Truyện Kim Vân Kiều

5

Maurice Durand

L’Univers des Truyện Nôm

Phan Tấn Khôi*   dịch  

 

Dẫn  nhập

Sinh tại Hà-nội vào tháng tám  1914,  Maurice Durand là con trai của  Gustave Durand,  chánh phòng dịch thuật tại Tòa-án  và giáo sư tiếng Tầu tại Đại học,  và của  Nguyễn Thị Bình, người gốc tỉnh Kiến-An,  ở phía Đông châu thổ sông Hồng.  Do đó ông đã được nuôi dưỡng vừa bằng tiếng Pháp và vừa bằng tiếng Việt,  và dĩ nhiên hai nền văn hóa đó đã in sâu vào đời sống và sự nghiệp của ông.  Sau một học trình tại trường trung-học  Albert Sarraut  Hà-nội,  Maurice Durand  đã tiếp tục theo học tại Pháp,  nơi ông đạt được văn bằng Cử nhân Văn chương, kế đó  Chứng chỉ Cao-học  < Loti et l’Extrême-Orient , 1937 >  trước khi đi phục vụ chiến trường  Phi-châu.  Năm 1946,  Maurice Durand trở lại Việt-Nam như là giáo sư trung-học  và năm 1949,  trở thành hội viên thường trực của  Trường Viễn-đông Bác cổ Pháp.  Từ năm 1954 tới năm đóng cửa 1957,  ông  là Giám-đốc Trung tâm Viễn-đông Bác cổ Pháp tại Hà-nội.            Trở về Pháp,  ông tiếp tục nghiên cứu Văn-học Việt-nam  và giao tất cả các tác phẩm của ông cho  Trường Viễn-đông Bác cổ Pháp in.  Trong số đó phải kể đến Connaissance du Việt-Nam , 1954 ;  La transcription de la langue vietnamienne et l’oeuvre des missionnaires francais , 1961, v.v.            Kể từ năm 1964,  Maurice Durand bắt đầu đau nặng  và sau nhiều cuộc giải phẫu,  ông mất vào tháng tư 1966,  ở vào tuổi 53.  Ông để lại một tập bản thảo đang nghiên cứu dở dang về những bài thơ bằng  nôm hiển nhiên là nguồn gốc của cuốn  L’Univers des Truyện Nôm , 1998  này.       <Theo Philippe Papin,  EFEO>

 

            Chúng ta hãy so sánh những yếu tố của bài dân ca :  “Trống quân tân truyện” [1] và của cuốn  Tranh dân gian Việt Nam[2].

            Trong số ba mươi sáu truyện hay lịch sử được coi như phổ thông nhất của bài dân ca nói trên, cuốn Tranh dân gian truyền thống chỉ nói tới một số khá hạn hẹp. Hai truyện đã gây cảm hứng nhất cho các nhà vẽ tranh mà không ai có thể chối cãi được là truyện  Kim Vân Kiều và truyện Thạch Sanh, trong bộ sưu tập của chúng tôi, hai mươi sáu tranh dành cho Thạch Sanh và mười hai tập gồm hai mươi sáu tranh cho truyện Kiều. Vậy mà truyện  Thạnh Sanh không nằm trong danh sách của bài dân ca. Điều này chứng tỏ là sự phổ thông của  Thạch Sanh chỉ là mới đây và đã được ưu đãi qua những tranh tết đã hình dung các anh hùng trong nhiều giai đoạn câu truyện.  Cũng vậy, truyện  Lục Vân Tiên  của miền Nam Việt nam, không nằm trong danh sách và cũng là mới đây vì đã được một tác giả thuộc thế kỷ XIX, Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888) biên soạn.

            Tiếp theo truyện  Kiều và  Thạch Sanh, có hai tranh dành cho truyện  Trê cóc hai bảng gồm ba tranh cho  Nhị Độ Mai , một tranh cho  Phan Trần , một tranh cho  Hoa Tiên . Truyện  Lục Vân Tiên của miền Nam Việt  Nam không được kể tới trong bài dân ca miền Bắc, nhưng sự nổi tiếng khá phổ biến để chúng tôi gặp hai tranh dành cho truyện này. Cùng lắm chúng tôi có thể xếp loại tám bảng gồm mười ba tranh truyện  Tây Du Ký  trong danh sách này bởi vì truyện nhà Sư đời Đường,  Đường Tăng đã là mục tiêu những  Truyện theo thể Lục-bát. (2)

            Không có vấn đề giải quyết tất cả mọi bài toán các  Truyện  đặt ra ở đây, mà chỉ là tìm ra những lý do tại sao chúng nổi tiếng và thích hợp với trí tưởng tượng của một người Việt Nam “trung bình”.

            Trước tiên chúng ta hãy lấy trường hợp truyện  Kim Vân Kiều. Cùng với các truyện  Phan Trần,  Hoa Tiên,  Nhị Độ Mai ,Lục Vân Tiên v.v…truyện Kiều thuộc nhóm những đại tác phẩm văn chương Việt Nam được biên soạn bằng chữ quốc ngữ.  Chưa nói tới vẻ đẹp thực chất của các tác phẩm này, điều chắc chắn là sự mê say, hứng thú  dành cho tất cả các tác phẩm bằng tiếng Việt  và dưới một hình [3]thức nên thơ đặc biệt Việt Nam (câu 6-8), đến từ một tinh thần quốc gia, trong niềm sùng kính hãnh diện  đã muốn lập thành, rất đúng lý, một gia tài văn hoá cá biệt có thể phát triển nhân cách chính trị của dân chúng Việt Nam.   

            Vào cuối thế kỷ XVIII, dưới nhà Tây-Sơn, những người chiến thắng quân Tầu và dưới triều Gia-Long, xứ sở đã được thống nhất. Xứ Căm-Bốt và Thái-Lan đều bị đánh bại. Để đánh dấu sự ưu thế ấy của Việt Nam trong miền Đông-Nam-Á, các vị hoàng đế và tầng lớp lãnh đạo, giới quý tộc và trí thức đều nhấn mạnh đến nền độc lập của xứ sở đối với nước Tầu bằng cách tán dương  các tác phẩm bằng quốc ngữ. Vua Gia Long cho soạn thảo các văn bản hành chánh và chiếu chỉ bằng quốc ngữ. Người ta ₫ã cảm nhận được sự cố gắng này theo dòng lịch sử : sau khi nhà Trần chiến thắng quân Mông-cổ,  Hàn Thuyên đã thử đặt ra loại thơ bằng chữ  nôm. Sự cố gắng thoát ly chính trị  bằng phương tiện ngôn ngữ và văn chương được tiếp tục làm theo dưới nhà Hồ,  nhà Lê và nhất là dưới nhà Tây-Sơn. Dân chúng, tự họ, chỉ có thể đón nhận và ủng hộ một phong trào như vậy đã dành ưu thế cho ngôn ngữ họ hiểu rõ và nói hàng ngày, và , phần khác, đã được nhiều văn sỹ tài ba uốn nắn trong những vần thơ có sự hòa điệu và một khả năng gợi cảm như thể người ta đã tìm ra một sự cộng hưởng từ tận cùng tâm hồn họ.

            Vậy tinh thần quốc gia đã là một phần trong việc phổ biến những truyện bằng quốc ngữ. Loại truyện này có rất nhiều và chúng ta có thể thêm vào  số ba mươi sáu truyện <thực ra là ba mươi bốn>  của bài dân ca, một danh sách dài  những truyện khác  bằng vần lục-bát cũng không kém phần nổi tiếng. Tuy nhiên, các  nhà vẽ tranh chỉ chú ý tới một số  ít truyện này. Qua đó họ đã thực hiện một sự lựa chọn  các tác phẩm, một lựa chọn có thể không đầy đủ nhưng đã cho thấy rõ một thứ bậc gíá trị và một mức độ phổ quát.

            Những truyện như  Kim Vân Kiều,  Hoa Tiên,  Phan Trần,  Nhị Độ Mai , đều được giới học thức Việt Nam công nhận như những tác phẩm kiệt tác. Người ngoại quốc thường phê bình những tác phẩm này là đều lấy đề tài từ truyện Tầu và do đó thiếu tính chất sáng tạo. Lời phê bình này thường do những người không hiểu biết hoặc biết quá ít tiếng Việt Nam ₫ể thấu hiểu mọi bản văn đưa ra , có thể sẽ giống như lời phê bình chê bai các tác gỉả Racine hay Corneille viết về những đề tài rút tỉa từ Hy-Lạp,  La-Mã cổ xưa hay Tây-Ban-Nha.    

            Những truyện bằng thơ Việt Nam, giống hệt như những tác phẩm lớn bằng thơ cổ điển của người Pháp, cho thấy cùng tính chất sáng tạo trong việc sử dụng mọi đề tài. Ngôn ngữ, văn phong, cách phân tích tình cảm,  thái độ các nhân  vật   đưa chúng ta vào một thế giới hoàn toàn Việt Nam và hơn nữa, rất thông thường, những phong cảnh tuyệt đẹp trong các tác phẩm đó làm chúng ta xúc động qua cái tình người sâu đậm của cốt truyện. 

            Truyện  Kim Vân Kiều , giống như những truyện khác,  là một sự thích nghi chứ không phải một bản dịch. Bản dịch truyện Tầu tự nó không có nhiều tính chất duyên dáng bằng tác phẩm của Nguyễn Du.  Tất cả các nhà phê bình Việt Nam đều đồng lòng công nhận trong những tác phẩm đó – mà những truyện nổi tiếng nhất đã được minh họa bằng tranh dân gian – một tính chất đặc biệt Việt Nam, đã chuyển hóa những nguồn cảm hứng và xóa bỏ mọi nguồn gốc.  Đỗ Thúc trong một bài nghiên cứu về chữ  nôm , có tựa là  văn nôm  đăng trong  Bulletin de la Société d’Enseignement Mutuel du Tonkin,  quyển XV, số 1, tháng giêng, tháng ba 1935, đã viết :        

  ” Những sách ấy ắt cần rèn đúc lại như ông Nguyễn Du đã nhân một truyện phong tình, cổ lục mà ra công rèn đúc thành truyện  Kim Vân Kiều, thời mới có lý-thú lọt vào tai, vào lòng người Nam ₫ược. <tr.73>

…Nên biết cổ-văn nôm, như các truyện trường thiên : Thạch Sanh,  Ngọc Hoa,  Kim Vân Kiều,  cổ-văn Tầu không có những lối thơ ấy, văn vần ấy. Tuy đời xưa không đem dậy các truyện nôm tại các trường công, chương-trình khoa-cử không hỏi đến,  thế mà trong dân nhiều người biết tinh tường,  học thuộc lòng.<tr.76>

            Vậy thì,  chủ nghĩa quốc gia chuyên chở những tình cảm của quần chúng  đã muốn loại trừ những tác phẩm tiếng Tầu bằng những kiệt tác viết bằng tiếng Việt [4] và trong số những kiệt tác đó truyện bằng thơ hợp thành  một trong số những nguồn cảm hứng chánh của cuốn Tranh dân gian.

            Tuy nhiên,  chủ nghĩa quốc gia không giải thích được hoàn toàn sự thành công của những tác phẩm như vậy. Những tác phẩm này cần trình bầy được những tính chất văn chương,  nghệ thuật, chắc chắn nhân bản để sự thành công của chúng được tiếp tục biết đến theo thời gian và được phổ biến rộng rãi  trong mọi tầng lớp quần chúng.

            Trước tiên chúng ta hãy xem xét truyện  Kiều mà đã có rất nhiều tranh dân gian minh họa.  Không có một người Việt Nam nào mà không cảm nhận được cái đẹp.  Nhưng hiểu được cái gì làm nên cái đẹp đó và phân tích nó dường như rất khó [5]. Người  ta đều đồng ý thấy trong vẻ đẹp đó một thi vị  mãnh liệt,  đáp ứng một cách tinh tế tâm hồn người Việt [6]  Sau đây là  ý kiến của một văn sỹ việt-nam thời nay :

            “Cái đẹp của  Đoạn trường tân thanh  <nghĩa là của  Kim Vân Kiều >,  cái tinh hoa  của thơ văn lan tỏa một cách quá rộng rãi trong truyện,  phải được cảm nhận một cách tự nhiên , người ta càng phân tích,  người ta càng giải thích và cái đẹp càng rời xa.  Cần phải ngưng thở, cần phải bước ₫i một cách cẩn thận để có thể tóm bắt được cái đẹp của bản văn khi  thì  dịu-dàng, khi thì thùy-mỵ,  tráng lệ,  huy hoàng. [7]   

            Mặc dù ý kiến đó, cái đẹp của truyện  Kiều vẫn phân tích được và đã được phân tích nhìều lần.  Người phê bình đầu tiên,  người đã định nghĩa truyện Kiều một cách hiện đại, là Phan Kế Bính trong cuốn  Việt Hán văn khảo  <1918>  của ông. Theo ông những yếu tố góp phần vào việc sáng tạo ra cái đẹp đó rất phong phú và vì vậy có thể tóm tắt như sau :

1- Văn phong chú trọng đến ý nghĩa từng chữ

2- Sự dễ dàng lựa chọn kỹ thuật văn thơ

3- Những tư tưởng và ý nghĩ tự nhiên trào ra

4- Cách sử dụng tài tình  các lời nói bóng gíó văn học

5- Nghệ thuật  mô tả nên thơ trong đó sự kết hợp phong cảnh với tình cảm con người đã  đưa     Nguyễn Du đến gần những thi sỹ lãng mạn và tượng trưng  nổi tiếng nhất của chúng ta.

6-  Sự tương hợp tính tình : những nhân vật chính trong truyện  Kiều rất sống động và được tạo nên một cách tài tình,  lời nói,  tướng mạo,  tình cảm kết hợp với nhau rất hài hòa làm cho mỗi nhân vật chính trong truyện sống trong trí tưởng tượng của chúng ta và chúng ta không thể nào quên được họ.

            Kể từ Phan Kế Bính cho tới ngày nay,  và cho tới những luận án mới đây đã được trình tại trường đại học Sorbonne, Paris thí dụ như là luận án của Nicolas Trần Cửu Chân,  những nhà phê bình đã từng ca ngợi truyện  Kiều  chỉ là lập lại những điều mà Phan Kế Bính đã làm sáng tỏ bằng cách  thêm vào một chuỗi ít hay nhiều những từ ngữ tán tụng. Dù là Trần Trọng Kim,  Đào Duy Anh,  Dương Quảng Hàm hay những người khác,  mỗi người đều nhấn mạnh với những cường độ khác nhau về tài   Tả Cảnh  của Nguyễn Du,  tài  Tả tìnhTả người ,  tài  Tự thuật Đàm thoạiDùng chữ,  những ám chỉ văn chương  Điển tích .

            Nhưng tất cả những phân tích đó không chỉ rõ ra được những nguyên nhân chính  tại sao dân chúng việt-nam lại rất mê thích truyện  Kiều  đến độ nâng truyện này lên hàng đầu trong cuốn Tranh dân gian.     

            Theo ý chúng tôi, những lý do tổng quát  giải thích được vì sao cái đẹp của truyện  Kiều  thích ứng với thị hiếu của dân chúng việt nam là :

      1 – Toàn thể câu truyện là một bi kịch lâm ly  hay một chuỗi bi kịch có khả năng cảm hóa,  khích động những tâm hồn nhạy cảm và tế nhị.  Đó là một trong những điểm chủ yếu của mọi văn chương bình dân.

      2 –  Giọng nói khoa trương giả tạo trong các bi kịch lâm ly đó khác với  giọng nói khoa trương  .giả tạo đầy vẻ rực rỡ nhưng trống rỗng trong các bi kịch lâm ly truyền thống Pháp. Sự phân tích tinh tế những tình cảm,  sự hoàn hảo của một thể loại dạng thần chú,  tài chế ngự những cảm giác và cảm tưởng mà nhà thơ nắm bắt được qua tính chất nhạy cảm tiêu biểu của các nhân vật  đã biến truyện  Kiều  thành một tác phẩm lỗi lạc,  có khả năng  gây thích thú cho giới văn nhân  và giới nghệ sỹ khó tính nhất.

      3 – Truyện  Kiều  tỏ ra châm biếm trong một số đoạn. Tác giả không sợ phê phán các quan lớn và các nhà quý tộc của thế giới này.  Đó là một  trong những tính chất của mọi văn chương bình dân.  Tranh dân gian việt-nam cũng rất châm biếm,  chứng tỏ tinh thần trào phúng của dân chúng.

      4 – Sau cùng, dưới mắt quần chúng bình dân,  truyện  Kiều   là một tác phẩm đạo đức. Chúng ta sẽ thấy sự quan trọng của ý niệm đạo đức, của ý niệm đức hạnh trong văn chương bình dân.   

            Chúng ta hãy xem xét truyện  Kiều như  một cuốn tiểu thuyết  mà nội dung làm sao có thể  gây xúc động những tâm hồn đa cảm.  Trước tiên  chúng ta hãy xét tác dụng đó trên tâm hồn người đọc.  Nguyễn Mạnh Tường  đã phê phán Dương Quảng Hàm trong tạp chí   Thanh Nghị  số 92  như sau :

            Đối với quyển  Kim Vân Kiều,  ông Dương Quảng Hàm có vẻ trân trọng hơn,  nhưng chính vấn đề cốt yếu là vấn đề văn chương ông chỉ nói qua thôi.  Ông khen cụ Nguyễn Du có tài tả cảnh,  tả người,  và dùng điển.  Còn nghệ thuật của cụ ông không nói đến.  Ông không cắt nghĩa tại làm sao quyển Kim Vân Kiều chứa chan thi vị và tại sao thi vị rất hợp với tâm hồn người Việt Nam chúng ta,  hợp cho đến nỗi ta tưởng tượng rằng nếu tâm hồn ta có thể lên tiếng được,  thì sẽ hòa điệu theo thơ của Kim Vân Kiều .

            Thật ra,  cái thi vị đó của truyện  Kiều  mà mọi người việt-nam đều cảm nhận thấy,  đến từ nghệ thuật và kỹ thuật thơ văn của Nguyễn Du. Ông ta,  giống như  Racine,  như Baudelaire, như tất cả mọi đại thi hào  của mọi thời gian và mọi quốc gia,  đã biết nắm lấy điểm thi vị chính yếu trong mọi trường hợp và trong mọi hoàn cảnh của các nhân vật,  và diễn tả nó một cách giản dị  nhưng chan chứa những gợi ý trí thức hay tình cảm.  Hơn nữa, nhân vật chính  Kiều tượng trưng nhân vật lý tưởng của bi kịch lâm ly.  Nàng đẹp,  nhân hậu,  đức hạnh, nhưng  số mệnh tàn ác đã đẩy nàng vào những cuộc phiêu lưu mà bản chất yếu đuối của nàng  phải  chống chỏi với những điều độc ác,  với sự xảo quyệt của một thế giới thường là tàn ác. Tuy nhiên, sau cùng, nàng cũng sẽ thoát ra khỏi cái vòng lẩn quẩn những kinh nghiệm khổ sở và đau thương và sẽ tìm lại được Kim Trọng, người nàng luôn luôn yêu mến.

 

Nhân cách của  Nguyễn Du 

 

            Nguyễn Du sinh tại Nghệ-Tính,  nhưng tổ tiên ông đều là gốc Bắc-kỳ.  Chúng tôi đã tìm được dấu vết một trong những người này,  Nguyễn Thiến , dưới thời nhà Mạc, sống tại làng  Canh-Hoạnh , phủ  Thanh-Oai , tỉnh Sơn-Nam  <hiện tại là tỉnh Hà Đông>.  Ông đậu tiến sỹ vào năm  Nhâm-thìn <1532>  dưới thời nhà Mạc, nhưng trở lại với nhà Lê khi  triều đại được Lê Trang Tông tái lập lại năm 1533.  ông đạt tới chức Lễ bộ thượng thư và được phong tước hiệu quý tộc  Quận-công.  Ngược lại, các con ông đều chọn nhà Mạc.  Vào triều đại Quang-Hưng <1578-1599>  các cháu ông về đầu hàng nhà Lê  khi  Mạc Mậu Hợp bị quân Trịnh Tùng bắt vào năm 1593,  nhưng ít lâu sau chúng  sắp đặt một âm mưu phản loạn và tất cả đều bị giết, ngoại trừ Nguyễn Nhiệm  <tước hiệu quý tộc  Nam-Dương Hầu>  đã trốn vào Nghệ-An,  trong phủ  Đức Quang,  tại làng  Tiên Điền,  phủ  Nghi Xuân  <năm 1924, ngôi làng đó nằm trong phủ  Đức Thọ,  tỉnh  Hà Tĩnh>.  Tại đó,  Nguyễn Nhiệm sống ẩn lánh và người ta chỉ còn nhớ tước hiệu quý tộc và danh hiệu  Ông Nam-Dương  của ông.

             Vào thế hệ thứ sáu  sau Nguyễn Nhiệm  có  Nguyễn Thể  rất nổi tiếng trong nghề binh đao và nhận được tước hiệu Phù Hương Bá và  Bảo-Lộc phong-công,  kế đó có Nguyễn-Quỳnh  rất nổi tiếng về tài văn chương  và được biết đến dưới tước hiệu  Lĩnh-nam-công.

            Một trong những con trai của Nguyễn Quỳnh  tỏ ra xuất sắc  vì đã thi đậu  Tiến-sỹ trong kỳ thi năm 1733,  lúc 29 tuổi.  Một người con khác  là Nguyễn Nhiệm,  cũng được biết tới dưới các danh hiệu Nghị-hiên,  Hồng Ngự Cư sỹ.  Năm 16 tuổi ông đậu cử nhân và năm 24 tuổi  đậu tiến sỹ trong kỳ thi năm 1731. Ông rất giỏi trong việc biên soạn bằng chữ  nôm  và những bài viết của ông mặc dù không được khéo lắm cũng đáng được kể đến.  Trước tiên  một bài  phú  có tên  Khổng-tử mộng Chu-công , kế đó những tác phẩm như  Quân-trung liên vịnh [8]  <Nhiều bài thơ nối tiếp nhau ca ngợi quân đội>,  như  Xuân-Đình tạp vịnh  <Tuyển tập nhiều bài thơ vịnh Tiểu đình mùa Xuân>  như  Việt-sử bị lãm  [9]  <Khảo sát chi tiết Lịch-sử Việt>.

            Cha Nguyễn Du có mười hai con mà vài người rất nổi tiếng.  Con cả  Nguyễn Khản  đậu tiến sỹ năm 27 tuổi  trong kỳ thi năm  canh thìn  <1760>  và trải qua một quá trình nghề nghiệp hành chánh sáng lạn.  Con thứ hai  Nguyễn Điều,  tước hiệu quý tộc  Điền Nhạc hầu,  đã là tổng đốc  Hưng-Hóa,  phần lớn các con khác đều làm quan.

            Nguyễn Du là con thứ bẩy của Nguyễn Nghiễm,  có  tự  là  Tố-Như,  hiệu  Thanh-hiên.  Mẹ ông là  Trần Thị Thản người gốc làng  Hoa Thiều [10]  quận Đông Ngạn,  tỉnh  Kinh-bắc  <hiện tại là  Bắc Ninh>.  Đàn bà của tỉnh đó rất nổi tiếng về sự tử tế,  sắc đẹp   và  sự thanh lịch của họ. Ảnh hưởng của bà mẹ trên đứa con đã cho Nguyễn Du  một tính chất đa cảm tinh tế.   

            Ông sinh năm 1765,  vào một thời kỳ đầy hỗn loạn  nối tiếp nhau trong nhiều năm được ghi lại bằng những cuộc nổi dậy không ngừng.  Trong thời niên thiếu của ông nhiều sự kiện quan trọng xẩy ra  đều là hậu quả của tình trạng hỗn loạn nội  bộ do sự phát triển của giới thượng lưu,  sự suy yếu  của quyền lực hoàng gia,  sự cai trị của các lãnh chúa  và nhất là cuộc nổi dậy của nhà  Tây-Sơn.

            Thật vậy, ngay từ năm 1771  Nguyễn Nhạc nổi dậy và đặt căn cứ hành quân tại thị trấn Tây-Sơn  <thôn An-khê và  Cửu-an  tại phủ  Hoài-nhân, trong vùng  Quy-nhơn >.  Năm 1774,  lúc đó Nguyễn Du mới có chín tuổi , Trịnh Sâm sai Hoàng Ngũ Phúc đi đánh quân Nguyễn.  Hoàng Ngũ Phúc chiếm được Phú-xuân,  quân Nguyễn phải rút lui về Quảng Nam, nhưng lại bị quân Tây Sơn đánh tại đó và chiếm luôn Quảng Nam.  Năm 1776,  quân Tây Sơn chiếm Sài Côn  [11], rồi lại để mất . Năm 1776  Nguyễn Nhạc tự xưng vua Tây Sơn,  kế đó là hoàng đế năm 1178.  Trong khi đó,  các anh em của ông,  Nguyễn Lữ  và  Nguyễn Huệ  đánh chiếm lại  Sài-côn và  Gia-định,  tuy nhiên ít lâu sau lại bị  Nguyễn Phúc Ánh  chiếm lại và kế đó trở thành mục tiêu của nhiều chiến dịch giữa  Tây Sơn và nhà Nguyễn.  Năm 1784, miền Bắc bị nạn  Kiêu-binh nổi dậy.  Gia đình Nguyễn Du rất lo lắng vì nhà của người anh cả Nguyễn Khản bị bọn nổi dậy phá hủy.  Gia đình Nguyễn Du thuộc loại bảo hòang,  có nghĩa là luôn muốn phục vụ một cách trung thành với chúa Trịnh và nhà Lê.  Trong thời gian nạn Kiêu-binh,  Nguyễn Khản,  Nguyễn Điều và các em trốn chạy về Sơn Tây và cố gắng kết hợp quân sĩ các tỉnh để chống lại toán quân nổi dậy. Còn về phần Nguyễn Du,  ngay thời niên thiếu ông đã sống chung đụng với giới chức sắc  nhà Trịnh và nhà Lê.  Cha ông  Nguyễn Nghiễm,  tước hiệu  Trung-Cần-công,  là bạn của Hoàng Ngũ Phúc,  một trong những đại tướng nhà Trịnh.  Ông này rất yêu thích Nguyễn Du lúc còn nhỏ,  đã chấm số tử vi cho cậu bé và trao tặng cậu một thanh kiếm hiếm quý.  Lúc sáu tuổi  Nguyễn Du bắt đầu đi học và chứng tỏ ngay tức thì có một trí nhớ phi thường.  Lúc 19 tuổi , ông thi đậu kỳ thi tuyển tỉnh lỵ Thăng-long.  Lúc Nguyễn Du còn bé,  cha ông đã cho ông làm con nuôi một trong những đồng môn xưa đã trở thành một vị quan trong tỉnh  Thái Nguyên với chức tước  Hùng-hậu  hiệu Chính-thủ-hiệu .  Khi cha nuôi ông mất  Nguyễn Du được thừa hưởng chức tước đó,  giống như ông được thừa hưởng chức tước của cha ông  Hoằng [12] – tín  Đại-phu chi [13] Thụ [14]  Trung-thành-môn vệ-úy.   

            Nguyễn Du lấy con gái ông  Đoàn Nguyễn Thục [15]  người gốc Sơn-Nam  <Nam-Định>.  Khi nhà Lê bị nhà Tây-Sơn loại khỏi quyền uy và  Lê Chiêu-Thống trốn chạy sang Tầu năm 1789,  Lúc đầu  Nguyễn Du có ý muốn đi theo ngài,  nhưng ông không tới kịp để theo đoàn hoàng gia.  Vậy ông lui về ở ẩn vùng quê,  tại làng của vợ ông , làng  Hải-an,  quận  Quỳnh-côi,  tỉnh  Sơn-Nam  <Nam-Định,  Thái Bình>.  Cùng với người anh cả của vợ,  Đoàn Nguyễn-Tuấn,  ông muốn dấy lên một phong trào để phục hưng nhà Lê,  nhưng ông không thành công và lui về ở ẩn tại làng  Tiên Điền quê ông.

            Lúc đó ông muốn vào miền Nam để gia nhập phe Nguyễn Ánh,  vua Gia Long tương lai,  nhưng dự định của ông bị lộ và viên tướng nhà Tây Sơn, chỉ huy trưởng các nhóm quân của tỉnh lỵ,  có tước hiệu  Thận-quận-công,  bắt ông và giữ làm tù binh trong hai tháng, kế đó thả ông ra.  Nhận thấy nỗi bất lực không thể hành động,  lòng đầy hận thù và buồn rầu,  ông qua thời gian tại đồng quê,  vui thích với thú thiên nhiên,  với thú săn bắn,  với thú đọc sách.  Từ thời kỳ đó của đời ông nẩy sinh những biệt danh như  Hồng-sơn-lạp-hộ  <người thợ săn vùng Hồng-sơn>  Nam-hải điếu đồ  <Người câu cá vùng Nam-hải>

            Khi Gia Long đã chiến thắng nhà Tây Sơn và thống nhất xứ sở,  Nguyễn Du đã ngập ngừng rất lâu, sau cùng quyết định xin gia nhâp.  Khi Gia Long ra Bắc vào năm 1802,  Nguyễn Du đi gặp ngài trong đoàn tùy tùng hoàng gia tại Nghệ-An.  Ông theo Gia Long và được phong  tri huyện Phù-dung lệ thuộc chính quyền Sơn-Nam. Cùng năm đó vào tháng 11,  ông được phong làm tri phủ Thường Tín.  Năm 1804 ông được lệnh đón tiếp phái đoàn sứ thần Tầu.  Vào mùa thu ông cáo bệnh để lui về đồng quê,  nhưng chẳng bao lâu ông lại được triệu về kinh thành. Năm 1805,  ông được phong  Đông-các Đại-học-sĩ  và nhận tước hiệu  Du-đức-hầu .  Vào năm  1809  ông được phong  cai-bộ  <chức vụ tương đương với  Bố-chánh>  tỉnh Quảng-bình.  Ông giữ chức vụ đó suốt bốn năm và rất thành công trong việc hành xử.  Năm 1813  ông được phong Cần-chánh điện học sĩ   và trở lại kinh thành,  sau đó ông được giao chức vụ điều khiển phái đoàn sứ bộ ta tại Tầu,  Chánh-sứ đi tuế cống  Thanh-triều ,  trong thời gian đó ông có làm một số thơ mà chúng tôi còn giữ được.

            Năm 1815  ông được thăng chức  Lễ-bộ hữu-tham-tri.  Năm 1820,  nhân dip lễ đăng quang của Minh-Mệnh,  ông được cử lảm Sứ thần đi Tầu xin cầu phong cho vua.  Ông không có thời gian khởi hành vì ngả bệnh,  ông mất tại kinh thành ngày thứ 10 , tháng thứ 8 của năm  Canh-thìn,  nghĩa là ngày 16 tháng chín 1820 ở vào tuổi 56.   Biến cố đó làm vua Minh Mệnh rất đau lòng [16].

            Ngài ban cho đồ phúng điếu gồm 20 nén vàng,  hai sấp gấm, dầu thơm, v.v. và  ban tước hiệu hậu ma chay  Trung Thanh.  Ông được chôn tại xã  An-ninh,  huyện  Hương-trà,  tỉnh  Thừa-thiên.  Vào năm  1884,  con trai thứ hai của ông  Nguyễn Ngũ di chuyển tro cốt của ông về làng quê hương ông để chôn cất.

            Nguyễn Du rất đông con,  mười hai con trai và bẩy con gái.  Không có người con nào trong số đó để lại một danh tiếng gì.  Con trai cả  Tứ  có theo cha đi sứ sang Tầu ; con thứ hai  Ngũ rất thạo nghiệp quân sự ; còn những người con khác,  sống tại Bắc-kỳ  hay tại Huế, không có gì nổi bật. Vào năm 1924  người ta biết đến một hậu duệ thuộc thế hệ thứ ba của ông dưới tên gọi cụ  Tời sống tới trên 60 tuổi và có nhiều cháu .

            Một hậu duệ thuộc thế hệ thứ 5 của  Nguyễn Trọng,  em út cha Nguyễn Du,  là Nguyễn Mai  nổi danh với bằng tiến-sĩ  trong kỳ thi năm 1904,  ông được biết tới với tài viết chữ  nôm 

            Nguyễn Du có một nền văn hóa phong phú.  Ngay từ thời niên thiếu ông đã chú tâm vào việc học những môn quan trọng  và, ngoại trừ sự hiểu biết về văn học cổ điển Tầu,  ông còn quan tâm tới  những tác phẩm nói về nghệ thuật quân sự,  về địa lý,  về phong thủy, về những tiểu thuyết Tầu.  Bên cạnh những truyện kể bằng tiếng Tầu như là cuốn  Thanh-hiên tiền hậu tập,  cuốn  Nam-trung tạp-ngâm,  cuốn  Bắc-hành  tạp-lục ,  cuốn  Lê-quý kỷ sự   và cuốn  Kim Vân Kiều  bằng chữ  nôm ,  Nguyễn Du đã để lại hai tập thơ bằng chữ  nôm  tập  Văn tế thập loại chúng sinh  [17]  và tập  Văn sinh tế  Trường Lưu nhị nữ.   Đôi khi người ta còn gán nhầm  cho ông  cuốn   Thác lời trai phường nón  <Lời chàng trai trẻ của một phường làm nón>.  Thật ra là một Nguễn Du khác  hay  Nguyễn Thu trước tiên được biết tới dưới tên  Nguyễn Bảo chính là tác giả cuốn  Lê quí kỷ sự.  Đậu cử nhân năm 1821,  chuyên đọc sách tại  Viện Hàn Lâm và người biên tập tại  sử-quan  vào năm 1841.  Người có văn hóa, hiểu biết tinh tế thân cận nhà vua vào năm 1844,  Sứ thần tại  Bắc-kinh năm 1854,  ông mất năm 1855 ở vào tuổi  57 [18].

            Nhờ vào  Bùi Kỷ,  Phan Võ, và  Nguyễn Khắc Hạnh đã cho phát hành  mới đây một phần những bài thơ bằng tiếng Tầu của ông , chúng ta đã có thể nhận biết được vài khía cạnh về tính tình của ông.  Trước tiên  hơn cả tính  bi quan trí thức mà chúng ta đã quen thuộc  với những đại thi hào việt-nam  như  Nguyễn Trãi,  Nguyễn Bỉnh Khiêm,  tình cảm lớn nhất của Nguyễn Du là sự tuyệt vọng sâu xa đến từ những điều mâu thuẫn giữa những ham muốn hành động và sự vinh quang,  và đời sống nhàn hạ , bất chấp ý muốn của ông,  giữa thời gian trôi qua  và cái già đang tới có thể ngăn cản ông hoàn thành những điều mong ước.  Bài thơ sau đây tóm tắt khá đúng  tâm trạng  của nhà thơ đã không thể hưởng thụ hoàn toàn quãng đời hưu trí của mình,  tự cảm thấy lo sợ vì tương lai mờ mịt  và vì  sự yếu đuối của thể xác bệnh hoạn.

  ” Con người quảng đại,  đầu đã bạc trắng,  nhìn lên trời buồn bã,

    Bởi vì cái mộng chiến công và  sự hoàn thành  một đời sống xứng đáng mờ nhạt dần

    Thú vui hoa lan mùa xuân  và hoa cúc mùa thu  trở thành vô bổ

    Sự hăng hái mùa hè,  sự rét mướt mùa đông xâm chiếm tuổi trẻ

    Tuy nhiên  theo sau đoàn chó vàng,  ông cảm thấy thích thú vượt qua  Hồng-lĩnh

    Và,  dưới những đám mây trắng,  nằm gần sông  Quế,  ông chịu đựng cảnh bệnh tật. ” 

                                                                          <tiếng Pháp trong bản gốc>                            

            Dường như  Nguyễn Du  có một tính khí  bệnh hoạn,  ông than thở trong nhiều bài thơ, thí dụ  Ngọa  Bệnh .

                              ”  Đa bệnh đa cầu khí bất thư

                                 Thập tuần khốn ngọa  Quế-giang cư ” 

 

             ”  Rất nhiều bệnh,  nhiều điều buồn bã  không để cho tôi một chút nghỉ ngơi

                 Đã từ mười thập niên  tôi nằm co rúm gần sông Quế. “

 

                                 * * *  [19]

                                 Nhất ngọa  Hồng-Sơn  tuế nguyệt thâm

                                  Minh kính hiểu hàn khai lão sấu

                                  Sài phi dạ tĩnh khốn thân ngâm                   

                                  Thập niên túc tật vô nhân vấn

                                   Cửu chuyển hoàn đơn hà xứ tầm [20]

 

                  ”  Tôi luôn luôn nằm cạnh  Hồng-Sơn,  từ suốt  những tháng và những năm                    

                      Với cái lạnh đang tới,  tôi thấy rõ tuổi và những khuyết tật của tôi trong gương

                      Trong đêm yên lặng,  sau cánh cửa gỗ,  tôi rên rỉ  người co rúm

                      Từ mười năm nay tôi đau ốm,  tôi không thấy ai đến thăm

                      Hiện nay  tôi tìm ở đâu được  những thuốc men đã được gạn lắng chín lần ? “

Cùng một chủ đề trở lại trong bài thơ  Thu-dạ ,      

                             Cùng niên ngọa bệnh  Tuế giang tân 

                   ”  Suốt năm,  căn bệnh  bắt tôi phải nằm gần sông Tuế “

trong bài thơ  Mạn hứng 

                              Tam xuân tích bệnh bần vô dược              

                    ”  Kể từ ba mùa xuân qua tôi luôn luôn ₫au ốm và quá nghèo để có thuốc uống ” v.v.

          Thêm vào bệnh tật,  tuổi già,  đời sống ở ẩn dẫn tới sự thụ động,  những hối tiếc một đời dở dang đến gia tăng thêm nỗi buồn.

                               Tráng niên ngã diệc vi tài giả

                                Bạch phát thu phong không tự ta             

             ”  Trong thời niên thiếu  tôi có đầy tài năng

             Nay tóc tôi đã bạc  và dưới ngọn gió mùa thu tôi than thở.  “

 

          Bị ép buộc về hưu vào thời kỳ hỗn loạn là một bản án xử phạt ở ẩn trong bóng tối  vì người ta không biết theo phe nào.

                                   Loạn thế nam nhi tu [21]  đối kiếm                       

                        ”  Vào thời kỳ hỗn loạn,  trai tráng chán ghét cầm kiếm. “

          Và thời gian qua mau,  qua quá mau đến mức không thể làm gì tốt đẹp được và người ta tự thấy gìà.

                                    Thư kiếm vô thành sinh kế xúc 

                                     Xuân thu đại tự [22]  bạch đầu tân  

 

                            “Người trí thức hay người lính tôi đều không thành công và đời

sống của tôi bị thu hẹp                             

                            Những mùa xuân và mùa thu thay phiên nhau qua đi và tóc tôi bắt đầu bạc “

 

            Chủ đề nỗi sầu muộn thấy cảnh già nua được cố ý đưa trở lại  trong những bài thơ của Nguyễn Du        

             Sự trôi qua của thời gian phù hợp với sự nhận biết cảnh già nua quá nhanh của con người đã đưa Nguyễn Du tới quan niệm bi quan về cuộc đời.  Đời sống con người ngắn ngủi, thời gian và thế giới thường là vô cảm đối với những cố gắng  của họ để sống còn và kéo dài đời sống.  Tất cả đều ngắn ngủi,  đời sống,  sắc đẹp,  sự trẻ trung,  các vương quốc…ngay cả những tác phẩm văn chương cũng có hiểm nguy không bao giờ  còn tồn tại trong ký ức loài người

                                          Cổ kim vị kiến thiên niên quốc

                              ” Chưa bao giờ,  kể từ thời thượng cổ, người ta thấy được một vương quốc đứng vững ngàn năm                                                                                                                                 

                                                Thế sự phù vân chân khả ai-                                                                                                                                                                           

                              “ Đời sống trong thế gian này giống như những đám mây lang thang và đáng để người ta thương xót “                                                                                                                            

 

                                           Bất tri tam bách dư niên hậu

                                           Thiên hạ hà nhân khấp  Tố Như 

 

                             ” Tôi không biết  trong ba trăm năm nữa,

                                Trong thế gian còn ai khóc  Tố Như  [23] ”             

 

            Để thóat ra khỏi cái thế giới bất ổn,  khó khăn,  vô cảm,  vô vị,  trước tiên  Nguyễn Du đã thử thú vui chơi.  Về ở ẩn tại đồng quê,  yêu thích sự cô đơn,  các thú vui thiên nhiên,  săn bắn, ruợu chè,  đọc sách và làm thơ ,  tất cả những điều đó giống như thái độ của những đại thi hào việt-nam,  những bậc tiền nhiệm của ông.

                                            Bách tuế vi nhân bi thuấn tức [24]

                                            Mộ [25]  niên hành lạc tích tu du

                                            Ninh tri dị nhật tây lăng hạ

                                            Năng ẩm trùng dương nhất tri

 

” Đời sống con người, thật là đáng thương cho kiếp phù du của nó,

Lúc xế chiều đời người,  người ta luyến tiếc từng giây phút vui vẻ đã qua                                     Làm sao biết được ngày chúng ta sẽ nằm sâu dưới gò đất phía Tây

Nếu chúng ta còn có thể vào ngày lễ hai số chín  [26]  lại uống được chỉ   

                                                                                                            một giọt ruợu. “

 

 

Những Ấn  bản  truyện  Kiều

 

            Tất cả những nhà phê bình văn học việt-nam đều than về sự có  quá nhiều ấn bản bằng chữ quốc ngữ truyện  Kiều , những ấn bản khác nhau về cách đọc [27] . Thật là không may chúng tôi không có ấn bản gốc của truyện  Kiều . Chúng tôi chỉ còn hai bản văn bằng chữ  nôm  : một được gọi là bản  Phường  <Ấn bản thương mại – Ấn bản các tiệm sách>  : ấn bản tượng trưng cho  truyền thống có lẽ cổ xưa nhất bởi vì nó là tác phẩm của Nguyễn Du,  được trình bầy với những cải thiện cùa  Phạm Quý Thích [28]  một trong những bạn của ông  <1760-1825>  dưới tựa đề  Kim Vân Kiều tân truyện  trong khi tựa đề cuối cùng là  Đoạn trường tân thanh.

             Ấn bản thứ hai đã được  Tự-Đức  <1847-1883>  sửa chữa  và đích thân lo việc ấn hành.      Ấn bản này không được thương mại hóa  và có tên gọi là  Bản Kinh.  Ấn bản bằng chữ quốc ngữ đầu tiên là của  Trương Vĩnh Ký in năm 1875.

 

Nguồn gốc truyện  Kiều

 

1 –  Ở vào câu thơ thứ 7 trong truyện của ông,  Nguyễn Du cho biết đề tài được rút tỉa từ một truyện   Phong tình cổ lục 

                            Cảo thơm lần giở trước đèn

                            Phong tình cổ lục còn truyền sử xanh

 

“Vừa lật từng trang một những cuốn sách chép tay cổ xưa rất hay trước ngọn đèn dầu, bỗng nhiên tôi rơi vào những trích đoạn của những văn bản xưa về những  “Truyện  tình nhẹ dạ, phù phiếm”  được ghi trên những tấm tre “      

 

            Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim  trong ấn bản   Kiều   của họ,  Truyện Thúy Kiều  <Đoạn-trường  tân-thanh  bộ sưu tập  Việt-văn  thư-xã,  tại  Vĩnh Hưng Long thư quán,  Hanoi,  1925>,  tái bản tại  Saigon  nhà in Tân Việt,   đều nghĩ đến một tập truyện có tên là  Phong tình cố lục      

            Thật là không may chúng tôi không có tập truyện nào dưới tựa đề đó và chúng tôi bị bắt buộc phải công nhận bốn chữ đó chỉ định một cách tổng quát những mối liên hệ xưa về  phong tình  , có nghĩa là  những  truyện tình         

2  –  Abel des Michels  trong phần  đề tựa  cuốn  Kim Vân Kiều  tân truyện  [29]  đã đưa nguồn gốc truyện  Kiều    ngược dòng   tới một cuốn truyện bàng chữ  Hán tên là  Kim Vân Kiều lục  xuất bản năm 1876  sau khi được một văn nhân có tên là  Phước Bình Lê  hiệu đính.

3  –   Truyện  Kiều lấy nguồn gốc từ một truyện tầu có tên là  Thanh tâm tài tình lục [30]  hay từ một truyện tầu  do   Thanh tâm tài tử [31]  xuất bản.

            Vậy  con người  Thanh tâm tài tử là ai  mới được ?  Đối với  H.Maspero,  đó là một  Hiệu  của  Phạm Quý Thích.  Bên trong tác phẩm đó người ta thấy những tựa đề sau :

                    Kim Vân Kiều  Thanh tâm tài tử  quyển nhất

                    Quán hoa đường luận  Kim Vân Kiều  truyện mục lục  

            Maspero đọc  Quán hoa đường  bình luận [32] Thanh tâm  tài tử biên thứ và trang 1  bản sao chép của tôi  Thánh thán  ngoại thư .

            Đối với  Maspero cuốn  Bình luận  là của  Phạm Quý Thích,   hiệu  Hoa-đường,  đã được một văn nhân sửa chữa  và cho cái tên bằng chữ  nôm   của thư viện  Kin Cheng-t’an  <Kim Thánh Thán,  Quán hoa đường>  và việc sửa chữa này đã thêm vào  tên của văn sỹ nổi tiếng người Tầu.  Ông kết luận truyện  Kiều  là một bản dịch của một truyện Tầu do Nguyễn Du dịch và xuất bản  với  những lời bình của  Phạm Quý Thích trong những năm cuối thế kỷ XVIII.  Nhưng ông không chấp nhận văn bản Tầu đã được bắt chước là của  Kin Cheng-t’an.

            Ý kiến của  Maspero bị tranh cãi trong một ấn bản mới đây của truyện  Kiều do Lý Vân Hùng biên soạn  Kim Vân Kiều bình giảng  <Chợ-lớn,  1955,  Gia-hoa ấn loát công ty>  trong đó Thanh Tâm tài nhân được xác nhận là  Siu Wen-tch’ang  <Từ Văn  Trường>.  Thật ra  ngừơi này tên là  Siu Wei  <Từ Vị>,  tên  Tự  đầu tiên là  Wen-tch’ang  <Văn-Trường>,  tên  tự  thứ hai,  T’ien-tch’e  <Thiên-trì>,  tên  hiệu,  Ts’ing-t’eng  <Thanh-đằng>.  Ông có tài năng vượt bực về văn chương và hội họa.   Ông theo tổng trấn  Hou Tsong-hien  <Hồ Tông-Hiến> , một trong những nhân vật của truyện  Kiều   <đọan nói về  Từ-Hải>  và tham dự vào mọi chiến dịch quân sự của vị quan này với chức vị quân sư.   Những kế hoạch của ông thật tài tình  và nhờ ông,  Hồ Tông Hiến thường là người chiến thắng  và đạt được nhiều ân thưởng.  Tuy nhiên , khi quan tổng trấn bị thua trận,  Siu Wei trở thành điên,  giết vợ và bị bỏ tù,  sau đó ông được tha và bắt đầu du hành lang thang nơi này nơi kia.  Ông soạn thảo nhiều tác phẩm như  cuốn  Lộ sử phân thích  ,  cuốn  Bút nguyên yếu chỉ  , cuốn  Từ Văn Trường tập  ,v.v…<xem đoạn  Tseu-hai >.

            Vào năm thứ 33  Kia-tsing  <Gia-Tính, 1554>   Hồ Tông Hiến nhận được lệnh diệt trừ  Từ Hải.   Ông sử dụng phương pháp ngoại giao và thuyết phục  để thúc dục Từ Hải ra hàng  . Từ Hải siêu lòng và ra đầu hàng. nhưng ông ta bị xử chém và  Hồ Tôn Hiến,  mặc dù những lời hứa hẹn, đã bắt  Thúy Kiều phải lấy một viên quan địa phương.  Trước hoàn cảnh ấy và để giữ lòng trong sạch,  Thúy Kiều tự tử bằng cách gieo mình xuống sông  Tiền -đường.  Để tiếp nối , Thanh Tâm tài nhân  <Từ Văn Trường>  soạn thảo cuốn  Kim Vân Kiều truyện   và  từ đó Kim  Thánh-thán  làm ra một ấn bản có sửa chữa.  Hơn nữa  Yu-Hoai  <Dư-Hoài>  soạn  ra một  Vương Thúy Kiều truyện   và  in nó trong tập  Yu tch’ou sin tche  <Ngu sơ tân chí>.

            Kin  Cheng-t’an  <Kim Thánh-thán>  <1627-1662>  là một văn nhân  nổi tiếng  đã xuất bản  với lời bình luận  bốn tiẻu  thuyết tuyệt vời  :  Tứ đại kỳ thư  :  truyện  Tam quốc chí diễn nghĩa,   truyện   Tây sương ký       ,   truyện   Kim bình mai ,   và truyện   Thủy hử truyện [33].

            Còn  về   Dư Hoài,  tự  Tan-sin  <Đạm-tâm>,  có thể ông với cuốn   Vương Thúy-Kiều  là người  gây hứng cho cuốn  Kiều  của  Nguyễn Du,  nếu người ta chấp nhận  giả thuyết  của Phạm Quỳnh [34],  được ấn hành dưới bút hiệu  Thượng Chi. Tuy nhiên   bản dịch của văn bản Tầu  mà  Phạm Quỳnh  chỉ cho chúng ta thấy là chỉ có một đoạn  duy nhất  giống như trong  Kiều  của Nguyễn Du và trong cuốn của  Dư Hoài,  đó là đoạn Kiều gặp Từ Hâi.  Người ta không thể tìm thấy được  trong cuốn của  Dư Hoài  những đoạn trước đó như là  Kiều gặp chàng Kim,  đoạn tả  những nỗi thăng trầm  Kiều  đã phải  chịu đựng  khi bị gả bán cho  Mã Giám-Sinh.

            Truyện  Vương Thúy Kiều  trong tập  Ngu Sơ Tân-chí  mà tác giả là  Dư Hoài,  <Tự  Đạm-Tâm >,  được trích ra từ cuốn  Ngô Việt xuân thu  .  Thượng Chi  đã dịch truyện này in trong  Nam Phong  <số 30,  tr. 488 và tiếp theo>   Kiều  được mô tả như một cô gái  gốc Lâm-Tri  nơi khi còn rất trẻ,  cô đã bị bán cho một đoàn hát mà người cầm đầu là một bà già họ Mã,  cô gái được đặt tên là  Kiều –Nhi  và được mang tới  Giang-Nam  nơi  sắc đẹp  và tài gẩy đàn  của nàng  đã gây ra nhiều sóng gió.

            Nhưng nàng không muốn phục vụ như  vật vui thú  cho bất cứ người đàn ông nào,  điều này làm bà chủ của nàng rất giận dữ.  Sau cùng một chàng trai trẻ bỏ tiền ra chuộc lại nàng và mang nàng về  Gia-Hưng  nơi nàng lấy tên  Vương Thúy-Kiều.  Kế đó  nàng sống chung với một người đàn ông gịầu có của huyện  Háp  có tên là La Long Văn cũng còn bao nuôi thêm một cô ca sỹ trẻ  Lục-Châu.  Cùng lúc đó,  một sư ông của chùa  Hổ-Bào  tại  Hàng-châu  nổi dậy.

            Người ta đều gọi ông là  Minh-sơn hòa-thượng.  Ông qua Nhật,  tuyển chọn những tên cướp biển  và vượt biển  đánh  Giang-nam.  Vào năm thứ 35  Gia-Tĩnh  <1556>  ông đánh bại quân của tuần phủ  Nguyễn Ngạc tại   Đồng-hương  và bắt cóc  Kiều  và Lục-Châu.  Nhưng tổng đốc  Hồ Tôn-Hiến  được  La Long-Văn phù trợ  thành công trong việc mua chuộc  Kiều  và thuyết phục nàng khuyên  Từ Hải  ra hàng.  Hải đầu hàng nhưng ông và đám quân của ông bị tàn sát  trong cuộc phục kích ngay sau khi  lễ nghi đầu hàng  chấm dứt.  Kiều  và Lục-Châu bị quan tổng đốc bắt lại ,  ông gả  Kiều  cho một viên quan địa phương có tên  Vĩnh-Thuận.  Nhưng  lòng tràn đầy hối hận,  Kiều  nhây xuống sông  Tiền-Đường tự vẫn.   

            Như vậy  trong những văn bản Tầu có những mối tương quan với  bản  Kim Vân Kiều lục  của  Nguyễn Du,  chúng ta có thể  phân biệt :

1– Cuốn  Kim Vân Kiều lục  khi được đọc một cách chăm chú  sẽ thấy nó chỉ là bản dịch bài thơ bằng chữ  nôm ra chữ Tầu.  Thật vậy, các nhân vật  xuất hiện trong những đoạn có thứ tự thời gian giống hệt nhau trong hai tác phẩm.  Mặt khác  cuốn truyện Tầu được viết theo phong cách văn chương.  Trường Viễn đông bác cổ Pháp  có sở hữu một ấn phẩm  <AC 561>  vào năm thứ ba Đồng Khánh,  tháng thứ hai mùa xuân  1888  <Đồng Khánh tam niên trọng xuân san khác>  những bản khắc được nhà in  Chiêu-văn dìn giữ  <Chiêu văn đường tàng bản> .  Sách chép tay  AC. 521 có cùng một bản văn với cuốn sách trên và có tựa là   Kim vân Kiều lục tịnh diễn  quốc-âm thi.

 2– Bản văn thứ hai xuất hiện dưới hình thức chép tay  <EFEO.  A. 953>  với tựa đề  Thanh tâm tài-tử,  và mỗi quyển lại có tựa  Quán hoa đường bình luận Kim Vân Kiều truyện,  quyển nhất,  nhì, vv..cho tới bốn.  Cái tựa tổng quát ấy của mỗi quyển được kèm theo lời chỉ dẫn   Thánh thán ngoại thư  và   Thanh-tâm tài tử biên thư.

            Ấn bản thuộc về  Hoàng Xuân Hãn  và bản sao chép của tôi trình bầy cùng một văn bản.  Văn bản gốc dường như là văn bản của  Hoàng Xuân Hãn  đã được in với mộc bản  <chữ khắc trên bản gỗ>,  văn bản của Trường EFEO và của tôi chỉ là những bản sao chép lại  với vài lỗi sai của người sao chép;  cả hai bản đều  mang hàng chữ   Thanh-tâm  tài-tử   trong khi bản của Hoàng Xuân Hãn  mang tên Thanh-tâm  tài-nhân . Mặt khác,  cuốn sau này có vẻ được in bên Tầu  <những điều cấm đoán theo luật phạm húy  Húy tự   hay luật lệ về  “giảm bớt nét chữ”  Tỉnh  hoạch  đều không được thi hành đối với tên  các hoàng đế   Lê,  Tây-Sơn,  hay  Nguyễn >;  những nhân vật trong  Kiều  của Nguyễn Du và  trong truyện Tầu đều giống nhau  ngoại trừ  trong truyện Tầu  một số nhân vật được chỉ định dưới tên  Tự.  Vì vậy  Kim  thường được gọi là  Kim Thiên Lý,  Từ Hải,  Từ Minh-Sơn,  Mã  Giám Sinh,  Mã Qui   và  Mã  Bất-Tiến.   Vậy  người ta có thể kết luận là  truyện Tầu  A. 953  <bản Hoàng Xuân Hãn,  bản  Maurice Durand>  tượng trưng cho nguồn gốc  truyện  Kìều  Việt-nam [35].

            Những ấn bản thông thừơng nhất bằng chữ  nôm  mà chúng tôi có được không tượng trưng  cho truyền thống của ấn bản kinh thành,  kinh bản , không cả cho truyền thống của ấn bản thương mại,  phường bản,  nhưng tượng trưng cho ấn bản  của  phường bản  đã được cải tiến  với những sửa chữa  theo  kinh bản .

            Nếu người ta tin tưởng vào phần mở đầu của ấn bản  Thành Thái,  năm chu kỳ  Nhâm-dần,  trung thu,  ngày 15  <Thành-Thái  Nhâm-dần trọng thu vọng>  <1902>,   lịch sử của văn bản  truyện  Kiều  diễn biến theo cách sau :

            Văn bản gốc do Nguyễn Du biên soạn. người được coi như là Lễ bộ hữu tham và được chỉ định dưới các tên Thợ săn núi Hồng sơn và Tố Như  <Lễ bộ hữu tham tri Hồng sơn lạp hộ Tố Như tử Nguyễn Du trứ >.   Nguyên bản này được xuất bản với những ghi chú mầu đen của Vũ Trinh,  nguyên Hình bộ hữu tham, được chỉ định dưới  biệt hiệu Liên trì ngư giả  “Người câu cá tại Sen hồ”  <Nguyên hình-bộ hữu tham tri đặc cách Liên trì ngư giả Vũ Trinh mặc bình>.  Cộng thêm vào những ghi chú mầu đen là những ghi chú mầu đỏ son của Nguyễn Lượng  <Nguyên Thiên-trường tri phủ Hào tặng Hàn lâm Châu sơn Tiều lữ Nguyễn Bình chu bình>   Còn về  Phạm Quý Thích,  ông chỉ được coi như tác giả một bài thơ mở đầu  < Thị trung học sĩ  Lập trai Phạm Quý Thích đề thi >

            Vũ Trinh  <1759-1828>  là người cùng thời với Nguyễn Du,  trước là một hương cống thời nhà Lê, vào năm thứ nhất Gia Long ông được phong học sĩ.  Ông là tác giả cuốn  Cung oán thi tập [36]  Ngoài ra người ta còn gọi ông  tự  Duy Chu,  hiệu  Lai sơn và  biệt hiệu  Lan trì ngư giả.

            Vì vậy ấn bản thứ nhất truyện  Kiều  dường như là được in trước năm 1828.  Chắc chắn là trước năm 1825,  ngày Phạm Quý Thích mất, người được coi như lo cho việc xuất bản.  Vậy chúng ta có thể đặt ấn bản đầu tiên được in giữa khoảng cuối năm 1820, năm Nguyễn Du mất và 1825 năm  Phạm Quý Thích mất.  Vào sinh thời Nguyễn Du , bản soạn thảo  Kiều  của ông đã phải được phổ biến và đã phải được sao chép.  Chỉ  lúc sau khi ông mất các bạn ông mới cho đem in với những lời ghi chú và bình phẩm.

            Ấn bản thứ nhất đó tượng trưng cho ấn bản gọi là  bản phường .  Ấn bản thứ hai, cái của  Tự-Đức, phải là hoặc một mẫu của ấn bản  bản phường được Hoàng-đế hiệu đính và sửa chữa,  hoặc một sao chép của bản văn chép tay gốc của Nguyễn Du mà Hoàng-đế đã sửa chữa.  Ấn bản đầu thế kỷ  <1820-1825>  bản phường  mang tựa đề  Kim Vân Kiều  trong khi  Kinh bản  mang tựa đề  Đoạn trường tân thanh  cũng giống y như tác phẩm của  Thanh tâm tài nhân.

            Chính trong những điều kiện này mà  Kiều Oánh Mậu đã phát hành tại Hanoi  năm 1902 một cuốn tái bản của truyện  Kiều ,  tái bản trong đó ông gỉải thích quá trình hình thành câu truyện trong phần Lời nói đầu  Lệ ngôn chi tắc . Kiều Oánh Mậu là một văn nhân nổi tiếng vào cuối thế kỷ XIX,  đầu thế kỷ XX.  Ông thi đậu phó bảng năm 1880.  Ông có  hiệu  Giá-Sơn, người ta còn biết ông dưới tên là Kiều Dực.  Ông là tác giả vài bài tựa bằng chữ hán ở đầu những tác phẩm nổi tiếng  như ở đây là truyện  Kiều , cho cuốn  Tang thương ngẫu lục  <EFEO,  A.218>,  cho cuốn  Tỳ bà quốc âm tân truyện  <EFEO,  AB. 272>  mà chính ông đã biên soạn bằng  lục bát.  Sau cùng ông là tác giả của một cuốn  Bút toán chỉ nam duyệt  <EFEO, A. 1931>  và của một cuốn  Bản triều bạn nghịch liệt truyện  <EFEO, A. 994>.

            Trong phần Lời nói đầu cho độc giả,  Kiều Oánh Mậu  đã đi ngược lên nguồn gốc truyện  Kiều là tác phẩm  Thanh tâm tài nhân.  Ông nói về những ghi chú của Vũ Trinh,  của Nguyễn Lượng và thêm vào đó đoạn trích dẫn một “lời phê bình” của  Nguyễn Văn Thăng, người đồng thời với Nguyễn Du  và những văn nhân đã kể ở trên [37].   Ông kể lại bao nhiêu phần  Nguyễn Du  đã biến đổi và vượt trội cuốn sách mẫu mực trên.

            Tại sao Kiều Oánh Mậu lại quyết định làm lại một ấn bản truyện  Kiều ?  Chính bởi vì, theo ông,  những ấn bản thông thường được in ra và bán tại phố Hàng Gai [38]  theo với thời gian và sau cùng,  sẽ xa vời  ý nghĩa của bản văn nguyên thủy và ông có may mắn sở hữu một ấn bản Kinh thành kinh bản mà bạn ông,  Đào Nguyên Phổ  biệt danh  Đào Văn Mại [39], đã tặng cho ông. mà trong đó có ghi rõ ràng những chú thích của Nguyễn Lương và của Vũ Trinh và bản văn thật trong sáng.  Để sửa chữa, ông dựa vào bản hán văn của  Thánh Thán và bản văn của ấn bản Kinh thành.  Kiều Oánh Mậu đã soạn thảo  phần  Lời nói đầu ngày thứ 15 tháng giêng , nhâm dần <22 tháng 2 , 1902>,  năm thứ 14  Thành Thái,  nhưng ông thú nhận đã nghiên cứu bản văn này từ hơn mười năm trước  Bài tựa do  Đào Nguyên Phổ soạn thảo đã chứng minh điều đó bởi vì bài tựa này đã được soạn ra năm 1898,  năm Mậu tuất của Thành Thái  trong tuần đầu của tháng thứ 11  <13-22 tháng mười hai>  Đông phục nguyệt thượng cán. Trong bài tựa này  họ Đào cho biết diễn tiến lịch sử những tác phẩm bằng  nôm  của Việt Nam đã được Kiều Oánh Mậu kể ra  trong bài tựa cuốn  Lịch sử truyện thơ Tỳ Bà,  và chính ông, năm 1895,  cũng đã được biết tác phẩm có tựa đề  Đoạn trường tân thanh  qua một thành viên của hoàng gia  .Ông có viết thêm, vào mùa hè năm mậu tuất,  ngày long trọng trở về , ông đã mang tác phẩm đó cho  Giá-sơn  Kiều Oánh Mậu, điều này đã giúp họ Kiều soạn lại các bản khắc để in.

            Một ấn bản bằng  nôm  được phổ biến hơn lả cuốn có tựa đề  Kim Vân Kiều tân tập  mà tôi có được hai bản,  một in năm 1906  của Nhà  Quan văn đường, bản kia in năm 1921 của  Nhà  Quảng-Thịnh đường.  Chính là những bản văn được cho là thuộc truyền thống   bản phường  mà  Phạm Quý Thích được coi như người  khởi xướng.  Ông được biết tới dưới tên  Lương đường  Phạm Tiên Sinh.  Thật ra  Qúy Thích đã soạn thảo  bài thơ tám câu bằng hán văn đặt ở đầu bài và cũng được in trong ấn bản Kiều Oánh Mậu.  Còn về  Nguyễn Du , ông được biết tới dưới tên  Tiên Điền  với chức vụ Lễ tham.  Sau này,  ngôi làng  Hoa-Đường được đổi tên là  Lương-Đường  trong tỉnh  Hải-Dương,  ngôi làng sinh quán của  Phạm Quý Thích.

 

Cuộc  tranh  cãi  về  truyện  Kiều

 

            Truyện  Kiều  là tác phẩm việt nam duy nhất được biết đến trong mọi tầng lớp xã hội Việt Nam và ngoại quốc.  Ngay từ đầu thế kỷ XIX cuốn truyện đã trở thành quá phổ quát tại Việt Nam đến mức cả giới quý phái lẫn những người bình dân đều thích đọc thuộc lòng và tuyên dương  nó.  Bản chép tay 263 của EFEO kể cho chúng ta những chi tiết về đời sống xa hoa vào năm 1834 của một vị quan có tên là  Nguyễn Trứ :

            “ Vị quan  Trứ  thích chi tiêu hoang phí : ông cho đắp lên ba ngọn đồi đằng sau nhà để xây lên một ngôi chùa.  Nhiều ao  được đào chung quanh những ngọn đồi.  Nơi đó ông cho trồng hoa sen và xây nhiều cây cầu bắc ngang. Ông nuôi hai mươi lăm cô gái trẻ sẽ phải đến chùa niệm Phật sáng chiều.  Khi vị quan Trứ  còn làm việc tại  Vân Trung ông đã bắt giữ ba cậu con trai thổ dân và bẩy cô gái  bị  nuôi giữ tại nhà để họ ca hát và nhảy múa trước mặt ông.  Thông thường ông qua ngày và đêm chơi bài với các bạn ông,  hút thuốc phiện và ngâm truyện Kiều ; ông mời các bạn đến dự tiệc , uống rưọu, làm những bài ca và bài thơ  nôm và dường như ông bất cần đời và không màng tới quyền hành một vị quan… “ <trang 677>.

            Ở mọi thời đại,  các nhà phê bình việt nam đều đồng ý về sự kiện truyện  Kiều của  Nguyễn Du là tác phẩm bằng  nôm hay nhất Việt Nam,  về mọi quan điểm,  và đặc biệt là ngôn ngữ.  Trong một bài nghiên cứu về truyện thơ này,  ThượngNam Phong Chi [40],  so sánh nó với những bài thơ nổi tiếng khác, đã viết :  “Không có một tác phẩm bằng  nôm nào hay hơn truyện  Kiều.  Bài  Cung Oán và bài  Hoa Tiên đã được coi như là soạn thảo trước truyện  Kiều,  mặc dù chúng là những tác phẩm giá trị,  tuy nhiên sau cùng vẫn thua kém truyện  Kiều.”

            Nguyễn Văn Kiêm,  trong bài viết  Quốc- ngữ quốc văn  <Văn chương quốc gia bằng chữ quốc ngữ> [41]  tán dương  Nguyễn Du và so sánh ông  với một người thợ rèn về ngôn ngữ việt nam.  “<ông nói  Nguyễn Du>  chính là một thiên tài về Thơ văn  mà tài năng đáng chú ý  nhất là đã xây dựng cho dân tộc việt nam một công trình kiến trúc văn chương dồi dào và đầy thích thú”.

            Phạm Quỳnh, trong bài nghiên cứu về truyện  Kiều , đăng trong  Nam Phong  số 31 đã viết :

            “Có gì mà sợ,  có gì mà lo,  Truyện Kiều còn,  tiếng ta còn,  tiếng ta còn,  nước ta còn”

            Tuy nhiên,  nếu tất cả các nhà phê bình đều đồng ý về cái đẹp hiển nhiên của truyện  Kiều  ,  có một phần trong số đó kết án nội dung và đặt vấn đề về tính chất đạo đức của cuốn truyện.

1 –  Kiều  là một cuốn truyện phóng đãng mà nhân vật chánh là một người đàn bà dĩ nhiên thuộc   gia đình gia giáo nhưng buông lỏng theo một đời sống trụy lạc.  Cô sống trái với  mọi luật lệ đạo đức cổ truyền :  còn con gái,  cô đến nhà người yêu và qua một phần đêm nói về tình yêu,  uống rượu  <trong đoạn nói về Kim và Kiều> ;  cô lấy Thúc Sinh, dù biết là ông đã có gia đình ;  cô lần lượt hiến thân cho nhiều nhân tình,  yêu một kẻ nổi loạn;  v.v… 

  1. – Nỗi buồn và niềm tuyệt vọng mà độc giả cảm thấy , sự khoái lạc thường tỏa ra từ cuốn truyện không thích hợp với việc làm vững mạnh tâm hồn giới trẻ ,trai cũng như gái, khi đọc truyện này.

            Hai nhà phê phán dữ dội nhất chống lại  Kiều là  Ngô Đức Kế  và  Huỳnh Thúc Kháng.  Người thứ nhất viết một bài có tựa là  Chánh học cùng tà-thuyết  vào năm 1924, đăng trong  Hữu-thanh tạp chí  số 21 ngày 21 tháng chín, phê bình gắt gao những người ái mộ vô điều kiện truyện  Kiều . Vừa công nhận gíá trị không thể chối cãi được của cuốn truyện, ông vẫn quả quyết là truyện này vô đạo đức và không thể được phổ biến.  Trong trường hợp này, ông dựa vào thái độ của những văn sỹ cổ xưa theo đạo Khổng đã coi cuốn truyện như là một tác phẩm phóng túng, có hại cho việc đào tạo trí tuệ và tâm linh con người.    

            “Văn chương của  Đoạn trường tân thanh  không phải là loại văn chương đạo đức chính thống để có thể dùng để cảm hóa cả thế kỷ.  Ngày trước, tổ tiên chúng ta cấm con cái đọc truyện  Kiều . Trong xã hội, người nào thích ngâm nga những câu thơ của  Kiều đều bị coi là người trụy lạc.  Tổ tiên chúng ta nghĩ là những thanh thiếu niên mà ý chí chưa vững vàng,  mà tính dâm ô nóng bỏng,  nếu họ đọc truyện này, họ sẽ bị mê hoặc bởi sự duyên dáng, kế đó sẽ nẩy sinh những ý nghĩ dâm dật và họ sẽ bị chìm đắm trong dòng dục vọng đến nỗi  tinh thần mạnh mẽ sẽ bị mềm yếu và họ quay mình lại với mọi tình cảm cao quý.  Như vậy, tổ tiên chúng ta đã theo những quy luật về giáo dục gia đình là hoàn toàn có lý…Vậy mà ngày nay , những văn sỹ lừa phỉnh chúng ta bằng cách giới thiệu  Kiều  như là một tác phẩm dùng để giáo dục văn hóa đại chúng…Theo họ,  trong thế kỷ này,  nếu chúng ta muốn tìm một thứ thuốc để gia tăng sức mạnh của quốc gia và dân chúng thì không gì bằng tác phẩm  “Trăm năm trong cõi người ta…” [42]

Và như vậy ngày nay trong nước chúng ta,  người thì phân tích nghệ thuật của  Kiều,  người thì phê phán những nhân vật của  Kiều,  người thì diễn giải  Kiều,  người thì làm thơ theo chủ đề  Kiều.  Người ta còn đi tới mức diễn dịch  Kiều  theo bi kịch,  theo hài kịch,  làm thành phim ảnh ; tại nhà,  tại thành phố, trên trời,  dưới đất,  nơi nào cũng chỉ nói về  Kiều.  Cứ theo tình trạng này, nước  Việt Nam  chắc chắn trở thành ngày nay  Vương quốc Kim Vân Kiều…[43]  Hỡi ôi,  nếu Kim Vân Kiều cai trị nước Việt Nam, vậy thì không cần thiết phải định nghĩa xã hội việt nam nữa,  người ta sẽ biết ngay tức thì giá trị của xã hội đó.”   

            Còn về phần  Huỳnh Thúc Kháng , một nhân vật trí thức và đạo đức rất được giới ưu tú việt-nam [44]  nể phục,  ông cũng vậy vừa công nhận sự hoàn hảo của hình thức truyện  Kiều, tuy nhiên lại vừa đánh giá  truyện này rất hại và như là liều thuốc độc.  Trong một bài viết đăng trong nhật báo Tiếng dân ngày 24,1,1934, số  661,  ông phát biểu một sự so sánh trái ngược với sự so sánh của  Socrate.

            Theo ông truyện  Kiều  giống như  “một cái hộp sơn mài khảm bạc,  với nhiều rồng và phượng được chạm trổ,  mà theo quan điểm nghệ thuật thì thật hoàn hảo,  nhưng bên trong chỉ chứa toàn độc vật [45].  Hậu quả là ông từ chối công nhận truyện này như  tác phẩm dùng để giáo huấn  và như tác phẩm tượng trưng cho những khuynh hướng của tâm hồn người Việt.

            Tất cả  cuộc tranh cãi về truyện  Kiều  này chứng tỏ những vấn đề do bản chất tác phẩm tự nó gây ra đều có thật và đòi hỏi nếu không giải quyết được, ít nhất cũng phải được xem xét lại.  Nhưng nếu cuộc tranh cãi này trở nên quá quyết liệt,  có quá nhiều người tham chiến nồng nhiệt,  chính bởi vì cốt truyện đã gây ra một cuộc chiến tranh chính trị  hơn là một cuộc chiến tranh văn chương.  Một tác giả theo chủ nghĩa Các Mác <Karl Marx>,  Trương Tửu,  đã nhận ra rất rõ như vậy trong những chương đầu tiên bài nghiên cứu  Truyện Kiều và thời đại Nguyễn Du [46] của ông.

Chính là muốn đánh lạc hướng giới trí thức việt nam không nghĩ tới vấn đề chính trị mà chính quyền Pháp, ngay từ lúc khởi đầu công cuộc khai thác thuộc địa,  đã thúc đẩy những văn sỹ nên rêu rao những nét đẹp của truyện  Kiều,  tôn nó lên như một kiệt tác quốc gia,  khuyến khích giới trí thức học hỏi nó  và dành cảm xúc cho nó.  Khi những người này còn say mê truyện  Kiều , họ sẽ không còn nghĩ tới tình trạng chính trị của xứ sở họ.  Đó chính là lý do dưới mắt các nhà theo Các Mác,  tất cả các văn sỹ việt nam mà đã hết lòng ca tụng truyện  Kiều  đều là tay sai cho đế quốc Pháp,  chống lại sự phát triển của lương tri chính trị việt nam.  Cách  Trương Tửu  trình bầy cuộc tranh cãi về  Kiều  thật là bổ ích và hấp dẫn  và,  dưới vài khía cạnh,  phản ảnh sự thật.

Trước tiên,  Tôn Thọ Tường  <1825-1877> [47] ,  người cộng tác với Pháp,  bảo vệ  Kiều  vào khoảng 1860-1870.  Kế đó là  Phạm Quỳnh  và  Trần Trọng Kim thuộc nhóm  Nam Phong được tạo ra vào năm  1917  dưới ảnh hưởng  của vị giám đốc Công tác chính trị  thuộc Chính quyền Pháp,  Louis Marty.  Ngay năm đó,  trong một bài viết về  Sự giáo dục đàn bà con gái  <tháng bẩy-tháng mười hai , 1917, trang 213>  Phạm Quỳnh nhấn mạnh đến giá trị truyện  Kiều . Ông  tiếc là tại Việt Nam thiếu sách để giáo dục đàn bà.  Cái người ta tìm được chính là toàn truyện bằng thơ diễn lại chữ  nôm ;  ông viết :

            “Nhất là có nhiều truyện xưa viết bằng thơ  <như Truyện Kiều,  Cung Oán,  Nhị Độ Mai, Chinh phụ,  Lục Vân Tiên,  v.v.>  rất thích hợp với tính tình tự nhiên của người đàn bà.  Một tác phẩm văn chương như cuốn  Kim Vân Kiều,  nếu ta  phô bầy nó,  bình giải nó,  giải thích nó một cách khéo léo cho các bà và các cô gái trẻ,  về phần tôi, tôi nghĩ là không có một tác phẩm cổ điển nào có thể so sánh được với nó,  không thể sâu xắc như vậy,  sáng sủa như vậy.  Các cụ ta ngày xưa đã cấm đoán con gái không được đọc truyện  Kiều : các cụ sợ là những xáo trộn của sư dâm ô sẽ làm mất tinh thần các cô gái. Tôi nghĩ đó là một điều nhầm lẫn.  Người ta thường nói đàn ông  là lý trí và đàn bà là tình cảm.  Khi người ta là lý trí điều hay nhất là phải lý luận theo lý trí mới thuyết phục được họ ;  khi người ta là tình cảm,  cần phải thuyết phục họ bằng tình cảm. Chắc chắn truyện  Kiều  là một kho tàng tình cảm không bao giờ hết : ngườI ta có thể nói mỗi một câu thơ chuyên chở nhiều ý tưởng về thế giới.  Truyện  Kiều cũng là một tấm gương bằng phẳng phản chiếu lại cho chúng ta cái nhìn về toàn thể mọi tầng lớp xã hội,  mỗi tầng lớp có khuyết điểm riêng của nó, một cách quá hiện thực làm chúng ta tưởng như đang đứng trước một màn ảnh  của một rạp chiếu bóng.  Như vậy những cuốn sách như truyện  Kiều chẳng phải là những tác phẩm để xây dựng thế giới đàn bà là gì ?”.   <Nguyên bản tiếng Pháp>

            Năm 1919,  trong một bài viết về Truyện  Kiều  <Nam Phong, số 31>  Phạm Quỳnh  khuyến khích giới trí thức việt nam  nên nghiên cứu truyện  Kiều một cách sâu xa .  Kể từ thời gian ấy nhiều bài viết,  thơ văn,  nghiên cứu về truyện  Kiều  đầy rẫy trong tờ  Nam Phong và chỗ khác.  Năm 1924  phong trào này đưa đến lễ kỷ niệm trang trọng sinh nhật  Nguyễn Du  , được đánh dấu bằng hai bài diễn văn ; một của  Phạm  Quỳnh,  bài kia của  Trần Trọng Kim  <đăng trong  Nam Phong  tháng chín 1924>  [48]

            Phong trào này thiên về việc nghiên cứu truyện  Kiều được thể hiện bằng sự phát hành nhiều ấn bản của cuốn truyện  và nhiều bản dịch qua tiếng Pháp.  Chúng ta cần nhắc tới những công trình của  Nguyễn Văn Vĩnh  mà tên tuổi được gắn liền với bản dịch qua tiếng Pháp của  Kiều.  Năm 1912  ông ấn hành tại nhà in  Ích-Ký tại Hanoi , ấn bản thứ hai,  cuốn  Kim Vân Kiều  dịch ra quốc ngữ có chú dẫn các điển tích..  Bản dịch qua tiếng Pháp được in trong báo  Annam nouveau  từ số 225 đến số 279  trong những năm  1933, 1934, 1935 ;  bản này được in lại  thành hai cuốn tại  Ấn bản Alexandre de Rhodes năm 1943, bản này được tái bản  tại Saigon, nhà in Vĩnh Bảo năm 1952.  Cùng một bản dịch qua tiếng Pháp cũng được in trong  Đông dương tạp chí  từ số 18.    

            Bên cạnh bản dịch ra tiếng Pháp đó của một người Việt Nam,  những người Pháp yêu tiếng Việt cũng đam mê dịch truyện này.  Chúng tôi đã nói đến bản dịch của  Abel des Michels,  nhưng nhất là bản dịch ra thơ tiếng Pháp của  René Crayssac  <Hanoi 1926>  là nổi tiếng nhất.   

            Ngay thời gian đầu thế kỷ  XX  có nhiều ấn bản truyện  Kiều bằng tiếng Việt xuất hiện.  Sau ấn bản của  Trương Vĩnh Ký  <1875>,  của  Nguyễn Văn Vĩnh  <1913>,  của  Bùi Khánh Diễn  <soạn thảo  năm 1902-1903  và xuất bản năm 1926>,  ấn bản của  Bùi Kỷ  và  Trần Trọng Kim  <ấn bản thứ hai năm 1927>  lả quan trọng  bởi nội dung phần Lời nói đầu phản ánh những điều lo nghĩ đến từ  cuộc tranh cãi giữa những người thiên-Kiều và những người chống-Kiều.  Để làm bẽ mặt đối thủ, những người thích  Kiều  sẽ phải chứng minh truyện  Kiều là một tác phẩm đạo đức.  Đó là điều mà  Bùi Kỷ  và  Trần Trọng Kim cố gắng chứng minh :

            “Có phải truyện  Kiều có đạo đức ?  Chúng tôi nghĩ là một người đàn bà hay một cô gái đang sống trong nhung lụa mà vì một thảm trạng gia đình không đoán trước được đã phải hy sinh để hoàn thành lòng hiếu thảo  và phải sống lang thang trong thế giới những thú vui xác thịt,  dù vậy vẫn còn giữ được những tình cảm trung thành,  thì chúng tôi nghĩ là người đàn bà đó,  giống như  Kiều, bất kể thời đại nào,  ở bất kể xứ sở nào, cũng xứng đáng được tôn trọng…   

Và tuy nhiên, rất nhiều người phê bình truyện  Kiều  cho nó là phóng đãng phù phiếm.  Trong đám này, một số người có đầu óc nông nổi và không chấp nhận phí thì giờ để suy nghĩ về điều tốt và điều xấu,  một số khác  bênh vực đức hạnh đều là những người đạo đức giả…

Với một nàng  Kiều  biết trung thành với lời thề yêu đương,  biết coi trọng lòng hiếu thảo như một đức tính,  biết rõ nhân loại và công lý,  làm sao người ta có thể nói cuốn truyện không có đạo đức ?  Bây giờ đọc truyện  Kiều người ta không chỉ thưởng thức được cái đẹp của người đàn bà và cái sâu sắc của những ý tưởng mà cũng còn cả tình nhân loại và sự trung thành : Kiều  thật sự là một tác phẩm có tính chất đạo đức cao độ, một sự trong sáng lớn lao “ [49]

            Trần Trọng Kim  cảm thấy cốt lõi của vấn đề chính là vấn đề đạo đức và giải quyết nó theo chiều sâu của cái đạo đức đó trong tác phẩm của  Nguyễn Du,  chính là làm bẽ mặt các đối thủ.  Những người này,  như  Ngô Đức Kế và  Huỳnh Thúc Kháng,  cộng thêm vào tính chất cứng rắn của tính tình đạo đức họ được hun đúc trong nền gíao dục cổ xưa,  một sự ganh tỵ nào đó chống lại những người trí thức như  Phạm Quỳnh  và  Trần Trọng Kim  những con cưng của chế độ thuộc địa Pháp và vì vậy được tôn sùng trong mọi tầng lớp Pháp-Việt.

            Hơn nữa,  sự chống đối văn học của những người trên là một cái cớ viện ra để chứng tỏ hiện trạng chính trị của họ chống đối mọi sự cộng tác với nước Pháp,  chống đối ý tưởng là sự phục hưng của Việt Nam đã phải dựa vào nền văn hóa Pháp.  Vậy không có gì ngạc nhiên khi thấy trong cuộc tranh cãi về truyện  Kiều,  những trí thức theo phong cách xưa,  những người yêu nước theo cách mạng,  những người chống đối Pháp theo phe  Ngô Đức Kế và  Huỳnh Thúc Kháng.  Ngày nay những người này được các văn sỹ của nước Cộng Hòa Dân chủ Việt Nam tôn vinh.

            Vào thời điểm đó,  nhóm  Nam Phong dường như không muốn đặt mình vào vị trí chính trị nhưng,  về cái liên quan đến  Kiều,  họ mở ra những cột báo in cả những lời chỉ trích  Kiều, vì muốn tránh cho các tác giả nỗi lo sợ những ánh hưởng nguy hại có thể có đến từ cuốn truyện.  Chính vì vậy mà vào tháng sáu 1926 tạp chí  Nam Phong  cho đăng một bài viết của  Cao Hữu Tạo  vừa có nỗi lo sợ trên, vẫn cho ra một bài phân tích xác đáng về vài nguyên nhân  duyên dáng  của Kiều.  Đối với ông,  Nguyễn Du  là người sáng tạo ra nhân vật  Thúy Kiều mà lại yêu dấu chính nữ nhân vật của mình và bao bọc nhân vật này quá nhiều tình yêu và lòng thương hại đến mức ông đã bầy tỏ tình cảm của chính ông cho độc giả :

            “Nguyễn Du  cảm thấy tuyệt vọng về đời sống, ông rất nhút nhát và buồn bã.  Thấy những điều bất hạnh của  Kiều,  ông cảm sinh lòng thương hại.  Vì thương hại nàng, ông không cần để ý đến những chi tiết nhỏ nhoi dưới mắt ông về phong cách của  Kiều.  Ông đã đặt ra nguyên tắc nàng là một con người đáng được yêu và cũng là một mẫu mực về lòng hiếu thảo.  Mỗi khi ông nói về  Kiều,  ông nói với tình yêu và cảm xúc…và bất cứ ai đọc truyện  Kiều cũng cảm nhận cùng thứ tình yêu của  Nguyễn Du  <đối với  Kiều>”        

Mọi sự đã được an bài như vậy,  Nguyễn Du thêm vào đó một tài năng văn chương phong phú;  ông càng sử dụng tài năng đó thì nhân vật  Kiều càng gia tăng giá trị,  đến mức trong đoạn tỏ tình của Kiều và  Kim Trọng,  là một đoạn nguy hiểm nhất nhưng cũng là đoạn mà tài năng của  Nguyễn Du lên đến tuyệt đỉnh, lại là cái đoạn được đọc nhiều nhất, đoạn cảm xúc nhất phải đọc ; một phần lớn giới thanh thiếu niên  khi đọc mỗi câu thơ, đã bị chìm đắm trong cơn mơ mộng, khi  đọc mỗi đoạn văn đã bị xuất thần mê say và từ đó nẩy sinh hạt giống những tư tưởng phóng đãng và ham muốn thả hồn vào tình yêu.[50]

Hãy thêm  vào nỗi tuyệt vọng trong đời sống,  hãy thêm vào nỗi sầu muộn của  Thúy Kiều,  Nguyễn Du yêu  Kiều : Kiều, nàng thì buồn bã.  Những câu thơ của ông cũng đầy sự buồn bã.  Bởi vì  Kiều buồn bã trong suốt câu truyện nên những câu thơ của  Nguyễn Du cũng đầy buồn bã.  Sự buồn bã của những câu thơ đó,  niềm tuyệt vọng của những câu thơ đó,  có bao nhiêu người đọc đã bị thấm nhuần những tình cảm đó ?  Ngày nay trong thời đại chuyển tiếp của chúng ta sẽ không có sự kiện thanh thiếu niên đọc một loại văn chương buồn bã và tuyệt vọng nếu họ muốn thoát ra khỏi sự tan nát con tim,  cái chết của tâm hồn.

Có bao nhiêu người , vì Kiều,  đã không phải chịu đựng những hiểm nguy của biển tình ái và sự mệt mỏi của nỗi buồn ?  Đam mê, sầu muộn,  tuyệt vọng,  buồn bã,  giới trẻ qua thời giờ than thở,  khóc than,  quay cuồng một cách u sầu với những tư tưởng tình yêu,  quên cả thân mình,  nghề nghiệp mình,  quên cả xứ sở tổ quốc mình  đến nỗi  những con cháu của dòng giống con Rồng cháu Tiên không ngừng quay cuồng trong cái vòng của sự tồi tệ và hèn kém…”  [51]  

            Cuộc tranh cãi về  Kiều trở nên ác liệt hơn bao giờ hết vào năm 1930 với sự lao vào cuộc chiến của một văn sỹ mà tên tuổi không ngừng lên cao từ đó,  Phan Khôi.  Ông sinh năm 1887  là một nhà trí thức thuộc truyền thống cổ xưa,  ông đặc biệt được biết tới với một tính tình nồng nhiệt và canh tân. Tại miền Nam ông là tổng biên tập của tạp chí  Phụ nữ tân văn  có đăng những bài thơ đầu tiên của ông.  Năm 1932, với bàị thơ  Tình già  ông phát động loại thơ mới mà ông là thủ lãnh chống lại loại thơ cũ.  Ông cũng là văn sỹ nhưng chỉ có giá trị trung bình.  Ngược lại, như là nhà phê bình văn chương  ông rất nổi tiếng với một tính gay gắt,  châm biếm,  hăng hái khác thường.  Trong cuộc tranh cãi,  ông đứng về phe  Ngô Đức Kế  chống lại  Phạm Quỳnh  và bài viết có tựa  Cảnh cáo các nhà học phiệt  được soạn ra năm 1930 và đăng trong  Phụ nữ tân văn số 62 ngày 24 tháng bẩy 1930  đã khởi động lại cuộc chiến. [52]

            Trong bài viết đó ông trách Phạm Quỳnh đã không trả lời những lời phê phán của  Ngô Đức Kế  và như vậy từ chối mọi sự tiến bộ của công cuộc nghiên cứu văn chương.  Phạm Quỳnh  chưa bao giờ muốn đấu khẩu với những đối thủ của ông, lần này ông trả lời trong tờ  Nam Phong, số 152, tháng bẩy 1930, trang 10-14,  Trả lời bài cảnh cáo các nhà học phiệt trong  Phụ nữ tân văn  trong đó ông giải thích tại sao ông đã không nghĩ tới việc trả lời  Ngô Đức Kế  vì,  theo ông,  ông này chuyên chở trên phương diện văn chương  một sự hiểm khích và một sự ghen ghét cá nhân.

            Đối với quan điểm đó  Huỳnh Thúc Kháng  trả lời trong tờ  Tiếng dân  bằng một bài nhan đề  Chiêu tuyết cho một nhà chí sỹ đã qua đời. <chiêu tuyếtàphục hồi danh dự>  Những người ủng hộ  Kiều  trả lời  Huỳnh Thúc Kháng  và đặc biệt văn sỹ  Lưu Trọng Lư  trong một bài viết của  Phụ nữ Thời Đàm  ngày 10-12-1933 có tựa đề  Chiêu tuyết  Vương Thúy Kiều .  Lưu Trọng Lư  là một thi sỹ trong truyền thống thuần túy việt-nam không bị ảnh hưởng bởi Pháp hay Tầu nhưng là bởi dân ca  [53].  Việc bảo vệ  Kiều của ông không chứng minh được bằng quan điểm chính trị thân Pháp,  mà bằng một thái độ đặc biệt việt-nam và nghệ thuật cho ta cảm giác phải hết lòng bảo vệ  Kiều  vì  Kiều là một tác phẩm đại chúng duy nhất có thể dùng làm căn bản cho việc xây dựng một lịch sử văn chương riêng của Việt Nam độc lập với Tầu và Pháp.  Để trả lời  Lưu Trọng Lư,  Huỳnh Thúc Kháng phản bác bằng một bài báo mà chỉ cái tựa đề đã chứa đựng một ám chỉ chính trị.  Chúng tôi đã nói tới ở trên :  Thuyết chiêu tuyết cho Vương Thúy Kiều  của ông  Lưu Trọng Lư với anh học trò mê kép hát đóng vai Tần Cối .  Tần Cối [54],  tiếng Tầu là  Ts’in  Kouei  <1090-1155>,  là một nhân vật của lịch sử Tầu đã dâng một nửa miền Bắc nước Tầu cho giặc Kin  và cho ám sát nhà yêu nước lớn lao  Yo Fei  <Nhạc Phi>  <1103- ?> đã bị nước Tầu coi như một kẻ phản quốc.

            Tuy nhiên, quan điểm của  Lưu Trọng Lư và phe ủng hộ  Kiều ₫ược củng cố lại bắt đầu từ năm 1934  và phần lớn các nhà phê bình,  ngoại trừ những người mác-xít  <marxistes>,  đều ca tụng  Kiều.  Phần khác một khuynh hướng nghiên cứu từng chi tiết mọi khía cạnh của  Kiều  nổi trội lên trên vấn đề muốn biết  Kiều có đạo đức hay không .

            Trước tiên  Nguyễn Đức Nguyên  được biết dưới tên  Hoài Thanh[55] trong một bài viết của  Tao Đàn  năm 1938,  Nội dung và hình thức  ca tụng hình thức  của  Kiều  và bảo vệ chủ thuyết nghệ thuật cho nghệ thuật.  Một số rất lớn những văn sỹ,  nghệ sỹ  và nhà phê bình chạy theo quan điểm đó đã được mnh chứng một cách sáng lạn vào năm 1943 trong  Tuyển tập chọn lọc mùa Xuân và mùa Thu  <Xuân thu nhã tập>  dưới sự bảo hộ của tác giả kịch bản kiêm thi sỹ  Đoàn Phú Thứ. Dù là nghiên cứu  Kiều  một cách khoa học,  một nhà bác học như  Đào Duy Anh [56] cũng phải kết luận về vẻ đẹp và tầm quan trọng của tác phẩm đó trong nền văn chương việt-nam. [57]

            Nếu những tâm hồn đa cảm và nghệ sỹ đã tìm thấy trong  Kiều  sự thỏa mãn tối đa đối với ý thích cái êm dịu,  cái buồn phiền,  cái âm nhạc và cái đẹp của thơ văn,  nếu những người yêu nước có chịu ảnh hưởng hay không nền văn hóa Pháp,  thiên Pháp hay chống Pháp đã tìm thếy trong  Kiều  một công trình văn chương đồ sộ xứng đáng để  nâng nền văn hóa việt-nam lên hàng quốc tế,  nhất là những nhà văn mác-xít đã phát triển tư tưởng  Kiều  là một phản ảnh những cuộc tranh đấu giai cấp trong thời đại  Nguyễn Du  và nhân cách và mọi khuynh hướng của chính  Nguyễn Du  phải được giải thích theo tầng lớp xã hội của ông.  Mưu toan đầu tiên theo lối giải thích mác-xít của  Kiều  là do  Nguyễn Bách Khoa đưa ra trong tác phẩm  Nguyễn Du và Truyện Kiều  được soạn thảo năm 1941,  ấn hành lần đầu năm 1943 và lần thứ hai năm 1946 với nhà xuất bản  Hàn Thuyên.  Trong phần Lời nói đầu  Nguyễn Bách Khoa  tự hỏi tại sao  Nguyễn Du lại chọn trong kho truyện Tầu tác phẩm của  Thanh tâm tài nhân để thích nghi và viết ra cuốn  Đoạn trường tân thanh.

            Trần Trọng Kim  đã trả lời câu hỏi đó, nói là  Nguyễn Du  đã tìm thấy trong định mệnh của  Kiều  hình ảnh của chính định mệnh ông và ông đã chọn câu chuyện đó để có thể diễn tả hay hơn tình cảm của chính ông.  Đào Duy Anh cũng đã cho một câu trả lời gần giống như vậy.  Về phần  Nguyễn Bách Khoa, ông nghĩ là có điều gì hơn cả sự giống nhau của xã hội Tầu trong truyện Tầu và xã hội việt-nam vào thời Nguyễn Du,  và  Nguyễn Du đã tìm lại được những tình cảm của ông   trong rất nhiều nhân vật truyện Tầu  và không chỉ trong một truyện  Kiều,  hơn cả vấn đề đạo đức trong truyện Tầu tương ứng với quan niệm sống của ông và sau cùng tâm lý trong truyện Tầu cho thấy những khát vọng thích hợp với những khát vọng trong tầng lớp xã hội của Nguyễn Du.  Ông cũng thuộc về một gia đình có truyền thống trí thức rất nổi tiếng trong mọi thế hệ.  Kim Trọng,  nhân vật chính của cuốn truyện chả là hình ảnh của chính  Nguyễn Du  hay sao bởi vì anh ta cũng thuộc về một gia đình cổ xưa trí thức, anh ta cũng giầu có, vẻ vang.

                        “Họ Kim tên Trọng vốn nhà trâm anh

                          Nền phú hậu bậc tài danh

                          Văn chương nết đất;  thông minh tính trời

                          Phong tư tài mạo tuyệt vời      

                          Vào trong phong nhã,  ra ngoài hào hoa.”

                                                          <Kim Vân Kiều,  câu 148-152>

            Nhưng cái giai cấp trí thức đó chỉ phát triển được trong một quốc gia thanh bình và chỉ có một ông hoàng ngự trị , nơi tất cả đều liên kết với nhau bằng những nối kết về bổn phận giữa ông hoàng và thần dân.   Vậy mà, trong suốt thế kỷ XVIII, Việt Nam thường trực bị rối loạn không ngừng, trong thời gian đó dân giang hồ,  dân trục lợi  gây sự kính nể.  Những tâm hồn cao thượng,  không chịu đựng được những biến động về giá trị  và không tự thích nghi được, rút lui khỏi đời sống công cộng, đi tu hay chấp nhận sống ở miền quê trong sự tầm thường nhưng an ninh.  Thêm vào những biến động chính trị đó là hậu quả đưa đến sự nghèo khổ và đói kém.  Khoảng giữa 1786-1789, sự đói kém đã làm giảm một phần lớn dân số. [58] Giới trí thức mà quyền hạn chính trị đã bị suy giảm, phải bận tâm với việc mưu sinh,  không còn biết phải phục vụ ai nữa,  nay rơi vào tình trạng bi quan, trong niềm tuyệt vọng.  Từ đó phát sinh ra loại văn chương ta thán,  rã rời,  than van của thế kỷ đó,  từ đó phát sinh sự thành công rực rỡ của đạo Phật như là nơi trú ẩn của những người phân vân và đau khổ.  Tính chất bi quan của  Nguyễn Du  chỉ là phản ảnh tính chất bi quan của tất cả giai cấp ông trước những biến cố của xứ sở.

            Phần khác,  xã hội mô tả trong truyện  Kiều là hình ảnh cái xã hội về cuối thế kỷ XVIII, thời đại  Nguyễn Du sống.  Nhiều gia đình quý phái bị khánh kiệt  <gia đình  Kiều>   và các thành viên, vì nền giáo dục của họ,  bị bất lực không chống lại được sự sui xẻo và tự buông lơi  rơi vào hết những suy sụp này đến những suy sụp  khác  <Kiều> ; lòng tham lam của các quan triều đình,  triều đại của tiền bạc, sự vươn lên của giai cấp trung lưu giầu có,  sự quan trọng của cả một thế giới hỗn loạn đầy những đĩ điếm, ma cô,  cô đầu, v.v…xuất hiện qua các đoạn của cuốn truyện.   

            Đối với những người mác-xít,  cái làm nên giá trị của  Kiều  chính là hình ảnh  phản hồi  và sự phê phán của một xã hội phong kiến thối nát và trong tình trạng suy sụp,  mà nhân vật chính  Thúy Kiều  tượng trưng cho cuộc đấu tranh của con người để tự thoát ra khỏi những bất công và những áp bức của xã hội đó và sống một đời sống xứng đáng.[59]  Một số lý thuyết gia mác-xít đẩy mạnh hơn nữa sự phân tích hay áp dụng một định đề về sự tiến hóa cần thiết và liên tục của các xã hội,  họ nhấn mạnh đến ý tưởng là  Nguyễn Du  vừa nổi lên chống lại xã hội phong kiến mà qua một số khía cạnh vẫn còn lưu luyến cái xã hội đó và nhận thấy với nỗi buồn man mác là quyền hành từ những người được ưu đãi của một trật tự phong kiến đứng đắn đã qua tay những giai cấp giầu có đầy quyền uy ; ông không nhận ra được nhu cầu lịch sử của cái buổi giao thời đó mà sự tiến hóa  của mọi xã hội phải trải qua để đạt tới nền dân chủ phổ thông.

            Nhiều nhà phê bình mác-xít khác chống lại quan điểm chủ quan của tác giả và quan điểm khách quan của cuốn truyện.  Nguyễn Du  vẫn lưu luyến hệ thống phong kiến được những người liêm chính và ngay thẳng điều hành một cách tốt đẹp ; ông chống lại những yếu điểm của hệ thống này khi nó bị suy sụp bởi hành động của những người vô đạo đức,  không tôn trọng những luật lệ của nền đạo đức phong kiến có nghĩa là  đạo Khổng.  Nghĩa là không tôn trọng những đức tính chỉ nam :  sự thẳng thắn,  lòng hiếu thảo,  sự trong sạch,  lòng trung thành.  Nhưng trong đoạn  Từ Hải  chỉ huy một cuộc nổi dậy của dân quê cho thấy tác phẩm quan trọng là dường nào như là chứng cớ khách quan của cuộc tranh đấu các giai cấp vào thời điểm đó,  dù  Nguyễn Du  kết thúc đoạn đó bằng sự thất bại của  Từ Hải. [60]

            Từ quan điểm khách quan,  nhiều tác giả khác nhận thấy trong truyện  Kiều một cuộc tranh đấu không ngừng chống lại chủ thuyết phong kiến ;  sự quan trọng của tiền bạc,  phương tiện của những giai cấp đang lên,  cuộc nổi dậy vũ trang,  sự thiện cảm tỏa ra suốt câu truyện đối với những người bị xuống cấp như  Kiều  và  Từ Hải  đều là những chứng cớ là sự tôn trọng một trật tự xã hội phong kiến đã lu mờ.[61]

            Đối với nhà sử học  Minh Tranh  truyện  Kiều  phản ảnh những mâu thuẫn nội bộ đã ngự trị trong xã hội việt-nam thời bấy giờ :  mâu thuẫn giữa giai cấp cai trị và giai cấp bị trị  và mâu thuẫn nội bộ trong các giai cấp đó.  Nguyễn Du  và Kiều tượng trưng cho những giai cấp phong kiến cổ truyền bị những giai cấp cai trị phong kiến mới và giai cấp trung lưu dân buôn bán mà quyền uy gia tăng vùi dập. Để trả thù, giai cấp phong kiến cổ truyền đó liên minh với dân chúng  <Kiều lấy Từ Hải> , kế đó,  để thử lấy lại những ưu đãi cũ,  bỏ rơi dân chúng  <Kiều  phản bội  Từ Hải  bị giết>  và kết hợp lại với giai cấp phong kiến cai trị  <Nguyễn Du và dòng họ Nguyễn ;  Kiều tìm lại  Kim>.

            Chúng ta có thể rút tỉa được những kết luận nào từ cuộc tranh cãi về truyện  Kiều  và rất nhiều cách giải thích đó ?  Tác phẩm xuất hiện một cách hiển nhiên rất giầu tình tiết và đập vào mắt ta với sự phong phú và tính phổ quát  và vẻ đẹp văn chương của nó, hiện diện trong từng chi tiết nhỏ một và  thông thường không có một khuyết điểm nào.

            Bởi tính đa dạng của nó, truyện  Kiều  thỏa mãn mọi ý thích và mọi tâm hồn.  Những nhà trí thức cổ xưa,  những nhà trí thức cấp tiến,  các bà, đám dân thấp cổ bé miệng cũng đều yêu thích nó và thấy thích thú đọc truyện đó.  Thật vậy,  người ta tìm thấy tính chất tình cảm,  tính chất sử thi,  lãng mạn,  cao sang,  tôn giáo,  huyền diệu,  mỹ lệ,  v.v…Tính đa dạng cũng còn ₫ược thấy trong  tâm lý các nhân vật không bao giờ giống nhau.  Nguyễn Du  đã biết sáng tạo những nhân vật sống động và đầy tình người :  ông không thực thi bằng cách phân tích hay mô tả phân tích.  Nhỡng  nhân vật của ông sống ngay trước mặt ta,  trong ta,  và chính những lời nói,  hành động,  mơ ước hay than van đã tạo ra họ và vẽ ra nhân cách của họ.  Hãy xem chị em  Kiều  và Vân,  họ rất khác nhau,  dù cả hai đều rất đẹp.[62] 

            Nguyễn Du  thực thi bằng những nét chấm phá và gợi ý cũng rất khéo trong các chân dung hay các phong cảnh của ông.   Phương thức nghệ thuật cực kỳ phương Đông của tính súc tích với hàng ngàn tiếng vang  được ông sử dụng với một tài năng cực kỳ tinh tế  đến mức chỉ với vài chữ,  một câu thơ,  ông đã vẽ ra được một nhân vật hay một phong cảnh trong nhân cách của chúng  và sự phong phú của tâm trạng chúng  và những mối giây liên kết chúng với thế giới ngoại vi.

            Tất cả các nhân vật của ông đều là những sáng tạo sống động và biến đổi theo những tình cảm nhân bản thông thường.  Những nam nhân, nữ nhân vật chính không bao giờ ra ngoài con người bình thường, chúng không bao giờ hoàn toàn tốt hay hoàn toàn xấu  và thảm kịch của chúng là nội tâm không lộ ra ngoài.  Chính nhờ vào sự phân tích những tình cảm mà độc giả hiểu và tha thứ cho những yếu lòng của  Thúy Kiều,  thương hại nàng và yêu mến nàng.  Thúy Kiều là một nhân vật rất gần gũi với những nhân vật lớn của chủ thuyết lãng mạn Pháp mà tuổi trẻ và vẻ đẹp gặp phải  một định mệnh trớ trêu nhưng mà những niềm đau khổ  có thể giống như được Racine mô tả.  Giống như những nhân vật của chủ thuyết lãng mạn Pháp,  Thúy Kiều  biết là định mệnh của nàng sẽ là đau khổ.

                        Anh hoa phát tiết ra ngoài

                        Nghìn thu bạc mệnh một đời tài hoa  [63]

                                                            <Ấn bản Vĩnh, nhà in Vĩnh Bảo, câu 415-416>   

            Giống như họ,  nàng suy ngẫm về định mệnh,  nàng suy ngẫm về những nấm mồ và nói chuyện với những linh hồn  <đoạn Đạm Tiên> ;  giống như họ,  nàng thường phân tích tình cảm của mình đã ảnh hưởng đến cái nhìn của nàng về thế giới.  Nàng buồn rầu  và  “tất cả là tịch liêu” ,  giống như các nhà văn lãng mạn  Pháp.

                        Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu

                        Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ   <câu 1243-1244>

 

            Dường như rất khó mà tin là  Nguyễn Du  đã có chủ ý muốn diễn tả trong  Kiều  những tư tưởng chính trị và triết lý.  Ông đã nhái lại những đoạn khác nhau của truyện Tầu  và ta sẽ phải nhìn nhận là tác giả Tầu đã muốn diễn tả cùng những tư tưởng của  Nguyễn Du  và đã phải có  một  “sự hoàn toàn giống nhau giữa những hoàn cảnh chính trị mà hai vị này đã trải qua”  [64]

            Theo chúng tôi nghĩ   Nguyễn Du đã thử,  theo những chủ đề vay mượn,  thực hiện một tác phẩm nghệ thuật hoàn hảo bằng tiếng Việt.  Thật bình thường là đàng sau những câu thơ của ông,  chúng ta tìm lại được nhân cách ông,  văn hóa,  ý thích,  tình cảm của ông,  nhưng những tư tưởng ông phát triển không có gì là mới mẻ,  chính là cách minh họa chúng đã mang dấu ấn tài năng của ông.  Chắc chắn là  Nguyễn Du đã không nghĩ ra được phần lớn những hình ảnh ông đã sử dụng,  chúng đến từ nội dung văn chương Tầu mà ông đã thấm nhuần,  nhưng ông đã biết kết hợp chúng, pha trộn chúng,  sử dụng chúng một cách độc đáo.  Thật ra sự quan trọng của truyện  Kiều  bao gồm việc nó đánh dấu một giai đoạn thiết yếu trong sự tiến hóa của ngôn ngữ việt-nam như là công cụ diễn tả nghệ thuật và với hậu quả là một giai đoạn trong đời sống trí thức của dân tộc việt-nam.

            Trước truyện  Kiều,  chúng ta có những bài thơ ngắn bằng tiếng Việt,  không may quá uyên bác và quá nặng nề bằng từ vựng và văn phạm Tầu.  Trong một giai đoạn mà phần lớn các nhà trí thức đã bị như là thôi miên bởi văn chương Tầu và đã không thoát ra được.  Nguyễn Du  đã biết sử dụng tiếng Việt và một loại luật thơ văn  <lục bát>  để diễn tả tình cảm và tư tưởng mà đôi khi đã được diễn tả bằng tiếng Việt từ trước đó,  nhưng không bao giờ có được một cách cũng dễ dàng,  cũng hoàn hảo,  và trong một tác phẩm cũng dài như vậy.  Đó chính là lần đầu tiên mà tư tưởng việt-nam tự giải thoát được hoàn toàn khỏi cái khuôn hán-việt để tự trình diễn với bấy nhiêu tính chất tự nhiên,  bấy nhiêu duyên dáng,  và một sự cộng hưởng quá đặc biệt :  “Dân chúng việt-nam đã bắt đầu rung động theo những tài năng riêng của họ.” [65]

            Bởi vì,  theo quan niệm nội dung,  một cuộc phân tích tỷ mỷ bài văn sẽ cho chúng ta tìm lại được  những thành phần của nền học vấn văn chương của Nguyễn Du.  Ảnh hưởng của nền văn hóa Tầu đối với ông thật sâu đậm,  những sự kiện được mô tả và những hình ảnh được sử dụng đều được vay mượn trực tiếp từ văn chương cổ điển Tầu hoặc gián tiếp qua việc chuyển đổi  bắt chước bản văn Tầu.  Thật là khó mà không kể đến một suy nghĩ của  Trần Cửu Chân đã viết về  Kiều :  “Nhưng không có một bản văn nào mà không phản ảnh tư tưởng,  phong tục tập quán,  những tín ngưỡng và những truyền thống ngàn năm của dân tộc việt-nam một cách cũng thích đáng như truyện thơ  Kim Vân Kiều”.

            Chúng ta hãy lấy thí dụ truyện  Đạm Tiên.  Chỉ vài chi tiết sẽ đưa chúng ta ngược về những sự kiện của nền văn minh Tầu.  Ngôi mộ của nàng không được đặt trong một nghĩa trang,  mà dọc theo lề đường ;  thế mà thời xưa những người chưa lập gia đình phải được chôn bên ngoài nghĩa trang coi như đã là vô ích cho xã hội [66]

            Đạm Tiên  hiện ra với  Kiều khi nàng thắp nhang cho Đạm Tiên  <câu 92>  và sự xuất hiện này được chỉ dấu bằng những hiện tượng thiên nhiên :  luồng gió xoáy,  lá cây rung động  và nhất là dấu giầy in trên đám rêu  <câu 124> .   Thế mà trong thời cổ đại Tầu lòng tín ngưỡng cho là những vong hổn về thưởng thức đồ

cúng bái.  Những nhà sư Tầu thời xưa chỉ cho thấy lúc cúng vái người ta nhận thấy dấu chân hay dấu tay của vong hồn người chết hiện ra trên cát hay trên đám tro [67]

            Còn về hương thơm mà vong hồn để lại đằng sau,  mùi hương này đến từ, vì thời xưa chưa có nước hoa, nên người ta mang trên người một chất tỏa mùi thơm  < nhang, gỗ trầm, v.v…>  Sự xuất hiện của  Đạm Tiên được mô tả ở câu 216:

                        Hương thừa dường hãy ra vào đâu đây

            Giống như  Tchao-Kiun  <Chiêu Quân>,  Đạm Tiên chết xa quê hương ;  sắc đẹp và cuộc mạo hiểm của  Tchao-Kiun  rất nổi tiếng  và khi người ta đến viếng mộ nàng  một cảm xúc mạnh mẽ xâm nhập quan khách.  Tính chất tình cảm của người Tầu trước mộ  Tchao-Kiun không khác gì tình cảm của  Thúy Kiều  trước mộ  Đạm Tiên.

                        Mặt trăng dõi soi chúng ta chung quanh ngôi mộ

                        Tất cả các con mắt chiếu sáng đầy nước mắt

 

                        <Hervey de Saint Denis,   Thơ nhà Đường,  XLVII>

            Đàn bà và đàn ông gặp gỡ nhau vào dịp lễ  Thanh Minh là chuyện bình thường trong các truyện Tầu.  Thí dụ trong một truyện ngắn  Liễu Trai , chính trong dịp lễ đó mà một nhân vật  Tống Thị  gặp người đàn bà xứ  Vệ,  cảm thấy yêu nàng và cướp nàng khỏi tay chồng nàng.[68]

            Khi  Nguyễn Du gả hai chị em Kiều và Vân cho chàng Kim,  ông không mô tả những truyền thống ngàn năm của dân tộc việt-nam,  mà bắt chước một cách giản dị những kết luận của rất nhiều truyện Tầu.  Những cuộc hôn nhân đó rất thường xẩy ra tại Trung-quốc  và đặc biệt là trong triều đại  Minh,  cả hai người vợ có thể có cùng một thể chế là vợ hợp pháp  ts’i  <thê>   và bộ ba,  sung sướng và hợp nhất,  được chỉ định  dưới từ ngữ  phu thê tam nhân.[69]

            Người ta còn có thể coi những phong tục và hành vi của  Kiều  như là thích hợp với truyền thống và phong tục ngàn năm của dân tộc việt-nam không ? Đàn bà việt-nam dù là trong thời đại chúng ta, cũng không hiểu tại sao  Kiều, một cô gái thuộc gia đình nghiêm túc,  lại có những điểm tương đồng với  Đạm Tiên người chỉ là một ca sỹ và gái làng chơi,  tại sao người đàn ông đầu tiên nàng gặp lại trở thành một đối tượng của tình yêu và đau khổ,  tại sao nàng lại hứa hẹn với Kim mà không hỏi ý bố mẹ trước,  và hơn nữa là vào ban đêm, v.v.. Cái loại hành vi tự do đó là theo Tầu,  hay theo Việt-nam ?  Dường như chắc đó là một nhân vật đến từ những truyện tình ái Tầu được  Nguyễn Du [70]  chuyển đổi và làm phong phú thêm và ông đã không hoàn toàn thoát ra khỏi được nguồn gốc cảm hứng.  Ngày trước, trong xã hội việt-nam,  người ta đã tặng tĩnh từ  cô Kiều  cho  “một số cô gái có tính tình phức tạp hay thiếu trang nghiêm”.[71]  Đó chính là dấu hiệu là nhân cách của nhân vật đó tạo đôi chút khó chịu về phương diện đạo đức.

            Nhiều người châu Âu không đọc truyện  Kiều trong bản văn chánh,  chỉ thấy đó là một giai thoại không quan trọng kể lại đời một người đàn bà không có tư cách và còn có một nền đạo đức đáng ngờ.  Họ luôn tỏ ra không hiểu được tại sao câu truyện của cô gái làng chơi đó đã có thể trở thành một bài ca thánh thiện của cả một dân tộc

            “Thật vậy,  truyện  Kiều ít ra đối với chúng ta cũng giống như truyện  Enéide của  Virgile đối với dân thành Rome.  Và dù vậy,  thi sỹ cũng không ca tụng  cuộc đời hay đức tính của một anh hùng quốc gia nào,  ông đã không tìm cách khiêu gợi một tình cảm yêu nước hay tôn giáo nào ở chúng ta”. [72]

            Về phương diện đạo đức chính trị của truyện  Kiều,  đã có nhiều lời giải thích rất trái ngược nhau được đưa ra.  Thật vậy người ta tìm thấy những điều ám chỉ  mà giới phong kiến xưa đã kết án  mà ngày nay những phong trào tiến bộ đã ca tụng.  Thái độ của vua  Tự-Đức sửa chữa truyện  Kiều  rất có ý nghĩa về phương diện này.   Mỗi khi những câu thơ của bản gốc truyện  Kiều  đối với ngài có thể đưa ra những tư tưởng có thể hại đến triều đại cai trị, ngài đều sửa lại.  Như vậy những câu 2195-2196  <ấn bản Vĩnh>  do  Kiều thốt ra khi gặp  Từ Hải  lần đầu tiên đã bị ngài sửa lại vì cái ám chỉ có khả năng một sự thay đổi triều đại nếu một kẻ phản nghịch thắng trận :

                        Thưa rằng :  Lượng cả  [73]  bao dung [74]

                        Tấn-dương [75]  được thấy mây rồng có phen

                                                                                                <Bản  Quan Văn Dương>

                        Si votre grand coeur,  répondit kiều,  veut bien me prendre sous sa    protection

                        J’aurais certainement l’occasion de voir à  Tấn-dương  le beau spectacle d’une grande ambition réalisée

                                                                                                            < Bản dịch  Vĩnh >             

 

            Tự-Đức sửa lại câu 2196 như sau :

                        Rồng mây rõ mặt anh hùng có phen

            Cũng vậy  Tự-Đức  tức giận khi đọc những câu  2471-2472  <ấn bản Vĩnh>,  2473-2474  <ấn bản  nôm , Thành Thái>

                        Chọc trời quấy nước mặc dầu

                        Dọc ngang nào biết trên đầu có ai

 

                        Je remue le  Ciel et la Terre à ma guise

                        Je me sens libre de me mouvoir dans tous les sens et je ne vois personne au-dessus de moi

                                                                                                            < Bản dịch  Vĩnh >

                       

 

            Trong trường hợp thứ nhất,  Tự-Đức  muốn tránh cho những độc giả nghĩ rằng sự thành công có thể của một kẻ phản nghịch sẽ dẫn đến việc thiết lập một triều đại mới giống như  Lưu Cao Trí-Viễn  hay  Đường Cao-Tổ,  và trong trường hợp thứ hai,  ngài không thể chấp nhận người ta lại táo bạo không nghĩ là  Hoàng đế cai trị trên toàn thể thần dân.  Khi đọc những câu thơ cuối cùng của cuốn truyện Tự Đức còn có thể nói là nếu  Nguyễn Du còn sống, ngài sẽ có thể cho bắt trói ông và cho đánh ông ba mươi hèo. [76]

            Như vậy,  một vị hoàng đế giám định những câu thơ của  Nguyễn Du có thể gây nguy hiểm cho Quốc gia.  Nhưng vậy mà bài thơ bao gồm nhiều đoạn khác cho thấy quyền lực hoàng gia chiến thắng kẻ nổi dậy  Từ Hải và đã cung cấp cho đế quốc  một thời gian thanh bình lâu dài.  <ở cuối câu truyện>

            Cùng một thứ phong phú,  cùng những điều trái ngược nhau đều được thấy trong truyện  Kiều nếu người ta nghiên cứu nó theo phương diện những ảnh hưởng thuộc tôn giáo và triết lý.  Trước tiên, truyện  Kiều có phải là một tiểu thuyết luận đề ? Nhưng nó chính là một tiểu thuyết luận đề đã bàn về những quan niệm thông thường về tín ngưỡng tôn giáo và triết lý hán-việt.  Không nên nghĩ nó là một tiểu luận về tư tưởng thâm sâu và độc đáo.  Vào đoạn cuối cuốn truyện,  Nguyễn Du chỉ dẫn rõ ràng những mục tiêu ông theo đuổi khi soạn thảo kiệt tác của ông :  minh chứng những tín ngưỡng bình dân  và giúp giải trí người đọc.  Không có vấn đề cải tạo hay thuyết phục,  bởi vì tinh thần người dân vào thời ông rất tin tưởng vào ba ý tưởng thông thường :  Ông Trời là đấng đầy quyền uy đã quyết định số mệnh của từng người ;  số mệnh hiện thời của người sống là hậu quả những hành động xứng đáng đạt được hay những lỗi lầm phạm phải trong đời sống trước đây ;  nhưng con người nếu sống tốt đẹp có thể tự cứu mình hay thay đổi số mệnh mình.

                        “Ngẫm hay muôn sự tại trời

                        Trời kia đã bắt làm người có thân

                        Bắt phong trần phải phong trần

                        Cho thanh cao mới được phần thanh cao

                        Có đâu thiên vị người nào

                        Chữ tài chữ mệnh dồi dào cả hai

                        Có Tài mà cậy chi Tài

                        Chữ Tài liền với chữ Tai một vần

                        Đã mang lấy nghiệp vào thân

                        Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa

                        Thiện căn ở tại lòng ta

                        Chữ Tâm  kia mới bằng ba chữ Tài

                        Lời quê chắp nhặt dông dài

                        Mua vui cũng được một vài trống canh.”

                                                                        <câu 3241-3254>

            Điều trái ngược nhau hiện diện giữa số mệnh con người do Trời quyết định và số mệnh con người tùy thuộc vào sự tự do hành động của con người đã được giải quyết ổn thỏa một cách khéo léo trong tư tưởng triết lý và tôn giáo hán-việt theo lý thuyết Nghiệp duyên.  Những lỗi lầm và những điều tốt đẹp của kiếp trước quyết định những gì xẩy ra trong đời sống hiện tại của chúng ta,  cũng giống như những lỗi lầm và những điều tốt đẹp hiện tại sẽ quyết định những điều xẩy ra cho tương lai gần đây và trong đời sống sắp tới của chúng ta.

            Như vậy có một phần ý chí tự do hành động và trách nhiệm của con người.  Nguyễn Du chỉ đem áp dụng lý thuyết trong đó chủ thuyết khổng giáo và chủ thuyết phật giáo bổ túc cho nhau.  Đối với những người theo Khổng giáo,  quyền uy tối thượng cai trị thế giới là Trời và và những điều luật của Trời,  Mệnh   định rõ số mệnh của mỗi người chúng ta,  định đoạt trật tự thế giới.  Mọi trật tự do ngài quyết định và không nên xáo trộn trật tự đó.  Chính vì vậy mà con người phải tôn trọng Trời  và tôn trọng trật tự xã hội đã được quyết định,  và theo đúng những định luật về đời sống đã kết nối với nhau những tầng lớp xã hội khác nhau.

            Trên đỉnh xã hội đó là Hoàng đế,  thay mặt Trời trên trái đất ;  những bậc thang khác cúa tôn ty trật tự con người là :  cha mẹ,  thầy giáo,  vợ chồng,  anh em,  bạn bè.  Trong truyện  Kiều , Nguyễn Du luôn luôn triển khai thuyết định mệnh đó của quyền uy Trời đã gỉải thích những điều trái ngược hiện có trong thế giới giữa tài năng hay sắc đẹp con người  và số mệnh buồn khổ.   Chúng ta không thể làm gì khác được điều đó ;  đó là do lỗi của Trời mà thông thường là vô cảm,  không biết điều.

                        Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau

                                                                                    <câu 2>

 

            Những người có tài và đẹp rất thường phải chịu một số mệnh buồn khổ  và những người đàn bà đẹp và có tài  thường đặc biệt bị Trời hành hạ.  Số mệnh họ thật mỏng manh.

            Những suy tư của  Thúy Kiều sau khi nghe kể chuyện đời Đạm Tiên thật là đầy ý nghĩa.    

                        Đau đớn thay phận đàn bà

                        Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung

                                                                        <câu 83-84>                       

            Kiều trả lời Vân khi bị cô em hỏi lý do buồn rầu lúc thăm viếng mả Đạm Tiên

Câu 107-108                  Rằng :  Hồng nhan tự thủa xưa

                                Cái điều bạc mệnh có trừ ai đâu  

 

                                                             cũng nên xem câu 1905-1906  <ấn bản Vĩnh>

                        Sinh rằng : “ Thật có như lời

                        Hồng nhan bạc mệnh một người nào vay “

 

Câu 737-738           Kiều nhờ cô em Vân lấy chàng Kim thế cho mình và nói thêm ngày em lấy chồng em sẽ nhớ đến người chị không còn ở đấy nữa.  Kiều cho số mệnh mình là bạc

                        “Dẫu em nên vợ nên chồng

                        Xót người mệnh bạc,  ắt lòng chẳng quên “

 

            Đoạn văn được dùng như bài nhạc đệm cho cuốn truyện này của  Nguyễn Du có tên là  Bạc mệnh  <xem câu  2575 và tiếp theo> , và nếu Kiều  thích ca bài này,  chính là vì nó có một mối quan hệ hài hòa với số mệnh và sự đa cảm của nàng.

Câu 2577-2578       Cung cầm lựa những ngày xưa

                                  Mà gương bạc mệnh bây giờ là đây

 

            Sức mạnh cai quản cái số mệnh đó , như chúng ta đã nói tới,  là Trời.  Cần phải đặt  Trời gần với  Định mệnh  <Trời – Định mệnh> , những từ ngữ thuộc về ngữ vựng khổng giáo.

            Khi  Kiều bán mình chuộc cha,  ông này thương xót số phận tàn nhẫn của con gái mình bằng cách nổi lên chống lại  ông Trời bất công :

Câu 661          Trời lảm chi cực mấy [77]  trời  

            Mã Gíám Sinh mua Kiều,  nàng tới nhà  Tú-Bà và muốn tự vẫn.  Bà này thuyết phục cô gái là hành động của cô là vô ích.  Kiều nhớ lại trong lúc bị sỉu  Đạm Tiên đã nói với cô là chính Ông Trời chi phối mọi đời sống con người :

Câu 999,  Vĩnh – 1002         Người dầu muốn lánh [78]  Trời nào đã cho

Và mà                                     Túc [79]  nhân âu cũng có Trời ở trong

Câu 1020,  Vĩnh – 1018        “ Tất cả những gì xẩy ra đều do số mệnh quyết định

                                                                                    và ý Thượng Đế thể hiện trong đó

hay hơn là                               “ Cả những nguyên nhân đầu tiên các sự kiện có thể

                                                                                        ý Trời cũng đã thể hiện trong đó”

            Nguyễn Du pha trộn cái quan niệm khổng giáo đó vào một quan niệm Lão giáo về luật nhân quả  theo quan hệ :  Số  “số mệnh” – Hóa-công hay  Hóa-nhi [80]

Câu 85, Vĩnh :                      Phũ phàng chi bấy hóa công

Câu 1129-1130                     xxxxxxxxxxxxxxxxxxx  [81]

                                               Hóa nhi thật có nỡ lòng  [82]

                                                  Làm chi giày [83]  tía vò hồng làm nao [84]         

 

            Quan niệm khổng giáo và lão giáo trùng hợp với quan niệm phật gíáo về định mệnh.  Những quan niệm này khá giản dị và có thể tóm tắt trong việc áp dụng thuyết luân hồi tự nó mang cái quả của những hành động trong quá khứ và hiện tại.  Những khái niệm  Nguyễn Du thường dùng là  duyên  và  nợ  .

            Duyên  là  yuan  tầu,  pratyaya  ấn-độ  “tín ngưỡng, lòng tin”  nhưng cũng là “nguyên nhân, lý do”,  nhưng nguyên nhân thứ yếu bao quanh,  nguyên nhân hợp tác với nguyên nhân chính  nhân  < nhân như là cái lõi một trái cây,  duyên  như là đất,  mưa,  mặt trời >.  Đời sống chúng ta hiện tại là do điều tốt và điều xấu chúng ta đã làm trong những đời sống trước đây quyết định;  những nguyên nhân đó đưa đến một kết quả,  một trái cây,  quả , giống như trong thiên nhiên,  hạt trái cây được nhiều yếu tố khác nhau giúp đỡ sinh ra trái cây ít hay nhiều tốt đẹp tùy theo chất lượng những cái đã vun xới và giúp nó sản xuất ra trái cây  <nhân, mặt trời,  v.v.>.  Cũng giống như đối với con người  về phần những kết hợp do tình yêu,  chúng tượng trưng cho những món nợ  nợ / trái của một tình nhân đối với người kia và món nợ đó, nếu đã được trả xong,  có thể được xóa bỏ trong đời sống hiện tại;  nếu những lời thề nguyền về tình yêu đã thốt ra trong đời sống này, đôi tình nhân có bổn phận thi hành một món nợ của người này đối với người kia và sẽ phải trả hết nợ trong đời sống này hay,  nếu không,  trong một những đời sống tương lai.  Món nợ  < nợ / trái >  nhất là món nợ người ta phải trả hết vì những hành động đã qua,  những tội trạng có thể bắt buộc tội nhân phải trải qua nhiều đời sống để chuộc tội và trả hết nợ trước khi đạt được một tình trạng thích ứng với tính tình hay những điều mong ước của họ.

            Duyên  vì có nghĩa là  “nguyên  nhân liên quan,  sự móc nối “  nên có nghĩa  chính  “tương đồng“,  qua số mệnh hai người bị đưa đẩy đến với nhau  bởi những lý do phụ thuộc vào bản chất của họ  < vẻ đẹp quyến rũ,  cùng sở thích chung, v.v.>  và bởi những lý do độc lập với bản chất hiện tại của họ  <hậu quả những đời sống trớc đây>.  Những sự tương đồng đó đã có thể được quyết định trong một đời sống trước đây và thấy được trái quả của họ trong đời sống hiện tại hoặc chúng  tự thể hiện trong cái đời sống hiện tại,  nhưng bởi những nguyên nhân đã qua,  không thể được thực hiện và phải đợi đến một đời sống tương lai mới thành hiện thực.

            Một trong những kết cấu của truyện  Kiều được thi sỹ thể hiện trong việc khai thác ý tưởng này  : Kiều là sự hóa kiếp của  Đạm Tiên,  Kim của người yêu  Đạm Tiên,  những người đã không thể hoàn thành tình yêu của họ.  Sau khi trải qua nhiều điều đau khổ và một sự chia cách lâu dài,  những thử thách phải chịu vì những lỗi lầm đã qua,   Kiều và Kim  gặp lại nhau ;   những mối tương đồng của họ < duyên >  sau cùng cũng thấy được một kết luận trong thế giới này.

            Khi  Đạm Tiên chết trước khi người yêu của nàng có thể làm quen với nàng, người này nói :

                        Khéo vô duyên bấy là mình với ta       

                        Đã không duyên trước chăng mà  [85]           <câu 74-75, Vĩnh>

 

            Sau đây là lời hồn ma  Đạm Tiên nói với  Kiều :

                        Âu đành quả kiếp [86]  nhân duyên                  <câu 201, Vĩnh>

                     “Il n’y a qu’à vous résigner à accepter la destinée résultant de votre Karma”[87]

 

            Vậy  Kiều hiểu ngay số phận mình :

                        Biết duyên mình,  biết phận mình thế thôi        <câu 220, Vĩnh>

            Như vậy, thêm vào những tính chất hoàn toàn văn chương,  Kiều thể hiện một quan niệm sống và số mệnh con người được diễn tả với sự thanh tao và trong sáng.  Cuốn truyện này có thể là duy nhất trong nền văn chương chữ  nôm cho thấy một sự hoàn hảo chắc chắn về nội dung và hình thức.  Nó gây cảm xúc cho trí tưởng tượng và tính đa cảm và khuyến khích  sự trầm tư mặc tưởng.  Nó không làm người ta chán ngán,  không có sự kéo dài nào trong cách kể truyện  và những đoạn chủ yếu thiếu hành động được soạn thảo với một chất thơ rất gợi ý đến độ chúng hợp thành giống như những  bài thơ của một tuyển tập mà người Việt-nam thích ngâm nga.

            Theo như gợi ý của những đoạn văn mô tả,  Nguyễn Du  đã hoàn toàn thành công trong việc diễn tả bằng thơ văn cùng sự duyên dáng và cùng sự sâu sắc mà những bức tranh tầu đã gợi ý cho chúng ta,  với sự phong phú của nội dung và phong cách,  với sự thống nhất công việc soạn thảo rất hiếm thấy trong những cuốn truyện bằng thơ văn khác,  truyện  Kiều đã thêm vào ý tưởng suy ngẫm và bàn cãi khi nói về nghệ thuật và đạo đức của ông.

            Nếu nghệ thuật luôn luôn là đạo đức và xã hội tại Việt-nam,  dù sao còn có một số đoạn trong truyện  Kiều có vẻ giống như những tiểu luận nghệ thuật vì nghệ thuật và người ta cảm thấy là thi sỹ,  bên ngoài mọi chủ ý,  đã cố gắng thành công đạt tới một quan hệ hài hòa giữa ngôn ngữ ông sử dụng và âm thanh những câu thơ và những cảm tưởng ông muốn truyền đạt.  Tuy nhiên, điều này không ngăn được  ý tưởng những lý do  của cách hành xử bề ngoài có vẻ phóng túng của  Kiều lại có nguyên nhân nguồn gốc rất đạo đức.  Đó chính  là lòng hiếu thảo đã xô đẩy nữ anh hùng của chúng ta vào con đường phóng đãng,  nhưng dù bị chìm đắm trong đời sống trụy lạc,  nàng vẫn ý thức được hành động xấu xa của mình và tìm cách tự cứu mình.

            René Crayssac,  một thi sỹ người Pháp vào giai đoạn thuộc địa,  đã cảm nhận được thảm kịch  và giá trị của  Kiều.  Ông đã diễn tả tình cảm của mình về đạo đức của  Kiều trong một bài thơ pháp  <sonnet  à gồm mười bốn câu> [88]  tận cùng bằng những câu thơ  bình luận đoạn  Kim và Kiều  gặp lại nhau như sau :

                     “ Cánh hoa đã mất đi những hương thơm quý báu   

                        Mà trước kia đã ướp hương đời sống trinh tiết và giản dị của nàng…

                        Nhưng  chàng Kim đã ôm Đóa hoa trong tay

                        Và ép nó  với đầy tình yêu vào trái tim của mình

                        Hít thở mạnh mẽ những cánh hoa run rẩy.

                        Ôi kỳ diệu thay,  một hương thơm tỏa ra từ nàng Kiều,

                        Một hương thơm đơn thuần và êm dịu của lòng hiếu thảo

                        Ngàn lần say đắm hơn mùi thơm đã qua.”

                                                            <bài thơ bằng tiếng Pháp trong nguyên bản >

            Đó là những lý do tại sao người Việt-nam đã xem cuốn  Kim Vân Kiều  như là một kiệt tác của nền văn chương họ.  Họ đã ca tụng truyện  Kiều bằng mọi cách. Những bài thơ ngắn hay những tập thơ ca tụng truyện Kiều nhiều vô số kể,  chúng khai triển biến cố này hay kia của truyện Kiều.  Sân khấu và phim ảnh cũng khai thác lịch sử những cuộc phiêu lưu của Kiều.  Cuốn truyện này đã ngự trị  trong trung tâm đời sống văn chương việt-nam.  Sự hấp dẫn của truyện  Kiều đã bớt đi phần nào vì từ khi đất nước độc lập,  các nhà phê bình văn học và các nhà nghiên cứu đã dành sự chú ý đến những tác phẩm bằng  nôm khác.

          


*Phan Tấn Khôi

Tốt nghiệp Đại học Sư Phạm  Saigon,  ban Pháp văn, 1963

Cao học Nghiên cứu Giáo dục, Đại học Sư phạm Saigon, 1972   

 

 

 

GHI  CHÚ

1.- Tất cả tên người,  chức vụ,  các địa danh  đều có ghi bằng chữ Hán Nôm bên cạnh trong nguyên bản,  nhưng máy vi tính của chúng tôi không có nhu liệu Hán Nôm  nên không ghi lại được

2.- Các chữ viết tắt :

      BEFEO  ->  Bulletin de l’École Francaise d’Extrême-Orient

      EFEO  ->   École Francaise d’Extrême-Orient

  1. ->  trang
  2. cit. ->  đã trích dẫn ở trên

       idem  ->   như trên

  1. ->  ibem,   giống y như vậy

3.- Những tạp chí kể ra có thể được đánh số bằng số La-mã :

      I  /  V  /  X  /  L  /  C  /  D  /  M     Số nhỏ đứng trước số lớn sẽ bị trừ đi : IV-> 4

      1  / 5  / 10 / 50 /100/500/1000   Số nhỏ đứng sau số lớn, cộng vào : VIII-> 8

 

 

PHỤ  BẢN 

           Sau đây là sáu phụ bản “tranh dân gian việt-nam” điển hình trong số những tranh minh họa truyện Kiều  được trích từ cuốn  Imagerie populaire vietnamienne,  Tranh dân gian việt-nam,   Maurice Durand,  EFEO,  Paris  1960,  tái bản  2011

1

  Kim,  Vân và Kiều  tương ngộ,  Kì  nhất

 

Bàn  chữ nôm  trình bầy những câu thơ  145 tới 148 :

Chàng thấy quen mặt ra chào         Hai chị em Kiều và Vân núp sau cây nở

Hai Kiều e mặt nép vào dưới hoa     hoa. Người em Vương cầm quạt, bước

Nguyên người quanh quất đâu xa,    ra chào Kim Trọng trên lưng ngựa. Hai

Họ Kim tên Trọng vốn nhà trâm anh.    chàng đều có tiểu đồng theo sau.

2

                                                      Kim,  Kiều tự tình,      Kì nhị

 

    Sượng sùng giữ ý rụt rè,         Kiều gặp Kim Trọng tại nhà chàng, bên trái,  

           Kẻ nhìn rõ mặt người e cúi đầu       ngay sau lưng nhà nàng, chia cách bởi

                Rằng: từ ngẫu nhĩ gặp nhau       bức tường thấp, tận cùng bên phải là cây

            Thầm trông trộm nhớ bấy lâu đã chồn.     đào, khi đi dạo Kiều đã để cây kim                                

                   Câu  321 – 324                              thoa mắc vào cành cây.

3

  Thúy Kiều hồi Lâm- Tri,   Kỳ tam

Mã Giám Sinh dẫn Kiều về Lâm-Tri giao cho Tú Bà,  hai chữ trên tòa nhà là “thanh lâu”

          Những là lạ nước lạ non,                                                   

Lâm -Tri vừa một tháng tròn đến nơi

      Xe loan dừng bánh cửa ngoài,

Rèm trong đã thấy một người bước ra.

 Câu 919 – 922

                             Thúc Sinh và Kiều gặp lại nhau tại chùa  Quan Âm

                        Xét vì cầm đã bén giây

           Chẳng trăm năm cũng một ngày duyên ta 

Câu  1963 – 1964

4

Thúc Sinh dự Kiều tự tình,    Kì tứ

Trong chùa Quan Âm,  Kiều cầm bút, ngồi chép kinh trước bàn thờ Phật có bình trầm hương và nến,  trên trần một giải lụa buông xuống mang ba chữ  “nam mô Phật”    Thúc Sinh và Kiều đang tự tình thì bị Hoạn Thư rình bắt gặp tại trận :

 

             Cười cười nói nói ngọt ngào,

        Hỏi chàng mới ở chốn nào lại chơi

              Dối quanh Sinh mới liệu lời

        Tìm hoa quá bước xem người viết kinh

                                                                           Câu  1983 – 1986

5

 Thúy Kiều báo ơn báo thù.  Kì ngũ

 

         Mấy người ơn oán xưa kia                 Từ Hải và Kiều ngồi dưới lều tướng

           Điểm danh một mẻ tóm về cửa hiên           quân, sư nữ Giác Duyên ngồi chỗ        

          Từ rằng :  ân oán đôi bên                   danh dự, Hoạn Thư quỳ trước tên

  Mặc nàng xử quyết báo đền cho minh     đao phủ,  Thúc Sinh ngồi bên trái.

     Câu 2301-2302;  2319-2320        

6

  Hình phải :   Kim,  Vân  và Kiều  tái hợp.   Kì lục

                                                      

Kim và Kiều ngồi trên sập gụ                   Tàng  tàng chén cúc dở say

           giữa hai người trên khay có 2 chén      Đứng lên Vân mới kể bầy một hai

rượu. Kiều gẩy đàn tỳ bà. Hàng đầu       Rằng : trong tác hợp duyên trời  

là Vân đứng cầm quạt.                             Đôi bên gặp gỡ một lời kết giao

                                                                                                  Câu 3061-3064

 

Chú thích:

 

[1]  Thư viện Trường Viễn đông Bác cổ Pháp,  mã số AB. 31

[2]  Xem  Maurice Durand,  Tranh dân gian việt-nam,  EFEO,  1960

[3]  Chúng tôi chỉ đếm được ba mươi bốn truyện  trong số đó chúng tôi không thể chấp nhận những tác phẩm  Bướm Hoa,  Chinh phụ ngâm,  Cung oán ngâm khúc,  Bồng lai,  Hoa tình,  Xuân tình,  Khuyến hiếu,  Nhị thập tứ hiếu.  Không được kể là truyện vì không có những nhân vật rõ ràng, một hành động thống nhất, nhiều giai đoạn.

[4] Phạm Quỳnh  trong bài  Etudes classiques sino-annamites,  đăng trong tuyển tập  Nouveaux Essais Franco-Annamites,  <Ấn bản  Bùi Huy Tín, 1938>,  chỉ rõ ý chí muốn đặt một nền văn chương quốc gia có giá trị đối đầu với những nền văn chơng ngoại quốc : Đối với những kẻ nào chê rằng người Việt-nam chúng ta không có văn chương, các bạn hãy đọc cho họ nghe những câu thơ của  Nguyễn Du mà tất cả cac bạn hẳn đã thuộc lòng, hoặc những câu thơ của  Nguyễn Công Trứ,  hoặc những bài thơ của Hồ Xuân Hương,  rồi các bạn thử hỏi xem đã nhã như thế, dĩnh ngộ như thế,  biểu diễn bằng một hình thức hoàn toàn đến như thế những tình cảm, các mầu sắc như thế và sâu sắc đến thế không…

[5] Đào Duy Anh,  Khảo luận về Kim Vân Kiều,  Quan Hải tùng thư,  Huế  1943

[6] Nguyễn Mạnh Tường,  Tạp chí  Thanh Nghị,  Số  92.

[7] Hoài Thanh

[8] Dường như đó là một bài thơ gồm nhiều thành phần hay nhiều phần được biên soạn hay tự chế bởi nhiều người khác nhau và tổng hợp laị để làm thành một tác phẩm duy nhất

[9] Chúng tôi không có ba tác phẩm này

[10] Bản thảo của M. Durand ghi là  Hoa Thiên,  nhưng người ta chỉ thấy làng  Hoa Thiều trong các danh sách địa danh <ghi chú  EFEO 1997>

[11] Saigon

[12] “rộng,  to lớn”

[13] “tôn trọng,  một cách kính trọng”

[14] “cho,  truyền lại”

[15] Đậu Tiến sỹ năm 1752 dưới tên  Đoàn Duy Tín. Ông làm quan Đốc-thị tại Nghệ-an và có tước hiệu Nam Tước của Quỳnh-xuyên.  Ông là tác giả một tuyển tập thơ  Đoàn hoàng giáp phụng sứ tập

[16] Vua Minh Mệnh rất phục tài Nguyễn Du, một con người rất tự phụ và có tính khí rất độc lập,  nhưng bề ngoài lại có vẻ hiền lành và rút rát.  Đứng trước Hoàng đế ông ít nói và dường như khiếp sợ. Có một ngày Hoàng đế nhận xét về ông :  “Chính quyền chỉ xử dụng những hiền nhân, không phân biệt họ là người Bắc hay người Nam. Ngươi đã biết tình cảm thân  thiện của ta, ngươi là một mệnh quan lớn, ngươi nên diễn tả ý muốn của ngươi làm sao cho thích hợp, xứng đáng với ngôi vị của ngươi.  Tại sao lúc nào ngươi cũng sợ sệt, tỏ ra khiếp sợ và không biết nói gì hơn là  “dạ, dạ…vâng, vâng”.  Trong lục thi hành nhiệm vụ Nguyễn Du tỏ ra khiêm nhường với bề trên mình và ông luôn luôn có vẻ buồn rầu và ít khi sung sướng.  Khi ông ốm đau, ông không chịu uống thuốc và chết trong sự trầm lặng.  <Xem  Đại Nam Chính biên liệt truyện,  tập 20,  đoạn 9>

[17] Tác phẩm cuối cùng này được gán cho Nguyễn Du  một cuốn khác cũng như vậy  Giới thế sự ca  mà một hậu duệ thuộc thế hệ thứ ba của ông đã truyền lại vài câu thơ.

[18] Xem  Gaspardone, Bibliographie Annamite  <Thư tịch người Annam>  số 30, tr. 76, ghi chú 1

[19] Bản thảo của  Durand  không có câu thứ nhất mà trong bản nguyên thủy ghi lại như sau : Xuân hàn hạ thử cố tương xâm   <ghi chú  EFEO 1997>

[20] Bản thảo của Durand không có hai câu cuối  mà trong bản nguyên thủy ghi lại như sau :  An đắc huyền quan minh nguuyệt kiến,  Dương quang hạ chiếu phá quần âm   <ghi chú EFEO 1977>

 

[21] Tự cảm thấy xấu hổ

[22] Nối tiếp ;  -> trật tự ;  đại -> những thế hệ nối tiếp nhau

[23] Có nghĩa là chính  Nguyễn Du

[24] Thuấn : chớp mắt ; tức :  một hơi thở

[25] “buổi chiều”,  ở đây là cuộc đời chấm dứt

[26] Tên gọi khác của ngày lễ  mùng 9  tháng thứ 9 lịch ta , ngày người ta vừa ngắm trăng vừa thưởng thức rượu cúc

[27] Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim,  Nguyễn DuTruyện Thúy Kiều ; Vĩnh Hưng Long thư quán,  <Hanoi, 1925, ấn bản thứ nhất

[28] Ông là người nguyên quán ở Hoa Đường,  huyện Đường-an trong tỉnh Hải-dương và cư ngụ tại Báo-thiên; huyện Thọ Xương.  Lúc 20 tuổi ông đậu tiến sỹ năm 1779 dưới triều nhà Lê  và đạt được chức Trấn Đốc-đồng.  Sau khi nhà Lê suy sụp  ông bỏ trốn và nhà Tây Sơn truy lùng ông nhưng không tìm được. Sau nữa dưới triều nhà Nguyễn,  vua Gia Long mời ông ra  làm quan nhưng ông từ chối.  Ông đạt được tước hiệu Thị trung đại học sỹ

[29] Ấn bản của Trường Sinh ngữ Đông phương, <École des Langues Orientales Vivantes>, quyển XIV và XV,  Paris, nhà in Leroux,  1884 – 1885  Lời giới thiệu tr. II, ghi chú 1

[30] G. Cordier,  Littérature annamite, 1914

[31] G. Cordier,  Morceaux choisis d’auteurs annamites,  1932  và Maspero, BEFEO, 1914,  Số 9, tr. 4-5

[32] Tác phẩm kể trên là một bản chép tay của EFEO, mã số A. 953,  từ đó Maspero và Dương Quảng Hàm viết ra một bài  bình luận.

[33] Xem  Giles  Số 385,  Cuốn từ điển  Sin tsou tien  <Tân Từ-điển>  cua Tchong Wen-t’ao  <Trọng Văn Thao>,  Hong Kong, 1957  cho biết ông sinh năm 1596  và mất năm 1648

[34] Nam Phong,  quyển IV,  Số 30,  tháng chạp 1919,  tr. 480

[35] Rất nhiều công trình nghiên cứu đang được thực hiện tại miền Bắc Việtnam về nguồn gốc tầu của  Kim Vân Kiều.Chúng tôi sẽ báo cáo ngay khi kết quả chính thức được công bố. Có thể là một tóm tắt kết quả những cuộc nghiên cứu đó sẽ được các nhà nghiên cứu của Cộng Hòa Dân chủ Việtnam được trưng bầy nhân dịp lễ kỷ niệm hai trăm năm của Nguyễn Du. Trong miền Nam Việtnam những công trình về cùng đề tài cũng có rất nhiều và vài bài đã được in trong tuyển tập kỷ niệm hai trăm năm Nguyễn Du do EFEO phát hành

[36] Nguyễn Văn Tố,  BEFEO, quyển XXX, tập 1-2,  tr. 144  và Dương Quảng Hàm,  tr. 311

[37] Nguyễn Văn Thắng nguyên quán Yên Thái,huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Phụng Thiên ở Bắc-Thành  <Hanoi>.  Năm 1826 lúc 24 tuổi ông đậu tiến sỹ.

[38] Phường chuyên môn in ấn phố Hàng Gai  <Hanoi>  <ghi chú EFEO 1997>

[39] Nguyên quán Thượng Phán trong vùng Thái Bình,  <Nam-Định>  Năm 1884 cử nhân trong kỳ thi Hà Nam  và năm 1898 tiến sỹ trong kỳ thi Hội  <QTKBL, A. 37, tập 4, tr. 5, cột 3>. Ông cũng được chỉ định dưới tên Đào Hoành Hải qua lời nhắn nhủ độc giả của Kiều Oánh Mậu và chính vào năm 1898 sau khi thi đậu kỳ thi Hội ông trưng cho Kiều Oánh Mậu xem ấn bản Kinh của ông

[40] Nam Phong,  tháng 7-tháng chạp  1919,  tr. 498

[41] Nam Phong,  Số 110, tháng 10 /1919

[42] Đó là câu đầu của truyện  Kiều

[43] Tập LXV,  tr. 23-24

[44] Ông là Chủ tịch  Mặt Trận liên hiệp Quốc dân Việt Nam và bộ trưởng Nội vụ trong Chính phủ liên hiệp quốc gia thành lập tại Hanoi năm 1945  <xem Nghiêm Kế Tố,  Việt Nam máu và lửa,  tr.44 và 64>. Sinh năm 1876 trong làng Thanh Bình,huyện Tiên-phước, tỉnh Quảng Nam,  ông đậu tiến sỹ năm 1904.  Cùng với Phan Chu Trinh và Trần Quý Cáp ông một cuộc du hành vào miền Nam Việtnam để quảng bá phong trào cấp tiến.  Tất cả mọi hoạt động của ông đều nhắm vào phong trào này  <xây dựng trường học, các hội đoàn, v.v.>  Trường Đông Kinh Nghĩa Thục bị các chính quyền pháp và việt đóng cửa.  Theo sau vụ đóng cửa này là cuộc vận động phản đối thuế má tại Quảng Nam. Phan Chu Trinh bị bắt giữ,  Trần Quý Cáp bị bỏ tù. Bản thân Huỳnh Thúc Kháng cũng bị bắt năm 1908 và bị đầy ra đảo Côn-lôn nơi ông trải qua mười ba năm, trong thời gian đó ông soạn ra  tập  Thi tù tùng thoại. Ông được phóng thích năm 1943 và qua trung gian tòa Lãnh sự Nhật tại Huế,  ông bắt đầu liên lạc với Cường Để.  Năm1945 quân đội Nhật kêu gọi ông tham gia chính phủ 9-3-1945, ông từ chối, nhưng sau đó ông chấp nhận tham gia Chính phủ của Cộng Hòa dân chủ Việtnam do Hồ Chí Minh thành lập, ông giữ chức Bộ trưởng Nội vụ. Ngày 27-5-46 ông trở thành Chủ tịch  Liên hiệp quốc dân Việt-nam và Chủ tịch tạm thời nước Cộng Hòa trong thời gian Hồ Chí Minh sang Pháp bàn thảo hội nghị Fontainebleau.

Trong thời gian làm Phó Chủ tịch nước Cộng hòa ông tiêu diệt  Việt Nam quốc dân đảng Khi chiến tranh Pháp-CHDCVN bùng nổ,. Huỳnh Thúc Kháng cùng với Phạm Văn Đồng trở thành đại biểu vùng Nghệ-tĩnh, Nam Ngãi. Ông bị bệnh và mất ngày 21-4-1947 tại Phú-Bình, làng Hành-phong, quận Nghĩa-hành, tỉnh Quảng Ngãi.  <Xem Bách-khoa  XXXIII tới XXXVII>  Cũng xem  Thế-nguyên, Huỳnh Thúc Kháng,  <Tân Việt xuất bản, Saigon, 1950>,  Thuận Phong,  Sài-gòn Chợ-lớn chỉ-nam,  <Saigon,  1956>,  Anh Minh,  Nhà cách mạng công khai và không đảng phái nào hết cụ Huỳnh Thúc Kháng,  <Huế,  1953>

[45] Bài viết có tựa đề  Thuyết chiêu tuyết Vương Thúy Kiều của ông Lưu Trọng Lư với anh học trò mê kép hát đóng vai Tần Cối.

[46] Phát hành năm 1956 tại Nhà xuất bản  Xây-dựng , Hanoi

 

47 Nguyên quán huyện Bình-dương,  tổng Tân Bình, tỉnh Gia-định. Ngay thời trai trẻ ông đã nổi tiếng về tài văn chương, nhưng thất bại trong kỳ thi tỉnh mà ông tham dự năm 1855.  Khi Pháp chiếm Nam kỳ, ông chấp nhận phục vụ đám thực dân như một viên quan và đạt tới chức toàn quyền Đốc phủ-sứ. Ông đi theo đoàn sứ thần Phan Thanh Giản sang Pháp  <1863-1864>  kế đó giảng dậy tiếng Tầu tại Collège des Stagiaires, <Trường những Thực tập viên>   <1871>  và sau đó năm 1875 đi theo viên Lãnh sự pháp De Kargaradec ra Bắc kỳ, nơi ông mất năm1877 vì mắc một bệnh  lạ trong khi theo viên lãnh sự đó kinh lý vùng cao bắc kỳ. <xem  DQH, tr.385, ghi chú 5>,  xem Trần Trọng Kim,  Việt thi, tr. 51,  Hà Như Chi,  II,  tr. 18-20.

48 Phạm Quỳnh : Bài diễn thuyết bằng Pháp văn của ông Phạm Quỳnh và  Bài diễn thuyết bằng quốc văn của ông Phạm Quỳnh.  Trần Trọng Kim : Bài diễn thuyết của ông Trần Trọng Kim về lịch sử cụ Tiên Điền và văn chương truyện Kiều

[49] Bài số LXV, tr. 21-22

 

50 Bài viết  Nghé vách qua tường,  ám chỉ lúc Kiều qua nhà Kim

51  Bài viết số LXV,  tr. 24-25

52 Về Phan Khôi  xem bài số LXXIII, tr. 53 và tiếp theo,  France Asie, số 7, tr.359-360. Biệt hiệu của ông là Chương Dân. Trong số những tác phẩm của ông, người ta thường kể đến  Chương Dân thi thoại, 1936, nhà in Độc-lập, Huế. Hai thi phẩm thời mới bằng thơ tự do  Hai cảnh trên xe hỏa , Phụ nữ Thời Đàm, số 1, 17 tháng 9  1933. Ông cộng tác với một số rất lớn tạp chí cũng nhiều ở miền Bắc cũng như miền Nam, thí dụ  Lục tỉnh tân văn,  Đồng tháp thời báo,  Thần Chung,  Phụ Nữ tân văn,  Trung cập, xuất bản tại Saigon.  Thục Nghiệp dân báo,  Nam Phong,  Phụ Nữ Thời Đàm,  xuất bản tại Hanoi

[53] Lương Đức Thiệp,  Việt Nam Thi ca luận ,  tr.42-44,  Khuê Văn xuất bản,  Hanoi, 1942,  Thư viện Trung Ương Hanoi,  1942, tr. 235

[54] Tsin Kouei  <Tần Cối  1090-1155>  nguyên quán Kiang-ning  <Giang-ninh,  dưới triều nhà Tống> ; tseu  <tự>  Houei-chi  <Hội-chi>. Đậu tiến sỹ năm 1115, ông thuộc thành phần ủy ban đã nhượng một phân đất của Tầu cho Rợ Kim năm 1121. Đứng trước nhiều cuộc xâm lăng mới năm 1127, ông theo chân các hoàng đế Houei  <Huy 1101-1126 và K’in  <Khâm, 1126>  tới trạị Rợ để thương thảo hoà bình và sau đó theo phái đoàn về Bắc-kinh, nơi ông được thuyên chuyển tới.  Ông ở đó tới năm 1130 phục vụ triều đình nhà Tống, lúc đó do Hoàng đế Kao  <Cao> ngự trị  <1127-1163>  và dùng ảnh hưởng của mình để thương thuyết một nền hoà bình thê thám cho nước Tầu nhà Tống đã phải nhượng tất cả phía Bắc cho rợ Kin.  Quan lớn nhà Tống phía Nam,  ông cho xử trảm người yêu nước nhiệt tình tầu  Yo Fei  <Nhạc-phi>.  Chỉ sau khi ông mất, tên tuổi ông mới bị nguyền rủa.  Tên ông bị coi như một người phản quốc và là một nhân vật đáng khinh bỉ   <xem Giles, tr. 392 ; Tseu hai >

[55] Tên ông là Nguyễn Đức Nguyên,  một nhà phê bình trung thực và vô tư,  Ông thường viết cho các báo.  Ông là tác giả một tuyển tập thơ  Thi nhân Việt-nam  1942  mà phần dẫn nhập rất hấp dẫn để hiểu biết thơ văn đương thời việt-nam.  Năm 1931 ông cho xuất bản một tác phẩm  Văn chương và hành động  với sự cộng tác của  Lê Tràng Kiều và Lưu Trọng Lư

[56] Được biết tới nhất là qua cuốn từ điển  Hán-Việt từ điển,  Quan Hải tùng thư,  Huế,  1932, 2 quyển ; và cuốn từ điển  Pháp-Việt từ điển,  Quan Hải tùng thư, Huế, 1941,  2 quyển.

[57] Khái luận về Kim Vân Kiều,  1943

[58] Nouvelles lettres édifiantes des Missions de la Chine et des Indes Orientales , Paris,  Ad.Leclère, 1823, VII, tr.42-45

59 Hoài Thanh,  Quyền sống của con người trong truyện Kiều của Nguyễn Du,  1949

                                                                                                              

 

[60] Trần Đức Thảo,  Tìm hiểu giá trị của văn chương cũ,  VSD,  Số 3, tháng 12/1954, và trong  LXV, tr.38-40

[61] Đào Duy Anh,  Truyện Thúy Kiều,  tác pưhẩm cổ điển tiêu biểu của Văn học Việt-nam,  Đại học Sư Phạm, Số 1, tháng 5/1955

[62] Kiều là một người đàn bà biết thế nào là tốt và thế nào là xấu.  Nàng cân nhắc tất cả,  phê phán tất cả,  lý luận  tất cả bằng cách phân tích những tình cảm của mình.  Đó là một nhân vật của Racine  <bi kịch gia Pháp>. Mặc dù tình yêu của nàng đối với Kim Trọng,  nàng hy sinh chàng để cứu cha nàng khỏi bị tù. Nàng quyết định phải chịu đựng mọi điều đau khổ và xui xẻo bằng cách chấp nhận thuyết định mệnh có nghĩa số mệnh là không thoát khỏi. Nàng đa cảm,  đam mê,  can đảm đến lạ lùng,  nhưng theo sau những thử thách và cũng bởi linh tính,  nàng tỏ ra khôn ngoan và đầm tính.  Nàng thực thi nền đạo đức khổng giáo có nghĩa là thuyết trung dung và có những quyết định khó khăn cho hạnh phúc của mình nhưng lại tương xứng với sự phán đoán của nàng.  Định mệnh đưa nàng tới bờ tuyệt vọng.  Có lẽ vừa là phản ảnh niềm bi quan của cá nhân Nguyễn Du,  Kiều cũng không vừaì là một nhân vật có tâm lý phức tạp và những mâu thuẫn đến từ những luồng tư tưởng khác nhau

[63] Bản dịch Vĩnh đối với tôi có vẻ sai lầm : 

“Khi tất cả ánh sáng và tất cả vẻ đẹp bên trong lộ ra bên ngoài,

Điều này loan báo một đời sống thất vọng lâu dài và suốt một cuộc đời”

anh hoa  là một từ ngữ đến từ  Che King,   Ta ya,  Haou lou  <Hạn lộc>  <chân đồi, lưỡi cầy>  diễn tả vẻ đẹp bên ngoài..  Từ ngữ có nguồn gốc canh nông ;  anh  là những nụ sẽ nở và phát triển thành  hoa

[64] Nguyễn Giang,  Le Problème  <La Rvue Indochinoise,  Số 37,  26 tháng 7/1937>

[65] Nguyễn Giang,  đã nói ở trên,  tr.25

[66] Wagner,  Histoire des croyances religieuses  <Lịch sử những tín ngưỡng tôn giáo>,  tr.19

[67] idem,  tr. 14

[68] Nam Phong,  quyển  III,  tháng 7 – tháng 12 / 1918, tr.118 

[69] China Review,  XIII,  Số 1,  tr. 59

[70] Cao Hữu Tạo,  Bàn về Truyện Kiều,  Nam Phong,  Số 106,  những đoạn kể lại cảm tưởng về  Kiều  trong nhật ký của một cô giáo việt-nam

[71] Nguyễn Giang, bài đã nói tới,  tr. 30

[72] Nguyễn Giang, y như vậy, tr. 30

[73] Lượng cả :  “đo lường những việc to lớn đối với tinh thần”  người có những cái nhìn rộng lớn và rộng lượng,  người có tinh thần cao cả và hào hiệp

[74] Bao dung :  “bao trong một cái túi,  một phong bì ;  bế con trong ngực mình;  đau khổ,  chịu đựng,  nhịn nhục”

[75] Tấn-dương :  trong vùng Chan-si.  Người Rợ Lieou Kao Tche Yuan  <Lưu Cao Trí viễn>  thành lập triều đại nhà  Heou Tsin  <947-950>.  Hoàng đế  Kao-Tsou nhà Đường  <618-907>  cũng tự phong hoàng đế tại Tân-Dương

[76] LXV, tr.14

[77] Bản văn  của Vĩnh :  bấy  thay vì là  mấy

[78] Bản văn của Vĩnh :  quyết  thay vì là  lánh

[79] Túc  <tiếng tầu : sou>  “thuộc về đời sống xưa, ngay trước đây”

[80] Tương đương với  tạo hóa  “artifex mundi”  <ghi chú EFEO 1997>

[81] Bản thảo bằng  nôm  mã số AB. 12  cho hai câu thơ khác nhau :  Hóa nhi thiệt có nỡ lòng.  Làm chi dầy tía vò hồng lắm nao  <ghi chú  EFEO  1997>

[82] Cho phép ; khoan dung, câu có nghĩa  nhân,  cách phát âm  nỡ ,  nỡ lòng ; có đủ can đảm để làm một việc. “có can đảm để,  dám làm”

[83] “Lấy chân chà đạp”

[84] Nao   <xem :  nào>   “bối rối, nghèo khổ,  khó khăn”

[85] LXXV :     Khéo vô duyên mấy là mình với ta

                     Đã đành duyên trước chẳng mà 

[86] Kalpa,  kiệp ;  trong ngôn ngữ phật giáo  chỉ định thời gian dài của một đời sống thế giới.  Tiếng việt-nam có nghĩa là  “kiếp sống,  đừi sống”

[87] Karma,   Kaman  dịch nghĩa là   Nghiệp  “hành động,  công việc,  bổn phận đạo nghĩa” ;  kế đó  “sản phẩm,  kết quả”.  Karma  là những hành động liên quan tới những hình thức nối tiếp nhau của sự luân hồi

[88] Nam Phong,  số 112,  tháng chạp  1926 ; tr. 540

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s