ thống Pháp thuộc mang tính đặc quyền cao. Trường học tập trung ở thành thị, chi phí học tập đắt đỏ khiến phần lớn con em nông dân không tiếp cận được. Theo các nghiên cứu độc lập, trong đó có công trình của nhà sử học David G. Marr, đến cuối thời Pháp thuộc vào thập niên 1940, tỷ lệ mù chữ ở Việt Nam lên tới khoảng 80 – 90% do hệ thống trường công quá ít ỏi so với quy mô dân số.
Phương pháp luận cũng thay đổi căn bản. Nền giáo dục phong kiến đề cao tầm chương trích cú: học trò phải thuộc lòng từng câu chữ thánh hiền, không được phản biện, không khuyến khích sáng tạo cá nhân, tư duy hướng về quá khứ như chuẩn mực tuyệt đối. Giáo dục Pháp – Việt đưa vào tư duy phân tích, chứng minh khoa học và phản biện logic. Dù bị giới hạn về tự do chính trị, việc tiếp cận sách báo tiếng Pháp và tư tưởng Khai sáng – Voltaire, Rousseau, Montesquieu – đã vô tình kích thích tinh thần yêu nước và tư duy cách mạng của tầng lớp trí thức Tây học mới.
Trong giai đoạn đầu Pháp thuộc, hệ thống khoa cử Nho giáo vẫn được duy trì nhưng địa vị của nó bị thu hẹp dần theo từng vùng địa lý, tùy theo chính sách cai trị.
Nam Kỳ là vùng đất thuộc địa trực trị nên người Pháp hành động nhanh nhất: khoa thi Hương cuối cùng ở Gia Định diễn ra năm 1864, sau đó hệ thống khoa bảng biến mất hoàn toàn chỉ sau vài năm. Ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ – vùng bảo hộ với triều đình nhà Nguyễn còn tồn tại trên danh nghĩa – người Pháp ban đầu chọn duy trì khoa cử để sử dụng đội ngũ quan lại Nho học cũ ổn định tình hình trong khi bộ máy hành chính kiểu Pháp chưa hoàn thiện. Tuy nhiên, bằng cấp khoa bảng mất đi giá trị thực tế: người đỗ Cử nhân, Tiến sĩ không còn đương nhiên được bổ dụng, và quyền lực thực tế đều nằm trong tay các Công sứ Pháp. Từ năm 1906, Pháp buộc triều đình Huế đưa thêm môn chữ Quốc ngữ, toán học cơ bản và tiếng Pháp vào các kỳ thi.
Hai cột mốc chấm dứt khoa bảng được ghi lại rõ ràng: năm 1915, khoa thi Hương cuối cùng ở Bắc Kỳ tổ chức tại trường thi Nam Định; năm 1919, khoa thi Hội cuối cùng trong lịch sử diễn ra tại Huế dưới triều vua Khải Định. Sau đó, hệ thống khoa cử khai tử trên toàn cõi Việt Nam – chấm dứt gần một nghìn năm thi cử theo truyền thống Nho giáo.
Cú sốc văn hóa của sự kiện này được phản ánh chân thực nhất qua thơ trào phúng của Tú Xương (Trần Tế Xương). Hai câu thơ nổi tiếng ghi lại sự chuyển giao thế hệ: “Cái học nhà Nho đã hỏng rồi / Sĩ tử đua nhau học chữ Tây.” Cảnh trường thi Nam Định cuối cùng cũng được ông khắc họa bằng hình ảnh nhốn nháo, lạc lõng: “Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ / Ậu ọe quan trường miệng thét loa / Lọng cắm rợp trời quan sứ đến / Váy lê quét đất mụ đầm ra.”
Chữ Quốc ngữ – hệ chữ cái La-tinh ghi âm tiếng Việt – được các giáo sĩ phương Tây sáng tạo từ thế kỷ XVII nhằm mục đích truyền đạo. Trong suốt hơn hai trăm năm sau đó, triều đình nhà Nguyễn và giới sĩ phu hoàn toàn ngó lơ loại chữ này, coi đó là “văn tự của tà đạo.” Họ vẫn trung thành với chữ Hán và chữ Nôm.
Chữ Quốc ngữ bùng nổ nhờ hai bước ngoặt do bối cảnh Pháp thuộc tạo ra. Thứ nhất, người Pháp chủ động phổ cập nó ở Nam Kỳ từ năm 1865 qua tờ Gia Định Báo, rồi lan ra cả nước, nhằm thay thế chữ Hán và cắt đứt ảnh hưởng của hệ tư tưởng Khổng giáo cũng như luồng tư tưởng từ Trung Quốc. Thứ hai – và đây là điều ngoài tính toán của người Pháp – các nhà cải cách Việt Nam nhận ra chữ Quốc ngữ dễ học hơn chữ Hán gấp nhiều lần và đã biến thứ chữ người Pháp cổ xúy thành vũ khí chấn hưng dân tộc. Đông Kinh Nghĩa Thục năm 1907 có khẩu hiệu: “Chữ Quốc ngữ là hồn trong nước / Phải đem ra tôn kính học hành.”
Nếu không có thời Pháp thuộc, khả năng rất cao là chữ Quốc ngữ sẽ chỉ tồn tại như một ngôn ngữ thiểu số của cộng đồng Công giáo. Triều đình nhà Nguyễn có thể vẫn duy trì chữ Hán làm văn bản hành chính. Nếu có cải cách ngôn ngữ, xu hướng tự nhiên có lẽ sẽ đi theo mô hình Nhật Bản – giữ chữ Hán kết hợp chữ biểu âm bản địa – hoặc phát triển mạnh chữ Nôm để khẳng định tính độc lập với Trung Quốc, chứ không tự nhiên chuyển sang hệ chữ hoàn toàn xa lạ về ngữ hệ như bộ chữ Latin.
Về tốc độ hiện đại hóa giáo dục nếu Việt Nam không bị đô hộ, có hai viễn cảnh đối lập nhau. Nếu phe cải cách trong triều đình – như nhóm của Nguyễn Trường Tộ từng nhiều lần dâng sớ đề nghị cải cách – thắng thế trước phe bảo thủ, Việt Nam hoàn toàn có thể tự hiện đại hóa giáo dục theo mô hình Nhật Bản thời Minh Trị hoặc Thái Lan: bãi bỏ giáo dục phong kiến, cử du học sinh sang phương Tây, mời chuyên gia nước ngoài mở trường đại học, đưa toán học và khoa học vào giảng dạy từ sớm. Trong viễn cảnh này, giáo dục hiện đại thậm chí có thể phổ quát và công bằng hơn thời Pháp thuộc – vì một chính phủ độc lập sẽ ưu tiên xóa mù chữ cho toàn dân thay vì duy trì tỷ lệ đi học ít ỏi như chính quyền thực dân. Ngược lại, nếu phe bảo thủ tiếp tục ôm tư tưởng “bế quan tỏa cảng” như nhà Thanh của Trung Quốc, cải cách giáo dục sẽ diễn ra cực kỳ chậm chạp, chỉ xuất hiện sau khi quốc gia rơi vào khủng hoảng trầm trọng – Trung Quốc phải đợi đến năm 1905 mới bãi bỏ hệ thống khoa cử sau hàng loạt thất bại quân sự ê chề.
Song song với giáo dục, người Pháp áp đặt và định hình toàn bộ mô hình nhà nước, hành chính, y tế và quy hoạch đô thị – tạo ra một bộ khung hiện đại bao trùm lên toàn bộ xã hội Việt Nam, không chỉ riêng phòng học.
Về hành chính, người Pháp xóa bỏ mô hình lục bộ phong kiến và thay thế bằng bộ máy phân tầng, chuyên môn hóa dưới sự điều hành của Toàn quyền Đông Dương. Nha Bưu điện và Điện tín đặt nền móng cho ngành bưu chính viễn thông. Sở Địa chính lần đầu tiên vẽ bản đồ bằng kỹ thuật trắc địa hiện đại, thiết lập sổ địa bạ, đo đạc đất đai bằng mét vuông thay vì ước lượng bằng mẫu, sào kiểu cũ. Hệ thống Tư pháp theo mẫu Luật Napoléon thay thế việc xét xử tùy tiện của quan huyện bằng hệ thống tòa án ba cấp và bộ luật thành văn.
Về y tế, trước thế kỷ XX người Việt chỉ chữa bệnh bằng Đông y dựa trên lý luận âm dương ngũ hành. Người Pháp mang Tây y và y học thực nghiệm vào, trước tiên để bảo vệ quân đội, sau đó mở rộng nhằm ngăn chặn các trận dịch có thể làm sập nguồn lực lao động thuộc địa. Bệnh viện Chợ Quán tại Sài Gòn (1862) là một trong những cơ sở y tế hiện đại đầu tiên. Mạng lưới Viện Pasteur tại Sài Gòn, Nha Trang và Hà Nội – do các học trò của Louis Pasteur sáng lập, đứng đầu là Alexandre Yersin – đưa Việt Nam tiếp cận với vaccine, nghiên cứu vi trùng học và dập tắt các dịch bệnh nguy hiểm như dịch hạch, đậu mùa, tả.
Về quy hoạch đô thị, người Pháp thiết lập tư duy phân khu chức năng: khu hành chính chính trị, khu thương mại, khu công viên cây xanh và hồ nước, hệ thống cốt nền chống ngập. Họ vạch tuyến đường rộng có vỉa hè, trồng cây xanh hai bên. Các công trình biểu tượng của Việt Nam ngày nay đều được xây dựng trong giai đoạn này: Nhà hát Lớn Hà Nội, Dinh Độc Lập (bản gốc là Dinh Norodom), Bưu điện Trung tâm Sài Gòn, Nhà thờ Đức Bà, Cầu Long Biên (cầu Doumer). Tuyến đường sắt Bắc – Nam (Đường sắt Xuyên Đông Dương), hệ thống Quốc lộ 1A và các cảng biển lớn như cảng Sài Gòn, cảng Hải Phòng được xây dựng chủ yếu để chở cao su, than đá ra chính quốc và vận chuyển quân đội đàn áp khởi nghĩa – nhưng sau 1954 người Việt tiếp quản toàn bộ khung hạ tầng này và tiếp tục vận hành nó như xương sống của quốc gia.
Hệ thống giáo dục bốn bậc và những ngôi trường huyền thoại
Được chuẩn hóa toàn diện sau cải cách năm 1917, hệ thống giáo dục Pháp thuộc có cấu trúc bốn bậc rõ ràng. Bậc đầu là ấu học và tiểu học, chia làm hai giai đoạn: sơ học tiểu học ba năm tại các trường làng, kết thúc bằng bằng Sơ học Yếu lược; và tiểu học Pháp – Việt thêm ba năm, kết thúc bằng bằng Sơ học Tổng nghiệp. Bậc hai là Cao đẳng Tiểu học, học bốn năm hoàn toàn bằng tiếng Pháp tại các trường Collège ở tỉnh lớn, kết thúc bằng bằng Thành chung – đủ để đi làm công chức cấp thấp hay dạy tiểu học. Bậc ba là Trung học Tú tài, học ba năm tại các trường Lycée danh tiếng, kết thúc bằng bằng Tú tài phần I và phần II (Baccalauréat). Đỗ Tú tài thời đó là cực kỳ hiếm – tỷ lệ đánh trượt có khi lên tới 70 – 80% – và được xã hội trọng vọng ngang “ông Nghè” thời phong kiến.
Đỉnh của hệ thống là Viện Đại học Đông Dương (Université Indochinoise) tại Hà Nội, thành lập năm 1906, tổ chức ổn định từ 1917. Đây là trung tâm đại học duy nhất cho toàn bộ ba nước Đông Dương, gồm các trường thành viên: Trường Y – Dược (thành lập từ 1902, hiệu trưởng đầu tiên là bác sĩ Alexandre Yersin), Trường Luật và Hành chính, Trường Khoa học căn bản, Trường Mỹ thuật Đông Dương (1924 – nơi họa sĩ Pháp Victor Tardieu dẫn dắt và đào tạo các danh họa Tô Ngọc Vân, Nguyễn Gia Trí, Trần Văn Cẩn, Lê Phổ), cùng các trường Công chính, Nông lâm. Giảng viên chủ yếu là học giả, bác sĩ, kỹ sư người Pháp, chất lượng đào tạo nghiêm ngặt. Sinh viên từ miền Trung, miền Nam, thậm chí cả Lào và Campuchia đều phải ra Hà Nội để học, mỗi khóa đôi khi chỉ có vài chục người.
Bên cạnh hệ thống chung, một số trường Lycée trở thành biểu tượng văn hóa riêng. Trường Albert Sarraut thành lập năm 1919 tại Hà Nội là trường danh giá bậc nhất toàn Đông Dương, ban đầu chủ yếu dành cho con em người Pháp và tầng lớp bản xứ cực kỳ quyền quý. Chương trình học hoàn toàn bằng tiếng Pháp, bằng Tú tài của trường được công nhận tương đương tại Paris. Cựu học sinh bao gồm Đại tướng Võ Nguyên Giáp, triết gia Trần Đức Thảo, nhà văn Thạch Lam, nhà thơ Xuân Diệu, kỹ sư Trần Đại Nghĩa và Hoàng đế Bảo Đại.
Trường Bưởi – tên chính thức là Lycée du Protectorat, thành lập năm 1908 – nằm ở vùng Kẻ Bưởi cạnh Hồ Tây, dành riêng cho học sinh người bản xứ xuất sắc từ khắp Bắc Kỳ. Trường này nổi tiếng về tinh thần tự tôn dân tộc và phản kháng: thường xuyên nổ ra các cuộc bãi khóa để tang cụ Phan Châu Trinh (1926) hay đòi thả cụ Phan Bội Châu (1925). Cựu học sinh gồm Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Tổng bí thư Trường Chinh, Giáo sư Tôn Thất Tùng, Giáo sư Nguyễn Văn Huyên, nhà thơ Tú Mỡ. Năm 1945, trường đổi tên thành Chu Văn An và giữ nguyên địa điểm bên Hồ Tây cho đến ngày nay.
Trường Quốc Học Huế thành lập năm 1896 theo chỉ dụ của Vua Thành Thái, ban đầu nhằm đào tạo tiếng Pháp cho con em hoàng thân quốc thích và quan lại triều đình. Cựu học sinh gồm Nguyễn Tất Thành (Hồ Chí Minh), Võ Nguyên Giáp, Tổng bí thư Trần Phú, nhà thơ Huy Cận và Tế Hanh. Trường Chasseloup-Laubat tại Sài Gòn, thành lập năm 1874, là trường trung học đầu tiên và lâu đời nhất do người Pháp xây dựng tại Việt Nam, phục vụ con em quan chức Pháp và giới tư sản, địa chủ giàu có nhất miền Nam. Cựu học sinh gồm kỹ sư Trần Đại Nghĩa, học giả Vương Hồng Sển, nhà cách mạng Trần Văn Giàu và nhà văn Pháp Marguerite Duras. Trường nay là Lê Quý Đôn.
Môi trường học tập tại các trường Lycée rất nghiêm khắc và chỉn chu. Học sinh mặc đồng phục – áo dài truyền thống hoặc Âu phục quần soóc trắng, tất cao cổ – và học trong những giảng đường trần cao, cửa chớp đón gió. Các trường có đầy đủ phòng thí nghiệm lý hóa hiện đại, sân thể thao với cả tennis và bóng đá: những thứ hoàn toàn xa lạ với làng quê Việt Nam lúc bấy giờ. Chính sự cách biệt về điều kiện vật chất và phương pháp tư duy đó đã tạo ra ở học sinh một tâm thế rất khác so với đại chúng – cảm giác thuộc về một tầng lớp riêng, vừa được trang bị hơn, vừa gánh nặng hơn về nhận thức xã hội.
Giữa hai trường Albert Sarraut và trường Bưởi tồn tại một thù nghịch khét tiếng. Albert Sarraut đại diện cho con em người Pháp và tầng lớp bản xứ thân Pháp, cư xử ngạo mạn; trường Bưởi đại diện cho những thanh niên tỉnh lẻ, nghèo hơn nhưng có lòng tự tôn dân tộc mạnh mẽ. Những trận hỗn chiến trên tàu điện tuyến Hoàn Kiếm – Thụy Khuê, những cuộc hẹn nhau tại các bãi đất trống gần Hồ Trúc Bạch hay vườn hoa Canh Nông, trở thành ký ức sống của Hà Nội thời thuộc địa. Sâu xa hơn là sự đối lập về ý thức hệ: học sinh trường Bưởi xuống đường rải truyền đơn, bãi khóa; học sinh Albert Sarraut thong dong đi học dưới sự bảo vệ của cảnh sát Pháp. Tuy nhiên, vì Albert Sarraut là trường cấp bằng Tú tài chất lượng cao nhất Đông Dương, một số học sinh xuất sắc nhất từ trường Bưởi sau khi đỗ bằng Thành chung đã thi chuyển vào học tiếp tại đây. Võ Nguyên Giáp là trường hợp điển hình: bị đuổi khỏi trường Bưởi vì tham gia bãi khóa, nhưng sau đó tốt nghiệp Tú tài toàn phần tại chính Albert Sarraut.
Về số phận vật chất của các công trình sau 1954: tòa nhà Albert Sarraut gốc tại số 8 Hoàng Diệu, sau khi Pháp rút đi, trở thành trụ sở của Cơ quan Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam – ngôi trường từng đào tạo Võ Nguyên Giáp và Trần Đức Thảo nay là tổng hành dinh của chính quyền mà chính những cựu học sinh ấy dựng lên, rồi về sau xung đột với.
Mục đích thực dân và tác dụng phụ
Mọi cuộc cải cách giáo dục của Pháp chỉ được kích hoạt khi bộ máy cai trị cũ không còn đáp ứng nhu cầu thực tế. Khi chương trình khai thác thuộc địa quy mô lớn bắt đầu – xây dựng đường sắt, khai mỏ, lập đồn điền, thu thuế – người Pháp không thể bê toàn bộ nhân lực từ chính quốc sang vì chi phí quá đắt. Họ mở trường để đào tạo người Việt biết tiếng Pháp, có kỹ thuật căn bản, để làm thay họ. Toàn quyền Albert Sarraut từng tuyên bố thẳng thắn trước nghị trường Pháp rằng giáo dục thuộc địa phải biến người bản xứ thành những người cộng sự trung thành với nước Pháp, chứ không phải đào tạo ra những bộ óc nổi loạn.
Chính vì vậy, chính quyền Pháp kiểm soát rất chặt số lượng học sinh đỗ Tú tài hay vào đại học mỗi năm để vừa vặn với số ghế trống trong bộ máy hành chính. Nếu dân trí tăng quá nhanh, thanh niên học xong không có việc làm sẽ quay sang làm cách mạng – và thực tế này đã xảy ra. Sách giáo khoa được kiểm duyệt gắt gao: những tư tưởng triết học về quyền con người, lịch sử Cách mạng Pháp 1789 lật đổ chế độ phong kiến đều bị cắt xén hoặc làm mờ để tránh người Việt “học theo.”
Tuy nhiên, giáo dục có một đặc tính nội tại: một khi tri thức đã được ban phát, người cai trị không thể kiểm soát được hướng đi của nó. Để đào tạo một người làm kế toán hay bác sĩ giỏi, người Pháp buộc phải dạy tư duy logic và khoa học thực nghiệm một cách nghiêm túc. Sự nghiêm túc đó đã vô tình trang bị cho trí thức Việt Nam một nhãn quan hiện đại, phá vỡ sự u muội và tư duy lối mòn của thời phong kiến. Người Việt đã thông minh khai thác nghịch lý này: chữ Quốc ngữ được dùng để viết báo, dịch sách, truyền bá lòng yêu nước; tiếng Pháp được dùng để đọc trực tiếp các tác phẩm gốc của Rousseau, Voltaire – những cuốn bị cấm ở thuộc địa nhưng có thể tìm mua từ hiệu sách ngoại quốc – nhằm hiểu về tự do và dân chủ. Cần phân biệt giữa chính quyền thực dân và đội ngũ học giả, giáo sư Pháp sang Việt Nam giảng dạy: nhiều người trong số họ – như Alexandre Yersin, Victor Tardieu – đến với lý tưởng nhân văn và thực sự tận tụy truyền nghề, tạo ra thế hệ trí thức Việt Nam có năng lực xuất sắc ngoài kỳ vọng chính trị của chính quyền.
Bên cạnh hai nhánh chính thức và thực dân, còn tồn tại một dòng chảy giáo dục tự lực của người Việt. Đông Kinh Nghĩa Thục (1907), dù chỉ hoạt động vài tháng trước khi bị Pháp đóng cửa, là ví dụ điển hình: dạy chữ Quốc ngữ, giảng về khoa học và kinh tế, cắt tóc ngắn cho học viên như biểu tượng đoạn tuyệt với tư duy cũ. Hội Truyền bá Chữ Quốc ngữ (1938) do các nhân sĩ tri thức tự thành lập, dùng chữ viết hiện đại để xóa mù chữ cho người nghèo hoàn toàn ngoài hệ thống của Pháp.
Trong tất cả những gì người Pháp để lại, chữ Quốc ngữ có lẽ là thứ quyết định nhất – không phải vì nó là công cụ của giới tinh hoa, mà vì nó là thứ duy nhất có thể vượt ra ngoài giới tinh hoa. Tiếng Hán chỉ những người học lâu mới đọc được; tiếng Pháp chỉ những người học trường Pháp mới dùng được; nhưng chữ Quốc ngữ học vài tuần là biết. Đó là lý do phong trào cách mạng – dù được khởi xướng bởi con cháu quan lại và địa chủ – có thể chạm tới người nông dân ở làng xã thông qua tờ báo, tờ truyền đơn và các lớp bình dân học vụ. Không có chữ Quốc ngữ phổ biến, lý tưởng dân tộc sẽ mãi bị nhốt trong các hiệu sách và salon trí thức thành thị, không thể thành phong trào quần chúng. Đây là nghịch lý sâu nhất của toàn bộ giai đoạn này: người Pháp phổ cập chữ Quốc ngữ để dễ cai trị, nhưng chính thứ chữ đó đã trao cho phong trào chống Pháp một thứ mà hàng trăm năm nổi dậy trước đó không có – một ngôn ngữ chung đủ đơn giản để kết nối cả nước.
Nghịch lý trí tuệ và xuất thân giai cấp
Nhìn vào danh sách những người đứng đầu phong trào cách mạng Việt Nam chống Pháp, hầu hết đều là cựu học sinh hoặc giáo viên của chính hệ thống giáo dục Pháp thuộc. Võ Nguyên Giáp tốt nghiệp Tú tài toàn phần trường Albert Sarraut, có cử nhân Luật Viện Đại học Đông Dương, từng dạy sử tại trường tư thục Thăng Long – rồi trở thành Đại tướng đánh bại quân Pháp tại Điện Biên Phủ. Phạm Văn Đồng học trường Bưởi – trở thành Thủ tướng dẫn đầu phái đoàn tại Hội nghị Genève 1954 buộc Pháp rút quân. Trần Đại Nghĩa nhận học bổng Pháp, tốt nghiệp kỹ sư tại Paris – trở thành “ông vua vũ khí” chế tạo súng Bazooka và súng không giật đánh bại xe tăng và lô cốt Pháp.
Các nhà nghiên cứu lịch sử độc lập gọi hiện tượng này là “Intellectual boomerang” – cú trở đầu trí tuệ. Nó xảy ra vì một mâu thuẫn nhận thức sâu sắc: học sinh Việt Nam được dạy về “Tự do – Bình đẳng – Bác ái” – khẩu hiệu thiêng liêng của chính nước Pháp – nhưng tại thuộc địa, một viên chức người Pháp kém cỏi vẫn có lương cao hơn và quyền lực lớn hơn một trí thức người Việt thủ khoa. Sự chèn ép và khinh miệt chủng tộc đánh thẳng vào lòng tự trọng của giới tinh hoa. Khi con đường thăng tiến và cống hiến hợp pháp bị chặn đứng bằng bức tường chủng tộc, giới trí thức trẻ có hai lựa chọn: chấp nhận làm một viên chức an phận bị khinh rẻ, hoặc dấn thân vào cách mạng. Phần lớn những người giỏi nhất đã chọn con đường thứ hai.
Điều này dẫn thẳng đến một sự thật không được nhắc nhiều: hầu hết lãnh đạo cách mạng thế hệ đầu tiên của Việt Nam đều xuất thân từ tầng lớp trung lưu trở lên – con cháu quan lại, sĩ phu Nho học, hoặc địa chủ bản xứ. Hồ Chí Minh (Nguyễn Tất Thành) có cha là Nguyễn Sinh Sắc, đỗ Phó bảng, từng làm Tri huyện Bình Khê. Võ Nguyên Giáp sinh trong gia đình nhà nho có thế lực ở Quảng Bình, cha từng làm hương sư và có đất đai. Phạm Văn Đồng có cha là Phạm Văn Thúc, từng giữ chức Đại học sĩ, Thượng thư bộ Binh, quan văn cận thần của Vua Duy Tân. Trường Chinh (Đặng Xuân Khu) xuất thân từ dòng họ khoa bảng lừng lẫy ở Nam Định – ông nội đỗ Tiến sĩ, bác ruột đỗ Cử nhân.
Lý do cấu trúc rất rõ: muốn làm cách mạng chống lại một đế quốc hiện đại, người lãnh đạo phải biết tiếng Pháp, đọc được tư tưởng phương Tây, có tiền để đi lại giữa các tỉnh và xuất ngoại, và có đủ khoảng trống tâm trí để trăn trở về những khái niệm vĩ mô như “tự do” và “vận mệnh quốc gia” – những điều mà người nông dân nghèo đang vật lộn với sưu thuế hằng ngày không thể nghĩ tới. Đây là một nghịch lý lịch sử thường gặp: cách mạng vô sản được dẫn dắt bởi những người không phải vô sản. Bản thân Karl Marx, Friedrich Engels hay Vladimir Lenin đều xuất thân từ tầng lớp tư sản và quý tộc trí thức.
Trường hợp Hồ Chí Minh là ví dụ cụ thể nhất cho cả hai chiều của luận điểm này. Học vấn chính quy của ông dừng lại ở bậc cuối tiểu học Pháp – Việt – tương đương lớp 5 hoặc lớp 6 ngày nay. Ông học trường Đông Ba rồi vào trường Quốc Học Huế, nhưng rời trường vào khoảng cuối 1908 hoặc đầu 1909 sau các sự kiện phong trào chống thuế ở Trung Kỳ mà ông tham gia với tư cách thông ngôn. Ngoài lý do chính trị, biến cố gia đình cũng đóng vai trò quan trọng: cha bị cách chức, gia đình sa sút, mất chỗ dựa kinh tế. Ông không nghỉ học vì đã xác định sẵn con đường cách mạng – điều đó mang tính lãng mạn hóa của tuyên truyền. Thực tế là hệ thống giáo dục thực dân đã từ chối ông sau sự cố chính trị, và hoàn cảnh gia đình buộc ông phải tự lập. Năng lực trí tuệ thực tế của ông vượt xa bằng cấp chính quy nhờ tự học qua môi trường quốc tế: tự học tiếng Pháp, Anh, Nga, Trung; viết báo chính luận bằng tiếng Pháp cho tờ Le Paria; tham gia Đảng Xã hội Pháp, Đảng Cộng sản Pháp và Quốc tế Cộng sản ở Paris và Moscow – những môi trường buộc ông phải đọc, viết luận và tranh luận liên tục để tồn tại và thăng tiến.
Trong cách hành văn chính thống lâu nay, cụ Nguyễn Sinh Sắc thường được giới thiệu là “nhà nho yêu nước” hoặc “xuất thân trong gia đình nhà nho nghèo” thay vì gọi thẳng là “Quan triều đình nhà Nguyễn.” Sự lựa chọn từ ngữ này không phải ngẫu nhiên. Hệ tư tưởng của chính quyền cộng sản lấy giai cấp công nhân và nông dân làm gốc; nhấn mạnh cha lãnh tụ là “quan lớn triều đình phong kiến” vô tình đẩy gia thế của ông sang phía giai cấp thống trị. Cụm từ “nhà nho nghèo yêu nước” vừa giữ được yếu tố “học thức,” vừa hòa mình vào lòng quần chúng lao động. Thực tế về cụ Nguyễn Sinh Sắc phức tạp hơn: đỗ Phó bảng năm 1901, từng ngại ra làm quan, đến năm 1909 mới nhậm chức Tri huyện Bình Khê, rồi chỉ sau vài tháng bị triều đình cách chức sau vụ phạt roi dẫn đến chết người tại huyện. Sau đó cụ vào miền Nam, sống cuộc đời phiêu bạt làm thầy thuốc và dạy học. Giai đoạn làm “thầy thuốc” và “nhà nho dạy học” kéo dài và tự nguyện hơn rất nhiều so với vài tháng làm Quan tri huyện đầy cay đắng – và đó là lý do thực chất khiến cái tên “nhà nho” được giữ lại còn chức quan bị cất vào ngăn kéo.
Sau năm 1954, bộ máy lãnh đạo dịch chuyển sang những người có xuất thân hoàn toàn bình dân. Lê Duẩn xuất thân từ gia đình nông dân nghèo ở Quảng Trị, làm phu trạm ngành đường sắt. Đỗ Mười (tên thật Nguyễn Duy Cống) xuất thân từ gia đình nông dân ở Hà Đông, thời trẻ làm nghề thiến lợn và thợ nề.
Sự chuyển dịch này có ba nguyên nhân cốt lõi. Thứ nhất, hệ thống nhà tù của thực dân Pháp – Côn Đảo, Sơn La, Lao Bảo, Hỏa Lò – đã tiêu diệt hoặc làm suy giảm sức khỏe nhiều trí thức thế hệ đầu: Trần Phú qua đời trong tù khi 27 tuổi, Nguyễn Văn Cừ và Hà Huy Tập bị bắn năm 1941. Những người sống sót và vươn lên thường là những người có sức chịu đựng dẻo dai, tích lũy uy tín bằng số năm ngồi tù chứ không phải bằng cấp. Thứ hai, từ năm 1950, ảnh hưởng sâu sắc từ Trung Quốc đẩy mạnh chính sách “thành phần hóa” bộ máy: những người có xuất thân địa chủ, quan lại, tư sản dù có công với cách mạng bắt đầu bị nghi ngờ và đẩy ra khỏi các vị trí quyết sách; người có lý lịch “sạch” thuộc thành phần bần nông, công nhân được ưu tiên đôn lên làm lãnh đạo. Thứ ba, giai đoạn chiến tranh du kích 1945 – 1954 cần những nhà tổ chức thực tiễn bám dân, bám địa bàn, không cần những nhà trí thức hàn lâm.
Trong khi đó, những người học lên và tốt nghiệp Viện Đại học Đông Dương hoặc du học Pháp về thường trở thành các nhà khoa học, bác sĩ, kỹ sư chuyên môn thuần túy. Khi Cách mạng tháng Tám 1945 nổ ra, Hồ Chí Minh thực hiện chính sách chiêu dụ giới tinh hoa này đi theo kháng chiến. Giáo sư Tôn Thất Tùng tốt nghiệp Đại học Y khoa, làm Thứ trưởng Bộ Y tế và sáng tạo phương pháp cắt gan khô nổi tiếng thế giới, cứu hàng vạn thương binh. Giáo sư Đặng Văn Ngữ từ Nhật Bản về chiến khu, nghiên cứu tự sản xuất thuốc kháng sinh Penicillin trong điều kiện rừng sâu thiếu thốn. Giáo sư Nguyễn Văn Huyên, Tiến sĩ trường Sorbonne, được Hồ Chí Minh mời làm Bộ trưởng Bộ Giáo dục suốt 29 năm dù là người ngoài Đảng, đặt nền móng cho hệ thống giáo dục phổ thông hiện đại. Nhà toán học Tạ Quang Bửu, học toán tại Paris và Oxford, làm Thứ trưởng Bộ Quốc phòng phụ trách kỹ thuật quân sự. Kỹ sư Nguyễn Xiển, Cử nhân toán học tại Pháp, xây dựng hệ thống dự báo thời tiết và địa chấn phục vụ quân sự và nông nghiệp trong kháng chiến với tư cách Giám đốc Nha Khí tượng Thủy văn, về sau là Phó Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Tuy nhiên, những người như vậy là thiểu số – phần lớn trí thức đại học chọn tiếp tục công việc chuyên môn trong vùng kiểm soát của Pháp, hoặc di cư sang Pháp và các nước phương Tây.
Sau năm 1975, thế hệ lãnh đạo bình dân này tiếp quản toàn bộ đất nước và áp dụng nguyên xi mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu bao cấp của Liên Xô. Chính sách “Hồng hơn Chuyên” – ưu tiên tư tưởng chính trị hơn trình độ chuyên môn trong tuyển chọn cán bộ – triệt tiêu động lực sản xuất và đưa những người có lý lịch “sạch” nhưng năng lực yếu kém vào nắm giữ các bộ sở, nhà máy quan trọng. Giới trí thức có năng lực thực sự hoặc im lặng an thân, hoặc vượt biên, tạo ra cuộc chảy máu chất xám lớn nhất trong lịch sử dân tộc. Đất nước rơi vào thiếu hụt lương thực, lạm phát phi mã, bị bao vây cô lập. Trường hợp điển hình là Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Phú Kim Ngọc: từ những năm 1960 ông đã thử nghiệm “khoán chui” – giao ruộng đất cho từng hộ gia đình tự chịu trách nhiệm sản xuất thay vì tập thể hóa – nhưng bị quy chụp là “đi chệch hướng xã hội chủ nghĩa” và bị kỷ luật. Chính sách mà ông bị kỷ luật vì sau này lại trở thành nền tảng của Khoán 10, xương sống của Đổi mới nông nghiệp. Sự bế tắc toàn diện này, cùng với việc nguồn viện trợ từ Liên Xô giảm dần, đẩy chính quyền vào chân tường. Từ đầu thập niên 1980, các phong trào “phá rào” kinh tế ở Long An và TP.HCM bắt đầu được ngầm cho phép. Đến Đại hội VI năm 1986, Đảng chính thức thừa nhận những sai lầm chủ quan, giáo điều, duy ý chí và tuyên bố Đổi mới, chấp nhận nền kinh tế nhiều thành phần.
Chương cuối của giới tinh hoa Tây học
Phong trào Nhân văn – Giai phẩm (1955 – 1958) là cuộc đấu tranh đòi tự do sáng tác và dân chủ của giới văn nghệ sĩ phản kháng lại sự áp đặt tư tưởng của Đảng sau năm 1954. Phong trào này không xảy ra trong chân không: năm 1956, Đại hội XX của Đảng Cộng sản Liên Xô với bài diễn văn bí mật của Khrushchev lên án Stalin đã kích hoạt một làn sóng phi Stalin hóa lan rộng khắp phe xã hội chủ nghĩa. Tại Trung Quốc, Mao Trạch Đông phát động phong trào Trăm hoa đua nở khuyến khích trí thức phê bình tự do – rồi lại đàn áp toàn bộ sau khi những lời phê bình trở nên quá sắc bén. Giới trí thức miền Bắc Việt Nam đọc được các tín hiệu này và coi đây là cơ hội để lên tiếng. Những người dẫn đầu phong trào đều gắn với hai ngôi trường danh tiếng của Hà Nội thời thuộc địa.
Từ trường Bưởi: Nhà phê bình Trương Tửu (Nguyễn Bách Khoa), cựu học sinh trường Bưởi sau trở thành Giáo sư Đại học Sư phạm Hà Nội, viết các bài luận chấn động như “Tự do tư tưởng và tự do văn nghệ,” phê phán việc dùng mệnh lệnh hành chính để chỉ đạo nghệ thuật và biến nhà văn thành những “con vẹt” ca ngợi một chiều. Sau vụ án ông bị tước danh hiệu giáo sư, bị đuổi khỏi các vị trí học thuật và phải sống bằng nghề bốc thuốc Đông y. Nguyễn Hữu Đang, linh hồn tổ chức và chủ bút của tờ báo Nhân văn, bị khép tội nặng nhất – bị coi là cầm đầu “nhóm gián điệp phản cách mạng” – và bị kết án 15 năm tù giam.
Từ trường Albert Sarraut: Luật sư Nguyễn Mạnh Tường, cựu học sinh xuất sắc, sang Pháp đỗ hai bằng Tiến sĩ – Luật khoa và Văn chương – tại Đại học Montpellier khi mới 22 tuổi. Trong phong trào, ông đọc bản tham luận nổi tiếng trước Mặt trận Tổ quốc năm 1956 “Qua những sai lầm trong Cải cách ruộng đất, xây dựng quan điểm pháp trị,” dùng kiến thức luật pháp phương Tây chỉ ra sự vô luật pháp và độc đoán của bộ máy cai trị đương thời. Ông bị tước mọi chức danh giảng dạy, bị cấm hành nghề luật và sống trong cảnh nghèo đói cùng cực đến cuối đời. Triết gia Trần Đức Thảo, cũng là cựu học sinh Albert Sarraut, đỗ thủ khoa Thạc sĩ triết học tại trường École Normale Supérieure danh tiếng của Pháp, là một trong những bộ óc triết học tầm cỡ thế giới lúc đó. Ông viết các bài báo đòi quyền tự do ngôn luận và phản đối sự giáo điều hóa triết học Mác-Lênin, sau đó bị cách chức và bị cô lập hoàn toàn về học thuật.
Phong trào Nhân văn – Giai phẩm chính là chương cuối của cuộc đụng độ giữa tư duy kỹ trị và tự do của giới tinh hoa Tây học – thế hệ trường Bưởi và Albert Sarraut – với tư duy mệnh lệnh và ý thức hệ giai cấp của thế hệ lãnh đạo bình dân sau năm 1954. Những người như Trương Tửu, Nguyễn Mạnh Tường và Trần Đức Thảo tin rằng cách mạng thành công là để giải phóng con người và mang lại tự do tư tưởng như họ đã được học. Chính quyền mới coi sự phản biện đó là “nổi loạn của giai cấp tiểu tư sản,” đe dọa đến sự ổn định của chế độ độc đảng. Kết cục là giới tinh hoa của cả hai ngôi trường hoàn toàn thất bại và bị nghiền nát. Sự kiện này chính thức đóng cửa các diễn đàn phản biện tự do và đẩy giới trí thức hàn lâm vào một thời kỳ im lặng kéo dài suốt nhiều thập kỷ.