Đọc lại Báo cáo của Toàn quyền Đông Dương M. Merlin “Vụ ám sát Cách mạng ngày 19 tháng 6, 1924 ở Quảng Châu”

Nguyễn-bá Dũng & Hoàng Ứng Huyền

Vụ ám sát Cách mạng ngày 19/6/1924 ở Quảng Châu” là chủ đề của “Báo cáo của Toàn quyền Đông Dương Merlin gửi Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Pháp, ngày 18/7/1924”. Đây là bản Báo cáo về vụ các nhà cách mạng Việt Nam ném bom mưu sát Toàn quyền Đông Dương tại Sa Diện (Quảng Châu, Trung Quốc) mà người tiêu biểu đã được vinh danh gần một thế kỷ nay là Phạm Hồng Thái.

Có nguồn gốc hơi khác thường – Được sưu tầm tại Ty Công an Nghệ An năm 1961 – Tài liệu này, tận năm 1973 mới được ông Phạm Mạnh Phan dịch ra tiếng Việt (sau đây gọi tắt là Bản 1973) và lưu tại Bảo tàng Xô-viết Nghệ Tĩnh (Vinh, Nghệ An) [11]. Năm 1994, ông Thanh Đạm (Hoàng Nhật Tân) đã viết bài giới thiệu Bản 1973 trên tạp chí Xưa & Nay số 3 [11]. Năm 2013, (có thể) lần đầu tiên toàn văn Bản 1973 được công bố, trong sách Phạm Hồng Thái và Tiếng bom Sa Diện (nxb VH-TT) [10].

Xuân 2019, năm thứ 95 vụ Tiếng bom Sa Diện, chúng tôi may mắn có được một copy bản gốc tiếng Pháp của Bản 1973, nhan đề: Le Gouverneur Général de l’Indochine à Monsieur le MINISTRE des COLONIES (Objet: Attentat révolutionnaire du 19 Juin 1924 à Canton). Hanoi, le 18 Juillet 1924 (N°: 1138 AP), (sau đây gọi tắt là BC1138) – đây là bản lưu tại Bảo tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh, ký hiệu: XV Đ14/Y506 [1] (Phụ lục I kèm theo).

Đó là một cơ hội để đọc và đối chiếu bản gốc với Bản 1973, và đọc các tư liệu có liên quan. Qua đối chiếu cho thấy, Bản 1973 là tốt; một số nhầm lẫn khi dịch có thể do phương tiện tra cứu lúc bấy giờ không đầy đủ. Trên cơ sở đó, chúng tôi (Hoàng Ứng Huyền) đã hiệu đính Bản 1973 và công bố (tạm gọi là) Bản 2019 [18] (Phụ lục II kèm theo).

“Hành trình” của BC1138, chỉ tính từ khi “lộ sáng”, năm 1961 (có thể là 37 năm sau khi phát hành, vì nhiều khả năng BC1138 đã nằm trong tàng thư của Công an Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ những năm 1945, 46), gồm các mốc: 1961 (xuất hiện) – 1973 (dịch Việt, Bản 1973) – 1994 (giới thiệu lần đầu, Bản 1973) – 2013 (in toàn văn lần đầu, Bản 1973).

Mốc 1994 rất đáng quan tâm khi lần đầu Bản 1973 được giới thiệu với những lưu ý quan trọng của tác giả Thanh Đạm: “Có một sử liệu khác quan trọng, sưu tầm được từ lâu, nhưng ít ai khai thác”. Đó cũng là một gợi ý tốt để chúng tôi:

  • Giới thiệu Bản gốc và Bản dịch đã hiệu đính của BC1138 (Bản 2019 [18]).
  • Nhìn lại quá trình khai thác BC1138 nói riêng và sử kiện Tiếng bom Sa Diện nói chung trong các thời kỳ trước và sau năm 1994.
  1. Một vài câu hỏi khi đọc BC1138

BC1138 là báo cáo mật, sớm nhất và chi tiết nhất của thẩm quyền cao nhất tại Liên bang Đông Dương cho thẩm quyền cao nhất của Bộ Thuộc địa Pháp. Chỉ một tháng sau khi vụ ám sát xảy ra, báo cáo đã cung cấp kết quả điều tra, chỉ ra những người tổ chức và thực hiện, kế hoạch và diễn tiến cũng như kết quả của vụ ám sát; sau cùng là kế hoạch đối phó, trả thù cùng những yêu cầu hỗ trợ từ Bộ Thuộc địa.

BC1138 khẳng định “bản này chỉ căn cứ vào những bằng chứng đã được đối chiếu và vào những tài liệu đáng tin cậy” và “hiện nay chỉ có Phủ Toàn quyền Đông Dương là biết rõ mọi chi tiết về vụ này”[18]. Vì vậy, đối với chính quyền thuộc địa, nó đạt độ tin cậy cao nhất mà không lý do nào tốt hơn sự làm việc hiệu quả của Sûreté Général Indochinoise (Sở Liêm phóng Đông Dương) bằng những A-giăng (agent) có thể đã cắm sâu trong hàng ngũ những người tổ chức mưu sát. Chính bởi lý do này, chúng tôi muốn so sánh một số nội dung quan trọng của BC1138 với các nghiên cứu khác về Vụ 19/6. Một điều khá thú vị là, do xuất xứ của BC1138, phần đông các nhà nghiên cứu đã không tiếp cận với tài liệu này (những người có thể đã tiếp cận, chúng tôi sẽ ghi rõ kèm theo).

1a. Agent của Sûreté, có thể là ai?

  1. Duiker đã xác định được agent Pinot chính là Lâm Đức Thụ qua hồ sơ ACOM ([12], tr. 121, 602) nhưng không nói rõ Thụ làm cho Sûreté từ khi nào, trước hay sau Vụ 19/6. Tuy nhiên, W. Duiker chỉ ra lời khai của Lê Quảng Đạt (thành viên Tâm Tâm xã khi đó) trong hồ sơ ACOM, nghi ngờ mối liên hệ của Lâm với mật thám Pháp trong vụ 19/6 ([12], tr. 118, 601).

Vĩnh Sính tuy không đọc BC1138 mà chỉ đọc [11] nhưng cũng tỏ ý nghi ngờ “Những chi tiết này có lẽ mật thám Pháp (Sûreté) dã lấy từ lời khai của một người có tham gia vụ mưu sát Merlin ở Sa Diện. Phải chăng người đó là Lâm Đức Thụ (Hoàng Chấn Đông, tên thật là Nguyễn Công Viễn, ngay sau vụ Sa Diện đổi tên thành Lâm Đức Thụ)?” ([13], tr. 253).

Nhượng Tống viết trên báo Chính nghĩa (2 kỳ, 1946), thuật lại lời một thành viên “Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí hội” cùng với lời nghiêm cẩn “năm 1929, tôi gặp cụ Lê-Cần ở Côn-lôn, cụ cũng cho tôi một, đôi tia sáng về cái án Sa-diện nữa. Những điều thuật lại sau đây, là theo lời của anh Nguyễn và cụ Lê đã cho biết. Tôi viết ra đây, là sợ sau này không còn ai biết đến sự thực nữa. Và người ta có thể tiểu thuyết hóa câu chuyện ấy cho càng ngày càng sai lạc mãi đi chăng?”, rằng: để có tiền tổ chức vụ mưu sát “Người chú anh Đới, tức Hoàng-chấn-Đông liền đảm nhiệm việc ấy. Hoàng liền du thuyết tên Vị, một tay thám tử ở tòa lãnh sự Pháp, chuyên môn dò tung tích các nhà các mạng Việt Nam!…”[7]. Nhượng Tống đã cho thấy, việc Lâm Đức Thụ thường tiếp xúc với mật thám Pháp không phải là chuyện bí mật trong hàng ngũ những người cách mạng lúc bấy giờ.

BC1138 cho biết Hoàng Chấn Đông (Lâm Đức Thụ) là người chịu trách nhiệm mua sắm y phục cho cho Phạm Thành Tích (tức Phạm Hồng Thái) và “đứng quan sát bên bờ kênh đào thuộc địa phận Trung Quốc, chỉ giữ nhiệm vụ liên lạc với các thành viên trong thành phố, là những kẻ không tham gia vào vụ mưu sát.” Giữ những vai trò này trong vụ mưu sát, chắc không thể bị “kết tội” nặng?

Rất dễ nhận ra ngay phần đầu của BC1138 đã bày tỏ “bản tường trình này không thể nêu rõ các “nguồn” tin của chúng tôi mà không có sự bất lợi”; thì “nguồn” của mật thám Pháp, có thể là ai ngoài Lâm Đức Thụ?

Dĩ nhiên, không loại trừ nội dung BC1138 được viết theo ý đồ của cặp Vị – Lâm nếu theo kịch bản của Nhượng Tống [7]. Kịch bản này có mấy sự trùng hợp quan trọng nhưng rất ngẫu nhiên:

  • Nhóm cách mạng luôn luôn rất thiếu tiền [2], trùng hợp với việc mật thám (cá nhân?) cấp tiền để tổ chức vụ ám sát [7].
  • Mật thám (cá nhân?) muốn có sự kiện để được cấp tiền [7], trùng hợp với việc khi vụ ám sát xảy ra những món tiền lớn đã được chi ra như BC1138 cho thấy.

1b. Mưu sự hoàn hảo, thành sự tại thiên

Gần một thế kỷ sau, đọc BC1138 vẫn thấy thán phục sự hoàn hảo và tính hiện đại của kế hoạch mưu sát. Mọi sự chuẩn bị đều rất kỹ lưỡng và chuyên nghiệp: tìm và tuyển chọn người thực hiện, chuẩn bị vũ khí (bom, súng), trang phục, truyền thông (với các phương án khác nhau), cách ứng phó khi bị bắt… và tiếp đó là trinh sát hiện trường, bố trí đội hình chiến đấu và yểm trợ…

Merlin thoát nạn do may mắn và Phạm Hồng Thái gặp nạn để trở thành “chim én nhỏ báo hiệu mùa xuân” (Trần Dân Tiên, Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Văn học, h., 1970, tr. 69), mùa xuân mà cách mạng bạo lực khát khao và đã trở thành hiện thực hơn 20 năm sau, rồi kéo dài tiếp 30 năm nữa…

1c. “Ai đã chủ trương cuộc mưu sát”

Một kế hoạch hoàn hảo như vậy, hẳn phải do những người chuyên nghiệp lão luyện lên vạch ra và chỉ huy. BC1138 chỉ thẳng ra “Thủ lĩnh của bọn chúng và tên thực sự tích cực hoạt động là Nguyễn Hải Thần”.

Người Pháp biết rất rõ tinh thần bạo lực chống Pháp triệt để và bền bỉ của Nguyễn Hải Thần qua các hoạt động cách mạng nổi tiếng của ông: về nước mưu sát Toàn quyền Đông Dương Albert Sarraut (khoảng 1912–1913), cùng Hoàng Trọng Mậu và Phan Sào Nam từ Quảng Tây (Trung Quốc) đánh đồn Tà Lùng, Cao Bằng (1915).

Nhưng, các nghiên cứu liên quan có được cho tới nay không thống nhất về người tổ chức vụ mưu sát.

Bởi vậy, Thanh Đạm rất trăn trở: “Câu hỏi đặt ra đậm nét nhất là: Ai đã chủ trương cuộc mưu sát Toàn quyền Merlin ngày 19-6-1924? Nhóm Tâm Tâm Xã hay mấy nhà cách mạng cũ do Nguyễn Hải Thần cầm đầu?” [11] (chữ in của bản gốc)

(Lưu ý cách viết khéo của Thanh Đạm “mấy nhà cách mạng cũ do Nguyễn Hải Thần cầm đầu” chứ không hề nói đến Quang phục Hội. Điều này phù hợp với lịch sử bởi Quang phục Hội, như lời khai của Phan Bội Châu [2], thành lập giữa năm 1912 và đã giải tán chỉ mấy tháng sau đó vì không có tiền duy trì tổ chức. Sau đó, hoạt động dưới danh nghĩa Quang phục Hội có nhóm Nguyễn Hải Thần.)

Vì sao như vậy? Cũng lại sử gia Thanh Đạm đã viết:

“Các sử gia Việt Nam thường dựa vào ký ức của các chiến sĩ cách mạng đương thời, chủ yếu là tư liệu của cụ Phan Bội Châu: ‘Phạm Hồng Thái truyện’[3] do Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức xuất bản tại Quảng Châu năm 1925 và các đoạn văn liên quan trong ‘Phan Bội Châu Niên biểu’[5]” ([11], tr. 15).

Nhưng ngày nay, dưới ánh sáng của các tư liệu mới, hai cuốn sách kể trên của Phan có vẻ như là những tài liệu sách động cách mạng, ít có giá trị sử học.

Còn ký ức của các nhà cách mạng cũng không thể thống nhất: Nhượng Tống (Việt Nam Quốc dân đảng, 1946) và Tô Nguyệt Đình (Sài Gòn, 1957) đều cho là Nhóm Tâm Tâm xã chủ trương ([7] và [8]/tr. 164). Ngược lại, Bạch Hào (Nguyễn Đổng Chi, Việt Minh, 1946) lại nêu tên Vũ Hải Thu (tức Nguyễn Hải Thần) là người cầm đầu ([6], tr. 156).

Có thể khẳng định rằng, những người trẻ trong nhóm Nguyễn Hải Thần đã bí mật lập nhóm riêng mang tên Tâm Tâm xã từ năm 1923. Vậy Tâm Tâm xã hay  nhóm Nguyễn Hải Thần đã gọi Phạm Hồng Thái, Lê Hồng Phong… (khoảng 10 người) sang Quảng Châu tháng 1/1924? Sang tới nơi, Hồng Thái, Hồng Phong… mới có thể gia nhập Tâm Tâm xã. Với nhân lực như vậy, Tâm Tâm xã có thể tổ chức được Vụ 19/6 không hay chỉ các thành viên Tâm Tâm xã tham gia vào nhóm ám sát do Nguyễn Hải Thần cầm đầu?

1d. “Nhà cách mạng Triều Tiên Từ Hưng Á

BC1138 nói rõ: “Có điều không chính xác khi bảo người An Nam đó [Phạm Hồng Thái] có một ‘bạn người Triều Tiên’…” vì đơn giản Từ Hưng Á là một sản phẩm truyền thông cho chiến dịch mà Nguyễn Hải Thần đã chuẩn bị [18].

Điều này có vẻ đúng khi không có một tư liệu lịch sử vào nói đến sự xuất hiện một lần nữa của nhân vật này.

Có lẽ vì không tiếp cận được với BC1138 nên Vĩnh Sính cũng tin rằng Từ Hưng Á có thật dù không dẫn thêm được bất kỳ một tài liệu nào để chứng minh.

Nội dung của BC1138 còn có nhiều chi tiết “vênh” với các sử liệu hiện hành cần các sử gia làm sáng tỏ như: Bom do ai chế tạo hoặc được mua ở đâu, có hay không việc các sát thủ bám sát hành trình của Merlin qua Nhật, Triều Tiên… Tuy nhiên, có những chi tiết vô lý có thể gạt bỏ ngay được, ví dụ như: Bom được nhồi trong chiếc máy ảnh mà Phạm Hồng Thái giơ lên giả vờ chụp rồi ném thẳng vào bàn tiệc…

  1. Câu hỏi vẫn còn lơ lửng

Câu hỏi của Thanh Đạm cho tới nay hình như vẫn còn nguyên, khi khảo sát các tài liệu – được coi là chính thức và mới nhất, có tính phổ biến cao nhất – đã không dứt khoát và thống nhất về chủ thể đã chủ trương sự kiện này, vì ngoài “Tâm Tâm xã” còn có “Việt Nam Quang phục Hội”.

2a. Bộ Lịch sử Việt Nam (15 tập) mới nhất (2017) của Viện sử học cho là chủ trương của “Tâm Tâm xã” ([16], tr. 425); lưu ý: tài liệu tham khảo của phần đã viết này không có BC1138.

2b. Trang web http://dangcongsan.vn, mục “Tiếng bom Phạm Hồng Thái” ghi, có thể hiểu là chủ trương do “Tâm Tâm xã” và “Việt Nam Quang phục Hội”:

Phạm Hồng Thái … qua Xiêm rồi đến Quảng Châu (Trung Quốc), tham gia Tâm tâm xã. Ông được tổ chức phân công giết tên Toàn quyền Đông Dương là Méclanh tại khách sạn Vichtoria ở Sa Diện (Quảng Châu).

Ngày 19-6-1924, thừa lệnh của Việt Nam Quang phục Hội, Phạm Hồng Thái ném bom ám sát Toàn quyền Méclanh khi hắn vừa đến Sa Diện.” ([14], chữ nghiêng đậm là phần chúng tôi nhấn mạnh).

2c. Sách giáo khoa Lịch sử phổ thông lớp 12 hiện hành viết về sự kiện này, có thể hiểu là chủ trương của “Tâm Tâm xã”:

Năm 1923, tại Quảng Châu (Trung Quốc) Lê Hồng Sơn, Hồ Tùng Mậu, Nguyễn Công Viễn v.v. lập ra tổ chức Tâm tâm xã. Ngày 19-6-1924, Phạm Hồng Thái thực hiện việc mưu sát …” (tr. 80, Lịch sử 12, nxb Giáo dục, 2010, chữ nghiêng đậm là phần chúng tôi nhấn mạnh).

2d. Tọa đàm khoa học về Phạm Hồng Thái gần đây nhất được tổ chức tại Bảo tàng Xô-viết Nghệ Tĩnh 25 năm trước (tháng 7/1994), là nơi lưu trữ BC1138. Một người dự Tọa đàm, PGS.TS Phạm Xanh (Khoa Lịch sử, Trường ĐHKHXH và Nhân văn, ĐHQG Hà Nội), trong chương trình “Đất nước ngàn năm” phát 27/07/2017 vẫn đưa ra một chi tiết: Phạm Hồng Thái giơ máy ảnh lên chụp đồng thời ném tạc đạn vào bàn tiệc (đại ý) [17]. Phát biểu này cho thấy hình như ông Phạm Xanh chưa đọc BC1138.

2e. “Viết thêm về vụ ám sát Méc-Lanh ở Sa Diện tháng 6/1924” của TS. Lê Đức Hoàng (2014) [15], có thể là bài khảo cứu về chủ đề này gần đây nhất. Bài khảo cứu này viết khá công phu, nhiều tài liệu tham khảo chủ yếu là tài liệu của Trung Quốc và Việt Nam. Tiếc là các tài liệu Trung Quốc mà tác giả tham khảo không phải tư liệu sơ cấp (primary source) như báo chí thời 1924 – Thân báo, Đại công báo, Trung quốc tân văn… mà theo Nhượng Tống, “đều có những bài kỷ thuật rất tường tận [về Vụ 19/6]”[7]; mà là các tài liệu thứ cấp (bài viết của các tác giả Trung Quốc từ năm 1983-2008). BC1138 chỉ được tác giả sử dụng một phần ít liên quan (xin tiền và người sau vụ án) bằng một cách đặc biệt: không nêu tên tài liệu mà chỉ viết chung chung – “Theo tài liệu lưu trữ tại bảo tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh, Ký hiệu…”

Còn 5 năm nữa là sự kiện “Tiếng bom Sa Diện” tròn 100 năm. Nếu Hồ sơ Mật thám Pháp của các nhân vật liên quan đến sự kiện này (Nguyễn Hải Thần, Lâm Đức Thụ, Lê Hồng Sơn, Hồ Tùng Mậu…) được khai thác như trường hợp Hồ sơ thẩm vấn Vụ án Phan Bội Châu năm 1925 [2] thì tin rằng giới sử học sẽ có khả năng kết luận được nhiều vấn đề về sự kiện này.

Chúng tôi hy vọng điều đó./.

Kèm theo:

Phụ lục I: Le Gouverneur Général de l’Indochine à Monsieur le MINISTRE des COLONIES (Objet: Attentat révolutionnaire du 19 Juin 1924 à Canton). Hanoi, le 18 Juillet 1924 (N°: 1138 AP). Bản lưu tại Bảo tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh (Vinh, Nghệ An) từ năm 1961 [?] ký hiệu: XV Đ14/Y506.

Phụ lục II: Báo cáo ngày 18 tháng Bảy 1924 của Toàn quyền Đông Dương gửi Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Pháp về Vụ ám sát Cách mạng ngày 19/6/1924 ở Quảng Châu, ký hiệu: 1138 AP. Phạm Mạnh Phan dịch [10], Hoàng Ứng Huyền hiệu đính 2019.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

(Xếp thứ tự theo thời gian xuất bản)

[1] Le Gouverneur Général de l’Indochine à Monsieur le MINISTRE des COLONIES (Objet: Attentat révolutionnaire du 19 Juin 1924 à Canton). Hanoi, le 18 Juillet 1924 (N°: 1138 AP). Bản lưu tại Bảo tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh (Vinh, Nghệ An) từ năm 1961 [?] ký hiệu: XV Đ14/Y506.

[2] Vụ án Phan Bội Châu năm 1925 – Hồ sơ thẩm vấn (Phan Bội Châu toàn tập – Bổ di II), Đông Tây/nxb Thanh niên, H., 2017.

[3] Phan Bội Châu, Truyện Phạm Hồng Thái, 1925 (Chương Thâu dịch theo bản in lại: Quảng Châu, 1959). In trong sách: Phan Bội Châu toàn tập, tập 5, Đông Tây/nxb Thuận Hóa, 2000, tr. 337-377.

[4] Phi Hùng, Gương hy sinh Phạm Hồng Thái, báo Cờ Giải Phóng số 6 (ngày 28/7/1944). Nguồn: http://baotanglichsu.vn/liet-si-pham-hong-thai-qua-mot-bai-viet-tren-bao-co-giai-phongdr.html

 [5] Phan Bội Châu, Phan Bội Châu niên biểu (phần về Phạm Hồng Thái), 1946. In trong sách: Phan Bội Châu toàn tập, tập 6, Đông Tây/nxb Thuận Hóa, 2000, tr. 256-261.

[6] Bạch Hào, Phạm Hồng Thái, nxb Ngàn Hống, Vinh, 1946. (trích từ: Phạm Hồng Thái và Tiếng bom Sa Diện, nxb VH-TT, H., 2013, tr. 153-163)

[7] Nhượng Tống, Phạm Hồng Thái và Tâm Tâm xã, báo Chính nghĩa số 2, 27/5/1946; không ký tên (kỳ I), báo Chính nghĩa số 3, 3/6/1946, ký tên M (kỳ II). Theo: http://nhilinhblog.blogspot.com/2015/06/nhuong-tong-ve-pham-hong-thai-va-tam-tam-xa.html

[8] Tô Nguyệt Đình, Phạm Hồng Thái, nxb Sống Mới, S., 1957 (trích từ: Phạm Hồng Thái và Tiếng bom Sa Diện, nxb VH-TT, H., 2013, tr. 164-174)

[9] Trung Chính, Phạm Hồng Thái hy sinh vì việc nước, tc Nghiên cứu Lịch sử số 158 (tháng 9-10/1974), tr 16-26.

[10] Báo cáo ngày 18 tháng Bảy 1924 của Toàn quyền Đông Dương gửi Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Pháp về Vụ ám sát Cách mạng ngày 19/6/1924 ở Quảng Châu, ký hiệu: 1138 AP. (Phạm Mạnh Phan dịch năm 1973, trích từ: Phạm Hồng Thái và Tiếng bom Sa Diện, nxb VH-TT, H., 2013, tr. 39-63).

[11] Thanh Đạm, Báo cáo của quan Toàn quyền chết hụt, tạp chí Xưa & Nay số 3 (tháng 6/1994) tr. 15-17.

[12] Duiker W., Ho Chi Minh: A Life, Hyperion, New York, 2001, pp. 117-121, 600-602.

[13] Vĩnh Sính, Đóng góp vào việc tìm hiểu thêm về Phạm Hồng Thái và tiếng bom Sa Diện, sách: Việt Nam và Nhật Bản: Giao lưu Văn hóa, nxb Văn Nghệ tp HCM, 2001, tr. 243-258.

[14] Tiếng bom Phạm Hồng Thái. Trích sách: Lịch sử Biên niên Đảng Cộng sản Việt Nam tập 1, nxb Chính trị quốc gia, H., 2007. Nguồn: http://dangcongsan.vn/tu-lieu-van-kien/tu-lieu-ve-dang/lich-su-dang/books-292820159024246/index-49282015901314616.html

[15] Lê Đức Hoàng, Viết thêm về vụ ám sát Méc-Lanh ở Sa Diện tháng 6/1924, tạp chí Khoa học-Công nghệ Nghệ An số 10/2014, tr. 41-46. Nguồn: http://www.ngheandost.gov.vn/documents/10190/21303/1427444093073_4%20XN%20DVN_01.pdf

[16] Viện sử học, Lịch sử Việt Nam (15 tập) tập 8, nxb KHXH, H., 2017, tr. 424-428.

[17] Tiếng bom Phạm Hồng Thái – Sống dậy chân lý đấu tranh dân tộc http://vov2.vov.vn/dat-nuoc-ngan-nam/tieng-bom-pham-hong-thai-song-day-chan-ly-dau-tranh-dan-toc-c52-24433.aspx

[18] Báo cáo ngày 18 tháng Bảy 1924 của Toàn quyền Đông Dương gửi Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Pháp về Vụ ám sát Cách mạng ngày 19/6/1924 ở Quảng Châu, ký hiệu: 1138 AP. Phạm Mạnh Phan dịch [10], Hoàng Ứng Huyền hiệu đính 2019.

 BÁO CÁO CỦA TOÀN QUYỀN ĐÔNG DƯƠNG M. MERLIN VỀ VỤ NÉM BOM Ở SA DIỆN NGÀY 19/6/1924

 MẬT 

Số: 1138 AP[1]

Hà Nội ngày 18 tháng Bảy năm 1924

Toàn quyn Đông Dương

Kính gửi: Ngài Bộ trưởng Bộ Thuộc địa

                                                                                      PARIS

Chủ đề: Vụ ám sát cách mạng ngày 19 tháng Sáu năm 1924 ở Quảng Châu.

———————

Trong những bức điện số 879 – 887 – 9081bis – và 913 hồi cuối tháng Sáu và trong bức thư số 1060-C và bức điện số 1014 của những ngày 5 và 15 tháng Bảy, Ngài đã được báo cáo rõ về trường hợp vụ ám sát cách mạng ở Quảng Châu[2] đã xảy ra như thế nào và hậu quả trực tiếp của vụ đó.

Hôm nay, tôi lấy làm hân hạnh gửi tới Ngài một bản phúc trình về toàn thể, chính xác và bổ sung thêm cho những tin tức trước đây của tôi.

Trước hết, tôi xin trình bày về kết quả việc tôi đã ra lệnh mở cuộc điều tra để rõ tội ác đó đã được chuẩn bị và thi hành ra sao. Sau đó tôi sẽ đề cập đến vấn đề trách nhiệm và sẽ trình Ngài rõ về những phản ứng đầy ý nghĩa nhất của dư luận sở tại [Đông Dương]. Cuối cùng, tôi sẽ xin nói rõ về những biện pháp tôi đã hay dự định thi hành nhằm mục đích trừng trị những tên sát nhân. 

* * *

Theo bức điện tôi vừa mới gửi tới Ngài, kết quả của các sự truy nã của Sở Mật thám Đông Dương là đã nhận diện được hung thủ đích thị là một người An Nam và đã xác định được những tên đồng phạm cũng hoàn toàn là người An Nam.

 Lẽ đương nhiên bản tường trình này không thể nêu rõ các “nguồn” tin của chúng tôi mà không có sự bất lợi. Tuy vậy tôi cần nói rõ là bản này chỉ căn cứ vào những bằng chứng đã được đối chiếu và vào những tài liệu đáng tin cậy. Vả lại, tôi tưởng cần phải nhấn mạnh về lợi ích, tạm thời trong lúc này để khỏi cản trở công việc truy nã của chúng ta, giữ cho những điều kể dưới đây có một tính chất hết sức bí mật.

Để bản tường trình của tôi được dễ hiểu, trước hết, tôi xin tóm tắt vài dòng về tình hình hiện nay của “đảng cách mạng An Nam”.

[Đảng này] gồm chủ yếu những người lưu vong lâu năm, đã xa thuộc địa độ 15 năm nay, hiện còn có chừng vài chục kẻ tranh đấu cuồng tín, tạo thành các nhóm khác nhau, cư trú ít nhiều ổn định ở Trung Quốc, Nhật Bản và Xiêm[3]

Nhóm “miền nam Trung Quốc” nghĩa là ở Quảng Đông và Quảng Tây gồm có một số ít những kẻ điên cuồng giữ vai trò chủ chốt trong những vụ ám sát khủng bố năm 1913. Sau này, người ta biết rõ bọn chúng có dính líu vào hầu hết những vụ đánh phá của các băng đảng Trung quốc ở biên giới Bắc Kỳ của chúng ta. Bọn chúng phần nhiều là những phạm nhân ở thuộc địa đã bị kết án tử hình vắng mặt, cho tới nay vẫn trốn thoát khỏi vòng công lý của chúng ta vì được nhà đương cục Trung Quốc luôn tử tế bao che chúng, giúp đỡ chúng buôn bán lặt vặt; hoặc tìm cho chúng việc làm trong guồng hành chính hoặc quân đội.

“Nhóm miền trung và miền bắc Trung Quốc” chỉ có Phan Bội Châu (PHAN-BÔI-CHÂU)[4], kẻ sáng lập đảng, hiện nay 57 tuổi, đã khá già yếu, quây quần cùng một số nhà nho sinh sống bằng việc cộng tác với những Tạp chí Quân sự, điều này là có lợi cho những người Bắc Kỳ[5] trong vùng.

Nhật Bản thường chứa chấp Hoàng thân Cường Để[6] (CƯÒNG-ĐÊ). Hoàng thân luôn luôn hoạt động, và điều hành một số ít đồ đệ trung thành, mà ông vẫn tìm cách phái về Đông Dương để nhận tiền quyên góp và cũng để bảo toàn việc liên lạc với một số người lưu vong ở Trung Quốc hay ở Xiêm.

Thực ra, những người Đông Dương định cư ở Xiêm tập hợp thành một trại kiều dân khá quan trọng và chắc chắn đây là trung tâm của người An Nam mà ở đó sự tuyên truyền chống Pháp dưới hình thức cách mạng được tiến hành hiệu quả hơn: tấn thảm kịch ở Quảng Châu mới đây, đối với chúng ta, là một bằng chứng mới về việc đó.

Tôi xin nói thêm cho đầy đủ là một số người lưu vong thỉnh thoảng sang Đức; hiện nay một người trong bọn đó ở ngay tại Berlin[7], còn một số người khác liên |ạc với “nhóm cộng sản An Nam” mới thành lập ở Pháp mà quí Bộ biết rất rõ người cầm đầu của nhóm đó hiện ở Moskva gần một năm nay.

Kể ra cũng hợp lý mà cho rằng chính nhóm những kẻ lưu vong ở miền nam Trung Quốc đã đề ra ý kiến gây nên cuộc âm mưu vừa qua, nhằm ám hại Toàn quyền Đông Dương, vào thời gian các nhật báo ở Viễn Đông đăng tin việc tôi sắp sang thăm Nhật Bản. Cũng chính nhóm đó sau này đã bố trí việc mưu sát.

Chừng độ mười lăm tên, trong số đó có Tán Thuật[8] (TÁN-THUẬT), tên cách mạng kỳ cựu, đã được biết rõ ít nhiều về chuyện bí mật này. Tám tên trong bọn chúng đã hành động, tôi xin kể ngay tên của chúng.

Thủ lĩnh của bọn chúng và tên thực sự tích cực hoạt động là Nguyễn Hải Thần (NGUYỄN-HAI-THẦN) tức Nguyễn Cẩm Giàng[9] (NGUYỄN-CAM-GIÀNG), người đã dính líu vào vụ đầu độc lính trong thành Hà Nội năm 1908, và đã bị Hội đồng đề hình năm 1913 kết tội tử hình vắng mặt, người đứng ra tổ chức vụ tấn công đồn Tà Lùng (Talung, [Cao Bằng]) năm 1915, hiện nay giữ chức chỉ huy một liên đội quân Vân Nam trong quân đội Quảng Châu.

Những tên khác là:

Đặng Sư Mạc (ĐANG-SƯ-MĂC), tức Đặng Sung Hồng[10] (ĐĂNG-SUNG-HÔNG) đã bị Hội đồng đề hình năm 1913 kết án phát vãng vắng mặt, cũng là sĩ quan trong quân đội Quảng Châu và là Tham mưu trưởng của tướng Phùng Công Di (FOUN-CONG-YI).

Đinh Tế Giân[11] (ĐINH-TÊ-GIÂN), sĩ quan trong bộ tham mưu của tổng tư lệnh quân đội Vân Nam ở Quảng Châu.

Ngô Thành (NGÔ-THÀNH), kiểm soát viên ngành đường sắt ở Quảng Đông.

Đặng Tử Mẫn[12] (ĐANG-TƯ-MÂN), một tên trong bọn sát nhân ở Quảng Châu đã giết một nhân viên Phủ Toàn quyền hồi cuối năm 1912 và là một tên trong bọn đã làm bom năm 1913 ở Cửu Long[13], hiện ở Nam Ninh[14], giả danh buôn bán.

Hoàng Chấn Đông (HOÀNG-CHÂN-ĐÔNG), tức Lâm Tac Sư [?][15] (LAM-TAK-SU) quận phó quận Siêu Quảng (Siou-Kouan) ở Quảng Châu.

Hồng Sơn[16] (HÔNG-SON), một thanh niên lưu vong, người đã giết một nhân viên Phủ Toàn quyền bằng bốn phát súng lục ngày 11 tháng Hai năm 1922 ở Hàng Châu[17] và mới đây còn dự định giết một nhân viên khác.

Phạm Thành Tích (PHẠM-THÀNH-TÍCH), tức Phạm Đài[18] (PHẠM-ĐÀI) vừa mới từ Trung Kỳ lưu vong sang Xiêm cùng với khoảng chục tên đồng bọn hồi mùa xuân năm nay. Chính tên này là người Nguyễn Hải Thần mới đây đã cho gọi tới Quảng Châu cùng với một người bạn của hắn là tên Lê Huy Doãn[19] (LÊ-HUY-DOAN) để giao nhiệm vụ cho cả hai tên ném bom nhắm vào tôi. Nhưng Lê Huy Doãn rất nhút nhát, có lẽ bị nhận xét ngay là không phù hợp với một nhiệm vụ như vậy và hình như sau này không được đắc dụng nữa.

Sau khi đã chọn những tên tay sai, tên đầu sỏ, bọn âm mưu phân chia những nhiệm vụ chính như sau:

Đặng Tử Mẫn, nhà chuyên môn – hồi năm 1913 bị tàn phế do tai nạn nổ – được giao nhiệm vụ làm những khí cụ mới.

Phạm Thành Tích, rất quyết liệt và háo danh, và Hồng Sơn luôn sẵn sàng ám sát một người nào đó, cả hai đều nhận sẽ chọn thời cơ thuận lợi nhất để ném bom trong thời kỳ tôi lưu tại Quảng Châu.

Những quả bom được khởi công làm vào khoảng mùng 1 tháng Sáu trong một căn nhà ở khu phố Quảng Châu, nơi Đặng Tử Mẫn khi rời khỏi Nam Ninh đã chủ tâm đến ở đó.

Bọn chúng đã chế tạo được hai quả bom, bề ngoài trông giống như một cái ống tròn bằng sắt tây, hơi to hơn và hơi thấp hơn cái chai thường. [Khối] thuốc nổ “trông giống như bông nõn”. Những chất bắn ra gồm có sắt vụn nghiền nhỏ. Việc kích nổ bằng điện đảm bảo cho bom nổ sau ba giây. Mỗi quả bom để trong một chiếc vali nhỏ, hình chữ nhật bằng vải giả da. Bên hông vali có một công tắc kích bom nổ, đặt làm sao cho không ai chú ý đến khi mang bom đi và không cần phải mở vali mới sử dụng được.

Phạm Thành Tích đến Quảng Châu ngày 2 tháng Sáu. Khi mới nhận nhiệm vụ ném bom, nó được giữ một khẩu súng lục Mỹ cỡ 38 bắn 6 phát liền – và được huấn luyện tập bắn ở vùng ngoại vi thành phố để có thể dùng súng để tự vệ, hoặc khi cần thiết, chống lại cảnh sát.

Theo kế hoạch đầu tiên, Nguyễn Hải Thần dự định hành sự trong khu vực người Trung Hoa [bên ngoài tô giới]: như vậy trước hết người ta phải gắng tiếp cận tôi ở đầu cầu tô giới Pháp – xem Phụ lục[20] bản đồ số 4. Tất cả bọn âm mưu đều mang súng lục giống như súng của Phạm Thành Tích.

Đặng Sư Mạc đã đi thám thính vùng Sa Diện[21] và lấy thêm tin tức về chương trình những ngày tôi lưu lại Quảng Châu. Bọn chúng đã quyết định thử thách đầu tiên sẽ ở ngay khu vực Sa Diện.

Chính sau quyết định ấy, Hoàng Chấn Đông được giao nhiệm vụ sắm sửa Âu phục cho Phạm Thành Tích, [người] vừa mới ở Xiêm về với trang phục Trung Quốc: ăn vận theo người phương Tây, hung thủ có thể ra vào và đi lại dễ dàng hơn trong phạm vi các tô giới. Vào khoảng 15 hay 16 tháng Sáu. Hoàng Chấn Đông mua cho Phạm Thành Tích một áo khoác (veston) mặc ngoài, một quần nỉ (flanelle) và một chiếc mũ dạ. Hoàng lấy trong số quần áo của mình, cho thêm Tích một chiếc áo sơ-mi, một cravat, một thắt lưng, một đôi bít tất và một đôi giầy vải.

Đồng thời Nguyễn Hải Thần sai người chụp ảnh Phạm Thành Tích để có thể tung ảnh Tích ra quảng cáo trong trường hợp nó hoàn thành nhiệm vụ nhưng bị hy sinh một cách vẻ vang.

Hải Thần đưa cho Tích một bản viết tay để nếu Phạm Thành Tích bị bắt sẽ đưa cho cảnh sát, trình bày rõ mục đích hành động của nó – xem Phụ lục số 11.

19 tháng Sáu, ngày tôi tới Quảng Châu, trước hết bọn âm mưu vào ở trong hai khách sạn gần nhau, ở gần Sa Diện. Nguyễn Hải Thần và Phạm Đài hẹn gặp nhau ở trong một khách sạn đó, mang theo một chiếc “vali”, và dự định tìm ngay tôi để khi có cơ hội thuận lợi đầu tiên, ném bom ngay sau khi tôi ở trên tầu Craonne xuống. Hồng Sơn, Đặng Sư Mạc và Đinh Tế Giân ở trong một phòng của một khách sạn khác và có mang vào phòng chiếc “vali” thứ hai. Họ phải đợi ở đó để xem kết quả ra sao và được lệnh chỉ hoạt động trong ngày hôm sau nếu những người đầu tiên không đạt được kết quả trong chính ngày hôm đó.

Nhưng vào quãng buổi chiều, Phạm Thành Tích đi khắp Sa Diện một lượt để thăm dò tình hình. Nó trở về báo cáo rằng việc đại tiệc đặt ở khách sạn Victoria là một dịp dễ dàng nhất để thực hiện việc mưu sát. Cả bọn quyết định phối hợp hành động trong bữa tiệc. Trong khi chờ đợi đến lúc đó và để bồi dưỡng thêm, cả năm tên, thêm có Đặng Tử Mẫn và Hoàng Chấn Đông, tới một hiệu ăn ở khu vực Trung Quốc gần chiếc cầu ở tô giới Anh.

Vào hồi 7 giờ 30, Đinh Tế Giân được phái đi trước tiên để xem xét đại tiệc đã dự định có thực được tổ chức ở khách sạn Victoria không. Nó trở về tuyên bố phòng tiệc còn vắng tanh. Đi lần thứ hai, nó báo tin tất cả các quan khách đã tới và sắp ngồi vào bàn tiệc.

Phạm Thành Tích, Hồng Sơn, Đặng Sư Mạc và Đinh Tế Giân liền đi ngay lập tức và tiến thẳng đến khách sạn. Bọn chúng vượt qua cầu tô giới Anh một cách dễ dàng, và người đứng gác cầu ở cửa rào song sắt cũng không hề nói với chúng một lời, hoặc theo đúng lệnh, không hề đòi khám xét nội dung các vali của chúng. Phạm Thành Tích và Hồng Sơn, cả hai đều mặc Âu phục, và quả thật, để cho Đặng Sư Mạc và Đinh Tế Giân – mỗi tên mang một vali, ăn mặc như người Trung Quốc – theo sau chúng như hai đầy tớ đi hầu.

Ra khỏi cầu, Phạm Thành Tích và Hồng Sơn lấy vali từ tay hai tên đồng hành tự cầm và tiếp tục đi. Đặng Sư Mạc và Đinh Tế Giân quay trở lại chỗ cầu Anh cách đấy không xa, để phục sẵn trong một chiếc thuyền tam bản thuê từ trước.

Nguyễn Hải Thần và Đặng Tử Mẫn, từ phía bờ kênh đào thuộc địa phận Trung Quốc, đích thân ra đứng canh trong một chiếc thuyền khác ở góc đông bắc tô giới Pháp – xem Phụ lục bản đồ số 4.

Nếu các hung thủ bị cảnh binh đuổi bắt thì chúng sẽ ẩn nấp vào một trong hai thuyền đó.

Còn Hoàng Chấn Đông, hắn đứng quan sát bên bờ kênh đào thuộc địa phận Trung Quốc, chỉ giữ nhiệm vụ liên lạc với các thành viên trong thành phố, là những kẻ không tham gia vào vụ mưu sát.

Người ta đã rõ, một trong hai tên mang bom đã hoàn thành nhiệm vụ độc ác của nó như thế nào. Một cảnh binh, vì cảnh giác, đã ngăn cản không cho nó lại gần cửa sổ khách sạn trông thẳng vào giữa bàn tiệc. Chỉ vì viên cảnh binh thứ hai vô ý hoặc ngờ nghệch, tên hung thủ đã có thể ném bom qua một cửa sổ khác vào góc phía trái bàn tiệc. Sau khi bom nổ, nó bị ngay mội cảnh binh và hai người Pháp đuổi bắt; hung thủ bắt buộc phải trốn sang phía bên kia kênh, chỗ có các bạn đồng đảng nó đang đợi. Tuy vậy nó vẫn thoát được những người đuổi bắt nó. Sau khi bắn vào chính viên cảnh sát không mang súng, nó đã trốn vào một khu vườn cây cối rất um tùm rậm rạp và rất tối tăm trong tô giới Pháp. Một lúc sau, một viên gác trong tô giới của chúng ta phát hiện nó bên trong một hàng rào ở bờ sông, nó lại bắn một phát súng nữa rồi nhảy xuống sông [đoạn sông này có tên là: đầm Bạch Nga] để khỏi bị bắt, có lẽ để mong bơi tới đảo Hồ Nam (l’ile de Honam/Hanam) [bờ phía đối diện] nơi có chiếc thuyền nào đó gần đấy sẵn lòng chứa chấp hắn – theo thư của ông Beauvais (BEAUVAIS) ngày 21 tháng Sáu – Phụ lục số 1. Chắc chắn hung thủ không biết rõ sự dữ dội của dòng sông tại chỗ đó vào giờ ấy.

111

Bản đồ địa chính Sa Diện thập kỷ 20 thế kỷ XX[22]

(Nguồn: http://nla.gov.au/nla.obj-229820164/view)

Hồng Sơn sau khi thấy Phạm Thành Tích đã ném bom, vội vàng tìm chỗ ẩn nấp trong một chiếc thuyền ở dưới cầu Anh, nhưng tay vẫn không rời chiếc vali của hắn. Cùng với hai người cùng đi, Hồng Sơn lại trở về bờ phía Trung Quốc.

Còn Nguyễn Hải Thần và Đặng Tử Mẫn sau khi đợi khoảng 15 phút – là thời gian đã quy ước – trong một chiếc thuyền ở tô giới Pháp, cả hai đều trở về thành phố [khu vực Trung Quốc].

Vào khoảng 10 giờ, cả bọn, trừ Phạm Thành Tích chưa biết số phận ra sao, đều tập hợp ở nhà Đặng Sư Mạc cùng với năm hay sáu đồng đảng nữa. Ai nấy đều vui mừng với kết quả của cuộc mưu sát, tin tưởng chắc chắn rằng viên Toàn quyền đã bị tử thương. Trong cơn bốc đồng bọn chúng lại say sưa với những giấc mơ mới. Chúng lại muốn thực hiện những dự án lớn hơn của đảng cách mạng cũ. Người ta mong trong một thời gian ngắn sẽ có một cuộc nổi dậy toàn thể ở Annam và đuổi dứt khoát những người Pháp ra khỏi Đông Dương. Sau khi ăn uống vui vẻ mãi đến tận khoảng một giờ sáng, bọn người âm mưu mới chia tay hẹn cùng nhau hôm sau đến ăn cơm trưa tại nhà tên Đinh Tế Giân.

Phạm Thành Tích vẫn vắng mặt trong bữa ăn đó. Bọn chúng cho rằng y có thể đã bị cảnh sát đường thủy bắt giữ, và dù có thế nào đi nữa người Pháp cũng chắc chắn sẽ đòi mở cuộc điều tra. Và bọn chúng thỏa thuận nhân cơ hội cần phải phân tán ngay tức khắc.

Về thực tế, hầu như chắc chắn từ Hongkong, vài ngày sau, Nguyễn Hải Thần cho gửi tới nhật báo Hiện tượng báo (Sien-chuong-Pao) một thư di cảo của Phạm Thành Tích và một thông cáo của một người tự xưng là Từ Hưng Á (TU-HANG-A), quốc tịch Triều Tiên, bạn thân của Phạm Thành Tích – xem các Phụ lục số 910 – kèm theo hai tài liệu trên có đăng một trong các bức ảnh mà Nguyễn Hải Thần đã cho chụp trước vụ mưu sát ít lâu. Toàn thể những sự việc đó nhằm mục đích ca ngợi tên sát nhân và đánh lạc hướng sự truy nã của cảnh sát. Trong tờ báo đó, Phạm Thành Tích đã được mệnh danh bằng một tên giả với nguồn gốc quê quán không đúng. Có điều không chính xác khi bảo người An Nam đó có một “bạn người Triều Tiên” hoặc người đó đã bám theo tôi từ Sài Gòn đến Tokyo để ám sát tôi.

Trong lúc tờ báo Quảng Châu đăng ảnh của một người có danh xưng là Phạm Hồng Thái, tên chết đuối vừa mới vớt được ở Châu Giang, phía dưới Sa Diện 3 kilomet, thân thể đã bị rữa nát tới mức không còn có thể đem nhận dạng với tên trong ảnh.[23]

Sau này chỉ có cuộc điều tra của Phủ Toàn quyền ở Quảng Châu và ở Đông Dương là cho phép xác nhận:

  1. Rằng, tên chết đuối nói trên cũng chính là hung thủ.
  2. Rằng, hung thủ là một người An Nam tên là Phạm Thành Tích tức Phạm Đài, 32 tuổi, quê quán ở làng Xuân Nha, Nghệ An, làm nghề thợ nguội, đã bí mật sang Xiêm vào hồi tháng Ba năm nay.
  3. Rằng, theo cuộc điều tra rộng rãi, người Nga, Đức hay Triều Tiên không can thiệp gì [vào vụ này] và chỉ có một mình nhóm bọn người lưu vong ở miền Nam Trung Quốc là đã chủ trương, chuẩn bị và thực hành vụ mưu sát.

 Tôi xin nhấn mạnh ở đây rằng, hiện nay chỉ có Phủ Toàn quyền Đông Dương là biết rõ mọi chi tiết về vụ này.

Tôi tưởng nay đã đến lúc nói rõ là suốt trong thời kỳ mở cuộc điều tra này, để đạt được những điều vừa kể trên, Phủ Toàn quyền không hề được sở Cảnh sát Quảng Châu giúp đỡ một tý nào cả.

Thời gian 17 ngày ở Quảng Châu, ông Giám đốc chính trị [Jeanbrau] của tôi đành lòng phải nhận, do chính mồm các nhà cầm quyền Trung Quốc, nhiều lời hứa cam đoan về việc tích cực hợp tác để tìm ra hung thủ. Thực tế cũng trong thời gian đó, Sở Mật thám dân sự và Sở Mật thám quân sự của chính phủ miền Nam [Trung Quốc] không hề đóng góp một tý nào vào những cuộc truy nã phạm nhân của đại diện Phủ Toàn quyền.

Làm sao mà giải thích được rằng, cảnh sát một thành phố lớn như vậy, gồm có nhiều thám tử nổi tiếng và cảnh sát một chính quyền quân sự mà sự cần thiết sống còn là phải có một cơ quan thông tin tuyệt diệu, cho tới ngày nay, lại không thể cung cấp cho chúng tôi được lấy một điều mách bảo hữu ích, không những về vụ mưu sát của chính ngày 19 tháng Sáu mà cả về những người lưu vong An Nam ngụ tại Quảng Đông?

Do đó, tự nhiên tôi liên tưởng đến vấn đề tế nhị là vấn đề các trách nhiệm trong vụ đau đớn này và tôi thấy cần phải trình Ngài một cách đầy đủ ý kiến của tôi về chủ đề này.

***

Nhưng trước hết, chính tôi phải tự hỏi tại sao tôi sang Quảng Châu? Vả lại không phải vô tình mà tôi nêu lên ở đây lý lẽ mà tôi đã trình Ngài và Ngài đã ưng thuận, những lý lẽ khiến tôi phải tổ chức cuộc viếng thăm này.

Tôi đi sang Quảng Châu trước hết để thăm toàn thể các kiều dân Pháp ở đó, nghĩa là để công khai chứng thực tại đó, cũng như tôi đã làm trong khi sang Bắc Kinh, sang Thiên Tân sang Thượng Hải và trong nhiều thành phố ở Nhật, sự đoàn kết của Đông Dương và của tất cả các tập thể người Pháp ở Viễn Đông. Tôi còn sang Quảng Châu để thăm ở đó những công trình gây ảnh hưởng của chúng ta, những công trình ở Trung Quốc đứng vào loại phồn vinh nhất và vào loại được Bộ thuộc địa trợ cấp rộng rãi nhất. Tôi chủ tâm đích thân khuyến khích những người tận tụy cống hiến – lãnh sự, những nhà truyền giáo hay các thầy thuốc – những người đã đóng góp phần mình làm cho các công trình ấy được thịnh vượng. Tôi cũng muốn chính mình nhìn rõ xem trong mức độ nào Phủ Toàn quyền có thể tăng cường sự cố gắng của mình một cách có ích để có thể giúp đỡ mẫu quốc duy trì và phát triển ánh hào quang của mình ở hải ngoại. Sau hết, tôi sang Quảng Châu vì thành phố đó là nơi đóng đô của một chính phủ độc lập, chính quyền một tỉnh giáp giới Đông Dương và vì người đứng đầu chính phủ đó nhấn mạnh một cách hết sức khẩn cấp muốn tiếp tôi, vì rằng tôi đã đến thăm rất thuận lợi thống chế Trương Tác Lâm (TCHANG-SO-LIN) ở Phụng Thiên và đại tướng Hồ (HO) ở Thượng Hải; vì rằng trước đây đã giao thiệp trực tiếp và thường xuyên với hai chính phủ tự trị ở Vân Nam và Quảng Tây, tôi không thể không lịch thiệp và nhất là không thể gây nguy cơ – làm cho quan hệ của tôi với Quảng Đông gặp khó khăn – vì từ chối lời mời của bác sĩ Tôn Dật Tiên[24] (SUN-YAT-SEN).

Chẳng phải ông de Fleuriau[25] (de FLEURIAU), Công sứ của chúng ta ở Bắc Kinh đã khuyên tôi nên nhận lời mời đó sao?

Phải, nhưng còn sự nguy cơ về cách mạng, sự nguy cơ về một cuộc mưu sát hay ít ra thì còn có một cuộc biểu tình quần chúng của chủ nghĩa bài ngoại của người Trung Hoa thì sao?

Tôi sẽ xin trả lời rằng, nếu tôi đếm xỉa đến những nguy cơ về loại đó, thì tôi đã không làm tròn nhiệm vụ của tôi ở Nhật Bản.

Tôi mới đến Tokyo [chỉ] ít tháng sau khi xảy ra vụ mưu sát mà tý nữa làm hại đến Hoàng thân Nhiếp chính – Đô đốc Saito (SAITO) – Toàn quyền Triều Tiên, [người] cũng đã thoát một cách kỳ lạ những viên đạn của bọn cách mạng Triều Tiên. Một vài ngày sau, báo chí Nhật hay Trung Quốc luôn tố cáo những cuộc âm mưu, mà mục đích là muốn ám sát tôi[26]. Tuy vậy tôi vẫn tiếp tục cuộc hành trình.

Tuy vậy, trên đường trở về, trước hết ở Thượng Hải rồi đến ở Hongkong, tôi đã nhận được những tin tức đáng chú ý và làm cho tôi nghĩ rằng cuộc hành trình qua Quảng Châu quả thật là một sự đe đọa rất nghiêm trọng. Tôi thấy không cần phải thay đổi chương trình của tôi đã vạch ra từ gần ba tuần lễ nay, bỏ không đến thăm Tôn Dật Tiên theo mong muốn của tôi, và với một cách khác là chấp nhận một lần sự mạo hiểm có tính nghề nghiệp và có lẽ đó là cái giá phải trả của rất nhiều sự việc, nhưng một ông Toàn quyền Đông Dương phải quyết định, lo lắng đến việc không thể hoàn thành phần lớn các nhiệm vụ của mình được. Trái lại và trong trường hợp đó, không phải là tôi không lo lắng chuyện giảm nguy cơ đó đến mức tối thiểu. Vi lẽ đó, tôi đã quyết định chỉ mang theo những cộng tác viên hết sức cần thiết sang Quảng Châu, và tôi đã yêu cầu rút gọn chương trình các cuộc đón tiếp do chính phủ miền Nam Trung Quốc đã đề nghị. Vả lại, ngày 17 tháng Sáu, ngay chính chiều hôm tôi cập bến ở Hongkong, tôi đã phái ông Giám đốc chính trị của tôi đi Quảng Châu để ông đến đó trước tôi trên 24 giờ một ít.

Ngay khi đến Sa Diện, Tư lệnh Jeanbrau[27] (JEANBRAU) đã thông báo cho bác sĩ [L.] Casabianca (CASABIANCA), xử lý thường vụ Lãnh sự Pháp về những nỗi quan ngại mà chúng tôi nhận định là có thể dính líu đến khả năng xảy ra một cuộc mưu sát do bọn cách mạng An Nam đã dự định. Cần phải bảo đảm là mọi việc đề phòng đã được tiên liệu, và việc tôi lưu trên đảo tô giới ngoại quốc sẽ được hoàn toàn tốt.

Về việc ấn định dứt khoát chương trình đi lại của tôi hay những cuộc thăm viếng ngay trong thành phố Quảng Châu này, Tư lệnh Jeanbrau đã thảo luận tại chỗ bác sĩ Casabianca cùng với ba đại diện của chính phủ miền Nam [Trung Quốc], trong đó có ông Waicy (WAICY)[28], cố vấn riêng của Tôn Dật Tiên là người có tiếng tăm trong các giới chính trị ở Pháp – xem Phụ lục số 20. Người ta lấy làm ngạc nhiên nhận định rằng, nhà cầm quyền địa phương không hề có ý định áp dụng một biện pháp cảnh vệ ít ỏi nào để bảo đảm an ninh cho thượng khách của họ trong khu vực thuộc Trung Quốc. Người ta bắt buộc phải nhấn mạnh – căn cứ vào một bức thư của ông Waicy, xem Phụ lục số 19 – về những lý do cần phải nghiêm khắc áp dụng những biện pháp như vậy. Sau cùng, người ta đã hứa với bác sĩ Casabianca sẽ tổ chức giữ trật tự và bảo vệ trong các phố theo những giờ thích đáng; hơn nữa, ba hay bốn xe ô tô có lính võ trang đi hộ tống sẽ để cho tôi sử dụng mỗi khi cần đi lại trong khu vực địa hạt Trung Quốc, như các cộng sự của bác sĩ Tôn Dật Tiên.

Như vậy mọi việc hầu như đã được thu xếp rất chu đáo.

Tôi đến hồi 4 giờ chiều ngày 19 bằng tầu Craonne. Hồi 5 giờ, tôi tiếp các kiều dân Pháp và nước ngoài ở tòa Lãnh sự. Lúc 6 giờ, tôi dùng xe Burki [?] đi dạo mát và cứ mỗi 50 mét, một cảnh binh trong các tô giới đứng chào tôi theo lối nhà binh. Đúng 8 giờ 30, tôi đến khách sạn Victoria: các cửa sổ của phòng tiệc đều có cảnh binh gác. Hồi 8 giờ 45 bom nổ… một cuộc tàn sát ! Ba người chết, hai người ngắc ngoải và mười người bị thương !

Trong số những người chết, có một cặp vợ chồng trẻ, ông bà Desmarets (DESMARETS) mới đến Quảng Châu chưa được 15 ngày.

Trong số những người ngắc ngoải, có ông Gerin (GERIN), một trong số những kiều dân Pháp ở Viễn Đông lâu năm nhất, có công nhất và được nể trọng nhất[29]!

Ngay ngày hôm sau, khi tin vụ tàn sát được loan báo, dư luận công chúng xôn xao cảm động và căm tức phẫn nộ. Tất nhiên, tôi không lo lắng về tâm trạng của người Trung Quốc, trong đó sự kiêu hãnh đáng thất vọng lo sợ mọi hành động trả thù đã lấn át mọi tình cảm chân thành. Sau cái đêm bi đát ấy, vì lí do hầu như suốt đêm dành cho sự chăm nom săn sóc các nạn nhân, tôi đã bất thần đoạn tuyệt mọi sự cam kết của tôi với “bộ tổng tư lệnh” [Trung Quốc] và tôi đã xuống tầu ngay, không nhận tiếp ở tòa lãnh sự ông Thống đốc lẫn ông Thư ký đối ngoại.

Nhưng ở Sa Diện, Hongkong, Thượng Hải và Đông Dương, người ta đang bàn tán về những người chịu trách nhiệm [vụ này].

Thoạt đầu người ta đồng thanh căm tức người Trung Hoa và đặc biệt đối với Tôn Dật Tiên. Báo chí lên tiếng kịch liệt phản đối chế độ mất trật tự và tình trạng hỗn loạn của chính thể của ông ta ở Quảng Đông.

Ông [Sir Bertram] Giles (GILES), lãnh sự Anh là người đầu tiên phản đối chính thức ông Thống đốc Quảng Châu. Bằng lời lẽ cương quyết, ông tuyên bố rằng, chính phủ địa phương phải trực tiếp chịu trách nhiệm về vụ mưu sát vì vụ này chỉ là kết quả của phong trào sách động, bài ngoại do nhà cầm quyền Quảng Châu nuôi dưỡng và xúi giục – xem Phụ lục số 13. Ông Maurice Beauvais, thanh tra sở thuế muối (la Gabelle), anh của tổng lãnh sự đáng thương tiếc của chúng ta[30], đã sẵn sàng thay thế bác sĩ Casabianca, bị thương nặng, và tự cam kết, giữa sự rối ren tơi bời, việc quản lý nặng nề tòa lãnh sự Pháp: ông viết cho nhà cầm quyền Quảng Châu và cương quyết nói rõ cho họ hiểu rằng, vụ mưu sát này chỉ là kết quả một cuộc âm mưu chỉ có thể bố trí chuẩn bị trong khu vực thuộc Trung Quốc – xem Phụ lục số 14. Sau cùng, ông [Amaba Eiji] Tổng lãnh sự Nhật ở Quảng Châu, với tư cách là người lâu năm nhất của đoàn lãnh sự ở Sa Diện và được đoàn tán thành, đã gửi cho Thống đốc Quảng Châu một thông điệp phản đối sự độ lượng rộng rãi của nhà cầm quyền địa phương đối với bọn cách mạng các nước và đòi thi hành khẩn cấp những biện pháp đàn áp rất cần thiết – xem Phụ lục số 15.

Trong thời gian đó, người ta phê phán những yếu kém của Qui chế về cảnh sát ở Sa Diện và ngay cả việc thiếu nhân viên cảnh sát. Quả thật những nhân viên cảnh sát ở các tô giới không được võ trang. Nhà cầm quyền Pháp và Anh liền họp bàn khẩn cấp quyết định cả hai bên đều tăng cường và võ trang nhân viên cảnh sát của mình, ban bố ngay những quy chế mới về việc ra vào của người ngoại quốc trong lãnh thổ Sa Diện – xem các Phụ lục số 16, 17, 18.

Người ta cũng trách ông lãnh sự Anh đã không nghĩ đến việc tổ chức, cùng với lính thủy của một pháo hạm Anh, một toán lính danh dự đồng thời cũng là một toán vệ binh trong bữa tiệc của kiều dân Pháp; ông [lãnh sự] đáp trả bằng lời tuyên bố rằng ông không được biết trước việc tổ chức bữa đại tiệc này tại khách sạn Victoria. Điều đó đúng. Bác sĩ Casabianca không báo trước việc đó cho ông biết bằng công văn. Nhưng ông Giles đã tham dự buổi tiếp tân lúc buổi chiều ngày 19 tại Tòa lãnh sự Pháp. Và hơn nữa, sở cảnh sát [Anh] ở ngay cạnh khách sạn Victoria.

Chính bác sĩ Casabianca, mặc dầu bị thương nặng, cũng bị công kích, nhất là về việc ông không gửi thông báo chính thức cho tòa lãnh sự Anh về bữa tiệc. Trong một bức thư gửi Ngài Công sứ Pháp ở Bắc Kinh – mà tôi mong Ngài (tham chiếu) – xem Phụ lục số 12. Ông Maurice Beauvais đã bênh vực bác sĩ Casabianca và tuyên bố bác sĩ hoàn toàn không có lỗi gì cả. Ông viết: “Người ta phải miễn trừ trách nhiệm cho bác sĩ Casabianca vì ông phải đồng thời đảm bảo công việc của tòa lãnh sự, lãnh đạo bệnh viện Paul Doumer và cơ quan y tế của kiều dân Pháp ở Sa Diện, ba nhiệm vụ mà nhiệm vụ đầu tiên cũng đủ chiếm hết cả hoạt động của hai người lành nghề và có kinh nghiệm. Trong khi đảm bảo công việc quản lý tòa lãnh sự, bác sĩ Casabianca đã tỏ ra là một người hết sức tận tâm trong khi ông Goubault (GOUBAULT) vắng mặt, và người ta không hề lấy làm lạ thấy ông bận túi bụi vào một công việc đối với ông là xa lạ, không được huấn luyện và trong trường hợp này những công việc ấy lại càng đặc biệt tế nhị. Một nhân viên của Bộ Ngoại giao có kinh nghiệm về những âm mưu cách mạng An Nam chắc chắn không quên thỏa hiệp với bạn đồng nghiệp Anh để gìn giữ an ninh cho ông Toàn quyền”.

 Ông Beauvais đề nghị được phép thêm rằng bài học rút ra từ các nhận xét trên là “Quảng Châu là một vị trí lãnh sự hết sức quan trọng, người ta không thể đặt nhân viên chuyên môn một cách vô tội vạ và phải có trong đó những nhân viên ưu tú tích cực hoạt động và có năng lực đặc biệt” .

Về phần tôi, tôi tán thành hoàn toàn kết luận ấy đã được một trong các nhân vật có thẩm quyền nhất ở Trung Quốc nêu ra. Lời kết luận ấy phù hợp với một điều đáng tiếc mà tôi tưởng cũng cần nói ra, đó là điều tiếc rằng ông Goubault, người có thực quyền ở tòa lãnh sự, đã có thể đi nghỉ phép chưa đầy một tháng trước khi tôi hành trình sang Quảng Châu. Người ta có thể khẳng định rằng đa số các bạn cộng sự của ông, trong những trường hợp tương tự đã nhận ra rằng, nhiệm vụ của họ là lưu lại tòa lãnh sự thêm vài tuần lễ nữa.

Để chấm dứt những phát biểu của công luận mà Ngài thấy biết, và nhất là để chấm dứt những lời bàn tán không đúng do sự im hơi lặng tiếng của tôi về mặt đó có thể gây nên, tôi thấy cần phải trình bầy ở đây ngắn gọn để giải thích lời trách móc mà hai hay ba kiều dân Pháp ở Sa Diện đã gửi cho tôi bằng điện tín không ký tên. Đây không phải về vấn đề trách nhiệm. Những thông tin viên vô danh ấy, nay tòa lãnh sự của ta đã rõ tên, trách móc tôi không ở lại Quảng Châu để dự tang lễ của những nạn nhân. Bức điện của tôi số 9081bis đánh đi từ Hongkong đã báo cáo với Ngài thế nào và tại sao tôi đã quyết định rời Quảng Châu ngay hôm 20 tháng Sáu – Tôi chỉ xin thêm như sau: liệu tôi có tránh khỏi những điều nguyền rủa, nếu lưu lại hai ngày nữa ở Quảng Châu, tôi lại gây ra cuộc mưu sát thứ hai có thể gây thêm nhiều nạn nhân mới? Trong khi tất cả mọi người đã lên án rất đúng sự hèn kém của nhà cầm quyền địa phương, làm thế nào tôi có thể gần như có vẻ công nhận công khai sự tin cẩn của tôi vào cảnh binh Quảng Châu trong khi tôi đến nghĩa trang của pháo đài Macao[31], nghĩa là trong khu vực Trung Quốc vào hôm sau [của] ngày xảy ra vụ mưu sát?

Tôi không cường điệu rằng, những ai không biết phân biệt những lý do tối ư cần thiết về việc tôi ra đi, có thể không biết những điều kiện, trong đó tôi đã hành trình sang Quảng Châu. Tôi biết rằng hành động của những người đã đánh điện cho tôi không được những người khác trong số kiều dân Pháp lưu trú ở Sa Diện tán thành. Vả lại, tôi lấy làm vui lòng nhận thấy toàn thể giới báo chí ở Đông Dương tán thành thái độ của tôi.

Trừ ngoại lệ duy nhất tôi chủ tâm báo cáo, đó là những bằng chứng về cảm tình đã dồn dập từ khắp nơi trên thế giới gửi về Phủ Toàn quyền từ ngày 19 tháng Sáu, đều tỏ lòng công phẫn đối với quân sát nhân, tỏ lòng thương hại tôi với các nạn nhân và tin tưởng vào năng lực và uy quyền của Phủ Toàn quyền để trừng trị những tên can phạm.

Vì thế, hiện nay tất cả những cái đó đã đề ra cho chúng tôi nhiệm vụ thực sự chính đáng.

Khi gặp hoạn nạn, thường người ta hay dễ dàng quan niệm rằng tất cả cái gì người ta có, đều có thể làm cho người ta thoát khỏi hoạn nạn đó. Lời an ủi không còn có giá trị nữa. Thật sẽ là đặc biệt vô ích nếu người ta khăng khăng chứng minh rằng người Pháp này hay người Anh này là người chịu trách nhiệm độc nhất về tai họa ở Quảng Châu.

Điều không nên quên là trước hết có những kẻ phạm tội. Không có những kẻ sát nhân thì sẽ chẳng có việc gì xảy ra cả. Đứng sau bọn sát nhân hay bên cạnh chúng còn có những người Trung Hoa, tôi muốn nói phần nhiều là những viên chức của chính phủ Tôn Dật Tiên: Vai trò của họ trong vụ đau đớn này cần hoàn toàn làm cho sáng tỏ. Sau khi suy nghĩ đắn đo khá lâu, và để hành xử có hiệu lực hơn, tôi trở lại một trong các điểm chủ yếu của bản báo cáo này.

Vả lại, nếu người ta muốn từ kinh nghiệm ác liệt này, rút ra được lợi ích tối đa và nhất là nhận rõ đường lối của chúng ta ở Quảng Châu, cần phải ấn định rõ ràng, rõ ràng tốt hơn cái mà báo chí và các lãnh sự không thể làm nổi, nghĩa là bản chất và phạm vi của cái mà tôi không do dự gọi trắng ra là sự can phạm tội lỗi của Trung Quốc. Cuộc điều tra của Sở Mật thám thuộc Phủ Toàn quyền đã cung cấp cho chúng ta ngay từ bây giờ khả năng về sự quy kết ấy: tôi sẽ kể ra dưới đây những sự việc một cách đơn thuần, chọn trong những sự việc chứng minh rõ ràng nhất.

Suốt trong ba tuần lễ sau khi vụ mưu sát xảy ra, mặc dù chúng ta đã nhiều lần cố nài, nhiều lần phản đối theo hảo ý, Sở cảnh sát Quảng Châu không hề cung cấp cho chúng ta bất kỳ một chỉ dẫn nào về hung thủ hay những bọn đồng lõa trong vụ mưu sát ấy.

Họ không hề mở cuộc điều tra xác minh nào về vật chất cả, mặc dầu rất dễ [kiểm soát] và chúng tôi đã từng yêu cầu riêng với tướng Tề Chấn Vũ[32] (TE CHEN WU), giám đốc Sở Mật thám dân sự Quảng Đông.

Phần nhiều bọn đồng phạm của Phạm Thành Tích và ngay cả tên đầu sỏ của bọn âm mưu cũng có một địa vị chính thức trong quân đội hoặc ngành hành chính Quảng Châu. Với các yêu cầu khẩn khoản cung cấp cho chúng tôi danh sách các sĩ quan hoặc viên chức người Annam trong chính phủ miền Nam, nhà cầm quyền Trung Quốc khi thì tuyên bố không hề có một người An Nam nào làm việc cho chính phủ họ cả, khi thì đưa cho chúng tôi một danh sách những họ tên tưởng tượng, bịa đặt.

Ông Waicy, bí thư của bác sĩ Tôn Dật Tiên đã tỏ ra rất ân cần săn sóc chúng tôi và các người cùng đi trước khi xảy ra vụ mưu sát. Từ sau khi đó và mặc dù đã nhiều lần hứa cương quyết sẽ đến thăm chúng tôi, nhưng ông Waicy không hề đến Sa Diện và cùng không còn gặp Tư lệnh Jeanbrau nữa. Trái lại ông ta đã bảo người khác nói cho ông Jeanbrau biết, nếu những hung thủ là người An Nam thì ông ta cho rằng không thể nào bắt được chúng và giao chúng cho Phủ Toàn quyền vì tội ác của chúng có “tính cách đặc biệt và thuần túy chính trị”. Lời tuyên bố ấy không làm cho ai ngạc nhiên khi người ta biết rằng, ông cố vấn thân tín của Tôn Dật Tiên đã có mối quan hệ với Nguyễn Hải Thần mà ông ta đã gặp hồi năm 1920 ở Thượng Hải.

Chắc chắn rằng căn cứ vào những bằng chứng nêu ra ở trên, Ngài sẽ không thấy là hồ dồ mạo hiểm mà suy luận rằng, chính phủ miền Nam Trung Quốc hiểu về vụ mưu sát này mà không muốn thật tình thú ra, rằng ở đây rõ ràng chính phủ đó muốn bao che cho các tên cách mạng An Nam và trong bối cảnh hợp hiện nay, sự bao che ấy đích thật là một sự đồng lõa.

Rõ ràng là đi ngược với chỉ dẫn, ít nhất tạm thời trong lúc này, chính thức nêu ra điều xác thực ấy và nhất là phổ biến rộng rãi những lý lẽ của sự thật ấy. Trong khi tiếp tục truy nã tội ác, dầu sao chúng ta không nên mắc lỡm mà trông mong vào một sự giúp đỡ không bao giờ đến với chúng ta: nhà cầm quyền Trung Quốc ở Quảng Châu, trong tương lai, sẽ không cung cấp gì về tin tức hơn nữa như họ đã không làm từ trước tới nay; họ sẽ không giúp chúng ta một tý nào để bắt các tên sát nhân một cách dễ dàng, có lẽ họ sẽ cố gắng làm trì hoãn việc bắt đó.

Phủ Toàn quyền chỉ còn cách trông cậy vào chính lực của mình trong việc hoàn thành một nhiệm vụ hết sức khó khăn, do sự cần thiết triệt để về chính trị đề ra như một nhiệm vụ về tinh thần hết sức khẩn trương. Những ý định tôi đã thi hành hoặc những dự định thích hợp về việc đó để trình Ngài duyệt là như sau:

  1. Xin cấp một ngân sách đặc biệt cho ông Laprade[33] (LAPRADE), Lãnh sự mới của Pháp ở Quảng Châu, để ông có thể, ngoài mọi sự can thiệp của cảnh binh Trung Quốc, trực tiếp tổ chức các cuộc truy nã hung thủ theo đề nghị cần thiết của Sở Mật thám chúng ta.
  2. Tặng giải thưởng một vạn đô la và sau này có thể tăng lên hai vạn, cho những ai bắt được bọn đồng phạm của tên sát nhân ở Sa Diện, Hongkong, Thượng Hải hoặc ở Đông Dương.
  3. Cử ngay một nhân viên của Sở Mật thám Hà Nội sang Quảng Châu với nhiệm vụ chính là tổ chức ở đó công việc cảnh sát [mà] hiện nhà cầm quyền Pháp ở Sa Diện đang đòi hỏi. Nhân viên ấy có nhiệm vụ mật, trong toàn thể miền Nam Trung Quốc, trực tiếp liên lạc với những nhân viên lãnh sự quán của chúng ta ở Hongkong, Quảng Châu và Thượng Hải, chỉ huy các cuộc lùng bắt cho kỳ được những tên sát nhân. Tôi tin vào sự khéo léo tinh tế của viên chức đó; vả lại, sự tận tâm và năng lực của ông ta hoàn toàn xứng đáng với một nhiệm vụ như vậy.

Thưa Ngài Bộ trưởng,

Thay mặt toàn thể Đông Dương và nhân danh cá nhân, trước khi chấm dứt bản phúc trình của tôi, tôi xin một lần nữa cảm ơn Ngài về mối thịnh tình nồng nhiệt mà Ngài đã chiếu cố đến người lãnh đạo thuộc địa trong cuộc thử thách đặc biệt đau đớn này. Tôi xin cam đoan với Ngài rằng, Phủ Toàn quyền Đông Dương sẽ không bỏ bất cứ một việc gì có thể làm được hay thử làm để trả thù nhanh chóng chừng nào hay chừng đó những nạn nhân đáng thương hại trong vụ mưu sát ngày 19 tháng Sáu, nghĩa là để đảm bảo sự trừng trị cái tội đại ác ấy không gì chuộc nổi.

Ký tên M. Merlin

Phạm Mạnh Phan, cán bộ Thư viện Nghệ An, dịch xong ngày 17/7/1973.

(Bản dịch tựa đề “Báo cáo của Toàn quyền Đông Dương gửi Bộ trưởng Thuộc địa Pháp ở Paris về vụ ném bom ở Sa Diện ngày 19/6/1924”, sách Phạm Hồng Thái và tiếng bom Sa Diện, nxb Văn hóa-Thông tin, H., 2013, tr. 39-63)

Hoàng Ứng Huyền hiệu đính, Tết Kỷ Hợi 2019.

Nguyên bản tiếng Pháp (bản pdf kèm theo) của Bảo tàng Xô Viết Nghệ Tĩnh (Vinh, Nghệ An), ký hiệu: XV Đ14/Y506.


[1] Số văn bản có thể không chính xác do bản gốc bị mờ.

[2] Quảng Châu: Thành phố thủ phủ tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc.

[3] Xiêm (Siam): nay là Thái Lan (Người dịch). Các chú thích không ghi “Người dịch” là của người biên tập.

[4] Phan Bội Châu (1867-1940): Nhà tiên phong của chủ nghĩa dân tộc Việt Nam thế kỷ XX. Ông là người thành lập Duy tân Hội, phát động phong trào Đông Du và thành lập Việt Nam Quang phục Hội (VNQPH).

Các tên riêng được viết bằng chữ IN HOA trong bản gốc, được giữ nguyên và đặt trong ngoặc đơn tại lần xuất hiện đầu tiên.

[5] Nguyên văn: toukiuns – có thể do đánh máy sai.

[6] Cường Để (1882-1951): Kỳ Ngoại hầu triều Nguyễn, nhà cách mạng chống Pháp, Hội trưởng Duy tân Hội và VNQPH.

[7] Người này có thể là Nguyễn Thức Canh (1884-1965), còn có tên là Trần Trọng Khắc, một nhà cách mạng chống Pháp, tham gia VNQPH.

[8] Nguyễn Thiện Thuật (1844-1926) còn gọi là Tán Thuật, lãnh tụ cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy chống Pháp (1883-1892), sang Trung Quốc khoảng 1888 cùng hoạt động thành lập Duy tân Hội và VNQPH.

[9] Nguyễn Hải Thần (~1878-1959): Nhà cách mạng chống Pháp, tham gia VNQPH.

[10] Đặng Sư Mạc (1887-1938, tên thật là Đặng Đoàn Bằng): nhà cách mạng chống Pháp, nhà văn, tham gia VNQPH.

[11] Đinh Tế Giân có thể là Đinh Tế Dân (?-1928): Nhà cách mạng chống Pháp, tham gia VNQPH.

[12] Đặng Tử Mẫn: nhà cách mạng chống Pháp, cùng hoạt động thành lập VNQPH.

[13] Cửu Long (bao gồm cả bán đảo Cửu Long): một trong ba khu vực lớn nhất của Hongkong (Người dịch).

[14] Nam Ninh: thành phố, khi đó là thủ phủ (1912-1936) tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc.

[15] Hoàng Chấn Đông là bí danh của Lâm Đức Thụ (1890-1947), nhà cách mạng chống Pháp, sau đồng thời làm chỉ điểm cho mật thám Pháp; tham gia VNQPH, thành viên sáng lập Tâm tâm Xã.

[16] Lê Hồng Sơn (1899-1933): Nhà cách mạng chống Pháp, tham gia VNQPH, thành viên sáng lập Tâm tâm Xã.

[17] Hàng Châu: Thành phố thủ phủ tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc (Người dịch).

Đây là vụ ám sát Phan Bá Ngọc dịp Tết Nguyên Tiêu, rằm tháng Giêng Nhâm Tuất 1922.

[18] Phạm Thành Tích tức Phạm Hồng Thái (1895/1896-1924): Nhà cách mạng chống Pháp, thành viên Tâm tâm Xã.

[19] Lê Huy Doãn tức Lê Hồng Phong (1902-1942), nhà cách mạng chống Pháp, thành viên Tâm tâm Xã; Bí thư Ban Chỉ huy hải ngoại Đảng Cộng sản Đông Dương (1935-1936).

[20] Chưa có các Phụ lục kèm theo bản gốc.

[21] Sa Diện (沙面, Shameen, Shamian hoặc Shamin): Một hòn đảo cát rộng 0,3 km² ở quận Liwan của Quảng Châu, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc. Ban đầu, đảo này là một vùng bờ sông Châu Giang, nơi neo đậu của thuyền bè nước ngoài. Năm 1859, Anh và Pháp đào một con kênh nhân tạo ở phía bắc, biến Sa Diện thành một hòn đảo. Cũng năm đó, đảo trở thành hai nhượng địa được nhà Thanh trao cho Pháp và Anh (3/5 thuộc về Anh và 2/5 Pháp). Đảo kết nối với đất liền bằng hai cây cầu, được đóng cửa lúc 10 giờ tối như một biện pháp an ninh. Cầu (vòm) Anh ở phía bắc được xây dựng vào năm 1861, do cảnh sát người Sikh canh giữ; cầu Pháp ở phía đông do lính tập Nam Kỳ bảo vệ.

[22] Do thiếu các Phụ lục kèm theo nên chúng tôi xin bổ sung vào bản tiếng Việt bản đồ hữu ích này. Mọi diễn biến vụ mưu sát mà báo cáo mô tả, rất dễ dàng xác định trên bản đồ.

[23] “Ngày 21/6/1924 lúc 5 giờ chiều, cục trưởng công chánh Pháp, cảnh sát Anh, và Ngô Thiết Thành, cục trưởng công an Trung Quốc ở Quảng Đông, đã đến bờ phía Nam của sông Châu Giang, để khám xét tử thi vừa mới nổi lên trước đó. Sau khi so sánh những viên đạn trong túi của tử thi với những vỏ đạn mà người ném bom đã bắn khi tháo chạy, và kiểm tra áo quần, thân thể, cùng chiếc đồng hồ đã đứng lúc 8:45 (thời điểm bom nổ ở Khách sạn Victoria hai hôm trước đó) trên tay tử thi, tất cả xác nhận đúng là xác của người ném bom.” Vĩnh Sính, (bài: Đóng góp vào việc tìm hiểu thêm về Phạm Hồng Thái và tiếng bom Sa Diện), Việt Nam và Nhật Bản: Giao lưu Văn hóa, nxb Văn Nghệ tp HCM, 2001, tr. 256.

[24] Tôn Dật Tiên (1866-1925): Tên người phương Tây dùng gọi Tôn Trung Sơn, Quốc Phụ của nước Trung Hoa Cộng hòa. Trong quá trình hoạt động, ông từng tới Sài Gòn năm 1900 (hơn 2 tuần), Hà Nội năm 1902 và 1907 (hơn một năm).

[25] Aimé-Joseph de Fleuriau (1870-1938): Nhà ngoại giao, Công sứ Đặc mệnh và Toàn quyền Pháp tại Trung Quốc (Bắc Kinh, 6/1921-7/1924).

[26] Ví dụ, ngày 21 tháng Năm 1924, báo Kokumin Shinbun ở Tokyo (một tờ báo có liên hệ mật thiết với giới hữu trách Nhật) đã loan tin một số người Annam đang hành động để mưu sát Merlin. Theo: Vĩnh Sính, sđd, tr. 246.

[27] Louis Paul Jeanbrau (1879-1946): Giám đốc chính trị Phủ Toàn quyền Đông Dương. Sở Mật thám Đông Dương (Sûreté Général Indochinoise) do Toàn quyền Đông Dương Albert Sarraut thành lập năm 1917 (Jeanbrau lại là con rể của Sarraut); tiền thân của nó là Nha Chính trị vụ (Bureau des affaires politiques). Theo sử gia Daniel Hémery, Sở Mật thám thực ra do Tư lệnh (commandant) Jeanbrau thành lập (Daniel Hémery, Révolutionnaires vietnamiens et pouvoir colonial en Indochine: communistes, trotskystes, nationalistes à Saigon de 1932 à 1937, F. Maspero, 1975, p. 157).

[28] Bí danh của một nhân vật thân cận với Tôn Trung Sơn, (có thể) chuyên trách việc liên lạc giữa chính phủ Tôn với các phong trào nổi dậy tại các thuộc địa Anh (Ấn Độ…), Pháp (Đông Dương). Trong hồ sơ của Bộ Thuộc địa Pháp liên quan đến Đông Dương năm 1926/27 có ghi chép về nhân vật này. (http://anom.archivesnationales.culture.gouv.fr)

[29] “Năm người tử vong là: ông P. C. Demaretz, Giám đốc hãng General Silk Importing Co. of New York và bà Demaretz; ông E. Rougeau, phụ tá cho Ngân hàng Đông Dương; ông Pelletier, phụ tá cho hãng Varenne & Proton; và ông E. Gerin của hãng Messrs. Gerin, Dreward & Co”. Vĩnh Sính, sđd, tr. 256.

[30] Jean Joseph Beauvais (1867-1924): Tổng Lãnh sự Pháp tại Quảng Châu (1908-1909, 1910-1923).

[31] Pháo đài (Fort) Macao nằm trên một hòn đảo nhỏ cách thành phố Quảng Châu khoảng 4,8 km về phía nam. Tại đây, ngày 4/1/1857 đã diễn ra trận chiến giữa quân Anh và nhà Thanh trên sông Châu Giang trong cuộc Chiến tranh thuốc phiện lần thứ hai.

[32] Tề Chấn Vũ (吴铁城,1888-1953) khi đó là Trưởng xứ Cảnh vụ kiêm Tư lệnh Cảnh vệ tỉnh Quảng Đông, Cục trưởng Công an Thành phố Quảng Châu.

[33] Georges Dufaure de La Prade, Tổng Lãnh sự Pháp tại Quảng Châu (1924-1925).

3 thoughts on “Đọc lại Báo cáo của Toàn quyền Đông Dương M. Merlin “Vụ ám sát Cách mạng ngày 19 tháng 6, 1924 ở Quảng Châu”

  1. Nếu ngày nay thì sự kiện Sa Diện này bị qui kết là : KHỦNG BỐ ●và trên mảnh đất Việt Nam thì còn VÔ SỐ sự việc như thế =》 TẤT CẢ ĐIỀU ĐƯỢC VINH DANH CA TỤNG v v
    ==》 Vậy thì KHỦNG BỐ là gì nhỉ ? ? ? ●|●
    PHÚ TIÊN – TN : 10/09/2021

  2. Pingback: Đọc lại Báo cáo của Toàn quyền Đông Dương M. Merlin “Vụ ám sát Cách mạng ngày 19 tháng 6, 1924 ở Quảng Châu” – NHẤT NIỆM THÀNH MA – THẬP NIỆM HÓA HỦ

  3. Chỉ có ở những người thiếu hiểu biết và không có quan điểm ,lập trường mới như thế mà thôi ! ! !
    Có bản Lĩnh thì viết KHÁI NIỆM hay ĐỊNH NGHĨA về KHỦNG BỐ cho mọi người xem chơi ●!●
    Có như thế mới HỮU ÍCH cho XÃ HỘI ●|●
    Phú Tiên – TN : 12/09/2021

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s