Người La Mã- Phần 3

Phần III: Thời Hưng Thịnh của La Mã

1

Guy de la Bedoyere

Trần Quang Nghĩa dịch

Trong phần này . . .

Tưởng tượng bạn sống trong một ngôi làng miền quê nước Anh, chỉ có vài trăm dân cư, một nhà thờ, và có thể một quán rượu. Hoặc tưởng tượng bạn sống trong một thị trấn nhỏ ở Wyoming có một trạm xăng và một ít cửa hàng và nhà cửa. Bây giờ hãy tưởng tượng nơi đó trở thành trung tâm của thế giới mà ta biết đến. Đó là những gì xảy đến với người La Mã qua quãng thời gian vài thế kỷ. Người La Mã luôn nhìn lại thời xa xưa này với lòng trìu mến, khi thành phố lớn của họ chỉ là một ngôi làng bên trong và chung quanh bảy ngọn đồi nhỏ trên bờ đông một dòng sông họ gọi là Tiber.

Không cần phải nói, biết bao nhiêu thời gian đã trôi qua khiến người La Mã thực sự không biết nhiều ít về sự thật cội nguồn. Nhưng họ vẫn ôm ấp cái quá khứ của vùng quê cội nguồn đó, khiến nó trở thành bí quyết của thành tựu La Mã. Họ tin tưởng rằng chính tại La Mã: cái ngôi làng nơi đó tính chịu gian khó, lòng quả cảm, và trọng danh dự mà người La Mã được thiên mệnh giao phó để làm chủ thế giới loài người. Phần này sẽ nói về 600 năm đầu tiên đã làm nên La Mã trên bến bờ thống trị thế giới.          

Chương 10 

Vua à? Không, Có lẽ không __ Những người Cộng hòa

 Trong Chương Này

  • Nguồn gốc huyền thoại của La Mã
  • Sự sáng lập nền Cộng hòa
  • Bộ luật thành văn đầu tiên
  • Cuộc đấu tranh giữa giới quý tộc và thứ dân

 Đối với một nền văn minh được xây dựng quanh một hệ thống cộng hòa của luật pháp và chính quyền, những ngày đầu của La Mã khá mờ mịt, và việc tìm hiểu một vài thập niên đầu tiên thì khó khăn. Các nguồn tư liệu lịch sử duy nhất mà chúng ta có được ghi chép lại về sau này do các sử gia phấn đấu tìm kiếm các thông tin chi tiết. Nhưng điều hé lộ ra là sự kiện mà người La Mã sẽ bỏ hết thời gian để ngăn cản nó xảy ra lần nữa: chế độ quân chủ.

Vâng, đúng như vậy. La Mã, một nhà nước cộng hòa của thời cổ đại, khởi đầu bằng các vì vua. Nhưng việc truất phế vua chúa vì hạnh kiểm xấu đã thay đổi mọi sự. Việc xuất hiện tiếp theo là chiến tranh giai cấp, mà cực điểm là quyền hạn của dân thường (gọi là thứ dân hay bình dân) và bộ luật thành văn đầu tiên trong lịch sử La Mã. Sự kiện này đặt ra những bước tiếp theo trong việc định hình của xã hội.

Sự sáng lập La Mã

Người La Mã không bắt đầu viết sử ngay khi thành phố được thành lập. Chỉ một quãng thời gian dài sau đó họ mới quan tâm đến việc mình là ai và mình xuất thân từ đâu. Các sử gia La Mã phải săn lùng một ít tư liệu xưa còn lưu lại, và họ khâu ráp lại thành một câu chuyện mà phần lớn là dựa trên thần thoại. Phần quan trọng nhất của nó là nối kết người La Mã trở về với thần linh, qua vị anh hùng huyền thoại Aeneas.

Huyền thoại   

Huyền thoại La Mã nổi tiếng về quá trình thành lập La Mã đi ngược dòng thời gian trở về Cuộc Chiến Thành Troy, trong thời kỳ Mycenae Hy Lạp .

Aeneas là con trai huyền thoại của một thủ lĩnh thành Troy có tên Anchises và nữ thần Venus (tương đương với nữ thần Aphrodite của Hy Lạp ), và thuộc về một nhánh thấp hơn trong hoàng tộc thành Troy. Dựa theo lời tiên tri, Aeneas sẽ có một ngày cai trị thành Troy và, theo Iliad của Homer (một thiên anh hùng ca kể lại việc thất thủ thành Troy), ông là người thành Troy duy nhất có thể kỳ vọng đến sau khi người Hy Lạp  cướp phá thành.

Sau khi Troy rơi vào tay người Hy Lạp, Aeneas bôn tẩu, lang thang tìm kiếm vận mệnh mình, và trải qua một cuộc phiêu lưu hoành tráng. Cuối cùng ông đến Ý, được Vua Latinus đón tiếp và gả công chúa Lavinia cho. Aeneas thành lập một thành phố lấy tên Lavinium sau này trở thành thủ phủ của Liên minh Latinh, một liên minh gồm nhiều thành phố ngoài La Mã, trong vùng Latium (xem Chương 11 để biết thêm về Liên minh Latinh).

Con trai Ascanius của Aeneas (mà theo một truyền thuyết, đi cùng Aeneas đến Ý sau khi Troy thất thủ, và theo một truyền thuyết khác được sinh ra sau khi Aeneas lấy Lavinia) kế nghiệp Aeneas và thành lập thành phố Alba Longa. (Ascanius cũng được biết dưới tên Iulus, và dòng họ có tên đó nhận mình là hậu duệ của ông và Venus. Người khai nhận tiếng tăm nhất không ai khác hơn là Julius Caesar, sự kiện này cho bạn thấy huyền thoại này có mãnh lực đến cỡ nào.)

Về sau ở Alba Longa, 12 vì vua kế tiếp kế nghiệp con trai Ascanius/Iulus của Aeneas. Người thứ mười hai là Numitor, bị em mình là Amulius hạ bệ. Để bảo đảm con gái của Numitor là Rhea Silvia sẽ không ám hại mình, Amulius bắt bà làm Trinh Nữ Vestal, một trong những dòng tu đồng trinh được trọng vọng nhất mà vai trò chính yếu là gìn giữ ngọn lửa Vesta bất diệt (tượng trưng cho sự trường tồn của La Mã; Vesta là nữ thần của lửa lò sưởi). Nhưng Amulius không lường được việc thần chiến tranh Mars đã giao hợp với Rhea. Rhea hạ sinh một cặp song sinh Romulus và Remus, mà Amulius, sau khi phát hiện ra việc này, đã ném xuống sông Tiber.

Cặp song sinh được một con sói cái cứu và cho bú sữa và rồi được một người chăn cừu dưỡng nuôi. Các chàng trai lớn lên trở thành các chiến binh, giành lại ngai vàng cho ông ngoại Numitor, và, vào năm 753 BC, sáng lập La Mã. Họ xây dựng các tường thành bao quanh La Mã. Remus phóng qua tường thành, khiến anh trai điên tiết và giết chết em. Cuối cùng Romulus biệt tăm, và chỉ xuất hiện trở lại dưới chức danh thần Quirinus, một vị thần cổ ít được biết đến đã đặt tên mình cho một ngọn đồi ở La Mã, Đồi Quirinal, và một thời là một trong ba vị thần chính của La Mã cùng với Jupiter và Mars (ông ta có quyền năng tương tự như Mars).

Làm thế nào niên đại 753 BC được ấn định là năm La Mã được thành lập? Trả lời: Một học giả có tên Marcus Terentius Varro đi lùi về quá khứ, sử dụng tư liệu, sự kiện lịch sử, và truyền thuyết rồi phán rằng 753 BC là niên đại của năm sáng lập La Mã. Trong phần còn lại của lịch sử La Mã, năm 753 BC là mốc niên đại mà lịch sử thành phố được tính. Cũng tương tự như chuyện Tổng giám mục James Ussher trong thế kỷ mười bảy sau một hồi tính toán dựa vào sự kiện trong Kinh Thánh cuối cùng phán năm sáng thế (năm thế giới được Chúa tạo ra) là 4004 BC.

Câu chuyện thật

Như mọi nơi khác ở châu Âu, lịch sử nhân loại ở Ý kéo dài ngược thời gian hàng trăm ngàn năm, tận thời Đồ Đá. Trong hàng thiên niên kỷ, người tiền sử dùng các công cụ bằng đá trong một thời kỳ gọi là Thời Đồ Đá Cũ, một thời khi các cộng đồng dân cư di chuyển theo mùa và nguồn tài nguyên lương thực. Nhưng vào khoảng 5000 BC, thời kỳ Đồ Đá Mới bắt đầu lan rộng khắp châu Âu. Không giống như người Đồ Đá Cũ săn bắt-hái lượm, người Đồ Đá Mới bắt đầu thành lập nông trại và định cư, không còn lang thang săn bắn nữa.

Các nông dân Đồ Đá Mới bắt đầu xuất hiện ở Ý khoảng 5000 BC. Vào khoảng 1800 BC, một số người Ý xa xưa này chế tác và sử dụng đồ đồng, mở ra thời kỳ Đồ Đồng. Trong khi đó, nền văn minh Ai Cập đã xuất hiện hơn một ngàn năm. Thật ra, Ý rõ ràng là tụt hậu. Người Hy Lạp thời Đồ Đồng, đã thiết lập những cứ điểm tại những nơi như Mycenae và Tiryns ở Hy Lạp , đã khám phá và giao thương quanh vùng Địa Trung Hải. Một số người Hy Lạp này còn đi đến Ý và các đảo phụ cận.

Khoảng 1000 BC đến thời kỳ Đồ Sắt. Sắt cứng hơn đồng, là phát hiện kỹ thuật vĩ đại nhất của thời kỳ đó. Nó biến đổi sức mạnh quân sự của xã hội và có thể chế tác mọi loại công cụ. Sắt có nghĩa là vũ khí và trang bị cứng chắc hơn. Xuổng và lưỡi cày bằng sắt dùng được lâu hơn và hiệu quả hơn.

La Mã thuở xưa: Đồi bên những túp lều, và một cống thoát thật lớn

La Mã nổi tiếng vì ở trên bảy ngọn đồi gần bờ sông Tiber (xem Hình 10-1). Những ngọn đồi này có tên:

  • Capitoline
  • Palatine
  • Aventine
  • Esquiline
  • Quirinal
  • Viminal
  • Caelius

1

Hình 10-1: Bản đồ cho thấy những ngọn đồi ở La Mã và bức tường thành Servian, chắc chắn được xây dựng khoảng 390 BC

Khoảng ít nhất 1000 BC, những trại ấp nhỏ, bằng phên trát bùn và rơm, được xây dựng trên vài ngọn đồi: Palatine, Esquiline, Quirinal và Caelius. Những trại ấp này chỉ là một nhúm các túp lều tranh rải rác, chỉ là những ngôi làng nhỏ.

Một số túp lều và nghĩa địa đã được khai quật, cho thấy khoảng thế kỷ thứ tám BC những người La Mã đầu tiên có giao thương với các nơi khác như Etruria và Hy Lạp , và làm được bình gốm, các tượng người nhỏ, và vũ khí. Họ trồng ngũ cốc như lúa mì, lúa mạch, nuôi dê và lợn, và đi săn. Những người La Mã về sau hồi tưởng về thời kỳ làm nông này và lý tưởng hóa nó thành một thời kỳ khi các phẩm chất về kỷ cương, tính cần cù, và óc tổ chức được khai sinh, đối nghịch với sự giàu có, tha hóa, và trác táng của những ngày Đế chế La Mã.

Các nghĩa địa được đào lên trong các thung lũng đầm lầy, nhất là tại nơi sau này trở thành Quảng trường La Mã. Dân số hình như tăng mạnh vì các khu định cư lớn hơn, và phòng ốc mọc lên khắp trên đồi. Vì thế thung lũng đầm lầy được tháo cạn nước, và các khu định cư lan xuống dốc đồi và bắt đầu hòa vào nhau trong thế kỷ thứ bảy BC.

Đây là lúc mà một dáng dấp thành phố, La Mã xa xưa nhất, bắt đầu thành hình.

Người La Mã hình như có một ký ức tập thể về thời điểm khi La Mã vươn lên từ một tập hợp các ngôi làng, được bảo tồn trong một lễ hội tôn giáo trong đó các tăng lữ và Trinh Nữ Vestal dẫn đầu một đám rước đến các điện thờ trong bốn khu vực của thành phố: Palatine, Esquiline, Quirinal và Caelius.

Trong triều đại các vì vua La Mã, La Mã là một khu định cư sơ khai so với chuẩn mực đời sau và chiếm một diện tích chỉ vào khoảng 150 cây số vuông. Nhưng La Mã là một bang hùng mạnh nhất ở Latium. Các vua mang đến cách tổ chức chính quyền tập trung. Dưới triều đại của họ, La Mã bắt đầu vươn lên từ một nhúm làng mạc thành một thành phố có phòng thủ, dịch vụ như cống thoát nước, và thánh thất giúp nuôi dưỡng một nhận thức về nguồn cội.

 

Láng giềng của La Mã

Điều quan trọng cần nhớ là La Mã và dân cư của nó chỉ lập ra một khu định cư trong nhiều khu ở Ý (xem Hình 10-2). Một số là đồng minh của nó, một số là đối thủ. Thống trị vùng này là bước đi đầu tiên của La Mã trên con đường đi đến sự chinh phục thế giới.

Dân Aequian

Dân Aequian hung bạo sống ở phía đông-bắc La Mã và kết đồng minh với dân Volscian. Rất ít điều được biết về họ vì nỗ lực bành trướng của họ bị chận đứng vào 431 BC. Một toan tính bành trướng tiếp theo bắt buộc La Mã phải tận diệt họ vào 304 BC.

2

Hình 10-2: La Mã và các bang láng giềng

Dân Etruscan

Là đối thủ xưa chính yếu của La Mã giành quyền kiểm soát vùng châu thổ giữa các con sông Tiber và Arno, dân Etruscan sống ở Tuscany và Umbria, nhưng vào cuối thế kỷ thứ bảy BC, đồ gốm của họ bắt đầu xuất hiện ở La Mã, cùng với phong cách làm nhà, vững chắc hơn với mái ngói chứ không phải những túp lều tranh như người La Mã xây cất.

Dân Etruscan vẫn còn mơ hồ vì không ai có thể lần ra ngôn ngữ của họ, thứ ngôn ngữ không liên hệ gì đến mọi nhóm ngôn ngữ chính được biết, mặc dù một số từ có mặt trong tiếng Latinh. Nhưng các sử gia La Mã sau này ghi chép những gì họ có thể tìm được về thời kỳ này. Việc khó tin là phiên bản u ám của họ về thời kỳ xa lắc này hình như khớp với ngành khảo cổ. Cuối cùng,  quyền lực của Etruscan bị dân Celt ở bắc xứ Gaul, và La Mã cùng với dân Samnite ở phía nam dập tắt. Người Etruscan có ảnh hưởng đáng kể đối với văn hóa La Mã. Nữ thần chính yếu của La Mã Minerva (xem Chương 9) từng là thần của Etruscan.

Dân Sabine

Dân Sabine sinh sống trong làng mạc ở vùng đồi Apennine về phía đông-bắc La Mã. Không ai biết họ gốc gác ở đâu, nhưng họ nói một thứ tiếng cổ có tên Oscan. Mãi đến tận 499 BC, họ liên tục đánh nhau với người La Mã, cho dù họ không có thủ lĩnh, nhưng dựa vào những lãnh vực tín ngưỡng của họ dễ nhận ra tầm ảnh hưởng của họ đối với văn hóa La Mã. Thần Quirinus cổ xưa có nguồn gốc là thần linh Sabine.

 

Dân Samnite        

Dân Samnite sinh sống trong vùng đồi Appenine về phía nam La Mã. Họ gồm bốn bộ tộc tạo thành một liên bang chống với kẻ thù. Vào thế kỷ thứ tư BC, họ trở thành đối thù đáng gờm khi quyền lực La Mã bắt đầu mở rộng về phía nam, dẫn đến ba Cuộc Chiến Samnite. Nhưng Samnite vẫn đứng vững trước La Mã và không hoàn toàn bị đánh bại cho đến đầu thế kỷ thứ nhất BC trong Cuộc chiến Xã hội. Pompeii là thành phố Samnite nổi tiếng nhất, trở thành thuộc địa La Mã vào 80 BC.

 

Dân Volscian

Khoảng 500 BC, dân Volscian đã ra khỏi trung Ý và định cư ở phía đông-nam La Mã. Họ chiến đấu chống sự bành trướng của La Mã nhưng không tính đến các đồng minh La Mã, lực lượng đánh bại họ vào năm 431 BC. Ta không biết gì nhiều về văn hóa của họ vì, một khi họ đã bị chinh phục, họ liền tiếp thu văn hóa La Mã hoàn toàn.

Bát Đại Vương (753-535 BC)

Ngày trước La Mã do các vì vua cai trị. Câu chuyện về họ một phần huyền thoại và một phần sự thật __ điều  khó là không biết phần nào là phần nào. Lịch sử La Mã bắt đầu bằng một huyền thoại rồi sau đó biến ngay thành sự thật, vì thế bây giờ bạn có cơ hội gặp gỡ những vị vua đó, thật hoặc huyền thoại. Ba trong bốn vị vua đầu tiên là dân Latinh (một là người Sabine), nhưng ba người cuối cùng là người Etruscan. Các vì vua Etruscan có ảnh hưởng rất lớn đến văn hóa thời kỳ đầu của La Mã, cơ sở hạ tầng của thành phố, và  quyền lực xưa kia của La Mã.

Các vì vua La Mã không có tính cha truyền con nối như phần lớn các triều đại trong lịch sử thế giới. Vua phần lớn được nhân dân La Mã bầu ra hay chọn ra. Nhân tiện, xin nhớ những niên đại dưới đây chỉ là xấp xỉ chứ không hoàn toàn chính xác.

Romulus (753-716 BC)

Romulus (người sáng lập La Mã cùng với em song sinh Remus) là cháu ngoại của Numitor còn sống sót. Truyền thống La Mã vinh danh Romulus là người lập nên những truyền thống La Mã tuyệt vời khác nhau, như Viện nguyên lão, thật ra chỉ là một huyền thoại nhằm gắn kết Viện nguyên lão với một uy danh có liên hệ với nguồn cội của thành phố.

Đọc thêm: Ngày cuối của Romulus

Ngày cuối của Romulus cũng là một huyền thoại khác, được kể như sau: Một cơn bão tố nổi lên trong lúc ông đang làm lễ hiến tế cạnh bờ sông. Tất cả dân chúng đều chạy đi tránh bão. Mặc dù các nghị sĩ còn nán lại cùng Romulus, nhưng ông bổng thình lình biến mất trước mắt họ. Chỉ có hai khả năng có thể xảy ra liên quan đến sự biến mất này, và không ai biết khả năng nào thực sự xảy ra. Một là Romulus bị các nghị sĩ giết chết rồi phân thây ông ta đoạn giấu các phần thi thể dưới lớp áo choàng của mình để phi tang, và hai là các thần linh đã mang ông lên trời.

Câu chuyện hay ho về công cuộc trị vì của Romulus là việc cưỡng ép các phụ nữ Sabine. Chuyện kể là Romulus mời một bộ tộc láng giềng là dân Sabine cùng tham dự lễ cúng thần Consus (thần bảo hộ ngũ cốc tích trữ). Khi người Sabine xuất hiện, người La Mã bèn bắt cóc các phụ nữ Sabine. Dân Sabine tấn công người La Mã để trả thù và chiếm được Đồi Capitoline. Sau đó các phụ nữ Sabine bước vào để ngăn cản máu đỗ thêm nữa, và hòa bình được điều đình theo đó người La Mã và Sabine hợp làm một với Romulus cùng với vua Sabine Tatius đồng cai trị.

Chuyện về Sabine là một huyền thoại, nhưng vì người La Mã tiếp nhận từ ngữ và thần linh của dân Sabine, nên việc người Sabine và La Mã hợp nhất nhau chứa một phần sự thật.

Numa Pompilius (715-673 BC)

Numa Pompilius là một nhân vật còn mù mờ hơn cả Romulus. Người Sabine ở La Mã bảo rằng đến lượt mình làm vua, và người La Mã đồng ý, miễn là họ được phép chọn ứng viên. Numa, con trai của vua Sabine tên là Tatius, phải được thuyết phục để làm vua nhưng cuối cùng cũng đồng ý. Người ta cho rằng ông là người đã thành lập những giáo phái và giới tăng lữ. Ông cũng được cho là người chế ra bộ lịch 12 tháng, thay bộ lịch 10 tháng, và phân định ranh giới của La Mã. Nhưng cũng như chuyện Romulus thành lập ra Viện nguyên lão, những chuyện này chắc chắn chỉ là những phương cách nhằm đặt các tập quán La Mã vào truyền thống cổ xưa nhất mà họ có thể nghĩ ra.

Numa xây dựng đền thờ của thần Janus có hai mặt, thần có quyền năng với việc khởi công và ô cửa. Các cửa của đền thờ rộng mở trong thời chiến và đóng lại trong thời bình, nhằm tưởng nhớ thuở trước khi cổng thành mở rộng cho đoàn quân lên đường ra chiến trường. Trong những năm AD 65-7 hoàng đế Nero (xem Chương 16) phát hành đồng tiền có in hình đền thờ khép cửa để tưởng nhớ một thời kỳ hòa bình hiếm hoi.

Đọc thêm: Trinh Nữ Vestal

Numa được cho là đã mang Trinh Nữ Vestal từ Alba Longa đến La Mã. Trinh Nữ Vestal là các nữ tu coi sóc ngọn lửa thiêng của Vesta, nữ thần lửa lò sưởi. Nhà nước trả chi phí cung phụng họ, và họ sống trong Đền Vesta gần Quảng Trường. Ban đầu chỉ có hai, sau đó bốn, cuối cùng sáu nữ tu. Mỗi trinh nữ phục vụ trong 30 năm: 10 năm học tập các nghi thức tôn giáo, 10 năm thực hành nghi thức, và 10 năm giảng dạy cho lớp trinh nữ tiếp theo. Các Trinh Nữ Vestal sẽ bị trừng phạt khủng khiếp là chôn sống trong những ngôi mộ không tên nếu họ bị phát hiện mất trinh tiết (dù cho họ bị hiếp dâm đi nữa, thật quá bất công và tàn nhẫn!). 

 Tullus Hostilius (673-641 BC)

Tullus Hostilius được chọn từ dân Latinh. Ông phải chiến đấu chống người Alba Longan xâm lược và tàn phá Alba Longa để trừng phạt. Ông được tin là người đã xây dựng cơ ngơi của Viện nguyên lão __ gọi là Curia Hostilia __ ở La Mã. Vì Curia Hostilia này thực sự tồn tại nên chắc hẳn Hostilius cũng là người thật (nhớ rằng việc tách bạch huyền sử với lịch sử không phải là việc dễ dàng với các ông vua đầu đời này). Điều chắc chắn xảy ra là các gia đình Alba Longa di chuyển đến La Mã. Trong số họ có thành viên của dòng họ Iulus, tổ tiên của gia quyến Julius Caesar, người đã tự nhận mình là hậu duệ của con trai Ascanius của Aeneas.

Ancus Marcius (641-616 BC)

Như Tullus Hostilius, Ancus Marcius chắc chắn là một nhân vật lịch sử. Ông được cho là đã kiểm soát các hồ muối phía nam Tiber. Marcius có thể đã xây dựng chiếc cầu đầu tiên bắc qua sông dẫn vào La Mã, gọi là Pons Sublicius __ tên có nghĩa ‘cầu trụ gỗ’, nghe có vẻ ‘xa xưa’. Ông cũng được cho là xây dựng cống dẫn nước đầu tiên của La Mã và kiến thiết cảng Ostia của La Mã. Điều quan trọng là Ancus Marcius đã mở rộng quyền kiểm soát của La Mã lên những lãnh địa bên ngoài thành phố.

Tarquinius Priscus (616-579 BC)

Vị vua này là dân Etruscan từ thành phố Tarquinil cách La Mã 56 dặm về hướng bắc. Ông là bạn thân của Ancus Marcius và nức tiếng là một người lương thiện, nhưng khi Marcius mất, Tarquin thuyết phục các con trai của vua cha vừa băng hà đi săn. Và trong khi họ ra ngoài thành, ông tự đề cử mình là ứng viên cho chức vụ hoàng đế, một phần do bà vợ Tanaquil của mình thúc giục. Vì Tarquin đã có tiếng là lương thiện, nên mọi người đồng ý chọn ông làm vua.     

Tarquin giới thiệu một hệ thống thoát nước hiệu quả ở La Mã cũng như các trò chơi điền kinh, cả hai đều là mối quan tâm của người Etruscan. Ông ta trị vì quá thành công khiến các con trai của Ancius Marcius căm tức vì ganh tỵ. Biết các con nhỏ của Tarquin sẽ trở thành mối đe dọa cho vương triều, các con trai của Marcius liền cho người ám sát Tarquin.

Đọc thêm: Người La Mã tuyên chiến ra sao

Ancus Marcius được vinh danh vì đặt ra thể thức tuyên chiến theo kiểu La Mã. Các sứ giả được phái đi đến gặp kẻ thù của La Mã để giải thích lý do La Mã phẩn nộ và trình bày những yêu sách của La Mã. Nếu La Mã phải bắt buộc tuyên chiến, nhóm tăng lữ đặc biệt có tên là Fetiales sẽ ném một ngọn giáo vào lãnh thổ của kẻ thù (hoặc vào một chỗ trên Quảng trường tượng trưng cho xứ sở La Mã) trước khi chức tư lệnh của quân đoàn được trao cho một vị tướng. Ý nghĩa của hành động này là để bảo đảm thần linh sẽ hổ trợ người La Mã, bằng cách tuyên bố chiến tranh đã được tuyên vì người La Mã đã bị kẻ thù đối xử bất công hay xâm hại trước. Nhóm Fetiale cũng phê chuẩn hiệp ước vào cuối cuộc chiến.

 Servius Tullius (579-535 BC)

Servius là rể của Tarquin và có thể từng là nô lệ của ông, tùy theo bạn đọc phiên bản nào của câu chuyện. Y cưới con gái của Tarquin, và khi Tarquin bị mưu sát, người vợ góa hay xúi giục của ông rắp tâm đưa Servius lên ngôi. Điều chắc chắn là cái tên Servius của chàng rể cho biết ông thuộc tầng lớp thứ dân và nghe tương tự như servus (‘nô lệ’) __ có nghĩa là hầu như chắc chắn ông là một người có thật. Một vì vua huyền thoại sẽ phải có tên thuộc tầng lớp quý tộc. Servius được cho là đã tạo nên những thay đổi lớn:

  • Ông lần đầu tiên cho điều tra dân số và phân chia dân La Mã và vùng quê thành những bộ tộc mới dựa trên nơi sinh sống, chứ không dựa trên gia tộc mà mình thuộc về hoặc số tài sản mình sở hữu. Hệ thống này lập tức gồm luôn các cư dân mới đến. Tám chục ngàn công dân La Mã có thể ra trận được điều tra dân số ghi nhận; những người còn lại, trong đó có phụ nữ và trẻ em, không được kể vào. Để thực hiện việc điều tra dân số, hai viên giám quan được chỉ định, được Comitia Centuriata (một hội đồng chính trị) chọn ra, thường từ những cựu quan chấp chính.
  • Ông ấn định trách nhiệm về nghĩa vụ quân sự dựa theo tài sản bằng cách chia các chủ đất thành những thứ hạng. Mỗi thứ hạng lại được chia thành các century (bách hộ gồm 100 người). Các ông thuộc tầng lớp giàu nhất được tài trợ để mua sắm và chăm sóc một ngựa chiến, trong khi những người nghèo nhất chỉ được phát gậy và đá và sung vào bộ binh.
  • Các thứ hạng quân sự mới của ông là nền tảng của Comitia Centuriata, trong đó mỗi bách hộ trình lên phiếu đa số của các thành viên. Số phiếu bầu của các bách hộ từ các thứ hạng cao nhất có giá trị lớn nhất, nhưng họ cũng phải đánh trận nhiều nhất.
  • Ông được cho là đã chỉ đạo xây dựng tường thành xưa nhất bao quanh La Mã đến nay còn lưu lại vết tích (mặc dù, trong thực tế, những tường thành này chỉ có sau cuộc xâm chiếm của người Gaul vào 390 BC).
  • Ông bắt đầu thờ cúng nữ thần Diana của La Mã, tương đương với thần Artemis, nữ thần Hy Lạp bảo hộ mặt trăng, săn bắn, và sự phì nhiêu.

Không biết có phải cá nhân Servius Tullius đã tạo ra hệ thống thứ bậc cho xã hội La Mã hay không, nhưng không nghi ngờ gì hệ thống ấy đã xuất hiện từ thời kỳ này. Comitia Centuriata đã ban cho người giàu nhất nhiều quyền hạn hơn vì phiếu bầu của họ là ưu tiên, nhưng cũng cho người nghèo nhất có được một tiếng nói. Nhưng chỉ có tiếng nói thì chưa đủ. Những tầng lớp trên chiếm hữu tài sản sớm nhận ra sức mạnh của mình, và không đợi lâu họ đoạt lấy cơ hội để truất phế các ông vua Etruscan.

Tarquinius Superbus (535-509 BC)

Tarquinius Superbus kết hôn với cô con gái Tullia nhiều tham vọng của Servius Tullius. Tullia thuyết phục chồng mình giết chết Servius, giờ đã là một ông già. Tarquin kết tội Servius là một tên nô lệ ngụy tạo và lôi kéo ông ra khỏi Viện nguyên lão ném ra ngoài đường, ở đó ông bị giết chết. Vì Servius quá nổi tiếng, nên sự kiện này là một khởi đầu không mấy tốt cho Tarquin, mặc dù ông cũng có hai thành tựu lâu bền:

  • Ông xây dựng Đền thờ Capitoline Jupiter trên Đồi Capitoline. Đền thờ này trở thành trung tâm thờ cúng của Đế chế La Mã.
  • Ông xây dựng cống thoát nước lớn nhất La Mã, Cloaca Maxima (‘Cống Lớn’), ngày nay vẫn tồn tại, mặc dù mãi đến năm 390 BC cống mới được che đậy.

Tarquinius là vị vua cuối cùng của La Mã và trong suốt phần còn lại của lịch sử La Mã, người La Mã sẽ xông lên ngăn cản bất cứ ai tự phong mình là vua.

Những phúc lợi các vì vua Etruscan đem lại

Các vua La Mã, không cần biết họ có thật hoặc không, đều đem lại một số thay đổi thực sự quan trọng.  Quyền lực của La Mã ban đầu chỉ bao trùm khoảng 60 dặm vuông ở Latium. Vào cuối thời trị vì của Tarquinius Superbus,  quyền lực La Mã mở rộng đến sáu lần. Ba đời vua Etruscan cuối cùng đã đặt nền móng chuẩn bị cho tương lai của La Mã. Họ mang đến những cải cách xã hội và quân sự bắt đầu vận hành La Mã hoạt động như một chiếc đồng hồ.

Những cải cách quân sự do Servius Tullius đem lại __ ấn định trách nhiệm về nghĩa vụ quân sự căn cứ vào điều kiện tài chính cá nhân, chẳng hạn __ có nghĩa là nhà nước có thể tận dụng hầu hết mọi tài nguyên trong nhân dân. Công trình tháo nước ở các thung lũng đầm lầy, nhất là khu vực sau này trở thành Quảng trường, tạo điều kiện cho các khu định cư mọc lên trên đồi và phát triển lên thành phố.

Người Etruscan cũng mang đến những kỹ năng quý giá, như rèn kim loại, làm gốm, và làm mộc, khiến hoạt động giao thương hình thành. Việc tổ chức các điện thờ cúng nhà nước và việc xây cất đền thờ mang đến một bộ mặt tâm linh và một ý thức về vận mệnh tôn giáo. La Mã dần được biết đến như một lực lượng mới trong vùng Địa Trung Hải. Rõ ràng là kể từ sau trận chiến Alba Longa (đề cập trong mục trước của chương này), La Mã đã bắt đầu  hâm nóng gân cốt để chuẩn bị xung đột với những kẻ láng giềng.

Bạn có cảm tưởng là La Mã là một loại dây chuyền dẫn đến công cuộc thống trị thế giới và chính các vì vua Etruscan đã khởi động. Trong thực tế, vào cuối thế kỷ thứ sáu BC, La Mã dần dần trở nên quan trọng, nhưng cũng không quan trọng hơn bất cứ nơi nào khác. Và nó kém quan trọng hơn nhiều so với một số thành phố lớn của Hy Lạp , như Athens, Corinth, và Sparta. Tại thời điểm này trong lịch sử của mình, La Mã có thể dễ dàng biến mất không để lại dấu vết.

Sự Ra Đời của Cộng hòa La Mã

Cuối cùng, người La Mã thấy rằng sự cai trị của người Etruscan đã quá đủ. Tarquinius Superbus được coi là hình thức tốt nhất của thể chế độc tài, và người La Mã quyết định ông ta phải ra đi. Câu chuyện truyền thống cho rằng Vụ Chiếm Đoạt Lucretia là nguyên nhân biến động.

Chuyện kể như sau: Sextus, con trai của Tarquinius Superbus, đang tham gia một chiến dịch với lũ bạn quý tộc, bổng quyết định quay về nhà để xem các bà vợ của họ ăn ở ra sao. Tất cả các bà vợ trừ Lucretia, vợ của Tarquinius Collatinus, anh em họ của Sextus, là sống phung phí. Tuy nhiên, Sextus lòng đầy khao khát chiếm cho được Lucretia. Khi trong một lần hẹn gặp sau này, y bảo Lucretia phải ngủ với y, nếu không y sẽ cưỡng bức nàng rồi dàn cảnh như thể nàng đã phản bội chồng đi ngủ với bọn nô lệ. Lucretia phải nhượng bộ nhưng sau đó nói hết sự thật cho chồng mình. Người chồng tha thứ cho vợ, nhưng vì quá tủi hổ Lucretia bèn tự tử. Sự hiếp dâm Lucretia đã làm vấy lên cơn thịnh nộ bao trùm trong bọn quý tộc. Một âm mưu do Lucius Junius Brutus (khoảng 545-509 BC), cháu của Tarquinius Superbus, tổ chức. Sextus bỏ chạy nhưng rồi cũng bị giết chết, và Tarquinius Superbus bị tống cổ khỏi ngai vàng.

Kẻ chủ mưu Junius Brutus là một tên vô lại thứ thiệt, táo tợn và không khuất phục. Tarquinius Superbus là chú y, nhưng ông ta đã giết cha của Brutus và một người anh của y để ông ta có thể chiếm trọn tài sản của gia đình. Brutus sống sót được vì ai cũng nghĩ y đần độn __ nhưng y chỉ giả ngây để thoát nạn. Không có gì ngạc nhiên  khi Brutus ghê tởm các vua chúa, thậm chí còn giết cả các con trai mình khi chúng muốn tái lập vương quyền. Brutus bị giết trong một trận đánh giữa quân La Mã và quân Tarquin vào 509 BC khi các đồng minh Etruscan của Tarquinius Superbus, do con trai Arruns của Tarquinius lãnh đạo tiến vào La Mã.    

Không có cách nào biết được thật giả trong câu chuyện này, nhưng rõ ràng ảnh hưởng Etruscan bắt đầu thoái trào, mặc dù không xảy ra đột ngột. Một phần vì người Etruscan không từ bỏ dễ dàng, mặc dù câu chuyện tiếp theo (xem Chương 11) chắc chắn phần lớn là huyền thoại.

Hiến pháp mới

Không còn vua, một hiến pháp mới là cần thiết. Không ai biết ai là tác giả, nhưng Publius Valerius Poplicola (khoảng 560-503 BC), một trong những Quan Chấp Chính Tối Cao (một chức quan lớn cai trị La Mã), đi vào lịch sử La Mã như một trong những người liên quan. Hiến pháp bao gồm những điều khoản sau:

  • Chức vụ nhà vua bị ngăn cấm. Không ai sẽ được tôn làm vua của La Mã lần nữa (cho đến AD 476 __ xem Chương 21).
  • Hai nghị sĩ được Comitia Centuriata bầu ra hàng năm giữ chức vụ consul (chấp chính tối cao, trước kia gọi là Praetor: phán quan), để điều hành nhà nước. Các quan chấp chính có quyền lực tuyệt đối trước luật pháp trong thời bình hoặc thời chiến, và cả hai quan chấp chính đều có quyền phủ quyết lẫn nhau. Hiện nay không có chính thể nào tương đương như vậy, nhưng truyền thống còn lưu lại dưới hình thức hai viện thượng và hạ như trong nhà nước Hoa Kỳ.
  • Một số trách vụ của nhà vua, như đại giáo chủ (pontifex maximus) được giữ nguyên. Đại giáo chủ có chức nhiệm tối cao về mọi hoạt động liên quan đến tôn giáo và nghi lễ. Chức vụ tương đương gần nhất là Giáo Hoàng hoặc Giáo chủ.
  • Hiến pháp qui định cho phép một nhà độc tài trong những thời điểm khủng hoảng. Nếu tình hình thực sự nguy cấp, không có thời gian cho hai quan chấp chính tranh chấp việc gì nên làm, một nhà độc tài được chỉ định để đại diện cả hai quan chấp chính giải quyết cuộc khủng hoảng. Nhà độc tài được qui định phải từ nhiệm sau sáu tháng là nhiều nhất.

 Hiến pháp có một nguyên tắc cực kỳ quan trọng làm cơ sở: Trong Cộng hòa La Mã không một ai __ và nhất định không một ai __ có thể có quyền lực chính trị vĩnh viễn. Trong phần IV, bạn sẽ chứng kiến việc gì xảy ra khi nguyên tắc đó bị gạt sang một bên.

 

Quý tộc và thứ dân

Sau khi La Mã đã truất phế các vua chúa, xã hội La Mã được phân chia thành hai tầng lớp: tầng lớp trên là tầng lớp quý tộc, tầng lớp dưới là tầng lớp thứ dân. Hai tầng lớp luôn xung đột nhau. Đa số quần chúng là thứ dân, làm tất cả những công việc bình thường. Khi bị triệu tập, họ phải làm nghĩa vụ trong quân ngũ mà không được trả lương. Điều này có nghĩa lâm vào cảnh nợ nần, có thể đưa đến kiệt quệ về tài chính. Các quý tộc, trái lại, chộp toàn những công việc đỉnh vẻ vang, như thầy tế, và chức vụ mới là chấp chính.

 

Bó que (fasces)

Fasces là một bó que buộc chặc quanh một trục giữa. Các cận vệ của quan chấp chính mang chúng trên vai, tượng trưng cho quyền lực. Vì những thanh que, nếu tách ra rất yếu, dễ dàng bẻ gãy, nhưng khi buộc lại thì rất cứng, nên được chọn làm biểu tượng của quyền lực và sự đoàn kết của La Mã. Fasces xuất hiện đầu tiên vào những năm 600 BC.

3

Vì bọn phát xít (fascist) Ý lấy hình bó que này (fasces) làm biểu tượng của chúng nên các đảng phái của chúng những thập niên 1920 và 1930 có tên là fascist (phát xít).     

Các quý tộc: Củng cố  quyền lực   

Hiến pháp mới của Cộng hòa La Mã cho thấy cách thức tầng lớp quý tộc bắt đầu tổ chức tập trung quyền hành quanh họ. Comitia Centuriata (Hội Đồng các Bách Hộ), được thành lập từ tất cả các nam thanh niên có điều kiện chiến đấu, có thể bầu ra những quan chấp chính, nhưng các ứng viên thì do các nghị sĩ đề cử trong nhóm bọn họ. Không có cửa cho một lãnh tụ xuất sắc thuộc thành phần nghèo khó có thể bước vào làm quan chấp chính.

Cũng thế, Viện nguyên lão càng ngày càng có nhiều quyền hành. Viện nguyên lão trước đây chỉ được coi là một bộ phận tham mưu của nhà vua, nhưng sau năm 509 BC, dưới nền Cộng hòa, mọi chuyện bắt đầu thay đổi. Khởi đầu, các nghị sĩ đều là thành viên của các gia đình quyền quý. Hơn nữa, vì các quan chấp chính được bầu cử hàng năm, không quan chấp chính nào có đủ kinh nghiệm và uy tín để hù dọa Viện nguyên lão.

Quần chúng nổi giận

Các thứ dân không đặc biệt hài lòng với thể chế mới tại La Mã. Với hiến pháp mới, rõ ràng đối với họ là các quý tộc đang bố trí mọi quyền lực vào trong tay mình. Tình hình càng tồi tệ hơn vì một số lý do.

Trước tiên, La Mã thời đầu Cộng hòa lâm vào cơn khủng hoảng kinh tế. Đầu mối là trong ngành đồ gốm. Nhập cảng đồ gốm Hy Lạp bắt đầu cắt giảm rồi sau đó xuống dốc. Nhiều đền thờ mới được xây cất giữa những năm 500-450 BC, như đền thờ Saturn vào năm 496. Nhưng công việc xây cất này phải dừng lại vì hết tiền.

Thứ hai, La Mã đang gặp rắc rối với láng giềng. Dưới thời các triều vua, La Mã đã xáp nhập các lãnh thổ mới, nhưng đã dừng mở rộng. Tệ hơn nữa, các cuộc tấn công của kẻ thù láng giềng khiến việc làm nông đình trệ, dẫn đến đói kém. Phải bắt đầu nhập cảng các ngũ cốc, và phải tìm đất đai cho nông dân thiếu ăn canh tác.

Thứ ba, cuộc khủng hoảng toàn diện khiến dân chúng lâm vào cảnh nợ nần. Lãi suất tàn tệ làm gia đình điêu đứng, và hình phạt nghiêm khắc nhất khi không trả nợ theo một dạng hợp đồng gọi là nexum là tội chết. Các con nợ chỉ có thể xóa nợ bằng cách làm lụng cho chủ nợ, một số bị bán làm nô lệ.

Không cần nói, thứ dân cũng nhận ra rằng họ chịu thiệt hại nhiều nhất trong cuộc khủng hoảng này. Qua các quan chấp chính, giới quý tộc có thể áp những lệnh trừng phạt nghiêm khắc, thường theo ý muốn của họ.

Xung đột giữa các Thứ Bậc: Cuộc đấu tranh giai cấp ở La Mã

Kết quả của những bất bình và căng thẳng này là sự kiện mệnh danh Cuộc Xung Đột Thứ Bậc, tên được đặt cho cuộc đấu tranh giai cấp giữa giới quý tộc và giới thứ dân. Cuộc xung đột kéo dài đến 200 năm, và hệ quả là một loạt các sự kiện dẫn đến cuộc nội chiến và thất thủ của nền Cộng hòa trong thế kỷ đầu BC (sẽ xét trong Chương 14 và 15).

Giới thứ dân bước vào, không phải bằng những cuộc biểu dương bạo lực lẻ tẻ, mà theo một cách thức có tổ chức. Họ học hỏi các con buôn Hy Lạp ở La Mã cách thức giới quý tộc bị đánh đổ ở xứ sở họ. Giới con buôn Hy Lạp hoạt động rất nhộn nhịp trên Đồi Aventine ở La Mã lúc bấy giờ, và đó là nơi mà các nhóm thứ dân bất mãn bắt đầu tụ họp và trao đổi biện pháp đấu tranh. Sau khi có nông dân ngoài thành tham gia, họ có được lực lượng để tạo nên sự khác biệt. Thứ dân sử dụng nhiều phương cách khác nhau để hâm nóng gân cốt của mình:

  • Họ tổ chức tổng bãi công không tham gia nghĩa vụ quân sự.
  • Họ lập ra hội đồng có tên Concilium Plebis Tributum (Hội đồng Thứ dân Bộ Tộc) tại đó các thứ dân gặp nhau trong bộ tộc của mình để bầu ra các hộ dân quan đại diện cho quyền lợi của họ. Không giống Comitia Centuriata, chỉ có thứ dân mới được tham dự Hội đồng Thứ dân.
  • Họ tuyên thệ bảo vệ các hộ dân quan của mình, dù xảy ra việc gì (điều này giúp họ có quyền biểu quyết, quyền này đóng một vai trò lớn trong việc củng cố quyền lực qua các hộ dân quan).

Giới quý tộc bị buộc phải chấp nhận hành động của giới thứ dân chỉ vì họ là số đông và nắm vững lực lượng kinh tế. Năm 471 BC, một đạo luật phê chuẩn sự tồn tại của Concilium Plebis Tributum (Hội đồng Thứ dân Bộ Tộc).

Một bộ luật để cai trị tất cả __ Bộ Luật 12 Chương (450 BC)

Giới thứ dân biết rằng cách duy nhất để bảo vệ quyền lợi của mình là một bộ luật thích hợp đề ra các quyền hạn và nghĩa vụ. Bộ luật này sẽ ngăn cản các quý tộc tự tiện đề ra các hình phạt theo ý mình và như vậy đặt ra một tiền lệ bất thành văn cho các hình phạt tùy tiện. Nguyên tắc này là cốt lõi của bộ luật La Mã.

Giới thứ dân đốt lên ngọn lửa đấu tranh cho bộ luật vào năm 462 BC và duy trì ngọn lửa yêu sách trong mười năm. Cuối cùng năm 451 BC, giới quý tộc nhượng bộ và chỉ định mười ủy viên soan thảo bộ luật. Việc này coi vậy mà không xuôn xẻ vì ủy ban soạn thảo không hoàn tất như kỳ hạn, và phải lập ra một ủy ban thứ hai. Một ủy viên, Appius Claudius, gian lận để được bầu lại vào ủy ban thứ hai và sử dụng vị trí của mình để mưu tính độc quyền cai trị cho dù công việc của ủy ban đã hoàn thành. Giới thứ dân phải tổ chức một cuộc tổng bãi công để bắt buộc giới quý tộc tống giam Appius và thiết lập lại chính quyền hợp hiến vào 449 BC.

Kết quả của cuộc đấu tranh thứ dân là Bộ Luật 12 Chương hoàn tất vào năm 450 BC. Vì giới quý tộc là người soạn thảo bộ luật, họ tự nhiên ưu tiên cho quyền lợi của mình, nhưng việc soạn thành văn một bộ luật đã là một bước khởi đầu căn cơ khỏi truyền thống và đánh dấu một mốc son cho quyền lực của giới thứ dân. Sau đây là một vài điều khoản trong Bộ Luật:

  • Quyền lợi và nghĩa vụ của một gia đình và tài sản của nó được xác định.
  • Các nhà buôn có quyền tập hợp vì một mục đích chung.
  • Việc an táng phải tiến hành bên ngoài tường thành.
  • Một con trai bị cha bán ba lần để làm nô lệ phải được tự do.
  • Các phụ nữ vẫn được giám hộ ngay cả khi đến tuổi trưởng thành.
  • Một người vợ toàn quyền làm chủ khi chồng bà qua đời.
  • Chỉ có một toà án hợp pháp mới có quyền thi hành án tử hình.

Qua hàng thế kỷ sau đó, Bộ Luật rơi vào tình trạng không được sử dụng, nhưng nó chưa hề bị bãi bỏ. Một ngàn năm sau, một số đạo luật nguyên gốc của bộ luật được hoàng đế Justinian cho vào Bộ Luật của mình (xem Chương 21). Nhưng giới quý tộc đã bám vào một số quyền hạn then chốt:

  • Các quan chấp chính có quyền quyết định tối hậu đối với những sự kiện như việc cưỡng bách nghĩa vụ quân sự.
  • Giới quý tộc giữ bí mật những thuật ngữ pháp luật để sử dụng trong các hoạt động dân sự sao cho họ có thể kiểm soát được cách thức luật được vận hành và ai được hưởng lợi từ nó (thường là chính họ).
  • Hôn nhân giữa giới quý tộc và thứ dân bị ngăn cấm, nhằm bảo đảm các gia đình quyền quý không phải chia sẻ quyền lực của mình.

 

Quyền hạn của thứ dân __ Người có quân bài chủ

Mặc dù giới quý tộc hết sức bảo vệ quyền hạn và ảnh hưởng của mình, sau khi Bộ Luật 12 Chương được thông qua, thứ dân cũng thắng được vài mục tiêu trong cuộc Xung Đột Thứ Bậc:

  • Bất cứ ai gây hại cho viên chức thứ dân, các hộ dân quan, và/hay các aedile (quan thị chính, thường là các viên chức của đền thờ), sẽ phải tội chết.
  • Các quan thị chính trở thành phụ tá cho các hộ dân quan và được bầu ra từng cặp hàng năm.
  • Vào năm 445 BC, đạo luật ngăn cấm hôn nhân giữa thứ dân và quý tộc bị bãi bỏ, có nghĩa là con trai của các phụ nữ thuộc thành phần thứ dân giờ đây có thể trở thành quý tộc. Sự bãi bỏ việc ngăn cấm hôn nhân khác giai cấp này rất có ý nghĩa vì nó cho thấy quyền lực quan trọng của hộ dân quan: quyền phủ quyết. Qua phủ quyết, họ có thể ngăn cản bất kỳ hành động nào đi ngược lại quyền lợi của thứ dân. Bạn có thể biết thêm về việc này, về các hộ dân quan, và aedile trong Chương 3.

Sau đó, nhờ các mối đe quân sự mà La Mã phải đương đầu trong thế kỷ thứ năm mà thể chế hai quan chấp chính bị bãi bỏ trong phần lớn thời gian cho mãi đến năm 367 BC mới được phục hồi lại. Thay vì quan chấp chính, ba (sau đó là sáu) hộ dân quan quân sự được bầu ra hàng năm. Và điều quan trọng là các thứ dân có tư cách vào được vị trí này. Thứ dân cũng có tư cách giữ một chức quan mới gọi là quaestorship (chức quan coi quốc khố). Các quan này phụ tá các quan chấp chính. Cuối cùng thì ngay cả thứ dân cũng có tư cách được bầu làm quan chấp chính.

Một nền cộng hòa được thành hình khi có một bộ luật được thành văn và giới quý tộc bị bắt buộc phải công nhận các định chế và chức vị thuộc thứ dân, tạo ra một cán cân quyền lực có hiệu quả, nhưng chỉ có vậy. Hệ thống chính quyền Cộng hòa La Mã chỉ là kiểm tra và tạo cân bằng. Nó hiệu quả chừng nào mà các quyền hạn như quyền phủ quyết không được lạm dụng, và cũng bởi vì thứ dân nào có đủ quyền lực và đủ giàu có để được bầu làm hộ dân quan sẽ biết rằng quyền lợi của mình không khác với các quý tộc.         

  

Chương 11 

Thị Trấn Này Quá Chật Chội với Chúng Ta: Hãy Chiếm Lấy Ý

 Trong Chương Này

  • La Mã đánh nhau với Liên minh Latinh
  • Đánh bại người Gaul
  • Cuộc chinh phục Ý của La Mã

 Khoảng 450 BC, người La Mã đã đi được một chặn đường dài trong việc thiết lập một thể chế chính trị mà sẽ định hình lịch sử của mình trong bốn thế kỷ sau đó. Nhưng trong lúc này, La Mã vẫn không có vai vế nhiều trong phần còn lại của thế giới. Vào thế kỷ thứ năm BC, Athens là lực lượng hùng mạnh nhất trong vùng Địa Trung Hải. Quá hùng mạnh đến nổi hàng thế kỷ sau đó trong thời Phục hưng, các học giả đều hăm hở quay lại nhìn vào các thử nghiệm của Athens đối với thể chế dân chủ và những gì xảy ra ở Hy Lạp. Lúc này Ai Cập đang lao nhanh xuống dốc suy thoái và Đế chế Macedonia của Alexander Đại Đế vẫn còn hơn một thế kỷ phía trước. Ở tây bắc châu Âu, các vùng như Gaul (Pháp) và Anh, mà một ngày kia sẽ trở thành một bộ phận của Đế quốc La Mã, giờ chỉ mới bắt đầu biết buôn bán với thế giới cổ điển.

Hầu hết những vùng này không biết gì về La Mã. Tuy nhiên, khoảng 270 BC, mặc dù phải giải quyết các vấn đề chính trị nội bộ của riêng mình cũng như các cuộc tấn công của người láng giềng, La Mã đang trên đường nắm quyền kiểm soát toàn bộ Ý. Được trang bị với tài nguyên của toàn thể Ý, La Mã yên vị trên bến bờ chinh phục đế chế.

Điều tạo nên sự khác biệt là La Mã luôn chuyển bại thành thắng bằng cách tái tổ chức và trở lại giáng trả đích đáng kẻ thù. Mỗi thắng lợi sau đó luôn tiếp theo là sự củng cố quyết liệt những lãnh thổ vừa chiếm được. Chủ yếu là người La Mã cũng không quên tạo ra những điều kiện ổn định cuộc sống ở Ý hấp dẫn với nhiều dân tộc Ý. Đó là một trong những bí quyết lớn cho thành công của La Mã __ nó khiến cho việc bị La Mã cai trị lại là một thuận lợi chủ yếu.

Lôi Kéo Liên Minh Latinh (493 BC)

Thời kỳ này là một trong những giai đoạn phức tạp nhất trong lịch sử La Mã, và nhiều chi tiết then chốt đã lạc mất. Sự kiện hình như xảy ra là thực sự có đến ba nhóm quyền lực liên can: người La Mã, Etruscan, và Latinh. Khi La Mã tống khứ các vua Etruscan, họ đã ra một đòn mạnh. Nhưng mặc dù La Mã đang chuyển mình thành một tay chơi lớn nhất khu vực, các thành phố Latinh không vội vã công nhận quyền lực La Mã. Bắt họ làm điều đó là một thời điểm quyết định.

Đánh nhau với người Etruscan

Tarquinius Superbus là vị vua cuối cùng của La Mã, mà vì sự độc tài và tàn bạo của mình nên ông đã bị đuổi thô bạo ra khỏi quyền lực. Tarquinius, một người Etruscan, đương nhiên nổi cơn thịnh nộ và đem quân đánh La Mã để chiếm lại ngai vàng, nhưng không thành công. Vẫn không sẵn sàng từ bỏ, y tìm đến Lars Porsenna, một thủ lĩnh khác người Etruscan (vua của một thành phố có tên Clusium), để cầu cứu. Porsenna hình như không mấy tha thiết đến việc đưa Tarquinius trở lại ngai vàng mà chỉ sử dụng lời mời này để giễu võ dương oai.

Theo truyền thuyết, Porsenna đem quân đến La Mã nhưng không thể băng qua cầu để chiếm thành phố, nhờ kỳ công cố thủ kiên cường của Horatius Cocles (nghĩa là độc nhản), người cùng với hai bạn đồng hành án ngữ cây cầu huyết mạch đủ thời gian cho quân La Mã phá sập nó. Khi cây cầu sụp đổ, Horatius liền phóng xuống sông Tiber rồi bơi lên bờ trước sự hoan hô của binh lính La Mã.

Porsenna rất ấn tượng trước sự phô diễn dũng cảm của Horacius, và cũng bởi Mucius Scaevola, dám lẻn vào doanh trại Etruscan định ám sát Porsenna, và khi bị bắt, đã xòe bàn tay phải vào ngọn lửa để cho thấy ông cũng như người La Mã khác dũng cảm ra sao. Nhưng không chỉ có cánh đàn ông mới gan lì. Một con tin phụ nữ, Cloelia, bị quân Etruscan bắt giữ, đã tìm cách trốn thoát về La Mã, nhưng người La Mã đã bắt trả cô về cho người Etruscan vì ý thức danh dự. Porsenna thả cô đi và bỏ dở cuộc vây hãm.

Một truyền thuyết pha chế khéo léo để chứng tỏ với kẻ hậu sinh La Mã tổ tiên họ trọng danh dự và can trường ra sao. Một phiên bản khác, chắc chắn đáng tin cậy hơn, cho rằng Porsenna đã chiếm được La Mã, nhưng không nán lại lâu. Hình như là cuộc kháng cự của người La Mã chống lại sự kiểm soát của người Etruscan đã tạo ấn tượng với những thành phố Latinh khác, tạo cơ sở cho việc thành lập Liên minh Latinh.

Liên minh Latinh ra đời

Khoảng 506 BC, cương quyết loại trừ người Etruscan vĩnh viễn, người Latinh tự tổ chức Liên minh. Liên minh hợp bởi 30 thành phố (không có La Mã) trong vùng Latium, trong đó có Alba Langa, Bovillae, Lavinium, Praeneste, và Tibur. Những thành phố này thờ cùng những vị thần và cũng nhận ra lợi ích khi đoàn kết cùng nhau chống kẻ thù chung bên ngoài, chủ yếu là người Etruscan. Liên minh Latinh hình như đã thoát thai từ Liên minh Aricia trước đây, mà La Mã rắp tâm nắm quyền điều khiển. Nhưng lần này với Liên minh Latinh La Mã bị cho ra rìa.

Để ứng phó với sự ra đời của Liên minh Latinh, Porsenna của Etruscan phái con trai mình Arruns dạy cho Liên minh một bài học, nhưng Liên minh đánh bại y tại Trận Aricia, cắt đứt Etruscan ra khỏi vùng nam Ý và làm suy yếu họ lâu dài. Chỉ mãi đến năm 359 BC người Etruscan mới thử lại lần nữa.

La Mã: Đối nghịch với Liên minh Latinh

Khi Arruns bị đánh bại, bạn có thể đã nghĩ rằng người Latinh và La Mã sẽ nhận ra mình có cùng chung lợi ích, nhưng giữa họ có xung khắc lớn vì người Latinh bất mãn cách thức La Mã lên mặt chỉ vẽ, tự tiện tuyên bố thay mặt các thành phố Latinh dựa trên Liên minh Aricia xưa cũ.

Mặc dù người Latinh ấn tượng trước tinh thần quật khởi La Mã  đối với người Etruscan, họ không mấy ấn tượng với  viễn cảnh quyền lực La Mã lớn mạnh. Người Latinh giờ đây tập hợp trong một Liên minh không chơi với La Mã, phần lớn vì La Mã vừa mới được độc lập giờ đây yêu sách quyền kiểm soát nhiều vùng của Latium. Yêu sách này thậm chí còn được đề ra trong một hiệp ước họ ký với Carthage khoảng thời gian này. Hồ hỡi vì thắng lợi trước người Etruscan, người Latinh quyết định lên dây cót thử sức với người La Mã.      

Thỏa hiệp với người Latinh

La Mã dĩ nhiên là chưa sẵn sàng bỏ qua cho việc Liên minh Latinh cự tuyệt mình. La Mã quyết đấu một trận với Latinh tại Hồ Regillus vào năm 496 BC. Mặc dù kết quả là hòa, nhưng theo truyền thống La Mã đó là một thắng lợi theo ý của thần linh.

Trong thực tế, ‘thắng lợi’ của người La Mã là do chính trị nhiều hơn là do sự can thiệp của thần linh. Người Latinh lúc bấy giờ đang gặp rắc rối với các bộ tộc miền núi đang kéo xuống cướp phá đất đai, do đó họ bắt buộc phải giảng hòa với người La Mã để giải quyết hiểm họa trước mắt này. La Mã lợi dụng tình thế nguy ngập của Latinh để thương thảo có lợi cho mình. Hiệp ước có tên foedus Cassianum, lấy theo tên vị quan chấp chính Spurius Cassius vào năm 493 BC. Hiệp ước có điều khoản sau:

  • Liên minh Latinh và La Mã cùng đóng góp như nhau cho lực lượng phòng thủ chung của hai nước.
  • La Mã và Liên minh Latinh chia đều mọi chiến lợi phẩm.

La Mã bây giờ là một địch thủ xứng tầm với Liên minh Latinh. Các điều khoản thỏa thuận ám chỉ một điều rất quan trọng về sau này vì các thành phố Latinh giờ đây bị đẩy về hệ thống La Mã. La Mã dựng lên những thuộc địa gồm các công dân La Mã và Latinh tại những nơi mà sự hiện diện của một thị trấn trung thành có khả năng phòng thù là điều rất hữu ích. Các dân thuộc địa không còn là công dân La Mã mà trở thành công dân của thành phố mới, được công nhận là một thành viên của Liên minh Latinh. Nhân tiện, xin nói là Liên minh chỉ kéo dài đến năm 340 BC khi người La Mã chợp lấy cơ hội phá bỏ nó.

Đè bẹp lực lượng chống đối bản địa

Những bài toán mà La Mã và Latinh phải giải quyết là thành phố Veii của người Etruscan nằm về phía bắc, dân tộc Aequi ở phía đông, và người Volscian ở phía nam. Theo truyền thuyết kể là một người La Mã phản quốc tên Coriolanus dẫn một đạo quân Volscian đến xâm chiếm La Mã. Không biết việc này giả hay thật, nhưng đúng là người La Mã có soạn một hiệp ước sau năm 486 BC với một dân tộc tên Hernici sống giữa Aequi và Volsci, nhờ đó ngăn cản được sự hợp lực giữa người Aequi và Volscian. Vào khoảng cuối thế kỷ thứ năm, hai thành phố này  không còn là mối hiểm họa cho La Mã nữa.

Tuy nhiên, thành phố Veii của Etruscan đứng lên chống người La Mã. Vào năm 426 BC, La Mã đánh bại Veii, và vào năm 405 BC họ trở lại Veii, quyết định làm cỏ thành phố một lần cho mãi mãi. Cuộc vây hãm mười năm, gần như làm La Mã kiệt quệ do địa hình bất khả xâm phạm của Veii. Cuối cùng, vào năm 396 BC, chỉ một trận đột kích do một vị tướng La Mã có tên Marcus Furius Camillus dẫn đầu theo đường hầm đào chui dưới tường thành, đã đem đến thắng lợi.           

Binh lính La Mã đòi trả thù tàn bạo đối với kẻ thất trận: Camillus ra lệnh cho binh lính muốn giết ai thì giết và ai còn sống muốn đem bán làm nô lệ cũng được. Lãnh thổ chiếm được lấy chia cho những công dân nghèo khó hơn. Về sau hình thức trả thù này trở thành khuôn mẫu của tính tàn bạo của người La Mã trên bước đường chinh phục thế giới.

Người Gaul xâm lăng __ 390 BC

Khoảng đầu thập niên 390 BC, người Celt xứ Gaul tìm đường nam tiến xuống Thung lũng Po màu mỡ ở bắc Ý. Năm 391, họ uy hiếp một thành phố Etruscan tên Clusium, khiến thành phố phải cầu cứu với La Mã. La Mã cảnh cáo bọn xâm lăng, nhưng vào năm 390 một quân đoàn Gaul tiến đến sông Allia chỉ cách La Mã mười dặm về hướng bắc.

Gaul hơi tương đương nước Pháp hiện nay. Các bộ tộc Gaul chỉ là một nhóm nhỏ các dân tộc trải dài ngang qua miền trung và tây bắc châu Âu và người La Mã gọi là người Celt, một thuật ngữ hơi rộng không có nghĩa một nhóm văn hóa chung nào. Người Celt biết về vùng Địa Trung Hải qua tiếp xúc giao thương. 

Bị cướp phá

Vào 390 BC (hoặc 387 tùy nguồn tư liệu), người La Mã đụng độ với người Gaul trong một trận đánh và bị đánh bại hoàn toàn. Lính La Mã không có trang bị hoặc chiến thuật để đương đầu với người Gaul trang bị kiếm dài. Ngày nay khi nói đến La Mã, người ta nghĩ ngay đến một quân đội chính quy chuyên nghiệp trang bị đầy đủ, nhưng đó là về sau này trong lịch sử La Mã. Chứ vào những ngày đầu, quân đội La Mã chỉ được hình thành từ hàng ngũ công dân mỗi khi có chiến tranh, và họ thường không mấy thiện chiến.

La Mã được cứu thoát vì người Gaul không sử dụng đường giao thông để tiến quân nên người La Mã có đủ thời gian xây dựng phòng tuyến cuối cùng trên Đồi Capitoline. Khi quân Gaul tràn vào La Mã, họ cướp phá thành phố và vây hãm Capitoline trong bảy tháng. Cuối cùng người La Mã phải đầu hàng và nộp vàng chuộc. Bất ngờ thay lúc này, người Gaul rút về phía bắc Ý. Cơn nguy khốn đã qua.

Cuộc xâm lăng của người Gaul này hóa ra là điềm báo trước kỳ lạ cho tương lai của La Mã khi, vào năm 410 AD, các bộ tộc thổ phỉ khác từ bắc châu Âu một lần nữa lại đến cướp phá và hủy diệt La Mã.

Những thay đổi ở quê nhà

Cuộc xâm lăng của người Gaul có tất cả mọi thứ hậu quả nghiêm trọng. Trước hết, quân Gaul đã gây thiệt hại cho đồng ruộng. Phải mất nhiều năm La Mã mới phục hồi được như cũ, thay vì bỏ thời gian ra chinh phục những vùng đất mới. Nghĩa vụ quân sự trở nên vô cùng cấp thiết. Kết quả cuối cùng là một cuộc suy thoái kinh tế khác.

Một tiến bộ khác là sự lớn mạnh của công dân La Mã. Số công dân La Mã tăng lên vì những lý do sau:

  • Người Latinh đến sống ở La Mã có thể trở thành công dân La Mã với đầy đủ quyền bỏ phiếu. Người ngoại bang, hoặc người từ những vùng khác của Ý, đến sinh sống tại La Mã có thể trở thành ‘bán công dân’ __ họ được gọi là cives sine suffragio, nghĩa là ‘công dân không được bầu’. Tư cách công dân La Mã trở nên một công cụ rất hữu ích về sau này, được ban thưởng cho các người dân ưu tú tại một vài thành phố khác bên ngoài La Mã.
  • Một nguồn công dân mới là gia đình các nô lệ. Sau khi một nô lệ được trả tự do, y trở thành một libertus (‘người được trả tự do’). Y không được quyền bầu cử, nhưng con trai y thì có quyền đó.
  • Số thứ dân cũng gia tăng, nhờ việc thành lập các thuộc địa và các municipia (thị xã, những thành phố do người La Mã lập ra mà dân cư ở đó không hưởng đầy đủ các quyền lợi như công dân La Mã), và cùng lúc đó số quý tộc giảm xuống. Nhiều nhà quý tộc đã bị giết trong cuộc chiến, và họ tiếp tục tránh kết hôn với các thứ dân mặc dù luật pháp giờ đây được cho phép.

Mặc dù suy thoái kinh tế và bởi vì số thứ dân tăng lên, giới thứ dân dần chiếm ưu thế. Những thứ dân khá giả quyết định chớp thời cơ để yêu sách những cải tổ chính trị và kinh tế.

Cơ bắp kinh tế

Để biểu dương quyền lực đang lớn mạnh của mình giới thứ dân yêu sách những biện pháp kinh tế để cứu giãn tình thế và cũng muốn kết thúc đặc quyền của giới quý tộc. Thứ dân đòi hỏi những sắc luật mới để cứu giúp những con nợ. Giới quý tộc không thể ngăn trở họ. Đây là những việc họ đã đạt được:

  • Lãi suất tối đa phải được ấn định.
  • Luật nô lệ hóa các con nợ bị bãi bỏ.
  • Số lượng đất công mà một người nắm giữ phải bị giới hạn, tạo điều kiện cho những mảnh đất nhỏ được chia cho những công dân nghèo hơn.

 

Cải cách chính trị

Các thứ dân cũng yêu sách những cải cách chính trị và được chuẩn y. Cải cách quan trọng nhất đến vào năm 367 BC khi giới thứ dân đưa ra nguyên tắc một trong hai quan chấp chính bầu ra hàng năm phải thuộc thành phần thứ dân. Năm 342 BC sắc luật này được thông qua bằng bạo lực. Vì chức quan chấp chính chọn từ chức quan lớn, điều này có nghĩa thứ dân có thể nắm giữ bất kỳ chức quan nào. Sau khi các thứ dân nắm quyền chấp chính, họ thực sự trở thành một quý tộc thứ dân kiểu mới.

Vào năm 300 BC, thứ dân đòi được quyền kháng cáo đối với án tử hình. Năm 287 BC chứng kiến một thắng lợi vang dội: Hội Đồng Thứ Dân Bộ Tộc có quyền thông qua các sắc luật liên quan không chỉ đến thứ dân mà cả đến giới quý tộc.

Kết quả của những cải cách căn cơ này là hệ thống quan lại của La Mã tiến hóa thành một cấu trúc sự nghiệp có phân tầng rõ rệt. Một người bắt đầu phục vụ trong quân ngũ và rồi phục vụ trong giới quan lại cho đến khi ông leo lên chức chấp chính.

Vì các chức quan lại có tính ngắn hạn, chính là nhờ có Viện nguyên lão mới tạo ra được sự ổn định nền tảng dài hạn. Viện nguyên lão không làm luật, nhưng vì họ là những cựu quan, cách giải quyết của họ rất có uy tín nên thường được coi như luật. Chắc chắn không có vị quan đang tại chức nào dám thách thức Viện nguyên lão.

Xét qua tất cả những thay đổi này, Concilium Plebis Tributum mới là người chiến thắng thực sự. Nó khởi đầu là một bộ phận bất hợp pháp, nhưng đến 300 BC, mặc dù không có áo mão cân đai hoặc vị thế của một quan lại, Hội Đồng Thứ Dân Bộ Tộc có quyền phủ quyết bất cứ việc gì do bất kỳ quan chức nào làm ra, hoặc phủ quyết bất cứ quyết định nào của Viện nguyên lão.

Một quân đội mới              

Sau khi bị người Gaul đánh bại vào năm 390 BC, La Mã suy sụp hẳn. Sau khi bảo ban vung vít trong một thế kỷ, tất cả những lợi thế họ kiếm được một cách gian khổ đã mất trong tíc tắc. Nhưng là người La Mã, họ chấp nhận mà không kêu ca và xắn tay hàn gắn những thiệt hại:

  • Họ xây dựng tường thành sao cho không tên Gaul nào, hoặc bất kỳ ai khác, có thể bén mảng đến La Mã lần nữa. Tường thành mới dài 8.9 cây số, cao 7.3 mét và dày 3.67 mét. Một số đoạn tường thành này, mà truyền thuyết nói không đúng là do vua người Etruscan của La Mã, Servius Tullius, xây lên, ngày nay vẫn còn đứng vững và được gọi là ‘Tường Thành Servian’. Khi người Gaul xâm lăng lần nữa vào năm 360, người La Mã đã sử dụng tuyến phòng thủ này. Thật ra họ chỉ ẩn nấp phía sau tường thành và đợi cho đến khi bọn Gaul kéo quân về nhà.
  • Họ tái cơ cấu và tái trang bị quân đội sao cho lực lượng La Mã không thể dễ dàng bị quét sạch bởi một cuộc đột kích man rợ ào ạt. Thay vì chiến đấu trong đội hình tường thành kiên cố của bộ binh, các binh lính La Mã giờ đây được chia thành những đơn vị cơ động hơn. Chiến binh được trang bị với giáo cũng như gươm. Quân đội La Mã không còn là một lực lượng phòng thủ, mà là đạo quân có tiềm năng chinh phục.
  • Họ tái tổ chức Liên minh Latinh. Cuộc xâm lăng của người Gaul vào năm 360 BC cổ vũ người Etruscan thử sức tiến đánh La Mã lần nữa, lần này vào năm 359 BC. Để đáp trả, La Mã tái tổ chức Liên minh Latinh sao cho La Mã nắm toàn quyền kiểm soát quân sự thay vì chia sẻ nó. Quân La Mã đánh bại quân Etruscan, và vào năm 350 họ vững tin có thể chống trả bất kỳ cuộc xâm lăng nào của kẻ láng giềng.

Quật Ngả người Samnite

Người Samnite là những bộ tộc sống dọc theo dãy Núi Appenine ở trung nam Ý. Vì người La Mã và Latinh sống trên bình nguyên dưới dãy núi về hướng tây và bắt đầu làm những con đường ăn sâu vào lãnh thổ Samnite, còn người Samnite thì cũng chuẩn bị tràn xuống bình nguyên, nên cuộc đụng độ giữa La Mã và Samnite không thể tránh khỏi.

Người Samnite sống trong những ngôi làng cách xa nhau và lỏng lẻo trong việc kiểm soát những ngôi làng riêng lẻ mặc tình đi cướp bóc và gây hấn. Nên người Samnite có tai tiếng là dân chuyên gây rối. Thế mà, trong năm 354 BC, người La Mã lại chấp nhận hòa ước do người Samnite đưa ra; chắc hẳn cả hai đều sợ một cuộc xâm chiếm khác của người Gaul. Nhưng hòa ước này không giải quyết vấn đề giữa Samnite và La Mã.

Cuộc chiến Samnite thứ nhất (343-341 BC)

Năm 343 BC, người Samnite bắt đầu quấy rối thành phố Capua ở Campania, khoảng 350 km về phía đông-nam La Mã. Capua cầu cứu La Mã để được giúp đỡ. La Mã thấy đây là cơ hội để nắm quyền kiểm soát vùng Campania và nhanh chóng phá bỏ hòa ước Samnite, cho dù chưa hề có truyền thống người La Mã cứu giúp người Capua.  

Cuộc Chiến Samnite lần nhất ngắn ngủi và không kết quả rõ rệt. Trước tiên, quân La Mã đuổi quân Samnite ra khỏi lãnh thổ chung quanh Capua. Nhưng vào năm 342, binh lính La Mã nổi loạn vì họ đã xa nhà quá lâu. Việc này có thể tổn hại đến thanh danh của La Mã một lần nữa, nhưng may thay quân Samnite cũng vội vã rút lui để đương đầu với một thuộc địa Hy Lạp tên Tarentum ở tận nam Ý. Kết quả là vào năm 341 BC, người La Mã và Samnite tái lập lại hòa ước của họ.

Trong lúc đó thì . . . quân Latinh trả đòn

Cuộc Chiến Samnite lần nhất không phải là thảm bại quân sự đối với người La Mã, nhưng gần như là một thảm họa chính trị. Người Latinh nhận thấy cuộc nổi loạn của quân đội đã gần như làm tê liệt khả năng cầm cự quân Samnite của người La Mã ra sao nên quyết định thử thời vận của mình để đòi lại sự bình đẳng.

Nỗ lực táo bạo thất bại

Cho nên vào năm 340, người Latinh yêu sách lập lại quyền bình đẳng giữa họ với La Mã. Đương nhiên La Mã khước từ. Vì thế người Latinh liên minh với người Campania và kẻ cựu thù của La Mã, người Volsci, mong đè bẹp người La Mã. Có điều họ không biết bây giờ La Mã khôn ngoan hơn và sử dụng liên minh với người Samnite để đánh bại quân Latinh và Campania.

Giải tán Liên minh Latinh

Sau khi đánh bại quân Latinh và Campania, người La Mã mời mọc điều kiện hòa bình tuyệt vời với người Campania, và Campania ngay lập tức rút khỏi liên minh với người Latinh. Bây giờ ở vào thế thượng phong, người La Mã chỉ đơn giản giải tán Liên minh Latinh và ép buộc mỗi thành phố phải qui thuận riêng lẻ với La Mã trong một cuộc dàn xếp vào năm 338 BC. Người La Mã đưa ra:

  • Vị thế tỉnh lỵ: Một số thành phố hiện hữu của Latinh được biến thành các tỉnh lỵ, phân chia thành hai loại: loại mà công dân của nó trở thành công dân La Mã với đầy đủ quyền đầu phiếu; và loại mà công dân không có quyền đầu phiếu và còn phải cung cấp binh lính cho La Mã.
  • Các thuộc địa La Mã mới: La Mã cũng lập ra các thuộc địa gồm những công dân La Mã nhằm phòng vệ những cứ điểm chiến lược. Thành phố Antium (Anzio ngày nay), chẳng hạn, có đội chiến thuyền bị quân La Mã tiêu diệt. Nó được cho phép tồn tại, nhưng một khu vực gồm những công dân La Mã được cắm trong lãnh thổ của nó để bảo vệ cảng. Một thuộc địa khác có tên Cales được thiết lập năm 334 BC để phòng thủ Capua.

Kỹ thuật mà người La Mã sử dụng để áp chế Liên minh Latinh được gọi là chia để trị. Trước đây họ từng sử dụng thuật này, nhưng họ sẽ dùng lại nhiều lần trong những thế kỷ về sau, chơi trò cho bộ tộc này kình chống các bộ lạc khác. Tương tự, thuộc địa và tỉnh lỵ là những công cụ xuất sắc mà người La Mã sẽ sử dụng trong tương lai. Những công cụ này vẫn giữ nguyên các nhân dạng của chúng với một số quyền tự trị, nhưng cùng lúc mang đến cho dân cư danh phận trong hệ thống La Mã.    

Cuộc Chiến Samnite lần hai (326-304 BC)

Đã thực sự ra khỏi Liên minh Latinh một cách ngoạn mục, La Mã quyết định phớt lờ Samnite trong cuộc dàn xếp 338. Giọt nước làm tràn ly đối với người Samnite là khi La Mã, một dân tộc luôn tìm cách gia tăng quyền lực và ảnh hưởng, ký hiệp ước với thành phố sản xuất và giao thương phồn thịnh của Hy Lạp  là Tarentum ở miền nam Ý vào năm 334 BC, trong khi người Tarentum đang có chiến tranh với người Samnite.

Năm 327 BC, người Samnite hoà đàm với Tarentum và bây giờ tính việc mở rộng quyền lực của mình về hướng tây. Họ đóng một lực lượng quân sự trong cảng Hy Lạp  và thuộc địa Neapolis (Naples). Người Capua gần đó chống đối và cầu cứu sự giúp đỡ của La Mã.

Tất nhiên, La Mã đáp ứng và phái một lực lượng xuống Naples. Quân đội La Mã bao vây lực lượng đồn trú Samnite và đưa ra điều kiện thỏa đáng khiến quân Samsite đầu hàng. Nhưng Samnite vẫn không từ bỏ kế hoạch chinh phục các đồng bằng ven biển tây. Một ít năm sau hai bên vẫn dậm chân tại chỗ. Quân La Mã không dám liều lĩnh tấn công vào lãnh địa núi non của Samnite còn quân Samnite thì bị các quân đồn trú của La Mã kềm chân.

Giai đoạn đầu tiên của cuộc chiến kết thúc năm 321 BC. Nóng ruột muốn dứt điểm cho xong, La Mã phái một đội quân từ Capua đến tấn kích Samnite. Người Samnite giăng bẫy quân đoàn La Mã trong vùng núi non ở Claudine Forks, gần Capua, và đẩy họ vào thế phải đầu hàng nhục nhã. Người Samnite cho rằng mình đã chiến thắng, nhưng quân La Mã sử dụng chiêu hòa bình để tái tổ chức. Như thông thường sau một trận thất bại, quân đội La Mã lại lớn mạnh thêm và kỹ thuật tác chiến được cải thiện.

Vào năm 316 BC, người La Mã lại phát động chiến tranh, nhưng rồi tình hình mau chóng xấu đi. Một lực lượng La Mã khác bị đánh bại, và quân Capua nhanh chóng về phe của Samnite. Nhưng vào năm 314, La Mã kiểm soát lại được tình thế, buộc người Capua trở lại phe mình, và lập ra những thuộc địa mới để kiểm soát lãnh thổ.

Người Samnite thấy mình có ít cơ may thắng được trong tình hình thế này, và vào năm 304 BC họ hòa hiếu với La Mã. La Mã cũng muốn kết thúc chiến tranh, nên không có ý muốn chinh phục lãnh thổ của Samnite nữa. Họ dư biết rằng, nếu chiến tranh nổ ra lần nữa, giờ họ ở vào thế thượng phong khi có quá nhiều lãnh thổ dưới quyền kiểm soát của mình và các thuộc địa nằm rải rác đây đó để giữ an toàn.

Cố, cố, và cố lần nữa: Cuộc Chiến Samnite lần ba (298-290 BC)

Dù La Mã có lợi thế, Cuộc Chiến Samnite lần ba cũng rất xít xao với cả hai bên. Lần này Samnite có các đồng minh là người Etruscan và Gaul. Quân Samnite, dưới sự lãnh đạo của Egnatius Gellus, đánh bại hoàn toàn quân La Mã ở Camerinum (Cameria ngày nay) vào năm 295 BC. Quân La Mã gần như thua trận lần nữa tại Trận Sentinum (Sassoferrato), nhưng sự can trường của họ (cùng với sự rút quân của Etruscan) đã chuyển bại thành thắng. Tướng thống lĩnh Samnite là Egnatius bị giết chết, khiến Samnite vỡ trận. Sau đó, các đồng minh của Samnite làm hòa với La Mã. Đó là khi La Mã kéo quân vào chụp lấy thắng lợi. Vào năm 291, Samsite bị cắt đứt và cô lập. Vào năm 290, họ đầu hàng và chấp nhận thân phận đồng minh của La Mã, và như thế buộc phải đóng góp quân đội cho La Mã. Như thường lệ, La Mã luôn tỏ vẻ đại lượng nhưng vẫn đạt được mọi mục đích của mình nhờ vào biện pháp không trả thù kẻ địch.                

Giờ đến Phần Còn Lại của Ý

La Mã kiểm soát phần lớn vùng trung Ý, nhưng vẫn còn đó Magna Graecia (Đại Hy Lạp) cần phải giải quyết. Magna Graecia là tên đặt cho vùng nam Ý __ nơi các thuộc địa Hy Lạp còn nắm quyền kiểm soát. Thuộc địa Hy Lạp hùng mạnh nhất là Tarentum (Taranto hiện giờ), với một nền kinh tế thịnh vượng chuyên len và đồ gốm, khiến người Tarentum có khả năng nuôi dưỡng một quân đoàn hùng mạnh 15,000 người, một lực lượng hải quân và lính đánh thuê để đánh bật kẻ thù như Samnite, cũng như các kẻ tranh chấp và gây hấn là một bộ tộc sống trong vùng ở nam Ý tên là Lucania. 

Vào năm 334 BC, người Tarentum thuê Alexander ở Epirus, em vợ của Alexander Đại Đế, giúp họ đánh dẹp những trận đột kích của quân Samsite và Lucania. Alexander ký hòa ước với La Mã, lúc đó đang là đồng minh với Samnite. Theo hòa ước, người La Mã hứa không giúp quân Samnite đánh lại người Tarentum. Vấn đề đối với người Tarentum là họ e sợ La Mã có thể lợi dụng thời cơ để tràn vào lãnh thổ, và họ cũng biết là Alexander cũng có tham vọng bành trướng đế quốc của mình. Vì thế họ bỏ mặc cho Alexander bị quân Lucacia đánh bại và giết chết và sau đó bắt đầu tính toán mưu kế với La Mã.

 

Pyrrhus đến để diễu võ dương oai

Người Tarentum càng ngày càng lo lắng trước tham vọng của La Mã.  Quyền lực La Mã mạnh đến nổi chỗ nào bị uy hiếp đều gọi đến La Mã cầu cứu. Thành phố Hy Lạp Thurii bị người Lucania tấn công, vì thế vào năm 282 BC, người Thurii nhờ La Mã trợ giúp quân sự. Vì Thurii chỉ cách Tarentum vài dặm theo đường bờ biển trên Vịnh Otranto, người Tarentum lo lắng và bực dọc vì hiệp ước với Alexander đã bị mình phá vỡ (theo đó La Mã thỏa thuận không gởi bất cứ chiến thuyền nào vào Vịnh). Vì thế người Tarentum liền tấn công và đánh bại lực lượng La Mã.

Vì quân La Mã còn bận đánh nhau với người Etruscan và Gaul, nên họ chỉ đòi bồi thường thiệt hại thay vì giáng trả lại. Nhưng người Tarentum khước từ. Họ đang cảm thấy tự tin vì lúc này họ đã thuê Vua Pyrrhus của Epirus, người được xem là chiến binh Hy Lạp  số một vào thời đó, nên tin chắc họ có thể đẩy lùi quân La Mã và cổ vũ sự giải tán của phe đồng minh La Mã.

Còn Pyrrhus không thể bỏ qua cơ hội diệu võ dương oai, vì thế khi Tarentum gọi đến giúp đỡ, ông ta xuất chinh với một quân đoàn lên đến 25,000 người __ một điềm báo rất xấu cho La Mã.

Pyrrhus đánh thắng hiệp đầu tiên vào 280 BC. Quân La Mã kéo quân đánh một trận với ông tại Heraclea, không xa Tarentum trên Vịnh Otranto ở nam Ý. Kỵ binh La Mã bị đàn voi trận của Pyrrhus phá tan. Quân Samnite và Lucania nhanh chóng gia nhập Pyrrhus, nhận ra cơ hội trả thù La Mã. Năm 279, Pyrrhus đánh bại quân La Mã lần nữa, lần này tại Asculum, nhưng đó là thắng lợi cam go.

Pyrrhus tính rằng đánh bại vĩnh viễn quân La Mã sẽ mất nhiều thời gian và tốn nhiều sinh mạng. Ông nghị hòa với điều kiện La Mã từ bỏ vùng nam Ý, nhưng Viện nguyên lão La Mã bác bỏ. Năm 278 BC lực lượng La Mã  được người Carthage ở Bắc Phi yểm trợ tiền bạc và thuyền chiến vì họ lo lắng Pyrrhus sẽ tấn công họ.

Đúng là Pyrrhus bỏ đánh nhau với La Mã để tấn công Carthage. Trong khi ông đi, quân La Mã tấn công các đồng minh Samnite và Lucania của họ. Vào năm 276 BC, quân Samnite yêu cầu Pyrrhus trở về giúp đỡ. Ông ta trở về, nhưng bị quân La Mã đánh bại hoàn toàn gần Beneventum, đông nam Capua ngay sát La Mã một cách nguy hiểm. 

Pyrrhus chuồn về nhà và hai năm sau một chậu hoa bay ra từ cửa sổ nhà ai tình cờ rơi trúng đầu ông và giết chết ông, cho thấy lịch sử có khi quay ngược chỉ bằng một sự kiện nhỏ nhoi vô nghĩa.

Ôi trời, tôi nghĩ là chúng ta đã làm được

Không còn Pyrrhus, con đường giờ đã mở rộng cho La Mã. Họ chiếm Tarentum năm 272, tức là không chỉ chiếm được một thành phố giàu sụ, mà còn kiểm soát luôn bán đảo Ý.

Các thành phố Hy Lạp ở phía nam bị hút vào vào mạng lưới La Mã và trở thành đồng minh. Không giống các thành phố Latinh, các thành phố Hy Lạp cung cấp chiến thuyền hơn là binh lính. Các thuộc địa Latinh được cắm đây đó để giữ vững các vị trí chiến lược, như Paestum. Liên bang Samnite mãi mãi tan rã thành những đơn vị đồng minh riêng lẻ với La Mã.

Điều quan trọng hơn, các tay chơi khác trong vùng Địa Trung Hải nhận ra một vai chính vừa xuất hiện trên vũ đài  thế giới. Vào lúc người thành Carthage làm mới lại hòa ước với người La Mã, tận phương đông, Phara-ông của Ai Cập vốn người Macedonia, Ptolemy II (285-246 BC), đang soạn một hiệp ước bang giao hữu hảo với La Mã.

         

Chương 12

 Carthage và Hai Cuộc Chiến Tranh Punic Đầu Tiên

 Trong Chương Này

  • Cách nào mà La Mã trở thành tay chơi sừng sõ nhất vùng Địa Trung Hải
  • Tại sao hai cuộc Chiến Tranh Punic gần như quật ngả La Mã
  • Cách nào mà La Mã bám vào các đồng minh và kết liễu Ý
  • Hy Lạp rơi vào lòng La Mã 

 Vào 264 BC, La Mã đã gần 500 tuổi. Nó đã vươn lên từ một cụm làng vô nghĩa trên vài ngọn đồi bên dòng sông Tiber để thành một nhà nước đẳng cấp thế giới. Dù sao thì sự bành trướng của La Mã không phải thành tựu một sớm một chiều. Những cuộc đấu tranh chính trị nội bộ xảy ra liên tục, vẫn còn lâu mới ổn định, và chiến tranh với các người láng giềng hiếm khi đạt thắng lợi dễ dàng.

Còn nữa, vào 264 BC nền cai trị của La Mã được chấp nhận rộng rãi trên khắp đất Ý. Thay vì chỉ có tài nguyên của một thành phố và vùng phụ cận để hoạt động, La Mã giờ đây có thể kêu gọi nhân lực và tài nguyên của toàn Ý. Làm được việc này nhờ vào sự áp đặt ít nhiều một hệ thống chính quyền giống nhau cho toàn Ý. Được trang bị bằng lợi thế cực kỳ quan trọng này, người La Mã tạo ra một nền tảng vững chắc cho Đế chế của họ. Nhưng như 500 năm trước, 250 năm tiếp theo cũng không phải là thuận buồm xuôi gió.

Câu Chuyện Sicilian __ Cuộc Chiến Tranh Punic Lần Nhất (264-241 BC)

Carthage, nơi hiện giờ là Tunisia, là một thuộc địa giao thương do người Phoenicia ở Tyre lập ra vào 841 BC (trong thực tế, Carthage chắc chắn được thành lập cũng vào khoảng thời gian La Mã được cho là được thành lập). Carthage vô cùng phát đạt. Ảnh hưởng của nó lan rộng qua phía tây Địa Trung Hải, nhất là ở Sicily và nam Ý, và nó buôn bán thiếc đến tận miền Cornwall. Ở La Mã có lan truyền câu chuyện về tư lệnh thành Carthage là Hanno thậm chí dong buồm chung quanh Phi châu. Việc vùng lên của La Mã không tránh khỏi là một bài toán lớn cần giải quyết của Carthage, và ngược lại.

Thật ra, La Mã và Carthage đã từng ký vài hiệp ước. Theo hiệp ước năm 348, người La Mã cho phép người Carthage buôn bán nô lệ ở Latium và công nhận độc quyền giao thương của người Carthage khắp vùng tây Địa Trung Hải, kể cả Sardinia, Corsica, và Sicily. Ngược lại, người Carthage thỏa thuận không lập bất kỳ thuộc địa thường xuyên nào của mình ở Latium. Thời gian đó, La Mã không hề có ý định nào chọc giận Carthage. Một hiệp ước khác, vào năm 278, qui định Carthage phải yễm trợ La Mã chống lại Pyrrhus (xem Chương 11).

Vào 264 BC, La Mã đã hoàn toàn chinh phục Ý. Với Sicily chỉ cách một gang tay, tình hình đã hoàn toàn thay đổi.

Người Carthage thấy rằng sự giàu có và quyền lực của mình đang bị đe dọa trực tiếp, việc La Mã không ngừng bành trướng đất đai và  quyền lực có nghĩa việc họ đụng độ nhau là không tránh khỏi.

Từ Latinh Punicus (hay Poenicus), có nghĩa là người Carthage vì tổ tiên người Carthage là người Phoenicia. Cho nên Chiến tranh Punic là cuộc chiến với người Carthage. 

Mamertine đùa với lửa

La Mã kiểm soát Ý, nhưng không phải tất cả người Ý đều phục vụ cho La Mã. Các lính đánh thuê người Campania (từ tây nam Ý) đã được nhà độc tài Agathocles ở thành Syracuse ở Sicily thuê. Vào 315 BC, Agathocles chiếm thành phố giàu có Messana, chỉ cách Rhegium ở Ý một ít dặm. Sau khi Agathocles chết vào năm 289 BC, các lính đánh thuê đi ngược lại hợp đồng là phải rời Sicily, nhưng vì lòng tham họ chiếm Messana, rồi chia chác nó, và sau đó đổi tên mình là Mamertine, dựa theo tên bản địa của Mars, thần chiến tranh, là Mamers. Tất nhiên, người Syracuse nổi giận và tấn công bọn Mamertine, khiến chúng phải cầu cứu La Mã và Carthage.

Rắc rối cho La Mã là, cách đó ít lâu, một nhóm người Campania khác đã chiếm một thành phố Ý là Rhegiun, chỉ cách Messana một eo biển, tàn sát một số dân cư. Người La Mã kinh tởm vì hành động này nên đã chiếm lại Rhegium. Vì bọn Mamertine ít nhiều đã phạm cùng một tội ác, nên người La Mã rất dễ dàng chọn lựa quyết định. Họ quyết định giúp Syracuse, lý luận rằng người Carthage đã kiểm soát hầu hết phần phía tây Sicily, nếu để họ đánh đuổi bọn Mamertine ra khỏi Messana, Carthage có thể nắm luôn quyền kiểm soát phía đông của Sicily, và như thế có nghĩa người Carthage chỉ cách Ý một bước nhảy.

Messana vẫn chưa đủ: Phải chiếm Sicily

Trong nỗ lực ngăn cản người Carthage lấy thêm đất của Sicily, người La Mã đi nước cờ đầu lợi hại. Trước tiên, họ sử dụng ngoại giao để làm tan rã thế đồng minh giữa Carthage và Syracuse. Sau đó, họ chiếm thành phố của người Carthage trên bờ biển nam Sicily có tên Agrigentum nhằm ngăn người Carthage đổ quân rầm rộ đến.

Có một điều gì đó thay đổi. Người La Mã đã bước vào cuộc chiến ở Sicily vì người Mamertine ở Messana. Trong vòng một hai năm, người La Mã và Carthage đã hoàn toàn quên mất người Mamertine. Người La Mã thấy được cơ hội chiếm lấy toàn bộ Sicily và đi đến chiến tranh. Vì thế Chiến tranh Punic lần 1 bắt đầu.

Các trận đánh và thắng lợi trên biển: Trở thành một hải lực hùng mạnh

Để chuẩn bị Chiến tranh Punic lần 1 quân La Mã cần học tập kỹ thuật tác chiến trên biển vì họ vốn không có nhiều kinh nghiệm hải chiến, sau khi họ sử dụng thiết kế của chiến thuyền Carthage bị đánh đắm để đóng một đội chiến thuyền cho mình. Họ đặt đoàn chiến thuyền dưới sự chỉ huy và huấn luyện của Gnaeus Carnelius Scipio Asina. Vào năm 260 BC, dù đội thuyền tiên phong do Asina chỉ huy bị thuyền Carthage bắt được, lực lượng hải quân còn lại của La Mã đánh tan lực lượng hải quân chủ yếu của Carthage ngoài bờ biển bắc của Sicily.

Quân La Mã biết mình không thạo chiến thuật hải chiến. Để bù lại, họ chế tạo những cầu cặp tàu mang đi được và các móc sắt, khi đến gần thuyền địch, họ ném cầu bắc qua mạn thuyền địch và dùng móc sắc để giữ chặt, rồi binh lính La Mã ào ào chạy qua cầu phóng qua thuyền địch, biến một trận hải chiến thành cuộc trận đánh trên bộ __ một chiến thuật rất thành công.

Tấn công Sicily không thể đánh bại quân Carthage vĩnh viễn. La Mã thắng một trận hải chiến thứ hai, ở Ecnomus , vào năm 256 BC sử dụng cùng chiến thuật: cầu cặp thuyền và móc sắt. Người La Mã xâm chiếm Phi châu với một lực lượng quân sự hùng hậu nhưng bị quân Carthage đánh bại hoàn toàn vào năm 255 BC, và đoàn chiến thuyền La Mã, đến giải cứu những binh lính còn sống sót, bị bão tố đánh chìm.

Cuộc chiến giữa La Mã và Carthage tiếp tục thêm 14 năm nữa. Quân La Mã chịu thêm một thảm bại trên biển nữa vào 253 BC khi một đội chiến thuyền bị đánh chìm, và một lần nữa vào 249 BC khi Claudius Appius Pulcher dẫn một đội thuyền định phá hủy lực lượng hải quân Carthage ở cảng Drepana. Nhưng người Carthage biết trước, nên đã rút đoàn chiến thuyền ra khỏi cảng trước khi quân La Mã đến tấn công. Pulcher phái chiến thuyền của mình vào cảng và tiếp tục phái thêm trong khi những chiến thuyền đi đầu đã cố quay trở ra và đuổi theo quân Carthage.

Trong tình hình vô cùng lộn xộn đó, 93 trong số 120 chiến thuyền La Mã đã bị mất tích. Vì một lý do kỳ lạ nào đó, dù đã đánh bại người La Mã trên biển cả, quân Carthage lại quyết định không sử dụng chiến thuyền của mình nữa, họ hoàn toàn không biết rằng người La Mã đã đóng xong một đội thuyền mới bằng tiền vay mượn. Thật ra họ đóng đến hai đội thuyền __ đội đầu tiên đã bị đánh chìm trong một cơn bão khác, nhưng họ đã nhanh chóng bắt tay đóng đội thuyền mới.

Khi đối diện với sự trỗi dậy mạnh mẽ này của lực lượng hải quân La Mã vào năm 242 BC, quân Carthage hoàn toàn bị bất ngờ. Họ vội vã đóng ngay một đội thuyền mới. Vào tháng ba 241 BC, đội thuyền La Mã đụng độ với đội thuyền Carthage ngoài bờ biển Sicily, và quân La Mã đánh tan Carthage và chiếm Sicily. Người Carthage liền tử hình đô đốc của mình, Hanno, và bắt buộc phải bỏ Sicily và trả chi phí bồi thường chiến tranh!

Dàn dựng sân khấu cho Chiến tranh Punic lần hai

Người La Mã phạm nhiều sai lầm trong Chiến tranh Punic lần 1 nhưng họ đã thắng vì:

  • Họ có quá nhiều nhân lực có thể bổ sung quân số thương vong.
  • Họ học tập kỹ thuật tác chiến mới của kẻ thù.
  • Họ liên tục trở lại chiến đấu cho dù họ gặp thất bại.

Sau khi đánh bại quân Carthage ở Sicily, người La Mã biết rằng cần phải vồ lấy của cải mà Carthage kiếm được qua giao thương. Sau khi Carthage thất trận, người La Mã tiếp tục theo đuổi chiến tranh bằng cách chiếm các đảo Sardina và Corsica, ngăn cản người Carthage sử dụng các căn cứ thuận lợi từ đó đổ quân tấn công lên bờ biển tây Ý.

Đã để mất Sicily, quân Carthage quyết định bù đắp các tổn thất bằng cách tăng cường quyền kiểm soát của họ tại Tây Ban Nha __ một quyết định dẫn trực tiếp đến Chiến tranh Punic lần hai.

Tiếp tục bận bịu trong khi chờ đợi: Chiếm bắc Ý

Với Chiến tranh Punic lần 1 đã qua, và trước khi Chiến tranh Punic lần 2 bùng nổ, người La Mã phải giải quyết người Gaul ở bắc Ý.

Người Gaul ở bắc Ý lần cuối cùng xâm chiếm trung Ý là vào 390 BC. Họ cướp phá La Mã nhưng rồi quay về nhà mang theo nhiều số tiền chuộc kết sù, chứ không bận tâm thừa cơ hủy diệt La Mã vĩnh viễn. Người Gaul là cái gai trong mắt người La Mã cho gần hết thế kỷ tiếp theo, và người Gaul còn dự phần trong Cuộc chiến Samnite lần ba. Những thắng lợi chủ yếu trước quân Gaul xảy ra vào thập niên 280, và một thuộc địa La Mã được cắm trên bờ lãnh thổ Gaul gần vị trí của Ancona ngày nay, ở miền bắc Ý. Năm 279 BC, một quân đoàn Gaul bị Hy Lạp  đánh bại tại Delphi ở Hy Lạp .

Phải mất hơn 50 năm trước khi người Gaul đã quên hết về những thất bại này và với một thế hệ chiến binh mới hiếu chiến, họ quyết định kiếm chút tiếng tăm là những chiến binh vô địch. Những chiến binh Gaul mới này hợp với các bộ tộc khác ở phương bắc xa xôi hơn và phái một đạo quân 70,000 người vào Ý. Sai lầm chết người. Bây giờ thì La Mã đã làm chủ toàn bộ Ý và không có gì khó khăn khi phái một đạo quân đông gần gấp đôi số quân Gaul.

Quân Gaul bị đánh bại hoàn toàn và quân La Mã quyết định hành động tốt nhất là chinh phạt bắc Ý và dập tắt mọi mưu đồ quay trở lại của quân Gaul. Quyết định đó là sáng suốt và không cần chần chừ. Cũng giống như Chiến tranh Punic lần nhất đã mở mắt cho người La Mã thấy được cơ hội chiếm lấy của cải của Carthage, cuộc xâm chiếm Gaul năm 225 BC cho người La Mã thấy rõ viễn cảnh hấp dẫn khi độc chiếm những đồng bằng màu mở miền bắc Ý, đất rừng bao la, bắp và gia súc thừa thãi.

Không thể tin đữợc khi quân La Mã chỉ mất ba mùa chiến dịch là đã chiếm toàn vùng bắc Ý và đẩy lùi quân Gaul. Họ xây dựng những tuyến đường giao thông mới và lập ra những căn cứ hải quân trong miền. Vào 220 BC, quân La Mã sở hữu một khu vực gần như là nước Ý ngày nay và kiểm soát toàn lãnh thổ từ dãy Alps đến mũi cực nam của Sicily.

Chiến tranh Punic lần hai (218-202 BC)

Người Carthage đã bị bầm dập thực sự trong Chiến tranh Punic lần nhất. Mất đứt hòn đảo trù phú Sicily là để  khuyết một phần lớn trong khối tài sản của họ. Uy tín bị sút giảm cũng có nghĩa là các dân tộc nằm dưới quyền kiểm soát của họ sẽ quật khởi lật đổ họ. Để lấy lại quyền lực và tiếng tăm của mình, người Carthage quyết định củng cố quyền kiểm soát của họ ở Tây Ban Nha.

Hamlicar Barca, một vị tướng Carthage đang bận tiểu trừ bọn nổi dậy ở Bắc Phi, là người lý tưởng cho trọng trách này. Ông đã từng có nhiều thời gian đánh nhau với quân La Mã ở Sicily trong Chiến tranh Punic lần nhất và căm ghét người La Mã đến tận xương tủy.

Hamlicar lập ra các căn cứ mới ở Tây Ban Nha, kể cả Nova Carthago (tức ‘Tân Carthage’, hiện nay là Cartagena). Công trình của Hamlicar được chàng rể tiếp tục, và sau đó là con trai Hannibal. Người La Mã không thích việc làm của Hamlicar chút nào và yêu sách người Carthage phải dừng lại ở phía nam con sông Ebro trong vùng đông bắc Ý. Hình 12-1 cho thấy lãnh thổ do La Mã và Carthage kiểm soát vào 218 BC khi Hannibal vượt qua dãy Alps vào đất Ý trong Chiến tranh Punic lần hai.

Người Carthage đúng là dừng lại ở phía nam sông Ebro. Rủi thay cho quân Carthage, trong vùng ‘của họ’ có thành phố ven biển tên là Saguntum, một đồng minh của La Mã (xem Hình 12-1). Một phái đoàn La Mã được phái đến Tân Carthage để cảnh báo người Carthage hãy để yên Saguntum. Hannibal (con trai của Hamlicar) phớt lờ và vây hãm Saguntum vào năm 219. Thành phố thất thủ sau tám tháng cầm cự vì quân La Mã bị bọn hải tặc Illyrian cầm chân, không thể đến tiếp cứu, nhưng vào năm 218, La Mã đã đánh bại người Illyrian và rãnh tay giải quyết tình hình ở Tân Carthage.

La Mã gởi phái đoàn đến Carthage yêu cầu Hannibal đầu hàng. Tất nhiên người Carthage nói không và yêu cầu phái đoàn La Mã đem cho họ hòa bình hay chiến tranh. Phái đoàn La Mã trả lời chiến tranh và người Carthage chấp nhận, đó là giây phút quyết định của lịch sử.

Voi trận hành quân

Lực lượng Carthage ở Tây Ban Nha cách nhà nhiều dặm đường, trong khi người La Mã làm chủ biển cả. Kế hoạch của quân La Mã là dùng hải quân chở quân đoàn đến chiến đấu với Hanninal ở Tây Ban Nha. Còn Hannibal có chủ ý khác.

Hannibal biết rằng, bằng cách hành quân vào Ý trên đất liền, ông ta có thể tránh được lực lượng hải quân La Mã.

Vào 218 BC, Hannibal vượt qua dãy Alps cùng với quân đoàn và voi trận. Lực lượng La Mã xuất hiện quá chậm không thể ngăn cản ông ta. Hannibal được các bộ tộc người Gaul tham gia ngay lập tức, họ mừng rơn vì có cơ hội trở lại La Mã kiếm chác, nhất là La Mã có vẻ sắp sửa thua trận đến nơi.

4

Hình 12-1

Cuộc hành quân của Hannibal qua dãy Alps là một thắng lợi về hậu cần. Hannibal phái thám báo đi trước để dò đường và mua chuộc người Gaul. Băng qua sông, nhất là đối với đàn voi trận, là một bài toán khó. Bè được ngụy trang trông giống như một cây cầu tự nhiên bằng cách phủ đất lên để dụ đàn voi bước lên rồi kéo chúng qua sông.

Không có tư liệu chắc chắn về số lượng binh lính của Hannibal. Đánh giá thấp nhất là 20,000 bộ binh và 6,000 kỵ binh cùng với 21 voi trận còn sống, nhưng Hannibal đã tổn thất một số lớn sinh mạng trên đường tiến quân (và khoảng 40 voi). Một số binh sĩ không chịu lên đường, sau khi ông được báo đã tổn thất 36,000 người chỉ sau khi vượt qua Rhone.

Trận đánh Hồ Trasimene __ 217 BC

Mặc dù tổn thất trên đường hành quân, quân đoàn Hannibal bất khả ngăn chận. Ông đánh tan một quân đoàn La Mã ở miền bắc Ý, và quân La Mã thối lui. Quân La Mã tưởng rằng Hannibal sẽ đến Ý theo đường chính có tên Via Flaminia. Nhưng không __ ông lẻn qua một đường núi không được phòng vệ, bắt buộc quân đoàn La Mã đến 25,000 người dưới sự chỉ huy của Caius Flaminius phải chạy theo săn đuổi. Flaminius, và một bộ phận lớn quân đoàn bị nhanh chóng đánh tan trên bờ Hồ Trasimene.

Sự kiện xảy ra tại Hồ Trasimene là một chiến thuật mai phục kinh điển. Khi lực lượng của Flaminius tiến lên theo một con đường hẹp, các chiến binh từ hai bên sườn đồi lao xuống, trong khi kỵ binh đột kích tập hậu. Cuộc đột kích chớp nhoáng khiến Flaminius không kịp tổ chức đội hình phòng ngự __ đội hình trong đó quân La Mã rất sở trường. Không dàn được đội hình, mọi kỷ luật và chiến thuật được rèn luyện kỹ đều tan rã. Bị đột kích bất ngờ là một thảm họa. Trong số 25,000 quân, hơn phân nửa tử trận.

Trasimene là một thắng lợi vẻ vang cho Hannibal, và cũng thuận lợi cho binh lính ông, giờ đây được trang bị thêm những vũ khí và áo giáp của La Mã. Nhưng kế hoạc của Hannibal bắt đầu đi sai lệch.

Thảm họa ở Cannae __ 216 BC

Thiên tài của La Mã là kéo các đồng minh về phe mình và giữ họ ở yên đó. Vì thế khi Hannibal đánh bại Tướng La Mã Flamninius ở Hồ Trasimene và rồi hi vọng các đồng minh sẽ về phe mình và tăng cường quân đội mình thêm hùng mạnh, ông ta đã sai. May mắn thay cho La Mã, các đồng minh không đổi phe, khiến hi vọng được các thành phố Ý tiếp ứng của Hannibal đã tiêu tan. Vì thế Hannibal bỏ qua thành phố La Mã và thử thời vận ở miền nam Ý. Các thành phố phía nam cũng không giúp ông.

Tại thời điểm này trong Chiến tranh Punic lần hai, Hannibal thực sự đã bị đánh bại. Ông ta không nhận được sự trợ giúp của các đồng minh La Mã như ông dự tính, và vào 216 BC, ông có nhiều nhất là 40,000 đến 50,000 quân. Nhưng quân La Mã phạm một sai lầm thảm họa. Tưởng rằng, với số quân hùng hậu, họ sẽ đè bẹp Hannibal dễ dàng. Họ tập kết một quân đoàn gồm 50,000 người và đặt dưới quyền chỉ huy của hai chấp chính La Mã không biết gì về chiến lược và chiến thuật của Hannibal. Tệ hơn nữa, hai chấp chính luôn tranh cãi nhau, khiến quân đội hăm dọa sẽ nổi loạn. Thật không phải cách ổn thỏa để chuẩn bị một trận chiến có thể làm La Mã mất Ý. Tình hình coi mòi dẫn đến thảm họa.

Quân La Mã đón được Hannibal tại Cannae, khoảng 180 dặm về hướng đông nam La Mã. Họ xông toàn bộ lực lượng vào trung ương quân đoàn Carthage, hợp bởi quân Gaul và quân Tây Ban Nha. Rồi quân Gaul và Tây Ban Nha lùi lại, và quân La Mã thấy mình kẹt giữa gọng kềm của cánh quân Carthage thuộc bộ binh Phi châu và kỵ binh.

Các cánh quân Carthage xông vào quân La Mã giờ đã kiệt sức và đánh bại họ hoàn toàn. Theo một đánh giá, quân La Mã tổn thất 45,500 bộ binh và 2,700 kỵ binh; một đánh giá khác cho là 70,000. Điểm chính là quân La Mã bị tiêu diệt, trong khi Hannibal chỉ mất khoảng 6,000 lính.

Thương tích và bầm dập, nhưng còn nhún nhảy

Không cần nói rằng sau trận Cannae, người La Mã đối mặt với một thảm họa cùng cực. Đến lúc này, họ có thể đã mất đến 100,000 quân trong chiến dịch Hannibal. Giờ các đồng minh bắt đầu lục tục bỏ đi. Capua đổi phe, trước viễn cảnh một La Mã sụp đổ và cơ hội trở thành một thành phố chính ở Ý. Ngoài biển, những nơi như Sardinia, Tây Ban Nha, và Sicily cũng bắt đầu nhen nhúm nổi dậy. Một chân lý lớn của lịch sử là bất cứ khi nào một quốc gia cường thịnh bắt đầu lung lay, thì ngay những người bạn trung thành nhất cũng quay sang kẻ chiến thắng.

Canh bạc của Hannibal về việc các đồng minh La Mã quay sang phe mình không được đền đáp, vì hầu hết đều vẫn trung thành với La Mã. Hannibal cũng nhận ra rằng mình không thể nào đánh gục tinh thần kiên cường của La Mã __ cho dù họ ở trong nghịch cảnh tồi tệ nào đi nữa.  Bằng phương thức đánh thuế nặng và cưỡng bách tòng quân, La Mã giờ đây tung toàn bộ tài nguyên của mình để mưu cầu thắng lợi. Điều này bao gồm việc đánh đuổi Hieronymus ra khỏi Syracuse ở Sicily, người cho rằng Cannae là một thắng lợi lẫy lừng đến nổi y bị người Carthage thuyết phục gia nhập phe mình dễ dàng để đổi lấy phân nửa Sicily. Cho dù y sớm sẽ bị người Syracuse mưu sát để ngăn cản hành động này, nhưng người Syracuse quá khủng khiếp trước sự tàn bạo của người La Mã đến nỗi cuối cùng cũng trở lại liên minh với Carthage và đối mặt với cuộc xâm chiếm do tướng La Mã là Claudius Marcellus chỉ huy. Thành phố thất thủ vào năm 211 BC (trong đó có Archimedes phụ giúp việc chống giữ bằng thiên tài vật lý của mình, xem lại Chương 5).

Năm 211 BC, La Mã tái chiếm Capua mặc dù Hannibal dọa sẽ xâm chiếm La Mã. La Mã trừng phạt Capua bằng cách hạ thấp vị thế của nó và tịch thu phần lớn đất đai của nó. Năm 209 BC, La Mã tái chiếm Tarentum, một kẻ phản bội khác.

Khi Carthage phái một quân đoàn khác từ Tây Ban Nha để cứu viện Hannibal, quân La Mã tập kết một quân đoàn hùng hậu khác dưới quyền chỉ huy của Caius Claudius Nero. Quân đoàn Nero chặn đứng quân tiếp viện Carthage trước khi họ gặp Hannibal. Năm 207 BC, đội quân mới của Carthage bị đánh bại hoàn toàn tại Metaurus và viên tư lệnh của họ, em trai của Hannibal là Hasdrubal, bị giết chết. Để thêm sự sỉ nhục vào tổn thương, kỵ binh La Mã quăng thủ cấp của Hasdrubal vào trại của Hannibal, gây sốc cho ông ta gấp đôi, vì lúc này ông ta vẫn chưa biết Hasdrubal đã đến Ý. Giờ cuộc chơi đã kết thúc đối với Hannibal: Dù đã đánh thắng ở Trasimene và Cannae, ông ta vẫn hoàn toàn thất bại trong việc đánh chiếm thành phố La Mã hay bất cứ một thành phố thuộc La Mã nào khác, hay đánh bại quân La Mã một cách dứt khoát. Thật kinh ngạc, Viện nguyên lão coi thường Hannibal, xem y như một  quyền lực đã hết thời, và ông tìm cách ẩn náu đâu đó ở ngón chân cái của nước Ý trong bốn năm trước khi chạy thoát được về Bắc Phi để đương đầu với quân La Mã lần nữa.

Scipio trong chớp mắt

Publius Cornelius Scipio là một nhà quý tộc và một chiến binh xuất sắc của La Mã, đã từng dự Chiến tranh Punic lần hai như một chiến sĩ tập sự. Ông chắc chắn đã chứng kiến việc thảm bại của La Mã ở trận Cannae và có lẽ cũng đã tham dự trận Trasimene. Dù là một chàng trai trẻ __ quá trẻ để là một chấp chính __ ông có cả lố kinh nghiệm trận mạc.

Năm 210 BC, Scipio được gởi đi chiến đấu với người Carthage ở Tây Ban Nha. Năm 209 BC, lợi dụng sự kiện quân Carthage cho rằng quân La Mã đã xuống sức và đã phân chia lực lượng, Scipio chiếm Tân Carthage, thủ đô thuộc Carthage tại Tây Ban Nha. Ông lại tiếp tục thắng lớn chống quân Carthage tại Ilipa ở miền nam Tây Ban Nha vào năm 206. Nay người Carthage đã bị đánh bật khỏi Tây Ban Nha, Scipio quay về lo sự kiện chính, tấn công Carthage ngay tại quê nhà: Phi châu.

Trong lúc đó, ở quê nhà vào năm 205 BC, Scipio trở thành Chấp chính Tối Cao, dù về lý thuyết tuổi còn quá trẻ (tuổi tối thiểu thông thường là 42) và cũng được bầu là thống đốc Sicily, một bệ phóng hoàn hảo cho cuộc xâm chiếm Phi châu. Scipio dành thời gian lên kế hoạch cho chiến dịch xâm chiếm Phi châu, và bảo đảm mình có trong tay một quân đội vô địch để ra đòn cuối cùng. Scipio xâm chiếm Phi châu vào năm 204 BC và bắt đầu hủy diệt các quân đoàn Carthage. Người Carthage ban đầu cũng muốn thương thảo hòa bình, nhưng khi Hannibal từ Ý trở về để đánh Scipio, cuộc nói chuyện hòa bình phải bỏ dở.

Trận Zama __ 202 BC

Hannibal và Scipio gặp nhau tại Trận Zama ở Bắc Phi vào năm 202 BC. Chỉ cần lực lượng quân số, nhất là kỵ binh, hơn là các chiến thuật tác chiến xuất sắc, đã mang thắng lợi cho quân La Mã. Còn nữa, Scipio thực hiệc chính xác những gì Hannibal đã làm ở Cannae: Ông bao vây kẻ thù và giăng bẫy họ. Hannibal đầu hàng, và điều khoản hòa bình đã biến người Carthage mất tất cả:

  • Lực lượng hải quân bị cắt giảm chỉ còn mười chiến thuyền.
  • Đồng minh Numidia của họ được độc lập và thành đồng minh của La Mã.
  • Họ mất tất cả đất đai bên ngoài Phi châu.
  • Họ phải trả 800,000 cân bạc cho La Mã trong 50 năm.
  • Họ không thể gây chiến mà không có phép của La Mã.

Thế mà, Carthage cũng vượt qua thảm họa và cuối cùng trở lại là một quyền lực giàu có một lần nữa. Lần này, cuộc trả thù của La Mã sẽ là toàn bộ và vĩnh viễn (xem Chương 13).

Scipio, chỉ lớn hơn 30 tuổi một chút, trở về La Mã lúc ở đỉnh cao tiếng tăm và danh vọng. Ông đã giải cứu La Mã thoát khỏi kẻ thù sừng sõ nhất và lấy lại uy tín trước đây của La Mã ở Bắc Phi. Ông xưng danh hiệu mình là Africanus, vì đã chinh phục được Phi châu (Africa) và tổ chức lễ mừng chiến thắng hoành tráng.

Rắc Rối ở phương Đông: Các Cuộc Chiến Macedonia

Cho đến cuối Chiến tranh Punic lần hai vào 202 BC, hầu hết chú ý của người La Mã đều tập trung vào Ý, Carthage, và Tây Ban Nha. Người Illyrian, một dân tộc giờ đang sống ở Albania và những xứ Yugoslavia trước kia, đã gây ra những rắc rối trước Chiến tranh Punic lần hai, nhưng rắc rối ấy chỉ như một việc cỏn con bên lề. Sau khi Philip V của Macedon dính líu với Carthage và Seleucid, La Mã không thể chần chờ vì chiến dịch chống lại Philip đưa La Mã trên một lộ trình trừng phạt hướng về đông vào Hy Lạp và xa hơn nữa và cuối cùng dẫn La Mã đến cuộc chinh phục những dải đất bao la ở đó: vì thế đây là thời điểm quyết định. Trong vòng 500 năm, miền đông Địa Trung Hải (hiện giờ bao gồm Hy Lạp, Thổ nhĩ kỳ, Macedonia, Bulgaria, Syria, Israel, và Ai Cập) sẽ trở thành những phần còn lại của Đế quốc La Mã (xem Chương 21).

Một chút bối cảnh: Philip V và hải tặc Illyrian

Giữa Chiến tranh Punic lần nhất và hai, người La Mã thấy mình đối mặt với vấn đề người Illyrian (Illyria là bờ biển của vùng từng là Yugoslavia xuống đến Hy Lạp). Miếng rắc rối này thúc giục người La Mã mở những trận đột kích đầu tiên về phương đông.

Các bộ tộc Illyrian là những hải tặc nhà nghề mưu sinh bằng việc cướp bóc những đoàn thuyền buôn chở hàng hóa giá trị ở vùng biển Adriatic. Các thủ lĩnh của chúng cổ vũ và tổ chức việc cướp bóc. Vào 231 BC, dưới quyền lãnh đạo của vua họ là Agron, người Illyrian làm lính đánh thuê cho Vua Philip V của Macedon và đã giải cứu thành phố Medion thoát khỏi cuộc vây hãm của lực lượng Aetolian (từ một vùng đất xa hơn về phía nam ở Hy Lạp ).

Sau thắng lợi này, Vua Agron của dân Illyrian chết (thực sự do uống quá nhiều rượu trong một tiệc mừng), và hoàng hậu của y, Teuta, cứ tự gieo vào óc mình là người Illyrian có thể làm bất cứ thứ gì mình muốn. Bà tuyên bố tất cả những xứ sở khác đều là kẻ thù và rằng hải quân Illyrian phải đột kích bất kỳ ai và từng người một. Người La Mã quyết định đủ là đủ. Vào năm 229 BC một phái đoàn ngoại giao được phái đến Teuta. Một thành viên trong sứ đoàn bị giết chết, vì thế La Mã phái một đoàn chiến thuyền đến nơi để hỏi cho ra lẽ. Ngay lập tức Teuta xuống nước nhượng bộ, nhưng người La Mã không tin bà và đi đến vài thành phố Hy Lạp  trên bờ biển Adriatic và đưa ra lời hứa trợ giúp để đổi lấy sự ủng hộ thực tế. Đây là một cử chỉ hào hiệp __ La Mã được đặt một chân vững chắc qua miền Adriatic nhưng không có vẻ như là một kẻ chinh phạt.

Một trong những phe ủng hộ Teuta, Demetrius từ đảo Pharos, đổi về phe cánh của người La Mã và nhanh chóng được tặng danh hiệu một amicus (‘bạn bè’) của La Mã. Kết quả là những thành phố Hy Lạp lớn khác như Athens và Corinth cũng chào đón phái đoàn sứ thần La Mã. Nhưng Demetrius trở cờ. Đánh hơi thấy Chiến tranh Punic lần hai đang âm ỉ, y quyết tâm trở về phe hải tặc và đột kích các thành phố Illyrian giờ đang trung thành với La Mã. Một đoàn chiến thuyền La Mã khác được phái đến vào 219 BC, và Demetrius chuồn đến Philip V của Macedon. Y cố thuyết phục Philip tấn công quân La Mã, nhưng Philip từ chối. Giờ trở lại câu chuyện.

Chiến tranh Macedonia lần nhất (214-205 BC)

Ngay trước khi Chiến tranh Punic nổ ra vào năm 218 BC, La Mã đang nỗ lực để kết thúc bài toán hải tặc Illyrian ở vùng Adriatic. Một trong những vai trong thảm kịch là Philip V, Vua của Macedon. Philip là một tên cơ hội. Sau thảm họa ở Cannae và tưởng rằng Chiến tranh Punic lần hai đang bất lợi cho người La Mã, Philip quyết định kết thân với Hannibal, lúc đó là ngôi sao đang lên ở Ý (nhớ là chuyện này xảy ra trước trận thảm bại cuối cùng của Hannibal). Đây rõ ràng là một tình huống mà La Mã phải giải quyết, và do đó Chiến tranh Macedonia lần nhất bắt đầu.

Vì Chiến tranh Punic lần hai rút gần hết tài nguyên của La Mã, nên La Mã phải cần đồng minh yểm trợ cho Chiến tranh Macedonia lần nhất. La Mã kết đồng minh với kẻ thù của Philip, Liên minh Aetolian do thành phố lớn Hy Lạp  là Pergamon trên bờ tây Tiểu Á (Thổ Nhĩ Kỳ hiện giờ) cầm đầu, lúc đó do Attalos I (241-197 BC) cai trị. Liên minh Aetolian giờ là một liên bang những thành phố ở trung tâm Hy Lạp được thành lập để chống lại người Macedonia. Sau một vài trận đánh nhỏ, vào năm 205 BC, người La Mã làm hòa với Philip, giờ đây đã mở mắt trước sự kiện La Mã đang chắc thắng trong Chiến tranh Punic lần hai.

Chiến tranh Macedonia Lần Hai (200-197 BC)

Philip, vẫn luôn là một tên cơ hội, nảy ra một kế hoạch khác, một kế hoach mà y hi vọng sẽ tránh được sự để ý của người La Mã. Với sự ủng hộ của Đế quốc Seleucid ở Syria, ông mưu tính tấn công người Ai Cập, bấy giờ do Ptolemy V cai trị, để vơ vét của cải Ai Cập về cho mình. Đế quốc Seleucid trải dài trên một vùng hiện giờ là Syria, Iran, và Iraq, do Seleucid, một trong những vị tướng của Alexander Đại Đế, thành lập từ Đế chế của Alexander sau khi ông mất vào 323 BC. Đế quốc Seleucid đã suy thoái, nhưng hậu duệ Antiochus III của Seleucis, đang phục hồi tiềm lực của nó.

Vì các lực lượng của Philip tấn công bất kỳ ai họ thích trong vùng biển Aegean, người Hy Lạp rất bực mình. Quyết tâm bảo vệ quyền lợi của mình, hòn đảo Rhodes giàu có liên minh với Pergamon. Năm 201 BC, Pergamon và Rhodes quay sang La Mã cầu cứu sau khi hải quân Philip đánh bại lực lượng phối hợp của họ.

La Mã đang kiệt sức nên miễn cưỡng tham gia. Nhưng khi hay tin Philip liên minh với người Seleucid, do Antiochus III (242-187 BC) cầm đầu, họ quyết tâm với lựa chọn của mình, không có lựa chọn nào khác. Antiochus III đã thôn tính Syria và Palestine. Người La Mã trù tính tạo ra bộ mặt của cuộc chiến như là một chiến dịch nhằm bảo vệ sự tự do của các thành phố Hy Lạp .                           

Đọc thêm: Hiệu ứng Hy Lạp 

Người La Mã trong một thời gian dài đã mê hoặc trước mọi thứ của Hy Lạp. Người Etruscan (xem họ trong Chương 10) đã bắt chước nhiều thứ từ Hy Lạp . Vua Tarquinius Priscus có lần gởi các con trai mình đến Delphi xin sấm truyền. Khi La Mã vươn vòi lên khắp miền Địa Trung Hải trong thế kỷ thứ hai BC, người La Mã càng ấn tượng trước nền văn hóa tinh tế của Hy Lạp . Các pho tượng Hy Lạp được chở đến La Mã và được sao chép kỹ lưỡng. Các vị thần Hy Lạp  được ghép với các vị thần La Mã, văn chương Hy Lạp  được thưởng thức và ca tụng. Nhà soạn kịch La Mã Terence (khoảng 190-159 BC) đã dịch và phóng tác ra tiếng Latinh những tác phẩm của nhà soạn kịch Hy Lạp  Menander và những nhà soạn kịch khác ra tiếng Latinh cho khán giả La Mã thưởng ngoạn.  Người Hy Lạp  tiếp tục ảnh hưởng đến văn hóa La Mã trong nhiều thế kỷ.

   Chiến tranh Macedonian lần hai bắt đầu khi người La Mã đến Illyria vào 200 BC dưới quyền chỉ huy của Titus Quinctius Flamininus. Thật tình mà nói, cuộc chiến bắt đầu chậm chạp và tiến hành rề rà. Quân La Mã muốn làm quân Philip mòn mõi. Philip không thể để điều đó xảy ra, nên ra lệnh một cuộc tấn kích tại sườn đồi ở Cynoscephalae vào 197 BC. Lao xuống sườn đồi, Philip gần như tiêu diệt quân đoàn La Mã, nhưng Flamininus phản công bằng hai cánh quân trước khi đợt sóng tấn công thứ hai của quân Macedonia có đủ thời gian vào vị trí. Philip hoàn toàn bị đánh bại.

Các thành phố Hy Lạp say sưa với chiến thắng khi được giải phóng khỏi Philip. Tại Vận Hội Isthmian ở Corinth vào năm 196 BC, tư lệnh La Mã Flamininus tuyên bố toàn bộ Hy Lạp được tự do. Người Hy Lạp đặc biệt có ấn tượng vì Flamininus phát biểu bằng tiếng Hy Lạp . Người Hy Lạp khẳng định người La Mã đúng là những vị cứu tinh và chủ nhân tốt bụng, lại yêu chuộng nghệ thuật và văn hóa của đất nước Hy Lạp mình. Nhưng Hy Lạp vẫn còn một bài toán, và cả Antiochus III cũng vậy. Những gì sẽ xảy ra sau đó cho Hy Lạp sẽ được đề cập trong phần sau.

Chiến tranh Macedonia lần ba (172-167 BC)

Philip V của Macedon mất năm 179 BC. Ngai vàng truyền lại cho con trai bài La Mã Perseus, người đã hành hình em trai Demetrius có tinh thần ủng hộ La Mã. Người La Mã tuyên chiến vào năm 172 BC lấy cớ là Perseus đã tấn công một số thủ lĩnh Balkan vốn là đồng minh của La Mã. Perseus thất bại khi muốn lôi kéo người Hy Lạp  bỏ La Mã theo về với mình, nhưng ông vẫn xoay sở đánh thắng được quân La Mã vào 171 BC. Và cũng như bao giờ, người La Mã càng quyết tâm chiến đấu hơn nữa. Phải mất thêm ba năm chiến dịch, tại trận Pydna ở Macedonia vào năm 168 BC, Perseus bị quân đoàn La Mã dưới quyền chỉ huy của Lucius Aemilius Paullus, đè bẹp. Perseus có thể đã thắng nếu Liên minh Achaen về phe của ông ta. Họ chắc hẳn đã suy xét về việc đó __ cho đến khi quân La Mã đã chiếm được một số con tin chủ chốt của Achaen để bắt họ hành xử đàng hoàng.

Sau khi Perseus bị thảm bại, quân La Mã quyết định mình đã chịu đựng người Hy Lạp  và những xung đột nội bộ của họ đủ rồi. Khoảng 1,000 người ủng hộ Macedonia ở Hy Lạp được chở tàu đến Ý để xét xử __ 700 người chết trong ngục. Vào năm 167 BC, miền Epirus bị tàn phá, và 150,000 dân bị bán làm nô lệ. Macedonia được phân chia thành bốn vùng cộng hòa.

Dù vậy, người La Mã vẫn không có ý định chinh phục và cai trị người Hy Lạp. Kế hoạch là để người Hy Lạp  được tự do, chỉ trừng phạt họ để họ không bao giờ liên minh với một kẻ thù nào khác của La Mã nữa. Người La Mã thậm chí còn cắt giảm thuế để làm ra vẻ mình là một dân tộc biết điều.

Không có gì ngạc nhiên khi ở thời điểm này Hy Lạp không còn là mối bận tâm lớn nhất của La Mã. Giữa những năm 151-146 BC, Chiến tranh Punic lần ba đang gầm thét. Xem thêm ở Chương 13.

Chiến lợi phẩm của Hy Lạp (Achaea)

Dù kế hoạch của La Mã chỉ là trừng phạt, nhưng không chinh phạt, người Hy Lạp , hạt sạn cuối cùng xuất hiện với Andriscus, người đòi hỏi vô cớ ngai vàng Macedonia khi tự nhận mình là con trai của Perseus, tìm cách tái thống nhất Macedonia. Người La Mã phải bỏ ý định để Hy Lạp tự do.             

Vào năm 148 BC, một quân đoàn La Mã dưới quyền chỉ huy của Quintius Caecilius Metellus đã đánh đuổi Andriscus (đôi khi trận này được gọi là Chiến tranh Macedonian lần 4). Liên minh Achaea chỉ định Critolaos ở Megalopolis làm tướng soái của mình. Không thèm thương thảo với người La Mã, ông cho quân đội tràn qua trung tâm Hy Lạp. Metellus đối phó ông, trong khi cứ điểm cuối cùng người Achaea phòng thủ gần Corinth bị Quan Chấp Chính La Mã Lucius Mummius đánh tan.

Corinth bị làm cỏ hoàn toàn. Liên minh Achaean tan tác. Thống đốc La Mã tại Macedonia canh phòng binh biến, và Hy Lạp bị bắt buộc phải bồi thường cho La Mã. Đây là khúc quanh trong lịch sử Hy Lạp  phản ánh tình hình đã xảy ra ở Ý giữa những năm 493-272 BC khi quân La Mã kiểm soát có hệ thống các thành phố Ý (xem lại Chương 11). Giờ các thành bang Hy Lạp đã đánh mất tự do của mình; hàng thế kỷ xung đột, chiến tranh, và tàn phá theo sau, với những giai đoạn sáng chói về chính trị và nghệ thuật.

Bí Quyết của Thắng Lợi: Luôn Trở Lại

Quân đội La Mã không mấy tinh tường về cục diện chiến tranh, nhưng họ thành công vì họ có một nguồn nhân lực hùng hậu luôn sẵn sàng từ các đồng minh, được tổ chức tốt, và vận hành như một cỗ máy. Mỗi chiến sĩ đều hiểu rõ mình phải làm gì, phải đứng ở vị trí nào, dù đang trong doanh trại hay ngoài chiến trường.

Việc cắm những khu định cư thuộc địa để canh giữ các cảng, các độc đạo trong núi, hoặc các giao lộ chủ chốt nhẳm đảm bảo luôn có sự hiện diện của người La Mã trong những vị trí sinh tử, có vai trò như lực lượng trù bị quân sự. Các khu định cự thuộc địa này được bố trí như những trại lính, với các qui chế rập khuôn như ở La Mã, là một phần lý do của thắng lợi La Mã.

Các thị trấn trong các lãnh thổ đồng minh tiếp tục hoạt động như cũ, có điều giờ đây dưới sự giám sát của người La Mã. Trên khắp Ý, các cộng đồng nhận ra rằng nằm trong quỹ đạo La Mã có khi là một điểm cộng lớn. Đáp lại sự đóng góp cho quân đội La Mã, họ được chia phần chiến lợi phẩm. Các đồng minh cũng hưởng lợi từ sự ổn định và không bị ai áp bức. Người Sabine, chẳng hạn, đã giao chiến với La Mã vào bốn thời điểm cách biệt nhau, nhưng thay vì bị bán làm nô lệ và tài sản bị tịch biên, vào năm 268 họ lại được nâng vị thứ lên làm công dân La Mã với đầy đủ quyền đầu phiếu.

Đọc thêm: Vụ cướp bóc Corinth

Theo nhà địa lý La Mã là Strabo, Corinth bị vị tướng La Mã là Lucius Mummius cướp bóc một phần vì hành vi bẩn thỉu của người Corinth, như đổ rác dơ lên đầu binh lính La Mã đi qua. Nhưng lý do chính là để trừng phạt thành phố vì tội chống đối và để quét sạch bọn cạnh tranh thương mại chủ chốt. Đàn ông bị giết sạch còn các bà và trẻ em bị bán làm nô lệ. Theo sử gia Hy Lạp Polybius, Mummius vì chịu áp lực quá lớn không đủ sức chịu đựng nên bắt buộc phải qúa tàn bạo. Ông tự tiện vơ vét các tác phẩm nghệ thuật và chở tàu về La Mã, trong đó có bức họa vẽ Dionysus được đem về treo tại Đền thờ Ceres. Polybius đã chứng kiến tận mắt một cách khinh bĩ cảnh các tên lính La Mã chơi đổ xúc sắc trên những bức tranh mà chúng vất lên mặt đất. Một thế kỷ sau Julius Caesar thành lập một thuộc địa trên địa phận Corinth. Các dân La Mã thuộc địa khai quật các nghĩa địa Corinth cổ và tìm được những hình điêu khắc nổi bằng gốm và bình đồng và bán được bộn tiền.   

Chương 13 

Luôn Tiện, Hãy Chinh Phục Mọi Nơi Khác Đi 

Trong Chương Này

  • La Mã chỉnh đốn miền bắc Ý
  • Thiết lập quyền lực ở Tây Ban Nha __ kiểu La Mã
  • Tại sao La Mã tống khứ Carthage vào thùng rác của lịch sử
  • La Mã đem quân vào Tiểu Á

  La Mã, đã nắm được quyền kiểm soát Hy Lạp , Macedonia, và Seleucid hoàn toàn, vào năm 146 BC là  quyền lực chúa tể trong miền đông Địa Trung Hải. Sự thống trị của La Mã tạo ra những hậu quả nghiêm trọng cho Tiểu Á (Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay) và Ai Cập. Nhưng lịch sử không hề thẳng thừng. Cho dù Hy Lạp, Macedonia, và Seleucid đã an định, La Mã vẫn chưa chinh phục được thế giới.

La Mã vẫn còn có vấn đề, đặc biệt ở Ý, và cũng ở phía tây Tây Ban Nha, và ở Bắc Phi, quê nhà của Carthage. Dù đã bị đánh bầm vập trong Chiến tranh Punic lần nhất và lần hai, Carthage vẫn chưa gục ngả.

Chuyện gì xảy ra giữa năm 200 và thập niên 130 BC trong miền tây Địa Trung Hải và Bắc Phi __ tâm điểm của chương này __ là câu chuyện  quyền lực La Mã trải rộng lên toàn vùng Địa Trung Hải ra sao.

Chinh phục Địa Trung Hải, xét bất cứ tiêu chuẩn nào, cũng là một thành tựu khiến ta chỉ biết há hốc vì kinh ngạc. Không một xã hội cổ đại nào khác (hoặc bất kỳ xã hội hiện đại nào xét về mặt đó) có thể làm được điều gì từa tựa như thế. Ngay cả ở đỉnh cao  quyền lực, người Ai Cập cũng gây ít ảnh hưởng vượt quá Levant và Tiểu Á. Người Hy Lạp, mặc dù thuộc địa hóa nhiều vùng quanh Địa Trung Hải, vẫn chưa hề tổ chức một hệ thống chính trị nào cạnh tranh được với La Mã. Người Hy Lạp tự cai trị mình còn chưa xong huống hồ cai trị người khác. Chỉ nhờ sự đam mê văn hóa Hy Lạp  mà người La Mã mới truyền lại được nghệ thuật, văn chương, và những kiến thức thể nghiệm thể chế dân chủ và triết lý của Hy Lạp  cho đời sau.

Phía Tây Được Chinh Phục Thế Nào

Cisalpine Gaul (bắc Ý) chỉ là một màn phụ diễn của người La Mã mà toàn bộ năng lượng trong nửa đầu thế kỷ thứ hai BC được tập trung vào Macedonia và Hy Lạp. Nhưng miền bắc Ý vẫn còn là một vùng đất quan trọng sinh tử đối với La Mã. Đó là vùng đất giàu có, màu mỡ và một phần của con đường trên bộ quan yếu dọc theo bờ biển chạy đến nam Ý và Tây Ban Nha.

Chặn dừng đầu tiên: Bắc Ý

Vào cuối Chiến tranh Punic lần hai vào năm 202 BC, vấn đề đầu tiên của La Mã là phân loại và trừng phạt các đồng minh của La Mã đã chạy về phe cánh của Hannibal. La Mã vẫn còn e sợ Hannibal, sợ ông ta trù tính tàn phá La Mã trong khi quân La Mã tiến quân xuyên qua Ý (xem lại Chương 12).

La Mã làm những gì cần làm, đưa ra những trừng phạt, và người phản bội chấp nhận. Thành phố trở cờ Capua, chẳng hạn, mất quyền tự trị. Và như những thành phố phản loạn khác, Capua cũng mất nhiều đất đai khi những thuộc địa mới của La Mã được dựng lên trong lãnh thổ Capua.

Cisalpine xứ Gaul là một vấn đề khác. Không ai bảo Cisalpine Gaul là Chiến tranh Punic lần hai đã qua, cho nên họ vẫn tiếp tục chiến đấu thêm mười năm nữa trong một nỗ lực đẩy lùi những trận trả đũa của La Mã vì đã giúp Hannibal. Mãi đến năm 191 bộ tộc Boii xứ Gaul mới bị đánh tan. Công lao thuộc về Publius Cornelius Scipio Nasica (một em họ của Scipio Africanus, người đã đánh bại quân Carthage trong trận đánh Zama quyết định; xem Chương 12). La Mã bắt đóng phạt thật nặng và tịch thu phân nửa đất đai của Boii. Đám người Boii còn lại dắt dìu nhau về hướng đông bắc và cuối cùng dừng lại ở vùng đất bây giờ là Bohemia.

Bắc Ý đã được tái lập. La Mã dựng lên những khu thuộc địa mới, giống như thuộc địa ở Parma vào năm 183 BC, và đất đai được chia nhỏ thành nhiều mảnh riêng biệt. Những cung đường mới được xây dựng qua khắp vùng miền, và trong vòng 50 năm toàn bộ đất đai trông chẳng khác mấy với phần còn lại của Ý đã bị La Mã hóa.

Thư giãn cạnh Riviera

Như thường lệ, người La Mã nhận thấy rằng thắng được một miếng lãnh thổ nhỏ mới, như vùng bắc Ý, có nghĩa là mình không có lựa chọn nào khác hơn là phải lấy thêm miếng kế cận nữa. Đó chính xác là điều xảy ra với Riviera thuộc Ý, được biết dưới tên Liguria. Liguria là một vùng đất không phát triển với dân cư còn sơ khai, nhưng đối với La Mã cốt yếu là phải kiểm soát Liguria. Các thủy thủ trong thế giới cổ đại thích dong buồm ôm sát bờ biển cho an toàn và không bị lạc trên biển. Người La Mã cần Liguria để bảo đảm lộ trình từ Liguria đến Tây Ban Nha không bị kẻ thù khuấy phá.

Người La Mã thích đánh nhau theo kiểu dàn đội hình trên vùng đất bằng phẳng, nhưng để dẹp tan đám bộ tộc miền núi này họ phải đánh trả những trận đột kích nhỏ liên tục và bất ngờ. Sau 186 BC, hết quân đoàn La Mã này đến quân đoàn được đổ vào Liguria. Vào 180, các bộ tộc kiệt sức vì khả năng kháng cự kiên trì của người La Mã, và một số lớn bộ tộc chịu thua và phải  bỏ đi. Dù vậy, La Mã phải mất thêm 70 năm nữa trước khi con đường ven biển đến tận Genua (Genoa) được giải phóng và an toàn.

Ở phía kia của Ý, vùng đất mà hiện giờ là Venetian Riviera, đặt theo tên của bộ tộc Veneti sinh sống ở đó, thì ổn định và nói chung là hòa hiếu. Vấn đề duy nhất là từ các bộ tộc Alpine, vì thế người La Mã dựng một thuộc địa ở Aquilaia (nay là Aquila) __ sau này trở thành một trung tâm thương mại chính của khu vực và là cảng vào Illyria từ Ý, trên biển Adriatic.

Trị vì tại Tây Ban Nha, 197-179 BC

Lúc đầu, La Mã không có tham vọng lớn nào ở Tây Ban Nha. Nhưng rồi người La Mã quyết định chiếm luôn để bảo đảm người bản địa cứng đầu sẽ dễ bảo hơn. Scipio Africanus đã đánh nhau ở Tây Ban Nha trong Chiến tranh Punic lần hai để ngăn người Carthage thiết lập căn cứ quân sự ở Tây Ban Nha có thể được sử dụng để tấn công Ý. Hannibal đã từng thử làm việc này, và quân La Mã muốn ngăn cản ông ta thử toan tính lần nữa. (xem lại Chương 12).

Còn nữa, người La Mã đã ở Tây Ban Nha đủ lâu để biết rằng bán đảo Iberian dồi dào tài nguyên khoáng sản: thiếc, sắt, vàng, và bạc. Strabo, sử gia và nhà địa lý cổ đại, người đã mô tả thế giới La Mã khoảng 200 năm sau, nói rằng Tây Ban Nha sở hữu một nguồn cung cấp kim loại dồi dào hơn bất cứ nơi nào ông biết.

Chinh phục các bộ tộc Tây Ban Nha

Vào 197 BC, La Mã thành lập hai tỉnh: Hispania Citerior (Gần Tây Ban Nha hơn) và Hispania Ulterior (Xa Tây Ban Nha hơn). Các dân bản địa trong những tỉnh mới không mặn mà lắm với việc người La Mã thay thế người Carthage. Hơn nữa, khi Scipio Africanus rời đi, tình hình quản trị của La Mã trở nên tệ hơn. Vài thập niên sau ở Tây Ban Nha là tình trạng áp bức, tàn bạo.

Kết quả là liên tục xảy ra những cuộc nổi loạn của những bộ tộc khác nhau, nhất là bộ tộc Celtiberia (dân chúng sống trong vùng Hispania Citerior). Vào năm 179 BC phải cần hai quân đoàn La Mã mới dồn được bộ tộc Celtiberia và Lusitania (dân chúng trong vùng Hispania Ulterior, ngày nay là Bồ đào nha) vào thế đầu hàng và chịu sự cai trị của La Mã. (Tất nhiên, có lẽ cũng nhờ đến tư lệnh La Mã là Tiberius Sempronius Gracchus, người đã tuyên bố là đã chiếm được 300 khu định cư của người Celtiberia, và được sự kính phục của họ nhờ vào lòng khoan từ của ông.) Dù vậy, người Celtiberia cũng mở chiến tranh du kích gây rối trong hàng thập kỷ sau.

Lại đánh nhau

Hòa bình mà Gracchus đem lại cho Tây Ban Nha cho phép người La Mã kiểm soát hầu như toàn bộ bán đảo Iberia, và kéo dài đến 154 BC. Nền hòa bình rơi rụng vì, sau khi Gracchus rời đi, một số thống đốc La Mã cai trị đã lạm quyền. Dù các bộ tộc Tây Ban Nha có khiếu nại lên Viện nguyên lão vài lần, nhưng mọi việc vẫn không được giải quyết. Người Celtiberia và Lusitania lại nổi dậy, và tình hình càng tệ hơn khi một số sĩ quan La Mã tấn công khi không bị khiêu khích.

Sự bất ổn ở Tây Ban Nha trở nên có ý nghĩa hơn vì, vào năm 151 BC, Chiến tranh Punic lần ba đã bùng phát, tạo thêm sức ép cho lực lượng quân sự La Mã. Nhưng mỉa mai thay, chính vị tướng đã tàn phá Carthage trong Cuộc Chiến Punic lần ba đã mang kinh nghiệm đó về Tây Ban Nha và kết thúc được cuộc xung đột.

Dân Lusitania do Viriathus, một người chăn cừu, cầm đầu chỉ nhờ vào cá tính mạnh mẽ của mình. Từ 146-141 BC, Viriathus lại đánh thắng người La Mã hằng năm. Thắng lợi của ông khiến người Celtiberia cũng vùng lên chiến đấu vào 143 BC (họ trước đây đã ký hòa ước với người La Mã năm 153 BC sau một năm đánh nhau), mặc dù vào 142 BC quân La Mã đã đẩy lùi họ trở về các khu định cư của họ trên đỉnh đồi.

Để giải quyết quân Lusitania người La Mã dùng qua mưu mẹo. Vào 140 BC, chỉ huy La Mã là Servilius Caepio mua chuộc người trong doanh trại của quân Lusitania để ám sát Viriathus. Như rắn mất đầu, lực lượng kháng cự của Lusitania sụp đổ vào 139 BC.

Chỉ còn lại một ít thành phố từ chối đầu hàng. Trong đó có Numantia, thành phố nằm giữa hai con sông trong những khe núi sâu, địa hình thật không thể nào xâm nhập được. Họ đã kháng cự được chín năm. Dù La Mã có bày mưu mẹo hoặc tăng cường quân số, cuộc vây hãm Numantia không đi tới đâu cho đến 133 BC.

Sự tàn phá Numantia

Cuộc chiến Numantia kết thúc vào 133 BC. Người tàn phá thành Carthage vào 146 BC, Publius Cornelius Scipio Aemilianus, cháu nội nuôi của Scipio Africanus, người anh hùng của Chiến tranh Punic lần hai, đến Numantia với một lực lượng gồm 60,000 quân gồm binh lính La Mã, Tây Ban Nha, và các đồng minh khác. Aemilianus cho xây bảy đồn lũy quanh thị trấn (một số đồn còn tồn tại), vây hãm và bỏ đói khoảng 4,000 người Numantia trong thị trấn, cho đến khi họ đầu hàng và bị bán làm nô lệ, sau đó ông hủy diệt thị trấn.

Tại sao cuộc chiến ở Tây Ban Nha lại khác biệt

Các cuộc chiến La Mã ở Tây Ban Nha là công việc tệ hại . Chúng kéo dài lê thê, và dù cho người La Mã có bổ nhiệm tư lệnh mới mỗi năm cũng không ăn thua. Nói chung, quân La Mã có tiếng là khoan dung trong chiến thắng và tôn trọng lời hứa. Nhưng ở Tây Ban Nha thì không thế. Họ phá vỡ hòa ước này đến hòa ước khác, và Viện nguyên lão không làm gì để ngăn cản. Số người phải đăng ký nghĩa vụ quân sự gây nỗi bất mãn tại quê nhà ở Ý và tác động nghiêm trọng đến nội chính La Mã.       

Chiến tranh Punic lần ba (151-146 BC)

Trong khi chiến cuộc ở Tây Ban Nha đang dây dưa, La Mã lại có trên tay một cuộc chiến khác: Chiến tranh Punic lần ba và là lần cuối cùng. La Mã đã đặc biệt khoan nhượng trong điều khoản hòa bình với Carthage (xem Chương 12) vào cuối Chiến tranh Punic lần hai, cho rằng mình đã có thể kết thúc quyền lực mậu dịch của Carthage. Ngoài ra, La Mã vẫn cho Hannibal tại vị __ một may mắn mà Hannibal chắc hẳn không ngờ được.

Hannibal vá víu Carthage

Người Carthage chẳng bao lâu gượng đứng dậy. Ở Bắc Phi, Hannibal cho tiến hành những phương pháp canh tác và cải cách hành chính hiệu quả hơn, để có thể trả hết tiền nộp phạt cho La Mã. Carthage còn tặng không bắp cho các quân đoàn La Mã đang chiến đấu tại Hy Lạp và Macedonia. Hannibal đã trở nên quá thần phục đến nỗi đối thủ chính trị của ông quyết định đến La Mã để mách với Viện nguyên lão là Hannibal đang hợp tác với ông vua Syria nhiều tham vọng, Antiochus III. Một phái đoàn La Mã được thành lập để điều tra việc này, nhưng Hannibal trốn thoát và đi đến triều đình Antiochus III.

La Mã rõ ràng hài lòng về mọi thứ ở Carthage. Nhưng vị vua có tuổi Masinissa của xứ Numidia, láng giềng của Carthage, lại nghĩ khác.

 

Tham vọng của Masinissa: Khiêu khích người Carthage

Vua Masinissa hành xử tốt trong thời bình vào cuối Chiến tranh Punic lần hai: người La Mã phong cho ông làm Vua xứ Numidia. Trong 50 năm sau, Masinissa xây dựng một quân đội và cải thiện điều kiện sống cho dân Numidia. Nhưng rồi sau đó, như hầu hết các nhà cai trị, quyền lực tiêm nhiễm đầu óc ông, và ông nghĩ là vương quốc mình không đủ lớn. Masinissa để mắt đến Bắc Phi nơi có nhiều khu định cư Carthage.

Nhờ các điều khoản hòa bình với La Mã ở cuối Chiến tranh Punic lần hai vào năm 202 BC, người Carthage không được phép phòng vệ nếu không có người La Mã cho phép. Masinissa bắt đầu tự tiện chiếm lấy các khu định cư Carthage và né tránh được sự chống đối của người La Mã khi tỏ thái độ phò La Mã bằng cách gởi lương thực và binh lính hổ trợ quân đoàn La Mã ở miền Đông.

Tất nhiên, người Carthage không nhịn được và vào năm 150 BC tấn công Masinissa, và đó chính là điều Masinissa muốn. Masinissa biết rằng người La Mã có nỗi sợ ám ảnh đối với quân Carthage và Hannibal là ông ba bị cuối cùng của La Mã. Chỉ cần một gợi ý nhỏ nhất về hành động gây rối của Carthage là La Mã sẽ dập quân Carthage không thương xót.

Đáp ứng của La Mã: Quét sạch Carthage!

Marcus Porcius Cato Cato, một cựu quân nhân 84 tuổi của Chiến tranh Punic lần hai và các cuộc chiến ở Tây Ban Nha, và là lãnh đạo cuồng nhiệt của phe chống Carthage, kết án Carthage đã phá bỏ hòa ước. Cato tuyên bố câu nói nổi tiếng delenda est Carthago, có nghĩa ‘Carthage phải bị quét sạch’. Phe đối thủ của Cato không đồng ý, cho rằng Carthage phải được để nguyên trạng vì nó không có vẻ gì là mối đe dọa thực sự cho La Mã và nỗi e sợ Carthage sẽ khiến người La Mã thêm đoàn kết. Nhưng Cato thắng thế, mặc dù ông ta chết hầu như ngay khi cuộc chiến nổ ra (và Vua Masinissa, người khơi mào ngọn lửa chiến tranh, cũng chết theo).

Quân La Mã đến Carthage vào năm 149 BC. Quân Carthage nhanh chóng đầu hàng và nộp con tin và khí tài quân sự. Nhưng quân La Mã yêu sách càng ngày càng nhiều. Để hủy diệt Carthage một lần cho mãi mãi, người La Mã ra yêu sách người Carthage phải bỏ thành phố và chuyển về sống ở nội địa, có nghĩa là Carthage không còn tồn tại như một trung tâm mậu dịch phồn thịnh.

Người Carthage nổi giận vì đòi hỏi của La Mã. Thấy rằng mình không có gì để mất, người Carthage sẵn sàng chiến đấu. Khổ thay cho Carthage, hầu hết các xứ láng giềng của nó đều về phe của La Mã. Đồn lũy của Carthage giúp họ đẩy lui được quân La Mã, và họ tung những đạo quân đi cắt đứt đường vận lương của La Mã. Họ cố thủ cho đến 147-146 BC khi La Mã mở một chiến dịch mới. Tư lệnh La Mã là Publius Cornelius Scipio Aemilianus đến và hoàn toàn quét sạch thành phố.

Nỗi ô nhục cuối cùng: Xát muối lên vết thương

Trong chiến dịch do Scipio Aemilianus chỉ huy không có trận đánh lớn. Ông ta chỉ đơn giản quần cho Carthage kiệt sức, đánh tan những lực lượng phòng ngự bên ngoài rồi xông vào. Từng tấc đấc một, các đạo quân của ông đánh tay đôi để cuối cùng tiến vào trong tường thành. Chỉ còn sót lại 50,000 công dân Carthage, một quân số nhỏ so với những khó khăn mà họ gây cho La Mã. Các công dân bị bắt và bán làm nô lệ. Thư viện thành phố bị phá tan và sách vỡ được đem tặng các nhà cai trị Phi châu láng giềng. Theo truyền thuyết, quân La Mã rắc muối lên đất đai quanh Carthage để đất không còn trồng trọt được, thành đất hoang hóa. Truyền thuyết có hay không không có gì khác biệt: Carthage giờ đây đã cáo chung và hoang tàn. Bạn có thể đến thăm phế tích Carthage nằm không xa thành phố Tunis (xem hình dưới). Một thời gian sau đó, một thuộc địa La Mã được dựng lên gần đó: hành động sỉ nhục cuối cùng.

   5

Càn Quét Phía Đông

Tiểu Á (Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay) và Tây Ban Nha đều cách La Mã một khoảng bằng nhau. Tuy  nhiên, điều khác biệt là Tiểu Á có một lịch sử lâu đời, gồm nhiều thành phố và vương quốc đã định hình. La Mã đầu tiên dính líu với Tiểu Á là ở Chiến tranh Macedonia khi vua xứ Seleucis là Antiochus III liên minh với Philip V của  Macedon (xem Chương 12).

Tham vọng của Antiochus III

La Mã đã tiễn Antiochus III đi trong Chiến tranh Macedonia lần hai (200-197 BC; xem Chương 12). Nhưng ông ta vẫn hùng mạnh ở châu Á  và trong lúc đó tập trung những tham vọng của mình ở miền Đông. Antiochus đã gã con gái của mình cho Ptolemy V Epiphanes, Phara-ông của Ai cập, như một phần của hiệp ước bảo đảm việc chinh phục Syria và Palestine của Antiochus, và ông cũng chiếm thêm bờ nam của Tiểu Á xáp nhập vào lãnh thổ của mình.

Các cộng đồng Hy Lạp giàu có của đảo Rhodes và thành phố Pergamon, dẫn đầu Liên minh Aetolian ở Tiểu Á, bắt đầu giậm giật. Sau Chiến tranh Macedonia lần hai, người La Mã đã bảo đảm sự tự do của các thành phố ở lục địa Hy Lạp. Bây giờ vào năm 196 BC, Pergamon thỉnh cầu Viện nguyên lão La Mã bảo đảm tự do cho các thành phố ở Tiểu Á. Đó là một yêu cầu phi thường và cho thấy La Mã đã trở nên hùng mạnh ra sao. Đó cũng là một thái độ tin cậy tuyệt vời vào La Mã, giờ được xem là một  quyền lực trọng danh dự và nhân bản.

La Mã phản đối hành động của Antiochus III, nhưng tên lắm mưu nhiều kế này liền vung ra một hiệp ước mới mà y đã ký với Ai Cập cho thấy hành động của y được Ai Cập chấp thuận. Vì thế La Mã không thể vin cớ mình ra quân vì lợi ích của Ai Cập. Flamininus, tư lệnh các lực lượng La Mã ở Hy Lạp, đành ngậm bồ hòn làm ngọt. Những người khác, như Scipio Africanus, không mấy tin tưởng, nhất là khi Antiochus giờ đây đã có Hannibal giúp sức, người đã chạy thoát từ Carthage vào 195 BC (Hannibal sau đó tự tử vào năm 183 BC).

La Mã thương thảo với Antiochus liên tục trong vài năm sau đó nhưng không đi đến đâu. Trong lúc đó, lực lượng La Mã đã rút khỏi Hy Lạp. Vào 191 BC, người La Mã phải trở lại Hy Lạp .

Ngày tàn của Antiochus

Liên minh Aetolian cảm thấy bị lừa gạt sau kết quả của Chiến tranh Macedonia lần hai; họ đã giúp đỡ nhưng đã bị người La Mã ngăn chận việc chiếm một phần Hy Lạp  như một phần thưởng. Vì thế Liên minh này mời Antiochus III xâm chiếm Hy Lạp. Y nghe theo, nhưng đụng độ với một quân đoàn La Mã dưới sự chỉ huy của Scipio Africanus Antiochus và các lực lượng của Seleucid của y bị tổn thất hầu như hoàn toàn ở trận Thermopylae và Magnesia.

Hòa bình 188 BC chấm dứt mọi tham vọng của Antiochus ở châu Âu. Y phải giao nộp gần hết hạm đội, trả tiền nộp phạt khổng lồ (tiền nộp phạt lớn nhất mà người La Mã áp đặt cho kẻ bại trận của mình), rút quân khỏi phần lớn lãnh thổ của mình, và chỉ còn lại quyền duy nhất là tự vệ.

Antiochus phải nói lời tạm biệt với hải quân của mình và gồng lưng nộp phạt một số tiền kỷ lục là 15,000 ta-lăng. Y phải rút quân khỏi miền tây Tiểu Á và bị tước quyền giữ bất kỳ vùng đất nào của châu Âu hoặc vùng Aegean hoặc có bất cứ đồng minh nào ở đó.

Một ta-lăng là một đơn vị trọng lượng vàng hay bạc. Khó ra được một con số chính xác, ước tính thì vào khoảng từ 25 kí đến 42 kí vàng cho mỗi ta-lăng. Dạo này, vàng đang tăng giá lên đến 270 bảng Anh một ao-xơ (độ 28 gram), như vậy khoảng 280,000 bảng Anh một ta-lăng là giá thấp nhất. Điều này có nghĩa Antiochus phải nộp phạt một số tiền tương đương với 4.2 tỷ bảng Anh ngày nay.

Sau đó người La Mã rút quân khỏi Tiểu Á. Về sau họ chỉ thỉnh thoảng can thiệp vào những vấn đề của Tiểu Á, mặc dù đã gây cho vùng này nhiều sự bất ổn.

Trúng số: Lấy được Pergamon

Vào 133 BC, La Mã bổng nhiên thấy mình là chủ nhân của xứ Pergamon cùng những lãnh thổ của nó mà không tốn một giọt máu. Vua Attalus III của Pergamon (trị vì 138-133 BC) không có người thừa kế, và trong di chúc ông để lại vương quốc của mình cho người La Mã vì theo ông người La Mã là dân tộc duy nhất sẽ đem lại điều tốt đẹp cho nhân dân mình. Vì Pergamon và những thành phố khác của nó là những cộng đồng giàu có nhất trong miền Đông nói tiếng Hy Lạp, La Mã dễ dàng chấp nhận.

Pergamon trở thành một phần của tỉnh lỵ La Mã ở châu Á, và giờ đây La Mã đã có cổng vào miền Đông. Cổng này hóa ra là

  • Một nguồn của cải tưởng như chỉ có trong cổ tích
  • Nơi một số kẻ thù hùng mạnh nhất của La Mã sẽ xuất hiện
  • Địa điểm tọa lạc Constantinople, một La Mã mới, khoảng 440 năm nữa về sau này
  • Nơi mà vào AD 1453 BC Đế chế La Mã cuối cùng sẽ sụp đổ và tàn rụi.

Nhưng đó là việc chưa đến. Đến giờ này, La Mã đã đương đầu với một số thử thách khốc liệt nhất của mình, nhưng những thử thách khác vẫn còn ở phía chân trời. Không giống như hầu hết những vấn đề trước đây, những thử thách này đến từ bên trong La Mã. 


Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s