Lịch sử Việt Nam thời tự chủ: Vua Quang Toản (Bài 6)

Hồ Bạch Thảo

 

Vào đầu năm Bính Thìn, Vua Càn Long nhường ngôi cho con là Gia Khánh, lên làm Thái thượng hoàng. Nhân dịp này, Sứ thần An Nam Chánh sứ Nguyễn Quang Dụ, cùng với Vương Công, các quan trong triều, Sứ thần các nước đến dự lễ:

Ngày mồng 1 Mậu Thân tháng giêng năm Gia Khánh thứ nhất [9/2/1796].Thiên tử lên ngôi; ngày hôm nay…các Vương trong triều và bên ngoài, văn võ trăm quan từ tước Công trở xuống đều mặc triều phục, tập hợp.Các sứ thần Triều Tiên, An Nam, Tiêm La, Khuyếch Nhĩ Khách xếp hàng phía sau….(Nhân Tông Thực Lục quyển 1, trang 8-9)

Tiếp đến vào ngày 4 tháng giêng [12/2/1796] Vua Gia Khánh cùng Thái thượng hoàng đế ban yến cho Sứ thần An Nam và Sứ thần các nước tại điện Hoàng Cực, cung Ninh Thọ. Ngày 5 tháng giêng [13/2/1796] Sứ thần được dự yến và ban thưởng tại gác Tử Quang; ngày 15 tháng giêng [23/2/1796] được ban yến tại điện Chính Ðại Quang Minh.

Tổng đốc Lưỡng Quảng tâu trình tàu thuyền bọn cướp biển nương náu tại An Nam. Vua Gia Khánh biết rõ thực trạng, nhưng không dám phiền lòng Vua cha Càn Long trước kia vì chút danh hão đã ‘nuôi ong tay áo’; đến nay bị đốt cũng đành phải ngậm miệng:

 Ngày 21 tháng mười một năm Gia Khánh thứ Nhất [19/12/1796]. Dụ các Quân Cơ Đại thần; Cát Khánh Tổng đốc Lưỡng Quảng tấu rằng:

 ‘Điều tra về việc cướp biển tụ tập, cùng việc tàu bè của chúng ẩn trốn tại lãnh thổ An Nam, quả thực có việc nước này che dấu bọn giặc phỉ. Lúc này nếu gửi văn thư cho họ, là giúp cho bọn giặc phỉ biết tin, tìm cách bí mật trốn tránh.

 Lời nói rất phải; lúc này không nên gửi văn thư hiểu thị nước này. Nếu quan viên điều tra trình báo, Cát Khánh cũng đừng tỏ thái độ; cứ liệu biện ổn thỏa, bắt đầu sỏ của giặc để tuyệt gốc.” (Nhân Tông Thực Lục, quyển 11, trang 15-16)

Vua Gia Khánh tiết lộ sự kiện đạo quân do Tây Sơn tổ chức xâm phạm vùng biển Trung Quốc mỗi ngày một nhiều. Trước đó Tổng đốc Phúc Kiến, Khôi Luân, bắt được bọn cướp, trong đó có Tổng binh An Nam; nay Tổng đốc  Cát Khánh bắt được thuyền với  bảng hiệu Bảo Ngọc Hầu do An Nam phong tước:

Ngày 20 tháng 12 năm Gia Khánh thứ nhất [17/1/1797]. Dụ các Quân cơ đại thần:

Trước đây Khôi Luân bắt được bọn cướp, trong đó có Tổng binh An Nam, cùng quân lính nước này. Những tên này cướp bóc trên biển, tức không khác gì những tên cướp tại nội địa, đã xét theo luật xử tử. Lần này Cát Khánh bắt được thuyền cướp, bảng tiêu có  chữ “ Bảo Ngọc Hầu”, chắc thuộc bọn cướp Trần A Bảo trước đây tại biển Chiết Giang. Từ nay bọn cướp trên biển, vô luận nội địa hoặc ngoại Di, một khi bắt được thì chiếu theo luật nghiêm thi hành. Ðem dụ này truyền hay biết.” ( Nhân Tông Thực Lục quyển 12, trang 12-13)

Tai miền Nam vào tháng giêng năm Bính Thìn [9/2-8/3/1796] Nguyễn Vương Phúc Ánh sai Cai cơ Nguyễn Tiến Lượng giữ chức Chánh sứ và Nguyễn Văn Thụy Phó sứ sang Xiêm. Tặng Phật vương một tòa bảo tháp bằng đá trắng, một xâu đèn thủy tinh, 10 lạng kỳ nam, sáp ong; đường phèn, đường hoa, đường cát mỗi thứ đều 500 cân.

Sai dịch trạm đưa chè bánh đến thành Diên Khánh để ban cho các tướng sĩ. Vương dụ Tôn Thất Hội rằng :

 “Đây ta lấy lòng thành đem quà cho tướng sĩ, khanh nên chia khắp để

cùng được vinh hưởng ơn vua”.

Tháng hai [9/3-7/4/1796] duyệt tuyển bốn dinh Trấn Biên, Phiên Trấn, Trấn Định, Vĩnh Trấn; riêng Vĩnh Trấn cho 2 đạo Long Xuyên [Cà Mâu]và Kiên Giang [Rạch Giá] phụ vào. Tuyển xong, ban cấp giấy chứng nhận, để kiểm soát phòng gian dối.

Thám tử báo Tây Sơn đem quân đóng giữ từ Quảng Nam đến Quy Nhơn. Vương mật dụ Tôn Thất Hội rằng :

Diên Khánh tiếp giáp Quy Nhơn, khanh lưu trấn ở đó, tình hình giặc chắc biết rõ, nếu có thể thừa cơ đánh được, hoặc đi xa mà thắng được, hoặc đánh gần mà thành công, thì binh giáp thuyền bè của ta đều đã đầy đủ sẵn sàng; hãy xem thời cơ rồi sau hành động, không nên vội vã, nên xét kỹ sự thế ngay, chạy biểu báo lên”.

Đóng 15 chiến thuyền lớn, bảng hiệu chữ “Gia”, rồi đặt 15 Tĩnh hải úy chia nhau cai quản. Các thuyền gồm:

1.Gia Hưng.

2.Gia Khánh

3.Gia Nguyên

4.Gia Hạnh

5.Gia Trinh

6.Gia Tường

7.Gia Minh

8.Gia Hòa

9.Gia Trị

10.Gia Thịnh

11.Gia Vĩnh

12.Gia Hựu

13.Gia Hi

14.Gia Hội

15.Gia Thiện

Tháng ba [8/4-6/5/1796] mở khoa thi lấy đỗ 273 người. Trúng Tam trường là bọn Ngũ Khắc Minh, Phạm Đăng Hưng 14 người ; trúng Nhị trường Trần Văn Đản, Nguyễn Văn Uyên 54 người ; trúng Nhất trường Trần Văn Tính, Trần Lợi Trinh 205 người.

Nhân có kẻ giả mạo làm cấm vệ đi cướp của, có kẻ trốn ra khỏi thôn xóm để tránh thuế dịch, bèn ra lệnh cấp thẻ hợp phù mà đeo để xét thực giả. Sai đội Nội mã ra đảo Côn Lôn chọn ngựa đem về dâng.

Tháng tư [7/5-4/6/1796] Vương nghĩ tướng sĩ liền năm đánh dẹp, không nỡ bắt nhọc mệt nữa, bèn nghỉ việc binh, đợi đến sang năm sẽ đánh lớn. Sắc cho các dinh quân cho quân lính về quê để kịp ngày mùa.

Tháng năm [5/6-4/7/1796], ra lệnh khuyến nông. Vương dụ quan các dinh rằng :

Nghề nông là gốc của nước, ăn có đủ thì quân mới mạnh, cho nên người xưa đi thăm dân cày, đi thăm dân gặt, là cốt khuyên dân biết chăm việc gốc. Nay đương mùa làm ruộng, nên dụ bảo cho quân dân trong hạt, hết sức chăm việc làm ruộng, ai không có ruộng thì mướn ruộng mà cày. Lý dịch sở tại đều phải biên sổ, đợi khám để phân biệt kẻ siêng người lười.”

Lấy Phủ lễ sinh là Phạm Đăng Hưng sung Cống sĩ viện, Phủ lễ sinh Hoàng Văn Diễn và Nhiêu học Trần Văn Tính sung Thị thư viện. Lấy bọn nho học Huấn đạo Nguyễn Hữu Thứ, Phủ lễ sinh Nguyễn Hữu Định, Nhiêu học Nguyễn Tường Vân, Nguyễn Văn Quang, Nguyễn Đức Chí 17 người sung Nội thị thư viện. Sai bọn Nội viện Chu Văn Yên sang nhà Thanh mua sách và hàng hóa.

Tháng sáu [5/7-2/8/1796], chở tiền gạo từ Gia Định và Bình Thuận đến chứa ở thành Diên Khánh. Gia Định chở 11.400 phương gạo, 30.000 quan tiền; Bình Thuận chở hơn 1.400 phương gạo.

Triệu Tôn Thất Hội về, sai Chưởng Hữu quân Nguyễn Huỳnh Đức thay giữ thành Diên Khánh; Phó tướng Võ Văn Lượng đem thuộc hạ đi theo, Tán lý Đặng Trần Thường giúp việc quân cơ.

Tháng bảy [3/8/31/8/1796], đặt 5 dinh thủy quân; trước đây mới đặt 3 dinh Trung thủy, Tiền thủy, Hậu thủy, nay đặt thêm dinh Tả thủy, Hữu thủy.

Cho Khâm sai cai đội Đỗ Văn Huy làm Khâm sai đô thống chiêu thảo sứ. Huy dâng sớ bàn về chiến lược đánh Quảng Nam trước, khiến vùng phía nam sẽ tự sụp đổ:

Giặc Tây Sơn mấy năm đây thường bị quân nhà vua đánh thua. Nay nó dựa lũy cao hào sâu cho quân sĩ nghỉ ngơi, cốt để nuôi sức cho khẻo mà đợi quân ta mỏi mệt, chờ xem thế biến. Nếu ta không đánh trước thì e bị trúng kế giặc. Nhưng thế đánh hay giữ trước hết phải được địa lợi. Ngày nào đại binh tiến đánh, xin trước hãy đánh úp lấy Quảng Nam, chiếm giữ ba ải Hải Vân, chặn đường tiếp viện của địch. Quảng Nam đã lấy được thì Quy Nhơn, Quảng Ngãi có thể truyền hịch mà định được”.

Nguyễn Vương khen là phải, bèn thăng Văn Huy chức Khâm sai đô thống. Rồi sai các Tuyên úy sứ Phan Văn Loan, Phan Văn Phụng; Tuyên võ sứ Phạm Văn Tuy; Tham hiệp Đỗ Văn Chân, Trần Văn Phú, mật trở về các phủ Quảng Ngãi, Quảng Nam, Thuận Hóa chiêu dụ nghĩa binh, chờ ngày quân Nguyễn đến sẽ nỗi dậy.

Tháng tám [1/9-30/9/1796], giặc biển Chà Và [Java, Indonesia]  có 17 chiếc thuyền đậu ở Hòn Tre [Kiên Giang], dùng 3 chiếc vào cướp Kiên Giang [Rạch Giá]. Quân địa phương ngăn đánh, chém được 5 thủ cấp, đoạt được một thuyền, đánh đắm một chiếc, còn một chiếc chạy về phía đông. Việc tâu lên, Vương sai Vệ úy vệ Hùng võ Nguyễn Đức Xuyên đem binh thuyền 10 vệ thẳng đến Hòn Tre. Xuyên chia quân làm ba đạo đánh úp, bắt được tướng và quân giặc hơn 80 người, 15 chiếc thuyền, súng ống khí giới không kể xiết; dân biên thùy bị giặc bắt hơn 70 người trở về. Từ đó giặc Chà Và khiếp sợ không dám xâm phạm, đường buôn bán lưu thông.

Sai lấy 68 sở thủy lợi ở Hậu Diện thuộc Tiền Giang và ở Châu Đốc thuộc Hậu Giang trả cho Chân Lạp; cấm các ngư hộ không được xâm lấn, cũng không được mua riêng, làm trái bị xử tử.

Các quan văn võ là Nguyễn Văn Trương, Nguyễn Văn Thành, Lê Văn Duyệt, Nguyễn Văn Khiêm, Nguyễn Thái Nguyên, Trần Phước Tri, Lê Quang Định và bọn Cai cơ, Cai đội, Tri bạ, Tham luận thấy việc quân rỗi rãi, thường cùng nhau chơi cờ bạc, chọi gà, chọi cá, được thua đến trăm nghìn. Vương nghe biết, ban chỉ quở trách, bọn Văn Trương sợ hãi xin chịu tội; bèn răn bảo rồi tha.

Tháng chín [1/10-30/10/1796], đặt mua đường cát ở Trấn Biên [Biên Hòa], cứ 100 cân đường giá 9 quan. Vương dụ quan công đường rằng :

Đường cát dùng để đổi mua binh khí, đương cần, không bắt sản xuất không được, cho nên phải phát vốn trước để trưng mua. Thế là công tư đều tiện lợi, không phải vét lợi của dân mà làm lợi cho nhà nước đâu. Nên thông dụ cho các đường hộ (1) biết”.

Vương nghĩ đã tới mùa gió bấc, quân Tây Sơn có thể nhân thuận gió đến cướp tài vật của dân, lệnh cho Nguyễn Huỳnh Đức tại thành Diên Khánh nghiêm sức các đồn tấn tại cửa biển ngày đêm tuần xét; truyền cho các phủ Bình Khang, Diên Khánh rằng mùa lúa gặt xong, phải chọn nơi mà cất, không để gần bãi biển, để phòng bất trắc ; lại nghiêm cấm những hộ đan buồm không được bán lén cho địch.

Tháng mười [31/10-28/11/1796] Vương đích thân cùng các quan bưng sách vàng ấn vàng tôn vinh mẹ làm Quốc mẫu vương Thái phi.

Sai Cai đội Ba Lang Hy và Ba La Di đều là người Hồng Mao [Âu Tây]  đi Hạ Châu [Singapore] tìm mua binh khí.

Tháng mười một [29/11-28/12/1796] Tù trưởng đất Ba Phủ [Hàm Thuận, Bình Thuận] là Toàn Phù tụ họp hơn 1.000 người, từ núi Đàn Linh [huyện Tánh Linh, Bình Thuận]  ngầm xuống Cà Trập cướp bóc dân địa phương. Việc tâu lên; Vương sai quản dinh Bình Thuận là Lưu Tiến Hòa, Chưởng cơ trấn Thuận Thành là Nguyễn Văn Hào, Chánh phó trấn là Nguyễn Văn Chấn và Nguyễn Văn Điển đem quân đi Phan Thiết để tùy cơ đánh dẹp.

Tháng chạp [29/12/1796-27/1/1797], Vương đến dinh Trấn Định [Tiền Giang], cho quân đi tuần các địa phương Sa Đéc và Long Hồ [Vĩnh Long] vài ngày rồi trở về.

Bắt đầu đúc tiền Gia Hưng Thông Bảo.

Chuẩn định lệ thuế thuyền buôn người Thanh và người Hồng Mao mua ngà voi, sừng tê, đậu khấu, sa nhân; tàu vụ chiếu theo qui định đã đánh thuế người Minh Hương, cứ giá mua 100 quan thì thu 5 quan tiền thuế.

Ban mũ và đai áo cho bọn lưu trấn thành Diên Khánh Nguyễn Huỳnh Đức cùng Đặng Trần Thường, Nguyễn Long, Nguyễn Văn Lợi, Nguyễn Văn Tánh; Huỳnh Đức một bộ mũ đại trào, một áo rét ; bọn Đặng Trần Thường mỗi người một áo rét.

Sửa năm phong hỏa đài (2) ở Vũng Tàu, Tắc Khái, Thùy Vân, Xích Lam [Hàm Tân, Bình Thuận] và Ma Li [huyện Bắc Bình, Bình Thuận].

 

Chú thich:

1.Đường hộ: hộ trồng mía sản xuất đường.

  1. Phong hỏa đài : đài đốt lửa, để báo tin trong trường hợp nguy cấp.

 

 

 

 

 

 

 

Bình luận về bài viết này