Thiếu Tướng Perry vào lãnh địa tướng quân- Phần 2

PHẦN II 

NGƯỜI MAN DI TRỞ LẠI

9645006

 Rhoda Blumberd

Trần Quang Nghĩa dịch

 

9 • CÁC CON TÀU ĐEN TRỞ LẠI

Thiếu tướng Perry đã bảo người Nhật là mình hi vọng sẽ trở lại vào mùa xuân, với một hạm đội lớn hơn. Trong khi đợi thêm tàu, đội tàu của ông neo đậu tại Hong Kong, được coi là “thiên đường của tàu chiến”- nơi nhộn nhịp đàn bà và rượu thịt.

Để duy trì nề nếp, Perry ra lệnh các sĩ quan đều đặn diễn tập binh sĩ dưới quyền, và ông nhấn mạnh rằng thủy thủ đoàn nên tổ chức những tiết mục giải trí lành mạnh trên boong tàu. Các nhạc công trên tàu Mississippi biểu diễn hoà nhạc. Tàu Susquehanna diễn những vũ nhạc kịch có vai giả gái. Các thủy thủ trên tàu Powhata mới đến trình bày tiết mục vũ nhạc Ethiopian Minstrels đang ăn khách ở sân khấu quê nhà.

 Những nghệ sĩ bôi đen mặt khi đóng vai những người da đen vô học, nghèo khổ.)

Shogun đột ngột qua đời 10 ngày sau khi tàu Mỹ rời nước Nhật. Theo yêu cầu của chính quyền Nhật, người Hà Lan thông báo với Perry là quốc tang kéo dài rất lâu, đó đó ông không nên trở lại vào mùa xuân. Thiếu tướng nghi ngờ rằng đám tang chỉ là cái cớ để đình hoãn sự trở lại của ông.

1

Tàu Powhatan

Người Nga vốn đã nghe tin Shogun qua đời nên đánh tiếng là người Nhật sẽ không tiếp người nước ngoài ít nhất trong ba năm tới. Perry sợ rằng người Nga muốn cầm chân ông trong khi chính họ sẽ vội vã đến Edo để ký hiệp ước với Nhật. Sau khi biết rằng một tàu Pháp neo gần Hong Kong đã bất ngờ ra khơi một cách bí mật, Perry quyết định cứ tiến hành theo ý mình, không để người Nga và người Pháp đón đầu. Thay vì đợi mùa xuân và thời tiết thuận lợi, ông lên đường ngay khi tổ chức xong hạm đội mở rộng, đương đầu với biển động và cái lạnh cắt da khiến hải trình mùa đông gặp nhiều nguy hiểm.

Vào ngày 13/2/1854, người Mỹ trở lại Vịnh Edo và neo đậu gần Uraga. Họ có 9 tàu trang bị hùng hậu, với xấp xỉ 1,600 người.

2

Thiếu tướng Perry and  Trung tá Adams

Các viên chức và thông ngôn Nhật lên tàu Powhatan, mà Perry chọn làm tàu chỉ huy trong chuyến đi này. Hàng tuần dài trao đổi nhọc nhằn về vị trí người Mỹ được đổ bộ. Perry, rút lui một mình trong cabin, một lần nữa đóng vai trò của Ngài Bí Ẩn Cao Cả. Trung tá Adams, được chỉ định đại diện ông, phát biểu rằng “Đề đốc” Perry muốn thương thảo một hiệp ước ở Edo. Tuy nhiên, ông được cho biết một hiệp ước quán  đã được dựng lên ở Uraga.

Những cuộc nói chuyện dằng co kéo dài hết ngày này qua ngày khác cho đến khi Thiếu tướng mất hết kiên nhẫn và thông báo là mình dự tính sẽ hành quân đến Hoàng cung. Qua một thông ngôn người Nhật, ông đe dọa sẽ tuyên chiến, và  “trong trường hợp chiến tranh ông sẽ có 50 tàu chiến tiến vào hải phận gần đó và thêm 50 tàu nữa ứng trực ở California, và rằng một khi ông ra lệnh trong vòng 20 ngày sẽ có trong tay 100 tàu chiến đến đây.”

Để giảm bớt căng thẳng, Trung tá Adams mời người Nhật mang vợ của họ lên tàu để khiêu vũ. Phản ứng thật là bất ngờ, và lời mời mọc chắc chắn đã làm thay đổi tâm trạng khẩn trương của họ, bởi vì người Nhật khó nhịn được cười. Thật là một ý tưởng khôi hài! Mang vợ đi khiêu vũ sao? Người Mỹ có các tập tục buồn cười và phi lý thật.

Nhưng nhiều người Nhật không quá thích thú khi họ nghe 21 tiếng đại bác gầm rú chào mừng vào ngày 22/2. Đó là một tiết mục hàm đội chào mừng Sinh nhật của Washington. Dân làng cuống cuồng và chỉ bình tâm trở lại sau khi được cho biết những loạt đạn kia là để vinh danh “Vua nước Mỹ”.

Bù lại, người Mỹ giật mình và chụp lấy vũ khí khi một viên chức Nhật vẫy quạt khép lại, phát ra âm thanh như tiếng súng lục. Họ chỉ thở phào khi viên chức cầm quạt đeo kính lên để đọc văn kiện.

3

Các nhạc công Mỹ được phép lên bãi biển

Trong ba tuần chờ đợi mỏi mòn mỗi ngày có ít nhất 8 thuyền rời các tàu mẹ để đi khảo sát và vẽ bản đồ các thủy triều. Thủy thủ đoàn thay phiên nhau. Mặc dù thời tiết mùa đông khắc nghiệt, thủy thủ rất vui sướng được thay đổi sinh hoạt đơn điệu buồn chán trên tàu. Để giải tỏa buồn chán, Perry ra lệnh tổ chức hòa nhạc thường xuyên. (Ông đã thuê một ông bầu người Ý lo về chất lượng biểu diễn của ban nhạc.) Thủy thủ đoàn được khuyến khích đi câu để giải trí và luôn tiện khám phá những giống loài mới. Thiếu tướng rất quan tâm đến khoa học tự nhiên. Bất cứ khi nào câu được một giống cá lạ, một họa sĩ trên tàu sẽ vẽ nó trước khi quăng vào chảo dầu.

4

Câu cá là thú vui tiêu khiển phổ biến

12 ngày sau khi các Tàu Đen xuất hiện ngoài khơi Uraga, Kayama xuất hiện. Các sĩ quan vui mừng khi gặp lại y. Y đã đóng một vai trò quan trọng trong chuyến viếng thăm đầu tiên, và họ tự hỏi sao phía Nhật không cử y ra tiếp đón lần này. Một số người sợ rằng y đã bị buộc phải hara-ki vì đã quá thân thiết với họ. Tuy nhiên, mặc dù chính quyền Nhật rất bực bội trước thái độ của y đối với người Mỹ, họ cũng triệu y đến lần này vì y làm việc hòa thuận với người Mỹ. Biết đâu y thuyết phục được Perry lên bờ ở Uraga.

Vì cuộc đàm phán vẫn không xuôi chèo mát mái, Perry ra lệnh cho tàu lên đường đến Edo. Kayama nhận chỉ dụ từ cấp trên mà tâm trạng cuống cuồng: “Nếu người Mỹ đổ bộ xuống Edo, đó sẽ là một hành động sỉ nhục quốc thể. Hãy ngăn họ lại và hãy đàm phán tại Kanagawa.” Kanagawa ở gần Yokohama, một làng đánh cá nhỏ vào thời điểm đó. (Ngày nay Kanagawa là một phần của Yokohama.)

Sự bế tắc kết thúc. Hiệp ước Quán được tháo ra và di dời từ Uraga từng miếng một và lắp ráp lại tại địa điểm mới, gần Edo hơn. Perry cho đội tàu bỏ neo tại Vịnh Yokohama trong đội hình chiến đấu, đại bác hạng nặng chế ngự năm dặm bờ biển. Các trung tá Buchanan và Adams được phái đến Kanagawa để khảo sát vị trí của Hiệp ước Quán và hướng dẫn những nhân công bản xứ cách xây dựng cầu tàu thích hợp cho các thuyền của hải quân. 

Tiệc tùng

Vào ngày ⅓, người Mỹ mở tiệc chiêu đãi các viên chức Nhật. Kayama và 9 quan khách khác hưởng thụ trải nghiệm ăn uống những món xa lạ bằng những dụng cụ trông kỳ cục – dao, nĩa, và muỗng. Họ uống rượu anh đào và xâm banh trong những vật chứa bất thường nhất họ chưa hề tận mắt nhìn thấy – ly thủy tinh. Một quan khách chế dầu ô liu đầy ly mình và uống nhiệt tình, tưởng đó là một loại rượu vang. (Tất cả người Mỹ ôm bụng cười thỏa thích! Nhưng cục diện đổi chiều khi vài tuần sau một thủy thủ Mỹ nếm dầu xức tóc Nhật, rồi mua một số ngỡ rằng đó là thứ rượu ngon.)

5

Một thủy thủ nếm dầu xức tóc Nhật

Khách mời bọc thức ăn thừa như thịt gà tây, măng, gừng, bánh ngọt và những món tráng miệng khác trong những tờ giấy mà họ luôn mang theo trong các tay áo rộng thùng thình. Mang về nhà những món ăn thừa từ bữa tiệc là tập tục được nhìn nhận của người Nhật. Nhưng thủy thủ đoàn cho rằng họ thô lỗ và chế giễu “người Nhật mặc váy lụa” bọc thức ăn trong “giấy chùi miệng.” (Giấy lụa đa năng của họ sử dụng như khăn tay, giấy viết tuyệt hảo và giấy gói – tinh tế hơn bất kỳ loại giấy nào sản xuất bên ngoài phương Đông.)

Người Nhật được chiêu đãi thêm nhiều chầu nữa trong khi đợi Hiệp ước Quán được hoàn tất. Để chứng tỏ mình cũng là dân tộc hiếu khách, một người Nhật đề cập rằng sau khi ký xong hiệp ước, thủy thủ đoàn sẽ được các phụ nữ Nhật săn đón. Nhưng y khuyên họ phải cạo râu trước, vì đàn bà Nhật không thích đàn ông râu ria.

Tại một trong những buổi họp mặt này, Kayama được giới thiệu với một thành viên thủy thủ đoàn người Nhật, gọi là Sam Patch. (Không ai biết tên thực của cậu.) Patch đã bị đắm tàu và được một tàu buôn Mỹ giải cứu. Sau khi sống một năm ở California, cậu qua Trung Quốc và gia nhập thủy thủ đoàn tàu Susquehanna. Cậu làm thế nhưng không có ý định về sống trên quê hương đất tổ

6

Có thể là hình vẽ Sam Patch

Khi Patch gặp Kayama cậu rụng rời. Run lên vì sợ hãi, cậu quì xuống, tưởng rằng mình sắp sửa bị kết án và trảm thủ vì đã theo phe với người xa lạ. Trung tá Adams phải hết sức khuyên lơn cậu đứng lên, trấn an giờ cậu là thành viên thủy thủ đoàn Mỹ, cậu sẽ được an toàn không bị hại.

10 • HIỆP ƯỚC QUÁN

Hiệp ước Quán hoàn tất vào ngày 8/3/1854. Từ tàu chỉ huy Perry có thể nhìn thấy ngôi nhà được bao quanh bằng các bức trướng. Điều này khiến ông băn khoăn, và ông nhận ra là việc bao bọc kín mít gợi ra hình ảnh một sân khám đường.

Ông lập tức ra lệnh cho một sĩ quan lên bờ yêu cầu các bức trướng  phải dẹp bỏ. Chúng vội vàng được cuốn lên và lấy đi, trước sự vui thích của thủy thủ đoàn, vốn từng cười cợt vụ pháo đài bằng vải bạt lúc trước. Đúng ra những bức trướng này trưng bày các phù hiệu áo giáp của vị lãnh chúa khu vực và sử dụng để trang trí.

Năm ủy viên Nhật Bản đã có mặt ở Hiệp ước Quán sẵn sàng bước vào cuộc thương thảo. Các đám đông đã khấu đầu quì mọp sát đất để chào mừng các quan chức đến.

Một nhóm samurai y phục sặc sỡ cùng bọn tùy tùng đứng gác tại lối vào Hiệp ước Quán. Đại úy George Preble mô tả trong một bức thư gởi cho bà xã: “Tùy tùng của ông xếp lớn trong y phục lễ tân như đưa ta về các thời đại phong kiến xã xưa. Anh thấy những bộ hạ của một xếp lớn hôm qua mặc áo choàng có sọc lớn trắng đỏ với một miếng lót xanh trên vai trông không khác một phân đoàn quốc kỳ Mỹ biết đi. Những bộ hạ của một xếp khác khoác áo choàng ô vuông xanh trắng, trông như những bàn cờ di động.”

7

Người Mỹ đổ bộ lên Yokohama, ngày 8/3/1854

Khoảng 500 thủy thủ và lính thủy Mỹ cùng ban nhạc của ba tàu cặp bờ trên 27 con thuyền. Perry không dám phó mặc cho may rủi. Tất cả người tham dự, cho dù là quân nhạc, đều trang bị súng lục và kiếm.

8

Bước vào Hiệp ước Quán.

Khi lên bờ, họ xếp thành hai hàng, lính thủy bên trái và thủy thủ bên phải. Các sĩ quan đợi trên cầu tàu để nghênh đón Thiếu tướng rồi hộ tống ông đến Hiệp ước Quán khi quân nhạc chơi bài quốc ca “Ngọn Cờ Sao Sọc”. Tiếng nhạc, các lễ phục tề chỉnh của sĩ quan, cùng cuộc diễu hành nhịp nhàng đã tạo nên một cảnh đầy ấn tượng. Rồi cao điểm buổi lễ bùng nổ khi Perry cho bắn 21 loạt đại bác chào mừng Hoàng đế, tiếp theo 17 loạt đại bác chào mừng các quan chức Nhật. Và để tăng thêm sự long trọng, một lá cờ Tokugawa ba sọc được kéo lên cột buồm chính của tàu chỉ huy U.S.S. Powhatan.

Hiệp ước Quán được làm bằng gỗ thông trắng không sơn và các cửa sổ bằng giấy lụa.  Nó được trang trí bởi các núm tua và cờ đuôi nheo. Dù có những trang trí này, Đại úy Preble cho rằng Quán trông giống một kho chứa than hơn. Có nhiều đền thờ uy nghi lẽ ra nên được sử dụng cho cuộc đón tiếp. Ắt hẳn người Nhật không muốn các tên bạch quỷ làm vấy bẩn chốn thiêng liêng của họ. Và ngoài ra, Thiếu tướng đã nhấn mạnh Hiệp ước Quán phải ở trên đất bằng phẳng và trong tầm bắn của đại bác trên tàu. Ruộng lúa của một nông dân đã được chọn làm địa điểm lịch sử này.

Các viên chức Nhật hộ tống Thiếu tướng Perry, con trai ông, Oliver, Trung tá Adams, và thông ngôn Samuel Williams cùng AntÓn Portman vào trong Quán. Các phái đoàn Mỹ Nhật ngồi trên ghế dài đối mặt nhau. Những chung trà nhỏ, bánh kẹo, và các điếu thuốc hút được chuyền tay nhau.

9

Một bức tranh phác họa của William Speiden, Jr., người giữ sổ sách trên tàu Mississippi, vẽ cảnh phòng họp.

Thông dịch viên trưởng Yenosuke mở đầu cuộc đàm phán. Y cứ cúi đầu, khom mình, và bò tới lui giữa các ủy viên và Thiếu tướng để đàm thoại với họ. Thông dịch viên Williams thấy thái độ lom khom của Yenosuke sao mà “ghê tởm”, và tự hỏi, “. . . con người gì mà không biết tự trọng đến thế?” Ông không biết được là Yenosuke hành xử theo đúng phép tắc lễ nghi của dân tộc mình. Được tôn kính với tư cách một học giả, Yenosuke đã được triệu tập từ Nagasaki, nơi ông đã học nói trôi chảy tiếng Hà Lan. Ông cũng học được võ vẽ tiếng Anh từ những thủy thủ Mỹ đắm tàu bị câu luu ở Nagasaki.

Tiến trình giao tiếp mất rất nhiều thì giờ và khó khăn. Perry nói với thông ngôn Portman để dịch lại tiếng Hà Lan cho Yenosuke rồi người này bò ngang qua phòng để phiên dịch ra tiếng Nhật cho các ủy viên. Sau đó tiến trình đảo ngược xảy ra.

10

Thông dịch viên  Samuel Williams

Thông dịch viên Williams hiện giờ chưa cần đến, vì ông là chuyên gia Hoa ngữ của Perry. Ông đi thơ thẩn ra ngoài Quán và các samurai bao quanh chìa quạt xin thủ bút của ông. Ông viết chữ Tàu mà không viết chữ phương Tây vì người Nhật không thể biết đầu đuôi ký tự La tinh uốn éo. (Chữ viết của ta trông ngoằn ngoèo rối rắm. Còn thư pháp của ho, ngược lại, các thủy thủ ví như dấu chân gà dẫm lên giấy.)

11

Thiếu tướng

Một cuộn văn thư dài được trao cho Perry. Đây hóa ra là thư phúc đáp người Nhật gởi Tổng thống Fillmore. Văn thư, xưng với Thiếu tướng là “Đại sứ”, và gởi đến “Muôn tâu Tổng thống.” Thư xác định rằng thỏa mãn các yêu cầu của người Mỹ là “vi phạm luật lệ của các tiên vương.” Nhưng họ đồng ý cung ứng cho tàu Mỹ than đá, gỗ, nước ngọt, và những vật liệu tiếp tế khác. Văn bản thậm chí đề cập đến việc Nhật cũng muốn mở cửa một cảng – nhưng phải năm năm sau. Nó cũng tuyên bố rằng những thủy thủ đắm tàu sẽ được đổi xử tử tế.

Hayashi, một giáo sư từ Đại học Edo là ủy viên trưởng, bình phẩm rằng chính quyền của mình sẽ không mở cửa buôn bán với nước ngoài. Lần này, Perry không quan tâm tới việc thiết lập mối quan hệ buôn bán. Ông quan tâm hơn đến nỗi thống khổ của những thủy thủ đắm tàu. Ông cảnh cáo rằng nếu những người trôi giạt tiếp tục bị đối xử tàn nhẫn thì kết cục sẽ có chiến tranh. Hayashi tuyên bố rằng thông tin mà Perry nhận được về cách hành xử của chính quyền Nhật đối với tù nhân nước ngoài là sai sự thật. Ông bảo với Thiếu tướng rằng người Mỹ cũng có khi vô nhân đạo. Họ tàn sát hàng ngàn người trên trận địa. Trái lại, người Nhật chưa từng gây chiến trong gần ba thế kỷ nay. Do đó, người Nhật coi trọng mạng sống con người hơn hẳn người Mỹ.

Điều này khiến Perry phải dừng lại suy nghĩ. Có thể vào lúc này ông nhớ lại đã đọc ở đâu đó về những lối tự sát theo nghi thức dường như coi mạng người là rẻ mạt. Cùng với samurai và binh lính, các nhà ái quốc phản đối chính sách nhà nước, các viên chức phạm lỗi, những người không thể trả nợ, sinh viên thi hỏng, và những kẻ yêu nhau mà không được sống cùng nhau cũng được ca tụng khi tự xử.

Mặc dù hành động tự sát đối với ông là ghê tởm, nhưng Perry vẫn ca ngợi hành động tự hi sinh có thể là đáng cười theo quan điểm người Nhật. Vào năm 1853, khi Perry trên đường đến Nhật Bản, ông dừng chân tại Mauritius, một hòn đảo ở Thái Bình Dương gần Madagascar. Ông và các sĩ quan của mình có dịp viếng thăm một điện thờ tưởng niệm một thiếu phụ và người chồng sắp cưới của mình cùng chết theo con tàu chìm vào năm 1744. Người phụ nữ có thể đã cứu được mạng mình nếu chịu cởi bớt quần áo kimono nặng nề đang mặc để lội đến bờ biển gần đấy. Nhưng cô thà chết chứ không chịu hớ hênh, mất tiết hạnh người trinh nữ. Người chồng sắp cưới của cô cũng chọn ở lại, cùng chết với cô. Tiết hạnh, danh dự, tự diệt! Trên đảo Mauritius, những phẩm chất này dường như toát ra vẻ lãng mạn đối với Perry.

Nhưng trong cuộc thương thảo của ông với Ủy viên Hayashi, ngài Thiếu tướng không ở trong tâm trạng muốn đối thoại về những giá trị của mạng sống con người. Thỏa thuận một hiệp ước là ưu tiên nhất trong tâm trí ông. Ông bảo Hayashi rằng nếu việc này không thể hoàn tất, Hoa Kỳ chắc chắn sẽ gởi thêm tàu chiến, nhưng ông hi vọng mọi việc có thể giải quyết được theo phương cách thân hữu.

Perry lưu ý rằng một hiệp ước tương tự với hiệp ước đã ký giữa Mỹ và Trung Quốc sẽ rất thỏa mãn. Hiệp ước này mở ra những cảng và bảo đảm những đặc quyền buôn bán cho người Mỹ. Hiệp ước với Trung Quốc cùng với hai ghi chú từ Thiếu tướng Perry được gởi lại cho các ủy viên nghiên cứu.

11 • QUÀ BIẾU LINH ĐÌNH

Để chinh phục người Nhật, Thiếu tướng trông cậy không chỉ vào sức mạnh của hạm đội mà còn vào thiện chí ông muốn bày tỏ bằng cách trao tặng các chủ nhân đủ loại quà tràn trề. Đích thân Perry đã bỏ ra hàng tháng lựa chọn và đặt hàng trước khi ông rời nước Mỹ.

Trong thời gian chờ văn kiện phiên dịch và nghiên cứu, dường như đây là  thời điểm thích hợp để tặng quà. Đại tá Joel Abbot của tàu S.S. Macedonian có nhiệm vụ tiến hành nghi thức trao quà long trọng. Số quà chất đầy vài thuyền lớn, được chở lên bờ cùng với các con thuyền khác chở sĩ quan, lính thủy giữa tiếng quân nhạc hùng tráng. Một tòa nhà sát bên Hiệp ước Quán được dựng lên để triển lãm quà tặng.

Quà tặng cho Nhật Bản

Các ủy viên tiếp nhận danh sách các món quà và tên những nhân vật được nhận quà. Hoàng đế, Hoàng hậu, và năm ủy viên là những người nhận quà chính. Quà gồm thuyền cứu sinh, sách vở, bản đồ Mỹ, rượu mạnh, rượu vang, đồng hồ, vải vóc, súng trường, kiếm, súng lục, tranh ảnh, dầu thơm, túi vải đựng thư, khoai tây, hạt giống, và hàng loạt nông cụ.

12

Đại tá Joel Abbott

Nông cụ thu hút đám đông nông dân. Những nhân vật quan trọng được mời sử dụng thử. Khi máy mài dao được lắp đặt, một vài samourai lấy ra đoản kiếm mài thử. Một lính Mỹ minh họa cách sử dụng thang xếp và biểu diễn thao tác tỉa cành bằng cưa tỉa cán dài. Một máy tưới cây quá ngộ khiến vài người Nhật thích thú phun tưới dầm dề ngọn cây. Rồi họ xịt nước ướt đẫm vào đám đông khiến họ giạt ra, cười khoái trá. Mọi người đều lấy làm vui thích.

Vòi nước và thang gấp đặc biệt quan trong đối với người cứu hỏa. Tại vùng đất mà tường nhà làm bằng gỗ, cửa sổ bằng giấy, và mái lợp tranh, hoả hoạn là điều thường xảy ra. Cái tên thi vị “Những đoá hoa Edo” chỉ những đám lửa “nở rộ” về đêm, làm sáng lên những khu vực trong thành phố lớn.

Nửa dặm dây điện tín được giăng từ Hiệp ước Quán đến một ngôi nhà gần đó. Một đại úy lắp đặt theo sự chỉ dẫn của nhà chế tạo Samuel Morse. Dân chúng đứng xếp hàng dài chờ đến lượt mình gởi thông điệp. Một số người không tin chạy nước rút từ đầu này đến đầu kia , và kinh ngạc khi thấy tin nhắn mà mình gởi đi nhanh hơn cả bước chạy của mình.

13

Điện tín được người Mỹ mang đến

Một đường sắt tí hon là điểm nhấn của cuộc triển lãm. Nó gồm một động cơ loại đồ chơi, dây trân, và các toa hành khách được thiết kế để chạy được 350 bộ quanh một đường ray tròn. Toa quá nhỏ đến nỗi hành khách phải ngồi chễm chệ trên nóc toa để lái đi. Các samurai thay phiên nhau đi vòng vòng với tốc độ 20 dặm một giờ, tà áo rộng của họ bay phấp phới trong gió khi họ bám chặt mái toa. Họ cười khoái trá như đang lượn trên một tàu lượn.

Y phục Mỹ là một nguồn mê hoặc khác. Người Nhật đi theo đuôi các thủy thủ và sĩ quan để nhìn cho kỹ các quân phục kỳ lạ của họ. Nhiều người không nén được tò mò phải lấy tay sờ mó. Các quân nhân cho phép rờ rẫm nón, áo jacket, quần, và giày. Một số thậm chí đút tay vào túi, khiến người Mỹ thích thú. Các nút áo đặc biệt thu hút họ, bởi vì người Nhật chỉ dùng dây để buộc quần áo. Sưu tập nút trở thành một trò tiêu khiển mới, và dân chúng vui vẻ đổi thức ăn và đồ trang trí rẻ tiền lấy vật lưu niệm quí giá.

Việc triển lãm các quà tặng mang đến không khí vui tươi như một hội chợ vùng quê. Các thủy thủ và samurai có những thời khắc vui vẻ bên nhau mặc dù có nhiều do thám rình mò theo dõi xem có dân bản xứ nào thân thiện thái quá với người lạ.

1314

Tàu hoả có kích cỡ như đồ chơi, như trong hình vẽ phía trên. Bên dưới là bức vẽ của Hiroshige III, sau đó trở thành vật lưu niệm phổ biến  sau khi người Mỹ rút đi.

Quà gởi đến Hoàng đế và Hoàng hậu được chở đến Edo và do vị Shogun mới cất giữ. Hậu duệ của Thái dương Thần nữ không hề nhận kính viễn vọng, máy hơi nước, và thiết bị điện tín tặng cho mình. Xà bông, dầu thơm, và những y phục thêu cho  Hoàng hậu cũng chưa hề được gởi đến Hoàng cung ở Kyoto.

Quà tặng cho người Mỹ

Nguời Nhật đáp lễ bằng cách mời Thiếu tướng và các sĩ quan nhận quà của Hoàng đế. Những món quà được chất trên bàn, ghế dài, và thậm chí trên sàn của Hiệp ước Quán. Hayasi đọc lớn, bằng tiếng Nhật, danh sách những quà tặng và tên những người được tặng. Những lời nói của ông được dịch sang tiếng Hà Lan, rồi tiếng Anh.

Đó là những giấy lụa cuộn, hộp và khay sơn mài, bộ ấm trà bằng sứ, giá đựng đũa, lụa, quần áo, búp bê, những hủ tương, kiếm, dù, và hàng trăm những vỏ sò hiếm có. Ba con chó thuộc giống spaniel, chỉ hoàng đế và tướng quân được phép nuôi, được tặng cho Thiếu tướng và Tổng thống. Nhiều người Mỹ, kể cả Thiếu tướng, đều bất mãn về chất lượng của các tặng vật. “Một sưu tập nghèo nàn, có giá trị không hơn 1,000 đô, một số nghĩ như vậy,” Đại úy Preble ghi trong nhật ký. Người Mỹ coi rẻ những vải lụa dệt sắc sảo, đồ sơn mài nghệ thuật, đồ sứ nhẹ tinh tế, và những thanh gươm sắc, tinh xảo không đâu so sánh được. Đúng ra, vì ông là người của khoa học tự nhiên, nên Perry ấn tượng nhất với những vỏ ốc biển.

Sau khi duyệt qua những món quà được trưng bày, người Mỹ được mời ra ngoài để xem món quà rất đặc biệt của Hoàng đế dành cho toàn hạm đội – 200 bao gạo, mỗi bao nặng từ 100 đến 150 cân. Ngồi quanh đống bao gạo này, họ trố mắt nhìn một đám rước chừng 50 võ sĩ sumo kềnh càng, những người khổng lồ béo ú không thể tin được. Người Mỹ chưa hề trông thấy những người nhiều thịt mỡ và to lớn như những vận động viên này. Các võ sĩ sumo được nuôi bằng một chế độ dinh dưỡng đặc biệt sao cho mỗi người phải cân nặng từ 250 đến 400 cân. Đại úy Preble thấy sốc vì “họ gần như trần truồng chỉ mặc một cái khố lụa căng quanh hạ bộ để lộ ra những gì người rụt rè sẽ không dám phơi bày.”

15

Chân dung hai đô vật do Shunsho vẽ

Đô vật Sumo là (và còn là) các ngôi sao thể thao của Nhật Bản. Họ là những con cưng được nuông chiều của các lãnh chúa, dùng để mua vui cho họ và thỉnh thoảng trình diễn trước công chúng trong những dịp lễ. Họ đã được đưa xuống từ Edo nhân sự kiện này. Một đô vật tên Koyanagi, biệt danh “ông kẹ thủ đô”, được các ủy viên giới thiệu với Perry. Họ thúc giục ông thử bóp lấy cơ bắp cuồn cuộn của nhà sumo vô địch và hãy đấm hết sức vào bụng y. Ông nắm chặt cánh tay to sầm, rồi rờ rẫm cổ và ghi nhận cổ có nếp như cổ một con bò hạng nhất. Các sĩ quan cũng đua nhau xem xét, và khi họ thốt ra những lời tán thán kinh ngạc, ông đáp lại bằng tiếng làu bàu đồng thuận.

16

Các lính thủy xem xét một sumo vào ngày 24/3/1854

Sau cái ra hiệu, mỗi sumo giật lấy hai bao gạo và nâng chúng khỏi đầu một cách nhẹ nhàng. Một người dùng răng nâng một bao. Một người khác ôm bao gạo và lộn mèo. Các đô vật này mang gạo đến bờ nước. Sau đó các thủy thủ, hổn hển và hồng hộc, nâng chúng và ném vào thuyền.

17

Các đô vật Sumo mang dễ dàng các bao gạo nặng 150 cân.

Sau đó người Mỹ được hộ tống đến phía sau Hiệp ước Quán để theo dõi các trận đấu giữa các sumo. Khi các võ sĩ ôm nhau quần thảo, khán giả Mỹ được phục vụ bữa ăn gồm trứng, tôm, tôm hùm, hàu, và nước canh mà Preble nghi là “một bát cá sống hoặc súp rắn.” (Preble cũng cho rằng uống sake thật “đáng ghét”. Dù sao, “bắt chước tập tục của xứ Nhật,” viên đại úy cũng gói phần dư đem về.)

12 • BUỔI ĐẠI TIỆC

Trước khi trở về tàu Thiếu tướng mời các ủy viên và đoàn tùy tùng ăn chiều trên tàu Powhatan.

Trước tiên người Nhật thăm tàu Macedonian và được dẫn đi khắp tàu. Một lần nữa, óc tò mò mạnh mẽ của họ làm thủy thủ đoàn thích thú, vì họ xem xét từng li con tàu và thậm chí đút đầu vào nòng đại bác. Các thủy thủ tiến hành diễn tập chữa cháy tạt nhiều xô nước và bơm nước phun vào các ngọn lửa tưởng tượng. Các thủy thủ cũng làm quan khách thích thú bằng cách khai hỏa và chuẩn bị cập sát tàu địch và tổ chức đẩy lùi trận tấn công. Cuộc biểu dương lực lượng này người Nhật không hiểu ý đồ của người Mỹ lắm vì trước ngày này rất lâu phần đông người đã cho rằng một hiệp ước với người Mỹ là cơ hội sống còn duy nhất của họ trong hòa bình.

Khi leo lên tàu Powhatan họ được dẫn đi xem phòng máy đồ sộ của con tàu chạy bằng hơi nước trước khi mời nhập tiệc. Vì lễ nghi người Nhật không cho phép các ủy viên ngồi cùng bàn với các bộ hạ của họ, nên Thiếu tướng sắp xếp hai bàn tiệc: một tiệc trong cabin của ông cho các quan lớn, một tiệc trên boong cho các tùy tùng.

Một lần nữa Thiếu tướng biểu diễn một xô mới. Ông tin rằng ngoại giao qua dạ dày cũng rất quan trọng, do đó một bếp trưởng người Pháp là thành phần tinh túy trong ban nhân viên của ông. Perry viết, “Tôi không sợ tốn kém khi cung ứng hào phóng nhất, mong muốn cho họ thấy người Mỹ hiếu khách như thế nào so sánh với khẩu phần súp cá của họ. Người đầu bếp Paris của tôi đã vất vả một tuần lễ, suốt ngày đêm để chuẩn bị bữa tiệc. Thực đơn bao gồm súp, cá, thịt bò, gà, rau củ trộn giấm, bánh ngọt, và trái cây. Mỗi ủy viên được tặng một ổ bánh kem trang trí cờ hiệu và phù hiệu áo giáp của lãnh chúa họ.

18

 Đại tiệc trên boong tàu

Nhiều loại rượu mạnh và rượu vang được nâng ly chúc tụng Thiếu tướng, các ủy viên, Tổng thống, cạn ly lại rót đầy, lần này chúc tụng phái đẹp của Nhật và Mỹ. Được chỉ thị phải khuyến khích khách ăn uống thả ga, Preble không ngừng châm thêm rượu vang, rượu mạnh cho bọn tùy tùng Nhật trên boong. Khi rượu đã hết, ông “rót cho chúng một hỗn hợp nước sốt cà chua và dấm, và họ hình như cũng thưởng thức ngon lành không kém.”

Khi ban nhạc chơi, một vài người bắt đầu lúc lắc và khiêu vũ, và để cổ vũ họ góp vui, người Mỹ mời họ nhảy chung. Thật là một cảnh tượng náo nhiệt! Các samurai tóc hói và các bác sĩ, các kế toán viên, các đại úy và trung tá tất cả đều nhảy lên nhảy xuống theo nhịp điệu. Ở một góc boong tàu, một samurai già đang học nhảy điệu polka từ một thủy thủ. 

Mỗi thực khách được khuyến khích mang về nhà phần thức ăn dư. Ngoài những mẫu bánh ngọt, thịt bò, và gà quay, một ông bạn còn trút cả muối tiêu và đường vào một khăn giấy đã được gấp thành một một bao đựng khéo léo.

Sau bữa ăn chiều các ủy viên tụ tập với những người khác trên boong. Tất cả người Nhật được mời ngồi vào dãy ghế đầu để xem nhạc kịch cây nhà lá vườn. Họ chẳng hiểu gì về lời ca, đối thoại, nhưng tiếng nhạc banjo, tiếng trống, và những điệu nhảy tưng bừng, hoang dã cũng làm họ vô cùng vui thích.

Khi đã đến lúc ra về một ủy viên vốn đã khá xỉn lè nhè tuyên bố, “Nhật và Mỹ, chung một tấm lòng.” Ông ta ôm ghì lấy Thiếu tướng chặt đến nỗi một cầu vai ông bị lệch đi. Perry không để ý đến cái ôm ghì thân tình. “Ồ,” ông nói với các sĩ quan, “chỉ cần họ chịu ký hiệp ước, là họ muốn hôn tôi cũng được.”

13 • HIỆP ƯỚC

Thủy thủ đoàn bực bội và buồn chán trong thời gian chờ đợi hiệp ước được ký. Nhiều người bất mãn vì Miền Đất Mặt Trời Mọc chả lấp lánh tài nguyên quí giá gì cả. Nhưng rồi họ mừng hớn hở khi một báo cáo đến từ tàu buồm của Saratoga. Đầu bếp phát hiện vàng trong dạ dày các con vịt được làm thịt cho bữa ăn chiều. Một cục vàng to bằng hạt đậu. Một miền đất mà vịt được nuôi bằng vàng! Thật là một viễn cảnh hơn cả tuyệt vời cho những kẻ đi săn của cải! Nhật Bản có thể là một đảo kho báu, biết đâu. Nhưng giấc mơ giàu sang sớm tàn rụi. Thủ quỹ tàu Saratoga đem cục kim loại đi thử, hóa ra chỉ là đồng.

Vào ngày 31/3, một ngày sau tin vịt đẻ trứng vàng, Perry nhận được kho báu lớn nhất của mình – một hiệp ước với Nhật Bản. Thiếu tướng đi đến Hiệp ước Quán để nhận Hiệp ước Kanagawa thảo thành bốn ngôn ngữ: Anh, Hà Lan, Nhật, và Trung. Nó tán thành:

  • Một nền hòa bình và thân hữu giữa Hoa Kỳ và Đế quốc Nhật Bản.
  • Mở hai cảng cho các tàu Mỹ: Shinoda và Hakodate.
  • Trợ giúp bất kỳ tàu Mỹ nào bị đắm trên bờ biển Nhật và bảo vệ những người bị đắm tàu.
  • Bảo đảm những người đắm tàu và các công dân Mỹ khác sẽ không bị giam cầm và kiềm chế như đối với người Hà Lan ở Nagasaki.
  • Các lãnh sự hoặc đặc sứ Hoa Kỳ sẽ được phép cư ngụ ở Shinoda “miễn là một trong hai chính quyền thấy điều đó là cần thiết.”
  • Các nhân viên Nhật sẽ cung cấp tàu than đá, nước ngọt và những đồ tiếp tế cần thiết khác.
  • Điều khoản tối huệ quốc: Hoa Kỳ sẽ nhận được mọi đặc quyền mà những quốc gia khác có thể nhận được trong tương lai.
  • Hiệp ước “phải được phê chuẩn và ưng thuận bởi Tổng thống Hoa Kỳ, bởi và với sự cố vấn của Thượng viện Hoa Kỳ và của Vương quốc Nhật, và sự phê chuẩn sẽ được trao đổi trong vòng 18 tháng. . . hoặc sớm hơn.”

Hiệp ước là kết quả những tuần lễ đàm phán vất vả. Sau khi người Nhật nhượng bộ các cảng Shinoda và Hakodate, họ hi vọng có thể hạn chế người Mỹ trong phạm vi những làng này. Rồi họ đồng ý cho phép người Mỹ đi lại trong vòng 7 rỉ (khoảng 17 dặm) từ trung tâm thị trấn).

Viễn ảnh lãnh sự Mỹ được sống ở Nhật là một vấn đề khác cần tranh cải. Perry kiên quyết rằng các lãnh sự phải được chấp nhận – trừ khi người Nhật muốn tàu chiến Mỹ neo đậu vĩnh viễn tại cảng của họ. Thiếu tướng cuối cùng ra điều kiện rằng chỉ duy nhất một lãnh sự được phái đến để cư trú tại Shimoda, nhưng chỉ sau 18 tháng nữa.

Các ủy viên Nhật cảm thấy rằng mình “đã mất mặt” và tự lừa dối mình là mình chẳng nhượng bộ điều gì quan trọng. Họ không chỉ tên bất kỳ hai cảng trọng yếu nào: Shimoda và Hakodate chỉ là những ngôi làng rất xa các thành phố quan trọng Osaka và Edo. Họ đã ngăn không cho Perry đến Edo. Họ đã che chắn Shogun và Hoàng đế. Họ đã duy trì hòa bình. Viễn cảnh có một lãnh sự đến từ Hoa Kỳ hình như không chắc chắn, bởi vì mặc dù hiệp ước bản tiếng Mỹ nêu rằng nếu một trong hai chính phủ “thấy cần thiết việc sắp xếp như thế là cần thiết,” thì bản tiếng Nhật lại nói rằng cả chính phủ Nhật và Mỹ phải “thấy việc sắp xếp đó là không thể tránh khỏi.” (Hai năm sau khi lãnh sự Townsend Harris đến Shimoda, các giới có thẩm quyền bảo ông phải rời đi. Họ khiếp đảm khi ông thiết lập lãnh sự quán mà không cần sự đồng ý của Shogun.)

Perry bằng lòng với hiệp ước, bởi vì mặc dù không phải là hiệp ước giao thương, nó bảo đảm sẽ bảo vệ những người trôi giạt khi đắm tàu, và nó chỉ định hai cảng sẽ cung cấp đồ tiếp viện cho các tàu săn cá voi, tàu chiến và thương thuyền Hoa Kỳ. Ông đã đặt một chân vào khung cửa và trong tương lai sẽ không khó để mở ra lối đi thênh thang vào xứ sở khép kín này. Đế quốc Nhật Bản cô lập sớm muộn gì cũng gia nhập vào hàng ngũ các quốc gia trên thế giới.

Vào ngày 31/3/1854, hiệp ước được ký kết giữa một bên là Thiếu tướng đại diện cho chính phủ Hoa Kỳ và bên kia là bốn ủy viên nhân danh Hoàng đế. Cuối cùng Hoàng đế cũng nhận được một bản sao, với những đảm bảo không chân thực từ các đặc sứ của Shogun rằng văn kiện này không có gì quan trọng.

Sau lễ ký, Perry trao cho trưởng ủy viên một quốc kỳ Mỹ “để làm minh chứng cho thiện ý không bao giờ chống đối lại đất nước các bạn.” Sau đó người Nhật khoản đãi người Mỹ một bữa tiệc.

Tiệc chiêu đãi của người Nhật

Mọi người ngồi lại tiệc tùng, thực đơn gồm cháo cá, các món tôm hùm đất, tôm, cá chiên, rong biển, các loại bánh ngọt va vô số cốc rượu sake, rất cần để cụng ly. Thức ăn được nấu nướng và trình bày rất nghệ thuật, nhưng thức ăn không hợp với khẩu vị người Mỹ. Chuẩn úy Edward McCauley tuyên bố là mình không sao nếm được “mùi mèo, chó, chuột, và rắn.” Perry, lịch sự hơn trong nhận xét của mình, viết rằng buổi tiệc “để lại một ấn tượng không thỏa đáng về kỹ năng nấu nướng của họ.”

19

Bức phác họa của Hideki về buổi chiêu đãi của người Nhật

Tuy nhiên, người Mỹ ngạc nhiên trước lịch sự và cung cách lễ phép của chủ nhà và để làm vui lòng họ, nhiều người cũng bắt chước tập quán của họ gói đồ ăn thừa mang về tàu.

Người Nhật thì khiếp đảm trước cung cách ăn uống người Mỹ, mà họ gọi là”gớm ghiếc”. Các thực khách quá tự nhiên, nói năng ồn ào, và cung cách ăn uống vụng về. (Họ không thể cầm đũa.) Nhưng buổi chiêu đãi cũng vui nhộn, và mọi người đều rất thân tình.

Thật là điều đáng kể khi nhân dân trên miền đất của vị Shogun có thể quá dễ thương và hiếu khách với những vị khách không mời từ các Tàu Đen và khi người Mỹ có thể vượt qua thành kiến thù địch với một dân tộc “khác lạ” và vui vẻ khi ở bên họ.

20

Bức vẽ của Hideki đã hoàn tất

14 • DẠO CHƠI TRÊN ĐẤT VÀ BIỂN

Sau khi thỏa ước được ký kết, Thiếu tướng và các thành viên ban tham mưu được mời đi thăm thú những làng gần đấy. Perry bực mình khi biết rằng trước khi ông đến gần một ngôi làng nào, đường xá ở đó đều trống trơn vì dân làng, nhất là phụ nữ, đều được lệnh phải vào nhà và khoá chặt cửa. Khi ông bày tỏ sự bất mãn, Yenosuke, người hộ tống và thông ngôn của ông, xin lỗi, nói rằng các phụ nữ rất e thẹn khi nhìn thấy người lạ. Perry không muốn tin như thế. Sau đó Yenosuke hứa đến làng sau các phụ nữ trong làng sẽ không được lệnh phải tránh mặt người lạ. Sau đó, các đám đông kế cả phụ nữ đều tràn ra đường, vui mừng vì được nhìn chằm chằm vào những người Mỹ trông ngộ nghĩnh.

Perry và tùy tùng được đón tiếp tại nhà của một trưởng làng, tại đó họ được phục vụ trà, bánh, và sake. Các phụ nữ chân trần mặc thứ gì đó mà Thiếu tướng ngỡ là trông giống quần áo ngủ hơn là y phục tiếp khách. Các phụ nữ ngồi trên gối suốt buổi tiếp, lần lượt bò từ người này đến người khác , cúi chào sát đất rồi châm trà dâng bánh. Perry ấn tượng trước cung cách ân cần, hiếu khách, nhưng ông không trân trọng mấy những nụ cười của họ. Răng và lợi của các thiếu nữ đều nhuộm đen, một tập tục đã là thời trang trong hơn ngàn năm qua. Không chỉ phụ nữ đã có chồng mà các cung nữ cũng nhuộm răng đen để được đẹp. Các thủy thủ gọi các thiếu nữ răng đen này là “bình mực biết đi.”

Những thành viên Mỹ khác được cho phép đi dạo quanh Yokohama. Thông ngôn Williams đồng hành với người bạn thân Tiến sĩ James Morrow, “nhà nông học” chính thức trong chuyến đi của Perry. Hai người lang thang qua vùng quê thu thập hoa lá và cây cỏ. Họ cũng đi dọc theo bờ biển tìm những sinh vật có vỏ và rong biển. Khi Williams bắt gặp một ngư phủ gần như trần truồng đang đào bắt trai sò, ông bị sốc trước tấm thân gần như trần truồng của y và tuyên bố những kẻ vô thần này cần “một phúc âm của sự thuần khiết và tình yêu.”

Một vài thủy thủ dạo chơi trên bờ biển dùng sơn trắng viết ngoằn ngoèo tên mình lên tảng đá. Những chữ viết gây rối loạn khi được phát hiện. Người Nhật không hiểu các ký tự lạ lẫm có nghĩa là gì. Một người, tự cho mình học giả, tuyên bố chữ viết đó là một bài thơ ca tụng thiên nhiên viết bằng chữ tượng hình Trung Hoa.

 Một cuộc hải hành nhân ngày sinh nhật

Trong Năm Dần Thứ Nhất (1854) vào sinh nhật thứ 60 (10 tháng 4), Thiếu tướng Perry quyết định đi gần Edo ở độ sâu vùng nước cho phép. Tàu hơi nước Powhatan và Mississippi lên đường. Các thông ngôn Nhật đang ở trên tàu để nói lời tạm biệt thấy vậy bổng thất kinh. Họ cầu xin Perry đừng tiến gần kinh đô. Các Tàu Đen sẽ tạo ra một cơn hỗn loạn ở Edo, và kết quả là các thông ngôn và ủy viên sẽ bị sỉ nhục. Tất cả bọn họ sẽ buộc phải hành xử hara-kiri.

Khi tàu cứ nhả khói tiến lên, Yenosuke kêu lớn lên rằng khi phát đạn đại bác dự kiến bắn chào mừng ngoài khơi Edo y sẽ lao mình vào họng súng. Một thông ngôn khác trao áo choàng và thanh gươm của mình cho một thủy thủ, nói rằng mình không còn cần dùng đến chúng nữa. Với tư thế chững chạc, y chuẩn bị mổ bụng bằng đoản kiếm của mình. Y sẽ thực hiện hara-kiri ngay lúc neo được thả.

Perry đành phải cho tàu quay lại, vì “mặc dù phần nào hoài nghi về sự cần thiết của việc họ hành xử hara-kiri,” ông viết, “tôi nghĩ cách tốt hơn là không nên tiến hành.” Các tàu đi gần Edo, và với một viễn vọng kính Perry có thể trông thấy các mái nhà và và các “đồn lũy vải bạt”. Các thông ngôn Nhật nhẹ nhõm cả người và có thể thưởng thức bữa ăn trưa trong cabin của Thiếu tướng.

Mặc dù ông chưa hề bước vào Edo, Perry thỏa mãn với cuộc dạo chơi trên biển của mình. Ông kết luận rằng “thành phố Edo có thể bị phá hủy bởi một một ít tàu hơi nước với phân đội nhỏ, và chở các đại bác loại nặng nhất.” Đó là một sinh nhật hạnh phúc, vì không có hara-kiri làm hư hỏng tiệc vui.

15 • ĐƯỢC PHÉP LÊN BỜ

Tám ngày sau chuyến đi đến Edo Thiếu tướng quyết định ghé thăm Shimoda và Hakodate, những cảng được ghi trong hiệp ước.

Shimoda

Làng đánh cá Shimoda bị cô lập với phần còn lại của xứ bởi những ngọn núi lởm chởm. Theo quan điểm của người Nhật Shimoda là một cảng hoàn hảo cho ngoại bang, chỉ vì nó hẻo lánh. Nó toạ lạc ngay mũi của bán đảo Izu dài 50 dặm. Có thời các nhà cai trị Nhật chọn Izu làm nơi lưu đày những người chống đối.

Cho dù Shimoda bị kẹp giữa  các ngọn núi, Perry hài lòng vì cảng có đủ chỗ cho nhiều con tàu. Thiếu tướng ngất ngây trước vẻ đẹp của nó và rất ấn tượng trước sự sạch sẽ của đường làng. Làng có hệ thống cống rãnh. Phần đông các thành phố Tây phương vào thời gian đó vẫn chưa có đủ các hệ thống xả thải vệ sinh. “Shimoda cho thấy một trình độ văn minh tiên tiến,” Perry viết, “vượt hơn hẳn mức tiến bộ mà chúng ta thường khoe khoang về phương diện vệ sinh và sức khỏe.”

Thiếu tướng và sĩ quan được bố trí ở trong một ngôi chùa với bàn, ghế,và nệm mang từ tàu xuống. Những thủy thủ, chiếm một đền thờ gần đây, ngồi và ngủ trên chiếu lót sàn sạch sẽ mới tinh được các người phục dịch trải ra.

21

Đổ bộ ở Shimoda, ngày 8/6/1854

Mọi người mong ngóng được đi ngoạn cảnh vùng cảng xa lạ này, nhưng dân làng khiếp đảm. Họ sợ những người lạ mũi cao. Một số gia đình sợ quá trốn trên tầng chóp của nhà kho. Những người khác canh chừng gia súc vì họ nghe nói người Mỹ ăn thịt bò. (Trước thập niên 1870 người Nhật chỉ sử dụng gia súc để làm công việc đồng áng; không hề dùng làm thực phẩm.) Đường xá vắng tanh, cửa hiệu đóng kín, và bọn do thám đi theo nhóm người từ lúc bước xuống các Tàu Đen.

Thiếu tướng phàn nàn với các viên chức. Sau đó, dân chúng mới ùa ra đường, tiệm mở cửa, và các gia đình phấn khích tiếp xúc với người lạ. Một số phụ nữ, đã thắng được nỗi ghét sợ râu ria và tóc quăn, đã đồng hành cùng các thủy thủ.

22

Khu vực đền thờ ở Shimoda

Người Mỹ nhanh chóng trở thành những đối tượng của sự tò mò thân hữu. Dân chúng trên đường làng không ngại mân mê nút áo, quân phục, và vũ khí. Các thủy thủ đã quen với sự tò mò không chán chê và khoái trá về sự thân thiện này. Đại úy Preble gây sự náo nhiệt và làm dân làng thảng thốt khi biểu diễn màn gỡ ra và lắp lại hàm răng giả của mình.

Thăm nhà tắm công cộng là một tiết mục hấp dẫn. Người Mỹ há hốc trước cảnh đàn ông và đàn bà tắm chung với nhau “trong một trạng thái khoả thân hoàn toàn, không có cho dù một lá nho che của Adam và mọi người tự kỳ cọ cơ thể kỹ lưỡng không để ý gì đến người khác.” Perry bị sốc khi họ dửng dưng trước sự khoả thân của mình. Người Nhật thích thú và không hiểu tại sao một nhà tắm công cộng lại có thể gây hứng thú cho khách lạ đến như thế.

Trưởng làng Shimoda sắp xếp một buổi chợ thường lệ để người Mỹ có thể tùy nghi mua sắm đồ lưu niệm. Preble không ngớt kêu ca vì Thiếu tướng và các sĩ quan của ông đã chọn lấy các món tốt nhất.

Một số thủy thủ trở nên say xỉn nên gây mất trật tự. Hai tên kéo phăng nút đậy thùng rượu sake, làm rượu chảy lênh láng trên sàn tiệm, rồi xô xát với chủ quán. Thiếu tướng giận dữ, và các tên vi phạm bị đưa về tàu nhốt.

Người dân Shimoda vẽ nhiều phác họa về người ngoại quốc. Kết quả là chúng ta thu được nhiều minh hoạ mô tả các hành vi của thủy thủ – tốt cũng như xấu. Người Mỹ chụp ảnh các phụ nữ Nhật. (Các viên chức thị trấn cho phép các cô geisha đứng chụp.) Dân làng bị hớp hồn. Họ chưa hề trông thấy một máy chụp ảnh trước đây, và họ gọi những tấm ảnh là “các tấm gương mà thuật.” Tuy vậy, một số người mê tín khăng khăng cho rằng máy ảnh là một “hộp sát nhân” dùng để tóm lấy hình ảnh một người để hủy diệt người đó. Họ thúc giục mọi người nên tránh xa trang thiết bị nguy hiểm đó.

Một hôm người Mỹ trông thấy hai tù nhân Nhật bị nhốt trong một chiếc cũi nhỏ, giải qua đường phố Shimoda. (Yoshida Shoin, nhà cách mạng nổi tiếng được đề cập trong chương 8, và một người cấp tiến khác có tên Kanedo, chính là những tù nhân trong cũi này.) Họ cố gắng đào thoát sang Hoa Kỳ. Họ đã chèo ra đến tàu Mississippi và xin duoc chở về Mỹ. Thiếu tướng từ chối vì những người này không được phép của của chính quyền họ. Ông không muốn đánh liều khi làm thịnh nộ các viên chức đã cuối cùng chịu hợp tác với ông, nhưng Perry cũng rụng rời trước nỗi thống khổ của họ. Họ sau đó bị mang về giam cầm ở Edo.

Nhà thực vật học Morrow và người bạn thân, thông ngôn Williams, lợi dụng tối đa phép được ra ngoài thị trấn. Mỗi ngày họ đi lang thang vào vùng đồi, sưu tập cây cỏ, thăm các lò rèn, xem xét việc ươm tằm quay tơ, và trò chuyện với nông dân. Họ thán phục trước hệ thống dẫn thủy nhập điền tiên tiến, và họ trao đổi hạt giống Mỹ với hạt giống Nhật để mang về Mỹ.

Hakodate

Hakodate là một tiền đồn xa xôi ở Hokkaido, cực bắc của bốn hòn đảo lớn của Nhật. Đó là một nơi hoang vu, dân cư thưa thớt, chỉ có giá trị đối với các tàu săn cá voi. Theo hiệp ước họ có thể đến đây khi cần được tiếp tế hoặc bỏ neo để tu bổ tàu hoặc nghỉ dưỡng.

Ngay khi người Mỹ đổ bộ kẻng báo động vang lên và cảnh sát cầm roi đuổi dân làng vào nhà. Vị lãnh chúa khu vực thậm chí cấm dân chúng nhìn vào các Tàu Đen và người Mỹ được lệnh phải ra đi ngay.

Thiếu tướng trình ra một bản sao Hiệp ước Kanagawa cho các viên chức. Họ tuyên bố mình không biết gì về thỏa ước. Họ không nói lên sự thật, vì lãnh chúa của họ đã được các đặc sứ của Shogun bảo chờ đợi người Mỹ đến. Họ cũng được cảnh báo rằng người Mỹ thích rượu mạnh và phụ nữ, và có thể gây chuyện.

Với sự giúp đỡ của 70 bộ hạ của lãnh chúa, phụ nữ và trẻ em được chở ra khỏi Hakodate và đến ở tạm nhà người thân và bạn bè trong vùng núi. Phụ nữ ở lại nhà được lệnh phải trốn sau những cảnh cửa khóa kín. Các chỉ thị của chính quyền còn dặn kỹ là phải dán kín những kẻ hở trong nhà để bọn thủy thủ không thể nhìn trộm. (Đại úy Preble nhận xét có những lỗ nhỏ khoét ra trên cửa sổ giấy, ắt hẳn là do phụ nữ làm ra vì tò mò muốn nhìn trộm người lạ.) Ngoài ra, còn có lệnh giấu rượu sake và đóng các cửa tiệm.

23

Phòng họp ở Hakodate

Thêm một lần nữa, Thiếu tướng kêu ca, và các viên chức đành phải cho lệnh mở cửa tiệm và cho đàn ông ra ngoài giao lưu thiện chí. Tuy nhiên, không phụ nữ nào được phép trà trộn với người Mỹ.

Mặc dù vắng mặt phụ nữ, các ông cũng trải qua một thời gian hứng thú. Đi săn cũng vui và câu cá thì tuyệt vời. Người Nhật một phen buôn bán nhộn nhịp khi người nước ngoài ken cứng cửa hiệu để mua lụa kẻ sọc ca rô, bình hoa, đồ lưu niệm đủ loại. Một số thủy còn mang chó và mèo về tàu.

Các nhà buôn bị sốc vì người Mỹ để nguyên giày ống bước vào tiệm và nói chuyện ồn ào. “Đi vào tiệm mua đồ kiểu đó không phải cung cách samurai.”

Sau khi đã khảo sát cảng xong Perry chiêu đãi các viên chức của lãnh chúa một bữa cơm tối và một buổi vũ nhạc kịch trên tàu. Quan khách dường như thích thú, và Perry hài lòng vì đã để lại một ấn tượng tốt đẹp.

Người của lãnh chúa tặng Thiếu tướng một món quà chia tay là một khối granit cho Đài Kỷ Niệm Washington. Họ muốn vinh danh tên tuổi của “vị vua” Mỹ duy nhất mà họ từng nghe nói.

16 • SAU CHUYẾN ĐI CỦA CÁC TÀU ĐEN

Tình cờ, trong khi Perry còn ở Nhật một tàu săn cá voi Mỹ neo đậu gần hạm đội ông. Tàu của Eliza F. Mason đến Hakodate vào tháng 5 1854, 21 tháng sau khi rời New Bedford, Massachusetts. Ông có lẽ không hề dám đổ bộ, nhưng sự có mặt của các tàu chiến Mỹ khiến Thuyền trưởng Jernegan

của tàu săn cá voi thoải mái lên bờ cùng với cậu con trai 9 tuổi và bà vợ Abigail. Bà là người phụ nữ ngoại quốc đầu tiên mà người Nhật nhìn thấy, và bà tạo một sự thu hút khi bước vào làng. Abigail cho phép một số phụ nữ Nhật tốc chiếc váy thùng thình của bà để quan sát đôi giày và nhìn chăm chăm vào chiếc quần chẽn bên trong. Vẻ hứng thú của họ nhắm vào bà làm bà say sưa và không ngớt khen ngợi cung cách tao nhã của họ. Bà nghĩ đêm ở Hakodate cùng chồng và con trai.

Trước khi nhà Jernegan trở về tàu ngày hôm sau, người Nhật trao cho họ một hộp nhỏ được gói thật đẹp chứa một vật mà Abigail bỏ lại. Đó là chiếc đinh ghim thông thường!

Chỉ 15 ngày sau khi Thiếu tướng Perry rời nước Nhật, những du khách Mỹ đầu tiên đến. Lady Pierce, một du thuyền tư nhân do một người ở Connecticut sở hữu, Silas E. Burrows, đi vào Vịnh Edo vào ngày 11/7/1854. Burrows lấy cớ trả lại một ngư dân Nhật bị đắm tàu để làm một chuyến phiêu lưu vào Miền Đất Cấm. Ông không biết rằng nhờ Perry đã ký Hiệp ước Kanagawa, nên người ông được tiếp đón như những vị khách quí.

24

Chân dung người Mỹ ở Nagasaki vẽ bởi một họa sĩ Nhật vô danh năm 1860.

Một đoàn ngư phủ Nhật hoan hô chào đón khi du thuyền cập bờ. Dân chúng từ Uraga mang  quà biếu như lụa, đồ sứ, và sơn mài chen lên thuyền. Burrows đãi họ bánh trái và chở họ đi chơi thuyền một vòng. Viên chức địa phương rất cảm kích trước tính hiếu khách nhưng giải thích rằng một hiệp ước mới ký chỉ cho phép người Mỹ vào Shimoda và Hakodate  mà thôi.

Burrows lên bờ ở Shimoda, tại đó ông trao trả người Nhật đắm tàu. Ông và thủy thủ đoàn dừng chân ở đó trong một tuần, ra chơi bờ biển mỗi ngày để ngắm phong cảnh. Họ phân phát da hải cẩu và những đồng tiền vàng được đúc đặc biệt trước chuyến đi ở San Francisco. Tuy nhiên, sau khi một thông ngôn phát hiện trên mỗi đồng tiền đều có khắc chữ “Tự Do”, lập tức các đồng tiền đã phân phát được thu về và trả lại cho Burrows.

Tuy thế, Burrows đánh giá cao tính lễ phép của dân bản địa và vui mừng khi nghe người Nhật ca tụng rất mực vị Thiếu tướng và các sĩ quan tùy tùng.

Ngay khi tin tức về Hiệp ước Kangawa được in trên các báo ở Hawaii, một nhóm thương nhân Mỹ thuê một thuyền hai buồm  Caroline E. Foote. Họ muốn thiết lập một kho hàng và mở các văn phòng xuất-nhập khẩu ở Nhật. Theo hướng dẫn hải hành mà Perry đã phổ biến trên báo, họ đến Shimoda vào tháng 3, 1855.

25

Ông bà Reed, cô con gái 5 tuổi, và bà Worth, vợ của thuyền trưởng thuyền Carolyn E. Foote

Thị trấn đã bị một cơn động đất và những đợt sóng thần tàn phá vào tháng 12 1854. Tất cả trừ 16 ngôi nhà đều bị hủy diệt, và hàng trăm dân cư chết chìm. Làng được nhanh chóng tái thiết, có lẽ bởi vì chính quyền sợ rằng nếu Shimoda không được nhanh chóng tái thiết người Mỹ có thể yêu sách một hải cảng khác. (Nhiều người Nhật tin rằng động đất là dấu hiệu thần linh nổi giận vì hành động giao du với ngoại bang.)

Sáu thương nhân Bắc Mỹ, ba bà vợ, và hai đứa con từ thuyền The Footer dừng chân trú ngụ trong một ngôi đền. Không lâu sau khi họ dọn đến, một phụ nữ Nhật phụ giúp họ được mời vào trong. Một phụ nữ Mỹ cho phép người giúp việc mặc thử một bộ đồ Tây phương. Cô mặc vào và đánh phấn gương mặt sao cho trắng như nước da Mỹ. Khi ngắm nghía mình trong gương, cô vỗ tay và cười ha hả. Rủi thay, một cảnh sát rình mò. Y xông vào đền, quất cô bằng roi tre, đuổi cô ra ngoài, và sau đó nhốt vào tù.

Những hành khách của thuyền  Foote được xem là những người Mỹ tiên phong. Dù họ  dừng chân ở Shimoda gần ba tháng, họ không thể thiết lập một trạm giao thương ở đó. Tháng 6 1855 họ đến Hakodate, và cũng gặp thất bại não nề. Cuối cùng họ phải quay về San Francisco, khẳng định rằng Nhật Bản không bao giờ có thể là vùng đất cơ hội cho thương mại.

Trước khi những người Mỹ tiên phong rời Nhật Bản, họ gặp người Nga bị sóng thần 1854 đánh trôi giật vào Shimoda. Họ cũng gặp thủy thủ đoàn của một tàu chiến Pháp, ba tàu chiến Anh và vô số tàu Hải quân Hoa Kỳ. Tất cả đều neo đậu và xuống tàu ở Shimoda. Trong vòng hai năm sau khi ký hiệp ước với Mỹ, Anh, Nga, và Hà Lan cũng ký được những hiệp ước tương tự với Nhật. Người ngoại quốc trở nên quen thuộc với người dân Nhật trên Miền Đất Mặt Trời Mọc.

27

Cảnh người Mỹ du ngoạn Yokohama do hoạ sĩ Yoshikazu vẽ.

  LỜI KẾT

Lãnh Sự Mỹ Đầu Tiên

 Năm 1856, hai năm sau chuyến đi của Perry đến Nhật, Townsend Harris đến Shimoda. Là tổng lãnh sự đầu tiên đến từ Hoa Kỳ, ông có hai mục đích: thiết lập lãnh sự quán và thỏa thuận một hiệp ước thương mại.

Người Nhật khổ sở khi thấy ông đến, và họ năn nỉ ông hãy rời đi. Khi ông từ chối, họ cho phép ông cư ngụ trong một ngôi đền. Do thám theo chân ông khắp mọi nơi, dân chúng hất hủi ông, và trong suốt 16 tháng ông cảm thấy bị cô lập. Bạn đồng hành chính của ông là một thư ký-thông ngôn người Hà Lan mà ông mang theo đến đây.

Ương ngạnh và gan lì dù không có súng lớn yếm trợ như Perry, Harris sử dụng thuật ngoại giao khôn khéo để thu phục được đối thủ. Ông báo cho các viên chức là người Anh chắc chắn đang lên kế hoạch tấn công Nhật, và ông không quên luôn luôn nhắc đến những trận đánh thắng như chẻ tre mà người Anh và Pháp đang giáng cho Trung Quốc vào lúc bấy giờ. Do vậy khôn ngoan là hãy nhượng bộ yêu sách hòa bình của một lãnh sự hơn là rước lấy một hạm đội vũ trang của châu Âu xâm lăng.

Harris có mang theo một bức thư của Tổng thống Franklin Pierce yêu cầu một thỏa thuận buôn bán giữa Hoa Kỳ và Nhật Bản. Lãnh sự đòi đến Edo để gặp mặt Shogun. Để dẫn dụ các cố vấn chính quyền làm theo ý muốn của mình, Harris tiết lộ một âm mưu mà người Anh đang ấp ủ chống lại Nhật. (Ắt hẳn ông nói đến hạm đội Anh ở Hong Kong có thể đang toan tính giương buồm đến Miền Đất của Shogun.)

Một năm sau khi đến Shimoda, Harris được mời đến Edo để diện kiến vị Shogun. Đã học được từ Perry tầm quan trọng của nghi thức long trọng, ông chuẩn bị thật kỹ càng cho sự kiện lớn lao này. 40 phu khuân vác, 12 bảo vệ, 2 người mang cờ xí, 2 người cầm quạt và giày, và 2 người săn sóc ngựa trong một đoàn tùy tùng 350 người. Tất cả trừ những người phu đều mặc áo lụa thêu với huy hiệu Mỹ (con ó, mũi tên, nhánh ô liu, và khẩu hiệu E pluribus unum – Một từ rất nhiều). “Lãnh chúa” Harris được mang trên cáng truyền thống, đủ lớn để có thể thẳng chân ra được. Đó là một cái lồng chế tạo công phu treo khỏi mặt đất trên hai hai thành gỗ, được 12 phu khiêng đi trên vai. Nếu cáng nhỏ thì chỉ cần 2 đến 4 người khiêng.

Vào tháng 12 1857, Tổng Lãnh sự Hoa Kỳ đã được Shogun Iesada tiếp kiến. Mặc dù mọi người khác đều quì mọp sát đất, duy Harris thì đứng thẳng trước sự hiện diện của nhà “Tài phiệt” (Tên mà Harris đặt cho Shogun). Ông trình ra thư Tổng thống và được thông báo là Shogun rất hài lòng với nội dung của nó.

Tuy nhiên, Harris không thể đàm phán xong một hiệp ước trong ngày một ngày hai. Có vô số cuộc họp với các cố vấn của Shogun. Và đến cuối tháng hai 1858, Hiệp ước Hữu nghị và Giao thương được soạn xong. Hiệp ước cho phép buôn bán toàn diện, một đại diện Mỹ được ủy quyền sống ở Edo, và mở thêm nhiều càng mới. Hiệp ước được ký bởi một phụ tá đặc biệt của Shogun, người tin rằng sẽ mang lại lợi ích lớn lao cho Nhật. Do đó, ông ta cương quyết chấp nhận sự trừng phạt vì tội hoàn tất hiệp ước mà không có sự phê chuẩn của Hoàng đế.

 Shogun thoái vị

Hiệp ước gây ra một rạn nứt nghiêm trọng giữa phe ủng hộ Hoàng đế và phe hậu thuẫn Shogun. Hoàng đế Komei tuyên bố rằng hiệp ước là “một vết nhơ cho đất nước do các đấng thần linh tạo ra và che chở. . . Vì hiệp ước này báo trước cho ngày tận số của quốc gia chúng ta, trẫm không cách nào phê chuẩn nó.”

Những kẻ cuồng tín muốn đuổi tất cả bọn ngoại bang ra khỏi xứ sở ngay lập tức. Trái lại, nhiều học giả quyết liệt rằng chính sách cô lập đã lỗi thời và có thể gây ra chiến tranh. Nhật Bản cần văn hóa và giao thương với Tây phương để sống còn như một quốc gia độc lập.

Các nhà hoạt động chống Shogun ngày càng có thêm ảnh hưởng. Đến năm 1867 Shogun Keiki đang cai trị từ chức. Ông ta hi vọng rằng bằng cách buớc xuống quyền lực ông sẽ đoàn kết được đất nước. Một năm sau vị Hoàng đế 15 tuổi được công bố là người trị vì thần thánh thực sự. Năm 1868 triều đại Hoàng đế Meiji (Minh Trị) bắt đầu. Ngài rời cố đô Kyoto để chuyển về Edo xây dựng hoàng cung. Edo được đổi tên là Tokyo (thủ đô phương đông).

28

Hoàng đế Meiji tiến vào Edo sau khi rời Kyoto.

Nền cai trị của Hoàng đế Meiji đem Nhật Bản thoát khỏi quá khứ phong kiến và bước vào thế giới kỹ nghệ hiện đại. Các học giả được gởi ra nước ngoài học tập và nghiên cứu, và những cố vấn ngoại quốc được chào đón. Trong vòng năm năm mọi giai tầng xã hội đều bị xóa bỏ. Các lãnh chúa giao nộp đất đai và đặc quyền mà họ đã hưởng được trong cả ngàn năm. Họ giao lâu đài của mình cho Hoàng đế, và bù lại được ngài ban thưởng. Tầng lớp samurai bị bãi bỏ. Luật cấm những chiến binh truyền thống này mang kiếm. Thậm chí cách để tóc thắt nút trên chỏm đầu đặc trưng cũng bị ngăn cấm. Chính quyền ban thưởng họ tiền trợ cấp khiêm nhượng. Ngạc nhiên thay, họ chuyển từ lòng trung thành đối với lãnh chúa sang Hoàng đế một cách nhẹ nhàng.

29

Hoàng đế Meiji

Lần đầu tiên sau hàng thế kỷ dân chúng có thể chọn loại công việc mình làm theo sở thích. Họ có thể sống bất cứ nơi đâu họ muốn, và không còn có những luật lệ khắt khe về kiểu nhà, vật sở hữu, và quần áo bó buộc. Chính Hoàng đế cũng đi theo một phong cách mới: Từ năm 1872 ngài mặc y phục Tây phương.  

30

Hình vẽ Nhật này giải thích cách ăn mặc theo lối phương Tây.

Bước nhảy từ chế độ phong kiến sang xã hội kỹ nghệ hiện đại xảy ra với tốc độ đáng kinh ngạc và dễ dàng. Các sử gia còn ngạc nhiên trước sự thay đổi nhanh chóng đã xảy ra mà không qua một cuộc chiến với ngoại bang lẫn người trong nhà.

Thiếu tướng Perry đã đánh sập hàng rào ngăn trở chia cắt nước Nhật với phần còn lại của thế giới. Ngày nay người Nhật tổ chức kỷ niệm cuộc chinh phục của ông với lễ hội Tàu Đen hàng năm. Tại Shimoda, nơi có lần các chiến binh phong kiến đã từng kêu gọi chống lại bọn man di Bắc Mỹ, những cuộc diễu hành, những bài diễn văn, và âm nhạc vinh danh công lao Perry vào tháng 5. Ở Kangawa, nơi hiệp ước được ký kết, dân chúng ăn mừng lễ hội Tàu Đen vào tháng 7. Họ kỷ niệm vị Thiếu tướng đã mang đến cho họ trong hoà bình một thế giới mà sẽ không bao giờ cho phép họ tiếp tục sự cô lập của mình.

31

Thiếu tướng Perry sống ở Newport, Rhode Island, nơi lễ hội Tàu Đen được tổ chức vào tháng 7. Để vinh danh Perry, Newport đã trở thành thành phố chị em với Shimoda.


Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s