Hợp tác an ninh phi truyền thống ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương 20 năm đầu thế kỷ XXI

Trần Ngọc Nhật Huyền, Huỳnh Bá Đạt

Trần Bảo Huy, Nguyễn Quế Nam, Lê Thị Thu Thủy

Lịch sử loài người từ cổ chí kim chưa có khi nào nhân loại đạt được những bước tiến dài trên con đường phát triển như ngày nay, nhưng cũng chưa bao giờ con người phải đối mặt với những nguy cơ đe dọa đến chính sự tồn vong của mình như bây giờ. Cạn kiệt tài nguyên, biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, thảm họa thiên tai, dịch bệnh, khủng bố, tội phạm xuyên quốc gia… đang đặt ra những yêu cầu bức thiết phải có sự nỗ lực chung của cả cộng đồng quốc tế để đối phó, vì sự an nguy của mỗi quốc gia dân tộc cũng như của toàn nhân loại. Những vấn đề này gọi chung là An ninh phi truyền thống. Khái niệm này không phải mới xuất hiện nhưng chỉ sau Chiến tranh lạnh, và đặc biệt từ cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI mới gia tăng mạnh mẽ.

Trong bối cảnh hiện nay, vấn đề an ninh phi truyền thống đã và đang tác động đến nhiều quốc gia trên thế giới. Các thách thức từ an ninh phi truyền thống đang là những vấn đề nổi cộm và nhức nhối mà các quốc gia trên thế giới đang phải đối mặt. Chính vì vậy, an ninh phi truyền thống đã trở thành chủ đề quan trọng, mối quan tâm lớn của các quốc gia trên thế giới và được đề cập trong chiến lược quốc phòng, an ninh của nhiều quốc gia trên thế giới.

Hiện nay, khu vực châu Á – Thái Bình Dương đang là một điểm nóng về các thách thức an ninh phi truyền thống . Khu vực này đang đứng trước nhiều mối đe dọa nguy hiểm buộc các quốc gia tại đây phải thực sự nhìn nhận lại các nguy cơ và quan tâm giải quyết hơn nữa.

1.                 Khái quát khu vực châu Á – Thái Bình Dương

Khu vực Châu Á – Thái Bình Dương (gọi tắt: APAC) là khu vực lòng chảo Thái Bình Dương (Pacific Rim), bao gồm tất cả các quốc gia nằm xung quanh và bên trong đại dương này. Châu Á – Thái Bình Dương bao gồm hai thành tố hợp lại là châu Á và Thái Bình Dương. Nói đến châu Á là nói đến một lục địa đa dạng, phức tạp và không thuần nhất. Với diện tích 44 triệu km2, châu Á là châu lục lớn nhất thế giới. Nằm vắt qua hai châu lục Á – Âu nên châu Á có sự đa dạng về chủng tộc và dân số. Nhìn chung, châu Á được chia làm 5 khu vực chính: Nga và Trung Á, Tây Nam Á, Nam Á, Đông Nam Á, tổng cộng có 46 quốc gia.Với diện tích 181 triệu km2, Thái Bình Dương là đại dương lớn nhất thế giới. Tổng cộng có hơn 30.000 hòn đảo nằm rải rác trong toàn bộ Thái Bình Dương.

Về điều kiện tự nhiên, khu vực Châu Á Thái Bình Dương có vị diện tích rộng lớn gồm toàn bộ châu Đại Dương và phần lớn Châu Á. Đây cũng là vị trí địa lí chiến lược kinh tế, chính trị, thuận tiện giao lưu với cả Châu Âu và Châu Mỹ. Ngoài ra, khu vực còn có trữ lượng dầu mỏ, khí đốt lớn,…

Về xã hội, khu vực Châu Á – Thái Bình Dương chiếm khoảng 1/2 dân số thế giới và cũng có nhiều nền kinh tế đang trỗi dậy mạnh mẽ như Trung Quốc, Ấn Độ. Những điều kiện này tạo điều kiện phát triền nền kinh tế khu vực, đồng thời khẳng định vị thế chính trị lớn trong việc giải quyết các vấn đề cấp thiết của cộng đồng quốc tế.

Châu Á – Thái Bình Dương là khu vực chiếm tới 40% tổng diện tích lãnh thổ và 41% dân số toàn cầu, 61% GDP, 47% tổng thương mại quốc tế và 48% nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài của thế giới, tập trung 65% nguồn nguyên liệu toàn cầu, có nhiều tuyến đường giao thông biển quan trọng bậc nhất thế giới. Tuy nhiên, đây là khu vực có sự đa dạng về mặt địa lý, các quốc gia phát triển không đồng đều; những mâu thuẫn liên quan đến các đường biên giới trên đất liền và biển đảo vẫn tồn tại dai dẳng; những khác biệt về thể chế chính trị, đa dạng về văn hóa, tôn giáo và dân tộc; sự cạnh tranh ảnh hưởng của các nước lớn ngày một căng thẳng; sự gia tăng của dịch bệnh, khủng bố và các vấn đề môi trường… đã khiến tính ổn định của khu vực luôn bị đe dọa. Khu vực châu Á – Thái Bình Dương đang phải đối mặt với những thách thức từ an ninh phi truyền thống.

2.                 Các vấn đề xoay quanh an ninh phi truyền thống (ANPTT)

2.1.         Khái niệm

Khái niệm an ninh phi truyền thống (ANPTT) ra đời trong bối cảnh Hậu Chiến tranh lạnh, khi mà xu thế toàn cầu hóa phát triển mạnh mẽ, thế giới bước vào giai đoạn mà trong đó xu thế hợp tác và phát triển kinh tế là chủ yếu, đã và đang mang đến sự phồn thịnh cho nhiều quốc gia, khu vực. Tuy nhiên, quá trình hợp tác, hội nhập quốc tế này cũng làm nảy sinh nhiều vấn đề mới, đe dọa đến an ninh, chủ quyền của các quốc gia dân tộc và cuộc sống của chính con người. Vì vậy khái niệm này ra đời và được sử dụng rộng rãi, phổ biến trên nhiều diễn đàn quốc tế thảo luận về các vấn đề chính trị, an ninh, quốc phòng, kinh tế, xã hội, trong chiến lược quốc phòng, an ninh của nhiều quốc gia dân tộc, cũng như trong hợp tác an ninh của nhiều khu vực và thế giới, sau khi diễn ra sự kiện khủng bố ngày 11-9-2001 ở Mỹ. 

Khái niệm an ninh phi truyền thống xuất hiện đầu tiên trong Hội nghị thượng đỉnh lần thứ 8 giữa các nước ASEAN và Trung Quốc tại Phnôm Pênh (Campuchia) năm 2002. Tại đây, hai bên đã ra Tuyên bố chung ASEAN – Trung Quốc về hợp tác trên lĩnh vực an ninh phi truyền thống”. Trong bản tuyên bố này các nhà lãnh đạo của ASEAN và Trung quốc bày tỏ “sự quan ngại về những vấn đề an ninh phi truyền thống ngày càng gia tăng như buôn lậu, ma túy, buôn bán phụ nữ và trẻ em, cướp biển, khủng bố, buôn lậu vũ khí, rửa tiền, tội phạm kinh tế quốc tế và tội phạm công nghệ cao”.

Trong quan hệ quốc tế, khi phân loại khái niệm an ninh theo chủ thể quốc gia và yếu tố thời gian người ta chia thành an ninh truyền thống (ANTT) và an ninh phi truyền thống (ANPTT). Những quan điểm khác nhau về thuật ngữ này có thể được chia thành hai trường phái:

Trường phái thứ nhất, quan niệm ANPTT là an ninh tổng hợp bao gồm an ninh quân sự, chính trị, kinh tế và xã hội. Trường phái này cho rằng ANPTT là một khái niệm mở rộng nội hàm của khái niệm ANTT – quan niệm lấy an ninh quân sự là trung tâm.

Trường phái thứ hai, quan niệm ANPTT là một khái niệm đối lập với ANTT. Phạm vi của ANPTT không bao gồm an ninh quân sự. Đó là những nguy cơ an ninh mới như khủng hoảng kinh tế, ô nhiễm môi trường, tội phạm xuyên quốc gia, khủng bố, di cư bất hợp pháp,…

Ở Việt Nam, phần lớn các học giả nghiên cứu về quan hệ quốc tế theo quan điểm thứ hai về ANPTT. Các học giả này quan niệm ANPTT là một vấn đề đối lập với ANTT – tức là những vấn đề an ninh không liên quan đến quân sự.

“An ninh phi truyền thống” (Non-traditional security) là một khái niệm mới xuất hiện và được bàn đến khá nhiều trong thời gian gần đây. Nhìn chung, khái niệm này được hiểu là những vấn đề an ninh mang tính chất phi quân sự và các nguy cơ an ninh phi truyền thống, là tất cả những mối đe dọa đến chủ quyền quốc gia, sự tồn tại của con người và sự phát triển nói chung ngoài xung đột quân sự, chính trị, ngoại giao. Khái niệm an ninh phi truyền thống ra đời là để bổ sung cho khái niệm an ninh truyền thống. Khái niệm này hoàn toàn mang tính chất động”, và cùng với thời gian, nội hàm của nó có thể còn tiếp tục được mở rộng hơn.

2.2.         Phân loại

Cho đến nay, việc nhận thức và xác định những vấn đề an ninh phi truyền thống vẫn chưa có sự thống nhất. Một số nghiên cứu viện dẫn quan niệm của Liên hợp quốc về vấn đề an ninh phi truyền thống trong 7 lĩnh vực chính: kinh tế, lương thực, sức khỏe, môi trường, con người, cộng đồng và chính trị. Có nghiên cứu quy vấn đề an ninh phi truyền thống vào 5 lĩnh vực cơ bản: kinh tế, môi trường, xã hội, chính trị và văn hóa. Một quan điểm khác phân chia các vấn đề an ninh phi truyền thống thành 6 nhóm chính: ô nhiễm môi trường, tình trạng thiếu hụt tài nguyên, tội phạm xuyên quốc gia, nạn khủng bố, dịch bệnh truyền nhiễm và thảm họa địa chất.

Tuy nhiên hiện nay danh sách những vấn đề ANPTT còn được bổ sung thêm. Năm 2003, Viện Quan hệ Quốc tế Trung Quốc Hiện đại xuất bản một cuốn sách về ANPTT liệt kê 17 hiện tượng được coi là các vấn đề ANPTT. Ngoài ra từ tháng 08 đến tháng 12 năm 2003,  gần 30 các vấn đề ANPTT được nêu lên trong các bài viết trong Hội thảo “An ninh Phi truyền thống và Trung Quốc” được tổ chức bởi Tạp chí Kinh tế và Chính trị Thế giới. Thêm vào đó ngày càng nhiều các vấn đề ANPTT được nêu lên trong các hội nghị an ninh khác như sự thiếu hụt tài nguyên nước, xung đột công nghiệp thủy sản, tắc nghẽn giao thông, sự tuyệt chủng nhiều loại động vật, đói nghèo,… Có thể thấy mọi vấn đề đều có thể liên quan đến ANPTT một khi các vấn đề đó được coi là đủ nghiêm trọng.

Nhìn chung, các vấn đề an ninh phi truyền thống hiện nay gồm nhiều lĩnh vực như: an ninh kinh tế, môi trường sinh thái, thảm họa thiên tai, khủng bố xuyên quốc gia, buôn lậu vũ khí, xung đột sắc tộc và tôn giáo, dịch bệnh, tội phạm xuyên quốc gia, buôn lậu ma túy, di cư trái phép, cướp biển và rửa tiền,…

Xét từ góc độ an ninh quốc gia, có thể chia an ninh phi truyền thống thành các nhóm vấn đề sau: an ninh chính trị, an ninh quân sự, an ninh xã hội, an ninh kinh tế, an ninh tiền tệ, an ninh năng lượng, an ninh lương thực, an ninh sinh thái.

Xét từ tính chất đe dọa và đối tượng bị đe dọa, an ninh phi truyền thống được chia thành 5 loại chính gồm: vấn đề an ninh liên quan đến sự phát triển bền vững; mối đe dọa, uy hiếp đến từ sự ổn định an ninh khu vực và quốc tế; tổ chức tội phạm xuyên quốc gia; tổ chức tồn tại ngoài nhà nước thách thức trật tự an ninh quốc tế; vấn đề an ninh gây ra bởi sự phát triển công nghệ và toàn cầu hóa..

2.3.         Đặc điểm của an ninh phi truyền thống

Một là, an ninh phi truyền thống bao gồm nhiều lĩnh vực khác nhau liên quan đến an ninh quốc gia và khó đối phó hay giải quyết đơn phương bằng biện pháp quân sự.

Hai là, có thể chia các vấn đề an ninh phi truyền thống thành hai nhóm bạo lực phi quân sự và phi bạo lực, trong đó nhóm bạo lực phi quân sự bao gồm khủng bố, tội phạm có tổ chức…; còn nhóm các hoạt động phi bạo lực bao gồm kinh tế, văn hóa, môi trường và dịch bệnh,…

Ba là, an ninh phi truyền thống và an ninh truyền thống là hai mặt của khái niệm an ninh toàn diện. Do vậy, trong những điều kiện nhất định các mối đe dọa an ninh phi truyền thống có thể bùng phát thành các vấn đề an ninh truyền thống. Chủ nghĩa khủng bố là một ví dụ tiêu biểu có cả hai mặt an ninh truyền thống và phi truyền thống.

Bốn là, các vấn đề an ninh phi truyền thống đều mang tính xuyên quốc gia thậm chí là xuyên khu vực.

Năm là, các vấn đề an ninh phi truyền thống ảnh hưởng và hủy hoại an ninh quốc gia dần dần và lâu dài hơn so với các vấn đề an ninh truyền thống.

3.                 Châu Á – Thái Bình Dương trước những thách thức của ANPTT

3.1.          Những thách thức còn tồn tại

 Sau Chiến tranh lạnh, xu thế toàn cầu hóa phát triển mạnh mẽ, thế giới bước vào giai đoạn mà trong đó hợp tác và phát triển kinh tế là lựa chọn được ưu tiên. Quá trình hợp tác, hội nhập quốc tế này dù đã và đang mang đến sự phồn thịnh cho nhiều quốc gia, khu vực nhưng cũng làm nảy sinh nhiều vấn đề mới, đe dọa an ninh, chủ quyền của các quốc gia dân tộc trên thế giới.

Trước hết, những mục tiêu kinh tế, lợi nhuận đã khiến các quốc gia lãng quên” tầm quan trọng của thiên nhiên, môi trường; khiến cho tình trạng ô nhiễm môi trường ngày càng trở nên nghiêm trọng. Kéo theo đó là biến đổi khí hậu dẫn đến thiên tai, dịch bệnh, thu hẹp diện tích sản xuất nông nghiệp, đe dọa trực tiếp tới an ninh lương thực của nhiều khu vực và toàn cầu. Tiếp đến, toàn cầu hóa khiến các ranh giới và khoảng cách dường như bị xóa nhòaBiên giới địa lý giữa các quốc gia không còn là trở ngại, do đó vấn đề của một quốc gia không chỉ tác động riêng tới các quốc gia đó mà còn tới nhiều nước khác. Sự phụ thuộc lẫn nhau ngày một gia tăng ấy tạo điều kiện cho các vấn đề phi truyền thống phát triển mạnh mẽ. Nhiều vấn đề trở nên vượt khỏi tầm kiểm soát của chính phủ, quốc gia. Ngoài ra, sự phát triển của khoa học công nghệ, điển hình là mạng Internet, cùng với đó là sự hủy hoại của con người đối với tự nhiên, môi trường; sự phát triển kinh tế thiếu kiểm soát, chạy theo lợi nhuận thuần túy, lợi ích trước mắt; sự chi phối của những tư tưởng chính trị cực đoan, sự tha hóa và suy thoái về đạo đức của chính con người… đã làm cho những vấn đề an ninh phi truyền thống trở nên trầm trọng, phức tạp hơn. Phạm vi tác động của vấn đề đã vượt ra khỏi biên giới lãnh thổ và lợi ích an ninh quốc gia dân tộc của một nước.

Tính chất nguy hiểm của các mối đe dọa an ninh phi truyền thống không chỉ biểu hiện ở mức độ hủy hoại, sự tàn phá của nó đối với cuộc sống của con người, mà còn đặt ra nhiều thách thức đối với sự ổn định xã hội, sự tồn vong của toàn cầu. Hiện nay, thế giới đang đối mặt với thực trạng gia tăng các nguy cơ an ninh phi truyền thống và mối đe dọa từ chúng. Các thảm họa thiên nhiên, động đất, sóng thần, bão lụt, dịch bệnh, cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, khủng bố, tội phạm xuyên quốc gia, tội phạm công nghệ cao, những vấn đề tài chính, an ninh năng lượng, an ninh lương thực,… ngày càng thách thức các thành tựu của khoa học, kỹ thuật hiện đại và khả năng, nỗ lực của con người. Đặc biệt, khu vực châu Á- Thái Bình Dương là nơi diễn ra những mối nguy cơ an ninh mới. Chúng không những gia tăng về số lượng nguy cơ mà còn cả về mức độ xuất hiện. Điều này có thể thấy rõ qua một số nguy cơ tiêu biểu sau:

(i) An ninh môi trường

Là một thành tố thuộc an ninh phi truyền thống. Bên cạnh những vấn đề an ninh môi trường trong phạm vi quốc gia phải xử lý, còn có một số vấn đề an ninh môi trường có tính chất xuyên quốc gia rất phức tạp, đòi hỏi nhiều quốc gia phải cùng hợp tác, chia sẻ, nỗ lực tham gia trong việc ứng phó với các mối đe dọa này. Điển hình như biến đổi khí hậu toàn cầu; an ninh nguồn nước xuyên biên giới, an ninh môi trường biển; hiện tượng khói mù xuyên biên giới; việc sử dụng vũ khí sinh thái; sự xâm nhập của các loài sinh vật ngoại lai qua biên giới; vận chuyển chất thải nguy hại xuyên biên giới; nguy cơ từ các nhà máy điện hạt nhân từ các quốc gia lân cận,… Đây là những vấn đề an ninh phi truyền thống có nguồn gốc từ các vấn đề môi trường gây ra.

Hiện nay, một trong những nguy cơ ANPTT đáng quan tâm là biến đổi khí hậu. Các quốc gia ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương là nơi chịu nhiều ảnh hưởng nghiêm trọng nhất của biến đổi khí hậu. Biến đổi khí hậu gây khủng hoảng sinh thái, từ đó đe dọa tới an ninh con người, an ninh quốc gia và tiềm ẩn nguy cơ cho sự tồn tại trong tương lai của các quốc gia. Biểu hiện rõ nhất là sự nóng lên của trái đất, băng tan, nước biển dâng cao; các hiện tượng thời tiết cực đoan như bão lũ, sóng thần, động đất, hạn hán, tai biến và giá rét kéo dài… ảnh hưởng tới tính mạng con người, gây suy thoái kinh tế, xung đột và chiến tranh, mất đa dạng sinh học, phá huỷ hệ sinh thái, thiếu lương thực và xuất hiện hàng loạt dịch bệnh,… Biến đổi khí hậu đã gây ra hàng loạt các tác động tiêu cực đến con người và kinh tế.

Thời gian qua liên tục xảy ra thiên tai, sóng thần, động đất, bão, lũ đe dọa đến cuộc sống người dân nơi đây. Đáng chú ý gần đây là siêu bão Haiyan ở Philippine năm 2013, động đất liên tiếp tại Vân Nam (Trung Quốc) tháng 8/2014,…gây thiệt hại lớn về người và của. Khu vực này là nơi tập trung của nhiều quốc gia đang phát triển, quá trình công nghiệp hóa đang khiến cho môi tường bị ảnh hưởng nghiêm trọng.

Theo hãng bảo hiểm Thụy sỹ Swiss Re, các hiện tượng thời tiết cực đoan trên thế giới năm 2015 đã gây thiệt hại 85 tỷ USD, 26.000 người chết. Năm 2015 đã đi vào lịch sử là năm nóng nhất từ trước tới nay, do hiện tượng ấm lên toàn cầu và ảnh hưởng của hiện tượng thời tiết El Nino.

Năm 2015 cũng ghi nhận kỉ lục 9 trận siêu bão xuất hiện tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương và trận động đất mạnh 7,8 độ richter làm rung chuyển Nepal và các nước khác khiến nhiều người thiệt mạng, phá hủy nhiều công trình kiến trúc cổ và gây thiệt hại lớn về kinh tế.

Nửa cuối năm 2020, Đông Nam Á chịu tổn thất nặng nề từ hàng loạt cơn bão nhiệt đới lớn và lũ lụt, gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới hàng chục triệu người. Những trận bão, lốc cường độ mạnh, sức tàn phá lớn, mang tính dị thường có xu hướng tăng lên, đặc biệt ở Bắc Mỹ, Tây Nam Thái Bình Dương.

Việt Nam là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu, trong đó đồng bằng sông Cửu Long là một trong ba đồng bằng dễ bị tổn thương nhất do nước biển dâng. Việt Nam cũng là một trong các quốc gia phải chịu nhiều ảnh hưởng của các kiểu thời tiết khắc nghiệt và thường xuyên phải chịu ảnh hưởng của bão biển, bão nhiệt đới và áp thấp nhiệt đới. Thiên tai ở miền Trung từ tháng 9 – 11 đã khiến 192 người chết, 57 người vẫn còn mất tích, với tổng thiệt hại kinh tế lên tới 30.000 tỷ VND. Tại Australia, vụ cháy tháng 1/2020 đã thiêu hủy 100.000 km2 đất rừng, tương đương diện tích bang Indiana của nước Mỹ.

Đáng chú ý, giới chuyên gia cho rằng tần suất ngày một dày đặc của thiên tai, hỏa hoạn, cùng nhiều thay đổi tiêu cực về địa lý là minh chứng rõ nét nhất của biến đổi khí hậu toàn cầu. Theo thống kê của Tổ chức Lương thực & Nông nghiệp Liên hợp quốc (FAO) tại Việt Nam, biến đổi khí hậu, kèm theo thiên tai, hỏa hoạn có thể khiến 122 triệu người, chủ yếu là nông dân, rơi vào tình trạng đói nghèo cùng cực vào năm 2030.

Biến đổi khí hậu đe dọa tới an ninh quốc gia, như vấn đề xung đột nguồn nước xuyên biên giới trên các lưu vực sông, nghèo đói, mất trật tự, an toàn xã hội, tệ nạn môi trường trên diện rộng ở trong nước và quốc tế, xung đột trong việc sử dụng các nguồn tài nguyên khan hiếm để phục vụ mục đích kinh tế… Biến đổi khí hậu đã, đang và sẽ dẫn tới tình trạng mất chỗ ở và di cư ở một số khu vực bị ảnh hưởng nặng nề. Khi tài nguyên đất bị thu hẹp do nước biển dâng, các thảm họa tự nhiên như lốc xoáy, lũ lụt, hạn hán tiếp tục diễn ra với cường độ cao, số lượng người mất chỗ ở tăng lên, các dạng sinh kế phụ thuộc vào hệ sinh thái mất đi… sẽ dẫn tới tình trạng di cư vĩnh viễn hoặc tạm thời. Nguy cơ này đặc biệt nghiêm trọng đối với lĩnh vực nông nghiệp, tác động mạnh mẽ nhất tới các nhóm nghèo nhất, nhóm người yếu thế.

(ii) An ninh nguồn nước

Trên toàn cầu đang đứng trước nhiều thách thức, đe dọa. Trong lịch sử đã từng xảy ra nhiều cuộc xung đột, chiến tranh giữa các quốc gia do mâu thuẫn trong chia sẻ và kiểm soát nguồn nước. Theo thống kê của dự án “Các cuộc chiến tranh thế giới của Viện Thái Bình Dương (Mỹ), thế giới đã xảy ra 225 cuộc chiến tranh, xung đột liên quan đến tài nguyên nước. Trong đó, châu Đại Dương có 3 cuộc xung đột, khu vực Mỹ La-tinh có 9 cuộc, Bắc Mỹ có 31 cuộc, châu Phi có 36 cuộc, châu Âu có 40 cuộc, châu Á có 46 cuộc và nhiều nhất là khu vực Trung Đông với 60 cuộc xung đột.

Đặc biệt, chỉ với hơn một thập niên đầu thế kỷ XXI, số cuộc xung đột gia tăng bằng 69% so với cả thế kỷ XX. Có thể thấy rằng khủng hoảng tài nguyên nước, ô nhiễm, cạn kiệt nguồn nước đang là vấn đề nóng của thế giới hiện nay, mang tính toàn cầu và đe dọa tới sự tồn vong và phát triển của loài người.

Khan hiếm tài nguyên nước đã được coi là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến bất ổn chính trị – xã hội ở nhiều khu vực trên thế giới và còn tiếp tục là nguyên nhân của xung đột trong tương lai. Xung đột tài nguyên nước giữa các quốc gia ngày càng gia tăng. Khu vực Trung Đông là nơi liên tiếp xảy ra các cuộc xung đột do tranh chấp về nguồn nước, đặc biệt là ở lưu vực sông Jordan (thuộc Israel, Jordan, Lebanon, Syria, và Palestine) – một trong những điểm nóng về an ninh môi trường. Ở Việt Nam, sự khan hiếm, thiếu hụt nguồn nước do phụ thuộc vào các con sông xuyên biên giới là thách thức lớn nhất đối với an ninh nguồn nước, nhất là sông Mê Kông và sông Hồng – hai con sông chính của Việt Nam. Dưới tác động của hoạt động khai thác, sử dụng nguồn nước của các quốc gia ở thượng nguồn đã gây nên tình trạng  khan hiếm nguồn nước, xâm nhập mặn, sạt lở hai bên bờ sông nhất là về là mùa khô.

Trong thư gửi nhân Ngày nước Thế giới (21/3/2014), Liên hợp quốc đã đưa ra các số liệu thống kê về nguồn nước trên thế giới. Mỗi năm, thế giới có 700 ngàn trẻ em chết vì bệnh tiêu chảy do sử dụng nước bẩn. Hằng ngày có hàng triệu người phải đi nhiều giờ đồng hồ mới tiếp cận được nơi có nước an toàn. Liên hợp quốc cũng đưa ra cảnh báo do dân số tăng, nhu cầu phát triển kinh tế ở các nước đang phát triển khiến nhu cầu sử dụng nước sạch và năng lượng tăng lên gấp đôi vào những thập niên tới. Đến năm 2050, nhu cầu nước trên toàn thế giới tăng lên khoảng 55%, và theo đó 40% dân số trên trái đất sẽ sống trong tình trạng khan hiếm, căng thẳng về nguồn nước.

Ô nhiễm đại dương và biển là vấn đề ngày càng trầm trọng, mà cả thế giới phải đối mặt. Hằng năm, loài người thải ra biển một lượng lớn dầu, các chất thải như kim loại nặng, thuốc trừ sâu, chất phóng xạ. Năm 2010, sự cố nổ giàn khoan của hãng dầu khí BP, ngoài khơi biển Luoisisna, gần 5 triệu thùng dầu tràn vào khu vực vịnh Mexico, phá hủy các hệ sinh thái. Giao thông đường biển phát triển cũng mang lại những nguy cơ như sự cố tràn dầu hay ô nhiễm nguồn nước xuyên quốc gia.

Ở khu vực Biển Đông, các hệ sinh thái đang đối mặt với nguy cơ suy thoái nghiêm trọng. Hội thảo về  “An ninh môi trường trên Biển Đông” được tổ chức tại Mỹ ngày 6/5/2016, đã chỉ ra 80% các rạn san hô ở vùng biển này bị suy giảm, dẫn đến suy giảm nguồn cá, vì san hô chính là môi trường sinh thái để các loài cá biển phát triển. Từ những năm 60 của thế kỷ XX tới nay, số lượng các loài cá tại Biển Đông đã suy giảm khoảng một nửa. Theo đánh giá của các chuyên gia, thời gian gần đây, việc Trung Quốc tiến hành hàng loạt các hoạt động tôn tạo, xây dựng trái phép các bãi đá nhân tạo với quy mô lớn tại Biển Đông là một trong những nguyên nhân dẫn tới những tác động tiêu cực về môi trường.

 Việt Nam là quốc gia có lợi thế đường bờ biển dài và nhiều đảo, quần đảo, với tài nguyên biển phong phú. Tuy nhiên, do sự tranh chấp về tài nguyên biển của các quốc gia trong khu vực có biển chung, Việt Nam cũng phải đối mặt với không chỉ các vấn đề về an ninh môi trường mà còn cả vấn đề về chủ quyền lãnh thổ và lãnh hải trên biển Đông.

Rủi ro hạt nhân là mối đe dọa đặc biệt nghiêm trọng đối với nhân loại. Trên thế giới đã xảy ra một số thảm họa môi trường gây ra những thiệt hại nặng nề, điển hình như thảm họa hạt nhân Chernobyl xảy ra vào năm 1986 ở Ukraine, đây được coi là thảm họa hạt nhân tồi tệ nhất trong lịch sử thế giới. Một minh chứng khác đó là thảm họa Bhopal. Đây là một thảm họa công nghiệp xảy ra tại nhà máy sản xuất thuốc trừ sâu, đã gặp sự cố rò rỉ ra khí Methyl Isocyanate (MIC) và các khí độc khác, gây phơi nhiễm cho hơn 500.000 người và khiến hàng nghìn người thiệt mạng, phần lớn các loài động vật và cây trồng cũng bị chết. Vụ tai nạn được đánh giá là một trong những thảm họa tàn khốc nhất trong thập niên 1980.

Nguy cơ ô nhiễm phóng xạ từ các nhà máy điện hạt nhân được xây dựng gần các quốc gia khác là thách thức lớn cần phải được quan tâm, chú trọng. Hiện nay, Trung Quốc có 02 nhà máy điện hạt nhân tại Phòng Thành và đảo Hải Nam, gần với tỉnh Quảng Ninh của Việt Nam. Đây là một trong những nguy cơ lớn đối với các tỉnh phía Bắc Việt Nam nếu xảy ra sự cố. Tác động môi trường của các nhà máy điện hạt nhân nếu xảy ra sự cố sẽ ảnh hưởng rất nghiêm trọng tới khu vực ven biển và đại dương.

Ô nhiễm khói mù xuyên biên giới do cháy rừng là vấn đề nghiêm trọng, ảnh hưởng tới nhiều quốc gia. Ở Đông Nam Á, cháy rừng đang làm cho tình trạng ô nhiễm không khí ở nhiều quốc gia bị ảnh hưởng lớn. Điển hình như việc đốt rừng, phát hoang canh tác nông nghiệp gây cháy rừng tại Indonesia dẫn đến khói bụi xuyên biên giới nhiều quốc gia lân cận. Các vụ cháy rừng ở Indonesia đã lặp đi lặp lại trong nhiều thập kỷ và rất ít thay đổi. Tác động của những đám cháy ở Indonesia ảnh hưởng nghiêm trọng đến các quốc gia khác trong khu vực như Malaysia, Singapore, Thái Lan, Myanmar và Việt Nam. Chỉ tính riêng giai đoạn 1997-1998, cháy rừng đã ảnh hưởng đến khoảng 20 triệu người và gây ra thiệt hại ước tính từ 4,5 đến 9,3 tỉ USD. Do tính không biên giới của các tác động này với môi trường, việc giải quyết ô nhiễm khói mù là nhiệm vụ chung của toàn khối ASEAN. 

Việc vận chuyển các chất thải nguy hại xuyên biên giới gây ra thảm họa về sức khỏe và môi trường cho nước nhập khẩu chất thải. Lượng chất thải nguy hại của thế giới được đưa sang các nước đang phát triển dưới nhiều hình thức như xuất khẩu phế liệu có trộn lẫn chất thải nguy hại; thuê các nước đang phát triển xử lý chất thải nguy hại; sử dụng các tàu thủy không rõ địa chỉ, chở chất thải nguy hại sang nước khác rồi bỏ lại cảng nước đó; thuê kho hoặc địa điểm ở một nước khác để chứa tạm hàng hóa (thực chất là chất thải nguy hại)… Ở Việt Nam, từ năm 2003 đến nay, lực lượng chức năng Việt Nam phát hiện gần 3.000 container chứa hàng chục nghìn tấn ắc quy, chì phế thải và chất thải công nghiệp nhập trái phép vào các cảng.

Nguy cơ từ việc du nhập các loài sinh vật ngoại lai là thách thức lớn đối với nhiều quốc gia. Trong thời gian ngắn, chúng chiếm vùng phân bố của các sinh vật bản địa khác trong cùng hệ sinh thái, gây đe dọa đến loài bản địa. Ở Việt Nam, phải kể đến nạn dịch ốc bươu vàng, chúng đã phát triển với mật độ quần thể lớn, phá hoại mùa màng, phá vỡ cân bằng hệ sinh thái và thu hẹp vùng phân bố của loài bản địa. Sự xâm lấn của cây trinh nữ đầm lầy ở Tây Nguyên và Nam Bộ gây thiệt hại cho đất lúa và đất đầm lầy,…

Thông qua một số hoạt động kinh tế, các nhà đầu tư hoặc các thương lái nước ngoài có những thủ đoạn, hành vi nhằm phá hoại môi trường của một số quốc gia khác. Bằng con đường mậu dịch tiểu ngạch, các thương lái có những tiểu xảo xúi giục người dân phá hoại môi trường. Điển hình như ở Việt Nam, việc thu mua đỉa, ốc bươu vàng, móng trâu, lá cây hạt điều… với giá cao trên thị trường, đánh vào lòng tham của người dân đã  dẫn tới tình trạng tàn phá môi trường, đe doạ tới an ninh trật tự. Hoặc việc đưa hoá chất độc hại thông qua thuốc bảo vệ thực vật, thuốc kích thích tăng trưởng để gây ô nhiễm môi trường, gây hại lâu dài tới sức khỏe, suy thoái nòi giống đời sau. Ngoài ra, các nhà đầu tư nước ngoài thông qua các công trình công nghiệp lớn nhà máy thép, nhà máy nhiệt điện, nhà máy hoá chất… với trình độ công nghệ lạc hậu, gây hại cho môi trường và gây xung đột môi trường với cộng đồng dân cư.

(iii) An ninh lương thực

Tình trạng mất an ninh lương thực cũng đang là vấn đề đáng báo động tại Châu Á –Thái Bình Dương. Quy mô dân số của Châu Á – Thái Bình Dương đã tăng gấp ba trong vòng 65 năm qua và dự kiến sẽ đạt 7,84 tỷ người vào năm 2050. Khu vực này có 6 trong tổng số 10 quốc gia đông dân  nhất  thế  giới: Trung  Quốc,  Ấn  Độ, Indonesia, Pakistan, Bangladesh và Nhật Bản, trong đó chỉ riêng Trung Quốc, Ấn Độ và Indonesia đã chiếm đến 40% tổng dân số toàn cầu (UNDP, 2016). Theo tính toán của Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc, sản lượng lương thực thế giới vào năm 2050 sẽ phải tăng gấp 1.5 lần hiện nay mới đủ nuôi sống số dân trên thế giới. Tuy nhiên, tại CA-TBD, mặc dù dân số tăng lên nhanh chóng nhưng diện tích đất trồng trọt liên tục bị thu hẹp tại nhiều quốc gia đã dẫn đến tình trạng sản lượng lương thực bị sụt giảm trầm trọng.

Tại Trung Quốc, tình trạng sa mạc hóa, đô thị hóa và phát triển công nghiệp đã lấy mất 5,5% diện tích đất canh tác (khoảng 8 triệu ha). Tại Hàn Quốc, tổng diện tích các cánh đồng lúa giảm 4,3% vào năm 2011 khiến sản lượng lúa gạo nước này giảm xuống mức thấp nhất trong hơn 30 năm qua. Tại Nhật Bản, nhiều diện tích đất trồng trọt bị bỏ hoang, bị ô nhiễm không canh tác được.

Theo một nghiên cứu của Tổ chức Nông lương Liên Hợp Quốc (FAO), CA-TBD là nơi sinh sống của hơn 60% trong số hơn 1 tỷ người nghèo đói của thế giới. Tổ chức Nông lương của Liên Hiệp Quốc (FAO) cảnh báo tình trạng bất ổn về an ninh lương thực đang gia tăng ở khu vực này. Năm 2012, có 642 triệu người thường xuyên trong tình trạng không đủ ăn và suy dinh dưỡng tại châu Á. Bên cạnh đó, giá lương thực thực phẩm tăng cao, nguy cơ bất ổn về lương thực đang trở thành mối thách thức lớn hơn bao giờ hết. Tất cả những điều này khiến cho vấn đề đảm bảo an ninh lương thực trở thành một thách thức đáng quan ngại vì an ninh lương thực không đảm bảo sẽ là nguồn gốc dẫn đến nhiều vấn đề an ninh khó giải quyết khác.

(iv) An ninh năng lượng

Châu Á – Thái Bình Dương với vai trò động lực tăng trưởng của kinh tế toàn cầu thế kỷ XXI, đã trở thành thị trường tiêu thụ năng lượng lớn nhất thế giới, khiến cho vấn đề an ninh năng lượng ở khu vực càng chứa đựng nhiều thách thức, nguy cơ tiềm ẩn. Khu vực này rất dễ bị thiếu hụt năng lượng, bởi đây là khu vực có tốc độ tăng về nhu cầu năng lượng cao nhất thế giới. Trong giai đoạn 2000-2013, nếu mức tiêu thụ năng lượng thế giới tăng 36% thì Châu Á- Thái Bình Dương chiếm 76%. Trừ Nga và Mỹ, hầu hết quốc gia trong khu vực đều không có khả năng tự đảm bảo nguồn cung năng lượng mà chủ yếu phụ thuộc vào nhập khẩu. Dự báo, khu vực phải nhập 44% lượng dầu sử dụng trước năm 2035, so với mức 36% năm 2010. Tuyến đường nhập khẩu năng lượng của các quốc gia trong khu vực chủ yếu là tuyến đường biển đi qua Ấn Độ Dương, Biển Đông,…vốn là những khu vực có tranh chấp chủ quyền và nạn cướp biển phát triển mạnh. Điều kiện tự nhiên của khu vực không ổn định, có thể ảnh hưởng tới sự vận hành của các cơ sở năng lượng (động đất, sóng thần, hạn hán…). Ngoài ra, ASEAN còn 1/5 dân số vẫn sống trong cảnh thiếu điện,  nhu cầu năng lượng của khu vực sẽ còn tăng hơn 80% trong giai đoạn đến năm 2035. Vì vậy các  nước Đông  Nam  Á  luôn đòi hỏi nguồn cung ứng năng lượng dồi dào để tiếp thêm nhiên liệu cho sự tăng trưởng kinh tế. Nếu giá dầu tiếp tục tăng trong một khoảng thời gian dài sẽ gây ra những tác động bất lợi đối với các nền kinh tế ASEAN.

An ninh mạng

Một trong những nguy cơ an ninh nổi lên có mức độ đe dọa và thiệt hại lớn là vấn đề về chống khủng bố và an ninh mạng. Trong đó, tội phạm công nghệ cao ngày càng gia tăng và phương thức thực hiện tinh vi hơn là thách thức an ninh phi truyền thống nổi bật trong bối cảnh bùng nổ công nghệ cao trên toàn thế giới. Hiện nay, tội phạm công nghệ cao rất phổ biến ở nhiều nước trên thế giới, với thủ đoạn chính là tấn công máy tính, mạng máy tính; lợi dụng lỗ hổng bảo mật web, tấn công truy cập, lấy cắp, phá hoại dữ liệu, lừa đảo dưới nhiều hình thức; phát tán virus, phần mềm gián điệp; sử dụng trái phép trong các dữ liệu của máy tính không được phép của cơ quan nhà nước hoặc người có thẩm quyền; đưa trái phép, lan truyền các thông tin thất thiệt, thiếu kiểm chứng lên mạng xã hội…

Tội phạm công nghệ cao thường để lại các hậu quả rất nặng nề, thường ảnh hưởng tới hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội, gây hậu quả khôn lường về kinh tế – xã hội, thậm chí là tác động tới chính trị. Nguy hiểm hơn, tội phạm công nghệ cao còn thực hiện tấn công hệ thống hạ tầng thông tin, truyền thông quốc gia, gây ảnh hưởng đến an ninh, hoà bình thế giới.

Năm 2013, thế giới có tới 1,7 tỉ cuộc tấn công mạng. Theo thống kê của Norse, trong danh sách 10 quốc gia bị tấn công mạng nhiều nhất trong khoảng thời gian 45 phút, châu Á có Thái Lan xếp thứ 2 với 220 cuộc, Hồng Kông đứng thứ 3 với 215 cuộc. Cũng theo đó, các cuộc tấn công mạng chủ yếu đến từ Trung Quốc đã cảnh báo về sự phức tạp của vấn đề này tại châu Á- Thái Bình Dương..

Theo báo cáo mới nhất của Microsoft châu Á năm 2017, Châu Á – Thái Bình Dương là khu vực gặp nguy cơ cao nhất về các mối đe dọa an ninh mạng. Trong báo cáo có ba nước thuộc khu vực nằm trong tốp năm toàn cầu bị mã độc tấn công. Các nước bị nhiễm mã độc cao bao gồm các thị trường lớn đang phát triển và các nước Đông Nam Á như Mông Cổ, Pakistan, Nepal, Bangladesh, Campuchia, Philippines, Thái Lan và Ấn Độ. Trong những nước đứng đầu toàn cầu về nguy cơ nhiễm mã độc thì có hai nước ở Đông Nam Á là Việt Nam và Indonesia. Đây là hai nước có tỷ lệ nhiễm mã độc nhiều nhất vào năm 2016. Bên cạnh đó, việc sử dụng mạng xã hội thiếu kiểm soát đã gây ra nhiều hệ lụy bất ổn cho các quốc gia, nhất là các nước đang phát triển.

Theo Interpol, có khoảng 907.000 tin nhắn rác, 737 sự cố liên quan đến phần mềm độc hại và 48.000 đường dẫn URL độc hại liên quan đến Covid-19 từ tháng 1 – 4. Hãng bảo mật Trend Micro cho biết từ tháng 2 – 3, số lượng tin nhắn rác đã tăng 220 lần và số lần truy cập vào các đường dẫn URL độc hại tăng 260%.

Đáng ngại hơn, đại dịch Covid-19 cũng là mảnh đất màu mỡ cho vấn nạn tin giả. Theo số liệu của Đại học John Hopkins thu thập từ 67 quốc gia, số người ủng hộ, chấp thuận tiêm vaccine đã giảm mạnh từ tháng 7 – 9 do tác động không nhỏ đến từ các nguồn tin sai sự thật. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) mới đây đã cảnh báo những thông tin giả và sai lệch có thể gây tổn hại nghiêm trọng tới các chương trình tiêm chủng vaccine Covid-19, cản trở nỗ lực chống dịch chung của nhân loại.

Ngoài ra, chủ nghĩa khủng bố, tội phạm xuyên quốc gia đặt ra nhiều thách thức lớn. Các hoạt động điển hình như: nạn buôn bán người, đưa người di cư trái phép, buôn ma túy, tội phạm môi trường (động thực vật hoang dã, gỗ hiếm, rác thải điện tử và các chất gây hại môi trường), hàng giả, hàng nhái,…  Lợi nhuận từ các hoạt động tội phạm xuyên quốc gia trong khu vực có thể dùng để mua bất động sản và các công ty, gây tham nhũng, làm bất ổn trên toàn thế giới.

Tại Đông Nam Á, tổ chức khủng bố Nhà nước Hồi giáo (IS) tự xưng vẫn là mối đe dọa hiện hữu. Cơ quan Phòng, chống Ma túy và Tội phạm của Liên hợp quốc (UNODC) ước tính có 1.500 thanh thiếu niên tại khu vực bị lôi kéo, tham gia tiếp tay cho hoạt động của IS. Các nhóm tội phạm xuyên quốc gia đang đẩy mạnh hoạt động giữa biên giới các quốc gia Đông Nam Á.

Tình trạng di cư bất hợp pháp dưới nhiều hình thức khác nhau đang là vấn đề an ninh phi truyền thống cần phải được ngăn chặn, vấn đề này đã và đang xảy ra ở nhiều quốc gia. Thế giới đang đối mặt với làn sóng di cư bất hợp pháp ở nhiều nơi, thực tế các cuộc di cư này đều rất mạo hiểm, tiềm ẩn nhiều rủi ro về tính mạng. Tình trạng di cư từ các quốc gia châu Á, đặc biệt là Đông Nam Á cũng đáng báo động. Trong số đó, có nhiều người đã thiệt mạng ngay trên đường đi sang EU. Một trong những thảm hoạ tồi tề nhất trong cuộc khủng hoảng di cư ở Địa Trung Hải, đó là hơn 700 người thiệt mạng trên một con tàu đánh cá chở người di cư bất hợp pháp đến châu Âu bị lật ngoài khơi Libya vào tháng 4/2015.

Di cư bất hợp pháp là vấn đề xuyên biên giới, cần phải được kiểm soát và ngăn chặn, bởi lẽ nó tiềm ẩn những nguy cơ khủng hoảng về mặt xã hội, chính trị và kinh tế. Nhiều nghiên cứu cũng chỉ ra sự gia tăng tệ nạn xã hội trong cộng đồng di cư tự do. Những người hành nghề mại dâm chủ yếu là người di cư, mặt khác cũng làm lan truyền, phát tán các dịch bệnh sang vùng khác mà khó kiểm soát được. Những dịch bệnh do đông dân như lao, HIV, bệnh ngoài da, ký sinh trùng… cũng trở nên không thể kiểm soát được trong các cộng đồng di dân tự do.

(v) An ninh sinh học – dịch bệnh:

Lịch sử thế giới loài người đã trải qua hàng chục đại dịch nguy hiểm, tàn khốc. Điển hình các đại dịch như: dịch hạch Justinian (541 – 750 CN), cướp đi sinh mạng của khoảng 50 triệu người; dịch hạch “Cái chết đen” xảy ra vào thế kỷ XIV khiến trên 75 triệu người phải bỏ mạng; bệnh đậu mùa thế kỷ XV – XVII làm khoảng 20 triệu người chết. Đại dịch tả được ghi nhận đầu tiên vào năm 1563 tại Ấn Độ, sau đó lan ra thế giới làm hàng chục triệu người tử vong. Đại dịch cúm: Tây Ban Nha (1918), Hong Kong (1968) làm khoảng 1 triệu người chết. Dịch bệnh HIV/AIDS được ghi nhận đầu tiên vào năm 1981, có khoảng 75 triệu người nhiễm bệnh, 32 triệu người chết, đến nay vẫn là nỗi ám ảnh của nhân loại. Gần đây là dịch SARS năm 2003; đại dịch Ebola (năm 2014) khiến 1.350 người tử vong; dịch cúm H1N1 (đầu năm 2019) làm hàng trăm triệu người nhiễm bệnh, hàng trăm nghìn người chết. Tại châu Á, nhiều quốc gia cũng đã cảnh báo về sự xuất hiện của dịch bệnh. Những đại dịch này rất nguy hiểm với mức độ lây lan chóng mặt đang trở thành mối đe dọa khó lường đối với tất cả các nước trong khu vực.

Thế giới năm 2020 chứng kiến sự nổi lên mạnh mẽ của các thách thức an ninh phi truyền thống, tác động sâu sắc tới khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Trong số đó, đại dịch Covid-19 là một đại diện tiêu biểu. Đại dịch Covid-19 đã và đang càn quét qua nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới. Cùng với việc triển khai quyết liệt các giải pháp ngăn chặn đại dịch, nhiều nước cũng chú trọng tiến hành đồng bộ các giải pháp phòng chống, coi đây là yêu cầu cấp thiết trong chiến lược an ninh quốc gia. Đại dịch Covid-19 nói riêng và các thách thức an ninh phi truyền thống nói chung đã tác động sâu sắc tới mọi mặt của đời sống xã hội trên toàn thế giới và khu vực châu Á – Thái Bình Dương không phải là ngoại lệ.

Xuất hiện tại Vũ Hán (Trung Quốc) vào tháng 11/2019, đại dịch này đã nhanh chóng lây lan trên toàn thế giới. Tính đến tháng 2/2021, thế giới ghi nhận có tổng cộng 109.081.181 ca nhiễm COVID-19, trong đó 2.403.778 ca tử vong và 81.108.251 ca phục hồi. Đại dịch đã gây thiệt hại nặng đến mọi lĩnh vực, nhất là kinh tế, chính trị, xã hội, đối ngoại, an ninh,… của các quốc gia và thế giới.

Ngoài thảm họa về y tế, dịch bệnh COVID-19 đã đẩy thế giới vào một cuộc suy thoái kinh tế nghiêm trọng. Tốc độ tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm 2020 sụt giảm tới 5%; nhiều quốc gia buộc phải “đóng cửa” biên giới khiến cho sự giao lưu, hợp tác giữa các quốc gia rối loạn, ách tắc. Ngoài việc phải mất một khoản chi phí lớn để phòng, chống dịch bệnh COVID-19, các quốc gia buộc phải đưa ra hàng loạt gói cứu trợ trị giá bằng khoảng 12% GDP, nhằm bảo đảm thanh khoản, ổn định hệ thống tài chính – ngân hàng, duy trì sản xuất và việc làm, đa dạng hóa chuỗi cung ứng, đầu tư vào hạ tầng y tế, nghiên cứu vacxin chống dịch bệnh COVID-19…, đã tạo nên khoản nợ công lớn gấp nhiều GDP của tất cả các nước cộng lại. Tác động xã hội cũng không kém phần nghiêm trọng, với hàng chục triệu người lao động trong hầu hết các lĩnh vực ở mỗi nước bị mất việc làm, thu nhập bị giảm sút hoặc không còn thu nhập, rơi vào cảnh đói nghèo, tội phạm gia tăng, hố sâu ngăn cách giàu – nghèo ngày càng trầm trọng,…

Trên bình diện quốc tế, dịch bệnh COVID-19 đã làm gia tăng thêm mối bất hòa giữa một số nước, thúc đẩy sự chuyển dịch sức mạnh giữa các quốc gia, đồng thời buộc nhiều chính quyền trên thế giới phải điều chỉnh ưu tiên chính sách đối nội và đối ngoại, làm thay đổi phương thức vận hành của quan hệ quốc tế và chính trị thế giới.

Đại dịch COVID-19 giúp chúng ta thấy rõ năng lực xử lý khủng hoảng cũng như sự yếu kém của một số quốc gia. Mặc dù một số nước, tổ chức quốc tế đã có động thái liên kết ứng phó với đại dịch nhưng các phản ứng khá chậm. Đặc biệt nhất đó là thiếu sự trao đổi thông tin chính xác, minh bạch giữa các quốc gia để có thể rút ngắn thời gian tìm ra phương thức chữa trị, điều chế vacxin. Chưa có một sự liên kết thực sự nào giữa các nước; thay vào đó là sự nghi kỵ, toan tính, chia rẽ và hành động theo từng quốc gia. Đại dịch Covid -19 cũng cho chúng ta thấy sự chuẩn bị của các quốc gia nói riêng, của toàn thế giới nói chung trước các nguy cơ an ninh phi truyền thống là rất yếu. Những nước phát triển hàng đầu thế giới như Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản lại dễ dàng bị tấn công trước đại dịch này.

Đại dịch Covid – 19 sớm muộn cũng kết thúc nhưng điều quan trọng là chúng ta phải rút ra được bài học gì để từ đó chủ động đối mặt với những dịch bệnh có thể xảy ra trong tương lai. Những nguy cơ an ninh phi truyền thống đã, đang đặt ra yêu cầu bức thiết về sự hợp tác thực sự giữa các quốc gia. Muốn giải quyết được các vấn đề này chỉ có thể tiến hành hợp tác toàn diện, trên cả đa phương và song phương.

Ngoài những nguy cơ nổi trội như trên, châu Á – Thái Bình Dương còn phải đối mặt với nhiều thách thức ANPTT khác như: an ninh kinh tế, tình trạng buôn bán ma túy, cướp biển, buôn bán vũ khí, tình trạng buôn  bán  phụ  nữ  và  trẻ  em  xuyên  biên giới…  Những  thách  thức  này  ảnh  hưởng đến các nước ở những mức độ khác nhau, do những khác biệt về các đặc điểm địa lý, kinh tế, chính trị và xã hội của từng quốc gia. Từ đó cho thấy mối đe dọa “an ninh phi truyền thống” có thể gây ra những thảm họa lớn hơn cả những mối đe dọa “an ninh truyền thống”.

3.2.         Tác động của an ninh phi truyền thống

(i) Tác động tích cực:

Chính vì sự gia tăng các nguy cơ phi truyền thống đã dẫn đến xu hướng tăng cường hợp tác giữa các quốc gia, tạo môi trường thuận lợi cho hợp tác song phương, đa phương cũng như giúp các cơ chế hợp tác an ninh đa phương hiện nay đi vào hoạt động tích cực và hiệu quả hơn. 

Ở khu vực Đông Nam Á, các nước ASEAN và các nước đối thoại đã xây dựng các chương trình và kế hoạch hợp tác trên lĩnh vực ANPTT. Các chương trình và kế hoạch hợp tác đã thể rõ tầm quan trọng của hợp tác song phương và đa phương trong nội khối, cũng như sự hợp tác giữa các nước ASEAN với các bên đối thoại trong việc đối phó với vấn đề ANPTT.

Các diễn đàn, cơ chế hợp tác an ninh trong khu vực hiện nay cũng đi vào hoạt động hiệu quả và thiết thực hơn. Tiêu biểu là những hoạt động của ARF. ARF đã thiết lập được gần 80 chương trình về xây dựng lòng tin góp phần quan trọng cho việc thúc đẩy sự tin tưởng lẫn nhau và đối thoại an ninh phi truyền thống giữa các quốc gia trong khu vực. Ngoài ra, những năm gần đây, cơ chế 10+3 (giữa ASEAN với Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc) ngày một phát triển, trở thành cơ chế hợp tác an ninh đa tầng xen kẽ đầu tiên trong khu vực.

Kể từ sau Tuyên bố chung ASEAN – Trung Quốc về hợp tác trên những lĩnh vực an ninh phi truyền thống, các nước ASEAN đã triển khai với các nước đối thoại, đặc biệt là với Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ, EU, các tổ chức quốc tế trong hợp tác đấu tranh chống tội phạm xuyên quốc gia và lĩnh vực an ninh phi truyền thống. Đó là các chương trình: Chiến lược hợp tác chống ma túy ASEAN năm 2000”; Tuyên bố chung Bắc Kinh về hợp tác chống ma túy năm 2001”; Tuyên bố ASEAN về hợp tác chống khủng bố”; Tuyên bố chung ASEAN – Mỹ về hợp tác chống khủng bố” tháng 8-2002; Tuyên bố chung ASEAN-EU về hợp tác chống khủng bố” tháng 1-2003; Tuyên bố Bali II”, tháng 10-2003 về xây dựng cộng đồng ASEAN; các kỳ họp của Diễn đàn an ninh khu vực – ASEAN (ARF)…

(ii) Tác động tiêu cực:

Những tác động của an ninh phi truyền thống thường gây ảnh hưởng theo tính chất dây chuyền, mở rộng. Điều này sẽ khiến cho môi trường an ninh trong khu vực trở nên khó lường và lắm khi đẩy các vấn đề đến mức khó giải quyết hơn. ANPTT là một vấn đề phức tạp và có những tác động hết sức khó lường bởi tính chuyển hóa giữa các nguy cơ cũng như khả năng chuyển hóa từ an ninh phi truyền thống sang an ninh truyền thống.

Việc gia tăng nguy cơ ANPTT cũng thúc đẩy chủ nghĩa quốc gia dân tộc. Điều này sẽ khiến gia tăng tâm lý bài xích, gây ra những khó khăn trong việc giải quyết các vấn đề an ninh. Điều này đang đặt ra yêu cầu bức thiết về sự hợp tác an ninh giữa các quốc gia.

4.                 Một số giải pháp đối phó với các vấn đề an ninh phi truyền thống

Các thách thức an ninh phi truyền thống của các nước cần có sự phối hợp hành động để giảm thiểu tối đa những tác động tiêu cực có thể xảy ra.

Thứ nhất, các quốc gia cần phải phối hợp trong việc chia sẻ thông tin, đưa ra những cảnh báo sớm về những vấn đề liên quan đến an ninh phi truyền thống  có tính lan tỏa xuyên biên giới, toàn cầu. Đây là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, cần xây dựng cơ chế chia sẻ thông tin, đảm bảo tính thường xuyên, kịp thời.

Thứ hai, các quốc gia cần phải phối hợp trong hành động ứng phó với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống. Mỗi quốc gia cần xây dựng một kế hoạch hành động cụ thể trên cơ sở nội dung thống nhất chung với các các quốc gia khác. Đồng thời, cần phải thành lập một số uỷ ban liên quốc gia để giải quyết các vấn đề xuyên biên giới. Các quốc gia cần phải có chính sách ưu tiên trong việc giải quyết các vấn đề an ninh phi truyền thống toàn cầu.

Thứ ba, cần tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý đầy đủ cho từng lĩnh vực thuộc nội dung của an ninh phi truyền thống.

Thứ tư, các quốc gia cần phải tích cực tham gia vào các công ước quốc tế, các hiệp ước đa phương hoặc song phương liên quan đến các vấn đề an ninh phi truyền thống để có tiếng nói chung.

Thứ năm, các quốc gia phát triển cần hỗ trợ các quốc gia khác, nhất là các nước đang phát triển về công nghệ, tài chính, kết cấu hạ tầng, kinh nghiệm quản lý… trong việc phòng ngừa, ứng phó với các mối đe dọa an ninh phi truyền thống, nhất là các vấn đề môi trường và biến đổi khí hậu có tính toàn cầu.

Thứ sáu, các quốc gia cần hợp tác trong việc phòng chống tội phạm xuyên quốc gia, di cư bất hợp pháp, kiểm soát mạng xã hội và tăng cường hợp tác thực thi pháp luật trong khu vực và tầm châu lục.

Thứ bảy, từng quốc gia cần phải chủ động, tích cực hội nhập quốc tế thông qua cơ chế, phương thức đa tầng, đa dạng, linh hoạt; hợp tác song phương, đa phương để cùng phối hợp xử lý những vấn đề xảy ra đối với an ninh phi truyền thống.

Thứ tám, xây dựng bộ chỉ số về an ninh môi trường cho các quốc gia, để đánh giá, xếp loại nhằm cung cấp thông tin ứng phó có hiệu quả với các mối đe dọa, đảm bảo an ninh môi trường.

Tóm lại, an ninh phi truyền thống xuất hiện cùng với sự phát triển của xã hội và đã tác động tiêu cực không ngoại trừ quốc gia nào. Các mối đe dọa an ninh phi truyền thống nói chung hay vấn đề an ninh môi trường, biến đổi khí hậu, tội phạm công nghệ cao, di cư bất hợp pháp… nói riêng không chỉ đe doạ đến an ninh quốc gia trong phạm vi một nước hoặc nhiều nước, mà còn đe doạ đến toàn thể nhân loại, đòi hỏi phải có sự nỗ lực hợp tác hành động của nhiều quốc gia để ứng phó với các thách thức an ninh phi truyền thống.

Trong thời đại toàn cầu hóa, mở cửa, hội nhập quốc tế, thế giới đã trở thành “ngôi nhà chung”, do đó, an ninh, an toàn của quốc gia, dân tộc không thể tách rời an ninh, an toàn của khu vực, thế giới và ngược lại. Nhận thức sâu sắc điều đó, trên cơ sở luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên hợp quốc, tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, các quốc gia cần tăng cường mở rộng hợp tác, cùng nhau đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi các thách thức, nguy cơ của an ninh truyền thống” an ninh phi truyền thống”, xây dựng thế giới ổn định, an toàn, phát triển thịnh vượng.

An ninh phi truyền thống ra đời phản ánh sự thay đổi nhận thức của con người. Các mối đe dọa an ninh ngày càng mang tính đa dạng và phức tạp hơn, không chỉ bó hẹp trong phạm vi một quốc gia mà còn mang tính xuyên quốc gia, đòi hỏi phải có sự nỗ lực chung của nhiều quốc gia để ứng phó với các thách thức an ninh phi truyền thống. Chính vì vậy, việc nhận diện rõ những tiêu cực từ các loại an ninh phi truyền thống sẽ góp phần hạn chế những tác động tiêu cực đến phát triển kinh tế – xã hội của các quốc gia trên thế giới, góp phần ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội và phát triển bền vững.


TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1]   Bộ Quốc phòng: Quốc phòng Việt Nam những năm đầu thế kỷ XXI (2014), NXB Thế giới, Hà Nội, tr. 11.

[2]    Nguyễn Thị Phương Hoa (2018), Một số vấn đề an ninh phi truyền thống ở khu vực biên giới Việt – Trung, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.

[3]    Đào Minh Hồng – Lê Hồng Hiệp (chủ biên) (2013), Sổ tay Thuật ngữ Quan hệ Quốc tế, TPHCM: Khoa QHQT – Đại học KHXH&NV TPHCM.

[4]     Chu Phong, Luận giải về an ninh phi truyền thống, Tạp chí Khoa học xã hội Trung Quốc, số 4-2004.

[5]    GS, TS. Tạ Ngọc Tấn, PGS, TS. Phạm Thành Dung, PGS, TS. Đoàn Minh Huấn (2018), An ninh phi truyền thống những vấn đề lý thuyết và thực tiễn, Nxb Lý luận Chính trị Hà Nội.

[6]    Trương Quân Xã (2010), Hợp tác ứng phó với uy hiếp an ninh phi truyền thống, trích từ phân hội quân sự quốc tế, Hội khoa học quân sự Trung Quốc, Hợp tác an ninh quốc tế và an ninh khu vực châu Á – Thái Bình Dương, NXB Khoa học quân sự, tr.416.

[7]    Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 81 – 82, 23.

[8]    http://hdll.vn/vi/nghien-cuu—trao-doi/nhung-van-de-an-ninh-phi-truyen-thong-va-tac-dong-cua-no-doi-voi-cac-nuoc.html

[9]    https://baoquocte.vn/chau-a-thai-binh-duong-truoc-covid-19-dai-dich-tu-cua-nam-2020-ky-1-131242.html

[10]    http://cand.com.vn/Van-de-hom-nay-thoi-su/Chu-dong-phong-ngua-va-ung-pho-cac-moi-de-doa-an-ninh-phi-truyen-thong-618825/

[11] Đinh Công Tuấn (2017), “Những thay đổi trong chiến lược “Xoay trục châu Á – Thái Bình Dương” của Mỹ trong thời gian tới và cách ứng phó của Việt Nam”, Nghiên cứu Biển Đông,  http://nghiencuubiendong.vn/nghien-cuu-my/6495-nhung-thay-doi-trong-chien-luoc-xoay-truc-va-cach-ung-pho-cua-viet-nam

[12] Chu Duy Ly (2015), “An ninh phi truyền thống (Nontraditional security)”, Nghiên cứu Quốc tế, https://nghiencuuquocte.org/2014/11/16/an-ninh-phi-truyen-thong/

[13] Trang Đoan (2019), “Môi trường An ninh châu Á- Thái Bình Dương trước thách thức từ sự gia tăng các nguy cơ an ninh phi truyền thống”, Văn hóa Nghệ An, http://www.vanhoanghean.com.vn/component/k2/29-nhin-ra-the-gioi/10286-moi-truong-an-ninh-chau-a-thai-binh-duong-truoc-thach-thuc-tu-su-gia-tang-cac-nguy-co-an-ninh-phi-truyen-thong

[14] Nguyễn Thế Chinh (2021), “Những vấn đề an ninh phi truyền thống và tác động của nó đối với các nước”, https://tuvanluatonline.vn/tag/an-ninh-phi-truyen-thong/

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s