Các cuộc Thập tự chinh (bài 7)

map_of_routes.jpg

Cuộc Thập tự chinh Albegensian

Thập tự chinh Albegensian hay còn gọi là Thập tự chinh Cathar (1209-1229) là một chiến dịch quân sự kéo dài 20-năm được bắt đầu bởi Giáo hội Công giáo để loại trừ người dị giáo Cathar trong vùng Languedoc. Cuộc Thập tự chinh được bắt đầu chủ yếu do người Pháp và kết quả là không chỉ giảm đáng kể số lượng người theo tôn giáo Cathar mà còn là một cuộc tái tổ chức lại vùng Occitania và đưa nó vào vòng kiểm soát của vương quốc Pháp và làm giảm dần sự khác biệt của các nền văn hóa trong khu vực này và ảnh hưởng của người Aragonese ( người Tây Ban Nha ngày nay).Khi nỗ lực ngoại giao của Innocent III để kêu gọi sự hội nhập của người Catharism ( một giáo phái Kitô giáo ly khai ở vùng Languedoc bị nhà thờ La Mã kết tội dị giáo) thu được rất ít thành công và sau khi Pierre de Castelnau-người thừa kế giáo hoàng bị sát hại (người ta đã cáo buộc thủ phạm là một người thuộc giáo phái Cathar ở Toulouse), Innocent III tuyên bố một cuộc thánh chiến chống lại người Languedoc và trao các vùng đất của người dị giáo Cathar cho bất kỳ nhà quý tộc Pháp nào sẵn sàng cầm vũ khí để tham gia thánh chiến. Bạo lực bùng nổ đã dẫn đến việc nước Pháp đã chiếm được vùng đất vốn có quan hệ gần gũi hơn với văn hóa và ngôn ngữ với vùng Catalonia.Cuộc Thập tự chinh Albegensian cũng đã có một vai trò trong việc tạo ra và dòng tu Dominica và Toà án dị giáo thời Trung cổ.

Nguồn gốc

Giáo hội Công giáo đã luôn luôn đối xử lý nghiêm khắc với các nhánh của Kitô giáo mà nó bị coi là dị giáo, Nhưng trước thế kỷ 12 có xu hướng tập trung xung quanh những nhóm truyền đạo cá lẻ, các giáo phái địa phương nhỏ. Đến thế kỷ 12, nhiều các nhóm được tổ chức như Waldensian và Cathar đã bắt đầu xuất hiện trong các thị xã, thành phố thuộc khu vực mới được đô thị hoá. Ở miềm Tây thuộc Địa Trung Hải của Pháp-một trong những vùng được đô thị hóa mạnh nhất ở châu Âu vào thời điểm đó, niềm tin Cathars đại diện cho một phần rất đông đảo quần chúng nhân dân và niềm tin đã lan rộng đến các khu vực khác. Tương đối ít người tin đã theo consolamentum ( giáo lý của Cathar )để trở thành một người Cathar hoàn toàn, nhưng niềm tin này đã thu hút được nhiều cảm tình viên.

Người Cathari không tin là có một Chúa Trời quyền năng duy nhất mà có những hai vị Thần và cả hai có sức mạnh ngang bằng nhau một cách so sánh về trạng thái. Họ cho rằng thế giới vật chất là xấu xa và được tạo ra bởi Rex Mundi (Tiếng Latin là “vua của thế giới”), người đã tạo ra tất cả những sự hỗn loạn về vật chất còn thần thứ hai-một trong những người mà họ tôn thờ. Ông là vị thần tự do, tình yêu và hòa bình. Giáo hội Công giáo đã được báo động về sự lây lan của giáo phái Cathar và cảm nhận thấy sự tăng trưởng của một đối thủ được tổ chức tốt trên một quy mô lớn kể từ thời Arianism và Marcionism ( các giáo phái của Kitô giáo bị nhà thờ Chính thống giáo và nhà Thờ La Mã coi là dị giáo từ dị giáo từ hàng thế kỷ trước ).

Phát sinh giống như từ các thuyết ngộ đạo trước đây, thần học Cathar đã khai thác được những thành công ngoạn mục nhất trong vùng Languedoc và những người theo giáo phái Cathar còn được gọi là Albigensian, hoặc do họ có liên minh với thành phố Albi, hoặc bởi vào năm 1176 Hội đồng Giáo Hội đã tuyên bố học thuyết dị giáo Cathar được tổ chức ở gần thành phố Albi. Trong vùng Languedoc, sự kiểm soát về chính trị được phân chia giữa các lãnh chúa địa phương và hội đồng thành phố. Trước khi nổ ra cuộc thập tự chinh này, có rất ít chiến sự bùng nổ trong khu vực và chính thể thì khá là phức tạp. Phía Tây Địa Trung Hải của Pháp trong thời gian này được phân chia giữa Crown of Aragon ( Công quốc Aragon) và các quận của Toulouse.

Trở thành Giáo hoàng trong năm 1198, Innocent III tìm cách để đối phó với người Cathars. Giáo phái Cathar đã tiến hành một cuộc rút lui khỏi quyền lực của Giáo Hội và các nhà truyền đạo đã đồng ý ly giáo với nhà thờ thông La Mã. Nỗ lực chuyển đổi một cách hòa bình đã được tiến hành nhưng thu được rất ít thành công. Ngay cả Thánh Dominic đã cố gắng đàn phán một cách độc lập hơn, nhưng cũng chỉ thu được một số chuyển đổi ít ỏi. Lãnh tụ của giáo phái Cathar được bảo vệ bởi các quý tộc và một số giám mục hùng mạnh-những người bị cáo buộc có bất mãn với quyền lực của giáo hoàng và không tỏ ra thù địch với niềm tin Cathar. Năm 1204 Đức Giáo Hoàng đã đình chỉ quyền của một số các giám mục và bổ nhiệm đại diện của Giáo hoàng để điều hành thay mặt mình. Năm 1206 ông đã tìm cách hỗ trợ cho các hoạt động quy mô lớn hơn chống lại những người Cathar của các quý tộc vùng Languedoc, còn những quý tộc hỗ trợ người Catharism đã bị rút phép thông công.

Vị công tước hùng mạnh Raymond VI của Toulouse đã từ chối giúp đỡ và bị giúp phép thông công vào tháng 5 năm 1207. Đức Giáo Hoàng đã kêu gọi Philippe II-vua Pháp hành động để trợ giúp việc chống lại những nhà quý tộc-những người đã bị rút phép thông công vì theo giáo phái Catharism, nhưng Philippe đã từ chối hành động. Bá tước Raymond đã gặp Pierre de Castelnau-người thừa kế giáo hoàng vào tháng Giêng năm 1208 và sau một cuộc họp đầy sóng gió Castelnau đã bị sát hại vào ngày hôm sau. Đức Giáo Hoàng đã phản ứng với vụ giết người này bằng cách đưa ra một sắc lệnh công bố một cuộc thánh chiến vào vùng Languedoc-đem thưởng vùng đất của những người dị giáo cho bất kỳ người nào tham gia thánh chiến. Sự kiện này đã gây ra các cuộc xung đột giữa các quý tộc miền Bắc Pháp với các quý tộc ở miền Nam.

Các chiến dịch quân sự

Các chiến dịch quân sự của các cuộc Thập tự chinh này có thể được chia thành nhiều giai đoạn: giai đoạn đầu tiên năm 1209-1215 là một loạt những thành công lớn của quân viễn chinh ở vùng Languedoc. Tuy nhiên phần lớn các vùng đất bị chiếm lại bị mất vào giữa những năm 1215 và 1225 trong một loạt các cuộc nổi dậy và đảo chiều về quân sự. Tình hình chỉ trở lại yên tĩnh trở lại sau khi có sự can thiệp của Louis VIII-nhà vua Pháp. Trong năm 1226. Mặc dù ông qua đời vào tháng 10 năm đó, cuộc chiến đấu vẫn còn tiếp tục dưới thời vua Louis IX. Vùng này đã bị chinh phục vào năm 1229 và các nhà quý tộc hàng đầu đã ký kết các hiệp ước hòa bình. Sau 1233 tòa án Tôn giáo là công cụ để nghiền nát những gì còn lại của giáo phái Catharism. Thỉnh thoảng vẫn tiếp tục có những cuộc kháng chiến nổi dậy, nhưng giáo phái Catharism đã bị tràn ngập. Các hoạt động quân sự đã chấm dứt vào năm 1255.

Thành công ban đầu 1209-1215

Đến giữa năm 1209 khoảng 10.000 quân Thập tự chinh đã tụ tập tại Lyon trước khi hành quân về phía nam. Trong tháng 6, Raymond của Toulouse đã nhìn thấy thảm họa trước mắt, cuối cùng đã hứa sẽ hành động chống lại người Cathar và các giới hạn nhắm vào ông đã được dỡ bỏ. Quân viễn chinh quay về phía vùng Montpellier và vùng đất của Raymond-Roger de Trenca.vel, nhằm vào các cộng đồng Cathar xung quanh lâu đài Albi và Carcassonne. cũng giống như Raymond của Toulouse, đã chào mời Raymond-Roger một vị trí trong quân viễn chinh, nhưng ông đã từ chối một cuộc họp và quay trở về để chuẩn bị phòng thủ lâu đài Carcassonne của mình.

Trong tháng 8 năm 1209 quân viễn chinh chiếm được ngôi làng nhỏ có tên là Servian và tiến tới Bézier vào ngày 21 tháng 7. Họ bao vây thành phố và kêu gọi người Công giáo sống ở bên trong đi ra ngoài và yêu cầu người Cathar đầu hàng. Cả hai nhóm người đều từ chối yêu cầu này. Thành phố đã thất thủ vào ngày hôm sau khi một cuộc phá vây thất bại bị đẩy lùi vào thành phố qua một cánh cổng thành mở sẵn. Dân cư của toàn thành phố đã bị tàn sát và thành phố bị đốt cháy đến tận móng. Các nguồn thông tin đưa ra ước tính về số người về số người bị giết dao động từ mười lăm đến mười sáu ngàn người. Đây cũng là con số mà Arnaud-Amaury-người thừa kế của giáo hoàng đã báo cáo với ông này. Tin tức về thảm họa nhanh chóng lan rộng và sau đó nhiều khu dân cư đầu hàng mà không có chiến đấu.

Mục tiêu quan trọng tiếp theo là Carcassonne. Thành phố đã được tăng cường, nhưng dễ bị tổn thương và đầy tràn người tị nạn. Quân viễn chinh xuất hiện trước ở thành phố vào ngày 01 tháng 8 năm 1209. Cuộc bao vây đã không kéo dài bởi vào ngày 07 tháng 8 họ đã cắt nguồn cung cấp nước của thành phố. Raymond-Roger đã tìm cách thương lượng nhưng lại bị bắt làm tù binh trong khi đang tiến hành một thỏa thuận ngừng bắn và lâu đài Carcasonne đã đầu hàng vào ngày 15. Người dân ở đó không bị tàn sát nhưng bị buộc phải rời khỏi lâu đài mà không được mặc quần áo-theo Peter của les Vaux-Cernay-de. Simon de Montfort lúc này lãnh đạo quân đội Thập tự chinh và được ( Giáo Hoàng ) ủy quyền kiểm soát vùng này bao gồm cả lâu đài Carcassonne, Albi và Béziers. Sau sự sụp đổ của lâu đài Carcassonne, các thị trấn khác đã đầu hàng mà không chiến đấu. Albi, Castelnaudary, Castres, Fanjeaux, Limoux, Lombers và Montréal-tất cả các thành phố đã thất thủ một cách nhanh chóng. Tuy nhiên, một số các thị trấn đã đầu hàng sau đó lại nổi loạn.

Các trận chiến tiếp theo tập trung vào Lastours và các lâu đài kế cận của Cabaret. Cuộc tấn công nổ ra trong tháng 12 năm 1209, Pierre-Roger de Cabaret đã đẩy lùi các cuộc tấn công. Phần lớn các cuộc xung đột đã ngừng lại vào mùa đông nhưng rồi lại có quân viễn chinh mới đến trong tháng ba năm 1210, Bram đã bị thất thủ sau một cuộc bao vây ngắn. Trong tháng 6 thành phố Minerv vốn được tăng cường tăng cường phòng thủ kiên cố đã bị bao vây. Nó phải chịu đựng một cuộc bắn phá nặng nề, nhưng rồi cũng bị triệt hạ vào cuối tháng 6 và vào ngày 22 tháng 7, thành phố đã đầu hàng. Những người Cathar đã được trao cơ hội để quay trở lại niềm tin Công giáo. Hầu hết trong số họ đã chấp nhận cải đạo, 140 người từ chối đã bị thiêu sống. Trong tháng 8 quân thập tự chinh tiến hành công phá thành lũy Termes. Bất chấp một cuộc phá vây được chỉ huy bởi Pierre-Roger de Cabaret, cuộc bao vây được tiến hành một cách kiên quyết và trong tháng 12 pháo đài đã thất thủ. Đó là chiến dịch cuối cùng của năm 1210.

Khi khi chiến dịch được khởi động trở lại năm 1211 Arnaud-Amaury và Simon de Montfort ( các thủ lĩnh Thập tự quân ) đã bị xa lánh bởi một số các lãnh chúa quan trọng, bao gồm Raymond de Toulouse-người đã bị rút phép thông công một lần nữa. Lực lượng quân viễn chinh trở lại Lastours vào tháng ba và Pierre-Roger de Cabaret ngay sau đó đồng ý đầu hàng. Trong tháng này lâu đài Aimery de Montréal đã thất thủ, ông (Pierre-Roger de Cabaret ) và các hiệp sĩ cao cấp của mình bị treo cổ và hàng trăm người Cathar đã bị thiêu sống. Cả hai lâu đài của Cassès và Montferrand đều dễ dàng thất thủ vào đầu tháng 6 và quân viễn chinh tiến tới Toulouse. Thành phố đã bị bao vây, nhưng khi này quân tấn công đã bị cạn nguồn cung cấp và nhân lực và vì vậy Simon de Montfort đã phải rút lui trước khi kết thúc. Được khuyến khích bởi cuộc rút quân này, Raymond de Toulouse đã dẫn đầu một đội quân tấn công vào Montfort ở Castelnaudary trong tháng Chín. Montfort đã phải dỡ bỏ hoàn toàn cuộc bao vây và thành phố Castelnaudary bị tái chiếm bởi lực lượng của Raymond cùng với hơn ba mươi thị trấn nữa trước khi cuộc phản công trên bộ bị chặn lại ở Lastours vào mùa thu. Vào năm sau nhiều tỉnh ở vùng Toulouse đã bị chiếm bởi lực lượng của người Công giáo.

Năm 1213, quân đội do vua Peter II của Aragon-vua của vùng Catalonia, xuất hiện để chi viện cho Toulouse. Lực lượng này tiến hành bao vây lâu đài Muret, nhưng vào tháng 9 một cuộc tấn công bất ngờ từ lâu đài đã giết chết vua Peter và quân đội của ông đã bỏ chạy. Đó là một cú đánh nghiêm trọng vào lực lượng chống đối và vào năm 1214 tình hình còn trở nên tồi tệ hơn: Raymond đã buộc phải chạy trốn sang Anh và vùng đất của ông đã được Đức Giáo Hoàng giao cho Philippe II-người chiến thắng, một âm mưu của nhà vua Pháp cuối cùng đã thành công trong cuộc xung đột. Vào tháng 11 vị bá tước hiếu chiến Simon de Montfort tiến vào Périgord và dễ dàng chiếm được lâu đài Domme và Montfort, ông cũng đã chiếm được Castlenaud và phá hủy các công sự của pháo đài Beynac. Năm 1215, Castelnaud lại được chiếm lại bởi Montfort khi quân Thập tự chinh tiến vào Toulouse. Toulouse đã nằm dưới quyền kiểm soát của Montfort. Trong tháng 4 năm 1216 ông đã nhượng lại vùng đất của mình cho Philippe.

 

Cuộc nổi dậy và thế đảo ngược năm 1216-1225

Tuy nhiên Raymond cùng với con trai ông ta quay trở lại vùng nay trong tháng 4 năm 1216 và ngay lập tức gây dựng được một lực lượng đáng kể từ các thị trấn đang bất mãn. Beaucaire bị bao vây vào tháng Năm và thất thủ sau một cuộc bao vây kéo dài ba tháng, những nỗ lực của Montfort để chiếm lại thành phố đã bị đẩy lùi. Sau đó Montfort đã có những nỗ lực dập tắt một cuộc nổi dậy ở Toulouse trước khi hành quân về phía Tây để chiếm giữ Bigorre, nhưng ông đã bị đẩy lùi ở Lourdes trong tháng 12 năm 1216. Trong tháng 9 năm 1217, trong khi Montfort đóng quân ở vùng Foix, Raymond đã tái chiếm Toulouse. Montfort đã phải vội vã quay trở lại, nhưng lực lượng của ông đã không đủ để tái chiếm thành phố trước khi chiến dịch tạm ngừng. Montfort kéo dài cuộc bao vây vào mùa xuân năm 1218. Trong khi cố gắng để chống đỡ một cuộc xung phong ra ngoài của lực lượng bảo vệ thành phố, Montfort bị bắn trúng và bị giết chết bởi một viên đạn bằng đá bắng ra từ các thiết bị phòng thủ ( pháo binh thời đó ). Các tài liệu thời đó ghi lại rằng pháo binh của thành phố này được vận hành bởi những người phụ nữ và trẻ em của Toulouse.Giáo Hoàng Innocent III đã qua đời trong tháng 7 năm 1216 và lúc này Montfort cũng đã chết, quân thập tự chinh còn lại ở trong tình trạng tạm thời lộn xộn. Chức vụ tổng chỉ huy của quân Thập tự chinh được giao cho Philippe II-người thận trọng hơn Montfort nhiều, ông này ( cũng là vua nước Pháp ) đã có nhiều quan tâm hơn về Toulouse so với dân dị giáo ( ý nói là cụ này máu về mặt bất động sản hơn lo cải đạo dân chúng). Quân Thập tự chinh đã chiếm Belcaire và bao vây Marmande vào cuối năm 1218 dưới sự chỉ huy của Amaury de Montfort, con trai nhỏ tuổi của Simon. Trong khi Marmande đã thất thủ vào ngày 03 tháng 6 năm 1219, nỗ lực để chiếm lại Toulouse đã không thành công và một số vị trí khác bị chiếm bởi người của Montfort cũng mất dần. Năm 1220, Castelnaudary được tái chiếm từ tay Montfort ( con ). Ông này tái triển khai bao vây thành phố trong tháng 7 năm 1220, nhưng nó chỉ chịu được một cuộc bao vây 8 tháng. Năm 1221, Raymond và con trai của ông tiếp tục gặt hái thành công: Montréal và Fanjeaux đã được tái chiếm và nhiều người Công giáo bị buộc phải bỏ chạy. Năm 1222, Raymond chết và được kế vị bởi con trai ông cũng tên là Raymond. Năm 1223, Philippe II qua đời và được kế tục bởi Louis VIII. Năm 1224, Amaury de Montfort bỏ Carcassonne. Các con trai của Raymond-Roger de Tren trở về từ nơi lưu vong để đòi lại vùng này. Montfort chuyển giao yêu cầu đòi sở hũu của mình đến các vùng đất thuôc Languedoc cho Louis VIII người nhận chức Tổng tư lệnh quân thập tự chinh.Hoàng gia Pháp can thiệpTrong tháng 11 năm 1225, tại một cuộc họp của Hội đồng Bourges, Raymond-cũng như cha của mình đã bị tuyệt thông. Hội đồng đã tập trung hơn một ngàn cha cố để ra một đạo luật thuế thu nhập hàng năm -“Albegensian thứ mười”, để hỗ trợ cho cuộc Thập tự chinh, mặc dù các cải cách các lâu dài dùng để tài trợ cho các chiến dịch của giáo hoàng đã vĩnh viễn chìm nghỉm. Louis VIII làm thủ lĩnh của cuộc thập tự chinh mới vào khu vực này trong tháng 6 năm 1226. Thị trấn đã được tăng cường và lâu đài đã đầu hàng mà không có kháng cự. Tuy nhiên, vùng Avignon, dưới sự cai trị của hoàng đế Đức, đã chống cự và quân Thập tự chinh đã phải tiến hành một cuộc bao vây ba tháng để bắt thành phố phải đầu hàng vào tháng Chín. Louis VIII đã chết trong tháng 11 và được kế tục bởi vua Louis IX-con trai ông ta. Nhưng nữ hoàng nhiếp chính Blanche của Castile cho phép cuộc thánh chiến vẫn tiếp tục dưới sự chỉ huy của Humbert de Beaujeu. Labécède thất thủ vào năm 1227 và Vareilles và Toulouse trong năm 1228. Tuy nhiên, Queen Blanche đã ký với Raymond một hiệp ước: công nhận ông là lãnh đạo của Toulouse để đổi lấy việc ông này chiến đấu với người Cathar, trả lại tất cả tài sản cho Giáo Hội, quay về lâu đài của mình và phá hủy các công trình phòng thủ Toulouse. Hơn nữa, Jeanne-cháu gái của Raymond đã kết hôn với con gái của Louis Alphonse, cặp vợ chồng và con cháu của họ sẽ được thừa kế Toulouse sau cái chết của Raymond, và quyền thừa kế sẽ được chuyển lại cho nhà vua trong trường hợp họ không có con cái. Raymond đã đồng ý và thực sự ký kết hiệp ước tại Meaux trong tháng 4 năm 1229. Sau đó ông bị bắt giữ, đánh đập và cầm tù trong một thời gian ngắn.

Tòa án dị giáo

Lúc này vùng Languedoc đã nằm dưới sự kiểm soát một cách chắc chắn của nhà vua Pháp. Tòa án dị giáo được thành lập tại Toulouse trong tháng 11 năm 1229, và quá trình ridding diện tích Cathar niềm tin và đầu tư mạnh của nó còn lại bắt đầu. Theo Đức Giáo Hoàng Gregory IX Toà án dị giáo đã được trao quyền lực lớn để đàn áp dị giáo. Trái với truyền thuyết phổ biến, Toà án dị giáo tiến hành chủ yếu bằng phương tiện thuyết phục điều tra pháp lý và hòa giải. thủ tục tư pháp đã được sử dụng và mặc dù các bị cáo không được phép biết tên của những người tố cáo họ, họ đã được cho phép để mở một phòng. Đại đa số bị kết tội dị giáo đã phải chịu những hình phạt nhẹ. 11 % số người phạm tội dị giáo bị tống vào nhà tù. Chỉ có khoảng 1 % những người theo niềm tin Cathar ngoan cố nhất và tái phạm đã bị giao cho chính quyền thế tục để đối mặt với bản án thiêu sống. Tuy nhiên một số những xác chết đã bị khai quật để thiêu cháy. Nhiều người vẫn còn chống cự, họ dựa vào các pháo đài tại Fenouillèdes và Montségur làm căn cứ, hoặc kích động các cuộc nổi dậy nhỏ. Năm 1235, Toà án dị giáo bị buộc phải ra khỏi Albi, Narbonne và Toulouse. Raymond-Roger de Trenca.vel đã dẫn đầu một chiến dịch quân sự năm 1240, nhưng ông đã bị đánh bại tại Carcassonne vào tháng 10, sau đó bị bao vây tại Montréal. Ông đã sớm đầu hàng và bị lưu đày đến Aragon. Năm 1242, Raymond của Toulouse đã cố gắng phát động một cuộc nổi dậy kết hợp với một cuộc xâm lược của người Anh, nhưng người Anh đã nhanh chóng bị đẩy lui và những người ủng hộ ông đã tan rã. Sau đó ông sau đó đã được sự ân xá của nhà vua.Các thành lũy của người Cathar đã bị thất thủ từng chiếc một. Pháo đài Montségur phải chịu đựng một cuộc bao vây kéo dài chín tháng trước khi nó bị thất thủ tháng 3 năm 1244. Chiếc pháo đài nhỏ tại Quéribus là căn cứ cuối cùng, nó đã nhanh chóng thất thủ vào tháng 8 năm 1255. Người cuối cùng bị hỏa thiêu vì niềm tin Cathar ở Corbières, ngày nay thuộc Thụy Sĩ trong năm 1321.

 

Cuộc Thập tự chinh lần thứ năm

Cuộc Thập tự chinh lần thứ năm (1213-1221) là một cố gắng nhằm giành lại Jerusalem và phần còn lại của Đất Thánh bằng cách chinh phạt Triều đình Ayyubid hùng mạnh của vương quốc Ai Cập.

Giáo hoàng Innocent III và người kế nhiệm của ông-Đức Giáo Hoàng Honorius III đã đứng ra tổ chức một đội quân thập tự chinh do vua Andrew II của Hungary và Công tước Leopold VI của Áo, và một bước đột phá so với Jerusalem cuối cùng rời thành phố trong tay người Hồi giáo. Sau đó trong 1218, một quân đội Đức do Oliver của Cologne, và quân đội hỗn hợp của người Hà Lan, Flemish và Frisco nằm dưới sự chỉ huy của William I, Bá tước của Hà Lan đã tham gia vào cuộc thập tự chinh. Để tấn công vào vùng Damietta ở Ai Cập, họ đã liên minh với Vương quốc Hồi giáo Rum của người Seljuk ở vùng Anatolia để tấn công các thành trì của triều Ayyubids tại Syria trong một nỗ lực để giải phóng quân Thập tự chinh khỏi việc phải chiến đấu trên hai mặt trận.

Sau khi chiếm được bến cảng Damietta, Quân Thập tự chinh đã hành quân về phía nam-phía Cairo vào tháng 7 năm 1221, nhưng họ đã phải quay trở lại sau khi nguồn cung cấp của họ bị cạn kiệt và sự kiện này đã dẫn đến một thất bại. Một cuộc tấn công vào ban đêm của Sultan Al-Kamil đã dẫn đến một số lượng lớn quân thập tự chinh thiệt mạng và cuối cùng thì toàn bộ quân đội đã phải đầu hàng. Al-Kamil đã đồng ý ký một thỏa thuận hòa bình tám năm với Châu Âu.

Pháp

Thông điệp về chiến dịch Thập tự chinh mới của Giáo hoàng đã được thuyết giảng tại Pháp bởi Robert của Courçon, Tuy nhiên, không giống như các cuộc thập tự chinh khác, không có nhiều hiệp sĩ Pháp tham gia bởi vì họ đang bận tham chiến ở cuộc Thập tự chinh Albegensian để chống lại dị giáo giáo phái Cathar ở miền nam nước Pháp.Năm 1215 Đức Giáo Hoàng Innocent III triệu tập Hội đồng Lateran lần thứ tư, Ở đây cùng với Giáo trưởng Latinh của Jerusalem-Raoul của Merencourt, Ông thảo luận về công cuộc khôi phục Đất Thánh với các quan chức khác của nhà thờ. Giáo hoàng Innocent muốn cuộc Thập tự chinh này phải được lãnh đạo trực tiếp bởi chính chức danh Giáo hoàng như là ở cuộc Thập tự chinh đầu tiên để tránh những sai lầm của cuộc Thập tự chinh lần thứ tư vốn đã được tiến hành bởi người Venice. Giáo hoàng Innocent lên kế hoạch để quân Thập tự chinh tập trung tại Brindisi trong năm 1216, và với người với người Hồi giáo bị cấm để đảm bảo rằng quân Thập tự chinh có đủ tàu và vũ khí. Mỗi thập tự quân sẽ nhận được một Ân xá, bao gồm cả những người chỉ đơn giản là giúp chi trả các chi phí của cuộc thập tự chinh bất chấp việc bản thân họ lại ngồi nhà.

Hungary và Đức

Oliver của Cologne đã rao giảng về một cuộc thánh chiến tại Đức, và Hoàng đế Frederick II đã cố gắng tham gia vào năm 1215. Frederick là vị vua cuối cùng mà Innocent muốn tham gia bởi vì ông này đã thách thức Chức vị của Giáo hoàng (Và ông ta vẫn còn làm như vậy trong những năm sau đó). Tuy nhiên Giáo Hoàng Innocent đã qua đời vào năm 1216. Ông đã được kế tục bởi Đức Giáo Hoàng Honorius III, người đã cấm Frederick tham gia và đội quân thập tự chinh được tổ chức bởi Andrew II-vua của Hungary và công tước Leopold VI của Áo. Andrew có một đội quân Hoàng gia lớn nhất trong lịch sử của những cuộc thánh chiến (20.000 hiệp sĩ và 12.000 lính đồn trú trong các lâu đài).

Quá trình chiến dịch

Tại Jerusalem

Andrew và quân đội của ông ta đã lên tầu vào ngày 23 tháng 8 năm 1217 ở Spalato. Họ đổ bộ lên đảo Cyprus vào ngày 9 tháng 10 ngày từ đó họ đi thuyền đến Acre và đươc tham gia bởi John của Brienne, người đang cai trị Vương quốc Jerusalem ( nhưng thực ra chỉ có Acre và các vùng lân cận ), Hugh I của Cyprus và Hoàng tử Bohemund IV của Antioch tham gia chiến đấu chống lại Triều Ayyubid ở Syria.

Tại Jerusalem, các bức tường và công sự của thành phố đã bị phá hủy để ngăn chặn việc người Kitô giáo có thể bảo vệ thành phố nếu họ chiếm được nó. Người Hồi giáo đã chạy trốn khỏi thành phố vì sợ rằng sẽ lặp lại một cuộc tắm máu như ở cuộc Thập tự chinh đầu tiên năm 1099.

Quân đội gồm một số lượng đông đảo các kỵ binh chất lượng cao của vua Andrew đã đánh bại sultan Al-Adil I của Ai Cập tại Bethsaida trên Sông Jordan vào ngày 10 tháng 11 năm 1217. Lực lượng Hồi giáo rút lui vào pháo đài và thị trấn của họ. Các máy bắn đá đã không được chuyển đến trong thời gian này, do đó ông đã tấn công một cách không hiệu quả vào các pháo đài ở Lebanon và Núi Tabor. Sau đó Andrew đã dành thời gian để thu thập thánh tích.

Andrew và quân đội của ông quay về Hungary vào tháng 2 năm 1218 và Bohemund cùng với Hugh cũng trở về nhà.

Liên minh với Vương quốc Hồi giáo Rum

Sau đó trong năm 1218 Oliver của Cologne đã đến với một đội quân Đức mới và Bá tước William I của Hà Lan cũng kéo đến với một đội quân hỗn hợp gồm các binh lính người Hà Lan, Flemish và Frisco. Leopold và John bàn bạc rằng họ nên tấn công Damietta ở Ai Cập. Để thực hiện cuộc tấn công này, họ đã liên minh với Keykavus I-vua của người Turk Seljuq ở vùng Anatolia, họ sẽ tấn công vào lãnh thổ của Triều Ayyubids tại Syria trong một nỗ lực để quân Thập tự chinh được rảnh tay và không phải chiến đấu cùng một lúc trên hai mặt trận.

Tại Ai Cập

Trong tháng 6 năm 1218 quân Thập tự chinh bắt đầu bao vây Damietta và bất chấp quốc vương Hồi giáo Al-Adil đã chuẩn bị kháng cự rất tốt, toà tháp bên ngoài thành phố đã bị chiếm vào ngày 25. Nhưng rồi họ cũng không thể chiếm được thành phố Damietta và trong tháng sau đó bệnh dịch bùng phát đã giết chết rất nhiều người trong số các Thập tự quân, bao gồm cả Robert của Courcon. Al-Adil cũng qua đời và được kế thừa bởi Al-Kamil. Trong khi đó, Honorius III gửi Pelagius của Albano dẫn đầu một đội quân thập tự chinh vào năm 1219. Al-Kamil đã cố gắng thương lượng hòa bình với quân Thập tự chinh. Ông muốn đánh đổi Damietta lấy Jerusalem, nhưng Pelagius đã không chấp nhận cuộc thương lượng này. Sau khi nghe tin Bá tước William I của Hà Lan rời khỏi đội ngũ quân thập tự chinh và khởi hành về nhà. Vào tháng 8 hoặc tháng 9, Francis of Assisi đến trại thập tự chinh và vượt sang để giảng đạo cho Al-Kamil. Trước đó, quân Thập tự chinh đã tiêu hao được lực lượng của quốc vương Hồi giáo và cuối cùng họ đã chiếm được bến cảng.

Ngay lập tức, giáo hoàng và các giáo sỹ thế tục đã tranh nhau quyền kiểm soát thành phố, và John của Brienne tuyên bố nó cho mình vào năm 1220. Pelagius đã không chấp nhận điều này và John trở về Acre năm sau đó. Pelagius hy vọng Frederick II sẽ đến với một đội quân mới, nhưng ông này đã không bao giờ, thay vào đó sau một năm không có hoạt động quân sự nào ở cả Syria và Ai Cập, John của Brienne đã quay trở lại và quân Thập tự chinh lại tiếp tục hành quân về phía nam-hướng về Cairo vào tháng 7 năm 1221. Cuộc hành quân này đã bị quan sát bởi lực lượng của Al-Kamil và các cuộc tấn công thường xuyên vào cạnh sườn của quân Thập tự chinh đã dẫn đến việc 2000 lính Đức đã từ chối tiếp tục tiến về phía trước và rút về Damietta.

Thế là vào lúc này Al-Kamil đã có đồng minh là nhà Ayyubid khác ở Syria, người đã đánh bại Keykavus I ( vua Thổ-đồng minh của quân Thập tự chinh ). Quân Thập tự chinh hành quân đến Cairo đã bị gặp phải thảm họa, dòng sông Nile bị ngập nước ở phía trước và chặn đứng bước tiến quân của quân thập tự chinh. Một con kênh cạn nước mà quân Thập tự chinh đã vượt qua trước đó lúc này lại bị ngập lụt, do đó đã ngăn chặn mất đường rút lui của quân thập tự chinh. Với việc nguồn cung cấp hậu cần bị cạn kiệt, họ đã bị buộc phải bắt đầu rút lui, đỉnh điểm là cuộc tấn công vào ban đêm của Al-Kamil đã làm cho một số lượng lớn quân thập tự chinh bị tổn thất và cuối cùng quân đội dưới sự thống lĩnh của Pelagius đã phải đầu hàng.

Hậu quả

Điều kiện đầu hàng có nghĩa là phải trả lại thành phố cảng Damietta cho Al-Kamil để đổi lấy việc phóng thích quân Thập tự chinh. Al-Kamil đã đồng ý ký một thỏa thuận hòa bình tám năm với người Châu Âu và trả lại một phần của thập tự True Cross. Tuy nhiên, không bao giờ Al-Kamil giao trả cây thập tự này vì trên thực tế ông ta không có nó.

Cuộc Thập tự chinh lần thứ sáu

Cuộc Thập tự chinh lần thứ sáu bắt đầu từ năm 1228 như một nỗ lực để chiếm lại Jerusalem. Nó bắt đầu bảy năm sau thất bại của Cuộc Thập tự chinh lần thứ năm. Thực tế thì có rất ít chiến sự xảy ra trong cuộc Thập tự chinh này và theo một số nguồn thì nó không được coi như là một cuộc thập tự chinh; mà họ cho rằng ” cuộc Thập tự chinh lần thứ sáu ” là nỗ lực tại Damietta của Louis IX, hai thập kỷ sau đó. Tuy nhiên, chiến dịch về ngoại giao của Frederick đã dẫn đến việc Vương quốc Jerusalem tạm thời giành lại kiểm soát vùng Jerusalem và các vùng đất nhỏ khác ở vùng Đất Thánh.

Frederick II và các Giáo hoàngFrederick II-Hoàng đế La Mã Thần thánh, đã tham gia sâu rộng trong Cuộc Thập tự chinh lần thứ năm, ông đã gửi quân đội của mình từ nước Đức, nhưng ông đã không trực tiếp đi cùng với họ, bất chấp sự khuyến khích của Giáo hoàng Honorius III và sau đó Gregory IX, vì ông ta thấy cần thiết phải củng cố vị trí của mình ở Đức và Ý trước khi bắt tay vào một chiến dịch mới. Tuy nhiên, Frederick lại hứa hẹn một lần nữa là sẽ tham gia vào một cuộc thập tự chinh sau khi ông được đăng quang làm hoàng đế vảo năm 1220 bởi Đức Giáo Hoàng Honorius III.

Năm 1225 Frederick kết hôn Yolande của Jerusalem (Còn được gọi là Isabella), con gái của John của Brienne, nhà cai trị trên danh nghĩa của Vương quốc Jerusalem với và Maria của Montferrat. Frederick lúc này có một lý do để tuyên bố sở hữu vương quốc cố gắng để khôi phục lại nó. Năm 1227, sau khi Gregory IX trở thành Đức Giáo Hoàng, Frederick và quân đội của ông khởi hành bằng đường thủy từ Brindisi, Italy đến Acre (đây là thủ đô của Vương quốc Jerusalem bị thu nhỏ), nhưng bệnh dịch đã buộc Frederick phải quay trở về Italy. Gregory đã lợi dụng cơ hội này để rút phép thông công Frederick-vì ông này đã vi phạm lời thề thập tự chinh của mình, mặc dù điều này chỉ là một cái cớ, lý do chính là vì Frederick đã cố gắng củng cố quyền lực của Đế quốc ở Italia trong nhiều năm và có những cố gắng để làm mất uy tín của Giáo hoàng ( xung đột giữa Hoàng đế La Mã thánh thần ( người Đức ) và Giáo hoàng (thuộc phe thân pháp).

Gregory công bố rằng lý do của việc rút phép thông công là bởi vì Frederick đã miễn cưỡng ra nhập vào cuộc thập tự chinh, kể từ cuộc cuộc Thập tự chinh lần thứ năm. Frederick đã cố gắng thương lượng với Đức Giáo Hoàng, nhưng cuối cùng ông này đã quyết định bỏ qua Giáo hoàng và khởi hành đi đến Syria trong năm 1228 bất chấp lệnh rút phép thông công này, rồi ông đến Acre trong tháng Chín.

Cuộc Thập tự chinhThay vì đi thẳng đến vùng Đất Thánh, đầu tiên Frederick khởi hành đến Cyprus, vốn đã là một thái ấp của Đế quốc từ khi nó bị Richard Lionheart chiếm trên đường tới Acre trong cuộc Thập tự chinh lần thứ ba. Vị hoàng đế đến với ý định rõ ràng về sự kiểm soát của ông đối với vương quốc này, nhưng ông đã được đối xử một cách thân thiện bởi các quý tộc Kitô giaó địa phương cho đến khi một phát sinh giữa tranh chấp ông và John của Ibelin- vị nhiếp chính của đảo Síp,. Frederick nói rằng nhiếp chính của ông là bất hợp pháp và yêu cầu John trả lại Beirut-đất liền kề thái ấp của John cho hoàng đế. Tuy nhiên, ông đã sai lầm, và John đã chỉ ra rằng hai vương quốc Cyprus và Jerusalem có sự riêng biệt về mặt luật pháp và ông không thể bị trừng phạt bởi tội ở Cyprus bằng cách chiếm giữ Beirut. Sự kiện này đã tạo ra một hậu quả quan trọng cho cuộc thập tự chinh bởi vì nó đã bị xa lánh bởi phe phái Ibelin hùng mạnh và thậm chí còn làm cho họ chống đối lại hoàng đế.

Acre, là thủ đô trên danh nghĩa của Vương quốc Jerusalem và địa điểm mà Giáo trưởng Latinh sống và làm việc, và nó đã bị chia rẽ thành một nửa ủng hộ Frederick. Quân đội riêng của Frederick và các Hiệp sỹ Teutonic ủng hộ ông ta, nhưng Giáo trưởng Gerald của Lausanne (và các giáo sĩ) lại ủng hộ thái độ thù địch của Giáo hoàng. Khi tin tức về việc rút phép thông công của Frederick được lan tỏa đến đây thì sự hỗ trợ cho ông đã bị suy giảm đáng kể. Vị thế của các hiệp sỹ Hospitaller và Templar trở nên phức tạp hơn, mặc dù họ từ chối tham gia vào quân đội của hoàng đế một cách trực tiếp, họ hỗ trợ cuộc thập tự chinh này nếu Frederick đồng ý loại tên mình ra khỏi danh sách chính thức những người chỉ huy cuộc Thập tự chinh. Ban đầu các quý tộc bản địa nhiệt tình chào đón Frederick, nhưng sau đó họ đã thận trọng vì vị hoàng đế này dường mong muốn áp đặt quyền lực của mình lên triều đình của họ. Sự kiện này phần lớn được thể hiện qua cách đối xử của Frederick với John của Ibelin tại đảo Síp và thái độ khinh bỉ rõ ràng của ông đối với luật pháp địa phương ( luật pháp của các thành bang Thập tự chinh tại vùng Đất Thánh).

Thậm chí ngay khi quân Thập tự chinh mới lên tàu, lực lượng của Frederick chỉ còn là một cái bóng của một đội quân được kêu gọi cho cuộc Thập tự chin này. Ông nhận ra rằng hy vọng duy nhất của ông về sự thành công ở vùng Đất Thánh là phải tìm cách thương lượng để thu hồi lại Jerusalem bởi vì ông ta không đủ nhân lực để chiến đấu với đế quốc Ayyubid trong một trận chiến mở. Frederick hy vọng rằng một cuộc biểu dương lực lượng, một đe dọa sự đe dọa về cuộc hành quân về vùng duyên hải sẽ là đủ để thuyết phục Kamil al-vị sultan của Ai Cập, và bắt ông này phải tuân theo một thỏa thuận đã được đàm phán một vài năm trước đó, trước khi xảy ra cái chết của al-Muazzam-Thống đốc Damascus. Nhà vua Ai Cập lúc này đang bận đàn áp lực lượng nổi loạn tại Syria, đã đồng ý nhượng lại Jerusalem cho người Frank cùng với một hành lang hẹp đến bờ biển.

Ngoài ra, Frederick cũng nhận được Nazareth, Sidon, Jaffa và Bethlehem. Các lãnh chúa khác cũng có cơ hội để quay trở lại trong sự kiểm soát của Kitô giáo, nhưng họ đã từ chối. Tuy nhiên một điều khoản thỏa hiệp của hiệp ước, người Hồi giáo vẫn được giữ lại kiểm soát khu vực Núi Đền của Jerusalem, nhà thờ Hồi giáo al-Aqsa và nhà thờ bằng đá của người Hồi giáo. Các lâu đài ở Jordan vẫn nằm trong tay của triều đình Ayyubid và theo nguồn tài liệu Ả Rập thì Frederick đã không được phép khôi phục lại các công sự của Jerusalem. Hiệp ước được hoàn tất vào ngày 18 tháng 2 năm 1229 và nó đã tạo ra một cuộc ngưng bắn trong mười năm.

Frederick tiến vào Jerusalem vào ngày 17 tháng 3 năm 1229, và tham dự một buổi lễ đội vương miện vào ngày hôm sau. Người ta không được rõ rằng liệu ông có dự định chọn ngày này để làm lễ đăng quang chính thức cho mình như là vua của Jerusalem hay không, trong bất kỳ trường hợp nào thì sự vắng mặt của giáo trưởng Gerald đã chứng tỏ rằng nó ( buổi lễ đăng quang ) có vấn đề. Có bằng chứng cho thấy rằng chiếc vương miện mà Frederick đã đeo thực sự là một vương miện của đế vương, nhưng trong mọi trường hợp tuyên bố của ông về việc sở hữu Jerusalem là một hành động khiêu khích. Về mặt pháp lý, ông thực sự chỉ là nhiếp chính của Conrad II của Jerusalem-con trai ông, đây là người con duy nhất của Yolande và cũng là cháu trai của Maria xứ Montferrat và John xứ Brienne, cậu bé đã được sinh ra ngay trước khi Frederick bắt đầu cuộc Thập tự chinh trong năm 1228.

Cuộc Thập tự chinh lần thứ bảy

Cuộc Thập tự chinh lần thứ bảy là một chiến dịch được lãnh đạo bởi Louis IX của Pháp từ năm 1248-1254. Khoảng 800.000 đồng bezant đã được trả như là tiền chuộc cho vua Louis cùng với hàng ngàn binh lính của ông, những người bị đánh bại và bị bắt làm tù binh bởi quân đội Ai Cập do Quốc vương Ayyubid Turanshah cùng với sự hỗ trợ của đội quân Mamluk Bahariyya được chỉ huyh bởi Faris ad-Din Aktai, Baibars al-Bunduqdari, Qutuz, Aybak và Qalawun.

Bối cảnh

Năm 1244, người Khwarezmians, lúc này bị buộc phải di cư bởi các cuộc tiến công của người Mông Cổ, đã chiếm Jerusalem sau khi kết đồng minh với người Mamluk Ai Cập. Sự kiện này đã chuyển giao Jerusalem sang cho sự kiểm soát của người Hồi giáo, nhưng việc Jerusalem sụp đổ không còn là một sự kiện rung chuyển thế giới Kitô giáo Châu Âu, những người đã quá quen với cảnh thành phố bị chuyển quyền kiểm soát nhiều lần từ tay người Thiên chúa giáo sang người Hồi giáo và ngược lại trong hai thế kỷ qua. Trong thời gian này, mặc dù có nhiều lời kêu gọi từ các Giáo hoàng, đã không còn sự nhiệt tình rộng rãi cho một cuộc thập tự chinh mới.

Giáo hoàng Innocent IV và Frederick II-Hoàng đế La Mã Thần thánh tiếp tục cuộc chiến đấu giữa giáo hoàng-hoàng đế. Frederick đã cho bắt giữ và giam cầm rất nhiều giáo sĩ trong khi họ đến Hội đồng đầu tiên của Lyon, và trong năm 1245 ông đã chính thức bị hạ bệ bởi Innocent IV. Trước đó Đức Giáo Hoàng Gregory IX cũng đã mời chào cho bá tước Robert của Artois-em trai vua Louis ngôi vua của nước Đức, nhưng Louis đã từ chối. Do đó, Hoàng đế La Mã Thần thánh không còn vị thế trong cuộc Thánh chiến. Henry III của Anh vẫn còn tranh giành với Simon de Montfort về các vấn đề ở Anh quốc. Henry và Louis đã không có được sự nhất trí trong cuộc tranh chấp giữa hai giòng họ Capetian-Plantagenet và trong khi nhà vua Louis tiến hành cuộc thập tự chinh ông đã ký một thỏa thuận ngừng bắn để bắt người Anh hứa hẹn không tấn công vào vùng đất Pháp. Louis IX cũng đã mời vua Haakon IV của Na Uy tham gia vào cuộc thập tự chinh này, và gửi sử gia Matthew Paris làm sứ giả, nhưng một lần nữa ông này đã không thành công. Chỉ có một người duy nhất quan tâm đến việc lãnh đạo một cuộc thập tự chinh do đó là Louis IX, người đã tuyên bố ý định của mình về một cuộc viễn chinh ở phương Đông trong năm 1245.

Chiến đấuPháp có lẽ là nhà nước mạnh nhất ở châu Âu vào thời điểm đó, bởi vì cuộc Thập tự chinh Albegensian đã mang vùng Provence vào sự kiểm soát của Paris. Vùng Poitou cũng nằm dưới sự cai trị của Alphonse de Poitiers-em trai của Louis IX, người gia nhập cuộc Thập tự chinh của ông trong năm 1245. Charles I của Anjou-một người anh em khác của ông cũng đã tham gia cùng với Louis. Trong ba năm Louis thu thuế thập phân của giáo hội, và năm 1248 ông có một đội quân hùng hậu gồm khoảng 15.000 người trong đó có 3.000 hiệp sĩ và 5.000 lính bắn nỏ đi trên 36 chiếc tàu từ hải cảng Aigues-Mortes, vốn được xây dựng để chuẩn bị cho cuộc thập tự chinh này và từ Marseille. Bộ máy tài chính của Louis IX chuyến chinh phạt này được tổ chức tương đối tốt và ông đã có thể huy động khoảng 1.500.000 Livre. Tuy nhiên, nhiều quý tộc tham gia vào cuộc thập tự chinh này cùng với Louis đã phải vay tiền từ ngân khố Hoàng gia và cuộc thập tự chinh lại trở nên là rất tốn kém.

Đầu tiên họ khởi hành đến Cyprus và trú đông trên hòn đảo này, sau khi đàm phán với một số cường quốc khác nữa ở phía đông, đế quốc La-tinh-vốn được thiết lập sau cuộc Thập tự chinh lần thứ tư yêu cầu giúp đỡ để chống lại Đế quốc Nicaea của người Byzantine, và Công quốc Antioch cùng với các Hiệp sĩ Templar muốn nhận được sự giúp đỡ tại Syria, nơi mà lúc này người Hồi giáo đã chiếm Sidon.

Tuy nhiên, Louis IX cho rằng Ai Cập mới là đối tượng của cuộc thập tự chinh của mình, và vào năm 1249 ông đã đổ bộ xuống Damietta trên bờ sông Nile-Ai Cập, Louis cho rằng địa điểm này sẽ tạo ra được một căn cứ để từ đó có thể tấn công Jerusalem, và sự giàu có cũng như kho ngũ cốc đầy ắp của nó sẽ cung cấp đủ trang bị và lương thực cho quân Thập tự chinh.

Ngày 6 tháng 6 Damietta đã bị chiếm chỉ với vài sự kháng cự nhỏ của người Ai Cập-họ đã rút lên thượng nguồn sông Nile. Lũ lụt của sông Nile đã không được đưa vào các tài liệu ghi chép, tuy nhiên nó đã giam chân Louis và quân đội của ông tại Damietta trong sáu tháng, nơi mà các hiệp sĩ đã ngồi và thưởng thức những chiến lợi phẩm của cuộc chiến. Louis đã bất chấp thoả thuận trong Cuộc Thập tự chinh lần thứ năm rằng Damietta phải được trao cho Vương quốc Jerusalem, lúc này chỉ còn là một vương quốc bị cắt xẻo nhằng nhịt ở xung quanh Acre, mà ông đã thiết lập một địa hạt có tổng giáo chủ (dưới quyền của Giáo trưởng Latin của Jerusalem) và sử dụng thành phố như là một căn cứ chỉ huy các hoạt động quân sự chống lại người Hồi giáo ở Syria. Sử gia Hồi giáo al-Maqrizi ở thế kỷ thứ mười lăm miêu tả Louis IX đã gửi một bức thư cho Salih Ayyub và viết rằng:

Như ngài đã biết, tôi là người cai trị của quốc gia Kitô giáo và tôi cũng biết ngài là người cai trị của quốc gia Muhammadan. Người dân vùng Andalusia đãcho chúng tôi tiền và quà tặng trong khi chúng tôi họ đi như những đàn gia súc. Chúng tôi đã giết chết những người đàn ông của họ và biến những phụ nữ của họ thành góa phụ. Chúng tôi đã bắt con trai và con gái của họ thành tù nhân và chúng tôi đã cướp sạch nhà của họ. Tôi đã nói với đủ với ngài và tôi khuyên ngài rằng, bây giờ nếu ngài chấp nhận một lời thề cao nhất với tôi và nếu ngài đi đến chỗ các vị linh mục Thiên chúa giáo và các tu sĩ và nếu ngài thể hiện sự tử tế trước mắt tôi như là một dấu hiệu của sự tuân theo cây thánh giá, tất cả này sẽ ngăn chặn tôi đến chỗ ngài và giết chết ngài ngay tại chỗ thân yêu nhất của ngài trên quả đất này. Và nếu như vậy thì vùng đất này sẽ là của tôi và đó sẽ là một món quà cho tôi. Nếu vùng đất này sẽ là của ngài trong trường hợp ngài đánh bại tôi sau đó ngài sẽ có thế thượng phong. Tôi đã nói với ngài và tôi đã cảnh báo ngài rằng binh sĩ của tôi sẽ tuân theo mệnh lệnh của tôi. Họ sẽ tiến qua các cánh đồng rộng mở và các ngọn núi, số lượng của họ là không thể đếm xuể. Họ sẽ được gửi đến chỗ ngài như thanh kiếm hủy diệt.

Trong tháng 11, Louis đã hành quân tới Cairo, và gần như cùng lúc đó as-Salih Ayyub-vị sultan của triều Ayyubid của Ai Cập qua đời. Một lực lượng do Robert của Artois chỉ huy và các Hiệp sỹ Templar tấn công vào doanh trại của quân Ai Cập tại Gideila và tiến đến Al Mansurah-nơi họ bị đánh bại tại Trận Al Mansurah và Robert đã bị giết chết. Trong khi đó, lực lượng chính của Louis bị tấn công bởi người Mameluk của Baibars-chỉ huy của quân đội và một vị sultan trong tương lai. Louis cũng đã bị đánh bại, nhưng ông đã không chịu rút quân về Damietta trong nhiều tháng mà muốn triển khai việc bao vây Mansourah, và cuộc bao vây này kết thúc với nạn đói và chết chóc cho quân Thập tự chinh chứ không phải là cho người Hồi giáo. Trong sự đau đớn đến tột cùng, một hiệp sĩ Templar than thở:

Sự thịnh nộ và nỗi buồn đang chiếm chỗ trong trái tim tôi … vì chắc chắn rằng tôi hiếm có cơ hội để sống sót. Có vẻ như Chúa muốn hỗ trợ cho người Thổ Nhĩ Kỳ để đánh bại chúng tôi ah … Thiên Chúa … than ôi, vùng phía Đông đã mất bị mất mát quá nhiều đến nỗi không bao giờ họ còn có thể vùng dậy một lần nữa. Họ sẽ xây một Nhà thờ Hồi giáo ở chỗ của tu viện của Thánh Mary và từ khi những hành vi trộm cắp làm hài lòng đứa con của Đức Mẹ, ai sẽ rỏ nước mắt lúc này, chúng tôi đã bị buộc phải làm theo … bất cứ người nào muốn được chiến đấu chống lại người Thổ Nhĩ Kỳ đều là kẻ điên, bởi vì Chúa Giêsu của người Kitô không còn muốn chống lại chúng nữa. Họ ( người Hồi giáo ) đã chinh phục và họ sẽ chinh phục. Mỗi ngày họ lại đẩy lui chúng tôi, biết rằng Thiên Chúa-người đã thức dậy nhưng bây giờ lại tiếp tục ngủ gục và người Muhammad lại xông lên một cách mạnh mẽ.

Trong tháng 3 năm 1250 cuối cùng Louis đã cố gắng để quay trở về Damietta, nhưng ông đã bị bắt tù binh tại Trận Fariskur nơi mà quân đội của ông đã bị tiêu diệt. Louis bị ngã bệnh kiết lỵ và được chữa khỏi bệnh bởi một bác sĩ người Ả Rập. Trong tháng 5 ông đã chấp nhận khoản tiền chuộc 800.000 bezants, một nửa trong số đó đã được thanh toán trước khi nhà vua rời Ai Cập, và thành phố Damietta cũng phải đầu hàng như là một điều khoản của vụ chuộc người này. Lúc này, ông đã ngay lập tức rời Ai Cập để đến Acre, một trong vài vị trí còn sót lại của quân thập tự chinh ở Syria.

Hậu quả

Louis đã ký một liên minh với người Mamluk-người vào thời điểm đó đã trở thành đối thủ của Sultan của Damascus, Và từ căn cứ mới của mình ở Acre, ông bắt đầu cho xây dựng lại các thành phố thập tự chinh khác, đặc biệt là Jaffa và Saida. Mặc dù Vương quốc đảo Síp vẫn khẳng định quyền của họ ở đó, Louis là người cai trị trên thực tế. Năm 1254 Louis đã hết tiền và sự hiện diện của ông là ở Pháp cần thiết, bởi vì mẹ ông và nhiếp chính Blanche của Castile vừa mới qua đời. Trước khi ông thành lập một đơn vị đồn trú thường trực của Pháp tại Acre, thủ đô của Vương quốc Jerusalem sau khi mất Jerusalem, để đại diện cho vương miện của vua nước Pháp, đội quân này đã lại đó cho đến khi Acre thất thủ vào năm 1291. Cuộc thập tự chinh của ông là một thất bại, nhưng ông vẫn được coi là một là một vị thánh bởi nhiều người dân và danh tiếng của ông đã tạo cho ông một quyền lực lớn hơn nữa ở châu Âu và còn lớn hơn cả Hoàng đế La Mã Thần thánh. Năm 1270, ông lại cố gắng tiến hành một cuộc thập tự chinh nữa, rồi thì nó cũng đã kết thúc trong thất bại.

Cuộc Thập tự chinh lần thứ tám

Cuộc Thập tự chinh lần thứ tám là một chiến dịch được phát động bởi vua Louis IX- của nước Pháp trong năm 1270. Cuộc Thập tự chinh lần thứ tám đôi còn được tính là thứ bảy, nếu cuộc Thập tự chinh Thứ năm và thứ sáu của Frederick II được tính chỉ như là một cuộc thập tự chinh duy nhất. Cuộc Thập tự chinh lần thứ IX đôi khi cũng còn được tính như là một phần của cuộc Thập tự chinh lần thứ Tám.

Louis đã bị thu hút bởi các sự kiện ở Syria, nơi Baibars-vị sultan người Mamluk đã tấn công những phần còn lại của các thành bang Thập tự chinh. Baibars đã nắm lấy cơ hội sau một cuộc chiến tranh qua lại giữa các thành phố Venice và Genoa với nhau (1256-1260) đã cạn kiệt các hải cảng của Syria vốn được hai kiểm soát bởi thành phố này ( thì chắc ông nọ lại móc lốp hải cảng của ông kia thôi). Vào năm 1265 Baibars đã chiếm Nazareth, Haifa, Toron và Arsuf. Hugh III của đảo Síp, trên danh nghĩa là vua của Jerusalem, đã đổ bộ xuống Acre để bảo vệ thành phố này trong khi Baibars hành quân xa về phía bắc Armenia, đây thuộc vùng kiểm soát của người Mông Cổ vào thời gian đó.

 

Những sự kiện này đã dẫn đến một lời kêu gọi của Louis cho một cuộc thánh chiến mới trong năm 1267, mặc dù thời gian này nó nhận được rất ít sự ủng hộ; Jean de Joinville, nhà sử gia đi cùng với Louis trong Cuộc Thập tự chinh lần thứ bảy, đã từ chối không cùng đi với ông ta nữa. Louis đã nhanh chóng bị thuyết phục bởi Charles của Anjou-anh trai của ông là đầu tiên phải tấn công Tunis, nơi này sẽ cung cấp cho họ một căn cứ vững chắc để tấn công Ai Cập, Trọng tâm của Louis trước cuộc thập tự chinh này cũng như trong Cuộc Thập tự chinh lần thứ năm, cả hai đều đã bị đánh bại ở đó. Charles-vua của Sicily cũng có những lợi ích riêng của ông ta ở vùng biển Địa Trung Hải này. Vị Khalif của Tunis, Muhammad al-Mustansir I, cũng đã có liên lạc với người Kitô giáo ở Tây Ban Nha và được xem như là một ứng cử viên tốt cho việc chuyển đổi. Vào tháng Bảy năm 1270 Louis đã đổ bộ xuống bờ biển châu Phi, một mùa rất bất lợi cho đổ bộ. Phần lớn quân đội bị bệnh vì ít uống nước nghèo, John Sorrow-người con trai của ông được sinh ra ở Damietta đã chết vào ngày 3 và đến ngày 25 tháng 8 thì bản thân Louis cũng đã chết vì một “căn bệnh trong dạ dày-flux in the stomach “, một ngày sau khi có sự xuất hiện của Charles. Câu nói của ông trước khi chết là “Jerusalem.” Charles tuyên bố Philip III-con trai của Louis là nhà vua mới, nhưng vì ông này còn quá trẻ nên bản thân Charles trở thành lãnh tụ thực tế của cuộc thập tự chinh này.Vì bệnh dịch tiếp tục bùng phát nên cuộc vây hãm Tunis của người Kitô giáo đã phải dừng lại và vào ngày 30 tháng 10 và một hiệp ước đã được ký với vị quốc vương Hồi giáo. Theo thỏa thuận này người Kitô giáo được tự do buôn bán với Tunis và nơi cư trú cho các tu sĩ và linh mục trong thành phố đã được đảm bảo, do đó cuộc thập tự chinh này có thể được coi là thành công một phần. Sau khi nghe về cái chết của Louis và quân Thập tự chinh đã rút khỏi Tunis, Sultan Baibars của Ai Cập hủy bỏ kế hoạch gửi quân Ai Cập của ông để chống lại Louis ở Tunis. Lúc nay Charles đã liên minh với Hoàng tử Edward của Anh, người vừa mới đến Đất thánh. Khi Charles chặn đứng các cuộc tấn công vào Tunis, Edward tiếp tục tiến vào Acre- tiền đồn cuối cùng của quân thập tự chinh ở Syria. Thời gian mà ông này ở đó người ta thường gọi là Thập tự chinh lần thứ IX.

Cuộc Thập tự chinh lần thứ Chín

 
Cuộc Thập tự chinh lần thứ IX, đôi khi còn được nhập lại với cuộc Thập tự chinh lần thứ tám, Thường được coi là chiến dịch lớn cuối cùng thời trung cổ đến vùng Đất Thánh. Nó xảy ra trong 1271-1272.Louis IX của Pháp đã không chiếm Tunis trong cuộc Thập tự chinh lần thứ tám Hoàng tử Edward của Anh đã đi bằng đường thủy đến Acre để bắt đầu cuộc Thập tự chinh lần thứ IX. Cuộc Thập tự chinh lần thứ IX thất bại phần lớn là do sức mạnh tinh thần của thập tự quân đã gần như “cạn kiệt” và vì sức mạnh ngày càng tăng lên của Baibars và Mamluk ở Ai Cập. Nó cũng báo hiệu trước sự sụp đổ sắp xảy ra của các pháo thập tự chinh cuối cùng còn lại dọc theo bờ biển Địa Trung Hải.

Lời nói đầu

Sau chiến thắng của Mamluk trước người Mông Cổ năm 1260 tại Trận Ain Jalut bởi Qutuz và Baibars-một vị tướng của ông, Qutuz bị ám sát và Baibars đã trở thành quốc vương. Ở trên cương vị một Sultan-Baibars đã tiến hành các cuộc tấn công vào quân Thập tự chinh người Thiên chúa giáo tại Arsuf, Athlith, Haifa, Safad, Jaffa, Ascalon và Caesarea. Các thành phố pháo đài của người Kitô giáo đã bị thất thủ từng chiếc một, người Kitô giáo tìm kiếm sự hỗ trợ từ Châu Âu, nhưng quân tiếp viện đến rất chậm.

Trong năm 1268 Baibars công chiếm thành phố Antioch tiêu diệt tàn dư cuối cùng của Công quốc Antioch, đảm bảo an toàn cho biên giới phía Bắc của người Mamluk và đe dọa Quận Tripoli bé nhỏ của người Thiên chúa giáo.

Sau khi Louis IX của Pháp tổ chức một đội quân thập tự chinh lớn với mục đích tấn công Ai Cập, đã chuyển hướng vào Tunis, nơi mà bản thân ông này đã chết trong năm 1270. Hoàng tử Edward của Anh đến Tunis quá trễ để đóng góp vào phần còn lại của cuộc thánh chiến tại Tunis. Thay vào đó, ông này lại tiếp tục đến Đất Thánh để hỗ trợ cho Bohemund VI- Hoàng tử của Antioch và Bá tước của Tripoli, để chống lại mối đe dọa của người Mamluk tới quận quốc Tripoli và phần còn lại của Vương quốc Jerusalem.

Hoạt động của quân Thập tự chinh tại Đất Thánh

Edward cùng với Charles của Anjou-anh trai của Louis đã quyết định điều chuyển lực lượng của họ về Acre, thủ đô của phần còn lại của Vương quốc Jerusalem và mục tiêu cuối cùng của chiến dịch của Baibars. Quân đội của Edward và Charles đến Acre vào năm 1271, cùng vào lúc Baibars bao vây thành phố Tripoli-đây là lãnh thổ cuối cùng còn lại của Quận quốc Tripoli và thành phố này bị chật ních bởi hàng chục ngàn người tị nạn Thiên chúa giáo. Từ các căn cứ của họ tại Síp và Acre, Edward và Charles cố gắng tấn công vào đội hình của Baibars và phá vỡ cuộc bao vây.

Ngay sau khi Edward đến Acre, ông này đã thực hiện một số nỗ lực để tạo thành một liên minh Pháp-Mông Cổ, ông đã gửi một đoàn sứ giả đến vùng Abagha thuộc Ba Tư, nơi mà người Mông Cổ đang cai trị-đây là một kẻ thù của người Hồi giáo. Đoàn sứ giả được điều hành bởi Reginald Rossel, Godefroi của Waus và John của Parke, và sứ mệnh của nó là kêu gọi sự hỗ trợ về mặt quân sự từ người Mông Cổ. Ngày 4 tháng 9, năm 1271, Abagha trả lời rằng ông ta đồng ý hợp tác và yêu cầu rằng nên phải có một cuộc tấn công phối hợp vào lực lượng của người Mamluk.

Sự xuất hiện của lực lượng tăng viện từ Anh và Hugh III của Síp, dưới sự chỉ huy của Edmund-em trai của Edward đã khuyến khích ông này, và ông ta đã tổ chức một cuộc đột kích vào thành phố Qaqun. Vào cuối tháng 10 năm 1271, một lực lượng nhỏ quân Mông Cổ đã tiến đến Syria và tàn phá vùng đất ở phía nam Aleppo. Tuy nhiên Abagha lại đang mắc vào các xung đột khác trong vùng Turkestan nên chỉ có thể gửi 10.000 kỵ binh Mông Cổ dưới sự chỉ huy của tướng Samagar từ đội quân đang đồn trú tại vùng Anatolia của người Seljuk, cộng với quân đồng minh người Seljukid. Mặc dù đây chỉ là một lực lượng tương đối nhỏ nhưng đội quân này vẫn gây ra một cuộc di cư ồ ạt của người Hồi giáo (những người còn nhớ đến sự khủng khiếp của chiến dịch Kithuqa trước đó) đến tận phía nam Cairo.

Nhưng người Mông Cổ đã không ở lại và khi Baibars-vị vua người Mamluk tiến phàn một cuộc phản công từ Ai Cập vào ngày 12, người Mông Cổ đã rút lui ra ngoài Euphrates.

Trong thời gian đó, Baibars đã nghi ngờ rằng sẽ có một cuộc tấn công kết hợp bằng cả hai đường thủy bộ vào Ai Cập. Cảm thấy vị trí của mình bị đe dọa một cách nghiêm trọng, ông này đã cố gắng chặn đầu bằng cách xây dựng một hạm đội. Ông này đã cố công hoàn thành việc xây dựng một hạm đội hơn là tấn công trực tiếp vào quân đội của người Thập tự chinh, Baibars đã cố gắng đổ bộ xuống đảo Cyprus trong năm 1271, hy vọng để đuổi được Hugh III của Síp ( Trên danh nghĩa là Vua của Jerusalem) và hạm đội của ông ta rời khỏi Acre với mục tiêu chính là chinh phục hòn đảo này và làm cho Edward và quân thập tự chinh trở nên không có đối thủ ở vùng Đất Thánh. Tuy nhiên, trong các chiến dịch hải quân sau đó hạm đội này đã bị phá hủy và quân của Baibars đã bị buộc phải quay trở lại.

Sau chiến thắng này, Edward nhận ra rằng để tạo dựng được một lực lượng có khả năng chiếm lại Jerusalem sẽ là rất cần thiết phải chấm dứt tình trạng bất ổn nội bộ trong các thành bang Thiên chúa giáo, và vì vậy ông đã trung gian hòa giải giữa Hugh và các hiệp sĩ của ông ta đến từ gia đình Ibelin của Síp-những người vốn chẳng nhiệt tình với cuộc Thánh chiến. Song song với buổi hòa giải, Hoàng tử Edward và vua Hugh đã bắt đầu đàm phán một thỏa thuận ngừng bắn với Sultan Baibars; một thỏa thuận ngừng bắn kéo dài năm 10, tháng 10 và 10 ngày đã được ký kết vào tháng 5 năm 1272 tại Caesarea. Hầu như ngay lập tức Hoàng tử Edmund đã rời khỏi quân đội Anh, trong khi Edward vẫn ở lại để quan sát xem liệu hiệp ước có được tuân thủ. Tháng sau đo, Baibars đã cố gắng ám sát Edward. Edward đã hạ được tay sát thủ nhưng đã phải lãnh một vết thương từ một con dao găm có tẩm thuốc độc trong trận chiến này, sự kiện này tiếp tục trì hoãn việc khởi hành của Edward. Trong tháng 9 năm 1272, Edward rời Acre đến Sicily và trong khi phục hồi lại sức khỏe ở trên hòn đảo, lần đầu tiên ông nhận được tin về cái chết của John-con trai ông và sau đó một vài tháng là tin tức về cái chết của cha mình. Năm 1273 để trở về nhà Edward đã bắt đầu hành trình của mình qua Ý, Gascony và Paris. Cuối cùng Edward đã về đến Anh vào mùa hè năm 1274 và lên ngôi vua của nước Anh trong ngày 19 tháng 8 năm 1274.

Hậu quả của cuộc thập tự chinh cuối cùng

Edward đã được đi kèm theo Theobald Visconti, người trở thành Giáo hoàng Gregory X trong năm 1271. Gregory kêu gọi tiến hành một cuộc thập tự chinh mới tại Hội đồng Lyons năm 1274, nhưng lời kêu gọi này đã không được hưởng ứng. Trong khi đó có những rạn nứt mới xuất hiện trong các tiểu quốc Kitô giáo khi Charles của Anjou đã lợi dụng tranh chấp giữa Hugh III, các Hiệp sĩ Templar và người Venice để nhằm đưa vương quốc Kitô giáo nằm dưới sự kiểm soát của ông. Dựa vào lời tuyên bố của Mary của Antioch về Vương quốc Jerusalem, ông tấn công Hugh III và gây ra một cuộc nội chiến trong phần còn lại của vương quốc. Năm 1277 Roger của San Severino đã chiếm Acre cho Charles.

Mặc dù các cuộc chém giết lẩn nhau trong hàng ngũ của quân Thập tự chinh đã chứng minh rằng Vương quốc Jerusalem đã suy nhược, nó cũng đã tạo ra cơ hội để lập ra một người chỉ huy duy nhất để kiểm soát các thập tự quân trong số người của Charles. Tuy nhiên, hy vọng này đã tiêu tan khi Venice đề xuất một cuộc thánh chiến mà không phải để chống lại người Mamluk mà để chống lại thành phố Constantinople, nơi mà gần đây Hoàng đế Michael VIII đã tái thành lập Đế quốc Byzantine và đẩy lui được người Venezia. Đức Giáo Hoàng Gregory đã không ủng hộ một cuộc tấn công như vậy, nhưng vào năm 1281 Giáo hoàng Martin IV đã chấp thuận với nó; sau đó cuộc tấn công này đã thất bại và đây cũng là nguyên nhân dẫn đến Sicilia Vespers trong ngày 31 tháng 3 năm 1282, vốn được xúi giục bởi Michael VIII và Charles đã bị buộc phải quay trở về nhà. Đây là chuyến viễn chinh cuối cùng được tiến hành để chống lại người Byzantine ở châu Âu hoặc người Hồi giáo ở vùng Đất Thánh.

Chín năm còn lại cho thấy tham vọng ngày càng gia tăng từ phía người Mamluk, bao gồm cả đòi hỏi về các khoản cống nộp, cũng như các hành động khủng-bốnhằm vào những người hành hương ngày càng gia tăng, tất cả đều đi ngược lại với các điều khoản của thỏa thuận ngưng bắn này. Năm 1289, Sultan Qalawun tập hợp được một đội quân lớn và tiến hành bao vây những phần còn lại của quận quốc Tripoli, cuối cùng ông đã tiến hành bao vây thành phố thủ phủ của nó và chiếm được nó sau một cuộc tấn công đẫm máu. Tuy nhiên cuộc tấn công vào Tripoli là đặc biệt nghiêm trọng đến mức người Mamluk đã bị người Kitô giáo kháng cự một cách cực kỳ dữ dội và Qalawun đã bị mất người con trưởng và cũng là người con tài giỏi nhất của mình trong chiến dịch này. Ông này đợi thêm hai năm nữa để phục hồi lại được sức mạnh của mình.

Năm 1291, một nhóm người hành hương từ Acre đã tiến hành một cuộc tấn công báo thù và giết chết mười chín thương gia Hồi giáo trong một thương đoàn ở Syria. Qalawun yêu cầu họ ( người Kitô giáo ở Acre) phải trả một khoản tiền đền bù bất thường. Khi không nhận được câu trả lời, vị Sultan sử dụng nó như là một lý do để vây hãm thành phố Acre, và cuộc bao vây này đã chấm dứt sự tồn tại của thành bang độc lập cuối cùng của người Kitô giáo ở vùng Đất Thánh. Qalawun đã chết trong cuộc bao vây này, Khalil-người con còn sống sót duy nhất trong gia đình của ông trở thành vị Sultan của người Mamluk. Với việc pháo đài Acre bị thất thủ, vương quốc của người Thập tự chinh không còn tồn tại . và cuối cùng phải chuyển đến đảo Síp. Vị trí cuối cùng của người Kitô giáo còn lại ở trên vùng Đất Thánh là đảo Ruad và nó cũng đã bị thất thủ trong khoảng năm 1302/1303. Cuối cùng thì thời kỳ của các cuộc thập tự chinh vào vùng Đất Thánh đã kết thúc sau 208 năm kể từ ngày Giáo hoàng Urban II ra lời kêu gọi đầu tiên cho các cuộc Thánh chiến.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s