Có phải chúng ta đã lạc lối

ho-khuc-tu-chu.jpg

Đặng Thanh Bình

Trong bài Bàn về thời điểm kết thúc ngàn năm bắc thuộc tôi có đưa ra giả thuyết rằng: nhân mùa đông năm 879 Hoàng Sào tấn công Lưỡng Quảng, các tướng lĩnh phủ An Nam tổ chức cuộc đảo chính vào mùa xuân năm 880, buộc Tiết độ sứ Tăng Cổn bỏ trốn khỏi thành, chiếm giữ phủ đô hộ. Tôi cho rằng tuy bắc triều sau đó có cử các quan lại đến An Nam làm Tiết độ sứ, xong trên thực tế các quan lại chưa đến An Nam và chỉ làm Tiết độ sứ trên danh nghĩa. Năm 906 người Hồng Châu tên là Khúc Thừa Dụ được phương bắc trao cho chức Tiết độ sứ, từ đó tôi cho rằng chính Khúc Thừa Dụ là người đứng đầu cuộc đảo chính vào mùa xuân năm 880. Chấm dứt ngàn năm bắc thuộc.

Câu hỏi quan trọng là chúng ta biết thông tin này từ đâu, vì từ thời điểm năm 880 đến năm 2016 cũng cách nhau 1136 năm. Sách Đại Việt sử ký toàn thư được Ngô Sĩ Liên soạn hoàn thành thời nhà Hậu Lê chép các sự kiện trên trong Quyển V Ngoại Kỷ, mục Kỷ thuộc Tuỳ Đường. Cuốn sách của sử gia Ngô Sĩ Liên được soạn trên bộ Đại Việt sử ký của sử gia Lê Văn Hưu thời nhà Trần. Bộ sách sử Tư trị thông giám của Tư Mã Quang thời nhà Tống có chép đến các sự kiện trên. Hiện chúng ta chưa có tài liệu nào ghi nhận các sự kiện trên có niên đại khoảng năm 880, nghĩa là được ghi chép cùng lúc sự kiện xảy ra hoặc ghi chép ngay sau khi sự kiện chấm dứt.

Thời điểm mà Khúc Thừa Dụ tổ chức cuộc binh biến, ngài có nghĩ đến ngàn năm bắc thuộc không ? Ngài có nghĩ rằng đây là cơ hội chưa từng có để người Việt thoát khỏi kiếp nội thuộc phương bắc không ? Ngài có nghĩ đây là sự tiếp nối, là tinh thần bất khuất của 2 nữ anh hùng họ Trưng không ?

Chúng ta không thể biết được! Nhưng chúng ta biết rằng ít nhất là đến thời Hậu Lê, thông qua sử gia Ngô Sĩ Liên, các sự kiện diễn ra năm 880 tại phủ đô hộ An Nam có ý nghĩa rất lớn. Nó vách ra 2 thời kỳ khác nhau: Kỷ thuộc Tuỳ Đường và Kỷ nam bắc phân tranh. Cho đến thế kỷ 20 các sử gia Việt Nam đã bàn rất nhiều về Thời điểm kết thúc ngàn năm bắc thuộc, chúng ta thấy rất rõ khái niệm kết thúc thời bắc thuộc trong bài viết của tác giả Trần Trọng Dương.

Câu hỏi là cái khái niệm kết thúc ngàn năm bắc thuộc bắt đầu hình thành từ Ngô Sĩ Liên hoặc có thể sớm hơn từ thời Tiền Lê. Nhưng có khi nào xuất hiện từ năm 880 không ? Nếu là không thì cái khái niệmấy là do người sau sáng tạo ra và thêm vào cho sự kiện năm 880 chứ tại thờiđiểm cuộcđảo chính diễn ra khái niệmấy chưa hề xuất hiện. Vậy thì vốn dĩ quá khứ không có mà chúng ta thêm vào chẳng phải làđã làm sai lệch so với quá khứ sao ?

Từ trường hợp này chúng ta khái quát thành luậnđiểm màđã được 2 tác giả Trần Trọng Dương và Trần Quang Đức nên lên trong cuộc trò chuyện với độc giả vào mùa xuân năm 2017 tại Sài Gòn.

Nội dung cơ bản như sau: Các thông tin sử được các sử gia viết thường gắn liền với mụcđích nàođó, do vậy mà không thể tìm thấy sự chân thực của lịch sử. Khi đó, lịch sử có tính hữu dụng. Phổ quát hơn thì luậnđiểm này được phát biểu như sau: Các sử gia viết sử luôn bị chi phối bởi hoàn cảnh của thờiđiểm viết, nên theo lời của Benedetto Croce: “Tất cả lịch sử là lịch sử đương đại”.

Câu hỏi quan trọng là chúng ta có thể khắc phục được khó khăn này không ? Tức là hoàn toàn loại các yếu tốđương thờiđại tại thờiđiểm viết. Sử gia Leopold Von Ranke đã đưa ra nguyên tắc gây nhiều tranh cãi: “thể hiện những gì đã thực sự diễn ra” mà chúng ta có thể tìm thấy giải pháp rằng: sử gia chỉ nên mô tả các sự kiện lịch sử.

Công việc của các sử gia là dùng mọi phương pháp để mô tả các sự kiện chân xác xảy ra trong quá khứ. Còn sự kiện chân xác xảy ra trong quá khứ thể hiệný nghĩa gì thì giành cho độc giả (người sử dụng lịch sử).

Lịch sử đối với các sử gia là việc mô tả chuỗi các sự kiện liên tục xảy ra chân xác trong quá khứ. Nếu lịch sử chỉ là chuỗi các sự kiện thì chúng ta có thể học gì từ lịch sử ? Có vẻ như chúng ta không học được gì! Quá khứ chỉ có các sự kiện xảy ra, chứ không hề mang ý nghĩa khách quan nàođó, cáiý nghĩa khách quan mà chúng ta nghĩ là lịch sử có, chẳng qua là cáiý nghĩa chủ quan của chúng ta được hình thành trong sự tương tác giữa chủ thể với sự kiện lịch sử mà thôi. Giống hệt như trường hợp của CáiĐẹp!

Chúng ta thấy Ribi Sachi đẹp là bởi khái niệmđẹp được vận dụng trong mối tương tác giữa chủ thể là chúng ta với khách thể là Ribi Sachi. Thế nhưng con sử tửđói trong mối tương tác với (thấy) Ribi Sachi cũng giống chúng ta ở chỗ sự thèm thuồng, nhưng sự thèm thuồng của con sư tử đói và sự thèm thuồng của chúng ta là khác nhau. Cáiđẹp là thuộc tính của khách thể Ribi Sachi chăng ?

Không phải! Khách thể Ribi Sachi không có thuộc tínhđẹp. Vậy khách thể Ribi Sachi là như thế nào ? Chính là như cái máy tính nhận dạng khuân mặt. Với chiếc máy nhận dạng khuân mặt, Ribi Sachi được mô phỏng về kích thước chiều ngang, chiều dọc, kích thước mắt, mũi, miệng. Ribi Sachi chỉ có thế, không nhiều hơn không ít hơn. Lịch sử cũng vậy, chỉ là chuỗi các sự kiện không nhiều hơn không ít hơn. Cái ý nghĩa mà các sử gia đưa ra, là cái ý nghĩa nảy sinh từ những sử gia đó, từ hoàn cảnh đương đại, khi nhìn về các sự kiện trong lịch sử. Cái ý nghĩa là cái ý nghĩa của hiện tại không phải là cái ý nghĩa của quá khứ, vậy thì rõ ràng chúng ta không thể học gì từ quá khứ, vì quá khứ không hề có ý nghĩa để mà cho chúng ta học.

Vậy lịch sử là vô nghĩa ? Không hoàn toàn như vậy ? Người sử dụng lịch sử (độc giả) có thể có Nhận thức (ý nghĩa) lịch sử phù hợp với hoàn cảnhđương đại. Người sử dụng lịch sử có thể xem các sự kiện xảy ra trong quá khứ, sau đó đối chiếu với hoàn cảnhđương đại, đểđưa ra các quyếtđịnh. Theo nghĩa này lịch sử không hoàn toàn vô nghĩa.

P/S: Theo tôi cái đẹp là sự khoái cảm được hình thành trong mối tương tác giữa khách thể với phông nền cái đẹp của chủ thể.

Advertisements

8 thoughts on “Có phải chúng ta đã lạc lối

  1. Khúc đã dễ dàng đầu hàng người Bắc, con cái cũng vậy. Thời điểm D Đ Nghệ từ Thanh Hóa tiến ta Bắc, vây thành và tiêu diệt quân Nam Hán, thì mới là mở ra thời kỳ mới cho VN.

  2. Tư trị thông giám – Đường kỉ:

    廣明元年春三月,安南軍亂,節度使曾袞出城避之,諸道兵戍邕管者往往自歸。
    Năm Quảng Minh thứ nhất (năm 880), mùa xuân, tháng 3, An Nam có quân loạn, Tiết độ sứ (Tĩnh Hải quân) là Tăng Cổn bỏ thành để tránh quân ấy, lính thú các đạo ở nơi nơi miền Ung Quản tự ý bỏ về.

    天祐三年春正月乙丑,加靜海節度使曲承裕同平章事。
    Năm Thiên Hựu thứ 3 (năm 906), mùa xuân, tháng 1, ngày ất sửu, phong thêm cho Tiết độ sứ Tĩnh Hải (quân) là Khúc Thừa Dụ làm Đồng bình chương sự.

    ______________________

    Tạm tính từ năm 880 (khi Tiết độ sứ là Tăng Cổn bỏ thành An Nam chạy về Ung Quản) đến năm 906 (khi Tiết độ sứ là Khúc Thừa Dụ được phong thêm làm Đồng bình chương sự) là 26 năm. Trong 26 năm ấy đã xảy ra chuyện gì ở An Nam? Theo ghi chép trên thì Khúc Thừa Dụ đã làm Tiết độ sứ Tĩnh Hải quân rồi mới được phong thêm làm Đồng bình chương sự (dù rằng chức Đồng bình chương sự chỉ là chức vụ trên danh nghĩa). Trong khoảng 26 năm đó thì có ít nhất bọn Cao Mậu Khanh (高茂卿), Tạ Triệu (謝肇), An Hữu Quyền (安友權) thay nhau sang làm Tiết độ sứ hoặc Đô hộ ở An Nam, chỉ có bọn Tôn Đức Chiêu (孫德昭), Chu Toàn Dục (朱全昱), Độc Cô Tổn (獨孤損) trên thực tế không sang nhậm chức được. Vậy người thay An Hữu Quyền làm Tiết độ sứ Tĩnh Hải quân (An Nam) trên thực tế là Khúc Thừa Dụ vậy. Có thể suy đoán Khúc Thừa Dụ là thuộc quan của An Hữu Quyền hoặc có quan hệ phe cánh của An Hữu Quyền hoặc các Tiết độ sứ trước đó như Tạ Triệu-Cao Mậu Khanh. Sử Việt chép Khúc Thừa Dụ “nhân loạn chiếm cứ An Nam” chỉ là suy đoán thôi, thực ra đây là suy đoán của người thời Nguyên là Hồ Tam Tỉnh (胡三省) khi chú thích đoạn văn Tư trị thông giám ở trên mà thôi.

    Thực ra khi Tăng Cổn bỏ thành chạy thì An Nam chưa hẳn là đã mất khỏi tay nhà Đường, đâu có dễ như vậy? Ví dụ thời trước có Đô hộ là Vũ Hồn cũng bị loạn quân đuổi, nhà Đường bằng cách nào đó cũng lấy lại được An Nam đó thôi. Cũng như việc Nam Chiếu vài ba lần hãm An Nam thì nhà Đường cũng lấy lại được. An Nam mất khỏi tay nhà Đường là năm 907 khi nhà Đường mất, nhà Hậu Lương lên thay, Trung Quốc rơi vào tình trạng Ngũ đại thập quốc, các sứ quân cát cứ các nơi, nhà Hậu Lương thay nhà Đường đã phong cho con của Khúc Thừa Dụ là Khúc Hạo làm Đô hộ Tiết độ sứ An Nam, từ đây họ Khúc cát cứ An Nam thế tập làm Tiết độ sứ An Nam được 3 đời rồi họ Dương, họ Ngô dựng nên độc lập về sau. Cùng thời ở Lưỡng Quảng có anh em Lưu Ẩn-Lưu Cung cũng thay nhau làm Tiết độ sứ Thanh Hải lập nên nước Nam Hán vậy.

  3. Lại nói nguyên nhân Tiết độ sứ là Tăng Cổn bỏ thành An Nam chạy về Ung Quản theo Tư trị thông giám – Đường kỉ của Tư Mã Quang thời Tống chép là vì có “quân loạn” (軍亂), nhưng sách Tân Đường thư – Nam Chiếu liệt truyện của Âu Dương Tu thời Tống lại chép khác:

    南詔知蜀強,故襲安南,陷之,都護曾袞奔邕府,戍兵潰。
    Người Nam Chiếu biết đất Thục (Tây Xuyên) mạnh, cho nên đến đánh hãm An Nam, Đô hộ là Tăng Cổn chạy về Ung Phủ (Ung Quản), lính thú tan vỡ.

    Nếu việc này đúng thì Nam Chiếu đánh hãm An Nam đến 3 lần, Đô hộ là Tăng Cổn phải bỏ chạy về Ung Quản. Bối cảnh bấy giờ là Nam Chiếu sau khi bị Đô hộ An Nam là Cao Biền đánh đuổi khỏi An Nam nhưng vẫn còn mạnh, vẫn đánh phá biên giới nhà Đường, có lần đã vây hãm Thành Đô xứ Tây Xuyên, do đó họ lại hãm An Nam lần này nữa chắc cũng xảy ra được. Nhưng sau đó thì Nam Chiếu bắt đầu yếu hẳn, cho nên nhà Đường cũng nhanh chóng thu lại được An Nam.

    • Tôi cho rằng:

      1/ Như bác đã chỉ ra, trước năm 906, Khúc Thừa Dụ đã làm Tiết độ sứ rồi, nên năm 906 chỉ là phong thêm Đồng bình chương sư. Nhưng chính xác thì Khúc Thừa Dụ được phong Tiết độ sự năm nào ? Hiện tôi chưa khảo được. Nhưng sách Tục tư trị thông giám có chép thêm năm 907 Thừa Dụ mất, con là Hạo thế quyền. Vậy thì nói các sử gia phương bắc không biết về cha con họ Khúc là không đúng! Có khi nào chức Tiết độ sứ mà Thừa Dụ giữ là tự xưng, sau có biểu dâng xin nhà Đường được giữ chính thống. Nếu vậy khả năng cao là các sử gia phương bắc chép sót.

      2/ Thời điểm Thừa Dụ chính thức nắm quyền tại An Nam là khi nào ? Năm 880 Tăng Cổn bỏ thành để trốn. Năm 882 Chung Truyền tấn công phủ Hồng Châu của Giang Tây trục xuất quan sát sứ Cao Mậu Khanh do triều đình bổ nhiệm. Sau đó, Mậu Khanh được triều đình chiếu cho làm Tiết độ sứ Tĩnh Hải Quân. Nếu vậy thì Thừa Dụ không thể xuất hiện từ thời của Cao Mậu Khanh. Chu Toàn Dục và Độc Cô Tổn cũng giống Cao Mậu Khanh, chỉ làm Tiết độ sứ trên danh nghĩa. Như thế Thừa Dụ nếu có xuất hiện thì sẽ ở thời điểm: năm 880 khi Tăng Cổn bỏ chạy, thời của Tạ Triệu và An Hữu Quyền, sau khi Độc Cổ Tổn bị bãi nhà Đường chưa kịp cử người thay.

      3/ Năm 860 Nam Chiếu tấn công An Nam nhưng không lợi, năm 863 Nam Chiếu tấn công An Nam và chiếm được, năm 866 Cao Biền lấy lại An Nam cho nhà Đường. Cuộc chiến năm 863-866 Nam Chiếu chiếm được Phủ đô hộ, là cuộc chiến rất lớn, được sách sử chép lại nhiều sự kiện và chúng ta cũng thấy nhà Đường đã mất rất nhiều công sức để lấy lại Đô hộ phủ. Nếu năm 880 Nam Chiếu thực chiếm Phủ đô hộ lần thứ 2 thì chắc rằng sách sử cũng phải ghi chép nhiều các sự kiện xảy ra và nhà Đường cũng phải rất tốn công sức để lấy lại Đô hộ phủ, chứ không lý gì chỉ có vài dòng ghi chép.

      4/Đoạn chép trong Tân đường thư: “Nam Chiếu tri thục cường, cố tập an nam, hãm chi, đô hộ tằng cổn bôn ung phủ, thú binh hội”.
      Nam Chiếu thấy đất Thục (Tây Xuyên) mạnh nên đánh hãm An Nam. Tăng Cổn bôn Ung phủ. Trong trường hợp này có thể là chép gộp không ? Sự kiện Nam Chiếu hãm An Nam và sự kiện Tăng Cổn bôn Ung phủ là 2 sự kiện khác nhau và không có mối liên hệ nào với nhau ? Tân đường thư mục Hi Tông chép: “Năm 880. Tháng 5 (…) Hoàng Sào hãm Quảng Châu, chấp lĩnh nam đông đạo tiết độ sử lý điều, hãm An Nam (…) Tháng 8”. Hoàng Sào tấn công Quảng Châu thì chắc đúng vì nhiều sách sử đều ghi nhưng sách Tân đường thư lại chép thêm sự kiện Hoàng Sào hãm An Nam. Ngờ rằng sách Tân đường thư chép sai sự kiện này, có lẽ Hoàng Sào chỉ hãm Quế Châu thôi, vì để tiến được xuống An Nam (đồng bằng sông Hồng) thì tốn nhiều thời gian cũng như sức của. Hoặc là thời điểm năm 880 khu vực Ung châu thuộc quyền quan sát của Tĩnh hải quân. Vì như sách Tư trị thông giám có chép “lính thú miền Ung Quản tự ý bỏ về”.

      5/ Theo tôi sau khi Hoàng Sào tấn công, thì quân đội nhà Đường ở Lĩnh Nam tan, sau khi Hoàng Sào rút, Lĩnh Nam như mảnh đất vô chủ, các thể lực nổi lên tranh giánh, về tiếng họ vẫn mệnh danh nhà Đường, nhưng trên thực tế họ xây dựng thế lực. Vùng Quảng Châu thì có họ Lưu. Nhưng sức của họ Lưu thời điểm sau khi Hoàng Sào rút không khống chế được An Nam. Về Nam Chiếu. Năm 874 Nam Chiếu tấn công Tây Xuyên (nhà Đường). Rồi tấn công Thành Đô nhưng cũng bị tổn hại nhiều. Có lẽ do chiến thắng Nam Chiếu tại An Nam năm 866 nên Cao Biền được cử chống Nam Chiếu năm 875. Cao Biền thực hiện các cuộc trừng phạt nhỏ. Tuy nhiên năm 876 Nam Chiếu cầu hòa nhưng vẫn thực hiện các cuộc tập kích nhỏ nơi biên giới. Năm 877 vua Nam Chiếu là Thế Long chết, con là Long Thuấn nối. Dưới thời của Long Thuấn, Nam Chiếu và Đại Đường ký hiệp nghị Hòa Thân. Với hiệp nghị này thì hòa bình được lặp lại, nhưng không có nghĩa là không có những xung đột nhỏ trên dọc biên giới. Năm 878 Cao Biền được bổ làm Kinh Nam tiết độ sứ, vậy thì rất có thể việc hòa thân giữa Đại Đường và Nam Chiếu là thật.

      6/ Với việc hòa thân thì rất khó hiểu khi Nam Chiến đem quân tấn công Tĩnh Hải quân của nhà Đường. Theo tôi có thể là sau khi Hoàng Sào rút khỏi Lĩnh Nam, Lĩnh Nam như mảnh đất vô chủ, Nam Chiếu cũng là thế lực muốn dự phần nên đem quân tấn công An Nam. Nhưng tôi cho rằng chỉ là mấy châu quân giáp biên giới mà thôi. Lại thêm sách Tân đường thư nói “Tăng Cổn bôn Ung phủ”. Nên hiểu Tăng Cổn chạy về Ung phủ hay Tăng Cổn chạy khỏi Ung phủ, vì năm 898 Tăng Cổn làm Thứ sử Thiệu Châu tấn công Quảng Châu. Có thể tháng 3/880 binh tại An Nam làm loạn, Cổn phải bỏ Đô hộ phủ chạy về Ung châu, có thể sau đó Nam Chiếu tấn công các quân biên giới, Cổn tiếp tục bỏ chạy khỏi Ung châu. Nên mới chép “miền Ung Quản lính thú tự bỏ về”.

      7/ Sách Tân đường thư chép: “Năm 877. Thập nhị nguyệt, An Nam thú binh loạn, trục quế quản quan sát sử lý toản”. Tháng 12/877 có loạn, có lẽ là sau khi Cao Tầm rời đi, các lính thú tại An Nam không theo Tăng Cổn. Nên tôi nghĩ Cao Tầm rời An Nam vào mùa đông năm 877.

      8/ Sách Tân đường thư được soạn từ năm 1044-1054. Sách Tư trị thông giám được soạn từ 1065-1084. Như vậy thời gian 2 sách được soạn, cách nhau không đáng kể. Về yếu tố thời gian không có nhiều ý nghĩa trong trường hợp này. Lại thêm thông tin được ghi chép trong Tân đường thư thuộc thể truyện nghĩa là khả năng xảy ra hiện tượng gộp sự kiện cao hơn so với thông tin chép trong Tư trị thông giám, chép theo lối biên niên. Sách Tư trị thông giám chép rất rõ: Năm, mùa, tháng và sự kiện. Rất rõ ràng và cụ thể. Cuối cùng, nếu như Tư Mã Quang có tham khảo Tân đường thư. Thì hẳn cao là Mã Quang biết ghi chép của Tân đường thư về thông tin Nam Chiếu tấn công An Nam, Tăng Cổn bôn Ung phủ. Nhưng Mã Quang không chép theo Tân đường thư. Vậy thì không loại trừ trong tay của Mã Quang có tài liệu xác nhận việc Tăng Cổn bỏ chạy khỏi An Nam do binh lính làm loạn.

      Tóm lại, từ 2 bằng cớ sau:

      – Việc tồn tại hiệp nghị hòa thân giữa Đại Đường và Nam Chiếu sẽ ngăn cản Nam Chiếu tấn công An Nam. Giả như có cuộc tấn công của Nam Chiếu vào Phủ đô hộ buộc Tăng Cổn bỏ thành chạy trốn, thì đó là cuộc tấn công lớn tương tự như năm 863 nhưng lại không thấy sách sử ghi chép nhiều. Thêm nữa, với tình hình quân sự nhà Đường thời điểm năm 880 thì rất khó để lấy lại An Nam từ tay Nam Chiếu.

      – Lối viết biên niên trong Tư trị thông giám rõ ràng và cụ thể hơn lối viết truyện trong Tân đường thư về sự kiện Tăng Cổ bỏ Đô hộ phủ để chạy. Cuối cùng rất có thể Tư Mã Quang có tham khảo Tân đường thư nhưng lại không thấy chép theo Tân đường thư, có khả năng Tư Mã Quang có tài liệu xác tín về sự kiện Tăng Cổn bỏ An Nam để chạy năm 880.

      Do những bằng chứng tôi đưa ra không đủ để kết luận, nên tôi chỉ đặt ra 1 giả thuyết, rằng năm 880 binh tại Đô hộ phủ làm loạn, buộc Tăng Cổn bỏ phủ để chạy. Cảm ơn bác đã góp ý! Mong nhận thêm nhiều bình luận của các cao nhân.

  4. Có lẽ chuyện Nam Chiếu hãm An Nam sau khi Cao Biền rút về là nhầm thật. Chuyện về Hoàng Sào hãm An Nam cũng nhầm luôn. Tôi có tra khảo lại Cựu Đường thư và Tân Đường thư thì có vẻ như vậy. Tôi cũng tin Tư trị thông giám chép đúng và mạch lạc về An Nam hơn so với Tân-Cựu Đường thư.

    Ví dụ chuyện Hoàng Sào xuống Lĩnh Nam rõ ràng chỉ đánh đến Quảng châu và Quế châu mà thôi, ở lại Lĩnh Nam khoảng 1 năm vì không quen thủy thổ, quân lính chết 3-4/10 bèn nhanh chóng về phía bắc, nhưng Cựu-Tân Đường thư trong một số đoạn văn lại chép cẩu thả là Hoàng Sào sau khi hãm thành Quảng châu đã “hãm An Nam” (陷安南) hay là “cứ An Nam” (據安南), “cứ Giao-Quảng” (據交、廣), khiến cho người đọc hiểu là Hoàng Sào đã đến đánh chiếm được Giao châu hoặc An Nam.

    Tân Đường thư – Hi Tông bản kỉ: 乾符六年五月,黃巢陷廣州,執嶺南東道節度使李迢,陷安南。Càn Phù lục niên ngũ nguyệt, Hoàng Sào hãm Quảng châu, chấp Lĩnh Nam Đông Đạo Tiết độ sứ Lí Điều, hãm An Nam./ Năm Càn Phù thứ 6 (năm 879), tháng 5, Hoàng Sào hãm Quảng châu, bắt giữ Tiết độ sứ Lĩnh Nam Đông Đạo là Lí Điều, (nhân đó) hãm An Nam.

    Tân Đường thư – Hoàng Sào liệt truyện: 巢陷桂管,進寇廣州,詒節度使李迢書,求表為天平節度,又脅崔璆言於朝,宰相鄭畋欲許之,盧攜、田令孜執不可。巢又丐安南都護、廣州節度使。Sào hãm Quế Quản, tiến khấu Quảng châu, di Tiết độ sứ Lí Điều thư, cầu biểu vi Thiên Bình Tiết độ, hựu hiếp Thôi Cầu ngôn ư triều, Tể tướng Trịnh Điền dục hứa chi, Lư Huề-Điền Lệnh Mai chấp bất khả. Sào hựu cái An Nam Đô hộ, Quảng châu Tiết độ sứ./ Sào hãm Quế Quản, đến cướp Quảng châu, gửi thư cho Tiết độ sứ là Lí Điều dâng biểu xin làm Tiết độ sứ Thiên Bình, lại ép Thôi Cầu nói với triều đình, bấy giờ Tể tướng là Trịnh Điền muốn ưng theo việc ấy, nhưng bọn Lư Huề-Điền Lệnh Mai lại giữ ý không cho. Sào lại xin làm Đô hộ An Nam-Tiết độ sứ Quảng châu.

    Tân Đường thư – Trịnh Điền liệt truyện: 乾符六年,黃巢勢浸盛,據安南,騰書求天平節度使。Càn Phù lục niên, Hoàng Sào thế tẩm thịnh, cứ An Nam, thắng thư cầu Thiên Bình Tiết độ sứ./ Năm Càn Phù thứ 6, thế lực Hoàng Sào càng thịnh, chiếm giữ An Nam, gửi thư về xin làm Tiết độ sứ Thiên Bình.

    Cựu Đường thư – Hi Tông bản kỉ: 乾符六年四月,黃巢陷桂管。五月,黃巢陷廣州,大掠嶺南郡邑。Càn Phù lục niên tứ nguyệt, Hoàng Sào hãm Quế Quản. Ngũ nguyệt, Hoàng Sào hãm Quảng châu, đại lược Lĩnh Nam quận ấp./ Năm Càn Phù thứ 6, tháng 4, Hoàng Sào hãm Quế Quản. Tháng 5, Hoàng Sào hãm Quảng châu, cướp bóc các quận ấp miền Lĩnh Nam.

    Cựu Đường thư – Hoàng Sào liệt truyện: 時高駢鎮淮南,表請招討賊,許之,議加都統。巢乃渡淮,偽降於駢。駢遣將張璘率兵受降於天長鎮。巢擒璘殺之,因虜其眾。尋南陷湖、湘,遂據交、廣。托越州觀察使崔璆奏乞天平軍節度,朝議不允。又乞除官,時宰臣鄭畋與樞密使楊復恭奏,欲請授同正員將軍。盧攜駁其議,請授率府率,如其不受,請以高駢討之。及巢見詔,大詬執政,又自表乞安南都護、廣州節度,亦不允。然巢以士眾烏合,欲據南海之地,永為窠穴,坐邀朝命。是歲自春及夏,其眾大疫,死者十三四。眾勸請北歸,以圖大利。巢不得已,廣明元年,北逾五嶺,犯湖、湘、江、浙,進逼廣陵,高駢閉門自固,所過鎮戍,望風降賊。Thời Cao Biền trấn Hoài Nam, biểu thỉnh chiêu thảo tặc, hứa chi, nghị gia Đô thống. Sào nãi độ Hoài, ngụy hàng ư Biền. Biền khiển tướng Trương Lân suất binh thụ hàng ử Thiên Trường trấn. Sào cầm Lân sát chi, nhân lỗ kì chúng. Tầm hãm Hồ-Tương, toại cứ Giao-Quảng. Thác Việt châu Quan sát sứ Thôi Cầu tấu khất Thiên Bình quân Tiết độ, triều nghị bất duẫn. Hựu khất trừ quan, thời Tể thần Trịnh Điền dữ Xu mật sứ Dương Phục Cung tấu dục thỉnh viện Đồng chính viên tướng quân. Lư Cầu bác kì nghị, thỉnh biện Soái phủ soái, như kì bất thụ thỉnh dĩ Cao Biền thảo chi. Cập Sào kiến chiếu, đại cấu chấp chính, hựu tự biểu khất An Nam Đô hộ-Quảng châu Tiết độ, diệc bất duẫn. Nhiên Sào dĩ sĩ chúng ô hợp, dục cứ Nam Hải chi địa, vĩnh vi khỏa huyệt, tọa yêu triều mệnh. Thị tuế tự xuân chí hạ, kì chúng đại dịch, tử giả thập tam tứ. Chúng khuyến thỉnh bắc quy dĩ đồ đại lợi. Sào bất đắc dĩ, Quảng Minh nguyên niên, bắc du Ngũ Lĩnh, phạm Hồ-Tương-Giang-Chiết, tiến bức Quảng Lăng, Cao Biền bế quan tự cố, sở quá trấn thú vọng phong hàng tặc./ Bấy giờ Cao Biến trấn giữ ở miền Hoài Nam, dâng biểu xin đi chiêu thảo giặc, triều đình ưng cho, bàn nghị phong thêm chức Đô thống. Sào bèn vượt sông Hoài giả hàng với Biền. Biền sai thuộc tướng là Trương Lân đem binh đến nhận hàng binh ở trấn Thiên Trường. Sào bèn bắt giết Lân đi, nhân đó bắt giữa quân của Lân. Rồi về phía nam hãm miền Hồ-Tương, bèn chiếm giữ miền Giao-Quảng. Mượn lời Quan sát sứ Việt châu là Thôi Cầu xin làm Tiết độ sứ Thiên Bình quân, triều đình không cho. Lại xin ban chức quan, bấy giờ Tể tướng là Trịnh Điền cùng Xu mật sứ là Dương Phục Cung tấu muốn xin lấy Sào làm Đồng chính viên tướng quân. Lư Huề bác lời xin ấy, chỉ xin cho làm Soái phủ soái, nếu Sào không nhận thì xin lấy Cao Biền đánh Sào. Kịp lúc Sào nhận chiếu thư, mắng lớn kẻ chấp chính, lại tự dâng biểu xin làm Đô hộ An Nam-Tiết độ sứ Quảng châu, triều đình cũng không cho. Lại nữa Sào thấy quân lính của mình là bọn ô hợp, bèn muốn chiếm giữa miền Nam Hải, làm hang ổ lâu dài, bèn ở đấy đón chiếu lệnh của triều đình. Năm đó từ mùa xuân đến mùa hạ, quân của Sao mắc bệnh dịch lớn, chết đến 3-4 phần 10, quân lính khuyên xin nên về phía bắc để mưu viêc có lợi. Sào bất đắc dĩ vào năm Quảng Minh thứ 1 (năm 880) bèn về phía bắc qua dãy núi Ngũ Lĩnh, phạm vào miền Hồ-Tương-Giang-Chiết, đến bức thành Quảng Lăng. Cao Biền đóng cửa tự giữ vững, Sào qua chỗ nào thì các quân tướng trấn thú đều lướt gió theo hàng.

    ____________________

    Chuyện lính thú An Nam làm loạn đuổi Quan sát sứ Quế Quản là Lí Toản. Đây chỉ là việc lính thú ở An Nam khi về qua Quế châu thì mới làm loạn ở Quế châu.. Rõ ràng Tân Đường thư chép như vậy cũng sơ sài và cẩu thả, khiến người đọc hiểu nhầm là lính thú An Nam làm loạn ở An Nam chứ không phải ở Quế Quản.

    Tân Đường thư – Hi Tông bản kỉ: 乾符四年十二月,安南戍兵亂,逐桂管觀察使李瓚。Càn Phù tứ niên thập nhị nguyệt, An Nam thú binh loạn, trục Quế Quản Quan sát sứ Lí Toản./ Năm Càn Phù thứ 4 (năm 877), tháng 12, lính thú An Nam làm loạn, đuổi Quan sát sứ Quế Quản là Lí Toản.

    Tư trị thông giám – Đường kỉ: 乾符三年冬十二月,青、滄軍士戍安南,還至桂州,逐觀察使李瓚。瓚,宗閔之子也。以右諫議大夫張禹謨為桂州觀察使。桂管監軍李維周驕橫,瓚曲奉之,浸不能制。桂管有兵八百人,防禦使才得百人,餘皆屬監軍。又預於逐帥之謀,強取兩使印,擅補知州官,奪昭州送使錢。詔禹謨並按之。禹謨,徹之子也。Càn Phù tam niên đông thập nhị nguyệt, Thanh-Thương quân sĩ thú An Nam hoàn chí Quế châu, trục Quan sát sứ Lí Toản. Toản, Tông Mẫn chi tử dã. Dĩ Hữu gián nghị đại phu Trương Vũ Mô vi Quế châu Quan sát sứ. Quế Quản Giám quân Lí Duy Chu kiêu hoành, Toản khúc phụng chi, tẩm bất năng chế. Quế Quản hữu binh bát bách nhân, Phòng ngự sứ tài đắc bách nhân, dư giai thuộc Giám quân. Hựu dự ư trục soái chi mưu, cưỡng thủ lưỡng Sứ ấn, đản bổ tri châu quan, đoạt Chiêu châu tống sứ tiền. Chiếu Vũ Mô tịnh án chi. Vũ Mô, Triệt chi tử dã./ Năm Càn Phù thứ 3 (năm 876), mùa đông, tháng 12, quân lính Thanh-Thương đi thú ở An Nam xong, khi về đến Quế Châu bèn đuổi Quan sát sứ là Lí Toản. Toàn là con của Lí Tông Mẫn. Triều đình lấy Gián nghị đại phu là Trương Vũ Mô làm Quan sát sứ Quế châu. Bấy giờ Giám quân Quế Quản là Lí Duy Chu kiêu ngược, Lí Toản cúi mình vâng theo ý hắn, dần dần không ngăn chặn được. Quế Quản có 800 quân lính đóng giữ, quan Phòng ngự sứ chỉ có 100 quân còn lại đều thuộc Giám quân nắm giữ, lại can dự vào công việc của tướng soái, ép lấy ấn tín của 2 vị quan Sứ [Phòng ngự sứ và Quan sát sứ], tự ý sắp đặt các quan Tri châu, cướp lấy tiền của Tống sứ Chiêu châu. Triều đình hạ chiếu Vũ Mô xét xử việc ấy. Vũ Mô là con của Trương Triệt.

    • Cảm ơn bác Tích Dã! Đọc những thông tin mà bác dẫn, tôi thấy mình khảo ẩu quá! Nên rất lấy làm xấu hổ. Nhưng cũng thật may có bác chỉ dẫn, không tôi lại tự phụ trong cái kiến thức hạn hẹp. Dưới góc độ này thực rất cảm ơn bác! Trân trọng.

  5. Về chuyện lính thú An Nam làm loạn, Tiết độ sứ là Tăng Cổ ra khỏi thành để tránh, lính thú Ung Quản nơi nơi tự về. Vậy có phải Tăng Cổn bỏ thành An Nam chạy về Ung Quản không? Theo như Tân Đường thư – Nam Chiếu liệt truyện thì Nam Chiếu hãm An Nam, Đô hộ là Tăng Cổn chạy về Ung Quản. Như đã nói chuyện Nam Chiếu hãm An Nam vào năm 880 chưa chắc đã xảy ra, có lẽ là do nhầm lẫn hoặc chép cẩu thả của sử gia. Cuối thời Đường, các chuyện như lính thú làm loạn ở một quân hay quản/phủ nào đó cũng thường xảy ra. Nếu như An Nam có loạn quân thì Tiết độ sứ có dễ dàng bỏ chạy về Ung Quản như vậy? Nếu có Nam Chiếu đánh hãm thì có thể bỏ chạy. Tư trị thông giám chép Tiết độ sứ đã cố gắng đánh lấy thành trì bị loạn quân chiếm, có thể đã lấy lại được:

    Tư trị thông giám – Đường kỉ

    廣明元年春三月,安南軍亂,節度使曾袞出城避之,諸道兵戍邕管者往往自歸。Quảng Minh nguyên niên xuân tam nguyệt, An Nam quân loạn, Tiết độ sứ Tăng Cổn xuất thành tị chi, chư đạo binh thú Ung Quản giả vãng vãng tự quy./ Năm Quảng Minh thứ nhất (năm 880), mùa xuân, tháng 3, An Nam có quân loạn, Tiết độ sứ (Tĩnh Hải quân) là Tăng Cổn bỏ ra khỏi thành để tránh quân ấy, lính thú các đạo ở nơi nơi miền Ung Quản tự ý bỏ về.

    廣明元年夏六月,趙宗政之還南詔也,西川節度使崔安潛表以崔澹之說為是,且曰:「南詔小蠻,本雲南一郡之地。今遣使與和,彼謂中國為怯,復求尚主,何以拒之!」上命宰相議之。盧攜、豆盧琢上言:「大中之末,府庫充實。自咸通以來,蠻兩陷安南、邕管,一入黔中,四犯西川,徵兵運糧,天下疲弊,逾十五年,租賦太半不入京師,三使、內庫由茲虛竭。戰士死於瘴癘,百姓困為盜賊,致中原榛杞,皆蠻故也。前歲冬,蠻不為寇,由趙宗政未歸。去歲冬,蠻不為寇,由徐雲虔覆命,蠻尚有冀望。今安南子城為叛卒所據,節度使攻之未下,自餘戍卒,多已自歸,邕管客軍,又減其半。冬期且至,倘蠻寇侵軼,何以枝梧!不若且遣使臣報復,縱未得其稱臣奉貢,且不使之懷怨益深,堅決犯邊,則可矣。」乃作詔賜陳敬瑄,許其和親,不稱臣,令敬瑄錄詔白,並移書與之,仍增賜金帛。以嗣曹王龜年為宗正少卿充使,以徐去虔為副使,別遣內使,共繼詣南詔。Quảng Minh nguyên niên hạ lục nguyệt, Triệu Tông Chính chi hoàn Nam Chiếu dã, Tây Xuyên Tiết độ sứ Thôi An Tiềm biểu dĩ Thôi Đạm chi thuyết vi thị, thả viết: “Nam Chiếu tiểu Man, bản Vân Nam nhất quận chi quận. Kim khiển sứ dữ hòa, bỉ vị Trung Quốc vi khiếp, phục cầu thượng chủ, hà dĩ cự chi!” Thượng mệnh Tể tướng nghị chi. Lư Huề-Đậu Lư Trác thượng ngôn:”Đại Trung chi mạt, phủ khố sung thực. Tự Hàm Thông dĩ lai, Man lưỡng hãm An Nam-Ung Quản, nhất nhập Kiềm Trung, tứ phạm Tây Xuyên, trưng binh vận lương, thiên hạ bì tệ, du thập ngũ niên, tô thuế thái bán bất nhập kinh sư, Tam sứ-Nội khố do tư hư kiệt. Chiến sĩ tử ư chướng lệ, bách tính khốn ư đạo tặc, trí Trung Nguyên trăn kỉ, giai Man cố dã. Tiền tuế đông, Man bất vi khấu, do Triệu Tông Chính vị quy. Khứ tuế đông, Man bất vi khấu do Từ Vân Kiền phục mệnh, Man thượng hữu kí vọng. Kim An Nam Tử Thành vi bạn tốt sở cứ, Tiết độ sứ công chi vị hạ, tự dư thú tốt đa dĩ tự quy, Ung Quản khách quân hựu giảm kì bán. Đông kì thả chí, thảng Man khấu xâm dật, hà chĩ chi ngô! Bất nhược thả khiển sứ thần báo phục, túng vị đắc kì xưng thần phụng cống, thả bấy sử chi hoài oán ích thâm, kiên quyết phạm biên, tắc khả hĩ.” Nãi tác chiếu tứ Trần Kính Tuyên, hứa kì hòa thân, bất xưng thần, lệnh Kính Tuyên lục chiếu bạch, tịnh di thư dữ chi, nhưng tặng tứ kim bạch. Dĩ Tự Tào Vương Quy Niên vi Tông chính thiếu khanh sung sứ, dĩ Từ Khứ Kiền vi Phó sứ, biệt khiển Nội sứ, cộng kế chỉ Nam Chiếu./ Năm Quảng Minh thứ nhất (năm 880), mùa hạ, tháng 6, vào lúc Triệu Tông Chính về nước Nam Chiếu, bấy giờ Tiết độ sứ Tây Xuyên là Thôi An Tiềm dâng biểu cho rằng lời của Thôi Đạm là đúng, lại nói: “Nam Chiếu là nước Man nhỏ, vốn là một quận của miền Vân Nam. Nay sai sứ giả sang xin hòa, nếu bên ấy cho là người Trung Quốc hèn yếu mà lại đòi cầu hôn công chúa thì lấy gì mà từ chối họ!” Nhà vua sai quan Tể tướng bàn việc này. Lư Huề-Đậu Lư Trác nói rằng:”Cuối những năm Đại Trung thì phủ khố còn đầy đủ. Từ những năm Hàm Thông đến nay, người Man hai lần hãm miền An Nam-Ung Quản, một lần vào miền Kiềm Trung, bốn lần phạm miền Tây Xuyên, triều đinh phải điều binh chở lương, thiên hạ vì thế mệt mỏi đã hơn 15 năm rồi, hơn nửa tô thuế vì thế cũng không được nhập về kinh sư. Tam sứ (Độ chi-Hộ bộ-Diêm thiết)-Nội khố vì thế cũng trống không. Chiến sĩ ở ngoài chết vì chướng lệ, trăm họ ở trong khổ vì trộm cướp, khiến miền Trung Nguyên cây mỏ mọc um tùm (ý chỉ hoang tàn), đều là người Man vậy. Mùa đông năm ngoái người Man không vào cướp là vì Triệu Tông Chính chưa về nước. Mùa đông năm trước nữa người Man cũng không vào cướp là vì Từ Vân Kiền về báo tin mà người Man còn mong muốn hòa thân vậy. Nay Tử Thành (sở trị của Đô hộ phủ) của An Nam bị quân lính làm phản chiếm giữ, Tiết độ sứ đánh thành ấy chưa hạ được, bọn lính thú còn lại phần nhiều tự quay về, quân lính đóng giữ ở miền Ung Quản lại giảm hơn nửa. Mùa đông lại sắp đến, nếu người Nam Chiếu chợt đến đánh cướp thì lấy gì mà chống giữ! Không bằng hãy sai sứ giả đến báo tin, như thế nếu bên ấy không xưng thần phụng cống thì cũng khiến cho bên ấy không mang lòng oán kiên quyết phạm vào biên giới hơn trước, như vậy cũng được rồi.” Nhà vua bèn hạ chiếu thư trao cho (Tiết độ sứ Tây Xuyên) Trần Kính Tuyên cho được hòa thân với họ, không bắt họ phải xưng thần, lệnh cho Kính Tuyên chép lại chiếu thư cùng gửi sang cho họ, vẫn tặng vàng-lụa cho họ. Nhà vua lại lấy Tự Tào Vương là (Lí) Quy Niên làm Tông chính thiếu khanh để đi sứ, lấy Từ Khứ Kiền làm Phó sứ, lại sai riêng Nội sứ đi theo cùng đến nước Nam Chiếu.

    _______________________

    Như vậy vào năm 880 thì quân lính ở An Nam làm loạn chiếm giữ Tử Thành (bấy giờ thời Đường, thành nhỏ gọi là Tử Thành, thành lớn gọi là La Thành) của An Nam Đô hộ. Tiết độ sứ là Tăng Cổn phải ra khỏi thành để tránh loạn rồi đánh chiếm lại. Vậy có lẽ Tăng Cổn đã không chạy về Ung Quản như Tân Đường thư chép, cũng không có chuyện người Nam Chiếu hãm An Nam vào lúc ấy. Khi quân loạn thì Tăng Cổn chỉ ra khỏi thành rồi quay lại đánh chiếm lại, có lẽ là lính thú ở Ung Quản sang tiếp viện, nhưng trong đó có nhiều quân Ung Quản đã tự ý bỏ về. Từ đây không thấy chính sử chép Tăng Cổn có chiếm lại được thành không. Nhưng các gia phả hay chiếu thư có nhắc đến một số Tiết độ sứ sau thời Tăng Cổn như Tạ Triệu, Tạ Hữu Quyền thì cho phép chúng ta nghĩ là nhà Đường đã bình định được loạn quân thì mới có các đời Tiết độ sứ sau đó chứ? Giả sử người đứng đầu loạn quân ấy là Khúc Thừa Dụ thì sao nhà Đường lại để cho họ Khúc tự trị khoảng 26 năm dài như vậy cho đến khi năm 906? Kể cũng khó giải thích.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s