Thành Cát Tư Hãn và đế quốc Mông Cổ trong quá trình giao lưu văn hoá

1

Nguyễn Tuấn Hùng

Trong quá trình hình thành và phát triển dù là của một nền văn minh lớn hay nhỏ; là một quốc gia thì cũng không thể thiếu đi việc phải giao lưu với các thế lực bên ngoài. Các thế lực sẽ không được đánh giá là có ảnh hưởng xấu hay tốt đến nền văn bản địa nhưng trên hết cũng chứng minh một luận điểm rằng mỗi quốc gia, mỗi vùng đất không phải chỉ có việc giữ gìn và phát huy truyền thống của vùng đó mà nó còn à công cuộc vươn ra bên ngoài để học hỏi những điều tốt đẹp hơn. Hay trên một tầm vĩ mô hơn là công cuộc truyền bá  nền văn minh của mình ra bên ngoài, loa tỏa sức ảnh hưởng đến các vùng đất, quốc gia khác nhau.

Nhìn về một thời kỳ lịch sử, không một quốc gia hay vùng đất nào chỉ có thể tồn tại độc lập. Sự ảnh hưởng dù ít dù nhiều cũng đã góp phần vào công cuộc giao lưu, tiếp xúc văn hóa khởi ban. Chính công cuộc lan tỏa các giá trị văn hóa của mình ra bên ngoài, không nói đến việc là sử dụng cách thức hay con đường gì thì nó đã tạo những tiền đề ban đầu cho sự tiếp xúc giữa các nền văn hóa hay văn mình; hoặc ở đây là sự giao lưu, tiếp xúc văn hóa giữa Phương Đông và Phương Tây.

Trong quá trình đó, Thành Cát Tư Hãn nổi lên với vai trò như một nhà truyền bá văn hóa thực thụ và những người kế tục ông cùng với đế quốc hùng mạnh nhất Châu Á lúc bấy giờ là Mông Cổ đã lan tỏa văn hóa, những giá trị của họ đến những vùng đất rộng lớn. Hay vai trò của ông còn được các nhà nghiên cứu thời nay đánh giá như là một người đã góp phần vào “sự hình thành thế giới hiện đại”

1. Một số vấn đề chung 

1.1 Thuật ngữ giao lưu văn hóa và tiếp xúc văn hóa

Mỗi quốc gia, mỗi tộc người trong lịch sử hình thành và phát triển của mình ở những khoảng thời gian khác nhau, địa điểm khác nhau, điều kiện địa lý, kinh tế khác nhau đều tạo ra cho mình một nền văn hóa để thích nghi được với trình độ phát triển của nó. Cùng với thời gian chính chúng ta- chủ nhân của nền văn hóa bản địa đó đã tiếp nhận một cách có ý thức hay không có ý thức những nền văn hóa khác, không kể là văn hóa lớn hay nhỏ, giàu hay hèn. Dù muốn hay không thì công cuộc giao lưu văn hóa luôn diễn ra trong suốt tiến trình lịch sử của một dân tộc, đất nước, tộc người.

Giao lưu văn hóa được hiểu như là sự di chuyển, chuyển đổi qua lại giữa những nền văn hóa, có thể giữa quốc gia này với quốc gia khác, giữa tộc người này với tộc người khác, hay giữa châu lục này với châu lục khác. Hay phải chăng giao lưu văn hóa là sự tiếp thu, tiếp nhận những đặc điểm, những nét cơ bản từ một trạng thái văn hóa ngoại sinh, trong khi vẫn giữ lại được những đặc điểm, trạng thái của văn hóa nội sinh với một phương thức, hình dạng, đặc thù phát triển hơn.

Thuật ngữ tiếp xúc văn hóa (cultural contests) được sử dụng để chỉ sự va chạm vào nhau của các nền văn hóa khi được đặt cạnh nhau.

Thuật ngữ giao lưu văn hóa (cultural exchanges) được sử dụng để chỉ sự trao đổi, đan xen, chia sẻ giữa các nền văn hóa sau khi tiếp xúc với nhau.

Thuật ngữ tiếp biến văn hóa là một thuật ngữ kép, được sử dụng để chỉ sự tiếp thu rồi biến đổi những yếu tố văn hóa trong quá trình tiếp xúc, giao lưu của một nền văn hóa này với một nền văn hóa khác. “Acculturation” là thuật ngữ được phương Tây sử dụng để mô tả hiện tượng này và nó được hiểu là tiếp biến văn hóa

Giao lưu văn hóa làm cho những cộng đồng, những quốc gia dân tộc đóng kín trở thành những hệ thống mở, đã mở trở nên ngày càng mở hơn. Theo lý thuyết hệ thống, một hệ thống.vật chất nếu đóng kín sẽ nhanh chóng tiến đến hỗn loạn do không thể trao đổi vật chất, năng lượng và thông tin cần thiết với bên ngoài để duy trì cấu trúc hoặc những hoạt động chức năng bình thường, và vì vậy cũng khó thực hiện những hoạt động ứng phó cần thiết trước những tác động bất lợi từ phía thiên nhiên hoặc từ bên ngoài.

Có nhiều điều kiện góp phần vào công cuộc giao lưu văn hóa có thể diễn ra dễ dàng hơn. Song, có thể nói đến là vị trí địa lý- điều kiện quan trọng tác động sâu sắc đến quá trình giao lưu văn hóa. Khái quát lên, nhận thấy được những sự tiếp xúc đầu tiên đơn thuần chỉ là những sự giao tiếp giữa những tộc người khác nhau nhưng theo thời gian, đây lại là điều kiện, tiền đề quan trọng để tạo ra sự tiếp xúc cũng như giao lưu văn hóa; cùng với đó là công cuộc tiếp biến văn hóa.

1.2 Con đường và đặc điểm giao lưu, tiếp xúc văn hóa Đông Tây của Thành Cát Tư Hãn và Đế quốc Mông Cổ

Trong lịch sử thế giới, có nhiều hình thức để có thể lan tỏa và truyên đi văn minh, sức ảnh hưởng của mình đến những dân tộc, vùng đất khác. Song, con đường chiến tranh vẫn là một trong những con đường đặc trưng khi nhắc đến giao lưu, tiếp xúc văn hóa. Qua các cuộc chiến tranh, không chỉ có người thắng kẻ thua, mà đó còn là công cuộc mang văn hóa đi truyền bá; mặc dù không phải quốc gia nào cũng thành công trong việc này, nhưng hầu hết dù ít dù nhiều thì công cuộc giao lưu, tiếp xúc văn hóa qua các cuộc chiến tranh là điều mà chúng ta cần khẳng định. Tiến trình thời đại đã cho thấy từng có hàng loạt các cuộc chinh phạt lớn, mà qua đó vai trò của họ cũng được đánh giá như là những người truyền bá văn hóa thực thụ. Có thể nhắc đến cuộc chiến tranh lớn nhất và rộng nhất thời kỳ cổ đại do Alexandros III của Macedonia (Alexandros đại đế) – một chiến lược gia quân sự vĩ đại nhất trong lịch sử – khởi xướng. Hay cuộc chiến lớn thứ hai ở Phương Tây thời trung đại là cuộc chiến của Thập tự quân hay Thập tự chinh.

 

Song, vì đề tài có hạn nên chúng tôi lấy một  cuộc chiến có qui mô cực lớn và trải dài từ  Đông  sang  Tây  là cuộc chiến  được thực hiện bởi Đế quốc Mông Cổ. Đế quốc này xuất hiện khi các bộ lạc Mông Cổ và Đột Quyết thống nhất dưới quyền lãnh đạo của Thành Cát Tư Hãn năm 1206. Dưới sự  lãnh đạo của ông, đế quốc này đã tiến hành các cuộc xâm lược theo mọi hướng, thôn tính liên lục địa rộng lớn, kết nối  phương  Đông  và phương  Tây, thực  thi  hòa bình kiểu Mông Cổ, cho phép mậu dịch, công nghệ,  hàng  hóa và  phổ biến  tri thức. Tuy nhiên, do lúc này, chế độ phong  kiến ở phương  Đông đã định hình và phương Tây đang rơi vào tình trạng bất ổn vì các cuộc thập tự chinh nên tầm ảnh hưởng về văn hóa của đế quốc Nguyên.

2. Sơ lược lịch sử về Thành Cát Tư Hãn và Đế quốc Mông Cổ

2.1 Thành Cát Tư Hãn

1

Thành Cát Tư Hãn

Thành Cát Tư Hãn là một Khả hãn Mông Cổ và là người sáng lập ra Đế quốc Mông Cổ sau khi hợp nhất các bộ lạc độc lập ở vùng đông bắc châu Á năm 1206.

Ông là một nhà quân sự lỗi lạc và quan trọng của lịch sử thế giới, ông được người Mông Cổ dành cho sự tôn trọng cao nhất, như là một vị lãnh đạo đã loại bỏ hàng thế kỷ của các cuộc giao tranh, mang lại sự thống nhất cho các bộ lạc Mông Cổ. Cháu nội của ông và là người kế tục sau này, Khả hãn Hốt Tất Liệt đã thiết lập ra triều đại Nhà Nguyên của Trung Quốc. Tháng 10 năm Chí Nguyên thứ 3 (1266), Hốt Tất Liệt đã truy tôn Thành Cát Tư Hãn miếu hiệu là Thái Tổ, nên ông còn được gọi là Nguyên Thái Tổ. Thụy hiệu khi đó truy tôn là Thánh Vũ Hoàng đế. Tới năm Chí Đại thứ 2 (1309), Nguyên Vũ Tông Hải Sơn gia thụy thành Pháp Thiên Khải Vận. Từ đó thụy hiệu của ông trở thành Pháp Thiên Khải Vận Thánh Vũ Hoàng đế.

Các cuộc chinh phạt của Thành Cát Tư Hãn trên khắp khu vực Á-Âu để bành trướng lãnh thổ đã đem lại sự thống nhất và phát triển giao lưu buôn bán, đồng thời ông cũng thi hành chính sách tự do tôn giáo, cho phép tín đồ mọi tôn giáo được tự do hành đạo. Tuy nhiên, Thành Cát Tư Hãn cũng nổi tiếng bởi sự tàn bạo với những người phản kháng. Thành Cát Tư Hãn bị nhiều dân tộc coi là hiện thân của sự tàn bạo, nhất là từ Trung Á, Đông Âu và Trung Đông (là những nơi đã từng bị quân đội Mông Cổ thảm sát hàng loạt). Theo một số ước tính, đội quân của Thành Cát Tư Hãn đã giết hơn 40 triệu người tại các lãnh thổ mà họ xâm chiếm

2

        Bản đồ thể hiện những cuộc hành quân lớn trong đời Thành Cát Tư Hãn.

Thành Cát Tư Hãn có sáu người vợ Mông Cổ và không biết bao nhiêu là vương phi người các nước khác, con cái đông vô kể. Trước khi chết, ông đã định rằng sẽ nối nghiệp mình chỉ là bốn người con trai của người vợ cả Mông Cổ tên là Borte, cưới nhau khi bà này mới 14 tuổi. Đế quốc của ông được chia ra làm bốn, ba hãn quốc ở phương tây và một đại hãn quốc ở phương đông bao gồm đất khởi nguyên Mông Cổ và vùng Đông Bắc Á phần cho người con thứ ba mà ông cho là tài giỏi hơn cả. Con cháu Thành Cát Tư Hãn tiếp tục mở rộng đế quốc Mông Cổ.

Năm 1209, Thành Cát Tư Hãn bắt đầu xuất quân. Những cuộc hành quân của ông có thể được chia làm ba giai đoạn: giai đoạn thứ nhất 6 năm (1209-1215) đánh Đông Bắc Á, giai đoạn thứ nhì 7 năm (1218-1225) đánh Trung Á, Tây Nam Á và Đông Âu, giai đoạn thứ ba 2 năm (1226-1227) đánh tiếp Đông  Bắc Á. Sau khi Thành Cát Tư Hãn mất, quân Mông Cổ lại kéo nhau sang hướng tây, chiếm đóng các nước mà ông đã đánh bại trong bảy năm viễn chinh trước kia (1218-1225). Rồi các con ông, các cháu ông mở mang thêm bờ cõi để tạo ra một đế quốc rộng lớn chưa từng có. Đế quốc đó gồm ba hãn quốc ở phương tây và một đại hãn quốc ở phương đông.

2.2 Đế quốc Mông Cổ

Đế quốc Mông Cổ là đế quốc du mục lớn nhất trong lịch sử, từng tồn tại trong các thế kỷ 13 và 14. Khởi đầu trên vùng thảo nguyên Trung Á, đế quốc cuối cùng đã trải dài từ Đông Âu đến biển Nhật Bản, bao gồm nhiều phần rộng lớn của Siberi ở phía bắc và mở rộng về phía nam đến Đông Nam Átiểu lục địa Ấn Độcao nguyên Iran, và Trung Đông. Ở thời điểm đỉnh cao, đế quốc Mông Cổ trải dài 9.700 km (6.000 mi), diện tích lãnh thổ lên tới 24.000.000 km2 (9.300.000 dặm vuông Anh), và thống trị 100 triệu dân.

4

Cương vực lãnh thổ Đế quốc Mông Cổ vào năm 1279.

Đế quốc Mông Cổ xuất hiện khi các bộ lạc Mông Cổ và Đột Quyết trên khu vực Mông Cổ lịch sử thống nhất đưới quyền lãnh đạo của Thành Cát Tư Hãn. Thành Cát Tư Hãn đã được tuyên bố là người cai trị của toàn thể người Mông Cổ vào năm 1206. Đế quốc phát triển nhanh chóng dưới quyền cai trị của ông cùng các hậu duệ về sau này, họ đã tiến hành các cuộc xâm lược theo mọi hướng. Đế quốc liên lục địa rộng lớn này đã kết nối phương Đông và phương Tây với việc thi hành hòa bình kiểu Mông Cổ, cho phép mậu dịch, công nghệ, hàng hóa, ý thức hệ trở nên phổ biến và được trao đổi khắp lục địa Á-Âu

Vào thời điểm Hốt Tất Liệt băng hà năm 1294, Đế quốc Mông Cổ đã bị tan vỡ thành bốn hãn quốc hay đế quốc riêng biệt, mỗi một hãn quốc lại theo đuổi lợi ích và mục tiêu riêng của mình: Hãn quốc Kim Trướng ở phía Tây Bắc, Hãn quốc Sát Hợp Đài ở Trung Á, Hãn quốc Y Nhi ở phía Tây Nam, và triều Nguyên ở khu vực Đông Á tương đương Trung Quốc ngày nay. Nhà Nguyên định đô tại khu vực Bắc Kinh ngày nay. Năm 1304, ba hãn quốc phía tây trong một thời gian ngắn đã chấp nhận quyền bá chủ của triều Nguyên, song đến khi triều đại này bị triều Minh của người Hán lật đổ vào năm 1368, đế quốc Mông Cổ đã chính thức tan rã.

Năm 1271, Hốt Tất Liệt đã tuyên bố thành lập nhà Nguyên. Nhưng sử Trung Hoa chỉ công nhận nhà này từ năm 1280 là năm nhà Tống không còn cầm quyền nữa đến năm 1368 là năm người Mông Cổ bị đuổi khỏi Trung Hoa, dài 88 năm, gồm 11 đời vua, kể từ Nguyên Thế Tổ Hốt Tất Liệt. Triều đại Mông Cổ cai trị đại hãn quốc ở phương đông xưng là nhà Nguyên (1280-1368). Nhà này, dưới đời đại hãn Hốt Tất Liệt (1259-1294), nhiều lần định mở mang thêm bờ cõi, nhưng đều thất bại. Những đời đại hãn sau Hốt Tất Liệt đành bằng lòng với việc cai trị người Tàu, hưởng thụ sự sang giàu của nước Tàu, không nghĩ đến việc chinh chiến nữa. Rồi các đại hãn càng về đời sau càng hèn kém.

3. Vai trò của Thành Cát Tư Hãn và đế quốc Mông Cổ trong quá trình giao lưu tiếp xúc văn hóa Đông Tây

Với khả năng chinh phục bậc nhất của mình, Thành Cát Tư Hãn và đế quốc Mông Cổ đã thiết lập trên một phạm vi rộng lớn, kéo dài lãnh thổ từ Đông sang Tây, nối liền các quốc gia bằng một nền văn hóa du mục của mình. Vai trò của họ như một kẻ đã góp phần hình thành nên thế giới hiện đại; kiến tạo nên những quốc gia mới. Nhưng trên hết, với sự thống lĩnh của Thành Cát Tư Hãn và đế quốc Mông Cổ, lục địa Á-Âu được nối liền với nhau, vì thế mà cầu nối văn hóa Đông Tây cũng trở nên gần lại với nhau giúp cho công cuộc giao lưu tiếp xúc văn hóa trở nên dễ dàng, ít gặp trở ngại và khó khăn. Những giá trị cốt lõi của cả Đông phương và Tây phương cũng theo đó mà trở nên gần gũi với nhau; hệ giá trị được học hỏi nhau, góp phần định hình phong cách văn hóa của nhau.

Tại đại lục Âu – Á, trước sau hình thành 4 nước đại Hãn, chính là Kim Trướng Hãn quốc, Sát Hợp Thai Hãn quốc, Oa Khoát Thai Hãn quốc và Y Nhi Hãn quốc. Đế quốc Mông Cổ có bản đồ to lớn như vậy có thể nói xưa nay chưa có ai làm được. Theo tư liệu lịch sử ghi lại, lúc đó bản đồ trải rộng tới 30 triệu km2, hơn gấp ba lần bản đồ Trung Quốc hiện tại. Đã có 4 hãn quốc bao gồm 3 ở Phương Tây (Hãn quốc Sát Hợp Đài ở Trung Á tồn tại trong 140 năm; Hãn quốc Y Nhi ở Tây Nam Á tồn tại được 113 năm; Hãn quốc Khâm Sát ở Đông Âu tồn tại được 250 năm, lâu nhất trong 4 hãn quốc) và nhà Nguyên ở Phương Đông (nhưng sử Trung Hoa chỉ công nhận nhà này từ năm 1280 là năm nhà Tống không còn cầm quyền nữa đến năm 1368 là năm người Mông Cổ bị đuổi khỏi Trung Hoa, dài 88 năm bao gồm 11 đời vua, kể từ Nguyên Thế Tổ Hốt Tất Liệt).

Vào thời cực thịnh, Đế chế Mông Cổ đạt tới diện tích lớn nhất trong lịch sử loài người, trải dài từ Đông Nam Á tới châu Âu trên một diện tích 35 triệu km vuông (13,8 triệu dặm vuông). Theo một số nguồn, đế chế này chiếm tới gần 50% dân số thế giới và bao gồm các dân tộc đông dân và văn minh nhất thời kỳ đó như Trung Quốc và phần lớn các quốc gia của thế giới Hồi giáo ở IraqBa Tư và Tiểu Á. Các hậu duệ của ông đã mở rộng quốc gia của ông rộng hơn về phía nam Trung QuốcNgaIraqTriều Tiên và Tây Tạng. Người Mông Cổ cuối cùng đã xâm chiếm Ba Lan và Hungary dưới triều đại của Hãn vương Bạt Đô nhưng hoàn toàn thất bại trong các cuộc xâm lược đối với SyriaNhật Bản và Việt Nam 

Thành Cát Tư Hãn chính là “nhà quân sự thực tiễn bách chiến bách thắng”. Cả đời ông đã tham gia hơn 60 trận chiến mà không có lần nào thất bại. Ở Thành Cát Tư Hãn, mỗi lần va chạm tất chiến đấu, mỗi lần chiến đấu tất chiến thắng. Thành Cát Tư Hãn chinh chiến về phương Tây không chỉ mang theo quân đội của phương Đông, cũng mang theo văn hóa phương Đông, hỏa dược, thuật in ấn, la bàn,… các văn minh Trung Nguyên cũng theo đó mà truyền về phương Tây.

Ngày 31/12/1995, tờ báo Washington của Mỹ công bố nhân vật quan trọng của thiên niên kỷ (Man of the Millennium) chính là Thành Cát Tư Hãn. Thành Cát Tư Hãn với tầm nhìn “toàn cầu hóa” đã thành lập vòng thương mại tự do liên lục địa Âu – Á. Vào hơn 700 năm trước khi mạng Internet còn chưa xuất hiện, Thành Cát Tư Hãn đã mở ra con đường giao lưu trao đổi tin tức toàn cầu. Ông là vĩ nhân đã đưa các nước trên thế giới nối lại gần hơn.

Đại quân Mông Cổ lần thứ nhất Tây chinh, đến sông Grand Morin ở phương Tây. Trong vòng 1 tháng, đại quân đã tạo ra trên trăm con thuyền, bình yên vượt qua sông Grand Morin. Vào thời Trung Quốc cổ đại, kỹ thuật chế tạo thuyền gồm 3 linh kiện lớn, bánh lái, kết cấu khoang bên trong và thiết bị rẻ quạt. Đại quân Tây chinh đem kỹ thuật tạo thuyền Trung Quốc lọt vào châu Âu, tạo thuận lợi cho thời kỳ “Đại hàng hải” ở châu Âu vào thế kỷ 15.

Người Mông Cổ giúp cho phần lớn châu Á biết đến bàn tính và la bàn cũng như cho châu Âu biết đến thuốc súng và thuốc nổ (phát minh bởi người Trung Quốc) và các công cụ phục vụ chiến tranh vây hãm mà người Trung Quốc đã phát triển để đối phó với người châu Âu.

La bàn cũng đặt ra nền móng cho sự nghiệp hàng hải sau này, về sau góp phần mở ra thời kỳ “Đại hàng hải”, các quốc gia tiến hành mậu dịch quốc tế, dần dần giúp cho việc giao lưu tin tức được toàn cầu hóa.

Vào cuối thế kỷ XIII, trong quá trình tấn công Trung Quốc, người Mông Cổ đã học được cách làm thuốc súng của Trung Quốc. Sau đó, người Mông Cổ chinh phục Tây Á, do đó đã truyền thuốc súng sang Ảrập. Sau đó người Ảrập lại truyền thuốc súng và súng vào Châu Âu thông qua con đường Tây Ban Nha. Từ khi phát hiện ra thuốc súng, nó vẫn là một độc quyền của người Trung Hoa cho đến tận thế kỷ 13. Thông qua Con đường Tơ lụa huyền thoại, thuốc súng mới được vận chuyển đến các nước châu Âu và thế giới các nước Hồi giáo, nơi trở thành nhân tố quyết định trong nhiều cuộc giao dịch thời kỳ Trung đại. So với các mặt hàng thông thường khác, vũ khí là một mặt hàng hết sức đặc biệt. Không chỉ bởi hữu ích trong chiến tranh mà còn bởi nguồn lợi do vũ khí mang lại. Bằng việc kinh doanh vũ khí, người ta có thể giàu lên nhanh chóng và không sợ bị “tồn” hàng.

3

            Súng cầm tay bằng đồng của triều Nguyên

Văn hóa, tôn giáo, kỹ thuật và thương phẩm mậu dịch đã xóa bỏ hàng rào giữa các châu lục, từ đó khiến việc giao lưu và lưu thông được an toàn. Đế quốc Mông Cổ kiến lập nên vùng tự do mậu dịch để đảm bảo cho sự thông thương hòa bình và tự do, cũng được gọi là hình thức ban đầu của thương mại toàn cầu hóa hiện nay. Chiếm đóng được một khu vực đất đai rộng lớn, ông đã khuyến khích thương nghiệp và trao đổi hàng hóa và người Mông Cổ nhận được hàng hóa và dịch vụ từ những người khác. Các thương nhân, giáo sĩ, đặc sứ có được đảm bảo sự an toàn và hướng dẫn cần thiết dưới đế chế Mông Cổ, ví dụ một số người trong số họ đã đến Trung Quốc như nhà du hành Giovanni da Pian del Carpini dưới thời Oa Khoát Đài hay nhà du hành người Ý Marco Polo tới Bắc Kinh dưới thời Hốt Tất Liệt, là những người đã viết sách về chuyến du hành của họ với độ đáng tin cậy cao. Dưới thời Thành Cát Tư Hãn, mọi “cá nhân và tôn giáo là bình đẳng trước pháp luật Mông Cổ”. Thương mại và du lịch trong lãnh thổ Trung Quốc, Trung Cận Đông và châu Âu được phát triển mạnh mẽ bởi sự ổn định chính trị nhất mà Đế chế Mông Cổ đã đem lại khi thiết lập lại Con đường tơ lụa. Ông giảm các hình phạt trong các khu vực của mình, miễn giảm thuế cho các lang y và thầy đồ, và thiết lập sự tự do tôn giáo

Thành Cát Tư Hãn đã có ảnh hưởng sâu rộng trong văn hóa của nhiều quốc gia châu Á, chủ yếu là Trung Quốc và Nga. Ông đã tiêu diệt tầng lớp quý tộc hiện thời trong các vùng lãnh thổ của mình, tạo ra tầng lớp trí thức thô sơ trong thời kỳ đó.

Ông cũng tạo ra hệ thống bưu chính rộng lớn và mở rộng sự phổ biến của việc sử dụng hệ thống chữ cái thế giới, mặc dù trong nhiều năm người ta vẫn tin rằng ông là người thất học vì sự xuất hiện gần đây của chữ viết cũng như tuổi tác của ông tại thời điểm thi hành điều đó. Tuy nhiên, gần đây theo các phát kiến của các nhà sử học Mông Cổ và Trung Quốc ta thấy ông là người có học thức cao. Các văn bản viết tay được cho là của ông cũng như nội dung của chúng cho thấy ông có thể đọc các bài thuyết pháp của Lão giáo. Trên toàn đế quốc, các con đường giao thương và một hệ thống thư tín có phạm vi rộng (yam) được thiết lập. Nhiều thương nhân, người đưa thư và khách lữ hành từ Trung Hoa, Trung Đông và châu Âu đã sử dụng hệ thống này.  Hệ thống yam[1] về sau được lặp lại ở Hoa Kỳ dưới hình thức Pony Express.

Thành Cát Tư Hãn và người kế vị ông là Oa Khoát Đài cũng tiến hành xây dựng các con đường, một trong số đó cắt qua dãy núi Altai[2]. Sau khi lên ngôi Đại Hãn, ông đã tổ chức hệ thống đường sá và ra lệnh cho Sát Hợp Đài hãn quốc và Kim Trướng Hãn quốc nối với các con đường ở phần tây của Đế quốc. Hốt Tất Liệt Hãn, người sáng lập triều Nguyên, đã xây dựng các trạm trung chuyển đặc biệt cho các đại thần cấp cao, cũng như các trạm bình thường có lữ quán[3]. Ở Mãn Châu và nam Siberia, người Mông Cổ vẫn sử dụng các đội xe trượt tuyết do chó kéo cho hệ thống Yam. Ở Y Nhi hãn quốc, Hợp Tán đã khôi phục lại hệ thống trung chuyển đang suy tàn ở vùng Trung Đông trên một phạm vi giới hạn. Ông đã xây dựng một số lữ quán và ban lệnh rằng chỉ có những sứ thần đế quốc mới được nhận lương để trang trải chi phí. Dòng Truật Xích ở Kim Trướng hãn quốc đã cấp tiền cho hệ thống yam nhờ vào một loại thuế đặc biệt.

Thành Cát Tư Hãn cũng cho tạo ra một quốc ấn, khuyến khích việc sử dụng chữ cái Mông Cổ, và miễn thuế cho các giáo viên, luật gia, và các nghệ sĩ, mặc dù tất cả các đối tượng khác của đế quốc bị đánh thuế nặng.  

Dưới thời Thành Cát Tư Hãn, hầu như mọi tôn giáo đều có những người cải đạo, từ Phật giáo tới Cơ-đốc giáo, và từ Minh giáo tới Hồi giáo. Để tránh xung đột, Thành Cát Tư Hãn thành lập một thể chế để đảm bảo tự do tôn giáo hoàn toàn, mặc dù bản thân ông là người theo Shaman giáo (Vu-hích-tông giáo). Dưới sự cai trị của ông, tất cả các lãnh đạo tôn giáo đều được miễn thuế, và không phải trả các dịch vụ công cộng.

Người Mông cổ thường tha mạng cho những học giả nổi tiếng, những người mà họ sử dụng như những cố vấn; và các thợ thủ công với những kỹ năng đặc biệt hữu ích. Đây cũng là một vai trò của Thành Cát Tư Hãn và Mông Cổ trong việc thúc đẩy giao lưu tiếp xúc văn hóa, mặc dù không có tính nhân đạo khi giết người dân bình thưởng, buôn bán họ thành nô lệ nhưng thành phần có vị trí cao trong xã hội vẫn được trọng dụng và gián tiếp họ đã truyền những giá trị của họ đến với Mông Cổ.

Những chiến thắng của Thành Cát Tư Hãn còn có vai trò vào công cuộc thúc đẩy khoảng 10 nghìn kỵ sĩ người Thổ vào các đạo quân của mình.

Khi các dân tộc bị ông chinh phục đã thần phục, ông rất quan tâm đến nghệ thuật và học thuật của dân tộc đó, mặc dù ông từ chối sống trong các thành phố của họ. Ông thiết lập kinh đô mới ở Karakorum trên thảo nguyên và triệu tập những bậc hiền tài từ mọi vùng của đế quốc xây cung điện tráng lệ với những cây cột thép vàng- nơi mà ông sống với những người vợ và những cố vấn thân cận nhất.

Ở Karakorum, ông hỏi ý kiến các học giả Khổng giảng cách để cai trị Trung Quốc; hỏi những kỹ sư Hồi giáo về cách xây dựng những vũ khí hãm thành và cải thiện mậu dịch với những vùng đất xa hơn ở phía Tây.

Một mạng lưới quản trị dựa vào lời khuyên và tài năng của các quan lại của cả Hồi giáo và Trung Quốc đã được đặt ra. Một chức thư ký ngôn ngữ Mông Cổ được đặt ra để dễ dàng cho việc ghi lại sổ sách và chuẩn hóa các luật lệ.

Thành Cát Tư Hãn và những người kế tục ông đã thúc đây tích cực phát triển của mậu dịch và khách lữ hành bằng cách bảo vệ cho những đoàn buôn thực hiện hành trình trên những con đường tơ lụa của Châu Á. Họ cũng thiết lập những trạm nghỉ cho các thương nhân mệt mỏi và các tiền đồn để chống lại những băng cướp quấy phá. Tạo tiền đề cho việc xây dựng một đường dẫn khổng lồ giữa các nền văn minh Châu Âu, Trung Đông với phần còn lại của Châu Á.  

Căn cứ theo nghiên cứu của Jack Weatherford, Thành Cát Tư Hãn đã kiến lập nên một số bộ khung quan trọng cho thế giới hiện đại, trong đó bao gồm quy tắc công pháp quốc tế, thương mại toàn cầu, chuyên môn hóa chiến đấu,…

Trên thực tế, thời đại Mông Cổ chính là thời đại đầu tiên của toàn cầu hóa. Đế quốc Mông Cổ đã hiện thực hóa nền chính trị thế tục (không tôn giáo), trước pháp luật không xem trọng địa vị tiền tài, tự do thương mại, cộng hưởng tri thức, dung hòa tôn giáo, được miễn quyền ngoại giao; công pháp quốc tế, hệ thống bưu chính quốc tế,… đã cấu thành nên nền tảng trụ cột cho thế giới cận đại.

Với tầm nhìn của Jack Weatherford, Thành Cát Tư Hãn đã dùng hình thức đế quốc mà kiến tạo nên thế kỷ hòa bình, nền văn minh châu Âu thời cận đại trên thực tế được lợi ích từ sự chinh phục của Mông Cổ: “Cuộc sống người dân châu Âu trên mỗi phương diện – khoa học kỹ thuật, chiến tranh, y phục, thương nghiệp, ẩm thực, văn nghệ, văn học và âm nhạc – đều chịu ảnh hưởng của người Mông Cổ xưa mà phát sinh cải biến trong thời kỳ Phục Hưng”.

Có học giả cho rằng: “Toàn cầu hóa là khởi nguồn từ ‘Đại thống nhất’ thế giới của Thành Cát Tư Hãn“, Thành Cát Tư Hãn là người đầu tiên trên thế giới sáng lập ra toàn cầu hóa. Hoàn cảnh “Đại thống nhất” đã cải biến bố cục và phương hướng phát triển của thế giới đương thời, hình thành nên “sự ra đời của thế giới hôm nay”.

Sự tiếp xúc với người Mông Cổ đã dẫn đến những thay đổi trong tổ chức quân sự và chiến thuật của người Nga và trong phong cách chính trị của các nhà cai trị Nga. Theo một khía cạnh nào đó, người Mông Cổ có thể đã ảnh hưởng đến mong muốn của các quân vương Nga để tập trung hóa quyền kiểm soát của mình và giảm những giới hạn mà giới quý tộc địa chủ, giáo sĩ và các thương nhân giàu có đặt vào quyền lực của mình. Hay những tác động lớn nhất từ sự cai trị của người Mông Cổ là những tác động do sự tác biệt của Nga khỏi những vùng đất Kito giáo xa hơn về phía Tây gây ra.

Người Mông cổ đã bảo vệ nước Nga bị phân chia và yếu ớt khỏi những cuộc tấn công của những vương quốc hùng mạnh hơn nhiều như Ba Lan, Lithuarnia và Hungary. Trong thời gian này, nước Nga bị cắt rời khỏi những chuyển biến quan trọng ở Tây Âu, vốn đã tạo cảm hứng cho phong trào phục hưng và sau cùng là cải cách.

Phụ nữ MC vẫn còn tách biệt khỏi văn hóa TQ. Họ từ chối thích ứng tập quán bó chân của phụ nữ TQ. Họ giữ lại các quyền về tài sản và quyền kiểm soát trong gia đình cũng như có quyền tự do đi lại quanh thị trấn và miền quê. Một ví dụ điển hình nhất là việc những phụ nữa MC đương thời cưỡi ngựa săn bắn với chồng họ và ở hàng đầu của những toán đi săn của riêng họ. Con gái của một trong những người anh em họ của HTL đã ra trận và từ chối thành hôn với một trong số những người theo đuổi mình, cho đến khi anh này có thể vật ngã cô trong một trận đấu vật.

Sự ảnh hưởng của phụ nữ MC được kéo dài, minh họa điển hình bởi Chabi- vợ của HTL. Bà là một trong những người trung thành thân tín nhất của ông về chính trị – ngoại giao, bà quan tâm đến sự thúc đẩy Phật giáo trong những nhóm người cao nhất của chính quyền. Bà đóng vai trò quan trọng trong việc tăng cường những chính sách nhằm hòa hợp với dân số thuộc chủng tộc TQ – vốn chiếm đa số của đế quốc mà người MC cai trị. Bà thuyết phục HTL rằng việc đối xử khắt khe với những người còn sống sót của chính quyền hoàng gia nhà Tống sẽ làm nhân dân bắc TQ oán hận và khiến họ khó cai trị.

5

Chabi – người vợ nhiệt huyết và có ảnh hưởng nhất của Hãn vương Hốt Tất Liệt

Sự bảo trợ hào phóng của HTL và người vợ Chabi của ông đã thu hút các học giả, nghệ sĩ, thợ thủ công và những người tìm kiếm chức tước từ khắn những vùng đất đến với triều đình hoành tráng nhà Nguyên. Một số người nổi tiếng từ những vương quốc Hồi giáo đến phương Đông  và đã chịu sự cai quản của người MC. Người Ba Tư và Thổ Nhĩ Kỳ được chấp nhận vào vòng trong của những nhà quản trị và cố vấn của HTL. Người Hồi giáo đã giám sát và thiết kế việc xây dựng hoàng cung theo phong cách của TQ và đề xuất những hệ thống thu thuế mới. Các nhà thiên văn người Ba Tư đã du nhập những công cụ tiên tiến nhất của Trung Đông để quan sát thiên thể, đã điều chỉnh lịch TQ và thực hiện một số bản đồ chính xác nhất mà người TQ đã từng thấy. Các bác sĩ Hồi giáo đã điều hành những bệnh viện của đế quốc, đã dịch bổ sung 36 quyển về y học Hồi giáo vào thư viện hoàng gia.

Ông có tương đồng với ông nội mình là TCTH khi quan tâm đến tất cả các quan hệ với các tôn giáo và nhấn mạnh sự dung nạp vào đế quốc của mình. Ngoài Hồi giáo thì các tôn giáo khác như Phật giáo, giáo phái Kito giáo Nestorius, Đạo giáo và Kito giáo Latinh đều tìm đường đến với triều đình. Trong đó, sự kiện nổi bật trong những người Công giáo La Mã là thành viên gia đình của Marco Polo từ Venice ở Bắc Ý, họ đã du hành rất nhiều trong đế quốc MC vào thế kỷ XIII. Những ghi chép của Marco Polo về sự giàu có của HTL đã thúc đẩy người Châu Âu đến với Châu Á; tạo cảm hứng cho những nỗ lực của những nhà hàng hải như Columbus để tìm ra một hải trình đến với những vùng đất hoang đường này.

Hốt Tất Liệt đã đi những bước dài trong việc tăng cường vị trí của các tầng lớp thợ thủ công – những người chưa bao giờ được hưởng địa vị cao và các thương nhân – những người mà tư tưởng Khổng giáo từ lâu đã cho rằng là những thành phần ký sinh. Từ ban đầu, HTL đã quan tâm đến những người thợ thủ công vì đây là những người có kỹ năng hữu dụng, trong khi đồng hương của họ thì bị giết chết trong những cuộc chinh phạt. 

Những thành tựu văn hóa chính là sự phát triển của kịch và tiểu thuyết cùng sự gia tăng sử dụng tiếng địa phương. Vì sự cai trị trên toàn vùng Trung Á đã được thống nhất, thương mại giữa Đông và Tây gia tăng mạnh mẽ. Các mối liên hệ rộng lớn của Mông Cổ với Tây Á và châu Âu khiến việc trao đổi văn hóa diễn ra ở mức độ rất cao.

Các nhạc cụ phương Tây xuất hiện và làm phong phú thêm cho các môn nghệ thuật biểu diễn Trung Quốc. Từ giai đoạn này số người theo Hồi giáo ở tây bắc và tây nam Trung Quốc ngày càng gia tăng. Cảnh giáo và Công giáo La Mã, hai nhánh của Kitô giáo, cũng trải qua một giai đoạn thanh bình.

 Phật giáo Tây Tạng phát triển, dù Đạo giáo trong nước bị người Mông Cổ ngược đãi. Các hoạt động triều đình và các kỳ thi dựa trên các tác phẩm kinh điển Khổng giáo, vốn đã bị bãi bỏ ở miền bắc Trung Quốc trong giai đoạn chia rẽ, được người Mông Cổ tái lập với hy vọng giữ được trật tự xã hội như ở thời Hán. Hốt Tất Liệt thiết lập những kỳ thi tuyển chọn cho các chức vụ  quản lý đã ngăn chặn các học giả Khổng giáo chi phối chính trị. Sự ưu ái mà ông đặt riêng cho các quan lại MC và những người nước ngoài khác đã khiến cho giới học giả, quý tộc nhỏ càng trở nên xa lánh hơn.

Lĩnh vực du ký[4]bản đồ, và địa lý, cũng như giáo dục khoa học có bước phát triển so với trước đó. Một số phát minh quan trọng của Trung Quốc như thuốc súng, kỹ thuật in, sản xuất đồ sứ, bài lá và sách thuốc lan truyền sang châu Âu, trong khi kỹ thuật chế tạo đồ thủy tinh mỏng và cloisonné cũng trở nên phổ biến ở Trung Quốc.

 Ở thời Nhà Nguyên, Bắc Kinh trở thành điểm kết thúc của Đại Vận Hà, khi ấy đã được cải tạo toàn bộ. Những cải tiến cho mục đích thương mại đó thúc đẩy thương mại trong lục địa cũng như thương mại trên biển ra toàn Châu Á tạo điều kiện thuận lợi cho những tiếp xúc trực tiếp đầu tiên giữa Trung Quốc và châu Âu. Những nhà du lịch Trung Quốc tới phương Tây có thể giúp đỡ các kỹ thuật mới như cơ khí thủy lợi. Những tiếp xúc với phương Tây cũng khiến các loại lương thực chính khác du nhập vào Trung Quốc, như  cùng các sản phẩm lương thực từ bên ngoài khác và cách chế biến chúng.

 Hốt Tất Liệt

Hốt Tất Liệt thông qua một số luật lệ để phục vụ cho sự phân biệt giữa người Mông Cổ và Trung Quốc. Ông cấm học giả Trung Quốc học tiếng Mông Cổ, vốn được sử dụng cho những sổ sách và thư từ ở các cấp cao của chính quyền đế quốc. Người MC bị cấm kết hôn với chủng tộc TQ và chỉ có phụ nữ ở những gia đình du mục mới được tuyển chọn cho hậu cung của hoàng gia. Ngay cả tình bạn giữa hai dân tộc cũng không được khuyến khích và các lực lượng quân sự Mông Cổ vẫn tách riêng khỏi người TQ. Phong tục và nghi lễ tôn giáo của MC được giữ lại và một khi lều trại mang phong cách MC đã được dựng lên sau những thập niên hành quân vất vả giữa thế kỷ XIII.

Mặc dù người TQ vẫn muốn đồng hóa cư dân MC, nhưng những cư dân này đã sắp xếp để bảo tồn một nền văn hóa phân biệt và tính chất riêng biệt về xã hội. Nhưng từ lâu, ông đã bị hấp dẫn bởi nền văn hóa này. Ngay từ khi bắt đầu cuộc chinh phục nước Tống, ông đã nhóm lại quanh mình những cố vấn người Trung Quốc (trong đó một số là Phật giáo, một số khác là Đạo giáo hay Khổng giáo). Kinh đô của ông ở Dadu phía Bắc (nay là Bắc Kinh), đã được một số triều đại trước đặt. Ông đưa một số nghi thức và âm nhạc cổ điển TQ vào trong triều đình của mình. Ông cũng áp dụng lịch TQ cho đế quốc và cúng tế tổ tiên mình ở một đền thờ đặc biệt trong kinh thành.

Thương nhân và thương mại thời kỳ này cũng trở nên bùng phát nhờ sự nỗ lực của cư dân MC để cải thiện việc vận chuyển và mở rộng nguồn cung hàng hóa. Với tốc độ đáng kinh ngạc, người MC đã xây dựng một hải quân khá mạnh, giữ một vai trò quan trọng trong việc chinh phục nước Tống. Sau này, các lực lượng hải quân dùng để dẹp loạn hải tặc – những kẻ vốn đe dọa thương mại đường sông và hải ngoại.

4. Nhận xét chung

Những cuộc xâm lăng MC đã kết thúc hay làm gián đoạn nhiều đế quốc lớn của thời hậu cổ đại và cũng mở rộng mạng lưới thế giới vốn ngày càng xác định rõ thời kỳ này. Với tốc độ đáng kinh ngạc, cư dân MC đã chinh phục Trung Á, nam Trung Quốc và đông Ba Tư. Dưới thời Thành Cát Tư Hãn, những người con trai và cháu trai của ông, phần còn lại của Trung Quốc, Tây Tạng, Ba Tư, Iraq, phần lớn Tiểu Á và toàn bộ miền nam Nga đã được bổ sung vào đế quốc Mông Cổ.

Sự xâm nhập của họ ở vùng Châu Âu, Trung Quốc và trung tâm Hồi giáo đã đem lại những thay đổi lâu bền mà thường là có lợi. Họ đã truyền dạy những phương pháp mới để tiến hành chiến tranh và gây ấn tượng cho những địch thủ người Thổ và người Châu Âu về tính hiệu quả của thuốc súng. Các cuộc chinh phục của người MC đã đã tạo thuận lợi cho mậu dịch giữa các nền văn minh ở mỗi đầu của Á-Âu, tạo điều kiện cho sự trao đổi thực phẩm, công cụ và ý tưởng trên một quy mô chưa từng có. Những lộ trình được phục hồi đem đến sự giàu có cho các thương nhân, như những thương nhân từ Bắc Ý đã thiết lập những tiền đồn ở phía Đông Địa Trung Hải, dọc bờ Biển Đen và xa đến Caspian.

Mông Cổ đã mở Trung Quốc ra cho những ảnh hưởng từ Ảrập và Ba Tư và thậm chí là cho những tiếp xúc với Châu Âu, vốn sẽ có kết quả hoàn toàn trong những thế kỷ phục hồi của người Trung Quốc bản xứ tiếp theo dưới triều Minh. Người Châu Âu cũng thu nạp về những kiến thức của Trung Quốc. Sự suy thoái của MC cũng đặt ra vấn đề cho việc đi lại trên đất liền trở nên nguy hiểm hơn, khiến sự chú ý được chuyển sang đường biển. Giống như sự bành trướng của Hồi giáo trước đó, sự bùng nổ của người MC đã đặt nền móng cho sự tương tác của loài người trên quy mô toàn cầu, mở rộng và tăng cường mạng lưới toàn cầu đã được xây dựng từ thời cổ đại.

Người MC thường thể hiện sự tò mò và cởi mở rất lớn đối với những dân tộc và nền văn hóa mà họ chinh phục. Thành Cát Tư Hãn là nhân vật điển hình như vậy khi ông đã tìm cách để thu hút các triết gia và học giả tôn giáo từ khắp Á-Âu đến kinh đô Karakorum của mình; ông đã thích thú đặt ra những câu hỏi và tranh cãi với họ về những giá trị xuất sắc và những hạn chế của những hệ thống tín ngưỡng khác nhau. Trong hệ quả của những cuộc xâm lăng MC, sự ưu đãi cho những lãnh đạo tôn giáo đã phản ánh một sự dung nạp rộng lớn hơn của những chúa công du mục đối với những tín ngưỡng và nhóm dân tộc khác nhau dưới quyền cai trị của họ.

Trong một thế kỷ rưỡi dưới sự thống trị của người Mông Cổ đã chứng kiến sự hồi sinh của thương mại và đời sống đô thị ở những nơi như Bukara và Samarland, dọc theo con đường tơ lụa – mạng lưới mậu dịch lớn đã nối liền Trung Quốc và Đông Á với Trung Đông và Châu Âu trong hàng ngàn năm. Những cuộc chinh phục của người Mông Cổ đã đem lại hòa bình cho nhiều vùng đất ở Châu Á, trong một số vùng, hòa bình đã được kéo dài trong hàng thế kỷ.

Trong các thị trấn của đế quốc, sản xuất thủ công và học thuật đã phát triển mạnh và việc sáng tạo nghệ thuật được phép biểu đạt tự do. Những con đường mậu dịch đảm bảo đã tạo ra những thương nhân phát đạt, giàu có và các cảng thị quốc tế. Một sử gia Hồi giáo đã viết về các dân tộc trong đế quốc Mông Cổ “họ hưởng một nền hòa bình mà một người có thể đi từ vùng đất mặt trời mọc đến vùng đất mặt trời lặn với một cái đĩa vàng trên đầu mà không phải chịu bất cứ sự bạo lực nào từ bất kỳ ai”.

Nhưng một mặt trái khác là cùng với sự di chuyển của các thương nhân và hóa thương mại cũng đã tạo ra thuận lợi cho sự lan truyền dịch bệnh. Thực tế, một số sử gia tin rằng đợt dịch hạch liên lục địa khét tiếng đã được gọi là Cái chết đen được mang từ nam Trung Quốc do loài bọ chét đi quá giang trên những loài súc vật mà người MC lùa vào những đồng có mới dành được từ các cuộc chinh phục hay trên loài chuột gặm nhấm ngũ cốc được các thương nhân vận chuyển dọc theo những con đường mậu dịch giữa Phương Đông và Phương Tây hoặc có khi nó đã làm ổ trong những túi yên ngựa của kỵ sĩ Mông Cổ xuyên qua Trung Á đến Bắc Hải và đưa bằng thuyền đến Địa Trung Hải và Châu Âu.

Việc mở rộng về phía châu Âu bị ngừng lại do nhiều lý do như các thành viên cao cấp của người Mông Cổ phải quay về Mông Cổ (ngày nay) để bầu đại hãn mới hay do sự kháng cự của người châu Âu quá mạnh v.v. Người Mông Cổ đã có thể xâm chiếm toàn bộ châu Âu do họ xâm chiếm Ba Lan và Hungary chỉ trong thời gian khoảng một vài tháng. Đế chế Mông Cổ đạt tới cực đại của nó vào thời của cháu nội ông, đại hãn Hốt Tất Liệt, vua triều Nguyên, nhưng sau đó đã bị chia sẻ thành nhiều hãn quốc nhỏ và ít sức mạnh hơn.

Tuy người Mông Cổ cai trị một khu vực rất rộng lớn nhưng họ không còn thống nhất là một đế quốc mà đã chia thành nhiều khu vực dưới quyền của những hoàng thân quốc thích mỗi khu vực chịu ảnh hưởng của văn hóa vùng bị cai trị và họ  thường đánh lẫn nhau. Ở phía tây, họ hội nhập với văn minh Hồi giáo (Islam) của người Thổ  (Turkish) hay Thiên chúa giáo (Christanity) trong khi đế quốc phía đông thì những nền văn minh bản xứ của Khổng, Phật, Lão … có ưu thế.

Mặc dầu người Mông Cổ không muốn bị đồng hóa vào văn minh Hán tộc và đưa ra nhiều luật lệ khắt khe để trấn áp và phân chia giữa người thống trị và kẻ bị trị, họ vẫn tiêm nhiễm nếp sống có văn hóa và văn minh của người Trung Hoa. Nhiều định chế cai trị và sinh hoạt của Trung Hoa được bắt chước kể cả hệ thống thi cử, điển chế mặc dầu vẫn ưu đãi người Mông Cổ và rất khắt khe với người bản xứ.

Trong lịch sử thế giới trung đại chưa có đế quốc nào nổi lên với mức độ thành công như thế, người Mông Cổ hầu hết trải qua chiến thắng trong mọi cuộc chinh phục mà ít khi nếm trải thất bại. Nguyên nhân thành công của họ là nhờ sở hữu và sử dụng lực lượng quân sự hiệu quả nhất lục địa Á-Âu thời bấy giờ. Bí quyết thành công của họ còn nằm ở việc biết thu nạp người tài từ thợ rèn cho tới quân sư của địa phương bị chinh phục với chế độ đãi ngộ rất tốt, đồng thời khủng bố tàn khốc kẻ thù nếu không thuận theo ý họ, khiến nhiều người phải chọn lựa thay vì chống lại vô ích sẽ có lợi hơn khi đi theo Mông Cổ.

Các chiến thắng liên tục cũng thúc đẩy tinh thần quân Mông Cổ tự tin, kiêu hãnh và ngang tàn trong hơn một thế kỷ nổi lên chinh phục của họ. Đã có ba lần kẻ thù xâm lược vào nước Nga rộng lớn bị đánh bại chủ yếu do ảnh hưởng của yếu tố thời gian và mùa đông khắc nghiệt là quân đội Thụy Điển năm 1709, quân đội Napoleon năm 1812 và quân Đức Quốc xã năm 1941, nhưng Mông Cổ đã ghi dấu ấn là một đội quân xâm lược nước Nga thành công trước đó hàng thế kỷ nhưng lại nhờ yếu tố mùa đông.

Tuy họ nổi tiếng với kị binh bắn cung, các lực lượng dùng giáo của họ cũng thiện chiến không kém và cũng góp phần quan trọng cho thành công, họ cũng tuyển thêm các tài năng quân sự từ các thành phố mà họ chinh phục được. Với quân đoàn công trình sư và pháo thủ người Hán giàu kinh nghiệm, là các chuyên gia trong việc dựng các máy bắn đá, máy lăng đá và các loại máy khác, người Mông Cổ có thể bố trí bao vây các vị trí kiên cố, đôi khi dựng máy móc tại chỗ bằng nguồn lực bản địa sẵn có. Kỷ luật quân đội là điều tạo nên sự khác biệt giữa quân Mông Cổ và các đội quân khác. Quân Mông Cổ được huấn luyện, tổ chức, và trang bị cho mục tiêu tốc độ và tính cơ động. Để làm tối đa tính cơ động, binh sĩ Mông Cổ được trang bị giáp tương đối nhẹ so với nhiều đội quân mà họ đối đầu. Một ưu điểm khác của quân Mông Cổ là khả năng di chuyển xa thậm chí trong thời tiết mùa đông khắc nghiệt; đặc biệt, các dòng sông băng đã đóng vai trò như các con đường cao tốc tới các vùng đô thị lớn bên bờ sông.

Tuy vậy, Mông Cổ có những nhược điểm nhất định, họ là đế chế nổi lên nhưng thiếu nền tảng của một nền văn minh hay ít ra là một nền văn hóa mạnh mẽ. Điều này khiến họ mau chóng bị đồng hóa vào các địa phương đã chiếm. Người Mông Cổ dần bị tiêm nhiễm sự đa dạng về văn hóa, tôn giáo, thậm chí là nhân chủng và ngôn ngữ trên lục địa Á-Âu, khiến cho những cội rễ tinh thần và sức mạnh cố kết đế chế bị mất đi. Bởi vì quá trình đó không chỉ làm mất đi tính thống nhất dân tộc đi chinh phục mà còn làm cho họ phân thành những kẻ bị đồng hóa khác nhau vào những xã hội khác nhau.

Người Mông Cổ ở Đông Âu sống tách biệt hẳn với người bản xứ. Các lãnh chúa vẫn cai trị dân như trước, chỉ phải nộp thuế cho vua Mông Cổ. Lãnh chúa mà thiếu thuế thì vua Mông Cổ hỏi tội chứ không can thiệp vào nội bộ bản xứ. Vì người Mông Cổ sao nhãng như thế nên các lãnh chúa mới củng cố được thế lực, mở mang được đất đai. Năm 1380 lãnh chúa xứ Moscou là Dimitri Donskoi thắng được quân Mông Cổ ở Koulikovo (gần thành Riazan), nhưng đấy không phải là một trận đánh quyết định nên người Mông Cổ vẫn cai trị người Đông Âu. Phải đợi đúng một trăm năm sau, năm 1480, lãnh chúa xứ Moscou (lúc đó gọi là vua Nga) là Ivan III mới tuyên bố không thần phục hãn Mông Cổ nữa.

Quân đội Mông Cổ cũng không phải bách chiến bách thắng, họ thất bại ở Đại Việt[5], Nhật Bản[6], Nam Dương, điều đó cho thấy quân Mông Cổ nổi tiếng không thạo hải quân, họ giỏi chiến đấu trên mặt đất hơn, vốn là điều kiện quen thuộc mà người lính Mông Cổ rèn luyện từ nhỏ.     

KẾT LUẬN

Có thể nói, trong lịch sử thế giới vai trò của Thành Cát Tư Hãn cùng với đế quốc Mông Cổ đã được chứng minh một cách rõ ràng qua công cuộc chinh phạt của mình. Sử dụng con đường chiến tranh để lan tỏa sức ảnh hưởng của mình nhưng trên hết, chính họ đã mở ra một thời kỳ mới cho lịch sử nhân loại. Giao lưu, tiếp xúc văn hóa Đông Tây được thúc đẩy và mở rộng hơn bao giờ hết với việc thiết lập một lãnh thổ rộng lớn kéo dài từ Đông sang Tây. Trong quá trình chinh phạt, họ cũng mang theo những giá trị văn hóa không chỉ họ mà là của các vùng họ chiếm đóng được đi những nơi khác, vì thế cầu nối giữa phương Đông và phương Tây cũng theo đó mà được gần lại với nhau. Nền văn hóa của nhiều vùng có cơ hội gặp gỡ và giao lưu với nhau, cùng nhau phát triển. Dưới sự lãnh đạo của ông,  đế quốc  này  đã tiến hành các cuộc xâm lược theo mọi hướng, thôn tính liên lục địa rộng lớn, kết nối  phương  Đông  và phương  Tây, thực thi  hòa bình kiểu Mông Cổ, cho phép mậu dịch, công nghệ,   hàng  hóa và  phổ  biến  tri  thức.

Sau khi Thành Cát Tư Hãn qua đời, hậu duệ của ông cùng với Mông Cổ đã tiếp tục công cuộc chinh phạt và mở rộng lãnh thổ, tiếp tục thúc đẩy quá trình giao lưu tiếp xúc văn hóa Đông Tây được mở rộng. Hốt Tất Liệt- cháu của Thành Cát Tư Hãn đã lập nên triều Nguyên ở Trung Hoa cùng 3 hãn quốc ở phương Tây vẫn tiếp tục con đường chiến tranh và liên tục gia tăng sức ảnh hưởng của mình. Nhiều thành tựu đã được lan tỏa đi như la bàn, thuốc súng,…

Như những đợt sóng gây chấn động của Mông Cổ và những vụ bùng nổ của Timur đã minh chứng một cách đầy đủ, các đợt tập kích của người du mục vào những vùng lõi văn minh đã có một tác động trên lịch sử toàn cầu, vượt qua bất cứ điều gì mà ta trông đợi. Họ đã làm thay đổi đáng kể lịch sử chính trị bằng cách hủy diệt những định chế chính trị sẵn có và thậm chí là toàn bộ nền văn minh; gây ra những chuyển động dân số quan trọng, làm lóe lên những xáo trộn xã hội và tạo thuận lợi cho những trao đổi văn hóa và kinh tế hết sức quan trọng qua các nền văn minh.


TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Thành Cát Tư Hãn, <https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%C3%A0nh_C%C3%A1t_T%C6%B0_H%C3%A3n>
  2. Đế quốc Mông Cổ, <https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%BF_qu%E1%BB%91c_M%C3%B4ng_C%E1%BB%95>
  3. Lịch sử chết chóc của thuốc súng qua 10 thế kỷ, <https://vietgiaitri.com/lich-su-chet-choc-cua-thuoc-sung-qua-gan-10-the-ky-20121102i567196/>
  4. Lịch sử thuốc súng, <http://www.phatminh.com/phat-minh-the-ky/lich-su/lich-su-thuoc-sung.55688.html>
  5. Thành Cát Tư Hãn sáng tạo 6 cái nhất trên thế giới, <https://tinhhoa.net/thanh-cat-tu-han-sang-tao-6-cai-nhat-tren-the-gioi.html>
  6. Almanach- những nền văn minh thế giới

 

Chú thích

[1] Một người đưa thư điển hình phải di chuyển 40 km giữa 2 trạm kế tiếp nhau, và người này có thể nhận được một con ngựa mới, đã được nghỉ ngơi hoặc là đưa thư đó cho người tiếp theo để đảm bảo tốc độ chuyển thư nhanh nhất có thể. Thông thường người này có thể di chuyển 200 km mỗi ngày, nhanh hơn kỷ lục nhanh nhất được ghi nhận của Pony Express vào 600 năm sau.

[2] Để giảm sức ép cho các hộ dân, ông đã thiết lập các trạm trung chuyển kèm với các hộ dân cách nhau 40 km. Bất cứ ai có paiza (bài tử) mới được phép cấp ngựa tiếp sức và được cung cấp một khẩu phần ăn đặc biệt, nhưng những người mang các thư tín đặc biệt liên quan đến quân sự thì có thể sử dụng Yam mà không cần paiza. Tin về cái chết của Thành Cát Tư Hãn ở Cáp Lạp Hòa Lâm được chuyển tới lực lượng Mông Cổ của Bạt Đô Hãn ở Trung Âu trong vòng 4-6 tuần là nhờ có Yam.

[3] Trong suốt thời kỳ Hốt Tất Liệt, hệ thống thông tin của triều Nguyên bao gồm khoảng 1.400 trạm trung chuyển, sử dụng 50.000 con ngựa, 8.400 , 6.700 la, 4.000 xe bò/ngựa và 6.000 thuyền.

[4] Những bản du ký đầu tiên của người phương Tây cũng bắt đầu xuất hiện ở thời kỳ này. Nhà du lịch nổi tiếng nhất là Marco Polo người thành Venezia (Ý), ông đã tới “Cambaluc,” thủ đô của Khan vĩ đại (Bắc Kinh hiện nay), và cuộc sống ở đó theo miêu tả của ông khiến châu Âu kinh ngạc. Cuốn sách về các cuộc du lịch của ông, Il milione (hay Những cuộc phiêu lưu của Marco Polo), xuất hiện vào khoảng năm 1299. Những tác phẩm của John of Plano Carpini và William of Rubruck cũng cung cấp một số chi tiết đầu tiên về người Mông Cổ sang phương Tây.

[5] Là một cuộc chiến tranh bảo vệ tổ quốc của quân và dân Đại Việt đầu thời Trần dưới thời các Vua Trần Thái TôngTrần Thánh Tông và Trần Nhân Tông trước sự tấn công của đế quốc Mông Cổ. Tuy thời gian của cuộc kháng chiến bắt đầu từ năm 1258 đến năm 1288 nhưng thời gian chiến sự chính thức chỉ tổng cộng bao gồm khoảng gần 9 tháng, chia làm 3 đợt.

Theo giáo sư Đào Duy Anh thì có 4 nhược điểm khiến quân Mông Nguyên thất bại ở Đại Việt

  1. Người Mông Cổđi đánh xa, lương thực không được vận chuyển đầy đủ mà chỉ mong cướp bóc của dân bản địa để nuôi quân, nếu đối phương áp dụng chiến lược “vườn không nhà trống thì quân Mông Cổ dễ bị khốn đốn vì thiếu lương do không cướp được của dân bản địa (Trong lần đánh Đại Việt thứ 3, quân Nguyên rút kinh nghiệm điều này và đã cho đoàn thuyền chở nhiều lương thực sang hỗ trợ, nhưng đoàn thuyền này lại bị Đại Việt phục kích tiêu diệt nên quân Nguyên lại tiếp tục thất bại).
  2. Quân Mông Nguyên là người phương bắc, không hợp thuỷ thổ.
  3. Quân lính Nguyên phần lớn là người Trung Hoa bị chinh phục, tinh thần chiến đấu không có, gặp khó khăn là chán nản. Quân kỵ binh gốc Mông Cổ thiện chiến thì lại không phát huy được sở trường do chiến lược của Đại Việt là chọn đánh quân Nguyên ở những vùng bến sông hoặc rừng rậm, tránh giao chiến ở vùng bằng phẳng.
  4. Quân đội đông và giỏi nhưng chuẩn bị không tốt về mặt tinh thần cho quân sỹ mà chỉ lo đem quân đội đi đánh vì nghĩ quân đội càng đông càng áp đảo lực lượng Đại Việt. Nhưng rốt cục quân càng đông thì lại càng khó điều phối, càng nhanh hao tổn lương thực.

 

[6] Đánh Nhật Bản lần thứ nhất: năm 1274, Hốt Tất Liệt dùng thuyền mang quân từ Triều Tiên sang đánh Nhật Bản. Đoàn chiến thuyền gặp bão lớn, đắm rất nhiều. Họ có hai nhận xét chính. Thứ nhất là thuyền đóng bằng những loại gỗ mà nước Nhật không có, như thế có nghĩa là những chiến thuyền Mông Cổ được đóng ở những nơi khác, nhiều khả năng là đóng ở Triều Tiên. Thứ hai là lỗ cắm cột buồm không được khít, không ôm chắc lấy cột buồm nên khi thuyền gặp sóng to gió lớn là cột buồm lung lay dễ gẫy và thuyền cũng bị đảo mạnh dễ đắm.

Đánh Nhật Bản lần thứ hai: năm 1281, Hốt Tất Liệt lại tấn công Nhật Bản bằng hai đạo, một đạo từ Triều Tiên, một đạo từ Hàng Châu, cùng trực chỉ đảo Cửu Châu. Lần này thuỷ quân Mông Cổ không gặp bão, nhưng gặp quân Nhật đã phòng thủ sẵn. Quân Mông Cổ vừa đặt chân lên bãi biển, chưa kịp hết say sóng, đã gặp quân Nhật ào ra tấn công điên cuồng. Với lối đánh cận chiến, cung tên của Mông Cổ trở thành vô dụng, giáo và kích dài trở thành vướng víu khó xoay trở, trong lúc quân Nhật dùng kiếm chém giết rất tiện lợi trong cuộc giáp lá cà. Quân Mông Cổ thua ngay trên bãi biển, tàn quân vội vàng rút xuống thuyền bỏ chạy.

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s