Các cuộc Thập tự chinh (bài 1)

tác giả hongsonvh 

Thập tự chinh là một loạt các chiến dịch quân sự được tiến hành vì lý do tôn giáo bởi nhiều quốc gia Công giáo La Mã ở Châu Âu, đặc biệt là nước Pháp và Đế quốc La Mã Thần thánh. Các cuộc thập tự chinh cụ thể để khôi phục lại kiểm soát của người Kitô giáo tới vùng Đất Thánh là các cuộc chiến tranh kéo dài trong thời gian gần 200 năm, từ năm 1095 đến năm 1291. Các chiến dịch ở Tây Ban Nha và Đông Âu được tiếp tục vào thế kỷ 15. Các cuộc thánh chiến chủ yếu của lực lượng Công giáo La Mã (diễn ra sau khi Sự ly khai Đông Tây và hầu hết xẩy ra trước Cải cách Tin lành) nhằm vào người Hồi giáo, những người đã chiếm đóng vùng Cận đông kể từ thời vương quốc Hồi giáo Rashidun, Mặc dù các chiến dịch này cũng được tiến hành để chống lại người Slav, người Balt ngoại đạo, người Do Thái, người Nga và Kitô hữu Chính Thống, người Mông Cổ, người Cathar, người Hussite, người Waldensian, nước Phổ cổ, và kẻ thù chính trị của các giáo hoàng. Phe Chính Thống giáo cũng tham gia chiến đấu chống lại lực lượng Hồi giáo trong một số cuộc thập tự chinh. Những người tham gia Thập tự chinh thường là tự nguyện và đã được cấp một lễ rửa tội tập thể.

Các cuộc thập tự chinh ban đầu có mục tiêu là chiếm lại Jerusalem và Đất Thánh từ tay người Hồi giáo và các chiến dịch của họ được tiến hành để trả lời lời kêu gọi từ những người Kitô giáo của Đế quốc Byzantine để giúp họ chống lại sự bành trướng của người Seljuk Turk Hồi giáo vào vùng Anatolia. Thuật ngữ này cũng được sử dụng để mô tả các chiến dịch tiếp theo được tiến hành tới tận thế kỷ 16 ở vùng lãnh thổ bên ngoài Levant, các chiến dịch này thường nhằm vào dân ngoại đạo, dị giáo và những người bị rút phép thông công bởi một tập hợp các lý do tôn giáo, kinh tế và chính trị. Sự ganh đua giữa hai quyền lực Thiên chúa giáo và Hồi giáo cũng đã dẫn đến các liên minh giữa các phe phái tôn giáo chống lại đối thủ của họ, chẳng hạn như liên minh của người Thiên chúa giáo với Vương quốc Hồi giáo Rum trong cuộc Thập tự chinh lần thứ năm.

Các cuộc thập tự chinh đã tác động sâu rộng đến chính trị, kinh tế và xã hội, một số ảnh hưởng số trong đó kéo dài tới tận thời nay. Vì các cuộc xung đột nội bộ giữa các vương quốc Thiên chúa giáo và quyền lực chính trị, một số trong những cuộc thập tự chinh đã bị lệch khỏi mục tiêu ban đầu của họ, chẳng hạn như cuộc Thập tự chinh lần thứ tư, Kết quả là một cuộc bao vây được nhắm vào thành phố Constantinople và các thuộc địa của đế chế Byzantine bởi người Venice và quân Thập tự chinh. Cuộc Thập tự chinh thứ sáu là cuộc thập tự chinh đầu tiên được khởi hành mà không cần sự cho phép chính thức của Giáo hoàng. Các cuộc Thập tự chinh lần thứ bảy, thứ tám và thứ chín kết quả là người Mamluk và Hafsid đã chiến thắng, cuộc Thập tự chinh lần thứ chín đánh dấu sự kết thúc của các cuộc thập tự chinh trong vùng Trung Đông.

Tình hình Trung Đông

Đất Thánh là nơi cực kỳ quan trọng đối với người Kitô giáo, vì nơi đây là nơi sinh ra, giảng đạo, bị đóng đinh và phục sinh của Chúa Giêsu thành Nazareth, Người Kitô luôn coi Chúa Giêsu như là Đấng Cứu thế hay Messiah. Đến cuối thế kỷ thứ 4, sau khi Hoàng đế La Mã Constantine chuyển đổi sang Thiên chúa giáo (năm 313) và sau đó thành lập đế quốc Byzantine sau sự phân rẽ của Đế quốc La Mã, Đất Thánh đã trở thành một khu vực chủ yếu là của người Kitô giáo. Các lễ hội tôn giáo được tiến hành cho nhiều lễ kỷ niệm và cho những sự kiện trong cuộc đời của Chúa Giê-xu tại các địa điểm quan trọng.

Jerusalem nói riêng giữ một ý nghĩa quan trọng trong đạo Hồi vì nó là địa điểm để lên thiên đường của tiên tri Muhammad người mà người Hồi giáo tin là vị tiên tri quan trọng nhất của Allah và Jerusalem được xem là địa điểm thiêng liêng thứ ba trong số những địa điểm thiêng liêng nhất của người đạo Hồi. Sự hiện diện của người Hồi giáo tại Đất Thánh bắt đầu với việc người Hồi giáo xâm chiếm Syria trong thế kỷ thứ 7 dưới sự lãnh đạo của Rashidun Khalip. Chiến thắng của các đội quân Hồi giáo ngày càng tăng áp lực vào Đế quốc Byzantine Chính thống giáo Đông, người ban đầu đã tuyên bố khu vực là lãnh thổ của họ (một phần của Đế quốc Đông La Mã mà Byzantine được thừa kế) – sự kiện này cũng bao gồm cuộc tấn công cuối cùng của người Seljuk Thổ Nhĩ Kỳ. Jerusalem cũng có tầm quan trọng lịch sử với tôn giáo của người Do Thái vì nó là địa điểm của Western Wall-Bức tường phía Đông- phần cuối cùng còn lại của Đền thờ thứ hai. Người Do Thái coi Israel như là quê hương của tổ tiên của họ và đã đi thăm thành phố kể từ khi nó bị chiếm đóng bởi người La Mã và bị từ bỏ bởi người Do Thái sau cuộc nổi loạn của họ vào năm 66-73 AD.

Một yếu tố khác góp phần vào sự thay đổi thái độ của phương Tây về phía phương Đông vào năm 1009, khi Quốc vương Hồi giáo al-Hakim bi-Amr Allah triều Fatimid đã ra lệnh phá hủy Nhà thờ Thánh Sepulchre. Trong năm 1039 người thừa kế ông ta sau khi yêu cầu thanh toán một khoản tiền lớn đã cho phép đế quốc Byzantine xây dựng lại nó. Người hành hương đã được phép đến vùng đất Thánh trước và sau khi Nhà thờ Sepulchre được xây dựng lại. Người Hồi giáo đã nhận ra rằng có rất nhiều của cải đến Jerusalem từ những người hành hương, vì lý do này và cả những lý do khác, sự khủng-bố nhắm vào người hành hương cuối cùng cũng dừng lại. Tuy nhiên, thiệt hại vẫn xẩy ra và bạo lực của người Thổ Nhĩ Kỳ Seljuk đã trở thành một phần của mối quan tâm mà lan rộng hỗ trợ cho các cuộc thập tự chinh Thiên chúa giáo trên toàn thế giới.

Tình hình Tây Âu

Nguồn gốc của các cuộc thập tự chinh nằm trong sự phát triển của các nước Tây Âu trước đó trong thời Trung cổ, cũng như tình hình đang ngày một xấu đi của Đế quốc Byzantine ở phía đông gây ra bởi các làn sóng tấn công mới của người Hồi giáo Thổ Nhĩ Kỳ. Các phân tích về Đế quốc Carolingian vào những năm cuối thế kỷ 9, kết hợp với sự ổn định tương đối của các địa phương biên giới châu Âu sau sự kiện những người Viking, Slavs và Magyar được Kitô giáo hóa, đã xảy ra việc một số lượng lớn các chiến binh có vũ trang và đầy nhiệt tình đã chiến đấu với nhau một cách không đúng chỗ ( các chiến binh dù đã được Kitô giáo hóa nhưng họ vẫn là những chiến binh và nghề nghiệp của họ chỉ là đánh giết ) và thường tiến hành khủng-bố dân chúng địa phương. Giáo Hội đã cố gắng để ngăn chặn nạn bạo lực này với các phong trào Thỏa thuận ngừng bắn và Hòa bình của Thiên Chúa, tuy đã thu được phần nào thành công nhưng các chiến binh được đào tạo luôn luôn tìm kiếm một lối thoát để phát huy các kỹ năng của họ và cơ hội để mở rộng lãnh thổ đang ngày càng trở nên kém hấp dẫn trước giới đại quý tộc.

Năm 1063, Giáo hoàng Alexander II đã ban phước lành của mình để giáo dân ở Iberia tiến hành cuộc chiến tranh của họ chống lại người Hồi giáo, ông đã cấp cả một tiêu chuẩn của giáo hoàng (vexillum Sancti Petri) và một lễ rửa tội cho những người đã thiệt mạng trong trận chiến. Lời cầu khẩn của Hoàng đế Byzantine, người lúc này đang bị đe dọa bởi người Seljuk đã được lọt vào những đôi tai sẵn sàng lắng nghe. Những gì xảy ra từ năm 1074, giữa Hoàng đế Michael VII với Đức Giáo Hoàng Gregory VII và từ năm 1095 giữa Hoàng đế Alexios I Komnenos với Giáo hoàng Urban II. Một nguồn xác định trong hồ sơ của Trung Quốc Michael VII như là một người cai trị của Hy Lạp (Fulin), đã gửi một phái đoàn tới nhà Tống-Trung Quốc năm 1081. Một học giả Trung Quốc cho rằng đặc sứ này và thậm chí cả Byzantine nữa trong năm 1091 yêu cầu Trung Quốc hỗ trợ trong cuộc chiến chống lại người Thổ.

Các cuộc thánh chiến là một phần lối thoát cho một niềm đạo đức tôn giáo mãnh liệt lúc này càng ngày càng tăng lên vào cuối thế kỷ 11 trong số các công dân là giáo dân ở châu Âu. Một người thập tự quân sau khi đã thề một lời thề trang trọng và nhận được một cây thánh giá từ tay của Đức Giáo Hoàng hay legate-đại diện của ông ta và được từ đó người này được coi là một “người lính của Giáo Hội”. Đây là một phần của Investiture Controversy ( sự trao quyền đầy Tranh cãi ), vốn bắt đầu khoảng năm 1075 và vẫn còn tiếp diễn đến cuộc Thập tự chinh đầu tiên. Khi hai phe thuộc Investiture Controversy cố gắng để thu hút ý kiến ủng hộ của công chúng cho họ, làm cho mọi người trở nên tham gia vào một cuộc tranh cãi tôn giáo mạnh mẽ một cách cá nhân. Kết quả là họ đã đánh thức đạo đức Kitô giáo một cách mạnh mẽ và vì lợi ích cộng đồng trong các vấn đề tôn giáo, và ý thức này lại được tăng cường hơn nữa bằng các tuyên truyền về tôn giáo, mà chủ trương là Just Wa-Chỉ bằng chiến tranh ( ý nói không có thương lượng) để chiếm lại Thánh Địa từ tay người Hồi giáo. Đất Thánh bao gồm Jerusalem (nơi theo thần học Kitô giáo đã xảy ra cái chết, phục sinh và bay vào thiên đường của Chúa Giê-xu) và Antioch (thành phố đầu tiên của Giáo dân Kitô giáo). Hơn nữa, sự tha tội ( rửa tội? em ko rành lắm) là một nhân tố thúc đẩy bất kỳ người nào còn biết kính Chúa, những người đã phạm tội ác mà muốn thoát khỏi sự trừng phạt muôn đời không thể cưỡng lại của Địa ngục. Đây là một vấn đề tranh cãi nóng bỏng trong các cuộc Thánh chiến là liệu những gì được gọi là “tha tội-rửa tội” có ý nghĩa thật sự hay không ( hay bị lợi dụng). Hầu hết những người tham gia Thập tự chinh đều tin rằng bằng cách tái chiếm Jerusalem họ sẽ đi thẳng lên thiên đàng sau khi họ chết trận. Tuy nhiên, còn nhiều vấn đề tranh cãi xung quanh chính xác những gì các giáo hoàng đã hứa trong thời gian này. Một giả thuyết là nếu một người đã chết trong chiến đấu để lấy lại Jerusalem trong thời gian “tha tội-rửa tội” được áp dụng-> sẽ được lên thiên đàng, đây là chính xác những gì Giáo hoàng Urban II nói trong bài phát biểu của mình. Điều này có nghĩa rằng nếu quân viễn chinh đã thành công và trong trường hợp tái chiếm được Jerusalem thì những người sống sót sẽ không được xoá tội và không được lên thiên đàng ( Hoàn toàn hợp lý, Giáo hoàng ban sự xóa tội cho những người hy sinh khi tái chiếm Jerusalem-họ là người tử vì đạo và được lên thiên đàng, vậy những người không tử trận thì không được xoá tội, vậy muốn lên đó thì họ phải tự tử khi vừa mới thu được thắng lợi để được lên thiên đàng?)

Phản ứng tức thì

Nguyên nhân trực tiếp của cuộc Thập tự chinh đầu tiên là hoàng đế Byzantine Alexios I đề nghị Giáo hoàng Urban II cử lính đánh thuê đến để giúp ông chống lại người Hồi giáo lúc này đang ồ vào lãnh thổ của đế quốc Byzantine. Năm 1071, tại Trận Manzikert ( sẽ có một bài riêng về trận này) Đế chế Byzantine bị đánh bại, dẫn đến sự mất mát phần lớn vùng Tiểu Á (hiện nay là Thổ Nhĩ Kỳ) và họ chỉ còn giữ được vùng duyên hải. Mặc dù cố gắng hòa giải sau Sự ly khai Đông Tây giữa Catholic Church ( Công giaó La Mã ) ở phía tây châu Âu và Giáo hội Chính Thống phương Đông đã không thành công, hoàng đế Alexius I hy vọng cho một phản ứng tích cực từ phía Giáo hoàng Urban II và đã có nó.

Khi những cuộc Thập tự chinh đầu tiên được truyền bá trong năm 1095, các hoàng tử Kitô giáo ở miền Bắc xứ Iberia đang chiến đấu ở vùng núi Galicia và Asturias, các xứ Basque và Navarre ( Basque thuộc nay TBN và Navarre nay thuộc Pháp ), đã có các thành công liên tục trong khoảng một trăm năm. Sự sụp đổ của vùng Toledo và Vương quốc León của người Moor trong năm 1085 là một chiến thắng lớn, nhưng điểm nóng chảy ( điểm thay đổi mang tính bản lề ) của phong trào Reconquista vẫn còn nằm trong tương lai. Sự mất đoàn kết của các tiểu vương Hồi giáo là một yếu tố tối cần thiết.

Trong khi phong trào Reconquista ( tái chiếm các vùng đất thuộc TBN ngày nay khỏi tay người Hồi giáo) là ví dụ nổi bật nhất về phản ứng của châu Âu để chống lại các Cuộc chinh phục của người Hồi giáo, nhưng đây không phải là ví dụ duy nhất. Robert Guiscard-tay phiêu lưu người Norman đã chinh phục xứ Calabria năm 1057 và giữ được Sicily-vùng lãnh thổ truyền thống của Đế quốc Byzantine trước sự xâm lược của người Hồi giáo. Các thành bang có hải quân phát triển như Pisa, Genoa và Catalonia tất cả đều tích cực chiến đấu chống lại vương quốc Majorca của người Hồi giáo, và giải phóng được vùng bờ biển nước Ý và Catalonia khỏi các cuộc tấn công của người Hồi giáo. Trước đó rất lâu Syria, Lebanon, Palestine, Ai Cập… quê hương của Kitô giáo đã bị chinh phục bởi đội quân của người Hồi giáo. Những đêm trường lịch sử của việc mất mát những lãnh thổ nhạy cảm này vào tay một kẻ thù tôn giáo đã tạo ra một động lực mạnh mẽ để đáp ứng lời kêu gọi của hoàng đế Byzantine Alexius I về một cuộc thánh chiến để bảo vệ Thiên Chúa giáo và để tái chiếm các vùng đất bị mất bắt đầu từ Jerusalem.

Đức Giáo Hoàng Gregory VII đã có những tranh cãi về các giá trị giáo lý của một cuộc thánh chiến và đổ máu nhân danh Chúa với những khó khăn trong việc giải quyết các câu hỏi phán xét việc bạo lực mang lại lợi lộc cho ai. Quan trọng hơn nữa là Đức Giáo Hoàng quan tâm đến việc các Kitô hữu hành hương đến Đất Thánh bị bức hại. Thánh Saint Augustine xứ Hippo-bản sao về mặt trí tuệ của Giáo hoàng Gregory, đã biện minh cho việc sử dụng vũ lực trong việc phục vụ Chúa Kitô trong The City of God-Thành phố của Thiên Chúa, và chỉ bằng chiến tranh của Kitô giáo mới có thể nâng cao vị thế của một nhà lãnh đạo mạnh mẽ đầy tham vọng của châu Âu, như Gregory đã nhìn nhận về chính mình. Những người miền Bắc sẽ tăng cường củng cố xung quanh Rome, và các hiệp sĩ chuyên gây rắc rối của họ có thể sẽ thấy được nghề nghiệp phù hợp với họ ( tiếp tục nghề đâm chém ở phương Đông ). Những nỗ lực trước đây của nhà thờ để ngăn chặn bạo lực, chẳng hạn như khái niệm “Hòa bình của Thiên Chúa” đã không thu được thành công như mong đợi. Về phía nam của Rome, người Norman đã cho thấy họ đáng sợ như thế nào đối với cả hai người Ả Rập (ở Sicily) và Byzantine (trên đất liền). Một quyền bá chủ của người La tinh ( phương Tây) ở các quốc gia Trung cận động sẽ cung cấp đòn bẩy trong việc giải quyết tranh chấp giữa Giáo hoàng trước uy quyền tối cao của Giáo trưởng Constantinople, việc này đã dẫn đến việc Sự ly khai lớn trong năm 1054, một rạn nứt không thể giải quyết bằng sức mạnh của người Frank.

Tại Đế quốc Byzantine, điểm yếu của Hoàng đế phía Đông đã bị bộc lộ bởi sự thất bại thảm hại trong Trận Manzikert trong năm 1071, lãnh thổ châu Á của đế chế ở khu vực phía tây Anatolia và vùng xung quanh Constantinople đã thất thủ. Một dấu hiệu chắc chắn cho thấy sự tuyệt vọng của Byzantine chính là lời kêu gọi của Alexios I tới Đức Giáo Hoàng-kẻ thù của mình để xin viện trợ. Nhưng Giáo Hoàng Gregory lúc này đang bận về vấn đề Investiture Controversy ( sự trao quyền đầy Tranh cãi ) và không thể kêu gọi hoàng đế Đức ( lực lượng chính của Thập tự quân), do đó một cuộc thánh chiến đã không bao giờ được hình thành ( vào thời của Giáo Hoàng Gregory).

Vào thời của Giáo hoàng Urban II-người kế nhiệm ôn hoà hơn của Gregory, một cuộc thánh chiến sẽ làm cho người Thiên Chúa giáo đoàn tụ lại, củng cố địa vị của Giáo hoàng và có thể mang lại phía Đông dưới sự kiểm soát của ông. Những người Đức và người Norman bất mãn đã không được tính đến, và trái tim và xương sống của một cuộc thánh chiến có thể được tìm thấy ở quê hương của chính Giáo hoàng Urban ở phía Bắc của nước Pháp.

Sau cuộc Thập tự chinh lần thứ nhất

Ở mức độ đại chúng, cuộc thánh chiến đầu tiên đã tạo ra một làn sóng say mê, một cách cá nhân các con chiên ngoan đạo của Thiên chúa giáo đã thể hiện sự giận dữ trong các cuộc tàn sát nhằm vào người Do Thái ( bọn bán Chúa) đi kèm với sự di chuyển của các đám đông qua châu Âu, cũng như bạo lực nhằm vào Chính thống giáo ở phía Đông vì tội “ly giáo”. Trong rất nhiều các cuộc tấn công vào người Do Thái, các Giám mục và một số Kitô hữu địa phương đã cố gắng bảo vệ những người Do Thái từ các đám đông thập tự chinh ( Khoảng mười vạn dân Pháp + Đức chia thành hai đoàn Thập tự chinh, họ hoàn toàn vô tổ chức vừa đi vừa cướp phá, khi chưa đến được Đất thánh họ đã bị tiêu diệt bởi người Thổ nhĩ kỳ và chết đói khát dọc đường-Đây không phải là lực lượng chính của quân Thập tự chinh lần thứ nhất).

Trong thế kỷ 13, các lần Thập tự chinh không bao giờ còn được thể hiện như là một cơn sốt của nhân dân và sau khi pháo đài Acre thất thủ ở cuối năm 1291 và Occitan Cathars bị tiêu diệt trong cuộc thập tự chinh Albegensian, Lý tưởng về các cuộc thập tự chinh của Đức Giáo hoàng đã bị biến chất-giảm giá trị đến mức trở thành các cuộc lấn chiếm lãnh thổ giữa các vương quốc Công giáo châu Âu với nhau.

Cuộc thập tự chinh cuối cùng của các Tổ chức hiệp sĩ được tiến hành là để giữ lãnh thổ Knights Hospitaller ( Hiệp sỹ cứu tế-bệnh viện ). Sau sự sụp đổ của Acre cứ điểm cuối cùng của người Thiên chúa giáo, họ nắm quyền kiểm soát đảo Rhodes, và trong thế kỷ 16 họ phải chuyển tới Malta trước khi cuối cùng Napoleon Bonaparte lại xua họ đi vào năm 1798.

Cuộc Thập tự chinh đầu tiên

Thời gian: từ năm 1096–> năm 1099
Địa điểm: Vùng Cận Đông (vùng Anatolia, các quốc gia Trung cận động, Palestine)
Kết quả: Thập tự quân chiến thắng quyết định và thành lập Lãnh thổ của Vương quốc Jerusalem và các thành bang thập tự chinh khác

Thành phần tham chiến

Tín đồ Cơ đốc giáo:
Đế chế La Mã Thần thánh

  • Genoa
  • Vùng hạ Lorraine
  • Quận quốc Toulouse
  • Marquisate của Provence

Vương quốc Pháp

  • Blois
  • Boulogne
  • Flanders
  • Le Puy-en-Velay
  • Vermandois
  • Normandy

Vương quốc Anh
Công quốc Apulia

  • Taranto

Đế quốc Byzantine
Vương quốc Cilicia Armenia

Chỉ huy

Godfrey của Bouillon
Raymond IV
Stephen II
Baldwin của Boulogne
Eustace III của Boulogne
Robert II của Flanders
Adhemar của Le Puy
Hugh của Vermandois
Robert II của Normandy
Bohemond của Taranto
Tancred của Taranto
Alexios I Komnenos
Tatikios
Manuel Boutoumites
Guglielmo Embriaco
Constantine I

Lực lượng

Quân Thập tự chinh:
~ 35.000 người

  • 30.000 bộ binh
  • 5.000 kỵ binh

Byzantine:
~ 2.000 người

Nông dân Pháp+Đức+Ý
~ 100.000 người

Tín đồ Hồi giáo:
Đế quốc Đại Seljuk
Vương quốc Hồi giáo Danishmend
Vương quốc Hồi giáo Fatimid
Vương quốc Hồi giáo Almoravid
Vương quốc Hồi giáo Abbasid

Chỉ huy
Kilij Arslan I
Yaghi-Siyan
Kerbogha
Duqaq
Fakhr al-Mulk Radwan
Ghazi ibn Danishmend
Iftikhar Ad-Daula
Al-Afdal Shahanshah

Lực lượng
Không rõ nhưng đông hơn lực lượng chính quy của Thập tự quân

Cuộc Thập tự chinh đầu tiên là một cuộc viễn chinh quân sự 1096-1099 do người Kitô giáo phương Tây tiến hành để lấy lại Đất Thánh vốn đã bị lấy mất trong các cuộc chinh phục của người Hồi giáo Các nước Trung cận động, cuối cùng họ (người Kitô giáo phương Tây ) cũng tái chiếm được Jerusalem. Nó (Cuộc Thập tự chinh đầu tiên ) được bắt đầu vào năm 1095 bởi Giáo hoàng Urban II với mục tiêu chính là đáp ứng kháng thư của Hoàng đế Byzantine Alexios I Komnenos, người đã yêu cầu những người tình nguyện phương Tây đến để viện trợ và giúp đỡ mình đẩy lùi các cuộc xâm-lược của người Turks Seljuk từ Anatolia. Một mục tiêu bổ sung nhanh chóng trở thành mục tiêu chính-cuộc tái chiếm Jerusalem – thành phố thiêng liêng của người Kitô giáo cùng với vùng Đất Thánh và giải phóng người Kitô giáo phương Đông từ sự cai trị của người Hồi giáo.

Trong suốt cuộc thập tự chinh, các hiệp sĩ và những người nông dân từ nhiều quốc gia của Tây Âu hành quân trên đất liền và bằng đường biển, đầu tiên là họ đến Constantinople và sau đó là về hướng Jerusalem, như là các đạo quân viễn chinh, những người nông dân đông hơn rất nhiều so với các hiệp sĩ. Nông dân và các hiệp sĩ được chia thành các đội quân riêng, tuy nhiên vì người nông dân đã không được đào tạo trong chiến đấu như các hiệp sĩ, quân đội của họ đã không đạt được Jerusalem. Khi các hiệp sĩ đến được Jerusalem, họ đã phát động một cuộc tấn công vào thành phố và chiếm giữ nó trong tháng 7 năm 1099 và thành lập các thành bang thập tự quân bao gồm Vương quốc Jerusalem, Công quốc Tripoli, Công quốc Antioch và Công quốc Edessa.

Vì cuộc Thập tự chinh đầu tiên chủ yếu liên quan đến Jerusalem, một thành phố mà đã không nằm trong ảnh hưởng của người Thiên chúa giáo trong 461 năm và quân đội thập tự chinh đã từ chối trả lại đất cho Đế quốc Byzantine, bản chất của cuộc Thập tự chinh đầu tiên là phòng thủ hay tấn công vẫn còn gây tranh cãi.

Cuộc Thập tự chinh đầu tiên là một phần của phản ứng của Kitô giáo với các cuộc chinh phục của người Hồi giáo, tiếp theo cuộc Thập tự chinh thứ hai … cho đến cuộc Thập tự chinh lần thứ IX, nhưng các cuộc Thập tự chinh khác vẫn nổ ra trong ít nhất hơn 200 năm sau. Nó cũng là bước tiến lớn đầu tiên để mở cửa trở lại thương mại quốc tế ở phương Tây kể từ sự sụp đổ của Đế quốc La Mã phương Tây.

Bối cảnh

Nguồn gốc của các cuộc thập tự chinh nói chung, và đặc biệt là của cuộc Thập tự chinh đầu tiên vẫn còn đang được tranh cãi giữa các sử gia. Phần lớn các cuộc thập tự chinh có liên quan đến tình hình chính trị và xã hội của châu Âu trong thế kỷ thứ 11, sự nổi lên của một phong trào cải cách trong chức vị giáo hoàng, và cuộc đối đầu về chính trị và tôn giáo giữa Kitô giáo và Hồi giáo ở châu Âu và Trung Đông. Kitô giáo đã lan khắp châu Âu, châu Phi và Trung Đông vào thời Cổ đại, nhưng vào đầu thế kỷ 8 nó đã bị giới hạn ở châu Âu và vùng Anatolia sau những cuộc chinh phục Hồi giáo. Vương quốc Hồi giáo Umayyad đã chinh phục Syria, Ai Cập và Bắc Phi chủ yếu là từ Đế quốc Byzantine Kitô giáo, và Tây Ban Nha từ Vương quốc Visigoth. Tại Bắc Phi, đế quốc Ummayad cuối cùng đã sụp đổ và một số vương quốc Hồi giáo nhỏ hơn đã xuất hiện, chẳng hạn như Aghlabids, đây chính là vương quốc đã tấn công vào Italy trong Thế kỷ thứ 9. Các thành phố Pisa, Genoa và Công quốc Catalonia bắt đầu chiến trận các vương quốc Hồi giáo để kiểm soát Lưu vực của biển Địa Trung Hải, điều này được minh chứng bằng các chiến dịch Mahdia và các trận chiến tại Majorca và Sardinia.

Tình hình ở châu Âu

Tại rìa phía tây của châu Âu và trong sự mở rộng của người Hồi giáo, phong trào Reconquista ở Tây Ban Nha cũng được tiến hành ở thế kỷ 11, đây được coi là cuộc chiến của ý thức hệ, bằng chứng là cuấn Epitome Ovetense của Rodrick McManigal trong năm 881, nhưng nó không phải là một dạng tiền thân của các cuộc thập tự chinh. Ở thế kỷ thứ 11 ngày càng có nhiều hiệp sĩ nước ngoài, chủ yếu là đến từ Pháp, đến Tây Ban Nha để giúp các Kitô hữu trong các nỗ lực của họ để tái chinh phục. Ngay trước khi các cuộc Thập tự chinh đầu tiên nổ ra, Giáo hoàng Urban II đã khuyến khích các Kitô hữu ở Tây Ban Nha chiếm lại lãnh địa Tarragona, Sử dụng nhiều các biểu tượng và ngôn từ tương tự như những thứ mà sau này được sử dụng để rao giảng về các cuộc thánh chiến cho người dân của châu Âu.

Bản thân vùng trung tâm của Tây Âu cũng đã chở nên tương đối ổn định sau sự Kitô hóa của người Saxon, Viking và Hungary vào cuối thế kỷ thứ 10. Tuy nhiên, sự tan rã của Đế quốc Carolingian đã tạo ra một tầng lớp chiến binh, những người lúc này không có nhiều việc để làm ngoài những cuộc chiến giữa bọn họ. Bạo lực xảy ra một cách ngẫu nhiên giữa các tầng lớp hiệp sĩ thường xuyên bị lên án là bởi nhà thờ và ( nhà thờ ) đã phản ứng bằng cách thành lập Hòa bình và thỏa thuận ngừng bắn của Thiên Chúa để cấm chiến đấu vào những ngày nhất định trong năm. Đồng thời, các giáo hoàng có đầu óc cải cách bước vào các cuộc xung đột với Hoàng đế La Mã Thần thánh, kết quả là nổ ra sự Tranh cãi về sự trao quyền. Các Giáo Hoàng như Đức Giáo Hoàng Gregory VII hợp lý hóa cuộc chiến tranh tiếp theo để chống lại các chỉ trích của Hoàng đế La Mã Thần thánh về vấn đề thần học. Người ta đã chở nên chấp nhận việc Đức Giáo Hoàng lợi dụng các hiệp sĩ trong cái tên Tín đồ Cơ đốc giáo không chỉ để chống lại kẻ thù chính trị của bản thân Giáo hoàng, mà còn để chống lại người Hồi giáo Tây Ban Nha hoặc về mặt lý thuyết để chống lại Triều đình người Turk Seljuk ở phía đông.

Về phía đông của châu Âu vốn là sân nhà của đế quốc Byzantine, họ gồm các Kitô hữu đã một thời gian dài theo một nghi thức Chính thống giáo riêng biệt, Chính thống giáo phương Đông và nhà thờ Công giáo La Mã đã ly giáo từ năm 1054. Các sử gia đã cho rằng mong muốn áp đặt quyền lực nhà thờ La Mã ở phía đông có thể là một trong những mục tiêu của chiến dịch này, mặc dù Urban II-người đã phát động cuộc Thập tự chinh đầu tiên, không bao giờ đề cập đến mục tiêu này một cách chính thức trong những lá thư của mình cho cuộc thập tự chinh “. Người Turk Seljuk đã xâm chiếm gần như toàn bộ vùng Anatolia sau thất bại của người Byzantine tại Trận Manzikert trong năm 1071, với kết quả là vào đêm trước của Hội đồng Clermont, lãnh thổ trong tầm kiểm soát của Đế quốc Byzantine đã giảm xuống chỉ còn hơn một nửa. Đến thời của Hoàng đế Alexios I Komnenos, lãnh thổ của Đế quốc Byzantine chủ yếu chỉ còn là vùng Balkan ở châu Âu và rìa Tây Bắc của vùng Anatolia và họ phải đối mặt với kẻ thù là người Norman ở phía tây cũng như người Thổ Nhĩ Kỳ ở phía đông. Để đối phó với sự thất bại ở Manzikert và sau đó thiệt hại của Byzantine ở Tiểu Á trong năm 1074, Giáo hoàng Gregory VII đã kêu gọi milites Christi (“Người lính của Chúa Kitô”) để đến và viện trợ cho Byzantine-Hy Lạp. Thực chất thì phần lớn lời kêu gọi này đã bị bỏ qua và thậm chí bị phản đối, tuy nhiên nó cũng tập trung được rất nhiều sự chú ý về phía đông.

Tình hình ở châu Á

Cho đến khi có sự xuất hiện của quân viễn chinh, Đế quốc Byzantine vẫn phải liên tục chiến đấu với người Turk Seljuq và các triều đại Thổ Nhĩ Kỳ khác kiểm soát vùng Anatolia và Syria. Người Seljuq, những người theo Hồi giáo dòng Sunni, đã cai trị Đế quốc Đại Seljuk trước đây, nhưng vào thời gian của cuộc Thập tự chinh đầu tiên nó đã bị chia thành một số tiểu quốc nhỏ hơn sau cái chết của Malik-Shah I trong năm 1092. Malik-Shah đã trao quyền thừa kế của vùng Anatolia cho Vương quốc Hồi giáo Rum của Kilij Arslan I, và Syria cho anh trai Tutush I-người đã chết trong năm 1095. Fakhr al-Mulk Radwan và Duqaq-con trai của Tutush đã kế thừa vùng Aleppo và Damascus tương ứng, rồi lại tiếp tục bị phân chia giữa các tiểu vương Syria đối kháng với nhau, cũng như Kerbogha-atabeg của Mosul.

Ai Cập và nhiều phần của Palestine đã bị kiểm soát bởi vương quốc Hồi giáo Fatimid Ả Rập Shia, vương quốc này chở nhỏ hơn một cách đáng kể kể từ khi có sự xuất hiện của người Seljuq. Chiến tranh giữa triều Fatimid và người Seljuq đã gây ra sự gián đoạn tuyệt đối cho các Kitô hữu địa phương và khách hành hương tây. Triều đình Fatimid, dưới sự cai trị danh nghĩa của quốc vương Hồi giáo al-Musta’li nhưng thực sự kiểm soát của tể tướng al-Afdal Shahanshah, đã bị mất Jerusalem vào tay người Seljuq trong năm 1073 (mặc dù một số tài liệu cũ nói rằng năm 1076); họ đã chiếm lại nó trong 1098 từ triều đình Artuqid, một bộ tộc Turk nhỏ hơn có liên kết với người Seljuq, ngay trước khi có sự xuất hiện của quân viễn chinh.

Nghiên cứu lịch sử

Bây giờ người ta không thể đánh giá chính xác tại sao cuộc Thập tự chinh đầu tiên lại xảy ra, mặc dù nguyên nhân của nó có thể đã được đề xuất bởi các sử gia. Các biên soạn lịch sử của cuộc thập tự chinh này đã phản ánh nỗ lực của các sử gia khác nhau để hiểu được nguyên nhân gây phức tạp và luận cứ của cuộc Thập tự chinh. Một lý thuyết thời đầu hiện đại, được gọi là ” luận án Erdmann “, được phát triển bởi nhà sử gia Đức Carl Erdmann, nó trực tiếp liên kết các cuộc thập tự chinh với các phong trào cải cách ở thế kỷ thứ 11. Lý thuyết này lần đầu tiên tuyên bố rằng ” việc chuyển chiến binh đến hỗ trợ phía đông và hỗ trợ cuộc chiến của đế quốc Byzantine là mục tiêu chính của Thập tự chinh, và rằng cuộc chinh phục thành phố Jerusalem là mục tiêu thứ yếu”.

Nói chung, các sử gia sau này hoặc có thể tiếp tục Erdmann với mở rộng hơn nữa luận án của ông, hoặc phản đối nó. Một số sử gia, chẳng hạn như Speros Vryonis, đã nhấn mạnh ảnh hưởng của sự gia tăng của Hồi giáo nói chung và đặc biệt là nhấn mạnh về tác động của các đợt tấn công của người Seljuk gần lúc đó. Steven Runciman cho rằng cuộc thập tự chinh đã được thúc đẩy bởi một sự kết hợp của thần học biện minh cho cuộc thánh chiến và một “sự bồn chồn nói chung và mùi vị của các cuộc phiêu lưu”, đặc biệt là giữa những người Norman và những “người con trai trẻ hơn” của giới quý tộc Pháp-những người không còn có cơ hội nào khác ( Trong gia đình một quý tộc Pháp thì thường người anh cả sẽ thừa kế gia tài, những người em trai phải bước ra ngoài để tìm kiếm cơ hội cho chính mình). Runciman thậm chí còn ngụ ý rằng không có mối đe dọa ngay lập tức từ thế giới Hồi giáo, ông còn cho rằng “vào giữa thế kỷ 11 rất nhiều Kitô hữu ở Palestine hiếm khi được chở nên dễ chịu như vậy “. Tuy nhiên, luận điểm của Runciman mình chỉ giới hạn đến vùng Palestine dưới sự cai quản của triều Fatimid 1029-1073 mà không đề cập đến thời của người Seljuq. Hơn nữa, nguồn này thường được coi là tích cực đối với nhiều Kitô hữu ở Palestine trong thế kỷ thứ 11 sau này được coi là không rõ ràng, vì có rất ít nguồn tài liệu bằng văn bản trong thời kỳ này từ Palestine và hầu như không tồn tại nguồn tư liệu của Kitô giáo phát sinh trực tiếp từ Palestine dưới thời cai trị của người Seljuk. Đối lập với đối liệu của Runciman, và trên cơ sở tài liệu hiện đại của người Jewish Cairo Geniza, cũng như tài liệu sau này của người Hồi giáo, Moshe Gil cho rằng cuộc chinh phục và chiếm đóng Palestine của người Seljuk (năm 1073-1098) là một giai đoạn “tàn sát và phá hoại, cùng với các khó khăn về kinh tế và tróc rễ dân Thiên chúa giáo”. Thật vậy, bản thảo của các nhà văn trước đó như Ignatius của Melitene, Michael xứ Syria đã ghi nhận rằng người Seljuq đã nhắm vào Coele-Syria và bờ biển Palestine để “phá hủy và cướp bóc”.

Thomas Asbridge lập luận rằng cuộc Thập tự chinh đầu tiên được Giáo hoàng Urban II phát động để cố gắng mở rộng quyền lực của giáo hội và để đoàn tụ giáo hội La Mã với Constantinople, vốn bị chia rẽ từ sự ly khai từ năm 1054. Tuy nhiên, Asbridge lại đưa ra rất ít bằng chứng từ những bài viết của Giáo hoàng Urban để củng cố tuyên bố này. Theo Asbridge, sự lan truyền của Hồi giáo là không quá quan trọng bởi vì “Hồi giáo và Thiên Chúa giáo đã cùng tồn tại một cách cân bằng trong nhiều thế kỷ “. Nhưng Asbridge lại không chú ý đến những cuộc chinh phục của người Thổ Nhĩ Kỳ vào phía nam Anatolia và Syria trước đó và đã phá vỡ sự cân bằng về quyền lực mong manh nhưng tương đối ổn định mà đế quốc Byzantine đã phần nào phục hồi và dần dần phát triển so với sức mạnh trước đó của đạo Hồi giáo trong suốt thế kỷ 11 và đầu 10 . Sau thất bại tại Manzikert trong năm 1071, người Hồi giáo đã chiếm mất một nửa lãnh thổ của đế quốc Byzantine, và các thành phố quan trọng về mặt chiến lược và tôn giáo như Antioch và Nicaea đã thất thủ trước người Hồi giáo chỉ trong thập niên trước khi Hội đồng Piacenza họp mặt. Hơn nữa, các tài liệu về cuộc xâm lược và chinh phục Anatolia của Thổ Nhĩ Kỳ được ghi nhận bởi các sử gia Kitô giáo phương Đông như là John Skylitzes, Michael Attaleiates, Matthew xứ Edessa, Michael xứ Syria và những người khác vốn được tổng hợp bởi Vryonis, dường như mâu thuẫn với hình ảnh mà Asbridge đưa ra đó là sự “chung sống” bình thản giữa thế giới Kitô giáo và Hồi giáo trong nửa sau của thế kỷ thứ 11.

Thomas Madden đại diện cho một quan điểm gần như trái ngược với quan điểm của Asbridge, cho rằng cuộc thập tự chinh chắc chắn liên quan đến cải cách giáo hội và nỗ lực để khẳng định thẩm quyền giáo hoàng, ông cũng lập luận rằng quan trọng nhất là một cuộc đấu tranh giải phóng các Kitô hữu, những người mà Madden khẳng định, “đã bị đàn áp khốc liệt dưới bàn tay của người Thổ Nhĩ Kỳ “. Lập luận này ám chỉ đến nạn bạo lực tương đối gần đó và các cuộc chiến tiếp sau những cuộc chinh phục của người Thổ Nhĩ Kỳ từ những bước tiến của người Hồi giáo. Christopher Tyerman kết hợp cả hai quan điểm đối lập trong luận án của mình, cụ thể là các cuộc Thập tự chinh xuất phát từ các cải cách giáo hội và các lý thuyết của thánh chiến cũng như nó là một phản ứng trong xung đột với thế giới Hồi giáo trên khắp Châu Âu và Trung Đông. Theo nghiên cứu của Jonathan Riley-Smith, nạn mất mùa và dân số quá đông đúc cùng với các phong trào thực dân trước đó đối với các khu vực biên giới của châu Âu cũng góp phần vào cuộc thập tự chinh…

Ý tưởng cho rằng những cuộc thánh chiến là một phản ứng với người Hồi giáo đã tồn tại từ thế kỷ thứ 12 khi nhà sử gia William xứ Tyre, người đã bắt đầu viết cuấn biên niên sử của ông khi thành phố Jerusalem đã thất thủ trước Umar. Mặc dù những cuộc chinh phục đầu tiên của người Hồi giáo đã được thực hiện nhiều thế kỷ trước khi cuộc Thập tự chinh đầu tiên được bắt đầu, các sự kiện gần đó hơn có thể vẫn còn in sâu trong tâm trí của các Kitô hữu châu Âu thời gian đó. Ví dụ, trong năm 1009 Nhà thờ Thánh Sepulchre đã bị phá hủy bởi al-Hakim bi-Amr Allah của Triều đình Fatimid; Đức Giáo Hoàng Sergius IV được cho là đã kêu gọi một cuộc viễn chinh quân sự để phản ứng lại hành động này, và ở Pháp nhiều cộng đồng người Do Thái thậm chí còn bị tấn công trả đũa mặc dù là bị nhầm đối tượng ( ở đây có lẽ là người Do Thái cho vay lãi cắt cổ nên giàu ú ụ-> bị người ta tranh thủ làm thịt). Mặc dù Nhà thờ Thánh Sepulchre đã được xây dựng lại sau cái chết của al-Hakim, và các cuộc hành hương đã được nối trở lại, bao gồm cả Cuộc Đại hành hương của người Đức năm 1064-1065, người hành hương vẫn tiếp tục bị tấn công từ người Hồi giáo địa phương. Ngoài ra, hơn nữa gần lúc này người Thổ Nhĩ Kỳ đã xâm nhập vào Tiểu Á và miền bắc Syria và theo các sử gia Kitô giáo phương Đông thì họ đã chắc chắn gieo rắc những tàn phá và người Byzantine đã trình bày lại điều này với Đức Giáo Hoàng để thu hút sự trợ giúp của người Kitô hữu ở châu Âu.

Hội đồng Clermont

Trong khi các cuộc thập tự chinh đã làm bắt rễ sâu trong cuộc sống chính trị và xã hội của châu Âu ở thế kỷ thứ 11, sự kiện cuối cùng thực sự gây ra cuộc Thập tự chinh đầu tiên được cho là đề nghị hỗ trợ từ hoàng đế Byzantine Alexios I Komnenos. Alexios đã lo lắng về sự tiến lên của người Seljuqs, lúc này họ đã đến tận phía tây İznik, cách không xa Constantinople. Trong tháng ba năm 1095, Alexios gửi sứ thần đến Hội đồng Piacenza để yêu cầu Giáo hoàng Urban II gửi viện trợ để chống lại người Thổ Nhĩ Kỳ. Giáo hoàng trả lời một cách đầy triển vọng, có lẽ ông hy vọng sẽ hàn gắn sự ly khai lớn trong bốn mươi năm trước đó, và tái thống nhất Giáo Hội là ưu tiên của Đức Giáo Hoàng bằng cách giúp giáo hội phương Đông vào lúc họ cần giúp đỡ.

Trong tháng 7 năm 1095, Urban hướng về quê hương của ông ở nước Pháp để kêu gọi tuyển dụng người cho các cuộc viễn chinh. Ông đã đi đến đó và dự họp với Hội đồng Clermont trong tháng 11, ở đây theo một số bài phát biểu khác nhau được cho là cuả ông, ông đã diễn thuyết một bài giảng đầy nhiệt huyết trước đối tượng là một số lượng rất lớn giáo sĩ và các quý tộc Pháp, ông tả chi tiết về các hành động cực kỳ tàn bạo được cho là nhằm đã nhằm vào người hành hương và các Kitô hữu phương Đông . Có năm bản ghi nhớ của bài phát biểu được ghi lại bởi những người có thể đã ở tại Hội đồng (Baldric của Dol, Guibert xứ Nogent, Robert the Monk và Fulcher xứ Chartres) hoặc những người đã tham gia vào cuộc thánh chiến (Fulcher và tác giả vô danh của cuấn Gesta Francorum), Cũng như các phiên bản khác tìm thấy bởi các sử gia sau này (chẳng hạn như William xứ Malmesbury và William xứ Tyre). Tất cả các phiên bản được viết sau khi Jerusalem đã bị chiếm đóng ( chắc là bởi quân Thập tự chinh). Vì vậy thật khó để biết những gì đã thực sự được nói và những gì là tái tạo từ kết quả của một cuộc thập tự chinh thành công. Hồ sơ hiện đại chỉ là một vài chữ cái được viết bởi Đức Giáo Hoàng Urban trong năm 1095.

Tất cả năm bản ghi nhớ của bài diễn văn này rất khác nhau từ chi tiết tới tổng thể. Tất cả các phiên bản, ngoại trừ trong cuấn Francorum Gesta, nói chung đồng ý rằng Urban nói chuyện về bạo lực của xã hội châu Âu và sự cần thiết phải duy trì hòa bình của Thiên Chúa; về việc giúp đỡ người Byzantine-Hy Lạp, những người đã yêu cầu để được hỗ trợ; về những người dị giáo đang tấn công các Kitô hữu ở phía Đông và về một cuộc chiến kiểu mới, như các cuộc hành hương có vũ trang và các phần thưởng từ trên trời rơi, nơi sự tha thứ được trao cho bất kỳ người nào phải chết trong các cuộc Thập tự chinh. Đặc biệt là không phải tất cả các phiên bản này đều đề cập đến Jerusalem như là mục tiêu cuối cùng, tuy nhiên, người ta lại lập luận rằng thuyết giảng tiếp theo của Urban tiết lộ rằng ông mong đợi rằng tất cả các chuyến viễn chinh cuối cùng sẽ đến được Jerusalem. Theo một phiên bản của bài diễn văn, đám đông đã nhiệt tình đáp lại bằng tiếng hô Deus vult! (“Chúa muốn vậy!”). Tuy nhiên, các phiên bản khác của bài diễn văn lại không bao gồm chi tiết này.

Tuyển dụng

Bài phát biểu của Urban cũng đã lên kế hoạch tuyển dụng, ông đã thảo luận về các cuộc thập tự chinh với Adhemar xứ Le Puy và Raymond IV, Bá tước của Toulouse, và ngay lập tức cuộc viễn chinh đã có sự hỗ trợ của hai nhà lãnh đạo quan trọng nhất miền Nam nước Pháp. Bản thân Adhemar đã có mặt tại Hội đồng Clermont và là người đầu tiên ” take the cross – nhận chiếc thập tự”. Trong thời gian còn lại của năm 1095 và vào năm 1096, Urban cho thông tin trên toàn nước Pháp và thúc giục các giám mục và các đại diện của mình thuyết giảng trong giáo phận của họ ở những nơi khác tại Pháp, Đức và Italy. Tuy nhiên, rõ ràng là phản ứng với bài diễn văn là nhiều hơn với ngay cả với dự kiến Đức Giáo Hoàng hay Hoàng đế Alexios. Sau ngày ông đi Pháp về, Urban đã cố gắng để ngăn cấm một số loại người nhất định (bao gồm cả phụ nữ, tu sĩ, và người bệnh) tham gia vào cuộc thập tự chinh, nhưng thấy rằng điều này gần như là không thể. Cuối cùng, hầu hết những người hưởng ứng lời kêu gọi lại không phải là giới hiệp sĩ, mà là những người nông dân không khá giả và có rất ít các kỹ năng chiến đấu… Thông thường thì sau khi lời rao giảng kết thúc tất cả mọi người đều tình nguyện tham gia một cuộc hành hương đến Nhà thờ Thánh Sepulchre, và họ cũng may một chữ thập chéo vào quần áo của họ.

Như Thomas Asbridge đã viết, “Cũng như chúng ta có thể làm gì khác hơn là ước tính số lượng hàng ngàn người phản ứng một cách nhiệt tình với lý tưởng thập tự chinh”, vì vậy với những bằng chứng còn sót lại chúng ta có thể có được một cái nhìn giới hạn về động lực và ý định của họ. ” các học giả trước đây cho rằng quân viễn chinh được thúc đẩy bởi sự tham lam, hy vọng tìm được một cuộc sống tốt hơn, thoát ra khỏi nạn đói và chiến tranh đang xảy ra ở Pháp, nhưng ghi chú của Asbridge, “Hình ảnh này là … gây hiểu lầm sâu sắc.” Ông lập luận rằng lòng tham không thể là một yếu tố chính vì chi phí là rất cao để đi một chuyến xa nhà, và bởi vì hầu hết tất cả quân viễn chinh cuối cùng đã trở về nhà sau khi hoàn thành cuộc hành hương của họ thay vì cố gắng tạo ra của cải cho bản thân mình trong vùng đất Thánh. Do đó rất khó khăn hoặc không thể đánh giá các động cơ của hàng ngàn người nghèo mà không có các hồ sơ lịch sử, hay ngay cả đối với những hiệp sĩ quan trọng, có những câu chuyện thường được kể lại bởi các thầy tu hoặc giáo sĩ. Vì thế giới thế tục thời trung cổ đã ăn rất sâu vào thế giới tâm linh của giáo hội, rất có thể đạo đức cá nhân là một trong những nhân tố chính cho nhiều Thập tự quân.

Mặc dù sự nhiệt tình là rất phổ biến, tuy nhiên, Urban muốn đảm bảo rằng sẽ có một đội quân các hiệp sĩ, được rút ra từ các tầng lớp quý tộc Pháp. Ngoài Adhemar và Raymond và các nhà lãnh đạo khác, ông tuyển dụng trong năm 1096 bao gồm Bohemond I của Antioch, một đồng minh ở miền nam Ý của các giáo hoàng theo phe cải cách; Bohemond cháu trai của Tancred-Hoàng thân Galilee; Godfrey xứ Bouillon, người đã từng là một đồng minh chống lại cải cách của Hoàng đế La Mã Thần thánh; anh trai của Baldwin I xứ Jerusalem; Hugh I-Bá tước Vermandois, anh trai của Philip I thông thái của Pháp quốc; Robert Curthose, anh trai của William II của Anh quốc; và Stephen II, Bá tước của Blois cùng với Robert II, Bá tước của Flanders. Các đoàn quân viễn chinh đại diện cho miền Bắc và miền Nam nước Pháp, Đức, và miền nam Ý và do đó được chia thành bốn đội quân riêng biệt mà không phải lúc nào cũng luôn luôn hợp tác, mặc dù họ đã được tổ chức lại với nhau bởi mục tiêu cuối cùng của họ.

Động cơ của giới quý tộc phần nào là rõ ràng hơn của những người nông dân, sự tham lam rõ ràng không phải là một yếu tố chính. Người ta thường giả định, ví dụ như Runciman đã nói ở trên, là chỉ các thành viên trẻ tuổi của một gia đình quý tộc tham gia vào cuộc thập tự chinh, để tìm kiếm sự giàu có và các cuộc phiêu lưu ở nơi khác, bởi vì họ không có triển vọng thăng tiến ở quê nhà. Riley-Smith lại chỉ ra rằng lý do không phải luôn luôn là như vậy. Cuộc thập tự chinh này đã được lãnh đạo bởi một số các quý tộc hùng mạnh nhất của Pháp, những người bỏ lại tất cả mọi thứ phía sau, và có cả trường hợp thường thấy là toàn bộ gia đình đã tham gia vào cuộc thập tự chinh với chi phí rất lớn của riêng họ. Ví dụ, Robert của Normandy phải cho vay Đất công tước của Normandy cho em trai của ông-William II của Anh và Godfrey phải bán-thế chấp tài sản của mình cho nhà thờ. Theo nhà viết tiểu sử của Tancred, ông lo lắng về bản chất tội lỗi của hiệp sĩ trong chiến tranh và được kích thích để tìm một lối thoát cho bạo lực ở vùng Đất thánh. Tancred và Bohemond, cũng như Godfrey, Baldwin, và anh trai của mình Eustace III, tước của Boulogne, là những ví dụ về các gia đình quyền quý đã tham gia thập tự chinh cùng với nhau. Riley-Smith lập luận rằng sự nhiệt tình của cuộc thập tự chinh có lẽ dựa trên quan hệ gia đình, vì hầu hết các quân viễn chinh Pháp đã bỏ lại người thân ở xa. Tuy nhiên, ít trong nhất một số trường hợp, động cơ cá nhân đóng vai trò động cơ của Thập tự chinh. Ví dụ, Bohemond đã được thúc đẩy bởi mong muốn chiếm được cho mình một lãnh thổ ở phía đông và trước đó đã chiến đấu chống lại Byzantine để cố gắng đạt được điều này. Cuộc Thập tự chinh cho ông một cơ hội nữa, đó chính là Cuộc bao vây Antioch của ông, kết quả là ông ta đã sở hữu của thành phố này và thành lập Công quốc Antioch.

Thập tự chinh của nhân dân

Tuy nhiên đây không phải là lần đầu tiên các nhà Đại quý tộc Pháp và các đội quân hiệp sĩ được đào tạo rất tốt của họ tiến hành các cuộc hành trình hướng về Jerusalem. Giáo Hoàng Urban đã lên kế hoạch xuất phát cho cuộc thập tự chinh đầu tiên vào ngày 15 tháng 8 năm 1096, đây là ngày Lễ Feast of the Assumption, nhưng nhiều tháng trước sự kiện này, một số đội quân không được tính tới của nông dân và các quý tộc nhỏ đã khởi hành đi Jerusalem vào các ngày của riêng họ, do một linh mục có sức lôi cuốn được gọi là Peter Hermit dẫn đầu. Peter là người thành công nhất trong các nhà truyền giáo khi truyền đạt thông điệp của Giáo Hoàng Urban và phát triển thành một sự nhiệt tình gần như cuồng loạn giữa các con chiên của ông, mặc dù có lẽ ông này không phải là một truyền giáo “chính thức” được cho phép bởi Giáo Hoàng Urban tại Clermont. Một thế kỷ sau ông này đã trở thành một nhân vật huyền thoại; William xứ Tyre tin rằng Peter chính là người đã khuấy lên ý tưởng về các cuộc thập tự chinh trong tâm trí của Urban. Người ta cho rằng Peter đã dẫn đầu một nhóm lớn gồm các nông dân chưa qua đào tạo quân sự và mù chữ, nhiều người thậm chí không có bất kỳ ý tưởng gì về Jerusalem, nhưng thực sự cũng có nhiều hiệp sĩ trong số các nông dân, bao gồm cả Walter Sans Avoir-người là Trung úy của Peter và dẫn đầu một đội quân riêng.


Bản đồ lộ trình của cuộc Thập tự chinh đầu tiên từ Châu Âu đến vùng Đất Thánh


Tranh vẽ Peter nhà ẩn sỹ dẫn đầu cuộc thập tự chinh của Nhân dân

Walter và người Pháp

Peter tập hợp quân đội của mình tại Cologne ngày 12 tháng 4 năm 1096, theo kế hoạch họ sẽ dừng lại ở đó và rao giảng cho người Đức và thu thập thêm quân viễn chinh mới. Tuy nhiên người Pháp lại không sẵn sàng chờ đợi Peter và người Đức và dưới sự lãnh đạo của Walter Sans-Avoir ( ông này vốn là một Hiệp sỹ nghèo còn có biệt danh là Walter không xu dính túi, nhưng ông đã được đào tạo về quân sự rất bài bản-ông không có lãnh chúa để phục vụ và không có chư hầu để chỉ huy, nhưng bù vào đó ông lại có kinh nghiệm về chiến tranh ), một vài ngàn quân viễn chinh người Pháp đã tiến trước Peter và đến được Hungary ngày 8 tháng 5, họ đi xuyên qua Hungary mà không có chuyện gì xảy ra và khi đến sông Sava tại biên giới lãnhthổ của Byzantine ở Belgrade. Viên tổng trấn Belgrade đã bị bất ngờ và đã không đưa ra mệnh lệnh để đối xử với họ như thế nào, và từ chối cho họ đi vào thành phố buộc quân viễn chinh phải cướp bóc các vùng nông thôn để lấy thực phẩm. Sự kiện này dẫn đến một cuộc giao tranh giữa quân Thập tự chinh với các đơn vị đồn trú ở Belgrade, đồng thời làm cho vấn đề chở nên tồi tệ hơn, mười sáu người của Walter đã cố gắng cướp một cửa hàng trên sông Zemun ở Hungary và đã bị tước áo giáp và quần áo, sau đó họ bị treo cổ trên các bức tường lâu đài. Cuối cùng, quân viễn chinh đã được phép tiến đến Nis, nơi họ được cung cấp thức ăn và chờ đợi những thông tin từ Constantinople.

Từ Cologne đến Constantinople

Peter và số quân viễn chinh còn lại rời Cologne vào ngày 20 tháng 4. Khoảng 40.000 quân Thập tự chinh lên đường ngay lập tức, trong khi một nhóm khác sẽ đi theo ngay sau đó. Khi họ đến bờ sông Danube, một phần của đội quân này đã quyết định tiếp tục đi bằng thuyền xuôi theo dòng sông Danube, trong khi phần chính tiếp tục đi theo con đường bộ và đi vào Hungary tại ở tại thị trấn Sopron. Ở đó, họ tiếp tục đi xuyên qua Hungary mà không gặp sự cố nào và tái gia nhập đội ngũ đi theo dòng Danube tại Zemun trên biên giới với Byzantine.

Tại Zemun quân viễn chinh trở nên nghi ngờ vì thấy cảnh 16 người của Walter bị treo cổ lủng lẳng trên các bức tường và cuối cùng một cuộc tranh chấp về giá cả của một đôi giày trong một cửa hàng đã dẫn đến bạo loạn và sau đó biến thành một cuộc tấn công toàn diện của quân viễn chinh vào thành phố (có thể điều này là ngoài ý muốn của Peter), trong vụ này khoảng 4.000 người Hungary đã bị giết. Sau đó quân viễn chinh bỏ chạy qua sông Sava đến Belgrade, nhưng chỉ sau khi đã giao chiến với quân đội đồn trú ở Belgrade. Cư dân của Belgrade phải bỏ chạy và các quân viễn chinh cướp bóc và đốt cháy thành phố. Sau đó, họ hành quân trong bảy ngày và đến được Nis vào ngày 03 tháng 7. Ở đó, người chỉ huy của Nis hứa sẽ cung cấp các đội hộ tống cho quân đội của Peter để đến Constantinople cũng như thực phẩm, nếu ông ta chịu rời đi ngay lập tức. Peter chấp nhận và sáng hôm sau ông ra lệnh khỏi hành. Tuy nhiên, một vài người Đức lại có một số tranh chấp với người dân địa phương dọc theo đường đi và họ đã châm lửa đốt vài ngôi nhà, bạo loạn nổ ra ngoài tầm kiểm soát của Peter cho đến khi Nis gửi toàn bộ quân đồn trú của nó để tấn công vào quân viễn chinh. Quân viễn chinh đã hoàn toàn bị đánh tan, và bị giết khoảng 10.000 người (một phần tư số họ), số còn lại tập kết ở xa hơn nữa về phía Bela Palanka. Khi họ đến Sofia vào ngày 12, họ đã gặp được các đoàn hộ tống Byzantine của họ và áp tải họ một cách an toàn trong phần còn lại của con đường đi đến Constantinople vào ngày 01 tháng 8.

Sự cố về Lãnh đạo 

Hoàng đế Byzantine Alexius I Comnenus, không biết làm gì khác với một “đội quân” khác thường và bất ngờ như vậy, ngoài việc nhanh chóng chở tất cả 30.000 người qua Bosporus vào ngày 06 tháng 8. Người ta đã tranh luận rằng liệu việc ông gửi họ đi mà không đưa thêm người Byzantine dẫn đường vì biết rõ rằng họ sẽ bị tàn sát bởi người Thổ Nhĩ Kỳ, hoặc có phải họ khăng khăng tiếp tục tiến vào lãnh thổ châu Á mà bất chấp các lời cảnh báo của ông. Trong mọi trường hợp, người ta đều tin rằng Alexius đã cảnh báo Peter không nên đánh nhau một cách đối mặt với người Thổ Nhĩ Kỳ, những người mà ông ta tin rằng hoàn toàn dễ dàng đè bẹp đội quân rách rưới của Peter và phải đợi đội hình chính của quân viễn chinh lúc này vẫn còn trên đường tới Constantinople.

Peter đã kết nối được với đạo quân người Pháp dưới sự chỉ huy của Walter Sans-Avoir và một số nhóm thập tự quân khác người Ý đến cùng một lúc. Khi đã sang đất châu Á, họ bắt đầu cướp phá các thị trấn và đến được Nicomedia, nơi mà một cuộc tranh cãi đã nổ ra giữa người Đức và Ý ở một phe và phe bên kia là người Pháp mặt khác. Người Đức và Ý tách ra và bầu một lãnh đạo mới, một người Ý tên là Rainald, trong khi người Pháp lại bầu Geoffrey Burel là người được chọn. Peter đã mất quyền kiểm soát một cách hiệu quả tới quân thập tự chinh.

Mặc dù Alexius đã khuyên Peter phải chờ đội quân chính ( của các quý tộc), nhưng Peter đã mất nhiều quyền lực của mình và quân viễn chinh đã thúc đẩy lẫn nhau và di chuyển mạnh dạn hơn đến các thị trấn gần đó cho đến khi cuối cùng người Pháp đã đến gâ được Nicaea, một thành trì vốn của Thổ Nhĩ Kỳ, nơi họ cướp phá các vùng ngoại ô. Người Đức, không chịu thua kém, khoảng 6.000 quân viễn chinh tiến vào Xerigordon và chiếm được thành phố để sử dụng nó như là một căn cứ để tấn công các vùng nông thôn. Để đáp lại người Thổ Nhĩ Kỳ được dẫn đầu bởi vua Thổ-Kilij Arslan tiến lên chiếm lại Xerigordon từ tay quân viễn chinh, và trong khi bị bao vây thập tự quân đã bị buộc phải uống cả máu lừa và nước tiểu của mình vì nguồn cung cấp nước của họ đã bị quân Thổ cắt đứt. Một số quân viễn chinh bị bắt đã chuyển đổi sang Hồi giáo và đã được gửi tới Khorasan, trong khi những người khác từ chối từ bỏ đức tin của họ liền bị xử tử.

Chỉ mới đi được 3 dặm từ doanh trại của họ, con đường đã đưa họ vào một thung lũng hẹp với nhiều cây cối rậm rạp ở gần làng Dracon, quân đội Thổ Nhĩ Kỳ đã phục sẵn. Khi tiếp cận vào thung lũng, quân viễn chinh đã hành quân một cách ầm ĩ và ngay lập tức bị một trận mưa tên. Tất cả đều hoảng sợ và trong vòng vài phút đám đông hỗn loạn tháo chạy trở về doanh trại. Hầu hết quân viễn chinh đã bị đánh bại; trẻ em và những người đầu hàng đã được tha. Hàng ngàn chiến binh đã cố gắng để chống trả nhưng bị đánh bại. Ba ngàn người bao gồm cả Geoffrey Burel, đủ may mắn để chạy lên một tòa lâu đài cũ bị bỏ hoang. Cuối cùng, quân Byzantine dưới sự chỉ huy của tướng Constantine Katakalon phải đi thuyền đến và tổ chức trận phá vây; khoảng vài nghìn người trở về được Constantinople, những người sống sót duy nhất của cuộc Thập tự chinh của nhân dân ( Hiệp sỹ Walter Sans-Avoir cũng tử trận trong trận đánh này)..

Cuộc tấn công vào người Do Thái trong vùng Rhineland

Ở cấp địa phương, các rao giảng về cuộc Thập tự chinh đầu tiên đã châm ngòi cho các bạo lực nhằm vào những Người Do Thái, mà một số sử gia đã coi là ” Holocaust đầu tiên “. Vào cuối năm 1095 và đầu 1096, vài tháng trước khi cuộc thập tự chinh chính thức xuất phát vào tháng 8, đã có các cuộc tấn công vào các cộng đồng người Do Thái ở Pháp và Đức. Trong tháng 5 năm 1096, Emicho xứ Flonheim (Đôi khi được gọi không chính xác là Emicho xứ Leiningen) đã tấn công người Do Thái tại Speyer và Worms. Các Thập tự quân không chính thức khác từ Swabia, do Hartmann xứ Dillingen chỉ huy cùng với người Pháp, người Anh, người Lotharingian và tình nguyện viên người Flemish, do Drogo xứ Nesle và William Carpenter chỉ huy, cũng với nhiều người dân địa phương, tham gia cùng với Emicho trong việc tiêu diệt cộng đồng Do Thái xứ Mainz vào cuối tháng. Tại Mainz ( ở Đức), một người phụ nữ Do Thái thà tự tay giết chết các con của mình còn hơn là nhìn thấy chúng bị giết chết; vị thủ lĩnh tôn giáo Do Thái-Kalonymus Ben Meshullam, đã tự sát để khỏi bị giết chết.

Sau đó đội quân của Emicho đã tiến vào Cologne và những người khác tiếp tục đi tới Trier, Metz, và các thành phố khác. Ẩn sĩ Peter có thể đã tham gia vào những vụ bạo lực nhằm vào những người Do Thái và một đội quân được dẫn đầu bởi một linh mục tên là Folkmar cũng tiếp tục tấn công vào người Do Thái ở phía đông Bohemia. Cuối cùng đội quân của Emicho tiếp tục tiến vào Hungary nhưng đã bị đánh bại bởi quân đội của Coloman xứ Hungary. Những người đi theo ông ta bị phân tán, một số cuối cùng đã gia nhập đội quân Thập tự chinh chính, mặc dù bản thân Emicho lại đi về nhà.

Nhiều người trong số những kẻ tấn công có vẻ như đã muốn ép buộc người Do Thái phải chuyển đổi đức tin, mặc dù họ cũng thích lấy được tiền từ người Do Thái. Bạo lực đối với người Do Thái chưa bao giờ là một phần của chính sách thập tự chinh chính thức của nhà thờ và các giám-mục Thiên chúa giáo, đặc biệt là Đức Tổng Giám-Mục-Cologne, đã làm hết sức mình để bảo vệ người Do Thái. Tuy nhiên, một số người trong số họ cũng nhận tiền để đổi lấy sự bảo vệ của họ. Các cuộc tấn công có thể đã bắt nguồn từ niềm tin rằng người Do Thái và người Hồi giáo đều là kẻ thù của Chúa Kitô và kẻ thù phải bị đánh đuổi hoặc phải chuyển đổi sang Kitô giáo. Godfrey xứ Bouillon đã tống tiền của người Do Thái ở các xứ Cologne và Mainz và có rất nhiều các Thập tự quân đã tự hỏi tại sao họ phải đi hàng ngàn dặm để chiến đấu với bọn dị giáo trong khi chúng lại ở ngay gần nhà của họ. Các cuộc tấn công vào người Do Thái đã được chứng kiến Ekkehard xứ Aura ( cha tu viện trưởng của Aura lúc đó ) và Albert xứ Aix ( nhà sử gia đương thời ); Giữa các cộng đồng người Do Thái, các nhân chứng đương thời là Người vô danh xứ Mainz, Eliezer ben Nathan và Solomon bar Simson.

Cuộc thập tự chinh của các Hoàng tử-Đại quý tộc

Bốn đội quân thập tự chinh chính rời châu Âu vào thời gian khoảng tháng 8 năm 1096. Họ chọn những con đường khác nhau để đến Constantinople và tập hợp bên ngoài bức tường của thành phố vào giữa tháng 11 năm 1096 và tháng 4 năm 1097, Hugh của xứ Vermandois đến đầu tiên, tiếp theo Godfrey, Raymond, và Bohemond. Thời gian này, Hoàng đế Alexios đã chuẩn bị tốt hơn cho quân viễn chinh nên có ít sự cố bạo lực trên đường đi.

Rất khó khăn để ước tính số lượng của toàn bộ các đội quân thập tự chinh, các nhân chứng đã đưa ra các con số rất khác nhau, ngay cả các sử gia hiện đại cũng có các ước tính khác nhau. David Nicolle -Nhà sử gia quân sự chuyên nghiên cứu về Thập tự chinh cho rằng các đội quân bao gồm khoảng 30,000-35,000 quân viễn chinh, trong đó có 5.000 kỵ binh. Raymond ( xứ Provence nay thuộc nước Pháp ) có một đội quân lớn nhất khoảng 8.500 lính bộ binh và 1.200 kỵ binh.

Các hoàng tử đến được Constantinople và chỉ còn lại rất ít đồ quân nhu cũng như thực phẩm và họ cần sự giúp đỡ từ Alexios. Hoàng Đế Alexios được cho là có chút nghi ngờ về sức mạnh của Thập tự quân sau kinh nghiệm của ông với cuộc Thập tự chinh của nhân dân, và cũng bởi vì trong số các hiệp sĩ có kẻ thù cũ người Norman của ông, Bohemond-người đã từng xâm chiếm lãnh thổ Byzantine nhiều lần với cha của ông ta là Robert Guiscard, và có thể thậm chí ông này đã cố gắng để tổ chức tấn công Constantinople trong khi đóng trại bên ngoài thành phố.


Tranh vẽ đoàn quân Thập tự chinh của các quý tộc đến thành phố Constantinople – bức tranh này có một chỗ không chính xác, đó là người Byzantine đón tiếp họ ở bên ngoài thành phố

Các đạo quân viễn chinh có thể đã dự kiến rằng Hoàng đế Alexios sẽ trở thành lãnh đạo của họ, nhưng ông này đã không quan tâm đến việc tham gia cùng với họ và chủ yếu là chỉ quan tâm đến việc vận chuyển họ sang đất Tiểu Á càng nhanh càng tốt. Để đổi lấy thực phẩm và đồ quân nhu, Alexios yêu cầu các chỉ huy Thập tự quân thề lờ̀i thề̀ trung thành với ông và hứa sẽ trả lại cho đế quốc Byzantine bất kỳ vùng đất nào mà họ thu hồi được từ tay người Thổ Nhĩ Kỳ. Godfrey là người đầu tiên chấp nhận những lời tuyên thệ, và gần như tất cả các chỉ huy khác cũng làm theo ông ta, mặc dù họ chỉ làm như vậy sau khi chiến tranh đã gần như bùng nổ ở gần thành phố giữa các công dân ( của Constantinople) và quân viễn chinh-những người chỉ muốn cướp bóc. Chỉ một mình Raymond là tránh lời thề, thay vào đó ông chỉ đơn giản là cam kết rằng sẽ không gây hại cho đế quốc. Trước khi đảm bảo rằng các quân đội khác nhau được chuyển ( bằng phà) qua eo biển Bosporus, Hoàng đế Alexios đưa ra lời khuyên cho các chỉ huy (Thập tự quân ) về cách tốt nhất để đối phó với quân Seljuk mà họ sẽ sớm gặp phải.

Cuộc vây hãm Nicaea

Các đội quân thập tự chinh vượt qua (eo biển Bosporus ) và tiến vào Tiểu Á trong nửa đầu năm 1097, nơi họ được gia nhập bởi Peter- nhà ẩn sĩ và phần còn lại của đội quân nhỏ bé của ông. Ngoài ra, Alexios cũng đã gửi hai trong số các tướng của mình, Manuel Boutoumites và Tatikios, để hỗ trợ các đạo quân viễn chinh. Mục tiêu đầu tiên của chiến dịch của họ là phải chiếm được Nicaea-Thành phố vốn nằm trên bờ biển phía đông Hồ İznik, thành phố này bị người Seljuk Turks chiếm từ tay Đế quốc Byzantine trong năm1081 và trở thành thủ đô của Vương quốc Hồi giáo Rum. Năm 1096 cuộc Thập tự chinh của Nhân dân-giai đoạn đầu tiên của cuộc Thập tự chinh đầu tiên, đã cướp bóc các vùng đất xung quanh thành phố trước khi bị bị tiêu diệt bởi người Thổ Nhĩ Kỳ. Kết quả là, Sultan Kilij Arslan I lúc đầu cảm thấy rằng làn sóng thứ hai của quân viễn chinh không phải là một mối đe dọa Ông đã để lại gia đình và ngân khố của mình phía sau, ở tại Nicaea và đi về phía đông để chống lại triều đình Danishmends lúc này đang kiểm soát vùng Melitene. Sau đó, khi quân Thập tự chinh đến nơi, thành phố đã phải trải qua một cuộc bao vây kéo dài, và khi Arslan nhận được tin cấp báo phải gấp rút quay trở về Nicaea và tấn công vào quân thập tự chinh vào ngày 16 tháng Năm. Ông đã bị đẩy lùi bởi một lực lượng thập tự chinh hùng mạnh mà ông không ngờ tới, và hai bên đều phải chịu những tổn thất nặng nề trong những trận chiến tiếp theo.

Cuộc bao vây của quân Thập tự chinh

Các đoàn quân viễn chinh bắt đầu rời Constantinople vào cuối tháng 4 năm 1097. Godfrey xứ Bouillon là người đầu tiên đến Nicaea cùng với Bohemund của xứ Taranto, Tancred-cháu trai của Bohemond, Raymond IV của Toulouse và Robert II của Flanders đến sau ông ta cùng với Peter Hermit và một số người còn sống sót của cuộc Thập tự chinh nhân dân và một lực lượng nhỏ của Byzantine dưới sự chỉ huy của Manuel Boutoumites. Họ đã đến vào tháng 6 và lâm vào cảnh bị thiếu lương thực, nhưng Bohemund đã bố trí cho vận chuyển thực phẩm bằng đường bộ và đường biển. Họ bắt đầu cuộc bao vây thành phố từ ngày 14 tháng 5, họ chia lực lượng của họ thành nhiều phần khác nhau để bao vây các bức tường thành phố vốn được bảo vệ rất tốt với 200 chiếc tháp canh. Bohemund đóng trại ở phía bắc của thành phố, Godfrey ở phía đông, và Raymond cùng với Adhemar của Le Puy ở phía nam.

Đánh bại Kilij Arslan

Như đã đề cập đến ở phần trên ngày 16 tháng 5, hậu vệ Thổ Nhĩ Kỳ bất thình lình tấn công vào họ ( Thập tự quân ), nhưng họ ( quân Thổ) đã bị đánh bại trong một cuộc giao tranh và mất khoảng 200 lính. Người Thổ Nhĩ Kỳ gửi thư tới Kilij Arslan để xin ông này quay trở lại và khi ông ta nhận ra sức mạnh của quân viễn chinh ông đã nhanh chóng quay trở lại. Một đội quân tiên phong đã bị đánh bại bởi quân đội của Raymond và Robert của Flanders vào ngày 20 và ngày 21 tháng 5, quân đội thập tự chinh lại tiếp tục đánh bại Kilij trong một trận chiến kéo dài vào ban đêm. Cuối cùng Quốc vương Thổ nhỹ kỳ quyết định rút lui bất chấp lời cầu xin của người Thổ ở Nicaean. Phần còn lại của quân viễn chinh tiếp tục kéo đến trong suốt phần còn lại của tháng 5 dưới sự chỉ huy của Robert Curthose (Đi cùng với Ralph de Guader) và Stephen nhà Blois đến vào đầu tháng Sáu. Trong khi đó Raymond và Adhemar đã cho đóng một máy hãm thành lớn, chiếc máy hãm thành này đã công vào tháp Gonatas để tấn công vào quân phòng thủ ở trên các bức tường thành trong khi các thợ mỏ lại tìm cách cho sập tòa tháp từ bên dưới. Tòa tháp đã bị hư hỏng nhưng quân thập tự chinh cũng không chiếm được nó.

Người Byzantine đến nơi

Hoàng đế Byzantine Alexius I chọn cách không đi cùng với quân viễn chinh, nhưng lại xuất hiện ở phía sau họ và hạ trại của ông ở Pelecanum gần đó. Từ đó, ông đã gửi các con tầu đi qua đất liền ( đương nhiên là phải khênh), để giúp quân viễn chinh phong tỏa hồ Ascanius, vốn cứ điểm này được sử dụng bởi người Thổ Nhĩ Kỳ để cung cấp thực phẩm cho Nicaea. Các con tàu đến nơi vào ngày 17 tháng 6, dưới sự chỉ huy của Manuel Boutoumites. Tướng Tatikios cũng được gửi đến cùng với 2.000 bộ binh. Alexius đã chỉ đạo Boutoumites bí mật đàm phán về sự đầu hàng của thành phố mà không cho quân viễn chinh biết. Tatikios được chỉ thị phải tham chiến trong hàng ngũ quân viễn chinh và thực hiện một cuộc tấn công trực tiếp vào các bức tường thành, trong khi Boutoumites cũng sẽ giả vờ làm như vậy để làm cho dường như người Byzantine đã chiếm được thành phố này trong trận chiến. Chiến thuật này đã được thực hiện và vào ngày 19 tháng 6 người Thổ Nhĩ Kỳ đầu hàng trước Boutoumites.

Khi quân viễn chinh phát hiện ra những gì Alexius đã làm, họ rất tức giận vì hy vọng cướp bóc được tiền và đồ nhu yếu phẩm từ thành phố. Tuy nhiên Boutoumites đã được đặt làm dux ( công tước ) của Nicaea và cấm không cho quân viễn chinh tiến vào trong thành phố với những nhóm lớn hơn 10 người tại một thời điểm. Boutoumites cũng trục xuất các tướng Thổ Nhĩ Kỳ, người mà ông coi là không đáng tin cậy ( và thực sự thì những người này đã cố gắng để bắt những người Byzantine dẫn đường của họ làm con tin trên đường đến gặp hoàng đế). Gia đình của Kilij Arslan đã được gửi đến Constantinople và cuối cùng đã được thả mà không bị đòi tiền chuộc. Alexius tặng tiền bạc, ngựa và quà cáp khác cho quân viễn chinh, nhưng họ đã không hài lòng với điều này và tin rằng họ có thể còn kiếm được nhiều hơn nếu chính họ chiếm lấy Nicaea. Boutoumites đã không cho phép họ rời đi cho đến khi tất cả bọn họ tuyên thệ lời thề tình trạng lệ thuộc-vassalage vào Alexius, nếu họ đã không làm như vậy tại Constantinople. Như ông này đã tỏ thái độ ở Constantinople, Tancred lúc đầu từ chối, nhưng cuối cùng ông đã phải chấp nhận.

Hậu quả

Các đoàn quân viễn chinh rời Nicaea vào ngày 26, trong hai đội binh: Bohemond, Tancred, Robert của Flanders và Taticius trong đội tiên phong, và Godfrey, Baldwin của Boulogne, Stephen và Hugh của Vermandois ở đội hậu binh. Taticius được chỉ thị phải bảo đảm trả thành phố bị chiếm về cho đế quốc. tinh thần của họ đang lên cao và Stephen đã viết cho vợ là Adela rằng họ dự kiến sẽ được ở Jerusalem trong năm tuần. Ngày 01 tháng 7, họ đánh bại Kilij tại Trận Dorylaeum, và vào tháng 10 họ đến được thành phố Antioch, phải sau hai năm họ mới đến được Jerusalem kể từ ngày rời Nicaea.

Trận Dorylaeum (1097)

Bối cảnh

Ngày 29 tháng 6, họ biết được rằng người Thổ Nhĩ Kỳ đã lên kế hoạch cho một cuộc phục kích ở gần Dorylaeum (Bohemund nhận thấy quân đội của mình bị đeo bám bởi trinh sát Thổ Nhĩ Kỳ). Lực lượng Thổ Nhĩ Kỳ bao gồm Kilij Arslan I và đồng minh của ông Hasan của Cappadocia, cùng với sự trợ giúp từ Danishmendids, dẫn đầu là hoàng tử Thổ Nhĩ Kỳ Ghazi ibn Danishmend, người Ba Tư và người Caucasian Albania, con số khoảng 150.000 người theo Raymond của Aguilers (Fulcher của Chartres cho rằng con số này bị phóng đại quá đáng, thực tế chỉ khoảng 36.0000 người). Theo số liệu hiện đại thì con số này ở khoảng 25,000-30,000 người (thậm chí 6,000-8,000 người theo một số ước tính gần đây).


Bản đồ vùng Anatolia trước khi nổ ra trận Dorylaeum

Quân viễn chinh rời Nicaea vào ngày 26 tháng 6 với một mối ngờ vực sâu sắc về người Byzantine, những người đã chiếm được thành phố Nicaea mà không thông báo với họ sau một cuộc bao vây dài. Để đơn giản hóa vấn đề vấn đề về vật tư, các đội quân Thập tự chinh đã chia thành hai nhóm, nhóm yếu hơn do Bohemund của Taranto, Tancred-cháu trai của ông, Robert Curthose, Robert của Flanders, và Taticius-tướng của Byzantine trong đội tiên phong, và Godfrey của Bouillon, Baldwin của Boulogne -anh trai của ông, Raymond IV của Toulouse, Stephen, và Hugh của Vermandois ở phía sau.

Ngoài một số lượng lớn không tham chiến, lực lượng của Bohemund có thể có khoảng 10.000 người, đa số là bộ binh. Và dường như có vẻ hợp lý rằng Bohemund có khoảng 8.000 lính bộ binh và 2.000 kỵ binh.

Vào tối ngày 30 tháng 6, sau một cuộc hành quân ba ngày, đội quân của Bohemund hạ trại trên một đồng cỏ ở bờ phía bắc của sông Thymbres, gần thị trấn Dorylaeum đổ nát (Nhiều học giả tin rằng đây là địa điểm của thành phố Eskişehir hiện đại).

Trận đánh

Ngày 01 tháng 7, lực lượng của Bohemund bị bao quanh bị bởi quân đội của Kilij Arslan ở bên ngoài Dorylaeum. Godfrey và Raymond đã tách ra khỏi đội tiên phong tại Leuce, và quân Thổ Nhĩ Kỳ tấn công vào đội quân của Bohemund vào lúc bình minh (không được tính là một cuộc tấn công nhanh) một cách hoàn toàn bất ngờ, và bắn tên như mưa vào trại của Thập tự quân. Các hiệp sĩ của Bohemund đã nhanh chóng lên ngựa nhưng các cuộc phản công lẻ tẻ của họ đã không thể ngăn chặn được người Thổ. Người Thổ Nhĩ Kỳ phi ngựa vào trại, và chia cắt những người không có khả năng chiến trận, những lính bộ binh không có áo giáp, những người đã không thể chạy nhanh hơn những con ngựa Thổ Nhĩ Kỳ và đã quá bị mất phương hướng hoặc quá hoảng sợ để tạo thành đội hình chiến đấu. Để bảo vệ lính bộ binh không có áo giáp và những người không tham chiến ( họ đi theo để phục vụ chiến đấu), Bohemund ra lệnh cho các hiệp sĩ của mình và hình thành một tuyến phòng thủ và tập hợp lính bộ binh cùng với những người không tham chiến vào trung tâm của trại, những phụ nữ đóng vai trò như người chở nước trong suốt cuộc chiến. Lúc này Thập tự quân đã tạo được một đội hình chiến đấu và che chở được cho nhiều lính bộ binh và những người không thể chiến đấu hơn, nhưng nó cũng làm cho người Thổ Nhĩ Kỳ có thể cơ động dễ dàng trên chiến trường ( vì kỵ binh của Thập tự quân đã xuống ngựa). Các cung kỵ Thổ Nhĩ Kỳ tấn công theo kiểu quen thuộc của họ – lao vào tấn công, bắn các mũi tên của họ và nhanh chóng rút lui trước khi quân viễn chinh có thể phản công. Các cung thủ gây được rất ít thiệt hại đến các hiệp sĩ được thiết giáp hạng nặng, nhưng họ đã gây ra tổn thất nặng nề cho ngựa và lính bộ binh không có áo giáp. Bohemund đã phải gửi sứ giả đến các đội quân Thập tự chinh khác và lúc này cố gắng chiến đấu để cầm cự cho đến lúc quân tiếp viện đến nơi và đội quân của ông đã bị buộc phải quay trở lại bờ của con sông Thymbris. Đầm lầy ở bờ sông bảo vệ quân Thập tự chinh khỏi bị quân cung kỵ tấn công vì mặt đất quá mềm để phi ngựa và các hiệp sĩ thiết giáp hình thành một vòng tròn để bảo vệ bộ binh và những người phục vụ chiến đấu khỏi bị trúng tên, nhưng người Thổ Nhĩ Kỳ tiếp tục cho các cung thủ của họ tiến lên, theo tài liệu chép lại có đến 2.000 cung kỵ đã xuống ngựa. Các hiệp sĩ của Bohemund đã nổi khùng-mặc dù có lệnh là phải giữ bình tĩnh, một số nhóm nhỏ các hiệp sĩ muốn bất ngờ phá vỡ hàng ngũ và tấn công, nhưng họ đã bị tàn sát hoặc bị buộc phải quay trở lại vì kỵ binh Thổ Nhĩ Kỳ đã quay trở lại vượt quá phạm vi hiệu lực của kiếm và tên của họ, trong khi chúng vẫn bắn vào họ những cơn mưa tên và giết chết rất nhiều ngựa của các hiệp sĩ. Và mặc dù áo giáp bảo vệ của các hiệp sĩ rất tốt (người Thổ Nhĩ Kỳ gọi họ là người sắt ) một cơn mưa mũi tên bắn vào họ có nghĩa là một số sẽ trúng vào những điểm không được bảo vệ và cuối cùng, sau khi bị bắn trúng quá nhiều một hiệp sĩ sẽ gục ngã vì những vết thương của mình.

Ngay sau giữa trưa, Godfrey đã đến nơi với một lực lượng khoảng 50 hiệp sĩ, họ đã xông qua đội hình của người Thổ Nhĩ Kỳ để tăng viện cho Bohemund. Qua ngày các nhóm nhỏ quân tiếp viện đến nơi(cũng từ Raymond, Hugh và Godfrey), một số bị giết bởi người Thổ Nhĩ Kỳ, những người khác cố chiến đấu để đến được trại của Bohemund. Vì Thập tự quân đã bị mất hết ngựa, người Thổ Nhĩ Kỳ đã trở nên hung dữ và quân Thập tự chinh bị buộc phải lui từ bờ sông có đầm lầy vào các vùng nước nông. Tuy nhiên, Thập tự quân vẫn còn giữ được tổ chức và sau khoảng 7 giờ hỗn chiến, các hiệp sĩ của Raymond đã đến (không rõ liệu Raymond có đi cùng với họ, hoặc liệu họ đã đến trước ông ta), họ phát động một cuộc tấn công bất ngờ vào cạnh sườn của quân Thổ Nhĩ Kỳ và làm cho người Thổ trở nên lộn xộn và cho phép quân Thập tự chinh tập hợp lại. Thập tự quân đã hình thành đội hình một dòng trận chiến với Bohemund, Tancred, Robert của Normandy và Stephen ở cánh trái, Raymond, Robert của Flanders ở trung tâm và Godfrey, Robert của Flanders và Hugh bên phải và họ cùng tiến lên để tấn công người Thổ Nhĩ Kỳ vừa hô to “hodie omnes divites si Deo placet effecti eritis”(” Ngày hôm nay Thiên Chúa rất hài lòng nếu tất cả các bạn sẽ trở nên giàu có “). Mặc dù sự tàn khốc của cuộc tấn công của Norman vào người Thổ Nhĩ Kỳ diễn ra một cách bất ngờ, họ đã không thể đánh gục người Thổ ngay lập tức, phải cho đến khi một lực lượng được chỉ huy bởi Đức-Giám-mục Adhemar của Le Puy-người thừa kế của giáo hoàng, đến nơi vào giữa buổi chiều, có lẽ cùng với Raymond trong đoàn tùy tùng, họ bí mật di chuyển xung quanh trận chiến qua ngọn đồi và vượt qua con sông, rồi tấn công ngang sườn vào các cung thủ ở bên trái và tấn công bất ngờ từ phía sau người Thổ Nhĩ Kỳ. Lực lượng của Adhemar đổ vào trại của người Thổ Nhĩ Kỳ và tấn công họ từ phía sau. Tất cả người Thổ Nhĩ Kỳ đều khiếp sợ khi nhìn thấy trại của họ bốc cháy và bởi sự tàn khốc và độ bền của các hiệp sĩ, vì áo giáp của các hiệp sĩ bảo vệ họ khỏi các mũi tên và che chắn cho họ khỏi bị thương từ ngay cả những nhát đâm, chém của gươm giáo và họ ( người Thổ ) nhanh chóng bỏ chạy, bỏ lại trại của họ ở phía sau và buộc Kilij Arslan-vua Thổ phải rút lui khỏi chiến trường.

Hậu quả

Quân viễn chinh đã thực sự trở nên giàu có, ít nhất là trong một thời gian ngắn, sau khi thu giữ được kho bạc của Kilij Arslan. Người Thổ bỏ trốn và Arslan quay sang mối quan tâm khác về các lãnh thổ phía đông của mình và quân viễn chinh có thể hành quân mà hầu như không bị kháng cự qua Anatolia để đến Antioch. Phải mất gần ba tháng để họ vượt qua Anatolia trong sự nắng nóng của mùa hè và vào tháng 10 họ bắt đầu cuộc bao vây thành phố Antioch.

Cuộc bao vây thành phố Antioch

Cuộc bao vây Antioch đã diễn ra trong cuộc Thập tự chinh đầu tiên từ năm 1097 -> 1098. Cuộc bao vây đầu tiên do quân viễn chinh tiến hành để chiếm thành phố từ tay người Hồi giáo, kéo dài từ ngày 21 tháng 10 năm 1097, đến ngày 02 tháng 6 năm 1098. Cuộc bao vây thứ hai để chống lại chính lực lượng viễn chinh đã chiếm nó, kéo dài từ ngày 07-> ngày 28 tháng 6 năm 1098.


Bản đồ hoạt động của quân thập tự chinh trong năm 1097 -> 1098

Bối cảnh


Bản đồ lộ trình của quân Thập tự chinh lần đầu tiên ( không phải của Thập tự chinh Nhân dân) từ thành phố Nicaea đến vùng đất Thánh

Thành phố Antioch bị người Seljuk chiếm từ tay Đế quốc Byzantine chỉ rất gần lúc đó, trong năm 1085. Các công sự của Byzantine được xây dựng kể từ thời Justinian I và gần đây chúng đã được xây dựng lại và củng cố; người Seljuks đã chiếm được thành phố qua sự phản bội và những bức tường thành phố vẫn còn nguyên vẹn. Từ năm 1088, thống đốc Seljuk của nó là Yaghi-Siyan. Yaghi-Siyan cũng đã biết rằng quân thập tự chinh đã hành quân qua Anatolia trong năm 1097 và ông ta kêu gọi sự giúp đỡ từ các quốc gia Hồi giáo láng giềng nhưng vô ích. Để chuẩn bị cho sự xuất hiện của họ, ông đã cho bỏ tù John the Oxite- Giáo trưởng chính thống của Antioch, và cho lưu đày những người Hy Lạp và Armenia theo đạo Kitô Chính Thống, mặc dù các công dân Syria theo đạo Kitô Chính Thống được phép ở lại.

Các kế hoạch của thập tự quân

Khi quân viễn chinh đến bờ sông Orontes bên ngoài Antioch vào ngày 20 tháng 10 năm 1097. Ba thủ lãnh chính của cuộc thập tự chinh vào thời điểm này, Godfrey của Bouillon, Bohemund của Taranto và Raymond IV của Toulouse ban đầu không đồng ý về những việc cần làm tiếp theo: Raymond muốn tổ chức một cuộc tấn công trực tiếp, trong khi Godfrey và Bohemund lại muốn tiến hành một cuộc bao vây thành phố. Raymond miễn cưỡng bằng lòng và một phần quân viễn chinh được triển khai để bao quanh thành phố vào ngày 21. Các pháo đài của thành phố cũ của người Byzantine đã đủ mạnh để chống lại một cuộc tấn công trực tiếp, mặc dù Yaghi-Siyan có thể không có đủ người để bảo vệ toàn thành phố và ông đã cảm thấy nhẹ nhõm và phấn khích khi quân viễn chinh đã không tấn công ngay lập tức. Bohemund đóng trại ở góc đông bắc của thành phố tại cổng Thánh Paul, Raymond lập trại của mình ở xa hơn nữa về phía tây tại cổng của Chó- Gate of the Dog và Godfrey hạ trại cho quân của mình tại các cửa của Công tước, tiếp tục xa hơn nữa về phía tây, nơi mà một cầu tàu đã được xây dựng ngan qua Orontes tới làng Talenki. Phía Nam là tháp Hai chị em và ở góc tây bắc của của Thánh George Gate, nơi này đã không bị phong tỏa bởi quân viễn chinh và được sử dụng trong suốt cuộc bao vây cung cấp thực phẩm cho Yaghi-Siyan. Về phía nam và phía đông của thành phố là khu vực đồi núi được gọi là Mt. Silpius, nơi mà thành lũy và các cổng sắt được xây dựng.

Cuộc bao vây đầu tiên 

Vào giữa tháng 10 Tancred-cháu của Bohemund đến nơi với quân tiếp viện và một hạm đội của Genova đã đi vào cảng tại St Symeon, đưa thêm thực phẩm và quân nhu. Cuộc bao vây kéo dài và vào tháng 12 Godfrey đã bị bệnh, thực phẩm đã cạn mà mùa đông lại đến gần. Vào cuối tháng này Bohemund và Robert của Flander mang khoảng 20.000 người đi tìm kiếm thức ăn và thực phẩm ở phía Nam, nhưng khi họ ra đi Yaghi-Siya đã tiến ra từ Cổng Thánh George vào ngày 29 và tấn công vào doanh trại của Raymond ở bên kia sông tại Talenki. Raymond đã đẩy được ông ta lui trở lại nhưng đã không thể chiếm được thành phố. Trong khi đó, Bohemund và Robert đã bị tấn công bởi một đội quân dưới sự chỉ huy của Duqaq xứ Damascus, lực lượng này tiến về phía Bắc để viện trợ cho Antioch. Mặc dù quân viễn chinh đã chiến thắng ở đây, họ vẫn buộc phải rút lui về Antioch với rất ít lương thực. Tháng này kết thúc mang tới điềm gở cho cả hai phía: có một trận động đất vào ngày 30 tháng 12 và những tuần sau người ta thấy những trận mưa to trái mùa và thời tiết rất lạnh làm cho Duqaq phải quay trở về nhà mà không thể tiếp tục tấn công vào quân viễn chinh.

Nạn đói

Do thiếu lương thực nên đã có một nạn đói xảy ra trong trại của quân viễn chinh, giết chết cả hai người và ngựa, một phần bảy số người bị chết vì đói và chỉ còn có 700 con ngựa còn sống sót. Có vẻ như là một số trong những người lính nghèo nhất, những tàn dư của Thập tự chinh Nhân dân được chỉ huy bởi Peter Hermit và kêu gọi Tafurs, trở thành những kẻ ăn thịt người, ăn các cơ quan nội tạng của người Thổ Nhĩ Kỳ đã chết. Những người khác ăn thịt những con ngựa, mặc dù một số hiệp sĩ thà chết đói. Các Kitô hữu địa phương, cũng như Simeon-Giáo trưởng Chính Thống của Jerusalem, người đang sống lưu vong ở Cyprus, đã cố gắng để gửi thực phẩm nhưng cũng không làm giảm bớt nạn đói. Một số hiệp sĩ và binh lính đã bắt đầu bỏ ngũ vào tháng giêng năm 1098, bao gồm cả Peter-nhà ẩn sĩ, mặc dù ông đã nhanh chóng bị tìm thấy và được đưa trở lại trại của Tancred nhưng uy tín của ông đã bị lu mờ.

Taticius bỏ đi

Trong tháng Hai, Taticius-viên tướng và là người đại diện của Byzantine, người đã ở lại với quân viễn chinh như là cố vấn và đại diện của Hoàng đế Alexius I, đột nhiên rời bỏ quân đội của quân viễn chinh. Theo Anna Comnena, người có lẽ đã nói chuyện với cá nhân Taticius, quân viễn chinh đã từ chối lắng nghe lời khuyên của ông và Bohemund đã thông báo với ông rằng các thủ lĩnh khác đã lập kế hoạch để giết ông vì họ tin rằng Alexius đã bí mật khuyến khích người Thổ Nhĩ Kỳ. Mặt khác Bohemund lại tuyên bố rằng đây là sự phản bội hay hèn nhát, lý do đủ để xóa bỏ nghĩa vụ phải trả lại Antioch cho Byzantine và ông ta cũng muốn bỏ đi trừ phi ông ta được phép giữ Antioch cho chính mình khi nó bị chiếm. Biết thừa rằng Bohemund đang lập kế hoạch để chiếm thành phố cho riêng mình và rằng có thể chính ông ta đã lên kế hoạch để đuổi Taticius đi để tạo ra điều kiện này, Godfrey và Raymond đã không để cho ông ta làm mình làm mẩy, nhưng một nhóm nhỏ các hiệp sĩ và binh lính đã công nhận yêu cầu của ông và ông ta đã đạt được sự đồng cảm của họ. Trong những lúc xảy ra sự kiện này, Yaghi-Siyan tiếp tục tìm kiếm sự giúp đỡ từ những người hàng xóm của mình và quân đội dưới sự chỉ huy của Ridwan đến Antioch từ Aleppo. Giống như Duqaq trước đó, ông ta cũng đã bị đánh bại tại Ha-rim ở ngoài thành phố Antioch vào ngày 9 tháng 2.

Người Anh tiếp viện cho quân thập tự chinh

Trong tháng 1 năm 1098 một hạm đội được dẫn đầu bởi Edgar Atheling, nhà vua bị lật đổ của nước Anh ( bởi William the Conqueror), đã đến bến Saint Simeon từ Constantinople, nơi Edgar đang sống lưu vong. Họ mang theo nguyên vật liệu để đóng một máy công thành, nhưng nó đã gần như bị mất vào ngày 6 khi Raymond và Bohemund ( họ không tin tưởng lẫn nhau để chỉ một người đi mang các vật liệu về một mình) đã bị tấn công trên đường trở về Antioch bởi một phân đội của quân đồn trú của Yaghi-Siyan. Tuy nhiên với sự giúp đỡ của Godfrey, họ đã đánh bại được quân Thổ và các vật liệu đã được thu hồi. Mặc dù Edgar đã được trao hạm đội và các vật liệu để bao vây thành phố được cung cấp bởi hoàng đế Alexius, nhưng quân viễn chinh đã không cho rằng đây là sự hỗ trợ trực tiếp của người Byzantine. Quân viễn chinh thiết lập để đóng một máy công thành, cũng như một pháo đài được gọi là La Mahomerie để ngăn chặn Gate Bridge và ngăn cản Yaghi-Siyan tấn công vào đường dây cung cấp cho Thập tự quân từ cảng Saint Simon và Alexandretta, trong khi họ cũng sửa chữa tu viện bị bỏ hoang ở phía tây của Cổng Saint George, nơi vẫn còn đang được sử dụng để cung cấp thực phẩm cho thành phố. Tancred cho quân đồn trú trong tu viện, trong khi Bá tước Raymond của Toulouse giành quyền kiểm soát pháo đài La Mahomerie. Cuối cùng thì cuộc bao vây của quân thập tự chinh đã có thể tạo ra một số hiệu ứng vào thành phố được bảo vệ rất tốt. Các điều kiện về thực phẩm đã được cải thiện đối với quân viễn chinh cũng như mùa xuân đang đến gần và thành phố đã bị phong tỏa hoàn toàn.

Sứ giả của triều Fatimid

Vào tháng Tư một sứ giả của triều đình Fatimid Ai Cập đến trại của thập tự chinh, hy vọng sẽ thiết lập một nền hòa bình với các Kitô hữu, những người đã là kẻ thù của kẻ thù của mình-người Seljuks. Peter nhà ẩn sĩ, người rất thông thạo Tiếng Ả Rập, đã được gửi đi để đàm phán. Những cuộc đàm phán đã không thu được kết quả gì. Triều đình Fatimid giả định rằng quân viễn chinh chỉ đơn giản là lính đánh thuê của người Byzantine, và họ đã chấp nhận để cho quân viễn chinh chiếm giữ Syria nếu họ ( Thập tự quân) đồng ý không tấn công vào Palestine của nhà Fatimid, một tình trạng hoàn toàn chấp nhận được giữa Ai Cập và Byzantine trước khi có các cuộc xâm lược của Thổ Nhĩ Kỳ. Tuy nhiên, quân viễn chinh không thể chấp nhận bất kỳ giải pháp nào mà không cho họ Jerusalem. Nhưng sứ giả của nhà Fatimid cũng được đối sử nồng hậu và được trao nhiều quà tặng, vốn cướp bóc được từ người Thổ Nhĩ Kỳ, những người đã bị đánh bại vào tháng Ba và dứt khoát không đạt được một thoả thuận nào giữa các bên.

Chiếm được Antioch

Các cuộc bao vây vẫn tiếp tục và vào cuối tháng 5 năm 1098 một đội quân Hồi giáo từ Mosul dưới sự chỉ huy của Kerbogha tiến đến gần Antioch. Quân đội này lớn hơn nhiều so với các nỗ lực để giải vây trước đó. Kerbogha đi cùng với Ridwan và Duqaq và quân đội của ông cũng bao gồm quân đội từ Ba Tư và từ Ortuqids ở Lưỡng Hà. Quân viễn chinh đã may mắn có được thêm thời gian để chuẩn bị cho sự xuất hiện của họ, vì lúc đầu Kerbogha đã tiến hành một cuộc hành quân kéo dài ba tuần tới Edessa, nhưng ông ta đã không thể tái chiếm thành phố này từ Baldwin xứ Boulogne-người đã chiếm nó trước đó trong năm 1098.


Tranh vẽ cảnh Baldwin xứ Boulogne tiến vào Edessatrong năm 1098

Quân viễn chinh biết họ sẽ phải chiếm được thành phố trước khi Kerbogha đến nếu họ muốn có bất kỳ cơ hội sống sót. Bohemund bí mật liên hệ với Firouz, một lính phòng thủ Armenia, người chỉ huy tháp Hai chị em nhưng lại có ác cảm với Yaghi-Siyan và mua chuộc anh ta mở cửa. Sau đó ông đi đến chỗ các thập tự quân khác và chỉ cho họ cách vào thành thông qua Firouz, nếu họ sẽ đồng ý để cho ông ta cai quản thành phố. Raymond đã rất tức giận và cho rằng thành phố cần được bàn giao cho Alexius, vì họ đã thề như vậy khi rời Constantinople vào năm 1097, nhưng Godfrey, Tancred, Robert và các thủ lĩnh khác đang phải đối mặt với một tình huống tuyệt vọng và đã chấp nhận yêu cầu của ông ta.

Mặc dù vậy, vào ngày 2 tháng 6, Stephen của Blois và một số các quân viễn chinh khác đã từ bỏ quân đội. Sau đó cùng ngày, Firouz hướng dẫn Bohemund để giả vờ tạo ra một cuộc hành quân để đánh chặn Kerbogha ( quân tiếp viện) và sau đó quay trở lại và tấn công thành phố vào ban đêm. Chiến thuật này đã được thực hiện. Firouz mở cửa và một vụ thảm sát xảy ra tiếp theo sau đó. Các Kitô hữu còn lại trong thành phố đã mở các cánh cửa khác và chính họ cũng tham gia vào các vụ thảm sát các đơn vị đồn trú Thổ Nhĩ Kỳ mà họ căm ghét. Tuy nhiên quân viễn chinh đã giết chết một số các Kitô hữu trong số những người Hồi giáo, trong đó có anh trai của Firouz. Yaghi-Siyan đã cố gắng chạy trốn nhưng bị bắt lại bởi một số Kitô hữu Syria bên ngoài thành phố. Ông này đã chặt đầu và đầu của ông được đưa đến cho Bohemund.

Cuộc bao vây thứ hai

Đến cuối ngày, vào ngày 3 tháng Sáu, các quân viễn chinh kiểm soát hầu hết các thành phố, trừ thành lũy vẫn nằm trong tay của Shams ad-Daulah con trai của Yaghi-Siyan. John the Oxite được phong làm giáo trưởng bởi Adhemar xứ Le Puy-người thừa kế của Giáo hoàng, ông này cũng muốn giữ quan hệ tốt với người Byzantine, đặc biệt là khi Bohemund có kế hoạch rõ ràng muốn chiếm thành phố cho riêng mình. Tuy nhiên, thành phố bây giờ rất thiếu thực phẩm và Kerbogha cùng quân đội của ông ta vẫn còn trên đường đến đó. Kerbogha đến chỉ chậm có hai ngày, vào ngày 05 tháng 6. Ông đã cố gắng để tấn công thành phố vào ngày 07 và 09 tháng 6 và thất bại, ông này lại phải tiến hành vây hãm quanh thành phố.

Rất nhiều quân viễn chinh khác đã bỏ ngũ trước khi Kerbogha đến và họ đã gặp Stephen của Blois tại Tarsus. Stephen đã thấy quân đội của Kerbogha đóng trại ở gần Antioch và cho rằng đã mất tất cả hy vọng, những người đào ngũ cũng đã xác nhận về những lo ngại của ông ta. Trên đường trở về Constantinople, Stephen và những người đào ngũ khác gặp Alexius lúc này đang trên đường đến để hỗ trợ cho quân viễn chinh, và không biết họ đã chiếm được thành phố và bây giờ chính mình lại đang bị bao vây. Stephen thuyết phục ông ta rằng phần còn lại của quân viễn chinh coi như đã chết và Alexius nhận được tin từ quân trinh sát của mình rằng có một toán quân Seljuk ở gần Tiểu Á. Vì thế, ông quyết định quay trở về Constantinople chứ không mạo hiểm lao vào chiến đấu.

Khám phá ra Holy Lance

Trong khi đó tại Antioch, ngày 10 tháng 6 một tu sĩ nghèo và có một cái tên không có mấy ý nghĩa là Peter Bartholomew đi lên tuyên bố đã nhìn thấy Thánh St Andrew và nói với ông rằng Holy Lance đang ở trong thành phố. Phần lớn quân viễn chinh vì đói qúa nên chẳng nhìn thấy gì và dễ bị ảo giác và một thầy tu tên là Stephen ở xứ Valence có báo lại là đã nhìn thấy Chúa Kitô và Virgin Mary. Ngày 14 tháng 6 một ngôi sao băng ( sao chổi) đã được nhìn thấy là bay về phía doanh trại của kẻ thù, đây được hiểu như là một điềm tốt. Mặc dù Adhemar cảm thấy ngờ vì ông đã nhìn thấy một di tích của Holy Lance ở Constantinople, nhưng Raymondại tin Peter. Raymond, Raymond của Aguilers, William, Giám mục xứ Orange, và những người khác đã bắt đầu đào bới trong nhà thờ Thánh Phêrô vào ngày 15 tháng 6 và khi họ đi ra với đôi bàn tay trắng, Peter đi vào chỗ đào bới, cúi xuống và nhặt lên một đầu ngọn giáo. Raymond đã diễn đạt điều này như một dấu hiệu của Thiên Chúa rằng họ sẽ tồn tại và do đó chuẩn bị cho một cuộc chiến cuối cùng thay vì đầu hàng. Peter sau đó lại đưa ra một tuyên bố khác rằng St Andrew đã chỉ thị cho quân đội thập tự chinh phải chiến đấu trong năm ngày ( mặc dù họ đang chết đói), sau đó họ sẽ chiến thắng.

Bohemund cũng đã hoài nghi về chuyện Holy Lance, nhưng không đưa ra câu hỏi nào vì phát hiện ra nó làm tăng tinh thần chiến đấu của quân viễn chinh. Cũng có thể là Peter đã tuyên bố về những gì mà Bohemund muốn (chứ không phải những gì St Andrew muốn) vì Bohemund biết- từ gián điệp của ông ta trong trại của Kerbogha, rằng các phe phái ( Hồi giáo ) khác nhau thường xuyên đấu đá với nhau. Kerbogha của Mosul đã thực sự bị nghi ngờ bởi hầu hết các Tiểu vương Hồi giáo vì ông ta cũng rất thèm muốn chủ quyền ở Syria và thường được coi như là một mối đe dọa lớn hơn đến lợi ích của họ so với những kẻ xâm lược dị giáo. Ngày 27 tháng 6, Peter-nhà ẩn sĩ đã được gửi bởi Bohemund để đàm phán với Kerbogha, nhưng việc này đã được chứng minh là vô ích và phải chiến đấu với người Thổ Nhĩ Kỳ đã trở thành điều không thể tránh khỏi. Bohemund đã thành lập lên sáu đơn vị: ông chỉ huy một mình, và năm đơn vị còn lại được dẫn đầu bởi Hugh của Vermandois và Robert của Flanders, Godfrey, Robert của Normandy, Adhemar và Tancred và Gaston IV của Béarn. Raymond đã bị ốm nên phải ở lại bên trong để bảo vệ thành phố với 200 binh sỹ, và thành trì đang được quản lý bởi Ahmed Ibn Merwan-một gián điệp của Kerbogha. ( quân Kitô giáo mới chiếm được thành phố mà chưa chiếm được chiếc thành bên trong)

Trận chiến Antioch

Vào thứ hai ngày 28 tháng 6, các lộ quân viễn chinh xuất hiện từ các cổng của thành phố, với Raymond của Aguilers mang biểu tượng Holy Lance đi trước họ. Kerbogha chần chừ trước lời khuyên của các tướng lĩnh của mình vì ông ta hy vọng sẽ tấn công họ cùng một lúc chứ không phải là chỉ một đơn vị tại một thời điểm, nhưng ông đánh giá thấp số lượng của họ. Ông giả vờ rút lui để dử quân viễn chinh đến những nơi có địa hình xấu, trong khi cung thủ của ông liên tục bắn tên vào quân viễn chinh đang tiến lên. Một đội quân đã được tung ra để tấn công vào cánh trái của quân thập tự chinh, nơi họ đã không được bảo vệ bởi bờ sông, việc này làm cho Bohemund phải nhanh chóng hình thành một đơn vị thứ bảy và đánh bại rồi đẩy lui họ. Người Thổ đã gây ra nhiều thương vong, trong đó có cả Adhemar-người mang ảnh thánh và Kerbogha cho đốt đồng cỏ giữa vị trí của mình và quân viễn chinh nhưng điều này cũng không ngăn cản nổi họ: họ đã nhìn thấy ba vị thánh đi cùng với họ, đó là: St George, St Demetrius và St Maurice ( chẳng qua quân thập tự chinh phao tin để tự nâng cao tinh thần hoặc đói quá nhìn nhầm mà thôi ). Trận chiến diễn ra rất nhanh. Trước khi quân viễn chinh đến được đội hình của Kerbogha, Duqaq và các Tiểu vương Hồi giáo khác đã phản bội Kerbogha và mang quân đội trở lại vùng đất riêng của họ, sự kiện này làm giảm đáng kể lợi thế về số quân số hùng hậu của Kerbogha trước đối thủ Kitô giáo của mình. Chẳng bao lâu thì quân Hồi giáo còn lại cũng phải rút lui.


Ở vào thế không còn gì để mất, quân thập tự chinh dàn trận chiến đấu với quân tiếp viện của người Hồi giáo ở bên ngoài thành phố Antioch và cuối cùng người Hồi giáo phải bỏ chạy, tranh vẽ Robert II xứ Normandy đang hạ gục một thủ lĩnh Hồi giáo

Sau trận đánh

Sau khi Kerbogha bỏ chạy, thành trì dưới sự chỉ huy của Merwan ibn Ahmed cuối cùng đã đầu hàng, nhưng chỉ hạ vũ khí trước cá nhân Bohemund chứ không phải là trước Raymond, điều này dường như đã được sắp đặt trước mà không cho Raymond biết trước. Theo dự kiến, Bohemund tuyên bố thành phố là của mình, mặc dù Adhemar và Raymond không đồng ý. Hugh của Vermandois và Baldwin của Hainaut được gửi tới thành phố Constantinople, tuy vậy Baldwin đã mất sau một cuộc phục kích trên đường đi. Tuy nhiên Alexius đã không quan tâm tới việc gửi một đoàn viễn chinh để đòi thành phố này vào cuối mùa hè. Trở lại Antioch, Bohemund lập luận rằng Alexius đã bỏ chạy khỏi trận chiến và do đó tất cả các lời thề của ông đối với ông ta trở nên vô hiệu lực. Bohemund và Raymond cùng chiếm đóng cung điện của Yaghi-Siyan, nhưng Bohemund kiểm soát hầu hết các phần còn lại của thành phố và cho cắm cờ xí của ông ta lên trên mặt tường thành. Đây là một giả định phổ biến rằng người Frank ở miền Bắc nước Pháp, người Provencal ở miền Nam nước Pháp ( Raymond là người Provence) và người Norman ở miền nam Italy ( người Norman lấn chiếm lãnh thổ của người Byzantine ở miền nam Italy, nên giữa Hoàng đế Byzantine và Bohemund-người Norman luôn có hiềm khích) luôn tự coi mình là “quốc gia” riêng biệt và mỗi vùng đều muốn gia tăng vị thế của nó. Điều này có thể đã là nguyên nhân của các tranh chấp, nhưng chủ yếu nhiều khả năng vẫn là các tham vọng cá nhân đã tạo ra các cuộc đấu đá nội bộ giữa hai người.

Chẳng bao lâu một bệnh dịch đã nổ ra, có thể là bệnh sốt rét, và vào ngày 1 tháng 8 Adhemar-người thừa kế của Giáo hoàng đã chết. Trong tháng 9 các lãnh tụ của cuộc thập tự chinh đã viết cho Giáo hoàng Urban II, yêu cầu chính bản thân ông ta kiểm soát thành phố Antioch nhưng ông này đã từ chối. Trong phần còn lại của năm 1098, họ giành nhau quyền kiểm soát vùng nông thôn xung quanh Antioch, mặc dù lúc này ngay cả ngựa cũng còn ít hơn trước và nông dân Hồi giáo từ chối không cho họ thực phẩm. Các hiệp sĩ và chiến binh trẻ tuổi đã trở nên bất an và nạn đói lại bắt đầu nổ ra và họ đe dọa sẽ tiếp tục tiến tới Jerusalem mà không cần tới các thủ lĩnh của họ. Vào tháng11, cuối cùng Raymond đã trao hoàn toàn quyền quản lý thành phố cho Bohemund vì mục đích duy trì hòa bình trong thập tự chinh và để chấn tĩnh đám quân đang chết đói và sắp nội loạn của ông lại. Vào đầu tháng 3 năm 1099 họ lại bắt đầu một cuộc viễn chinh mới, để lại đằng sau Bohemund lúc này đã trở thành Hoàng tử đầu tiên của Antioch và trong mùa xuân Cuộc vây hãm Jerusalem đã được bắt đầu dưới sự chỉ huy của Raymond xứ Provence.

Sự thành công tại Antioch đã làm cho quá nhiều người cảm thấy hoài nghi về Peter Bartholomew. Những gì mà Peter nhìn thấy dường như là quá đúng lúc và quá thiết thực và ông này đã công khai bị cáo buộc là nói dối. Trong cuộc cãi cọ Peter bị ép buộc phải trải qua thử thách bằng lửa để chứng minh rằng ông ta đã được thần thánh hướng dẫn. Đang ở vùng đất Thánh nên họ đã chọn một kiểu thử thách trong Kinh Thánh: Peter sẽ đi qua một lò lửa và sẽ được bảo vệ bởi một thiên sứ của Thiên Chúa ( nếu đúng là ông ta nhìn thấy Thiên Chúa ). Quân viễn chinh xây dựng một con đường đi qua một lò lửa; Peter sẽ đi bộ xuống con đường giữa những ngọn lửa. Ông đã làm như vậy và đã bị bỏng một cách khủng khiếp. Ông qua đời sau khi chịu đau đớn trong mười hai ngày. Không có gì để nói nhiều hơn về Holy Lance mặc dù một trong những phe phái vẫn tiếp tục cho rằng Peter đã nhìn thấy Thần thánh thực sự và rằng Holy Lance là có thật. ( có vẻ như là Thập tự quân chiến đấu về Niềm tin Tôn giáo nhưng họ lại không mê tín bằng người NC bây chừ).

Cuộc vây hãm Jerusalem năm 1099

Cuộc vây hãm Jerusalem diễn ra từ ngày 7 đến ngày 15 tháng 7 năm 1099 trong cuộc Thập tự chinh đầu tiên. Những Thập tự quân đã tấn công và chiếm được thành phố từ triều đình Fatimid của Ai Cập.

Bối cảnh

Sau khi bao vây và công chiếm thành công thành phố Antioch vào tháng 6 năm 1098, quân viễn chinh đã đóng lại ở khu vực trong phần còn lại của năm đó. Adhemar của Le Puy-người thừa kế Giáo hoàng đã chết và Bohemund của Taranto đã tuyên bố chiếm Antioch cho chính mình. Baldwin của Boulogne ở lại Edessa vốn bị ông ta chiếm vào hồi đầu 1098. Có xảy ra bất đồng giữa các hoàng tử về những việc cần làm tiếp theo; Raymond của Toulouse đã cảm thấy rất thất vọng và rời khỏi Antioch để chiếm lấy pháo đài Ma’arrat al-Numan trong Cuộc vây hãm Maarat. Đến cuối năm các hiệp sĩ và binh sỹ trẻ tuổi đã đe dọa hành quân đến Jerusalem mà không cần đến các thủ lĩnh.

Cuộc bao vây Arqa

Vào cuối tháng 12 hoặc đầu tháng Giêng, Robert của Normandy và Tancred-cháu trai của Bohemond đồng ý trở thành chư hầu của Raymond, người đủ giàu có để trả tiền cho sự phục vụ của họ. Tuy nhiên Godfrey của Bouillon, người mà giờ đây đã có thu nhập từ lãnh thổ của anh trai của ông tại Edessa đã từ chối không theo Raymond nữa. Ngày 05 tháng 1, Raymond cho phá hủy các bức tường của Ma’arrat và vào ngày 13 tháng 1 ông bắt đầu một cuộc trường chinh về phía nam với chân đất và ăn mặc như một khách hành hương, tiếp theo là Robert và Tancred. Đổ bộ xuống bờ biển Địa Trung Hải, họ đã gặp phải những kháng cự nhỏ bởi những thủ lĩnh Hồi giáo địa phương thích chọn phương án hòa bình và chấp nhận cung cấp cho họ lương thực và quân nhu hơn là chiến đấu. Các thủ lĩnh địa phương người Hồi giáo Sunni có thể cũng thích sự cai trị của Thập tự quân hơn là người Hồi giáo dòng Shia của triều đình Fatimid.

Raymond lên kế hoạch để chiếm Tripoli cho mình để thiết lập một thành bang tương đương với Antioch của Bohemund. Tuy nhiên lúc đầu ông đã bị bao vây ở Arqa gần đó. Trong khi đó, Godfrey cùng với Robert của Flander, những người đã từ chối trở thành chư hầu của Raymond, đã tham gia cùng với quân viễn chinh còn lại tại Latakia và hành quân về phía nam vào tháng Hai. Bohemond cũng tham gia hành quân ra với họ nhưng rồi lại nhanh chóng trở về Antioch. Tại thời điểm này Tancred rời bỏ Raymond và gia nhập với Godfrey do một số cuộc tranh cãi không rõ nguyên nhân. Ngoài ra còn một lực lượng Thập tự chinh riêng biệt nữa mặc dù họ có liên kết với lực lượng của Godfrey, được dẫn đầu bởi Gaston IV của xứ Béarn.

Godfrey, Robert, Tancred và Gaston đến Arqa vào tháng ba, nhưng vòng vây vẫn tiếp tục. Tình hình căng thẳng không chỉ ở giữa các nhà thủ lãnh quân sự, mà còn giữa các giáo sĩ, kể từ sau cái chết của Adhemar đã có không có một nhà lãnh đạo thực sự và kể từ khi lúc phát hiện ra Holy Lance bởi Peter Bartholomew tại Antioch, đã có những cáo buộc về gian dối trong số các phe phái khác nhau của nhà thờ. Cuối cùng, vào tháng Tư, Arnulf của Chocques đã thách đố Peter đi trên lò lửa. Peter đã chấp nhận thử thách và chết vì vết thương của mình, do đó đã mất hết uy tín như là một giáo sỹ thánh thiện và Raymond trở thành một trong những người giữ quyền lực tối cao trong cuộc Thập tự chinh.

Cuộc bao vây Jerusalem

Đến thành phố linh thiêng

Cuộc bao vây Arqa kéo dài cho đến 13 tháng 5 sau khi quân viễn chinh bỏ đi mà không chiếm được cái gì. Triều đình Fatimid đã cố gắng để thương lượng hòa bình với điều kiện là các thập tự quân không được tiếp tục hướng tới Jerusalem, nhưng điều này đã bị bỏ ngoài tai; Iftikhar Ad-Daula-Thống đốc của Triều đình Fatimid ở Jerusalem, đã biết được ý định của quân Thập tự chinh. Do đó ông ta cho trục xuất tất cả các cư dân người Thiên chúa giáo của Jerusalem. Ông ta cũng cho hạ độc hầu hết các giếng nước trong khu vực này. Ngày thứ 13 quân Thập tự chinh đến được Tripoli, nơi mà Thống đốc của thành phố đã tặng cho họ tiền và ngựa. Theo quấn Gesta Francorum –quấn biên niên sử vô danh, ông này cũng tuyên bố sẽ chuyển sang Kitô giáo nếu quân viễn chinh thành công trong việc chiếm giữ Jerusalem từ kẻ thù thuộc nhà Fatimid của mình. Tiếp tục đi về phía nam dọc theo bờ biển, quân viễn chinh đã đi qua Beirut vào ngày 19 tháng 5, Tyre vào ngày 23 tháng 5 và di chuyển vào sâu trong nội địa tại Jaffa, đến được Ramlah vào ngày 3 tháng 6, nơi mà đã bị bỏ hoang bởi cư dân của nó. Toà Giám mục của Ramlah-Lydda được thành lập tại nhà thờ St George (Một vị anh hùng thập tự chinh nổi tiếng) trước khi họ tiếp tục tiến vào Jerusalem. Ngày 6 tháng 6, Godfrey đã cử Tancred và Gaston đi để chiếm Bethlehem, và Tancred đã cắm cờ của mình ở Nhà thờ Chúa Giáng sinh ( VN Church of the Nativity- có thể là Nhà thờ Bethlehem ngày nay). Ngày 07 tháng 6 Thập tự quân đã trông thấy thành phố Jerusalem. Nhiều người đã khóc khi nhìn thấy thành phố mà họ đã phải trải qua một cuộc hành trình rất dài để đến nơi.


Tranh vẽ cảnh khi quân Thập tự chinh đến được Đất Thánh Jerusalem, trông họ thật tả tơi tuốt tuột

Cũng như ở Antioch, khi quân viễn chinh tiến tới thành phố, họ cũng tiến hành một cuộc bao vây mà có lẽ cuộc bao vây này lại làm hại chính bản thân họ nhiều hơn so với các cư dân của thành phố vì do thiếu lương thực và nước uống xung quanh Jerusalem. Thành phố đã được chuẩn bị tốt cho một cuộc bao vây và thống đốc Fatimid Iftikhar Ad-Daula đã cho trục xuất hầu hết các Kitô hữu. Trong số khoảng ước tính 5.000 hiệp sĩ đã tham gia vào cuộc Thập tự chinh của các Hoàng tử-Đại quý tộc, chỉ còn có khoảng 1.500 người vẫn đứng vững, cùng với 12.000 binh sĩ khỏe mạnh, (trong số có lẽ có đến 30,000 người). Godfrey, Robert của Flanders và Robert của Normandy (những người đã rời bỏ Raymond để gia nhập với Godfrey) bao vây các bức tường phía bắc tới tận Tháp David, Trong khi Raymond lập trại của ông ở phía tây, từ Tháp David đến tận Núi Zion. Một cuộc tấn công trực tiếp vào các bức tường trong ngày 13 tháng 6 đã thất bại. Nếu không có nước và lương thực thì cả người và ngựa sẽ nhanh chóng chết vì khát và đói và quân viễn chinh biết rằng thời gian đã không đứng về phía họ. Thật trùng hợp, ngay sau khi nổ ra cuộc tấn công đầu tiên, 2 chiếc tầu Galley của người Genova đã đi vào cảng Jaffa và quân viễn chinh đã có thể được cung cấp lương thực để duy trì chính bản thân mình trong một thời gian ngắn. Quân viễn chinh cũng bắt đầu thu thập gỗ từ Samaria để chế tạo một máy công thành. Họ vẫn còn thiếu lương thực và nước uống và đến cuối tháng 6 thì đã có tin đồn rằng một đội quân Fatimid đang hành quân đến từ phía bắc Ai Cập.

Đám rước chân trần


Đám rước chân trần của Tu sỹ và hiệp sỹ thập tự chinh, nó thể hiện quyết tâm phải công phá bằng được Gerusalem của họ

Đối mặt với một nhiệm vụ tưởng như không thể, tinh thần của họ đã được nâng lên khi một linh mục tên là Peter Desiderius đã tuyên bố rằng ông ta đã nhìn thấy Thiên Chúa, theo ông ta kể thì hồn ma của Adhemar ( người đã chết vì bệnh sốt rét ở Antioch) hướng dẫn họ chiến đấu trong ba ngày và sau đó họ phải tuần hành trong một đám rước bằng chân trần trên những bức tường của thành phố, sau đó thành phố sẽ sụp đổ trong chín ngày, giống như là ví dụ về Joshua tại cuộc bao vây Jericho trong Kinh Thán. Mặc dù họ đang chết đói, họ phải nhịn ăn nhưng vào ngày 08 tháng 7 họ đã thực hiện đám rước, với hàng giáo sĩ thổi kèn và hát các bài Thánh Ca trước sự chế giễu của tất cả quân phòng thủ Jerusalem. Đám rước dừng lại ở Núi Olives và các bài giảng được đọc bởi Peter Hermit ( bác này sống dai quá), Arnulf của Chocques và Raymond của Aguilers.

Cuộc tấn công cuối cùng


Quân Thập tự chinh chuẩn bị cho đượt tấn công cuối cùng, giây phút yên ả trước cơn bão tố

Trong suốt cuộc bao vây, rất nhiều cuộc tấn công đã được tiến hành vào các bức tường, nhưng tất cả đều bị đẩy lui. Một toán quân người Genova được dẫn đầu bởi chỉ huy Guglielmo Embriaco, ông này trước đó đã cho phá dỡ những con tàu mà những người Genoeses dùng để đến được vùng Đất Thánh của Thiên Chúa; Embriaco sử dụng gỗ của con tàu để đóng một số tháp công thành. Chúng được được kéo đi bằng bánh xe để tiến lại gần đến các bức tường vào đêm 14 tháng 7 sự ngạc nhiên và quan tâm của các binh lính đồn trú. Sáng ngày 15 tháng 7, chiếc tháp công thành của Godfrey đã đến được những bức tường gần cổng góc đông bắc và theo quấn Gesta Francorum thì hai hiệp sĩ người Flemish đến từ Tournai tên Lethalde và Engelbert là những người đầu tiên vượt qua tường thành để tiến vào thành phố, tiếp theo là Godfrey, Eustace -em trai của ông, Tancred và người của họ. Đầu tiên chiếc tháp công thành của Raymond bị chặn lại bởi một chiếc hào có nước, nhưng khi những lính Thập tự chinh khác đột nhập được vào thành phố, binh lính Hồi giáo bảo vệ cổng thành đã đầu hàng Raymond.


Tháp công thành, thang gỗ, pháo bắn đá đã sẵn sàng, bắt đầu thôi

Cuộc thảm sát ở Jerusalem

Cuộc thảm sát người Hồi giáo
 thaptuchinhtansathoigiao

Tranh vẽ thập tự quân tàn sát người Hồi giáo tại Jerusalem


Tranh vẽ Quân thập tự chinh xông vào Gerusalem và tàn sát 40.000 người Hồi giáo + 1.000 lính phòng thủ, họ cũng mất khoảng 11.000 người trong các trận công thành


Sự xuất hiện của các thủ lĩnh Thập tự chinh cũng chỉ vãn hồi được đôi chút tình hình

Nhiều người Hồi giáo nói nói chung là đã tìm nơi trú ẩn trong nhà thờ Hồi giáo Al-Aqsa Mosque-toà nhà thờ Đá mái Vòm và khu vực Núi Temple. Theo quấn Gesta Francorum, Nói duy nhất của khu vực núi Đền, “…[ người của chúng tôi] đã giết và tàn sát ngay cả đến tận đền thờ Solomon, nơi mà cuộc tàn sát diễn ra một cách điên cuồng nhất, quân thập tự chinh lội trong những vũng máu lên đến mắt cá chân của họ … ” Theo hồi ký của Raymond của Aguilers, loại bằng văn bản duy nhất ở khu vực núi Đền, “trong đền thờ và hiên nhà của đền thờ Solomon quân thập tự chinh người đầy máu me lên đến đầu gối và dây cương ngựa.” Tuy nhiên, hình ảnh này không nên dùng theo nghĩa đen, vì nó được lấy trực tiếp từ chương Apocalypse 14:20 trong Kinh Thánh. Đoạn viết về khu vực núi Đền của Fulcher Chartres-người không phải là một nhân chứng cho cuộc bao vây Jerusalem vì ông đã ở lại với Baldwin tại Edessa lúc đó, nói:..? “Trong ngôi đền này đã có 10.000 người bị giết hại Thực vậy, nếu bạn đã ở đó bạn sẽ nhìn thấy bàn chân của chúng tôi đến tận mắt cá chân của chúng tôi toàn là máu của người bị giết. Không một ai trong số họ còn sống sót, phụ nữ và trẻ em cũng không được tha “. Việc tàn sát một số lượng lớn người Hồi giáo ở Núi Đền đôi khi cũng gây ngờ vực rằng nó được tiến hành vào toàn bộ thành phố, một số nhà bình luận hiện đại cho rằng tất cả hoặc gần như tất cả các cư dân của thành phố đã bị giết. Không có bằng chứng hoặc nhân chứng cho một cơ sở rằng khu bán buôn bên ngoài khu vực núi Đền bị tàn sát.

Các nhân chứng trong quấn Gesta Francorum nói rằng một số người đã được tha chết. tác giả ẩn danh của nó đã viết, “Khi những người ngoại đạo đã bị chế phục, người của chúng tôi đã bắt giữ một số lượng lớn, cả nam và nữ, giết hoặc giam giữ chúng tùy họ muốn.” Sau đó cùng một nguồn viết, “[thủ lĩnh của chúng tôi] cũng ra lệnh cho tất cả những người Saracen đã chết phải bị vứt ra bên ngoài vì mùi hôi thối rất kinh khủng kể từ lúc toàn thành phố đầy ngập xác chết của họ và do đó chúng tôi kéo những người Saracens hoặc sống hoặc chết ra khỏi cửa nhà và sắp chúng thành vào đống. Từ đó không ai nhìn thấy hoặc tiếp tục nghe nói về việc tàn sát người ngoại giáo, cho đến khi việc chôn cất được tiến hành cho những đống xác chết được chất như kim tự tháp và không ai biết số của họ ngoại trừ chỉ một mình Thiên Chúa. Nhưng Raymond đã gây chuyện với các Tiểu vương và những người khác-toàn bộ những người chưa bị thương ( những Thập tự quân còn lành lặn) đã đi cùng ông ta để đến Ascalon ( nơi diễn ra trận chiến cuối cùng của cuộc Thập tự chinh lần 1). “

Một nguồn nhân chứng, Raymond của Aguilers, viết rằng vẫn có một số người Hồi giáo sống sót. Sau khi tường thuật lại việc tàn sát trên núi Đền, ông này cũng nói rằng một số người “đã chạy đến tị nạn ở Tháp David và yêu cầu Công tước Raymond bảo vệ và đầu hàng trước ông ta”, Những người Hồi giáo này được phép rời đi cùng với viên thống đốc của Triều đình Fatimid để đến Ascalon. Một phiên bản của truyền thuyết này cũng được Ibn al-Athir-sử gia Hồi giáo sau này (10, 193-95), người kể lại rằng sau khi thành phố đã bị chiếm và cướp bóc: “Một nhóm người Hồi giáo chiếm tháp David (Mihrab Dawud) và chiến đấu trong nhiều ngày, họ được tha chết để đổi lấy việc đầu hàng. Người Frank đã giữ lời của họ và nhóm này rời đi vào ban đêm để đến Ascalon. ” Một lá thư từ Cairo Geniza cũng đề cập rằng một số cư dân Do Thái đã rời khỏi thành phố cùng với thống đốc Fatimid.

Tancred tuyên bố chủ quyền ở Temple quarter cho bản thân mình và cung cấp bảo vệ cho một số người Hồi giáo ở đó, nhưng rồi ông cũng không thể ngăn chặn được việc họ bị tàn sát bởi bàn tay của các đồng chí trong quân Thập tự chinh của mình.

Mặc dù quân Thập tự chinh đã giết rất nhiều người Hồi giáo và người dân Do Thái, các nhân chứng (Gesta Francorum, Raymond của Aguilers và tài liệu của Cairo Geniza) đã chứng minh rằng một số người Hồi giáo và người dân Do Thái được phép sống, miễn là họ phải rời Jerusalem. Tất cả các ước tính hiện đại của các con số thực sự bị giết tại Jerusalem sau khi cuộc bao vây của quân Thập tự chinh hoàn toàn là do suy đoán; các nguồn tài liệu chính thức từ thời kỳ này chỉ đơn giản là không cho phép thực hiện một ước tính đáng tin cậy.

Người Do Thái

Quấn biên niên sử của Ibn al-Qalanisi cồng bố rằng người Do Thái đã tìm nơi trú ẩn trong thánh đường của họ, nhưng “người Frank đã đốt cháy nó trên đầu của họ” và giết chết tất cả mọi người bên trong. Một tài liệu cáo buộc rằng quân Thập tự chinh đứng vòng quanh tòa nhà cháy và hát “Chúa Kitô, Chúng tôi tôn thờ Ngài!, Ngài là ánh sáng của chúng tôi, lãnh tụ của chúng tôi, tình yêu của chúng tôi”. Không có câu hỏi nào cho thấy có một vụ thảm sát người Do Thái tại Jerusalem, bức thư đương đại từ Cairo Geniza yêu cầu sự trợ giúp cho những người Do Thái chạy thoát khỏi Jerusalem vào thời điểm các cuộc vây hãm có liên quan đến các vụ tàn sát của Thập tự quân lúc này. Tuy nhiên, cùng một bức thư này cũng cho thấy đã rõ ràng rằng có một số nạn nhân Do Thái sống sót.

Kitô hữu phương Đông

Trái ngược với những gì đôi khi bị cáo buộc, không có nguồn nhân chứng nào nói đến việc quân Thập tự chinh người Kitô hữu phương Đông ở Jerusalem và nguồn tin ban đầu của Cơ đốc giáo phương Đông (Matthew của Edessa, Anna Comnena, Michael Syria, vv) đã không đưa ra các cáo buộc như vậy về quân Thập tự chinh ở Jerusalem. Theo sử gia Syriac viết vào năm 1234, Kitô hữu đã bị trục xuất khỏi Jerusalem trước khi quân Thập tự chinh tiến đến. Có lẽ điều này có thể được thực hiện bởi thống đốc triều đình Fatimid để ngăn chặn sự cấu kết có thể xảy ra giữa họ với quân Thập tự chinh.

Quấn Gesta Francorum tuyên bố rằng vào Thứ Tư ngày 09 tháng 8, hai tuần rưỡi sau cuộc bao vây, Peter Hermit khuyến khích tất cả những “linh mục và giáo sĩ Hy Lạp và La tinh ” tiến hành một đám rước tạ ơn tại Nhà thờ Thánh Sepulchre. Sự kiện này cho thấy rằng một số đông giáo sĩ Thiên chúa giáo vẫn còn trong hoặc gần Jerusalem trong thời gian của cuộc bao vây. Tháng 11 năm 1100, cá nhân của Fulcher Chartres ( người thuật lại nhiều chuyện về cuộc Thập tự chinh) đi cùng với Baldwin trong một chuyến viếng thăm Jerusalem, họ đã được chào đón bởi cả giáo sĩ Hy Lạp và Syria và giáo dân (Sách II, 3), điều này cho thấy sự hiện diện Kitô giáo phương Đông ở thành phố một năm sau đó.

Hậu quả

Sau vụ thảm sát, Godfrey của Bouillon đã nhận danh hiệu Advocatus Sancti Sepulchri ( Người bảo vệ của Thánh Sepulchre) vào ngày 22, từ chối để được chọn làm vua của thành phố nơi mà Chúa Kitô đã chết, ông nói rằng ông từ chối đeo một chiếc vương miện bằng vàng ở thành phố, nơi mà Chúa Kitô đã phải đeo một vòng gai. Raymond cũng đã từ chối bất cứ danh hiệu nào và Godfrey đã thuyết phục ông rời bỏ tháp David. Sau đó Raymond đã tiến hành một cuộc hành hương và trong lúc ông vắng mặt Arnulf Chocques, người mà Raymond đã phản đối vì ông này (Raymond) đã hỗ trợ cho Peter Bartholomew, được bầu là Giáo trưởng Latin đầu tiên vào ngày 1 (các khiếu nại của Giáo trưởng Hy Lạp bị bỏ qua). Vào ngày 05 tháng 8, Arnulf sau khi lấy ý kiến của người dân còn sống sót trong thành phố, đã phát hiện ra di tích True Cross.
Ngày 12 tháng 8, Godfrey đã dẫn đầu một đội quân với chiếc chữ thập True Cross được mang theo trong đội quân tiên phong để chống lại quân đội của Triều đình Fatimid ở Trận Ascalon vào ngày 12. Các quân viễn chinh đã thành công, nhưng sau chiến thắng này phần lớn trong số họ coi cuộc thập tự chinh đã hoàn tất và không phải tất cả nhưng một vài trăm hiệp sĩ đã trở về nhà. Tuy nhiên, chiến thắng của họ đã mở đường cho việc thành lập Vương quốc Jerusalem.

Trận Ascalon

Trận Ascalon diễn ra vào ngày 12 tháng 8 năm 1099, và thường được coi là trận chiến cuối cùng của cuộc Thập tự chinh đầu tiên.

Bối cảnh

Quân viễn chinh đã thương lượng với Triều Fatimid của Ai Cập về chuyến hành trình đến Jerusalem, nhưng không đạt được sự thỏa hiệp nào- Triều đình Fatimid đã sẵn sàng từ bỏ quyền kiểm soát Syria nhưng không chịu từ bỏ Palestine, nhưng điều này là không thể chấp nhận đối với quân viễn chinh vì mục tiêu của họ là Nhà thờ Thánh Sepulchre tại Jerusalem. Jerusalem đã bị chiếm từ Triều Fatimid ngày 15 tháng 7 năm 1099, sau khi một cuộc bao kéo vây dài, và ngay lập tức quân viễn chinh biết được rằng một đội quân Fatimid đang trên đường tới tấn công họ.Quân viễn chinh đã hành động một cách nhanh chóng. Godfrey của Bouillon được nhận danh hiệu Người bảo vệ Thánh Sepulchre vào ngày 22 tháng 7 và Arnulf của Chocques, trở thành giáo trưởng của Jerusalem vào ngày 01 tháng 8, ông này phát hiện ra một di tích của True Cross vào ngày 05 tháng 8. Sứ giả của Triều Fatimid đến nơi và yêu cầu quân viễn chinh phải rời khỏi Jerusalem nhưng họ đã bỏ ngoài tai. Ngày 10 tháng 8 Godfrey dẫn đầu lực lượng thập tự quân còn lại ra khỏi Jerusalem và hướng tới Ascalon, Một ngày tháng ba đi, trong khi Peter Hermit dẫn đầu các giáo sĩ Công giáo và Chính thống Byzantine trong một đám rước và cầu nguyện từ Nhà thờ Thánh Sepulchre đến Núi Temple. Robert II của Flanders và Arnulf đi kèm với Godfrey, nhưng Raymond IV của Toulouse và Robert của Normandy lại ở lại, có thể là họ lại có một cuộc tranh cãi với Godfrey hoặc vì họ thích nghe về quân đội Ai Cập từ các chư hầu của mình. Khi sự hiện diện của Ai Cập đã được xác nhận, họ cũng đã hành quân ngày tiếp theo. Ở gần Ramla, họ đã gặp được Tancred và Eustace-em trai của Godfrey, những người đã ở lại để chiếm lấy Nablus trong tháng trước. Theo sau người đứng đầu quân đội, Arnulf mang di tích của thập giá True Cross, trong khi Raymond của Aguilers mang các di tích của Holy Lance vốn đã được phát hiện tại Antioch trong năm trước.

Trận chiến


Tranh vẽ trận Ascalon nhưng mang tính chất ảnh thánh

Quân của Triều Fatimids được dẫn đầu bởi tể tướng al-Afdal Shahanshah, người lúc này chỉ huy có lẽ có đến 50.000 quân (các ước tính khác là khoảng từ 20-30,000 đến 200.000 người theo phóng đại của Gesta Francorum). Quân đội của ông bao gồm người Seljuk Turk, Người Ả Rập, Ba Tư, Armenia, người Kurd và Ethiopia. Ông có ý định bao vây quân viễn chinh ở Jerusalem, mặc dù ông đã không mang theo các thiết bị máy móc công thành. Tuy nhiên có một hạm đội, cũng lắp ráp tại cảng Ascalon. Số lượng chính xác của quân viễn chinh là không rõ, nhưng số lượng được đưa ra bởi Raymond của Aguilers là 1.200 hiệp sĩ và 9.000 lính bộ binh. Con số ước tính cao nhất là 20.000 người nhưng điều này là chắc chắn không thể ở giai đoạn này của cuộc thập tự chinh. Al-Afdal đóng trại ở vùng đồng bằng al-Majdal trong một thung lũng ở bên ngoài Ascalon, chuẩn bị để tiếp tục hành quân đến Jerusalem và bao vây quân viễn chinh ở đó, dường như ông không biết được rằng quân viễn chinh đang tiến tới để tấn công ông ta. Ngày 11 tháng 8 của quân viễn chinh thấy các đàn bò, cừu, lạc đà và dê tụ tập xung quanh doanh trại của quân đội Fatimid, họ chăn thả gia súc bên ngoài thành phố. Theo những tù binh bị bắt bởi Tancred trong cuộc giao tranh ở gần Ramla, Các con vật này được mang đi với tác dụng là khuyến khích quân viễn chinh giải tán hàng ngũ để cướp bóc, làm cho triều Fatimid có thể tấn công dễ dàng hơn. Tuy nhiên, al-Afdal vẫn chưa biết được quân viễn chinh đã xuất hiện trong khu vực của mình và rõ ràng không mong chờ đợi họ. Và những con vật này đã tiếp tục xuất phát cùng với họ vào sáng hôm sau, làm cho quân đội của họ dường như đông hơn nhiều so với thực tế.

Vào sáng ngày 12, trinh sát thập tự quân báo cáo về vị trí của trại Fatimid và quân đội Thập tự chinh đã hành quân về phía nó. Trong thời gian hành quân, quân viễn chinh đã được tổ chức thành chín lộ binh: Godfrey chỉ huy bên cánh trái, Raymond bên cánh phải, và Tancred, Eustace, Robert của Normandy và Gaston IV của Béarn tạo thành cánh trung quân, họ được chia thành hai đơn vị nhỏ hơn và một đơn vị bộ binh lại hành quân trước một đơn vị kỵ binh. Sự sắp xếp này cũng được sử dụng như là đội hình chiến đấu ở bên ngoài Ascalon, với cánh trung quân của quân Thập tự chinh ở giữa Jerusalem và Jaffa Gates, cánh phải ra đến tận bờ biển Địa Trung Hải và cánh trái đối diện với cổng Jaffa.Theo hầu hết các tài liệu (cả từ phía thập tự chinh và người Hồi giáo), quân Fatimid đã bị tấn công mà không kịp chuẩn bị trước và trận chiến diễn ra chỉ trong một thời gian rất ngắn, nhưng Albert của Aix lại nói rằng cuộc chiến kéo trong một số thời gian khá dài và quân đội Ai Cập đã được chuẩn bị khá tốt. Lực lượng chính của hai bên giao chiến với nhau bằng cung tên cho đến khi họ tiến vào đủ để chiến đấu tay đôi bằng giáo và các vũ khí cầm tay khác. Người Ethiopia tấn công vào đội hình trung tâm của quân thập tự chinh và đội quân tiên phong của Triều đình Fatimid đã có thể dùng mưu lừa quân viễn chinh và bao quanh hậu đội của họ cho đến khi Godfrey đến để giải cứu. Mặc dù có thế mạnh số đông, quân đội của al-Afdal lại dường như không thiện chiến và nguy hiểm bằng các đội quân Seljuk mà quân viễn chinh đã gặp phải trước đó. Cuộc chiến có vẻ như đã kết thúc trước kỵ binh hạng nặng Fatimid chuẩn bị để nhập cuộc. Al-Afdal và quân đội của ông ta quá hoảng sợ và bỏ chạy về phía thành phố vốn đã được tăng cường phòng ngự; Raymond đuổi theo và một số trong số họ chạy ra biển, những người khác leo lên cây và bị giết bằng cung tên, trong khi một số khác nữa lại bị dẫm đạp trong cuộc rút lui trở lại các cánh cổng của thành phố Ascalon. Al-Afdal bỏ lại doanh trại phía sau mình cùng với các đồ vật quý báu của ông ta, và cái trại này đã bị chiếm bởi Robert và Tancred. Không rõ Thập tự quân thiệt hại bao nhiêu người nhưng người Ai Cập mất khoảng 10-12,000 người.Hậu quảQuân viễn chinh nghỉ ngơi qua đêm ở trong chiếc trại bị bỏ lại và chuẩn bị cho một cuộc tấn công khác, nhưng vào buổi sáng họ đã thấy rằng quân Fatimid đã rút lui về Ai Cập, Al-Afdal bỏ chạy bằng tàu. Họ ( Thập tự quân) đã cướp phá nhiều như họ có thể mang, bao gồm cả các lều trại và các đồ dùng cá nhân của al-Afdal và đốt bỏ các phần còn lại. Họ trở về Jerusalem vào ngày 13 và sau nhiều lễ kỷ niệm chiến thắng cả Godfrey và Raymond đều tuyên bố sẽ chiếm Ascalon. Khi đơn vị đồn trú ( của Ai Cập) biết được sự tranh chấp giữa hai người, họ đã tuyên bố từ chối đầu hàng. Sau trận đánh, hầu như tất cả quân viễn chinh còn lại đều trở về nhà của họ ở châu Âu, ý nguyện hành hương của họ đã hoàn thành. Có lẽ chỉ còn vài trăm hiệp sĩ ở lại tại Jerusalem vào cuối năm đó, nhưng họ đã dần dần được củng cố bởi quân viễn chinh mới, lấy cảm hứng từ sự thành công của cuộc thập tự chinh ban đầu.Mặc dù trận chiến Ascalon là một chiến thắng của quân thập tự chinh, thành phố này vẫn nằm trong quyền kiểm soát của Triều đình Fatimid và cuối cùng nó lại được tăng cường các đơn vị đồn trú. Nó trở thành căn cứ hoạt động cho các cuộc xâm lược vào Vương quốc Jerusalem những năm sau đó và nhiều trận giao chiến lại xảy ra ở đó trong những năm tiếp theo, cho đến năm 1153 khi cuối cùng quân viễn chinh đã chiếm được nó trong Cuộc vây hãm Ascalon.Cuộc Thập tự chinh đầu tiên đã thành công trong việc thiết lập các “Thành bang thập tự chinh” như Edessa, Antioch, Jerusalem và Tripoli tại Palestine và Syria (cũng như các đồng minh dọc theo tuyến đường của cuộc Thập tự chinh, chẳng hạn như Vương quốc Cilicia của người Armenia-chẳng biết có phải vì người Armenia có truyền thống ủng hộ người Kitô giáo từ thời này mà trong Đại chiến I-khi người Thổ tuyên chiến với các nước phương Tây, họ đã thịt một lèo hơn một triệu người Armenia trong vùng kiểm soát của họ).Trở về nhà ở Tây Âu, những người sống sót từ Jerusalem được coi là những anh hùng. Robert của Flanders đã được mệnh danh là “Hierosolymitanus” để vinh danh những cống hiến của ông. Cuộc đời của Godfrey của Bouillon đã trở thành huyền thoại ngay chỉ sau khi ông chết một vài năm. Trong một số trường hợp, tình hình chính trị tại quê nhà đã bị bị ảnh hưởng rất nhiều bởi sự vắng mặt của những đại quý tộc khi họ phải tham gia thập tự chinh. Ví dụ trong khi Robert Curthose tham gia vào một cuộc thập tự chinh, ngai vàng của nước Anh đã được truyền cho người anh em của ông-Henry I của Anh quốc và kết quả tất yếu của cuộc xung đột giữa họ đã dẫn đến Trận Tinchebray trong năm 1106.Trong khi đó, việc thành lập các Thành bang thập tự chinh ở phía đông đã giúp giảm bớt áp lực của người Seljuk vào Đế quốc Byzantine, họ (người Byzantine) đã lấy lại được một số lãnh thổ của mình ở vùng Anatolia với sự giúp đỡ của quân thập tự chinh và họ đã có một khoảng thời gian tương đối hòa bình và thịnh vượng trong thế kỷ 12. Ảnh hưởng của các triều đại Hồi giáo ở phía đông là ngấm dần dần nhưng cực kỳ quan trọng. Sau cái chết của Malik Shah I trong năm 1092 các bất ổn chính trị và làm phân chia Đế quốc Đại Seljuk, ( chính Đế quốc này) đã gây sức ép bắt người Byzantine phải kêu gọi viện trợ từ Đức Giáo Hoàng, và họ ( người Hồi giáo ) cũng đã ngăn chặn được sự hung hăng và bành trướng của các tiểu quốc Latin (các Thành bang thập tự chinh ở phía đông). Sự hợp tác giữa họ ( người Hồi giáo ) là rất ít ỏi trong nhiều thập kỷ, nhưng từ khi từ Ai Cập cho đến Syria tới Baghdad đều đứng lên hưởng ứng lời kêu gọi trục xuất quân Thập tự chinh, đỉnh điểm là cuộc tái chiếm Jerusalem dưới sự chỉ huy của Saladin vào cuối thế kỷ 12 khi Vương triều Ayyubid đã thống nhất được các khu vực xung quanh Palestine.

Cuộc Thập tự chinh trong năm 1101 ( Hậu của cuộc thập tự chinh lần một)

Cuộc Thập tự chinh năm1101 là ba chiến dịch riêng biệt được tổ chức vào năm 1100 và 1101 do hậu quả từ thành công của cuộc Thập tự chinh đầu tiên. Nó cũng được gọi là Crusade của-Faint Hearted do số người tham gia tham gia cuộc thập tự chinh này phần lớn là những người đã quay trở lại từ cuộc Thập tự chinh đầu tiên. Cuộc Thập tự chinh năm 1101 xuất phát từ một phản ứng thành công của người Seljuk Turks vào cuộc Thập tự chinh đầu tiên, đó là việc người Thổ Nhĩ Kỳ đã đánh bại các đội quân thập tự chinh trong ba trận riêng biệt.

Cuộc Thập tự chinh đầu tiên thành công đã nhắc nhở một lời kêu gọi tiếp viện cho Vương quốc Jerusalem mới được thành lập, và Đức Giáo Hoàng Paschal II, người kế nhiệm Giáo hoàng Urban II ( ông này đã chết trước khi có được kết quả của cuộc thập tự chinh mà ông đã kêu gọi), đã kêu gọi cho một cuộc thám hiểm mới. Ông đặc biệt kêu gọi những người đã chấp nhận lời thề chiến đấu nhưng chưa bao giờ khởi hành, và những người đã quay trở lại sau khi hành hương ( có võ trang). Một số người đã đào ngũ về nhà và phải đối mặt với một áp lực rất lớn để trở về phía đông; Adela của Blois, vợ của Stephen, Bá tước của Blois-người đã bỏ chạy khỏi Cuộc bao vây Antioch trong năm 1098, đã cảm thấy rất xấu hổ vì chồng bà ta và rằng bà ta sẽ không cho phép ông ở nhà ( dễ chừng bà này có bồ nên chỉ muốn đuổi chồng mình đi he he). Cả người giàu có và người nghèo đều muốn làm theo cách riêng của họ đến đến được Đất Thánh, để giải phóng đất thánh khỏi bàn tay của người dị giáo nhân danh Chúa Giêsu, họ muốn có cuộc sống vĩnh cửu trên thiên đàng sau khi họ đã chiến đấu và hy sinh vì Chúa, họ đã được crucesignati. Một số thì lại không thể chịu nổi sự khinh miệt khi họ nhận được ở nhà ( bị phỉ nhổ vì hèn nhát) và như với tất cả các cuộc thập tự chinh khác, hầu hết mọi người muốn rời khỏi đói nghèo và áp bức để tìm kiếm một cuộc sống tốt hơn.

Người Lombard

Cũng như trong cuộc thập tự chinh đầu tiên, những chiến binh và người hành hương không kéo đi thành những đội quân lớn mà là trong một vài nhóm từ các miền khác nhau từ khắp Tây Âu. Trong tháng 9 năm 1100, một nhóm lớn người Lombard rời thành phố Milan. Đây là những nông dân chủ yếu chưa qua đào tạo quân sự, được dẫn đầu bởi Anselm IV, Tổng-giám-mục của Milan. Khi họ đến lãnh thổ của Đế quốc Byzantine, họ đã cướp bóc nó một cách thiếu thận trọng vàHoàng đế Byzantine Alexius I đã áp tải họ tới một doanh trại ở bên ngoài Constantinople. Điều này đã không đáp ứng được yêu cầu của họ và họ đã tràn vào trong thành phố, cướp phá cả cung điện Blachernae, thậm chí đã giết chết một con sư tử-con vật cưng của Alexius. Người Lombard đã được nhanh chóng được chở qua vịnh Bosporus và lập trại của họ tại Nicomedia để chờ quân tiếp viện.

Vào tháng 5 năm 1101 tại Nicomedia họ đã được gia nhập bởi một đội ngũ nhỏ hơn nhưng mạnh hơn từ Pháp, Burgundy và Đức … dưới sự chỉ huy của Stephen của Blois, Stephen I, Bá tước của Burgundy, Eudes I, Công tước của Burgundy và Conrad-Hộ quốc công của Henry IV- Hoàng đế La Mã Thần thánh. Gia nhập với họ ở Nicomedia còn có Raymond IV của Toulouse, một trong những nhà lãnh đạo của cuộc Thập tự chinh đầu tiên, người lúc đó cũng đang phục vụ cho Hoàng đế (La Mã Thần thánh ). Ông được bổ nhiệm làm thủ lĩnh chung và một lực lượng lính đánh thuê người Pecheneg của Byzantine đã được gửi đi cùng với họ dưới sự chỉ huy của tướng Tzitas. Nhóm người này bắt đầu hành quân ra vào cuối tháng để đến Dorylaeum, sau khi tuyến đường được dọn sạch bởi Raymond và Stephen trong năm 1097 trong cuộc Thập tự chinh đầu tiên. Họ đã lên kế hoạch tiếp tục hướng tới Konya, nhưng người Lombard, những người luôn tỏ ra vô kỷ luật hơn tất cả các đội ngũ khác, đã xác định đi xuống phía bắc để đến Niksar nơi Bohemond I của Antioch đang bị bắt giữ bởi người Danishmend. Sau khi chiếm được Ancyra vào ngày 23 tháng 6 năm 1101 và trả nó trở về với Alexius-Byzantine, quân viễn chinh lại tiến về phía bắc. Họ nhanh bao vây thành phố Gangra-nơi có rất nhiều quân đồn trú, và sau đó tiếp tục tiến về phía bắc để cố gắng chiếm Kastamonu -thành phố do người Thổ Nhĩ Kỳ kiểm soát. Tuy nhiên, họ đã bị tấn công từ người Seljuk Turk-những người đã quấy rối họ trong nhiều tuần và một toán đi tìm kiếm lương thực đã bị tiêu diệt vào tháng Bảy.

Tại thời điểm này, trước sức ép của người Lombard, toàn bộ đội quân đã từ bỏ nơi trú chân an toàn có thể có ở bờ Biển Đen và một lần nữa di chuyển về phía đông, về phía lãnh thổ của người Danishmend và cố gắng cứu Bohemond. Tuy nhiên, người Seljuks dưới sự chỉ huy của Kilij Arslan I, ông này đã nhận ra rằng mất đoàn kết là nguyên nhân của sự thất bại của mình trong việc ngăn chặn cuộc Thập tự chinh đầu tiên, giờ đây đã liên minh với cả Danishmends và Ridwan của Aleppo. Trong đầu tháng 8 quân viễn chinh đã gặp một đội liên quân Hồi giáo tại Mersivan.

Trận Mersivan

Quân viễn chinh được tổ chức thành năm lộ binh: người Burgundy, Raymond và Byzantine, người Đức, người Pháp và người Lombard. Người Thổ Nhĩ Kỳ đã gần như tiêu diệt toàn bộ quân đội của quân viễn chinh ở gần vùng núi Paphlagonia tại Mersivan. Vùng đất rất phù hợp với người Thổ Nhĩ Kỳ-nó khô và khắc nghiệt đối với kẻ thù của họ, và nó được mở ra với nhiều không gian cho các đơn vị kỵ binh của họ. Người Thổ Nhĩ Kỳ đã quấy nhiễu những người Latinh trong một số ngày, cuối cùng sau khi chắc chắn rằng họ đã tiến vào nơi mà Kilij Arslan muốn họ chui đầu vào và đảm bảo rằng họ chỉ tìm thấy một lượng rất nhỏ lương thực và quân nhu.

Trận chiến diễn ra trong vòng vài ngày. Vào ngày đầu tiên, người Thổ Nhĩ Kỳ chặn đứng những bước tiến của quân thập tự chinh và bao quanh chúng. Ngày hôm sau, Công tước Conrad dẫn đầu đội quân người Đức của mình trong một cuộc tấn công nhưng thất bại thảm hại. Không những họ không phá được thế trận của người Thổ Nhĩ Kỳ mà họ còn không thể quay trở lại đội hình chính của quân đội thập tự chinh và đã phải trú ẩn trong một tòa thành ở gần đó. Sự kiện này có nghĩa rằng họ đã bị cắt khỏi các nguồn quân lương, tiếp viện và thôngg tin liên lạc cho một cuộc tấn công có thể đã xảy ra, dịp mà người Đức đã có thể phô trương sức mạnh quân sự của họ.


Các cung thủ Thổ nhĩ kỳ, sau những trận thua liểng xiểng người Hồi giáo bắt đầu biết được điểm yếu của Thập tự quân


Kể từ khi người Thổ nắm được điểm yếu của Thập tự chinh thì không bao giờ họ còn có thể vượt qua vùng Anatolia mà không bị thiệt hại nặng nề, thậm chí là còn bị tiêu diệt hoàn toàn.

Ngày thứ ba có phần nào yên tĩnh, với ít các cuộc giao tranh xảy ra hoặc không nghiêm trọng, nhưng vào ngày thứ tư quân viễn chinh đã nỗ lực phá vây để tự thoát khỏi cái bẫy mà họ đã chui vào. Quân viễn chinh đã gây ra tổn thất nặng nề cho người Thổ Nhĩ Kỳ, nhưng cuộc tấn công đã thất bại vào cuối ngày. Kilij Arslan đã được tăng viện bởi Ridwan hùng mạnh của xứ Aleppo và vương công Danishmend khác.

Người Lombard ở đội tiên phong bị đánh bại, người Pechenegs đào ngũ và người Pháp và Đức cũng bị buộc phải quay trở lại. Raymond đã bị mắc kẹt trên một tảng đá và được cứu bởi Stephen và Conrad. Trận chiến vẫn tiếp tục vào ngày hôm sau, khi doanh trại của quân thập tự chinh bị tấn công và thất thủ và các hiệp sĩ phải bỏ chạy, để lại phụ nữ, trẻ em các linh mục bị giết hoặc bị bắt làm nô lệ. Hầu hết người Lombard-những người không có ngựa, đã sớm bị đánh bại và bị giết chết hoặc bị bắt làm nô lệ cho người Thổ Nhĩ Kỳ. Raymond, Stephen của Blois, và Stephen của Burgundy bỏ chạy về phía bắc đến Sinope và trở về Constantinople bằng tàu thủy.

Người Nivernois

Ngay sau khi đội ngũ người Lombard rời khỏi Nicomedia, một lực lượng độc lập dưới sự chỉ huy của William II-Bá tước của Nevers đến được Constantinople. Ông đã vượt qua tiến vào lãnh thổ của Byzantine trên Biển Adriatic từ thành phố Bari, và hành quân đến Constantinople mà không gặp sự cố gì, một điều bất thường đối với một đội quân Thánh chiến. Ông nhanh chóng hành quân để cứu viện cho những người khác, nhưng trên thực tế ông không bao giờ đuổi kịp với họ, mặc dù hai đội quân đã có nhiều lần suýt bắt kịp nhau. William đã có một thời gian ngắn bao vây thành phố Iconium (nay là Konya) Nhưng không thể chiếm được thành phố và ông đã ngay lập tức bị phục kích tại Heraclea Cybistra bởi Kilij Arslan, người vừa mới chỉ đánh bại người Lombard tại Mersivan và đã sẵn sàng để tiêu diệt những đội quân mới càng sớm càng tốt. Tại Heraclea gần như toàn bộ đội quân đến từ Nevers đã bị xóa sổ, ngoại trừ vị Bá tước và một vài người trong số tùy tùng của mình.

Người Pháp và Bavaria

Ngay sau khi William II rời Constantinople, một đội quân thứ ba đã kéo đến, dẫn đầu bởi William IX Bá tước của xứ Aquitaine, Hugh của xứ Vermandois (Một trong những người đã không hoàn tất lời thề của mình về cuộc Thập tự chinh đầu tiên) và Welf I, Công tước xứ Bavaria, cùng với Ida của nước Áo-mẫu thân của Leopold III của nước Áo. Họ đã cướp phá lãnh thổ Byzantine trên đường đến Constantinople và gần như đã nổ ra một cuộc xung đột với lính đánh thuê người Pecheneg ( của Byzantine ) được gửi đến để ngăn chặn họ cho đến khi William và Welf kịp can thiệp.

Từ Constantinople, quân đội này chia đôi, một nửa đi trực tiếp đến Palestine bằng tàu thủy, trong số đó có sử gia Ekkehard của xứ Aura. Phần còn lại, đi du lịch bằng đường bộ và đến được Heraclea trong tháng 9 và cũng giống như đội quân trước, họ đã bị phục kích và tàn sát bởi Kilij Arslan. William và Welf trốn thoát, nhưng Hugh lại nằm trong số những người bị thương; số người sống sót cuối cùng đã đến được Tarsus, nơi mà Hugh đã chết ở đó vào ngày 18 tháng 10 ( biết thế thì cứ ở nhà mà mang tiếng xấu còn hơn he he ). Ida bị mất tích trong cuộc phục kích này và đã được cho là đã bị giết chết, nhưng theo truyền thuyết thì sau đó bà bị giam cầm và trở thành mẹ của Zengi-một kẻ thù lớn của quân viễn chinh trong những năm 1140, tuy nhiên điều này là không logic vì yếu tố thời gian ( bà ta quá già?).

Hậu quả của cuộc Thập tự chinh năm 1101

William Bá tước của Nevers cũng trốn thoát đến Tarsus và gia nhập vào phần còn lại của những người sống sót có cũng như Raymond của Toulouse. Dưới sự chỉ huy của Raymond họ đã chiếm được Tortosa (Tartous), với sự giúp đỡ từ một hạm đội Genova. Vào lúc này thì quân Thập tự chinh đã trở nên một giống như một đoàn hành hương nhiều hơn là chiến binh ( Họ đã kiệt quệ). Một số người sống sót đến được Antioch vào cuối năm 1101 và tại Lễ Phục Sinh của năm 1102 họ đến được Jerusalem. Sau đó nhiều người trong số họ chỉ đơn giản là quay về nhà, ý nguyện của họ đã được hoàn thành mặc dù một số khác vẫn còn ở lại để giúp vua Baldwin I phòng thủ chống lại một cuộc tấn công của Ai Cập ở Ramla. Stephen của Blois đã bị giết chết trong trận đánh này ( bít thí bác này cứ ở nhà nghe vợ nó tửi sướng hơn ), Hugh VI của Lusignan-Tổ phụ của triều đại Lusignan tương lai của Jerusalem và Cyprus cũng vậy. Joscelin của Courtenay cũng ở lại phía sau và sống sót để trở thành Bá tước của Edessa trong năm 1118.

Thất bại của quân viễn chinh cho phép Kilij Arslan thành lập thủ đô tại Konya ( thủ đô cũ là thành phố Nicaea đã bị quân Thập tự chinh chiếm và giao cho người Byzantine), và cũng chứng tỏ với thế giới Hồi giáo rằng quân viễn chinh không phải là bất khả chiến bại như họ đã tỏ ra trong cuộc Thập tự chinh đầu tiên. Quân Thập tự chinh và người Byzantine đổ lỗi cho nhau vì những thất bại này và lúc này không ai trong số họ có thể đảm bảo được một lộ trình an toàn đi xuyên qua vùng Anatolia khi mà Kilij Arslan đã củng cố được vị thế của mình. Lúc này con đường duy nhất đến vùng Đất Thánh là tuyến đường biển và điều này sẽ làm lợi cho các thành phố của Ý. Việc thiếu một con đường an toàn trên bộ từ Constantinople cũng làm lợi cho Công quốc Antioch, nơi mà Tancred đang nắm quyền thay cho Bohemond chú của ông, người cũng đã có thể củng cố quyền lực của mình mà không cần can thiệp của Đế quốc Byzantine. Các cuộc Thập tự chinh thứ hai và thứ ba đều gặp những khó khăn tương tự khi Thập tự quân cố gắng để vượt qua vùng Anatolia.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s