Ashoka- Đi Tìm Vị Hoàng Đế Thất Lạc của Ấn Độ (Bài 12)

CHARLES ALLEN

Trần Quang Nghĩa dịch

12 Ngài Alexander Thượng Đẳng

Một trong những trụ cột của Cổng phía Đông của bảo tháp Bharhut, với lan can và đầu tường liền kề, được Joseph Beglar chụp ảnh vào năm 1874. (Cunningham, Bảo tháp Bharhut, 1879)

Cuộc nổi dậy được người Anh gọi là Cuộc Nổi loạn của người Ấn Độ đã làm rung chuyển tiểu lục địa từ mùa hè năm 1857 cho đến gần cuối năm 1858. Nó chấm dứt sự cai trị của Công ty Đông Ấn và dẫn đến sự cai trị của Hoàng gia, với một Phó vương cai trị Ấn Độ thay mặt Nữ hoàng. Bốn năm sau, Alexander Cunningham nghỉ hưu với lương hưu đại tá. Một bức ảnh chụp nhóm lúc ông rời đi cho thấy ông trông đúng như tuổi bốn mươi sáu của mình.

Alexander Cunningham (ở giữa) vào thời điểm ông nghỉ hưu khỏi Quân đội Ấn Độ, cùng với các sĩ quan Công binh Hoàng gia khác vào tháng 10 năm 1862. (Bảo tàng Công binh Hoàng gia, Chatham)

Tuy nhiên, trước khi khởi hành, Cunningham đã cẩn thận trình bày nguyện vọng của mình với Lord Canning, phó vương đầu tiên, và trong vòng một vài tháng ông đã trở lại nhưng với tư cách là một thiếu tướng và một nhà khảo cổ học cho Chính phủ Ấn Độ ‘ở Behar và những nơi khác’, cùng với một nhiệm vụ mơ hồ không kém là ‘mô tả chính xác những di tích đáng được chú ý nhất’. Đó là vai trò mà ông sinh ra để đảm nhiệm.

 

Không có khoản hỗ trợ tài chính nào khác ngoài mức lương chính thức 450 rupee mỗi tháng của Cunningham và khoản trợ cấp thực địa 350 rupee mỗi tháng. Nhưng đó là một khởi đầu và cho phép Cunningham toàn tâm toàn ý cho việc phục hồi địa lý lịch sử Ấn Độ cổ đại, đi khắp miền Bắc Ấn Độ trong một loạt các chuyến thực địa trong những tháng mùa đông và sau đó viết lại kết quả vào mùa hè. Thành quả của những cuộc khảo sát này cuối cùng đã lên tới 23 tập Báo cáo Khảo sát Khảo cổ học, cho đến ngày nay vẫn là một tác phẩm đáng đọc, không chỉ vì phạm vi mà còn vì những phát hiện của chúng.

Cuộc khảo sát Mùa Lạnh đầu tiên tập trung vào Bihar và tỉnh khi đó được gọi là các tỉnh Tây-Bắc và Oude (sau này là các Tỉnh Liên hiệp và ngày nay là bang Uttar Pradesh bắc Ấn Độ). Bản dịch hai tập của Stanislas Julien về các chuyến du hành của Huyền Trang, Memoires sur les Contrées Occidental, đã xuất bản vào năm 1857-8, điều này có nghĩa là Cunningham giờ đây có thể tiến hành khảo sát thực địa dựa vào các kỹ sư du hành của Pháp Hiển và Huyền Trang trong ba lô của mình. Nó cho phép ông theo dõi hầu như mọi địa điểm mà các nhà hành hương Trung Quốc đã ghé thăm, bao gồm các thành phố cổ như Sravasti, Kosambi và Ayodhya. Tại Kosambi, phía tây Allahabad trên một khúc quanh của sông Yamuna, Cunningham đã tìm thấy một trụ cột Ashoka mà Huyền Trang đã quên đề cập đến, không có đầu cột, bị hư hại nặng nề do một vụ cháy gần đây và không có bản chữ khắc Brahmi, nhưng vẫn còn đứng vững. Tại Ayodhya, nơi Huyền Trang đã nhìn thấy một số tu viện bị tàn phá bao gồm một tu viện ‘có một bảo tháp Asoka để đánh dấu nơi Đức Phật đã thuyết giảng cho các vị thần’, Cunningham chỉ có thể tìm thấy chiếc chuông của đầu cột Ashoka, bị lật úp để làm đế một lingam trong ngôi đền giáo phái Shaiva của Nageshvarnatha.

Ông đã làm tốt hơn ở phía nam sông Hằng, xác định được những tàn tích rộng lớn mà Francis Buchanan đã báo cáo lần đầu tiên ở phía nam pháo đài Bihar là địa điểm của trường đại học tu viện nổi tiếng Nalanda. Tại Bồ Đề Đạo Tràng (Bodhgaya), ông bắt đầu dọn dẹp đống đổ nát bao quanh ngôi đền lớn và cây bồ đề để làm lộ rõ ​​hơn lan can đá mà Markham Kittoe đã khai quật trong chuyến thăm địa điểm này vào năm 1847. Ông tìm thấy thêm nhiều cột trụ được trang trí bằng khuôn hình chạm mà Kittoe đã vẽ, một số chúng đã được tái chế để làm giá đỡ mái cho một tòa nhà bên cạnh ngôi đền chính, hiện là nơi cư trú của các tín đồ Hindu.

Từ phong cách trang trí và các dòng chữ Brahmi đi kèm ghi lại tên của những người cúng dường, Cunningham kết luận rằng lan can không thể có niên đại muộn hơn nhiều so với thời Ashoka. Tuy nhiên, ông đã sai, vì đợt khai quật thứ hai được tiến hành vào năm 1875 đã tiết lộ khi tàn tích của một bộ lan can đơn giản hơn và cổ hơn đã được phát hiện. Cùng nhau, chúng đã xác nhận tính chính xác cốt lõi trong lời kể của Huyền Trang, rằng lan can ban đầu của Ashoka đã bị phá hủy bởi Pushyamitra, một kẻ giết vua chống Phật giáo, và bộ lan can thứ hai thay thế chúng cũng đã bị vua Sasanka của Bengal phá hủy.

Bản thân cây Bồ Đề là một mối lo ngại lớn. Năm 1812, Francis Buchanan đã phát hiện ra cây còn tươi tốt, nhưng khi Cunningham nhìn thấy nó nửa thế kỷ sau, nó đã “bị suy kiệt rất nhiều”, các cành cây “không còn vỏ và thối rữa”. Vào thời điểm Cunningham đến thăm Bodhgaya lần thứ ba vào năm 1876, cây đã hoàn toàn biến mất, sau khi bị một cơn bão quật đổ và bị mang đi. Trong chuyến thăm thứ tư, vào thời tiết lạnh giá năm 1880-1881, ông nhận ra rằng một số rễ cây có thể vẫn còn sống sót. Một cuộc đào bới vào lớp đất cát phía tây Ngai Kim Cương đã làm lộ hai đoạn lớn của “Cổ Thụ Bồ Đề”. Nhận thức được rằng tính liên tục thiêng liêng của cây Bồ Đề giờ đây đang bị đe dọa, ông đã cắt một cành giâm từ cây bồ đề gần nhất và trồng bên cạnh Ngai Kim Cương đã được trùng tu. Cành này đã bén rễ và hiện được các Phật tử hành hương tôn kính như hậu duệ đích thực của cây bồ đề nguyên thủy thời Đức Phật Thích Ca.

Năm 1864, Cunningham trở lại nơi đã đạt được thành công đầu tiên của mình: Sankisa, nơi Đức Phật từ trời đi xuống. Giờ đây, ông đã có lời kể của Huyền Trang và những thông tin bổ sung mà nó cung cấp, bao gồm chi tiết về một cột đá Ashoka “màu tím bóng và rất cứng, với một con sư tử đang ngồi xổm trên đỉnh”.  Ngôi làng Samkassa hiện đại nằm trên một gò đất hình chữ nhật lớn được người dân địa phương gọi là qila hay “pháo đài”. Khoảng ba phần tư dặm về phía nam của pháo đài là một gò đất nhỏ hơn, được tạo thành từ gạch đặc, trên đỉnh là một ngôi đền Hindu hiện đại thờ phụng Bisari Devi, được Cunningham mô tả là một nữ thần có quyền năng vĩ đại. Khi băng qua bãi đất trống hướng về phía ngôi đền, ông suýt ngã vào một vật thể lớn giống như tảng đá. Khi được dọn sạch khỏi đám bụi rậm xung quanh lộ ra một đầu cột của một cây cột cổ, có hình một con voi.

Được chạm khắc trên đá sa thạch nhạt màu sáng bóng và cao bốn bộ (khoảng 1,2 mét), bức tượng voi chưa hoàn chỉnh, đã mất vòi, ngà, tai và đuôi. Tuy nhiên, Cunningham vẫn cho rằng tác phẩm điêu khắc này “là hình ảnh đại diện tốt nhất của loài vật này mà tôi từng thấy trong bất kỳ tác phẩm điêu khắc Ấn Độ nào. Các đường gân ở chân được chạm khắc tỉ mỉ, và các ngón chân được thể hiện rõ nét và chân thực.” Bức tượng được đặt trên một bệ đỡ tròn và một chiếc chuông, có phong cách tương tự như bức tượng mà Cunningham tìm thấy ở Sanchi, mặc dù ở đây được trang trí bằng lá cách điệu thay vì hình ngỗng.

Đầu cột hình voi của Ashoka được Alexander Cunningham tìm thấy trên một cánh đồng bên ngoài ngôi làng Samkassa vào năm 1864, được chụp trên thực địa bởi phụ tá của ông Joseph Beglar trong thập niên 1870. Ảnh gốc đã bị hỏng (APAC, British Library).

Cột trụ trên đó tượng voi ban đầu đứng không thể tìm thấy. Tuy nhiên Cunningham không hề do dự tuyên bố rằng cột trụ này cũng là một công trình khác của Hoàng đế Ashoka và suy đoán lý do Huyền Trang báo cáo đã nhìn thấy đầu cột sư tử tại Sankisa mà không phải tượng voi có thể là do vòi voi đã bị gãy khi nhà hành hương Trung Quốc thấy nó và ‘tượng voi đã biến dạng trông lầm là sư tử’. Cũng trong mùa đông này, Cunningham trở lại Kosambi để tìm kiếm thêm tàn tích của trụ đá được tìm thấy một năm trước đó. Ông phát hiện ra một chỉ dụ ngắn và bị cắt xén nhiều, gần giống hệt Chỉ dụ Ly giáo được tìm thấy ở Sanchi, xác nhận rằng Ashoka thực sự đã ban hành chỉ thị cho một số tu viện Phật giáo, yêu cầu Tăng đoàn phải tuân theo.

Nhưng không phải mọi khám phá đều đến từ những chỉ dẫn do các nhà hành hương Trung Quốc cung cấp. Theo thông tin do ông Forrest cung cấp, Cunningham đi thẳng về phía bắc từ Delhi đến làng Kalsi, ngay phía tây thị trấn Mussoorie, tại một điểm mà sông Jumna đổ ra đồng bằng. Từ đây, Cunningham được dẫn đến một sườn núi thấp phía trên sông, trên đó có một tảng đá lớn hình voi làm bằng thạch anh trắng đặc trưng phủ đầy rêu. Ba mặt đã được mài nhẵn và đánh bóng, và trên hai mặt là mười bốn tấm bia đá của Ashoka được sắp xếp gọn gàng, tất cả đều gần như giống hệt về chữ viết và nội dung so với bia đá Girnar. Một điểm cộng nữa là phát hiện ra rằng vai phía bắc của tảng đá có hình một con voi đực với ngà lớn và vòi cong, được cắt gọt gọn gàng. Giữa hai chân trước và sau của con voi có bốn ký tự Brahmi tạo thành từ gajatame.

Sau nhiều lần phân vân, Cunningham phải thừa nhận rằng ông không biết từ này có nghĩa gì, ngoài việc nó có thể ám chỉ đến tên của tảng đá, giống như ba tảng đá chỉ dụ khác được phát hiện cho đến nay, rõ ràng được chọn vì hình dáng giống voi. Giả thuyết tốt nhất hiện nay là gajatame có nghĩa là “con voi đẹp nhất” – có thể là đài tưởng niệm cá nhân của Ashoka dành cho một con voi yêu thích, nhưng nhiều khả năng là ám chỉ con voi như một biểu tượng của Đức Phật. Voi Kalsi là hình voi thứ ba được phát hiện gần một tượng đài của Ashoka, voi đầu tiên được tạc từ một khối đá rắn ở Dhauli và voi thứ hai là voi ở đỉnh cột trụ ở Sankisa. Tất cả đều được cắt gọt hoặc chạm khắc với độ hiện thực đáng kinh ngạc.

Voi Kalsi cùng với RE 13 và một phần của RE 14, được Alexander Cunningham vẽ và in  trong tác phẩm Inscriptions of Asoka, 1877.

 Dưới lớp rêu phủ, Chỉ dụ Đá Kalsi vẫn trong tình trạng tuyệt hảo. ‘Tôi thấy văn bản Khalsi ở trong tình trạng hoàn hảo hơn bất kỳ văn bản nào khác’, Cunningham viết trong báo cáo của mình, ‘và đặc biệt hơn trong đó có tên của năm vị vua Hy Lạp là Antiochus, Ptolemy, Antigonus, Magas và Alexander.’ Cuối cùng thì vấn đề những cái tên này chính xác ám chỉ ai cũng có thể được làm sáng tỏ, cho phép xác định niên đại chính xác hơn cho lễ lên ngôi của Ashoka.

Người ta xác định rằng: thứ nhất, Antigonos không phải là Antigonos I mà là cháu trai của ông là Antigonos II, người đã thành lập triều đại Antigonid ở Macedonia vào năm 319 TCN và qua đời ở tuổi 80 vào năm 239 TCN; thứ hai, Antiochos không phải là Antiochos Soter mà là con trai kém thành công hơn của ông là Antiochos II, người kế vị cha mình vào năm 262 TCN và sau đó bận tâm đến cuộc chiến với Ptolemy II của Ai Cập; và thứ ba, Ptolemy chính là Ptolemy II này, người đã trở thành vua Ai Cập thuộc triều đại Ptolemy vào năm 283 TCN. Antiochos II và Ptolemy II đã ký kết một hiệp ước hòa bình vào khoảng năm 250 TCN, và cả hai đều qua đời vào cùng năm 246 TCN.

Trong số hai vị vua Hy Lạp cuối cùng được xác định rõ ràng trên Chỉ dụ Đá Kalsi – Magas và Alexander – người đầu tiên phải là anh em cùng cha khác mẹ của Ptolemy II, người đã tách ra vào khoảng năm 277 TCN để thành lập Cyrene (gần Libya ngày nay), và vẫn giữ được độc lập với Ai Cập cho đến khi Magas qua đời vào khoảng năm 255 TCN. Cuối cùng, người đứng chót trong năm vị vua được nêu tên chỉ có thể là Alexander II, người đã kế vị cha mình là Vua Pyrrhas xứ Epirus (gần Albania ngày nay) vào năm 272 TCN và tiếp tục đánh đuổi Antigonos II khỏi Macedonia, nơi ông đã cai trị cho đến khi Demetrius II, con trai của Antigonos, giành lại được.

Năm vị vua này có thời gian cai trị như sau:

  • Antigonos II 319-239 TCN
  • Antiochus II 262-246 TCN
  • Ptolemy II 283-246 TCN
  • Magas 277-k.255 TCN
  • Alexander II 272-k.254 TCN

Xét về tổng thể, năm bộ ngày tháng này cho thấy các Chỉ dụ Đá Girnar, Shahbazgarhi và Kalsi phải được ban hành trong khoảng thời gian từ năm 262 TCN – khi Antiochos II lên ngôi – và năm 255 TCN, khi Magas qua đời.

Trong RE 12, Ashoka đã liệt kê người hàng xóm gần nhất ở phía tây, Antiochos II, nhưng – đáng ngạc nhiên thay – lại không hề nhắc đến các phó vương người Macedonia là Diodotos và Andragoras, họ đã tách ra vào hoặc ngay sau năm 255 TCN để cai trị Bactria và Parthia với tư cách là những vị vua độc lập. Điều này củng cố lập luận rằng các Chỉ dụ Đá hẳn đã được khắc trước năm đó, và vì RE 3 đã tuyên bố rõ ràng rằng “Mười hai năm sau khi ta đăng quang, các chỉ dụ này đã được ban hành”, nên có thể suy ra rằng Ashoka đã được tấn phong làm vua Magadha mười hai năm trước năm 262-255 TCN, tức là khoảng giữa năm 274-267 TCN. Cunningham đã chọn niên đại sau.

Vào đầu những tháng Mùa Lạnh năm 1865-1866, Tướng Cunningham đã thực hiện chuyến thăm thứ hai đến miền bắc Punjab. Trước đó, ông đã cho rằng Bảo tháp Manikyala nổi tiếng, do Court, Masson và những người khác khai quật, là địa điểm của thành phố cổ Taxila. Nhưng sau khi đối chiếu các ghi chép về cuộc xâm lược của Alexander với các chi tiết do Pháp Hiển và Huyền Trang cung cấp, ông đã có thể xác định Taxila nằm sau dãy núi Margalla dài và uốn lượn, kéo dài về phía nam vào đồng bằng từ dãy núi Hazara. Thời gian gần đây, nơi này là địa điểm dã ngoại ưa thích của các nhà ngoại giao và gia đình họ tại Islamabad gần đó. Ngày nay, nơi này bị cấm, nhưng nếu bạn đứng trên dãy núi đó và nhìn về phía tây, bạn có thể thấy vị trí đắc địa của thành phố Taxila. Không chỉ được núi non che chắn ba mặt, Taxila còn kiểm soát đèo Margalla, nơi Đại lộ (và tuyến đường sắt mới hơn) cắt qua dãy núi Margalla.

Tại Taxila, Cunningham xác định được ba khu vực chiếm đóng, mỗi khu vực được bao bọc bởi những bức tường thành được xác định rõ ràng. Khu vực được bảo tồn tốt nhất là Sirsuk, được quy hoạch gọn gàng như một thị trấn La Mã với hệ thống đường phố dạng lưới, đền thờ trên các bệ cao, tường đá khối và cổng thành đồ sộ. Tuy nhiên, thành phố cổ nhất và lớn nhất trong ba thành phố là Bir, với phía đông là gò tháp lớn nhất trong số các gò tháp, được cư dân địa phương gọi là Bảo tháp Chir hoặc ‘Tách ra’, vì nó

đã bị tướng Pháp Claude Auguste Court xé toạc vào những ngày ông ta được Maharaja Ranjit Singh tuyển dụng. Trong mười lăm năm sau đó Taxila tiếp tục thu hút Cunningham như một thỏi nam châm, vì ông hoàn toàn nhận thức được tầm quan trọng của nó trong lịch sử Ấn Độ sơ kỳ. Ông đã thực hiện chuyến thăm cuối cùng của mình vào Mùa Lạnh năm 1878-9, khi ông đã 65 tuổi – độ tuổi rất già đối với Ấn Độ thuộc Anh nơi mà 50 là mức tuổi nghỉ hưu bình thường. Lúc này, ông đã phát triển kỹ thuật khai quật phức tạp hơn, chú trọng đến các đối tượng nhỏ hơn như mảnh gốm, mảnh đất nung hoặc thậm chí cả những mảnh thạch cao. Tuy nhiên, chính các đồng tiền đúc Taxila chủ yếu làm ông quan tâm. Toàn bộ khu vực rải đầy các đồng tiền xu hình chữ nhật có dấu đục lỗ, nhiều đồng xu chỉ có một con dấu đúc nổi duy nhất, khiến ông đi đến kết luận rằng đây là hình thức sớm nhất của đồng tiền đục lỗ Ấn Độ, rất có thể được đúc ở Taxila và có trước khi người Hy Lạp đến. Ông đã khám phá ra một kho báu tiền xu có dấu đục lỗ được trộn lẫn với tiền xu kiểu Hy Lạp bao gồm tiền xu của những nhà cai trị Hy Lạp-Bactria là Pantaleon và Agathocles – có thể là con trai của Demetrius, người kế vị Euthydemous vào khoảng năm 200 TCN – cho thấy rằng mặc dù có mối quan hệ chặt chẽ với những người kế vị Alexander ở Gandhara, người Maurya vẫn giữ phong cách đúc tiền riêng của họ, chỉ hiển thị biểu tượng đục lỗ có thể liên quan đến các khu vực hoặc xưởng đúc tiền địa phương.

Nếu Cunningham hy vọng tìm thấy bằng chứng về Ashoka hay ông nội Chandragupta của ngài tại Taxila, thì kỳ vọng của ông đã không bao giờ thành hiện thực. Nhiệm vụ đó được giao cho một vị Tổng Giám đốc sau này, John Marshall, người đã dành hơn 15 năm khai quật tại Taxila và yêu nơi này đến mức đã xây cho mình một ngôi nhà nhỏ xinh xắn tại đó. Mối liên hệ còn thiếu này giữa Ashoka và thành phố nơi ngài từng làm phó vương cho vua cha trong vài năm sẽ xuất hiện dưới dạng một dòng chữ khắc bằng tiếng Aramaic, được khắc bằng mực và sau đó khắc đè lên một phiến đá, nhưng tiếc thay chỉ còn sót lại một mảnh đá nhỏ gắn vào tường tại địa điểm Sirkap của Taxila, nơi nó được sử dụng làm vật liệu xây dựng cho thành phố theo phong cách Hy Lạp mới do vua Demetrius của Hy Lạp-Bactria thành lập vào khoảng năm 200 TCN.

 

Một nửa của mỗi dòng bị mất nhưng những điều ghi chép về việc không nên giết hại chúng sinh, tôn trọng các tu sĩ Bà La Môn và Tăng lữ, vâng lời cha mẹ và người lớn tuổi, và làm việc thiện lành dường như có mối liên hệ với những đạo lý được thể hiện trong RE 3 và RE 11 khắc trên các tảng đá chỉ dụ tại Shahbazgarhi và Mansehra gần đó. Mansehra là Chỉ dụ Đá thứ năm được xác định, phát hiện vào giữa những năm 1880. Gần đáy của tảng đá, tên của Priyadasi vẫn còn tồn tại, cùng với một chi tiết nhắc đến các con trai của Priyadasi.

*

Khi Cunningham trở về đồng bằng sông Hằng vào cuối chuyến đi năm 1864-1865, ông có đủ lý do để cảm thấy nản lòng. Trong bốn mùa đông, ông đã xác định và khảo sát hơn 160 di tích cổ đại ở miền bắc Ấn Độ, minh chứng nhiều hơn niềm tin mà Lord Canning đã đặt trọn vào ông. Nhưng người kế nhiệm của Phó vương đầu tiên, Lord Lawrence, đã đến và tìm cách cắt giảm ngân sách và Cunningham trở về Calcutta khi biết rằng bộ phận khảo cổ học của ông đã bị giải thể.

Bốn năm sau đó, Alexander Cunningham trở thành quân nhân hưu trí ở Anh, và ông đã tận dụng khoảng thời gian này để viết cuốn Địa lý Ấn Độ Cổ đại: Thời kỳ Phật giáo. Tháng 1 năm 1869, Lord Mayo đến Calcutta thay thế Lord Lawrence, cục diện chính trị lại một lần nữa thay đổi và năm 1871, vị tướng này lại trở về Ấn Độ với tư cách là Tổng Giám đốc Cục Khảo cổ học Ấn Độ (ASI) – và là Chỉ huy Hiệp sĩ của Đế chế Ấn Độ.

Chỉ thị mới của Ngài Alexander Cunningham là ‘yêu cầu  một cuộc tìm kiếm toàn diện trên toàn quốc và lập hồ sơ cũng như mô tả một cách có hệ thống tất cả các di tích kiến ​​trúc và các di tích khác đáng chú ý về cả tính cổ kính, vẻ đẹp hay giá trị lịch sử của chúng’.

Đây là những phát biểu đầy hào hứng khí nhưng thực tế nhiệm vụ mới của Cunningham không mở rộng đến các quận Madras và Bombay. Tuy nhiên, ông vẫn được cung cấp đủ kinh phí để trả lương cho hai trợ lý: một kỹ sư người Armenia thuộc Sở Công trình Công cộng Bengal tên là Joseph Beglar; và một người Anh, Archibald Carllyle, đến Ấn Độ để dạy kèm cho con trai của một vị tiểu vương và đã ở lại làm quản lý bảo tàng.

Cuốn sách này không thể nào đề cập hết công trình khảo cổ học do Cunningham, Beglar, Carllyle và các cộng sự của họ thực hiện trong suốt những năm 1870 và kéo dài đến những năm 1880. Chỉ một phần nhỏ liên quan đến việc khai quật thêm  Ashoka và thời đại của ngài, một quá trình được tiếp tục vào những tháng đầu năm 1871 khi Cunningham phát hiện ra một chiếc hộp trên kệ tại trụ sở của Hiệp hội Châu Á Bengal ở Calcutta, mang nhãn ‘Rupnath, ở Parganah [Quận] Salimabad’.

Đền thờ Rupnath nằm ngay trung tâm tiểu lục địa Ấn Độ. Ngôi đền là một công trình kiến ​​trúc đơn giản, tọa lạc giữa một trảng cỏ có cây cối xinh tươi bên cạnh một trong ba hồ nước nhỏ được nối với nhau bởi một loạt thác nước đổ xuống từ dãy đồi Kaimur. Nơi này nằm khá tách biệt với đường đi chính, cách Jabalpur khoảng 35 dặm về phía bắc và cách Sleemanabad 15 dặm về phía tây, nơi từng được gọi là Salimabad trước khi Đại tá James ‘Thugee’ Sleeman, người đã trấn áp giáo phái thugee dã man đặc hữu ở vùng này của Ấn Độ vào những năm 1830.

Những khách hành hương đến Rupnath để thờ phụng lingam trong đền thờ, vốn có mối liên hệ lâu đời với dòng tu khổ hạnh Nath. Những tín đồ Nath này theo nhiều pháp tu khác nhau, nhưng tất cả đều có chung ác cảm đối với rào cản đẳng cấp và tôn kính Matyendranath như nhà sáng lập, một yogi thế kỷ thứ chín được cho là đã phát minh ra Hatha yoga như cách rèn luyện tâm linh. Mặc dù tuyên bố Thần Shiva là bậc thầy đầu tiên của mình, những tín đồ Nath này đứng ngoài truyền thống Bà La Môn giáo, đại diện trong dòng dõi của mình cho giai đoạn cuối cùng của Phật giáo ở Ấn Độ, khi nghi lễ Mật tông đã du nhập vào dòng chính Phật giáo Đại thừa như một phương tiện để đạt được sự hoàn thiện tâm linh.

Đền thờ Nath thường được tìm thấy ở các vùng núi xa xôi và những khu rừng biệt lập, như ở Rupnath. Ngày nay, nguồn nước cung cấp cho ba hồ đã bị ngăn lại làm đập, do đó hồ nước thấp nhất vươn ra đồng bằng nằm bên dưới, nhưng về các khía cạnh khác, Rupnath hầu như không thay đổi kể từ một ngày vào giữa thế kỷ 19, khi người hầu của Đại tá Ellis đến địa điểm này, có lẽ để tham dự mela (hội chợ tôn giáo) được tổ chức hàng năm tại đây vào dịp Shivaratri, “đêm của Shiva”, vào cuối tháng 2 – đầu tháng 3. Người hầu vô danh đã rời khỏi Rupnath sau khi đã sao chép tận mắt một bản chữ khắc trên một tảng đá bên cạnh hồ nước, và y đã đưa cho chủ của mình. Người chủ sau đó đã chuyển nó cho Hội Châu Á Bengal ở Calcutta – nơi nó được đặt trong một chiếc hộp và cất trên kệ.

Chính chiếc hộp này đã được Ngài Alexander tìm thấy vào năm 1871 khi đang lục lọi các kệ sách của Hội. Ông lập tức chỉ thị cho trợ lý cấp cao mới của mình là Joseph Beglar đi tìm kiếm khắp quận Salimabad giữa Gaya và Monghyr ở Bihar. Beglar đã tìm kiếm kỹ lưỡng nhưng không thấy gì. Tuy nhiên, vị tướng này không phải là người dễ dàng bỏ cuộc. Ông đã điều tra và biết được có một Salimabad thứ hai, nay được đổi tên thành Sleemanabad. Beglar tiến hành một cuộc tìm kiếm mới và nhanh chóng báo cáo lại rằng anh đã tìm thấy cả Rupnath và bia khắc.

Cunningham lập tức lên đường đến tận nơi để xem xét. Sau đó, ông thuật lại: “Tại đây, một dòng suối nhỏ chảy qua đỉnh dãy đồi Kaimur, và sau ba thác nước nhỏ, tạo thành một hồ nước sâu, kín đáo dưới chân vách đá. Mỗi hồ nước này đều được coi là linh thiêng, hồ trên cùng được đặt tên Rama, hồ tiếp theo Lakshmana, và hồ thấp nhất Sita. Tuy nhiên, địa điểm này được biết đến nhiều nhất với tên gọi Rupnath, xuất phát từ một linga của thần Shiva được đặt trong một khe đá hẹp.” Văn bản gồm năm dòng được khắc trên một tảng đá phẳng bên cạnh hồ nước thấp nhất, bề mặt phía trên của nó “đã bị mòn nhẵn do người dân ngồi lên đó hàng trăm năm trong các hội chợ thường niên”.

Bản khắc của Sir Alexander Cunningham về tảng đá Rupnath dưới chân thác Kaimur, cùng với những hình ông mô tả về ba địa điểm khác thời Asoka. (Được in trong cuốn  Inscriptions of Asoka, 1877)

Đó là một chỉ dụ của vua Ashokan, thuộc loại ngày nay được gọi là Chỉ dụ Đá Nhỏ (MRE), được viết vụng về đến mức Cunningham nghĩ rằng nó hẳn đã được sao chép bởi một người chỉ có chút hiểu biết sơ đẳng về chữ Brahmi. Nó bắt đầu bằng lối văn hoa mỹ thông thường: “Người được các chư thiên yêu quý nói như vầy”, nhưng lại bỏ qua tên riêng Piyadasi và tước hiệu raja. Nó tiếp tục cung cấp một số thông tin cá nhân đáng chú ý về việc Piyadasi quy y Phật giáo và mối quan hệ của ngài với Giáo hội Phật giáo (bản dịch hiện đại): ‘Đã hai năm rưỡi kể từ khi ta là cư sĩ, nhưng cho đến nay ta vẫn chưa thực sự sốt sắng tu tập . Nhưng giờ đây, sau hơn một năm đến thăm Tăng đoàn, ta đã trở nên rất sốt sắng.’

Những từ khóa ở đây là upasaka hay ‘cư sĩ tại gia’ và yamme samghe upeti, dịch theo nghĩa đen là ‘đi đến Tăng đoàn’. Dường như bản văn muốn nói rằng Ashoka ban đầu là một Phật tử tại gia và sau một năm rưỡi đã gia nhập cộng đồng tăng lữ Phật giáo, hàm ý rõ ràng là ngài đã trải qua các nghi lễ để trở thành một nhà sư thọ giới, điều này đòi hỏi ngài phải mặc áo cà sa và sống trong tu viện.

Chỉ dụ tiếp tục nói rằng, nhờ lòng nhiệt thành với tôn giáo mới của Ashoka, người dân Ấn Độ, những người trước đây chưa từng kết giao với các vị thần, giờ đây đã kết giao với các vị thần. Chỉ dụ sau đó kêu gọi mọi người hãy nhiệt thành thực hành Phật pháp:

Ngay cả người nghèo hèn, nếu họ tinh tấn, cũng có thể đạt được cõi trời. Và lời loan báo này được đưa ra với mục đích đó. Cả người nghèo hèn lẫn kẻ giàu có hãy tinh tấn, ngay cả những ai ở vùng biên địa cũng hãy biết điều đó và hãy giữ vững sự tinh tấn lâu dài. Khi ấy, tinh tấn sẽ gia tăng, rất nhiều, gia tăng đến một lần rưỡi. Thông điệp này đã được nhà vua loan báo hai trăm năm mươi sáu lần trong chuyến đi của mình.

Rõ ràng đây là lời của một người cải đạo, nói với tất cả sự nhiệt thành của người mới cải đạo, háo hức chia sẻ đức tin mới tìm thấy của mình với thần dân, đến nỗi ngài dường như đã bắt đầu một chuyến đi truyền giáo khắp đất nước. Những lời này, ngày nay được phân loại là MRE 1, đã xác nhận việc Ashoka cải đạo sang Phật giáo như được ghi trong Biên niên sử Triều đại Vĩ đại, trong đó nói rằng trong ba năm sau khi đăng quang, Ashoka vẫn giữ tín ngưỡng tổ tiên trước khi chịu ảnh hưởng của người cháu trai trẻ tuổi Nigrodha, đã giới thiệu ngài đến với Phật giáo. Điều này đã dẫn dắt Ashoka đến thăm cộng đồng Phật giáo và mời các nhà sư Phật giáo đến sống cùng ngài tại cung điện hoàng gia, sau đó ngài ra lệnh truyền bá Phật pháp khắp vương quốc bằng cách xây dựng hàng loạt tu viện và bảo tháp.

Việc phát hiện ra bản khắc Rupnath MRE đã khiến Cunningham xem xét lại hai bản khắc khác được tìm thấy vài năm trước đó. Bản khắc đầu tiên đến từ một hang động nhìn ra đường Grand Trunk ở Sassaram, nằm giữa Benares và Gaya. Năm 1839, một bản sao chép thô sơ của bản khắc đã được gửi đến ASB ở Calcutta nhưng quá muộn để James Prinsep xem được và đã nằm mục nát trên kệ kể từ đó. Joseph Beglar được lệnh đến Sassaram để tìm hang động và bản khắc của nó, và anh đã làm đúng như vậy. Hóa ra đó là một phiên bản khác của bản khắc Rupnath MRE nhưng có thêm hai câu quan trọng ở cuối: “Và hãy cho khắc điều này lên đá. Và bất cứ nơi nào có các cột trụ (trong lãnh địa của ta), ở đó cũng phải khắc.’

Như vậy, tại quê nhà Magadha, vua Ashoka đã ra lệnh khắc những lời tuyên bố về việc ngài cải đạo sang Phật giáo lên đá và các cột trụ hiện có khắp vùng đất, ngụ ý rõ ràng rằng trước đó chưa từng có sắc lệnh nào như vậy của Ashoka. Cùng với kỹ thuật chế tác thô sơ và chữ viết vụng về ở cả Sassaram và Rupnath, điều này cho thấy hai chỉ dụ khắc trên đá này là những sắc lệnh sớm nhất của Ashoka từng được tìm thấy, có niên đại trước các chi dụ khắc trên đá chi tiết và được viết tốt hơn nhiều ở Girnar, Dhauli, Shahbazgarhi và Kalsi, vốn lại có niên đại trước các chỉ dụ  khắc trên cột trụ.

Văn khắc thứ ba được xem xét lại là văn khắc Bairat-Calcutta, một phiến đá được Đại úy Burt tìm thấy ở biên giới phía bắc Rajputana vào năm 1840. Về nội dung và hình thức, nó khá khác biệt so với các văn khắc Rupnath và Sassaram, được chạm khắc tinh xảo bằng những chữ cái lớn, rõ ràng trên một bề mặt được đánh rất bóng  – có thể là một mặt đá nhưng chắc chắn hơn là cột trụ. Cunningham và trợ lý cấp dưới của ông, Archie Carllyle, cùng nhau khám phá địa điểm nơi nó được tìm thấy, nằm dưới một tảng đá lớn nhô ra trên sườn đồi phía nam làng Bairat, và phát hiện ra rằng tảng đá nằm cạnh tàn tích của hai tòa nhà tu viện và một bảo tháp trên một nền được san phẳng từ sườn đồi. Rõ ràng chỉ dụ và khu tu viện có liên quan với nhau: ‘Vì tuyên bố này được đặc biệt gửi đến hội Phật giáo Magadha, chúng ta phải giả định … rằng các bản sao đã được gửi đến tất cả các giáo hội huynh đệ Phật giáo khắp nơi về niềm tin vững chắc và bền bỉ của nhà vua vào giáo pháp của Đức Phật.’

Khi Cunningham và Carllyle khảo sát khu vực xung quanh, ánh mắt của Carllyle bắt gặp một “ngọn đồi trọc, đen kịt, hình chóp nhọn, lởm chởm, hoàn toàn được tạo thành từ những khối đá porphyr và bazan khổng lồ”. Một trong những khối đá lớn nhất, to bằng một ngôi nhà, đã lăn xuống đồi và trên mặt đáy của nó, Carlyle đã phát hiện ra thứ hóa ra  là MRE (Chỉ dụ Đá Nhỏ) thứ ba – ngày nay được gọi là Bairat MRE.

Khám phá quan trọng tiếp theo còn ấn tượng hơn nhiều. Nó diễn ra vào đầu mùa lạnh 1873-1874 khi Alexander Cunningham đi về phía nam, băng qua vùng đất hoang vu Bhundelkhand từ Allahabad đến Jabalpur ở trung tâm Ấn Độ. Theo thuật ngữ địa lý Phật giáo, ông đang ở “trên con đường chính giữa Ujjain và Bhilsa ở phía nam, Kosambi và Sravasti ở phía bắc, cũng như Pataliputra ở phía đông”. Khi ông cưỡi ngựa dẫn đầu đoàn tùy tùng về phía đầu thung lũng Mahiyar hẹp, đôi mắt lão luyện của ông hướng đến một gò đất giống như bảo tháp ở phía xa, từ đó nhô ra những gì, không thể nhầm lẫn, là những cột trụ của một lan can đá.

Khi nhìn thấy lần đầu tiên, Cunningham không thể làm gì hơn ngoài việc tự mình xác nhận rằng thứ ông ta tìm thấy thực sự là một bảo tháp, có kích thước và thiết kế tương tự như bảo tháp ở Sanchi, nhưng giống Amaravati hơn ở chỗ hầu hết các công trình bằng đá và gạch của nó đã bị dỡ bỏ để làm vật liệu xây dựng. Ba tháng sau, ông quay lại cùng nhóm công nhân của mình để bắt đầu khai quật công trình mà ông đặt tên là Đại Bảo Tháp Bharhut (Great Stupa), từ “Tope” (tháp) không còn phù hợp giờ bị coi là lỗi thời.

Mười ngày khai quật đã hé lộ những tàn tích của một công trình mà vào thời kỳ hưng thịnh hẳn phải tráng lệ không kém gì Đại Bảo Tháp Sanchi. Một phần của hai trong bốn cổng nghi lễ ban đầu vẫn còn tồn tại, cũng như đoạn hàng cột tròn nối liền chúng. Tất cả các dầm đá lớn tạo thành các thanh ngang của hai cổng này đều bị đập vỡ thành từng mảnh, nhưng bốn cột đứng của chúng vẫn còn tương đối nguyên vẹn, cũng như 35 cột và 80 thanh ngang tạo thành lan can của phần hàng cột còn sót lại. Không giống như ở Sanchi, các cột và thanh ngang của hàng cột này được trang trí rất công phu.

Điểm nổi bật nhất của những cột trụ này là 30 bức tượng gần như kích thước thật của các thiên vương và nhiều vị thần ít vai vế hơn như vua rắn (naga raja), thần và nữ thần (deva và devata), thiên tướng và nữ thiên tướng (yaksha và yakshini) – được chạm khắc trên ba mặt, đặc biệt các devatayakshini với bộ ngực to lớn như quả dưa, eo thon và hông rộng, được chạm khắc với mục đích cố ý làm cho họ trở nên gợi cảm, và luôn được thể hiện với một tay giơ lên ​​không trung nắm lấy một cành cây, một chân quấn quanh thân cây và tay kia tiến lại gần hoặc thậm chí chạm vào bộ phận sinh dục của mình.

Những bức tượng nữ thần sinh sản này hoàn toàn trái ngược với những bức tượng nam giới được tìm thấy trên các mặt khác của cùng một cột trụ, được chạm khắc như những biểu tượng lý tưởng của vương quyền, khuôn mặt nghiêm nghị và thanh thản, hai bàn tay chắp lại như đang thiền định – trong tư thế anjali mudra hay ‘cử chỉ tôn kính’.

Một trong những bức tượng yakshini được cố ý khắc họa đầy gợi cảm từ Đại Bảo Tháp ở Bharhut – chính xác hơn là vriksh devatas hay ‘nữ thần cây’, hiện thân cho năng lượng nữ tính và khả năng sinh sản. Những bức tượng này là những hình ảnh sớm nhất về biểu tượng trung tâm này của nghệ thuật Phật giáo. Cây mà các nữ thần này đang ôm là cây vô ưu (Saraca indica), được các tín đồ Ấn Độ giáo, Phật giáo và Kỳ Na giáo xem là linh thiêng. Ảnh của Joseph Beglar, 1874. (Cunningham, Bảo Tháp Bharhut, 1879)

(Từ trái sang phải) Một nam yaksha, một nữ thần và Chakavaka, Vua của các vị thần rắn Naga, được tôn thờ như những thủy thần . (Cunningham, Bảo tháp Bharhut, 1879)

Nhưng đối với Alexander Cunningham, tác phẩm điêu khắc hấp dẫn nhất chính là bức tượng một chiến binh: ‘Đầu y để trần, mái tóc ngắn xoăn được buộc bằng một ruy băng, được thắt nơ ở phía sau đầu, với hai đầu băng dài bay trong gió. Trang phục của y gồm một chiếc áo dài tay, gần chạm đến đùi.’ Trang phục của chiến binh, đôi dép xăng đan và mái tóc buộc ruy băng cho thấy y là người Hy Lạp, có lẽ là một lính đánh thuê, kiểu người đã giúp cả Chandragupta và Ashoka giành được ngai vàng. Tuy nhiên, thanh kiếm của y chắc chắn là của Ấn Độ. Cunningham viết: “Chúng tôi đã đọc mô tả của nhà sử học Arrian. Tất cả đều đeo kiếm bản rộng, mặc dù hiếm khi dài quá ba cubit. Khi cận chiến, họ dùng cả hai tay để vung kiếm mạnh hơn.” Bằng chứng về mối liên hệ này với vùng tây bắc Ấn Độ càng được củng cố khi phát hiện ra rằng một số cột trụ mang dấu hiệu thợ nề sử dụng chữ Kharosthi thay vì chữ Brahmi, cho thấy một số nhà điêu khắc đã được đưa đến từ vùng Gandhara.

Chiến binh Hy Lạp được khắc trên một trong những trụ lan can ở Bharhut, được Joseph Beglar chụp ảnh vào năm 1874 với một phụ nữ bộ lạc địa phương ngồi cạnh ông. (APAC, Thư viện Anh)

Điều đáng chú ý không kém là nhiều cảnh sinh hoạt của con người và giới tăng lữ được khắc họa trên các tấm phù điêu, gờ tường, huy hiệu và các yếu tố khác của kiến ​​trúc còn sót lại, được chạm khắc theo phong cách nặng nề và kém tinh xảo hơn so với ở Sanchi hay Amaravati – một dấu hiệu rõ ràng nhất cho thấy chúng có niên đại trước hai công trình đó.

Đến lúc này, Cunningham đã hiểu biết về Phật giáo sơ kỳ nhiều hơn so với khi ông khai quật ở Sanchi, và ông không gặp khó khăn gì trong việc xác định khoảng 20 cảnh này là minh họa cho Truyện Jataka (Tiền kiếp Đức Phật). Những cảnh khác cho thấy những sự kiện quan trọng trong cuộc đời của Đức Phật, mặc dù chính Đức Phật lại vắng mặt trong suốt các cuộc khai quật, chỉ được thể hiện bằng những biểu tượng như chiếc khăn xếp đặt trên ngai vàng trống rỗng hoặc chiếc yên ngựa trống không. Cũng giống như ở Sanchi và Amaravati, ba đối tượng thờ cúng được thể hiện hết lần này đến lần khác: cây Bồ đề và Ngai Kim cương, bảo tháp, và Pháp dưới dạng ‘Pháp Luân Xa’, chakra

Các cảnh thờ cúng cây Bồ đề và Ngai Kim Cương, bảo tháp, và Pháp luân xa. Cả ba đều được thể hiện trong một bức ảnh ghép mặt trước và các mặt bên của cùng một cột trụ, mà Cunningham đặt tên là cột trụ Prasenajit, vì những cảnh này dường như cho thấy Vua Prasenajit đang thờ cúng tại ba địa điểm này. (Cunningham, Bảo Tháp Bharhut, 1879)

Hình ảnh cho thấy cây Bồ đề đôi khi được che chắn bởi vòm lều phía trên hoặc tường bao, nhưng cũng có khi không được trang trí, và không chỉ có cây Bồ đề, mà tất cả các loại cây khác cũng được thể hiện đầy đủ, điều này gợi ý cho Cunningham rằng Phật giáo ở vùng Bharhut có liên hệ với một số hình thức liên quan đến  tín ngưỡng thờ cúng cây cối , cũng giống như ở Amaravati, tín ngưỡng thờ rắn Naga dường như là một yếu tố quan trọng.

Tất cả những tác phẩm điêu khắc này đều được đưa ra ánh sáng ban ngày trước sự chứng kiến ​​của đám đông dân chúng từ khu vực xung quanh. “Những tác phẩm điêu khắc kỳ lạ này làm dấy lên nhiều nỗi kinh ngạc thán phục,” Cunningham nhận xét,”nỗi kinh ngạc đó càng lớn hơn khi người ta biết rằng vị lãnh chúa địa phương có thể đọc được những dòng chữ khắc trên đó.” Với mỗi phát hiện mới, ông đều được hỏi về chủ đề của những dòng chữ đó, và luôn nhận được sự thất vọng khi ông công bố tên của một nhà hảo tâm hoặc vị thần bảo hộ: “Họ chỉ nghĩ rằng những cuộc khai quật như vậy thực chất là để tìm kiếm kho báu ẩn giấu.”

Cũng như ở Sanchi, nhiều dòng chữ ngắn ở đây ghi tên người hiến tặng bằng chữ Brahmi đã được thêm vào các tác phẩm điêu khắc, nhưng cũng có những dòng chữ đóng vai trò như chú thích, mô tả chủ đề của hình minh họa. Chữ Brahmi sử dụng chính xác cùng một hình thức như trên các chỉ dụ của Ashoka, nhưng không tìm thấy đâu có tên Ashoka hoặc Piyadasi.

Các nhà khảo cổ đã tạm ngừng công việc vào tháng Tư khi thời tiết quá nóng và tiếp tục vào tháng Mười Một, khi đã thu thập đủ các mảnh vỡ để tái tạo phần lớn Cổng phía Đông. Cunningham cũng nhân cơ hội này đi tham quan vùng lân cận và được đền đáp khi phát hiện thêm hai cột lan can và hai bức phù điêu, một trong số đó là “nửa còn thiếu của một câu chuyện Jataka nổi tiếng”, vốn đã bị “hạ thấp xuống vị trí đáng khinh để làm một tấm ván giặt đồ”. Chuyến thăm thứ ba đến địa điểm khai quật Bharhut vào tháng Giêng năm 1875 đã tìm thấy một cột trụ từ một trong hai cổng bị mất tích. Sau đó, Cunningham quyết định chuyển tất cả những gì đã thu thập được từ Bharhut, vượt 600 dặm, đến Bảo tàng Ấn Độ ở Calcutta – một hành động mà một số người cùng thời với ông ở Anh lên án là “có mùi vị phá hoại công trình nghệ thuật” và ví việc đó như việc di dời Stonehenge (Stonehenge là một công trình tượng đài cự thạch thời kỳ đồ đá mới) từ Wiltshire đến London. Nhưng Cunningham vẫn kiên quyết cho rằng mình đã làm đúng.

“Tôi sẵn lòng chấp nhận mùi vị đó”, ông viết, “vì tôi đã cứu được tất cả những tác phẩm điêu khắc quan trọng hơn. Trong số những tác phẩm còn sót lại ở Bharhut, mọi viên đá có thể tháo rời đều đã bị người dân chở đi hết.”

Khi tướng Sir Alexander Cunningham viết báo cáo về Bharhut, ông không hề nghi ngờ về niên đại cực kỳ cổ xưa của lan can và cổng của bảo tháp: “Sự giống hệt nhau về hình dạng của các ký tự Bharhut với các ký tự thời Aśoka là bằng chứng đủ mạnh cho thấy chúng thuộc cùng một thời đại.” Đây không phải là một nhận định dựa trên cảm tính đơn thuần. Vài năm trước đó, Cunningham đã kiểm tra một kho tiền xu bạc được tìm thấy trong một cánh đồng gần đền Jwalamukhi ở Kangra thuộc dãy Himalaya phía Tây. Trong đó có khoảng 30 đồng tiền của Apollodotus Soter, người cai trị một vương quốc Ấn Độ-Hy Lạp trải dài từ Taxila đến Gujarat (ngày nay), trị vì từ khoảng năm 175 TCN đến năm 160 TCN. Những đồng tiền này trông như mới được đúc, cho thấy chúng đã được chôn cất vào đầu triều đại đó. Tuy nhiên, phần lớn kho bao gồm các đồng tiền Ấn Độ, trong đó có những đồng tiền của một vị vua tên là Amogha-buti, được xác định có niên đại vào giữa thế kỷ thứ 2 trước Công nguyên. Chữ Brahmi trên tất cả các đồng tiền Ấn Độ này cho thấy một số sửa đổi so với chữ Brahmi được sử dụng vào thời Ashoka, chứng tỏ chúng được du nhập không sớm hơn năm 175 trước Công nguyên.

Phán đoán của Cunningham cũng bị ảnh hưởng bởi việc ông đọc được dòng chữ khắc quan trọng nhất trong số nhiều dòng chữ khắc tại địa điểm này, được khắc nổi bật trên một trong những cột trụ của Cổng phía Đông của bảo tháp Bharhut. Với sự giúp đỡ của nhà nghiên cứu tiếng Phạn người Calcutta, Babu Rajendra Lal Mitra, Cunningham đã đọc dòng chữ khắc này như sau: ‘Trong vương quốc Sugana, cổng vòm này, với các họa tiết trang trí bằng đá và bệ đỡ, được xây dựng bởi Vua Dhana-bhuti, con trai của Vacchi và Aga Raja, con trai của Goti, và cháu trai của Visa Deva, con trai của Gagi’. Cả Cunningham và Mitra đều cho rằng từ suganam là ám chỉ đến vương quốc nhỏ Srughna, một chư hầu của đế chế Mauryan rộng lớn hơn. Ngoài ra, một số tên khác trùng khớp với những cái tên mà Cunningham đã tìm thấy trước đó trên một lan can Phật giáo ở Mathura. Điều này khiến ông tuyên bố rằng các cổng và lan can Bharhut được xây dựng trong khoảng thời gian từ năm 240 đến 210 trước Công nguyên, nói cách khác, vào những năm cuối triều đại Ashoka và ngay sau đó.

Ngày nay, đa số ý kiến ​​cho rằng từ “suganam” trong dòng chữ khắc trên cổng đề cập đến triều đại Shunga, triều đại được thành lập khoảng 50 năm  sau khi Ashoka qua đời, khi vị vua cuối cùng của triều đại Mauryan bị ám sát bởi tổng tư lệnh của mình, Pushyamitra Shunga. Bảo Tháp bằng gạch nguyên bản ở Bharhut quả thực được xây dựng vào thời Ashoka, cũng như ở Sanchi và những nơi khác, nhưng các lan can và cổng xung quanh có lẽ được xây dựng không sớm hơn năm 180 trước Công nguyên, mặc dù vẫn có những người kiên quyết cho rằng Cunningham đã đúng khi đặt tiêu đề phụ cho ấn phẩm của mình về bảo tháp Bharhut là “Một công trình Phật giáo được trang trí bằng nhiều tác phẩm điêu khắc minh họa cho truyền thuyết và lịch sử Phật giáo thế kỷ thứ ba trước Công nguyên”.

Điều mà Cunningham có thể tự hỏi là tại sao, nếu  bảo tháp Bharhut được xây dựng vào khoảng thời gian không lâu sau thời Ashoka, tại sao không có bất kỳ đài tưởng niệm Ashoka nào ở đây, không có cột trụ Ashoka và không có hình ảnh của Ashoka? Câu trả lời có thể là có những lý do chính trị rất chính đáng khiến Bậc Pháp Vương  không được thể hiện trực tiếp tại Bharhut, bởi vì triều đại đang nắm quyền khi các cổng và hàng cột được xây dựng là triều đại Shunga, và người sáng lập ra triều đại đó là Pushyamitra Shunga, vị tướng đã giết chết những dòng dõi cuối cùng của triều đại Maurya và tiến hành một loạt các cuộc tàn phá chống Phật giáo.

Tuy nhiên, rất có thể có một hành động tôn kính Ashoka tại Bharhut thông qua bức tượng chạm khắc mà Cunningham mô tả đơn giản là “một hoàng gia cưỡi voi mang xá lợi”. Ông ta được khắc họa đang cưỡi voi ở vị trí nổi bật trên mặt trước của một cột lan can bên cạnh một trụ cột của Cổng phía Đông, hai bên là hai người ngoài cuộc cưỡi voi nhỏ hơn và được hộ tống bởi hai người cầm cờ cưỡi ngựa (xem ảnh ở đầu chương và ảnh phóng đại bên dưới). Ông ta ôm chặt một hộp đựng xá lợi vào lòng ngực.

Các tác phẩm điêu khắc ở Bharhut, cùng với những tác phẩm ở Sanchi và Amaravati, là một phần quan trọng trong di sản của Ashoka, bởi vì chúng được phát triển từ những gì Ashoka đã bắt đầu. Chúng cũng cung cấp cho chúng ta những hình ảnh tốt nhất mà chúng ta có thể thấy về cách người dân sống và thờ cúng với tư cách là Phật tử trong thời kỳ Ashoka và hậu Ashoka.

 

 

 

Bình luận về bài viết này