MẶT TRỜI MỌC- Sự Suy Thoái và Sụp Đổ của Đế Chế Nhật Bản 1936-1945 (Phần 6)

PHẦN VI

Trận Đánh Quyết Định

aa-2.png

Tác giả John Toland

Trần Quang Nghĩa dịch

21 . “Không Ai Được Hèn Yếu”

 

1.

                Trước đây chưa hề có một nhà lãnh đạo Nhật hiện đại nào thu gom về mình nhiều quyền lực đến như thế. Đối với thế giới vị thế của Tojo hình như bất khả xâm phạm nhưng trong thực tế quyền hành của ông ta đã bên bờ sụp đổ. Kể từ trận Midway, bộ Tư lệnh Hoàng gia vẫn không chịu nhìn nhận sức mạnh của người Mỹ đang gia tăng (Vào cuối mùa hè năm 1944 gần như có đến 100 hạm đội Mỹ và tàu sân bay hộ tống trong Thái Bình Dương) và sức mạnh đang suy kiệt của Nhật Bản. Mức tổn thất trong chuyên chở bằng tàu tiếp tục lên cao và các chiến dịch tàu ngầm Mỹ được tăng cường. Về phía bắc tiền đồn Aleutian đã bị bỏ rơi; về phía nam, quần đảo Solomon và New Guinea đã bị tràn ngập; và ở trung tâm Thái Bình Dương các phòng tuyến – quần đảo Marshall, Gilbert và cuối cùng Mariana – đã sụp đổ.

                Tại quê nhà, mức sản xuất còn được duy trì, nhưng với giá trả là những hi sinh phi thường của dân chúng. Không chỉ nhiều xưởng tư nhân đã chuyển đổi sang sản xuất mặt hàng phục vụ chiến tranh và nhiều phụ nữ hơn được xung vào ngành công nghiệp, mà các thiếu niên cũng được bổ sung vào lực lượng lao động. Thời gian đi học giảm đến mức tối thiểu và nhiều trường học biến thành các kho tiếp tế quân nhu.

                Chế độ tuần làm việc 7 ngày được thiết lập trong đó những chủ nhật vốn được người Nhật yêu thích bị bãi bỏ. Các chuyến xe hỏa chen chúc người đến độ có một số trẻ con bị chết ngạt; những chuyến đi dài hơn 100 cây số phải có giấy phép của cảnh sát; các toa ẩm thực và ngủ đều bị loại bỏ. Chuyện dân chúng tấn công xe hỏa vì chậm trễ giờ đây xảy ra thường xuyên; họ lấy cắp các bao bọc ghế ngồi và đập vỡ khung cửa sổ và leo vào và leo ra. Hàng hóa tiêu thụ thuộc mọi chủng loại đều bị giới hạn thê thảm. Thực phẩm được phát theo tem phiếu, giá quần ào được đẩy lên cao, hòm được sử dụng lại nhiều lần, và xăng dầu và than sưởi ấm trở nên khan hiếm. Nhật báo giảm nhỏ khổ lại, và ấn bản buổi chiều bị đình chỉ;

khoảng 10,000 nơi vui chơi giải trí – bao gồm kỹ viện – bị đóng cửa. Nói tóm lại, sinh hoạt ở Nhật Bản đã trở nên buồn tẻ và u ám. “Một loại Tokyo gì đã ra nông nỗi này!” diễn viên hài Roppa Furukawa than thở trong nhật ký của mình. “Ôi, sống như thế này không còn vui nữa!”

                Những biện pháp khắc khổ cùng cực này – cộng với mối ngờ vực rằng việc bỏ rơi lãnh thổ, mà đỉnh cao là việc thất thủ Saipan, thực sự nghiêm trọng hơn những thông báo chính thức cho biết –nuôi dưỡng sự náo động tập trung quanh Tojo, biểu tượng của chiến tranh và quyền lực.

                Những tin đồn xúc phạm nhất được tin theo và truyền miệng nhau: Tojo đang sử dụng thuốc lá, rượu uýt ki và những đồ cướp bóc khác từ những vùng phía nam bị chiếm đóng để hối lộ những thành viên của Bộ Hoàng cung Nội thị, ban tổng quản nội thị, nhóm jushin và các cố vấn cơ mật viện; thậm chí ông còn đút lót anh em của Thiên hoàng –Chichibu và Takamatsu – bằng ô tô. *

  • Những tin đồn này thật ra không có căn cứ, nhưng có vài minh chứng cho những lời phàn nàn. Tojo chắc chắn có lạm dung quyền lực trong việc sử dụng hiến binh để kiểm soát các người bất đồng chính kiến. Những người chủ hòa có tiếng như Konoye bị giám sát chặt chẽ, và nhiều công dân đã bị bắt vào tù và một số bị tra tấn đến chết vì tán thành Cơ-đốc giáo hoặc xúi giục chống đối về phương diện chính trị. Seigo Nakano, một đảng viên Quốc xã, bị bắt sau khi phát biểu công khai chống Tojo. Ngay sau khi được thả ông hành xử hara-kiri trong một tình huống bí ẩn được nhiều người tin là bị hiến binh bắt ép phải tự sát.

Ấn tượng là có thật và gây ra nỗi căm phẫn công khai lan rộng, nhưng mức độ của đàn áp thuong được thổi phồng.

                Ông ta bị giễu cợt – phía sau lưng, tất nhiên – vì cho phép bà xã đọc diễn văn và nói chuyện trên đài và tham gia vào những nỗ lực hoạt động khác để ủng hộ chiến tranh. Bà được đặt biệt danh “To Bi-rei,” một vở kịch phiên bản Nhật có tên Bà Tưởng Giới Thạch, “So Bi-rei (Tống Khánh Linh).” Theo sau thảm họa Saipan, máy điện thoại của bà Tojo tràn ngập những cú gọi nặc danh hỏi xem chồng bà có tự sát chưa.

                Có một số người không muốn để lại hành động kết liễu cuối cùng như thế cho chính Thủ tướng định đoạt. Ngoài Đô đốc Sokichi Takagi, mà nhóm của ông lên kế hoạch phục kích Tojo bằng súng máy, các phe phái nổi loạn trong Lục quân cũng đang âm mưu ám sát. Một thiếu tá có tên Tsunoda, mới đây được thuyên chuyển từ Trung Hoa về Bộ Tư lệnh Hoàng gia – cùng với Tatsukuma Ushijima, chủ tịch chi nhánh Tokyo của Toa Renmei (Liên đoàn Đông Á) – lên kế hoạch ném một quả bom chứa chất độc xyanua vào xe của Tojo khi xe chậm lại lúc quẹo vào sân Hoàng cung gần Cầu Iwaida. Thời gian được ấn định: tuần lễ thứ ba của tháng 7. Nhưng âm mưu bị bại lộ do em trai của Thiên hoàng, Hoàng thân Mikasa, tiết lộ khi nghe một người bạn của nhóm âm mưu vô tình kể ra kế hoạch. Thay vì chúc nhóm gặp được may mắn (“Hành động như thế sánh ngang với sự phản loạn chống lại Hoàng thượng”) ông báo tin cho một thành viên của Bộ Tư lệnh Hoàng gia. Ushijima và Tsunoda bị hiến binh bắt và kết án tử, nhưng như đã xảy ra quá thường trong quá khứ, họ được cho hoãn thi hành án.

                Đối diện với tình trạng bất mãn kéo dài, Tojo tìm lời khuyên từ người đã đề nghị ông làm thủ tướng và ủng hộ ông chính thức qua những tháng khủng hoảng vừa qua – Cơ Mật Viện Trưởng. Lời khuyên mà Tojo nhận được không như mong đợi cũng như không được chào đón. Kido, cuối cùng đã thức tỉnh để hành động từ vụ thất thủ Saipan, chỉ trích kịch liệt sự vơ vét quyền lực gần đây: hai chức vụ cao nhất trong Nội các đều bị Tojo nắm trọn, và vai trò kép của Đô đốc Shimada (Bộ trưởng Hải quân kiêm Tham mưu trưởng Hải quân được các sĩ quan Hải quân khác coi như là người mang cặp cho Tojo). “Mọi người đều quan ngại về việc này,” Kido nói, “và chính Thiên hoàng cũng rất là bực mình.”

                Vô cùng bối rối, Tojo rút lui không nói một lời nhưng đến chiều ông trở lại. Ông muốn xáo trộn lại Nội các nhưng không chịu buông bỏ những chức vụ của mình. Kido tiếp nhận sự thỏa hiệp này một cách lạnh nhạt mà Tojo hình như coi là thù nghịch. Ông đứng bật dậy. “Nói với ngài hôm nay không có nghĩa lý gì!” ông la lên.

                Ông bước ra khỏi văn phòng của Kido, đóng sầm cửa lại, nhưng khi ông về đến nơi cư ngụ chính thức của mình ông đã nguôi giận. Ông bảo Kenryo Sato, “Nếu Kido có thái độ đó, điều đó có nghĩa Thiên hoàng không còn tin cậy ở tôi nữa. Do đó tôi sẽ bỏ ý định tái cơ cấu Nội các; thay vào đó tôi sẽ từ chức.”

                “Từ chức ngay tại thời điểm nguy kịch nhất của cuộc chiến là điều không thể!” Sato quát lên. Tất cả việc ông phải làm là thay thế Shimada bằng Đô đốc Yonai; điều đó sẽ khiến Hải quân và những người cấp tiến như Konoye nguôi ngoai.

                Nhưng Tojo thấy bất nhẫn khi phải cách chức Shimada, người đã ủng hộ ông quá trung thành. Sato dẫn một câu cách ngôn Trung Hoa dạy rằng “để đạt được sự công minh đích thực người ta không được do dự giết cả cha mẹ mình nếu cần.” “Ngài phải ‘giết’ Shimada dù phải đau lòng thế nào. Nghĩa vụ của ngài đối với Shimada là vấn đề cá nhân. Ngài đã khởi đầu cuộc chiến này và ngài không thể buông tay ngay giữa cuộc.”

                Đó chính là gì Tojo suy nghĩ. Ông triệu tập Shimada và thông báo ông phải từ chức như một bộ trưởng hải quân. Vị đô đốc rất độ lượng. “Tôi đang rời khỏi chức vụ mà nhẹ cả người vì cất được gánh nặng,” ông nói. “Còn ngài ở lại phải tiếp tục mang trách nhiệm nặng nề.” Ông chúc Tojo “chiến đấu tốt” trong trận chiến sắp tới, và khi họ bắt tay nhau ngài Tojo có đầu óc kỷ luật gần như suy sụp.

                Ngày hôm sau, ngày 17/7, Shimada nộp đơn từ chức nhưng trái với dự đoán của Sato, phe cấp tiến không nguôi ngoai. Kido cũng không, và sau khi được Konoye thúc giục, ông hứa rằng dù những vấn đề chính trị cốt lõi ở ngoài pham vi của mình, ông sẽ báo cáo với Hoàng thượng ý kiến thống nhất của các jushin liên quan đến Tojo.

                Hớn hở, Komoye lái xe về nhà của Nam tước Hiranuma, tại đó ông tìm thấy hai jushin khác, Đô đốc Okada và Nam tước Reijiro Wakatsuki. Ông bảo họ về lời hứa đáng kinh ngạc của Kido. “Giờ tôi biết điều gì Kido đang ra sức làm.” Đô đốc Okada nhận xét.

                Vào 6:30 tất cả jushin đã đến. Tinh thần âm mưu tràn ngập không khí, và sau nhiều tháng phàn nàn riêng tư không hiệu quả, họ đón chào nhau với một ý thức về mục đích chung. “Tôi muốn các ngài lưu ý đến điều này là cho dù Nội các Tojo được tái cơ cấu,” Wakatsuki cảnh báo,” dân chúng cũng sẽ không ủng hộ nó.”

                Đô đốc Yonai tiết lộ là mình vừa được mời một cách nghiêm túc tham gia vào Nội các thay thế Shimada. Ông đã từ chối, nhưng hoàn toàn mong đợi là Tojo đích thân thỉnh cầu và nếu điều đó không xảy ra, đi đến Thiên hoàng để được ủng hộ. “Tôi đã quyết định không chấp nhận lời mời cho dù bước cuối cùng đó được thực hiện.”

                Không phải tất cả các jushin đều mong muốn Tojo từ chức. Tướng Nobuyuki Abe lên án đó là “một hành động vô trách nhiệm khi chỉ nói về việc đốn ngã Nội các. Làm sao chúng ta tin chắc sẽ có được một nội các tốt hơn?”

                “Dù Nội các có bị lật đổ hay không hay dù nội các sau có yếu hay không điều đó không thành vấn đề,” Hiranuma nói chen vào. Đất nước đã đến khủng hoảng và một sự thay đổi nội các phải được tiến hành – và thật nhanh chóng.

                “Nếu tôi được mời, tôi sẽ không tham gia Nội các,” Hirota nói, ông từng là nhà ngoại giao dẫn đầu Nội các sau Biến cố 2/26.

                Họ cuối cùng soạn ra một nghị quyết làm hài lòng mọi người trừ Abe. Nó đọc:

                Tâm trí và trái tim của nhân dân phải được hòa làm một với cuộc sống mới nếu muốn đế chế sống qua những vấn nạn lớn lao đang đối mặt. Tất cả chúng ta trong xứ sở này phải hợp tác và hành động cùng nhau. Tái tổ chức từng phần Nội các sẽ là việc vô ích. Một nội các vững mạnh phải được thành lập có khả năng tiến về phía trước một cách kiên cường.

                Abe thắc mắc không biết có nên chuyển kết quả cuộc họp đến Tojo hay không. Câu trả lời nhất trì là không. Nghị quyết được mang tay đến nhà Kido. Cơ Mật Viện Trưởng hứa trình bày nghị quyết lên Hoàng thượng vào sáng hôm sau.

                Trong văn phòng mình Thủ tướng Tojo và Kenryo Sato đang nghĩ ngợi về việc Yonai từ chối tham gia Nội các. Sato cho rằng lỗi nằm ở người trung gian đại diện Tojo mời. “Chủ ý thực sự của ngài chưa được truyền đạt đầy đủ đến Yonai,” anh nói. “Em sẽ đích thân thay ngài mời.”

                Sato thay quần áo dân sự và, không ai nhận ra, len quá đám báo chí đang chực trước nơi cư ngụ của vị đô đốc. Anh xông qua đám người giúp việc, dù được họ thông báo là chủ mình không có mặt, và rồi bổng thấy buồn ngủ khi ngồi trong phòng đợi. Một giờ sau anh tỉnh dậy cũng vừa lúc Yonai trở về sau cuộc họp với nhóm jushin.

                Sato ra sức gây ấn tượng với Yonai là cứu lấy Nội các ngay giữa cuộc chiến là điều vô cùng thiết yếu; và việc ông chấp nhận tham gia sẽ hoàn thành điều này. Ước vọng duy nhất của Tojo là thay đổi cục diện cuộc chiến. “Tôi có thể thấy lý do tại sao ngài chống đối nội các của ông ta, nhưng đó chỉ là ý kiến cá nhân. Tại thời điểm vô cùng nguy cấp này tôi van xin ngài hợp tác với Nội các Tojo để vượt qua khó khăn của chúng ta.”

                “Tôi không phải chuyên gia về chính trị,” Yonai mỉm cười gượng gạo. “Cậu có thể thấy điều đó từ nội các riêng của tôi. Tôi là một đô đốc, chứ không phải chính trị gia. Và tôi muốn chết như một đô đốc. Nếu cậu muốn dùng tôi, cho tôi làm một cố vấn của Bộ trưởng Hải quân.”

                Từ giọng điệu của Yonai rõ ràng là ông không thể bị thuyết phục. Sato trở lại văn phòng của Tojo. Anh đã ráng hết sức nhưng vẫn thất bại. Và bây giờ lời cố vấn cuối cùng của anh sẽ phủ định mọi điều mà anh đã nói trước đây. Lúc đó là hai giờ sáng, nhưng Tojo vẫn còn làm việc trong trang phục sơ mi, khói thuốc từ điếu thuốc thường trực cuộn lên tấm chụp đèn phía trên đầu ông. Tojo nhìn lên.

                “Xin ngài từ chức,” Sato nói.

                Tojo buông ra một tiếng thở dài. “Tôi sẽ viếng Thiên hoàng vào sáng mai,” ông nói. “Nhờ cậu làm ơn viết ra những lý do dẫn đến việc xin từ chức của tôi.”

                Khi Sato ngồi xuống và bắt đầu viết, anh biết từ lòng mình là cuộc chiến đã qua, và nước mắt anh rơi trên giấy.

                Vào buổi sáng, ngày 18/7, Tojo – nước da vàng bủng, đôi mắt vô hồn – bảo với nội các của mình bằng một giọng nói mệt mỏi là ông đã quyết định từ chức vì đã để mất Saipan. Ông đã chần chừ quá lâu vì bọn “Badoglio” ở Nhật.* Trách nhiệm cho sự thảm bại của Nhật Bản, ông nói thêm một cách cay độc, là do các jushin và những người khác đã đẩy ông ra khỏi chức vụ. Đôi vai ông xệ xuống. Đó là một ngày nóng nhất trong năm. “Tôi yêu cầu tất cả các ông từ chức,” ông nói.

  • Ông muốn ám chỉ đến chính quyền của Thống chế Pietro Badoglio của Ý, đã đầu hàng vô điều kiện Đồng minh mùa hè trước.

Không khí rất nặng nề khi mỗi người ngồi viết đơn xin từ chức. Mỉa mai thay chính xác bốn năm trước đây Tojo đã được chọn làm bộ trưởng chiến tranh.

                Mặt lạnh như tiền, Tojo giao văn kiện cho Kido. Cơ mật Viện Trưởng hỏi ông muốn chọn ai làm người kế nhiệm. “Tôi sẽ không nói tôi muốn ai đâu,” Tojo trả lời với vẻ mỉa mai. “Tôi tưởng nhóm jusshin đã có chủ ý rồi chọn ai rồi.” Rồi ông bắt đầu bước xuống hành lang dẫn đến văn phòng của Thiên hoàng để làm báo cáo cuối cùng với vai trò thủ tướng.

                Nhóm jushin vẫn chưa chọn ra người kế nhiệm ông nhưng đang chuẩn bị. Lần này họ họp nhau vào buổi chiều – và dưới sự hiện diện áp đảo của Kido – trong Tây Phòng của Hoàng cung. Cũng có mặt là Tổng quản nội thị và Chủ tịch Hội đồng Cơ mật Yoshimichi Hara.

                Tướng Abe, người luôn ủng hộ Tojo, muốn Hải quân – đích danh là Yonai – thành lập nội các mới.

                “Tôi đã có lần tham gia vào chính trị,” vị đô đốc nhận xét. “Và tôi có thể thử lần nữa trong vai trò bộ trưởng hải quân, nhưng tôi không thể trở thành một thủ tướng.” Quân nhân chỉ được giáo dục một phía và điều này khiến họ không thích hợp cho những vai trò như thế. “Chính trị nên giao cho chính trị gia.”

                Konoye trân trọng chủ nghĩa lý tưởng của Yonai nhưng họ phải xét vấn đề dưới một quan điểm thực tiễn. “Ngày nay chính trị không thể thi triển mà không có quân đội tham dự.”

                Kido và Konoye từ lâu cùng nhau nhất trí rằng nên có một nội các quá độ trước khi hoàng gia tham chính. “Sự củng cố của việc phòng vệ nội địa,” Kido vặn lại, “việc tăng cường sức mạnh Lục quân trên đất nhà, tăng cường lực lượng quân cảnh, bắt buộc chúng ta phải chọn ra người trong Lục quân.” Wakasuki đồng ý và Yonai cũng vậy. Ít phút trước đây Yonai đã cảnh báo về những mối nguy hiểm nếu chọn một quân nhân giờ thì ông đề nghị Bá tước Hisaichi Terauchi, người từng được thăng đến chức thống chế năm trước.

                Konoye muốn chấp nhận Terauchi, chỉ sau khi ông đã nhấn mạnh hai điểm: “Thứ nhất, tại sao Tojo mất chức? Tất nhiên, một phần bởi vì nhiều chuyện không vừa ý được bàn tán về ông, nhưng cũng bởi vì Lục quân, không giống Hải quân, can thiệp vào mọi giai đoạn của đời sống quân sự cũng như kinh tế.” Điều này phải chấm dứt. “Thứ hai, quốc gia giờ đây hình như đang trôi giạt về hướng cách mạng thiên tả. Mọi việc đều chỉ hướng theo chiều hướng đó. Thua trận là một điều đáng sợ, nhưng cách mạng càng đáng sợ hơn. Một khi thất trận, chúng ta có thể hồi phục sau một thời gian thích hợp, nhưng một cuộc cách mạng thiên tả sẽ đem đến tai hại cho quốc túy.” Ông thắc mắc không biết Terauchi có khả năng kềm chế được những phần tử gây rối hay không.

                “Ông ta được lắm,” Kido nói, “nhưng vì ông ta ở xa đây quá, ở tiền tuyến, thật khó để mang ông ta về đây. Tốt hơn chúng ta nên chọn một người khác.”

                Lần thứ hai Yonai đề cử một quân nhân, Tướng Yoshijiro Umezu, tư lệnh Quân đoàn Quảng Đông vừa mới được triệu hồi để thay thế Tojo giữ chức tham mưu trưởng.

                “Không nên chuyển ông ta đi quá sớm khỏi chức vụ mới,” Kido chống đối, mà trong thâm tâm cho rằng Umezu sẽ là một lựa chọn tồi.

                Konoye đề nghị một người thuộc Hải quân, ngài Kantaro Suzuki đã luống tuổi, người đã thoát chết trong gang tấc ở Biến cố 2/26. “Tôi đã ở cùng với ông ta trong Hội đồng Cơ mật,” Hara nói, “và tôi biết rõ ông ấy. Ông ấy sẽ không khi nào chấp nhận lời mời đâu.” Đề cử của Hiranuma cho Thống chế Shunroku Hata, tổng tư lệnh ở Trung Hoa, bị đón nhận một cách lạnh nhạt.          

                Một lần nữa Yonai đề nghị một vị tướng, Kuniaki Koiso. “Ông là người tốt, có năng lực và can đảm. Tôi biết rõ ông ta khi ông ta ở trong nội các của tôi.”

                “Ông ta với Lục quân thế nào?” Kido hỏi.

                “Không khá tệ, tôi tin như vậy,” Tướng Abe nói. “Ông ta khác với Tojo.”

                “Ông là sùng đạo số một,” Hiranuma bình luận.

                “Tôi không chống đối,” Wakatsuki nói, “dù tôi không biết rõ ông ta.”

                Okada nghĩ họ chọn lựa quá hấp tấp, và Konoye ủng hộ ông. Điều này khởi phát một cuộc tranh cãi dài dòng, không đi đến đâu, và cuối cùng họ buộc lòng phải tư vấn Thiên hoàng chọn dùm một trong ba người bên Lục quân – Terauchi, Hata và Koiso. Lúc đó đã 8 giờ. Họ đã thảo luận hơn 4 tiếng và ai nấy đều nhẹ nhõm khi chuyển trách nhiệm cho Hoàng thượng.

                Hầu tước Kido báo cáo ngay lập tức với Thiên hoàng, với đề nghị là Hoàng thượng sẽ thăm dò Lục quân xem có thể sử dụng Terauchi được không trước khi quyết định. Câu trả lời đến từ Tojo, mà tình cờ cũng ở Hoàng cung để sắp xếp Tướng Umezu làm người kế nhiệm mình. Tojo khuyên không nên chuyển Terauchi đang nắm giữ chức vụ quan trọng trong thời điểm nguy kịch này. Chỉ còn lại Hata và Koiso, và Thiên hoàng sau khi xem xét phần trình bày của Kido, đã chọn người sau.

                Suốt đêm đó Konoye không ngớt lo lắng về Koiso. Liệu ông ta có thể khống chế bọn thiên tả và duy trì độc lập với Lục quân hay không? Có lẽ nên có đồng thủ tướng, một từ Lục quân, một từ Hải quân. Việc phối hợp giữa Koiso và Yonai, chẳng hạn. Và bởi vì chính Yonai đã đề cử Koiso, rõ ràng là hai người sẽ hợp ý nhau.

                Ngày hôm sau ông bàn bạc việc này với Nam tước Hiranuma. Ông này cho rằng đó là một ý kiến tuyệt vời. Và quan trọng hơn, Cơ mật Viện Trưởng cũng nghĩ vậy. Nhưng Yonai vẫn tỏ vẻ miễn cưỡng. Vì ông đã từ chối lời mời của Tojo tham gia nội các của ông ta, bây giờ sẽ không thích đáng nếu nhận một chức vụ nổi bật hơn. Nhưng tại sao không chức bộ trưởng hải quân? “Tôi tự tin khi giữ chức vụ đó. Tôi không hỗ thẹn khi nói rằng tôi có thể chứng tỏ mình là bộ trưởng hải quân tốt nhất có thể.”

                Konoye gần như hài lòng như thể Yonai đã chấp nhận chức đồng thủ tướng. Với Yonai trong Nội các, được ủng hộ mạnh mẽ bởi Kido và Thiên hoàng, nó sẽ dẫn đến cùng một thứ.              

                Chiều hôm sau Tướng Koiso từ Triều Tiên về. Ông được đưa trực tiếp và không giải thích đến phòng đợi sát bên phòng tiếp kiến nhà vua. Mang biệt danh “Hổ Triều Tiên” phần lớn vì dáng dấp của ông hơn là tính can trường chiến đấu của mình, ông có mắt lác, sắc bén như mèo, mũi tẹt và môi mỏng. Ông thích các tiệc sake và đủ vui tính để có thêm một biệt danh khác – “Đầu Hói Quán Quân của Nhật Bản.” Ông biết có cơ may được đề cử chức thủ tướng nên chuẩn bị sẵn trong túi một danh sách các đồng chí thân cận ở Triều Tiên cho những chức danh nội các, nhưng kỳ vọng của ông giảm sút ngay khi nhác thấy Đô đốc Yonai đi vào. Trước khi ông có thể hỏi thăm Yonai, Kido đã xuất hiện và đẩy cả hai người diện kiến Hoàng thượng. Ai sẽ đi trước? vị tướng hỏi, và Kido trả lới, “Koiso.” Nhưng Thiên hoàng đối xử cả hai chính xác như nhau. Ngài nói họ sẽ phải hợp tác với nhau để thành lập nội các mới và cảnh báo họ không được chống đối người Nga.

                Yonai cũng hoang mang như Koiso và khi buổi tiếp kiến đã kết thúc, ông hỏi Hầu tước Kido ai sẽ là thủ tướng. “Koiso, tất nhiên,” Cơ mật Viện Trưởng nói.

                Thật là một cuộc trao đổi kỳ lạ! Koiso nghĩ. Ông quay sang Yonai, “Ngài giữ văn phòng nào? Bộ trưởng Hải quân?”

                “Đó là chức vụ duy nhất tôi có năng lực đứng vào đó,” đô đốc trả lời.

                Việc Tojo bị buộc từ chức khiến phu nhân ông nhẹ nhõm. Ít nhất, giờ đây nỗi lo sợ bị ám sát mỗi ngày đã qua rồi. (Tình cờ, đồng minh của Tojo, Adolf Hitler, cũng vừa chết hụt

trong gang tấc một vụ đánh bom mưu sát.) Lý lẽ của bà thật là đúng đắn. Đô đốc Takagi, chẳng hạn, đã hủy bỏ kế hoạch bắn hạ Tojo, giờ đây trở thành một thành viên mới của nhóm jushin đặc biệt ưu tú nhưng thuần túy mang tính cố vấn.

 

2.

                Mặc dù Tướng MacArthur đã được giao một kỳ hạn cho mục tiêu xâm chiếm Phi Luật Tân – một cuộc đổ bộ sơ khởi lên Mindanao để thiết lập các sân bay, tiếp theo là một cuộc đổ bộ lớn lên Leyte ba tuần sau đó – các Tham mưu trưởng Liên quân đã đề nghị vào giữa tháng 6 rằng ông bỏ qua những đảo Phi Luật Tân khác, kể cả Luzon, và nhảy cóc suốt từ Leyte đến Đài Loan. Như vậy việc này sẽ loại bỏ MacArthur khỏi vai trò được yêu thích là người Giải phóng Phi Luật Tân, và phúc đáp của ông tương xứng với cơn phẫn nộ của ông:

                . . . PHI LUẬT TÂN LÀ LÃNH THỔ CỦA MỸ NƠI ĐÓ CÁC LỰC LƯỢNG KHÔNG ĐƯỢC YỄM TRỢ ĐÃ BỊ TẬN DIỆT BỞI KẺ THÙ. GẦN NHƯ TẤT CẢ 17,000,000 NGƯỜI PHI LUẬT TÂN VẪN TRUNG THÀNH VỚI HOA KỲ VÀ ĐANG TRẢI QUA TÌNH TRẠNG THIẾU THỐN VÀ GIAN KHỔ VÌ CHÚNG TA ĐÃ KHÔNG THỂ ỦNG HỘ HOẶC CỨU TRỢ HỌ. CHÚNG TA CÓ MỘT NGHĨA VỤ QUỐC GIA LỚN LAO PHẢI TRẢ.

                HƠN NỮA, NẾU HOA KỲ CỐ TÌNH BỎ QUA PHI LUẬT TÂN, BỎ LẠI CÁC TÙ BINH CỦA CHÚNG TA, NHỮNG NGƯỜI QUỐC GIA, VÀ NHÂN DÂN PHI LUẬT TÂN TRUNG THÀNH TRONG TAY KẺ THÙ MÀ KHÔNG ĐƯA RA NỖ LỰC NÀO ĐỂ CỨU VỚT HỌ TRONG THỜI GIAN SỚM NHẤT, CHÚNG TA SẼ TẠO RA MỘT PHẢN ỨNG TÂM LÝ NGHIÊM TRỌNG NHẤT. CHÚNG TA SẼ PHẢI NHÌN NHẬN SỰ THẬT KHI NHẬT TUYÊN TRUYỀN LÀ CHÚNG TA ĐÃ BỎ RƠI NHÂN DÂN PHI LUẬT TÂN VÀ KHÔNG CHỊU ĐỔ MÁU CỦA MÌNH ĐỂ GIẢI CỨU HỌ; KHÔNG NGHI NGỜ GÌ NỮA CHÚNG TA SẼ GÂY RA MỐI THÙ HẬN CÔNG KHAI CỦA NHÂN DÂN ĐÓ, CHÚNG TA CHẮC CHẮN SẼ GÁNH CHỊU ĐÁNH MẤT UY TÍN VỚI MỌI DÂN TỘC TRONG VÙNG VIỄN ĐÔNG ĐẾN MỨC SẼ GÂY ẢNH HƯỞNG BẤT LỢI CHO HOA KỲ TRONG NHIỀU NĂM SẮP TỚI.

                      Marshall trả lời với giọng cảnh cáo gay gắt “là không để cảm xúc cá nhân và chính trỊ Phi Luật Tân ” che mờ mục tiêu chủ yếu của ông, là đánh thắng cuộc chiến. Ông xác định là “bỏ qua” không nhất thiết là bỏ rơi.” Tuy nhiên, MacArthur được giao cho cơ hội duyệt xét lại vấn đề trực tiếp với Tổng thống. Cơ hội chính là buổi họp chưa từng có sau đó năm tuần ở Hawaii giữa Rooesvelt, MacArthur và Nimitz. Marshall, Arnold và King không được mời; đối với King nó chỉ ra rằng Tổng thống, với phe Dân chủ đang họp hội nghị thường niên của họ ở Chicago, “mong ước đề cao vai trò của mình là Tổng tư lệnh Quân đội.”

                Roosevelt và đảng của mình lên tàu tuần dương hạng nặng Baltimora ở San Diego một ngày sau khi ông được đề cử tranh nhiệm kỳ lần thứ 4. Ngay đầu giờ chiều ngày 26/7 tàu tuần dương, cờ tổng thống phấp phới trên kỳ đài, băng qua Diamond Head. MacArthur, mà máy bay của ông vừa đáp xuống sau chuyến đi xa từ Brisbane, gặp Tổng thống ngay tại cầu tàu. Vị tướng còn mặc quân phục mùa đông của mình.

                “Douglas,” Đô đốc Leahy, nói đùa với người bạn gần 40 năm của mình, “tại sao anh không mặc y phục đúng đắn khi đến đây gặp chúng tôi chứ?”

                “Vâng, anh không ở tại nơi từ đó tôi đến, và ở đó bay trên không rất lạnh.”

                Đoàn xe tổng thống đi qua một hàng dài binh sĩ và đám đông đang hoan hô đến địa điểm hội nghị, một ngôi nhà tư như lâu đài trên Bãi biển Waikiki. Không còn cần tranh cãi về quyền ưu tiên của binh lính và quân nhu cũng không có vấn đề thành công về những gì sẽ đến. Sau buổi ăn tối Roosevelt chỉ tay đến Mindanao trên một bản đồ Thái Bình Dương và hỏi, “Douglas, từ đây anh đi đến đâu?”

                “Leyte, thưa Tổng thống, và sau đó Luzon!” MacArthur thuyết giảng dài dòng về ưu điểm của việc đánh chiếm Luzon trước khi xâm chiếm Đài Loan. Nimitz không bình luận.

                Sáng hôm sau những cuộc trao đổi chính thức được bắt đầu trong một phòng khách rộng trên tường treo đầy các bản đồ hành quân. Sử dụng một gậy tre dài để chỉ dẫn. MacArthur một lần nữa thúc giục phải chiếm đóng Luzon. Lần này Nimitz phản công, cũng sử dụng gậy chỉ, với kế hoạch riêng của mình nhằm đánh trực thẳng vào Đài Loan. Roosevelt dựa người vào ghế xe lăn, thưởng thức bài học địa lý. Một cách tế nhị ông thu hẹp những điểm tranh chấp. Nhưng sứ mạng hòa giải của ông không cần thiết. Nimitz, một người lắng nghe tuyệt vời, cuối cùng nhìn nhận lập luận của MacArthur là đúng khi cho rằng danh dự quốc gia và tính chiến lược khiến cho việc giải phóng Phi Luật Tân là thiết yếu trước khi tiến về Đài Loan.

                Sau buổi ăn trưa MacArthur bảo đảm với Roosevelt là sẽ không có hiềm khích giữa ông và Nimitz. “Chúng tôi nhìn ngay mặt nhau, thưa Tổng thống,” ông nói. “Chúng tôi hiểu nhau rất rõ.” Sau đó, khi máy bay cất cánh về Brisbane, ông quay sang người phụ tá nói “Chúng ta đã thuyết phục được họ!” một cách đắc thắng.

                Trong khi người Mỹ chuẩn bị chiến lược phức tạp cho cuộc xâm chiếm Leyte – được ấn định vào ngày 20/12, Bộ Tư lệnh Hoàng gia ở Tokyo đang ra sức dự đoán ý định của họ. Một “Kế hoạch Tiến hành các Chiến dịch Tương lai” hình dung các trận tấn công trên bốn khu vực: Phi Luật Tân; Đài Loan và Okinawa; các đảo nhà; và quần đảo Kurile ở phía bắc. Mặc dù được mang tên đầy lạc quan SHO-Go (Chiến dịch Chiến thắng), đó là một chiến dịch sinh ra từ tuyệt vọng, một chuỗi những trận phòng thủ một mất một còn. Hiển nhiên Phi Luật Tân là mục tiêu tiếp sau của Mỹ – SHO-I – và tất cả nhất trí rằng đây sẽ là chiến trường của Trận Đánh Quyết Định cả trên đất lẫn trên biển.

                Vấn đề là ở đâu và cách nào đương đầu với thách thức này và đưa trận đụng độ này đến kết quả thắng lợi thực sự. Đó là một vấn đề về địa lý. Quần đảo Phi Luật Tân, gần 7,100 đảo, nắm cách lục địa châu Á tầm 500 dặm, cách Đài Loan 230 dặm về phía nam. Nó trải dài 1,150 dặm từ Mindanao ở phía bắc qua quần đảo Visayan – các đảo trung tâm bao gồm Cebu và Leyte – đến Luzon; hòn đảo lớn nhất và quan trọng nhất. Chỉ có 11 hòn đảo có diện tích lớn hơn 1,000 dặm vuông và hai trong số, Mindanao và Luzon, chiếm hơn hai phần ba diện tích tổng cộng. Tuy nhiên, về phương diện chiến lược, Leyte – 1 phần 13 kích cỡ Mindanao – cũng không kém phần quan trọng. Nó ở ngay trung tâm của quần đảo, và vịnh mênh mông của nó mời mọc kẻ xâm lăng từ biển cả.

                Sĩ quan hành quân của Quân đoàn phương Nam muốn kháng cự quân Mỹ bất cứ nơi nào họ đổ bộ trước tiên – chắc ở đâu đó phía nam – trước khi họ có cơ hội xây dựng các căn cứ. Nhưng Tổng tham mưu Lục quân bác bỏ. Vì không thể biết chính xác đâu là nơi địch sẽ tiến đánh trước tiên, nên thay vì phân tán binh lính trên một số đảo phía nam; lực lượng chủ yếu sẽ tập trung ở Luzon, vốn có đường xá tốt nhất và có thể phòng thủ dễ dàng nhất.                

        Việc chinh phục Phi Luật Tân yêu cầu các cuộc hành quân phối hợp giữa biển và đất liền với qui mô chưa hề được tiến hành trước đây bởi Hoa Kỳ. MacArthur sẽ dẫn đầu cuộc tấn công, nhưng ông sẽ được Nimitz yểm trợ đầy đủ. Chính hải quân chịu trách nhiệm vô hiệu hóa không lực của Nhật Bản. Trận tấn kích đầu tiên được mở màn vào ngày 6/9 do Lực lượng Tác chiến 38 của Chuẩn Đô đốc Marc Mitscher. Suốt ba ngày các oanh tạc cơ của ông đánh vào Palau, cách Mindanao 550 về phía đông. Rồi ông sẽ chuyển hướng tấn công vào chính Mindanao vào ngày 9 và 10 tháng 9.

                Những trận không kích này thúc đẩy quân Nhật sẵn sàng cho cuộc phòng thủ Phi Luật Tân. Ở Manila, Thống chế Terauchi, mà Quân đoàn của ông được giao nhiệm vụ phòng thủ khu vực rộng lờn chạy dài từ New Guinea đến Miến Điện, tin tưởng với Tokyo máy bay có căn cứ trên đất liền có thể đánh chìm hầu hết các đoàn vận tải của địch trước khi họ kịp đổ lên bãi biển. Nhưng vị chỉ huy tại chỗ của các nhóm bộ binh, Trung tướng Shigenori Kuroda của Quân đoàn Khu vực 14, lập luận rằng ý niệm thì tốt nhưng bạn không thể “chiến đấu bằng các ý niệm mà thôi. Những lời nói sẽ không đánh chìm được tàu Mỹ và điều đó trở nên rõ ràng khi bạn so sánh máy bay của chúng ta với máy bay của địch.” Không lực Nhật Bản không đáng kể và trận đánh phải được đánh thắng trên đất liền.

                Thậm chí có sự bất hòa giữa cách thức đánh các trận loại này. “Tiêu diệt ngay tại Đầu cầu” đã là thủ tục tác chiến chuẩn mực trong mọi cuộc xâm chiếm trước đây. Nhưng sự chống đối biện pháp này đang lớn dần. Phòng thủ ngay bãi biển đã chứng tỏ là bất lực trước cuộc oanh tạc của pháo hạm tiếp theo là cuộc tấn công dữ dội. Bộ Tư lệnh Hoàng gia ra lệnh cho Terauchi xây dựng tuyến phòng thủ theo chiều sâu.

                Lệnh được chuyển đến sĩ quan chịu trách nhiệm cho việc phòng thủ Mindanao và Visayan – Trung tướng Sosaku Suzuki, mà đã có lần bị lôi ra khỏi giường một cách thô bạo ở Mã Lai bởi ngài Đại tá Tsuji nổi cơn lôi đình. Ông chỉ huy Quân đoàn 35, tương đương với một Quân đoàn Hoa Kỳ, và có bộ chỉ huy ở Cebu City. Vị tướng được các đồng nghiệp mô tả là một con người ôn hòa “có trái tim lớn” và “thẳng như ruột ngựa.”

                Suzuki không chỉ sợ cuộc xâm chiếm của quân Mỹ sẽ đến sớm hơn các thượng cấp của ông ở Tokyo và Mindanao nghĩ (ông bảo các tham mưu trưởng của mình ông dự đoán cuộc đổ bộ sẽ xảy ra vào 1 tháng 10) nhưng dự đoán chính xác là quân địch sẽ tập trung mũi tấn công vào Leyte. Ông bố trí Sư đoàn 30 ở phía bắc Mindanao để họ có thể nhanh chóng chuyển đến Leyte. Nhưng những sự kiện tức thời sau đó khiến ông ngờ là mình đã dự đoán sai. Vào ngày 10/9 một thông điệp đến từ một đơn vị quan sát hải quân cho biết quân địch đổ bộ gần Davao trên bờ biển phía nam của Mindanao. Hai giờ sau một báo cáo khác gởi đến:

                LÍNH THỦY MỸ DÙNG XE TĂNG LỘI NƯỚC ĐÃ ĐỔ BỘ VÀO MŨI PHÍA NAM CỦA

                NHỮNG ĐẢO NHỎ TỌA LẠC NGANG QUA BỜ TỪ DAVAO.                      

                Suzuki chuyển Sư đoàn 30 trở lại phía nam Mindanao và báo động Manila. Không đoàn 4 bắt đầu điều máy bay từ New Guinea đến Phi Luật Tân trong khi Hạm đội Hỗn Hợp báo động các lực lượng của mình vào SHO-I. Nhưng đã không có cuộc đổ bộ nào của quân địch. Những lính quan sát đứng trên một ngọn đồi nhìn qua vịnh đã nhìn lầm những đợt sóng nhấp nhô là xe đổ bộ.

                “Hãy coi việc rủi ro này là một bài học,” Suzuki bảo ban tham mưu. Lần sau, ông dặn dò, họ không nên hành động cập rập như thế.

                Hai ngày sau Mitscher nối lại các cuộc tấn công của mình, mà cuối cùng sẽ tràn qua Phi Luật Tân thẳng đường đến Okinawa. Trong vòng 48 giờ, 2,400 lượt phi cơ xuất kích đánh phá Visayan. Thiệt hại gây ra quá hoàn toàn và thương vong của Mỹ ít ỏi đến nỗi Đô đốc Halsey, người chỉ huy Hạm đội Thứ ba (giờ bao gồm hầu hết các tàu của Hạm đội Thứ năm cũ của Spruance , và tự hỏi tại sao trận xâm chiến Leyte không nên tiến hành sớm hơn. Ông ngồi trong góc trên đài chỉ huy của tàu chiến New Jersey và “suy nghĩ về việc đó.” Thực ra đó không là công việc của ông và nó có thể “làm hỏng nhiều kế hoạch lớn, có thể lên tới ngài Roosevelt và Churchill,” nhưng nó cũng có thể “rút bớt cuộc chiến vài tháng.”

                Halsey triệu tập tham mưu trưởng của mình, Robert Carney, và thư ký của mình, Harold Stassen, và nói, “Tôi chuẩn bị xâm mình đây. Hãy gởi một công điện khẩn cho CINCPAC [Tổng Tư Lệnh Mặt Trận Thái Bình Dương].” Nó đề xướng việc hủy bỏ những chiến dịch mở màn trên Yap, Morotai và Mindanao, và đánh chiếm Leyte “vào thời điểm sớm nhất.” Nimitz chuyển tiếp thông điệp tới Quebec nơi Roosevelt và Churchill đang họp lần nữa. Sự táo bạo trong đề nghị của Halsey khiến họ hoang mang, nhưng họ cần MacArthur ban phước lành.

                Vị tướng đang ở trên tàu Nashville trên đường đến Morotai, một trong Quần đảo Spice giữa New Guinea và Mindanao, chặn áp chót trên lộ trình đến Phi Luật Tân. Nashville đang dưới chế độ im lặng ra-điô, và quyết định giao cho tham mưu trưởng của MacArthur, Tướng Sutherland, vẫn còn ở lại New Guinea. Ông biết chỉ huy mình mong mỏi giải phóng Phi Luật Tân càng sớm càng tốt, vì thế, nhân danh MacArthur, ông điện cho Quebec là cuộc tấn công Leyte có thể tiến hành vào ngày 20/10, hai tháng trước thời khóa.

                Vào ngày 15/9 binh sĩ của MacArthur đổ bộ lên Morotai mà không gặp kháng cự nào trong khi binh sĩ của Halsey đụng độ ác liệt trên Pelelieu, một trong quần đảo Palau.* Sáu ngày sau Mitscher tiếp tục càn quét dữ dội Phi Luật Tân. Táo bạo, ông cho các tàu sân bay của mình vào trong vòng 40 dặm bờ biển phía đông của Luzon để phóng ra bốn cuộc không kích vào khu vực Manila. Những đường băng trên sân bay Clark và Nichols bị cày nát, hơn 200 máy bay bị phá hủy và việc chuyên chở tàu ở Vịnh Manila bị đánh phá. Chỉ 15 máy bay Mỹ bị mất và không có phi cơ Nhật nào có thể chọc thủng màn chắn bảo vệ Lực lượng Tác chiến 38.

 

3.

                Hiện giờ, thậm chí ở Tokyo, rõ ràng là cuộc xâm chiếm Mỹ vào Phi Luật Tân đang đến gần. Tướng Kuroda, người đã tiên đoán một cách hiện thực là các máy bay Nhật đặt căn cứ trên đất liền không thể ngăn chận lực lượng hải quân của Mỹ, bị cách chức với lý do bên ngoài là ông quá “bỏ thì giờ chơi gôn, đọc sách và những vấn đề cá nhân hơn là cho việc hoàn thành nhiệm vụ chính thức.”

                Người thay thế ông ở chức vụ chỉ huy tất cả bộ binh trong quần đảo là một trong những người hùng của những thắng lợi trước đây, người chinh phục Singapore. Sau chiến dịch đó, Tướng Tomoyuki Yamashita đã được lệnh đến Mãn Châu để huấn luyện binh sĩ. Ông không được cho phép ghé lại Tokyo. Điều này, Tư lệnh Hoàng gia giải thích, là để ngăn cản người Nga biết về công tác mới của ông, nhưng Yamashita, người vốn có hục hặc với Tojo nhiều năm ròng, tin rằng đó chỉ là cái cớ để không cho ông xuất hiện trước công chúng.

                Trên đường đi về nam Yamashita bảo với sĩ quan hành quân của mình, Thiếu tá Shigeharu Asaeda, người vốn nôn nóng hành động giống như xếp của mình, rằng ông sợ chiến dịch Phi Luật Tân sẽ “sớm trở thành một Trận Minatogawa khác” – một trận đánh mà người chỉ huy biết ngay từ đầu là mình không có cơ may nào chiến thắng. Nhưng ông che giấu sự bi quan của mình với tham mưu mới, và khi đến bộ chỉ huy Quân đoàn Khu vực 14 ở Đồn McKinley gần Manila vào ngày 6/10, ông bảo với họ là số phận của Nhật Bản phụ thuộc vào kết quả của trận đánh. Mỗi sĩ quan có một “nghĩa vụ nặng nề” phải chiến đấu ngoan cường, táo bạo và với tinh thần quyết thắng. “Nếu tất cả chúng ta đều nhớ điều này, Quân đội Nhật Bản cuối cùng nhất định chiến thắng.”

                Không đến 20,000 quân – Sư đoàn 16 – đang đồn trú trên đảo mục tiêu của MacArthur, Leyte. Đơn vị này đã đổ bộ lên bờ biển phía đông của Luzon vào chiều ngày Noel, 1941, và sau khi tham gia việc đánh chiếm Manila, tiếp tục chiến đấu ở Bataan. Nhưng đa số quân số đầy đủ hiện thời, kể cả vị chỉ huy của nó, Trung tướng Shiro Makino, là lực lượng thay thế vốn chưa hề đánh trận. Trong Lục quân Nhật Bản, nó không mấy tiếng tăm; họ phần đông là những lính nghĩa vụ từ vùng Kyoto-Osaka và “giỏi làm ăn hơn là đánh trận.”

                Leyte bị chêm giữa hai đảo lớn hơn, Samar về phía đông bắc và Mindanao về phía nam. Nó có hình dáng của một cái răng hàm có chân chỉa về hướng Mindanao. Trên bờ biển phía đông một bình nguyên màu mỡ chạy dọc theo Vịnh Leyte 35 dặm. Không có vách đá nào bảo vệ bãi biển cát lộ thiên, khiến nó là địa điểm hoàn hảo cho hoạt động đổ bộ. Nhưng một

vài dặm trong đất liền binh lính của MacArthur sẽ phải băng qua một phức hợp các đầm lầy, suối rạch và ruộng lúa gần như không thể vượt qua được trừ ra bằng đường xá trong mùa mưa, giờ đã bắt đầu. Phần còn lại của hòn đảo đầy đồi núi và rừng cây rậm rạp, khó tấn công cũng như phòng thủ. Nó đầy ắp những băng nhóm du kích, vốn hay hiềm khích với nhau  cũng như với quân Nhật. Giá trị chính yếu của họ là qua họ MacArthur có thể nắm được thông tin đáng tin cậy về hoạt động phòng thủ của Tướng Makino.

                Gần như có 1 triệu người trên hòn đảo, tất cả  – trừ 3,076 người Hoa, và một nhúm người Âu, Mỹ và Nhật – là những người Visayan chất phát sống chuyên bằng trồng trọt và đánh cá. Hoa lợi chủ yếu của họ là lúa, đường mía, bắp và cùi dừa khô.

                Tại Hollandia cũng như tại Manus, một trong những đảo chủ quyền cách New Guinea 200 dặm về hướng bắc, một hạm đội khủng – gồm các tàu chiến, tàu tuần dương, tàu sân bay nhỏ, tàu khu trục, tàu vận tải, tàu dầu, tàu đổ bộ, tàu dò mìn, tàu kéo cứu hộ và ụ khô nổi – đang chuẩn bị lên đường đến Leyte. Quân số của hạm đội là 50,000 thủy thủ, còn các tàu vận tải và xe đổ bộ chở đến 165,000 binh lính của Quân đoàn thứ 6 của MacArthur. Trận đổ bộ lên Leyte cho đến lúc này sẽ là chiến dịch lớn nhất ở Thái Bình Dương. Lần đầu tiên tất cả lực lượng của MacArthur, Nimitz và các chỉ huy oanh tạc cơ hải ngoại được thống nhất.

                Lộ trình an toàn cho đoàn tàu này vẫn còn là mối quan ngại của Mitscher và để hoàn thành việc này ông phải đi khắp từ Biển Phi Luật Tân đến Biển Đông Trung Hoa và trở lại. Lực lượng Tác chiến 38, vốn đã thực sự loại bỏ không lực Nhật ở Phi Luật Tân, trước tiên đi 1,000 dặm về hướng bắc đến Okinawa, một hòn đảo được coi là thuộc vùng đất nhà của Nhật Bản. 1,396 lượt máy bay xuất kích của Mitscher vào ngày 8/10 đã phá hủy 100 máy bay và số lượng đáng kể hàng chuyên chở, bao gồm 4 tàu hàng, một tàu tiếp liệu cho tàu ngầm và một tá xuồng phóng ngư lôi.

                Vị đô đốc quay lại về nam để oanh tạc bắc Luzon vào ngày hôm sau. Rồi ông đổi hướng một lần nữa  và ngay trước hừng đông ngày 12/10 phóng đi các chiến đấu cơ từ nhóm 4 tàu sân bay vào Đài Loan. Tại đây ông gặp sức kháng cự mạnh mẽ đầu tiên. Chuẩn Đô đốc Shigeru Fukudome, chỉ huy của Không lực Căn cứ số 6, phái lên 230 phi cơ phục kích người Mỹ. Nhiều phi công trẻ Nhật chỉ học kỹ thuật tác chiến của mình qua phim ảnh,* nhưng họ ắt hẳn đông hơn kẻ địch ít nhất là 3 so với 2.

  • Hảng phim Toho xây dựng một hồ ở Setagaya với các mô hình sáu bộ các tàu chiến Mỹ. Đặt một máy quay phim trên một cần trục ở một tháp cao quay các con tàu từ nhiều góc cạnh khác nhau, tiến đến mô hình tàu địch với các tốc độ khác nhau mô phỏng cái nhìn của phi công khi tấn công. Những phim này được chiếu thay thế huấn luyện bay thực sự để tiết kiệm nhiên liệu.

                  Từ vị trí chỉ huy Fukudome trông thấy từ xa máy bay địch xà xuống các sân bay của ông; tận trên cao, các chấm nhỏ – máy bay Zero đánh chận – bắt đầu lao thẳng xuống người Mỹ. Có những trận nổ lóe sáng và những đường khói cầu vòng kéo dài. Fukudome phấn khích vỗ tay. “Giỏi quá! Giỏi quá! Một thắng lợi ngoạn mục!” Nhưng người Mỹ tiếp tục bay đến trong đội hình hoàn hảo. Các máy bay bị bắn hạ sau đó là của ông. Các phi công của ông giống như “nhiều quả trứng chọi vào bức tường đá của đội hình bất khuất của kẻ địch.

                Fukudome mất một phần ba máy bay đánh chận trong đợt đánh đầu tiên, và mất hết số còn lại trong đợt thứ hai. Không còn chiếc nào phóng lên khi đợt tấn kích thứ ba tới. Người Mỹ tiếp tục không kích vào sáng hôm sau và, không gặp chống đối, gây thiệt hại cho các các căn cứ hàng không ở Đài Loan nặng nề hơn ngày hôm qua. Người Nhật đáp trả vào lúc hoàng hôn. Hơn 30 oanh tạc cơ được thiết kế đặc biệt để đánh ban đêm bay đi về phía Lực lượng Tác chiến 38, lướt trên đầu ngọn sóng để tránh bị ra-đa phát hiện. Ba máy bay ném bom bổ nhào lẫn tránh được các máy bay đánh chận  và bỏ bom xuống tàu sân bay Franklin. Hai bom ném trật, nhưng quả bom thứ ba nổ ngay trên thang nâng ở boong tàu. Lửa bùng phát trên khu bên mạn trái nhưng được dập tắt ngay. Tàu sân bay nặng Canberra (được đặt tên theo tàu sân bay của Úc đã bị đánh chìm ở Trận Savo) không gặp may mắn như thế. Một quả ngư lôi đâm vào mạn tàu, xé toạc một lỗ lớn. Nước tràn vào như thác và chết máy cách Đài Loan 90 dặm.

                Halsey, trên tàu chỉ huy New Jersey của mình, đối mặt với một quyết định khó khăn. Ông có nên bỏ tàu Canberra hay liều một con tàu khác để kéo nó với tốc độ 4 hải lí về Đảo San hô Ulithi cách đó 1,300 dặm trong Quần đảo Caroline? Halsey là người thích mạo hiểm nên ra lệnh một tàu tuần dương kéo Canberra đi. Để đánh lạc hướng quân Nhật ông ra lệnh một đợt oanh kích thứ ba ngoài dự kiến vào Đài Loan. Vào buổi sáng Mitscher phái đi ba đợt xuất kích vào các sân bay Đài Loan trong khi 109 B-29 của Không lực Lục quân rời các căn cứ của chúng sâu trong đất Trung Hoa đế đánh phá Takao. Đến chiều tối, hơn 500 máy bay Nhật đã bị hủy diệt trong cuộc không chiến ba ngày.

                Nhưng các phi công Nhật còn sống sót, mà trước đây họ chỉ biết nhìn hình ảnh của không chiến qua các mô hình trên hồ nước trong phim trường Toho, giờ báo cáo một thắng lợi vĩ đại nhất trong lịch sử hải quân Nhật Bản, và khi hạm đội Halsey rút đi để đánh phá nơi khác, Đô đốc Toyoda – lúc đó đang ở Đài Loan trong một chuyến thị sát – thấy hành động này như là việc khẳng định cho thảm bại của Mỹ. Ông ra lệnh cho Fukudome đuổi theo “tàn binh” của Hạm đội thứ Ba với tất cả oanh tạc cơ còn lại. Ngày hôm sau, ngày 15/10, Fukudome phóng đi ba đợt đánh phá. Chỉ có một nhóm tìm được địch, và liền bị đẩy lui. Chiều sau đó một đội gồm 107 máy bay đuổi kịp hạm đội Mỹ đang rút lui. Chỉ có ba máy bay chọc thủng bức màn chắn chiến đấu cơ và một máy bay bắn trúng tàu tuần dương nhẹ Houston bằng một quả ngư lôi. Hơn 6,500 tấn nước tràn vào và nó hình như đi theo cùng số phận của chiếc Houston đầu tiên, bị phá hủy ngoài khơi Java, nhưng các đội kiểm soát thảm họa khống chế được lỗ rò, và như Canberra, nó được kéo đi.

             Halsey không mất một tàu nào trong cuộc truy quét từ Okinawa đến Luzon.

Ông điện cho Nimitz một cách khôi hài: NHỮNG CON TÀU BỊ CHÌM VÀ THIỆT HẠI CỦA HẠM  ĐỘI THỨ BA ĐÃ ĐƯỢC CỨU VỚT VÀ RÚT LUI VỚI TỐC ĐỘ CAO VỀ PHÍA ĐỊCH. Ông đang  hướng về nam để yểm trợ cho cuộc tiến công sắp tới ở Leyte.

                Ở Nhật cả Hạm đội Hỗn Hợp lẫn bộ Tư lệnh Hoàng gia không có lý do gì ngờ vực các báo cáo về những thắng lợi vang dội của các phi công quay về. Một thông cáo chính thức được phát đi vào ngày 16/10 tuyên bố rằng trong trận đánh Đài Loan 11 tàu sân bay, 2 tàu chiến, 3 tàu tuần dương và 1 tàu khu trục hoặc tàu sân bay nhẹ đã bị đánh chìm và gần như một số tương tự bị hư hại. Ngoài ra, 112 máy bay bị bắn rơi. Thông cáo cũng nhìn nhận có 312 máy bay Nhật vẫn chưa “trở về” nhưng đây là giá trả nhỏ so với Hạm đội thứ Ba bị tê liệt. Thiên hoàng mở một buổi tiệc ăn mừng ở Công viên Hibiya.

                Về phía nam một cơn bão càn quét qua Phi Luật Tân, nhưng vào hừng đông ngày 17/10 cơn bão đã lắng dịu. Qua mặt biển vun vút gió mạnh quất một nhóm tàu tấn công Mỹ – 2 tàu tuần dương nhẹ, 4 tàu khu trục và 8 tàu khu trục chở quân – tiến theo ba tàu quét mìn vào Vịnh Leyte. Trong 20 phút một tàu tuần dương trong nhóm, Denver, pháo kích Suluan, một đảo nhỏ ở cửa vịnh. Rồi Tiểu đoàn Bộ binh Biệt kích thứ 6 đổ xuống từ tàu chở quân trong cơn mưa xối xả để đổ bộ mà không gặp kháng cự. Đội Biệt kích tìm kiếm bản đồ bố trí mìn trong một hải đăng nhưng không tìm thấy. Họ thanh toán gần hết đội quân Nhật đồn trú 32 người, nhưng một lính canh đã kịp gởi đi một cảnh báo qua điện đài. Y phóng đại kích cỡ của nhóm tấn công (y báo cáo có “2 tàu chiến, 2 tàu sân bay được chuyển đổi và 6 tàu khu trục” nằm ngoài khơi đảo của y) đến nỗi sự hiện diện của họ tạo ra một sự báo động khẩn cấp. Đô đốc Toyoda, vẫn còn ở lại Đài Loan, báo hiệu cho Đô đốc Takeo Kurita mang Lực lượng Tấn kích Thứ nhất đến nơi từ Singapore, rồi ra lệnh cho Hạm đội Cơ động của Ozawa hãy đi nhanh khỏi Biển Inland (nơi nó được tái cơ cấu sau thảm bại của nó ở Biển Phi Luật Tân) và hướng thẳng về Phi Luật Tân. Ông cũng chỉ thị cho các tàu ngầm hướng đến hải phận Leyte và tấn công hạm đội Mỹ. Rồi ông cất cánh về Nhật để có mặt ở bộ Chỉ huy Hạm đội Hỗn Hợp một khi Trận Đánh Quyết Định bắt đầu.

                Nhưng người có nhiệm vụ phòng thủ Visayan thấy báo động ở Suluan là một báo cáo sai lầm khác. Ở Cebu, Tướng Sosaku Suzuki nhớ lại cơn cuống cuồng khi sóng bạc đầu ngoài khơi Mindanao được báo cáo là tàu đổ bộ. Làm thế nào quân địch có thể tiến hành một cuộc xâm chiếm sau khi chịu một tổn thất hải quân lớn hơn cả trận Trân Châu Cảng được? Các cấp trên của ông ở Manila cũng hoài nghi; những phi công quan sát đã báo cáo không gặp được gì ở Vịnh Leyte qua những đám mây và mưa.

                Trên chính Leyte, chỉ một mình Tướng Makino sợ rằng đó là một cuộc xâm chiếm  thực sự và ra lệnh báo động – trái ngược lời khuyên của ban tham mưu, lập luận  rằng các tàu Mỹ đang ở cửa Vịnh Leyte chỉ là tàn quân của trận đánh Đài Loan đã giạt về nam đến đây tránh bão.

                Ngày 18/10 rựng sáng quang đãng, và quân Biệt kích không gặp rắc rối gì khi đổ bộ lên Homonhon, một hòn đảo sát bên đảo nhỏ Suluan. (Một sĩ quan tham mưu của Makino bay qua vịnh khoảng thời điểm này nhưng không thấy gì qua lớp sương mù.) Không có binh lính Nhật, không đồn lũy. Không gặp kháng cự (“Ở đây chúng tôi trang bị đến tận răng nhưng không thấy bọn Nhật nào hết!”) nhóm Biệt kích hoàn thành nhiệm vụ của họ: xây dựng đèn hiệu giao thông để hướng dẫn đoàn vận tải. 15 dặm về phía nam, những toán Biệt kích khác đang tràn lên bãi biển ở Dinagat, một hòn đảo lớn hơn nhiều bảo vệ lực lượng đang tiến gần về phía dưới vịnh. Ở đây cũng không có người ở, và một cột đèn hiệu giao thông thứ hai được dựng lên ở đầu mút cuối, Điểm Desolation. Đoàn vận tải sẽ đi vào vịnh giữa hai hòn đảo này.

                Đến trưa lối vào Leyte đã được chiếm lĩnh. Hai giờ sau tàu chiến Pensylvania, cùng với 2 tàu tuần dương và 7 tàu khu trục, bắt đầu oanh tạc Leyte dọc theo vịnh. Sau đó những  đội hoạt động ngầm được các xuồng đổ bộ chở đến để khảo sát những điều kiện trên bãi biển. Quân Nhật đang ẩn núp trong các hầm trú ẩn dọc sau các rặng dừa dọc theo con đường bờ biển khai hỏa, đánh chìm một xuồng đổ bộ. Phớt lờ cơn mưa đạn, những đội phá ngầm khác tiếp tục làm việc và sớm trở về với báo cáo: bãi biển an toàn không có mìn và chướng ngại vật.

                Bộ phận liên lạc của Makino – không đủ phương tiện hoạt động – gần như đã bị hư hỏng hoàn toàn do cơn bão, mà ông không biết tình trạng này. An tâm khi viên sĩ quan vừa bay qua vịnh báo cáo không thấy gì đáng lo ngại, ông báo cáo với Suzuki là các con tàu Mỹ được trông thấy mới đây trong vịnh chắc hẳn đang tìm chổ trú ẩn tránh bão.

                Ở Nhật sự tự mãn này không được Hạm đội Hỗn Hợp chia sẻ. Ngay trước trưa Đô đốc Toyoda cho lệnh tiến hành SHO-I, và lần đầu tiên ban tham mưu của ông tiết lộ với Lục quân tại một phiên họp hổn hợp kế hoạch chi tiết cho một trận đánh vét kiệt; Hải quân sẽ tấn công các lực lượng đổ bộ ở Vịnh Leyte với mọi con tàu có được. Thái độ “tất cả ngã về không” này khiến Tướng Kenryo Sato lo âu. Nếu Hải quân thất bại, Lục quân còn có cơ may nào trong Trận Đánh Quyết Định? “Hạm đội Hỗn Hợp không chỉ thuộc về Hải quân mà còn thuộc về nhà nước,” Sato chỉ ra. Sự hủy diệt của nó – ông sử dụng từ “tự hủy diệt” – sẽ mở cửa tổ quốc cho địch xâm lăng. “Chỉ có sự tồn tại của hạm đội mới khiến kẻ thù cân nhắc,” ông nói với giọng tắt nghẹn. “Vì thế hãy làm ơn, thưa quí vị, hãy thận trọng.”

                “Tôi rất biết ơn khi biết rằng,” Chuẩn Đô đốc Nakazawa, trưởng Bộ phận Hành quân, nói, “Hạm đội Hỗn Hợp được các bạn Lục quân coi trọng.” Lời nói của ông rất thành thật. Ông nài xin “một chốn thích hợp để chết.” Phi Luật Tân sẽ là cơ hội cuối cùng. “Làm ơn cho Hạm đội Hỗn Hợp cơ hội được bừng nở như những bông hoa của tử thần.” Giọng nói của ông run run. “Đây là yêu cầu nghiêm túc của Hải quân.”

                Sato không thể cầm được nước mắt hay tiếp tục bàn bạc. Ông tán thành một cách hòa nhã. Chiều đó Thiên hoàng chúc phúc cho SHO-I.

                Phía nam Thái Bình Dương, rải rác qua hàng ngàn dặm vuông, đoàn tàu tiến công – 420 tàu vận tải và 157 tàu chiến gồm tuần dương, khu trục yểm trợ và pháo kích – đang lướt sóng về Vịnh Leyte, và ngay trước hừng đông ngày 19/10 họ đi vào vịnh và bắt đầu pháo kích bãi biển đổ bộ. Cùng lúc đó các máy bay trên tàu sân bay đánh phá mọi căn cứ không quân trên đảo Visayan. Họ gần như tiêu diệt lực lượng không quân còn lại trên khu vực.

                Trận địa cuối cùng được dàn dựng cho sự xuất hiện của đoàn tàu xâm lăng hùng tráng kinh khủng. Lúc 11 giờ tối hôm đó nó đến vị trí tập kết cách Vịnh Leyte 17 dặm về hướng đông và chạy chầm chậm về phía cửa vịnh, được đánh dấu bởi đèn hiệu lưu thông trên các đảo Dinagat và Homonhon. Các bài giảng Cơ đốc và Tin lành oang oang trên các hệ thống loa phóng thanh át cả tiếng các khu trục đang dội pháo trên vị trí đổ bộ, và nhiều hơn một người có cảm tưởng u ám là mình đang nghe buổi kinh cầu cuối cùng của mình.

                Trong 11 tiếng nữa các bộ binh sẽ tràn ngập những bãi biển này, và họ cố nghỉ ngơi trong không gian tù túng. Những binh sĩ không ngủ được đếm giờ phút chầm chậm trôi qua trên giường sắt hoặc trên boong tìm chút không khí khoáng đạt. Tàu hình như di chuyển chút ít khi chúng lướt qua cửa vịnh. Họ ít trao đổi; mỗi người đắm chìm trong cõi suy tư và nổi hồi họp của mình. Bên trái lù lù hiện ra một hình dáng đầy đe dọa, Đảo Dinagat, tối đen trừ ở mút cuối, Điểm Desolation, nơi một đèn hiệu trắng đang nhấp nháy.

                Một bộ binh ngã xuống biển. Tai nạn được thông báo qua loa: “Phía đuôi tàu hãy tìm kiếm.” Cuộc giải cứu hình như vô vọng trong làn nước phát sáng chảy xiết, nhưng 20 phút sau một tàu nhỏ gần cuối đội hình trông thấy người lính và vớt y lên.

                Trong ánh sáng xám xịt đầu tiên của ngày 20/10 – MacArthur đã thiết kế ngày A, vì ngày D, đối với công chúng, có nghĩa là ngày 6/6/1944 – đường viền lờ mờ của Leyte dần hiện rõ. Mặt trời phía sau đoàn tàu, chiếu sáng rực bầu trời trong xanh trên đầu. Trong vài phút nữa trời sẽ nóng khủng khiếp. Cái yên ắng bị phá vỡ khi ba tàu chiến khai hỏa. Những cột khói xám vọt lên dọc theo bãi biển Tím và Vàng gần Dulag. 12 phút sau một máy bay quan sát Nhật xuất hiện. Tiếng súng ạch ạch nở rộ bốn phía, nhưng chiếc phi cơ nhỏ chạy thoát được không hề hấn gì.

                Khoảng 7 giờ ba tàu chiến khác tham gia pháo kích, mục tiêu của chúng là bãi biển Trắng và Đỏ về phía bắc, ngay bên dưới Tacloban, thủ phủ. Trong vòng một giờ đoàn vận tải bắt đầu di chuyển khoan thai trên mặt nước trong suốt như gương đến vị trí cách bờ biển 7 dặm. Các tàu chiến ngừng bắn để các tàu tuần dương, khu trục và pháo xuồng tiến vào sát hơn để pháo kích. Cơn sấm sét tiếp tục của pháo thình lình được tăng cường bởi tiếng hú đáng sợ khi hàng ngàn quả rốc-kết bắn lên đồng thời từ các pháo xuồng nhỏ. Vài giây sau một tiếng nổ sét đánh vang lên. Toàn bộ dải đất bờ biển là “một bức tường lửa lóa mắt và cuồn cuộn.” Khi khói tan dần, những binh lính trên tàu không tin vào mắt mình – nơi mới vài giây trước đây là một vạt rừng xanh um giờ chỉ là “một bãi hoang tàn đầy khói bụi trơ vơ.”

                Lúc 9:45 – 15 phút sau trước giờ H – tàu đổ bộ, từ nảy giờ luồn lách vào vị trí như thể đang trong một cuộc đua gay cấn, đâm về phía bãi biển trên một chiến tuyến rộng 12 dặm. Ở phía bắc Sư đoàn Kỵ binh 1 ào lên bãi biển Trắng. Các tay thiện xạ Mỹ bắn các tay bắn tỉa Nhật rơi xuống các ngọn dừa bằng súng các-bin hoặc Ga-răng; những hầm trú ẩn bê tông bị giật mìn và lính kỵ binh lướt về phía xa lộ dọc bờ biển. Ở bên trái Sư đoàn Bộ binh 24 cũng đổ bộ mà không gặp rắc rối nào – hai người trong số họ, trong đó có một người Phi cắm các lá cờ Mỹ và Phi trên bãi biển Đỏ – nhưng họ chạm trán với các ổ kháng cự Nhật ngoan cường nên họ phải mất vài giờ mới đến được đường lộ. Xa hơn về phía nam Sư đoàn Bộ binh 96 đổ bộ an toàn lên bãi biển Cam và Xanh. May mắn thay, hầu hết các ụ pháo đóng ở Đồi Catmon, khống chế khu vực, đã bị trận hải pháo phá hủy. Họ tiến sâu vào đất liền gần một dặm trước khi tiến chậm lại vì đầm lầy và ổ kháng cự lẻ tẻ. Bên trái của họ ở đầu tận cùng phía nam – các bãi biển Tím và Vàng – Sư đoàn Bộ binh 7, đã tham gia trận đánh ở Attu và Kwajalein, đụng độ với lực lượng kháng cự mạnh mẽ nhất, nhưng đến trưa thì Dulag cũng chiếm được.

                MacArthur quan sát chăm chú cuộc đổ bộ từ đài chỉ huy của tàu tuần dương Nashville cho đến buổi cơm trưa. Ông xuất hiện lại trên boong tàu trước hai giờ một chút, mặc một bộ quân phục kaki mới giặt, đeo kính mát và đội mũ lưỡi trai. Ông trèo xuống thuyền chỉ huy với các sĩ quan và nhà báo. Thuyền hướng về tàu vận tải John Land, trên đó Sergio Osmena , Tổng thống Phi Luật Tân kể từ sau khi Quezon qua đời ba tháng trước, đợi cùng với Tướng Carlos Romulo để tháp tùng. Romulo đã không gặp MacArthur hai năm rồi và hăm hở leo xuống thang dây.

                “Carlos, chàng trai của tôi!” MacArthur kêu lên. “Chúng tôi về nhà rồi đây!”

                Cuộc tiếp đón MacArthur niềm nở của Osmena che giấu cảm xúc thực sự của ông. Phải cần một lời biện hộ cá nhân từ Tổng thống Roosevelt để thuyết phục ông trở lại Phi Luật Tân dưới bóng của một vị tướng. Nhưng nỗi hân hoan của giây phút gạt đi sự khác biệt cá nhân. Tất cả bọn họ trao đổi ngay lập tức. “Chúng tôi đang ở đây” được lặp đi lặp lại. MacArthur vỗ đầu gối Sutherland. “Tin hay không tùy ý,” ông nhăn răng cười, “chúng tôi đã trở lại.”

                Con thuyền chạm bãi biển Đỏ, khoảng 5 dặm bên dưới Tacloban. Thang sập xuống và MacArthur bước xuống biển nước ngập đến gối. Theo sau ông là Osmena, Tướng George Kenney và những người khác. Ngài Romulo nhỏ thó, đang mang một đôi giày mới, chật vật lắm mới theo những bước sảy dài của MacArthur.

                Bờ biển ngổn ngang vì xác bốn xe đổ bộ bị hư hại, một chiếc còn đang cháy, và thỉnh thoảng đoàn người nghe tiếng tạch tạch của súng máy và súng trường. Ngậm ống píp lõi ngô và trang bị một khẩu súng lục cũ của thân sinh giữ trong túi sau, MacArthur tìm kiếm một vạt kè cho chỉ huy Sư đoàn 24, Thiếu tướng Frederic Irving. “Đây là điều tôi từng mơ ước,” Romulo nghe ông lẩm bẩm.

                Bộ binh nằm sấp đang tập trung hỏa lực về mục tiêu nào đó phía trước. “Ê, Tướng MacArthur kìa,” một người nói.

                Thằng bạn anh ta không buồn nhìn lên. “Vậy hả? Và tôi chắc là ông ta có dẫn theo Eleanor Roosevelt.”

                Sau một trao đổi ngắn ngủi với Tướng Irving, MacArthur quay lại với nhóm mình. Ông bước tới Osmena, choàng một tay qua vai ông. “Ngài Tổng thống, về nhà ngài thấy thế nào?” ông hỏi. Họ ngồi xuống trên một thân cây đổ. “Ngay khi chúng ta chiếm lấy Tacloban tôi sẽ chuyển giao chính quyền cho anh. Việc này có thể đến sớm hơn chúng ta đã dự kiến, mọi sự sẽ suôn sẻ.”

                “Tôi đã sẵn sàng khi ngài sẵn sàng, Tướng quân.”

                Họ bị cắt đứt khi một sĩ quan truyền tin đưa cho ông một mi-crô cầm tay. “Tiếng Nói Tự Do” đã lên sóng trở lại. Khi MacArthur bắt đầu phát biểu, giọng nói của ông chan chứa xúc động với bàn tay run run, một vài giọt mưa rơi xuống. “Hỡi nhân dân Phi Luật Tân, tôi đã trở về. Nhờ Ơn Trên lực lượng chúng ta đã đứng trên đất Phi Luật Tân một lần nữa . . . Bên cạnh tôi là Tổng thống của các bạn, Sergio Osmena, người kế nhiệm xứng đáng của nhà ái quốc vĩ đại, Manuel Quezon, cùng với các thành viên của nội các ông.”

                Ở hậu cảnh, những xe tải đang ầm ừ nghiến qua bãi biển, và máy bay gầm thét trên đầu. Thỉnh thoảng vọng lại những tiếng nổ bùm ở xa vọng lại của đạn pháo từ tàu rót vào những vị trí địch trong nội địa. Giọng nói ông cất cao lên, vị tướng kêu gọi dân chúng qui tụ chung quanh Tổng thống trong tinh thần Bataan và Corregidor. Khi trận tuyến tiến về phía trước để mang các bạn vào trong vùng của chiến dịch, hãy đứng lên và giáng trả . . . Cho ngôi nhà và tổ ấm của bạn, hãy giáng trả! Cho các thế hệ tương lai con trai và con gái của bạn, hãy giáng trả! Nhân danh những tử sĩ anh linh, hãy giáng trả! Không ai được hèn yếu! Hãy biến cánh tay thành sắt thép. Thượng đế thiêng liêng sẽ chỉ đường. Hãy tiến theo Người đến chiếc Chén Thánh của chiến thắng công chính!”

                Osmena cầm chiếc mi-crô. Công cuộc giải phóng đảo nhà sẽ là trách nhiệm chung của người Mỹ và người Phi Luật Tân, và ông thúc giục nhân dân hợp lực. “Chúng ta được người Mỹ hứa là xứ sở chúng ta, vốn đã bị chiến tranh tàn phá, sẽ được tái thiết và phục dựng. Những bước đầu tiên đã khởi sự cho mục đích này. Khi tình hình bình thường trở lại, luật pháp và trật tự sẽ được tái lập và tiến trình dân chủ của một chính quyền hợp hiến sẽ được phục hồi.”

                Romulo cũng ca ngợi người Mỹ. “Các bạn phải tiếp tục giữ vững lòng tin với họ. Bạn không thể làm họ thất vọng.”

                Tâm hồn phơi phới, MacArthur thơ thẩn quanh vạt rừng ẩm ướt nói chuyện với các bộ binh cho đến khi một sĩ quan lo lắng nhắc ông, “Thưa ngài, ngoài đó có các tay bắn tỉa,” và chỉ vào các cây gần đó. MacArthur hình như không nghe. Ông ngồi xuống một khúc gỗ và nhìn trân trân vào khoảng xa, đến mảnh đất mà ông thề sẽ giải phóng.

                Một vài dặm về phía bắc, binh lính thuộc Kỵ binh 1 đã đến ngoại vi Tacloban. Họ đào hố cá nhân, dựng súng cối và súng máy trong trường hợp bị đột kích ban đêm. Thay vào đó họ được vây quanh bởi những người vừa được giải phóng. Dân chúng Phi chen chúc qua lính canh. Đó là những người già, người mẹ trẻ bế con thơ; Robert Shaplen của tờ The New Yorker nhìn thấy một bà lão đang đứng, hai tay giang rộng về phía các GI với một nụ cười sung sướng bừng nở trên gương mặt nhăn nheo. Bà hình như đang sống trong mơ, quá đỗi kinh ngạc để tin là mình đang tỉnh thức.

                Người Mỹ thiết lập được đầu cầu vững chắc ở giữa Phi Luật Tân cùng với hơn 100,000 tấn hàng hóa. Giá trả là tối thiểu – 49 GI đã thiệt mạng. Roosevelt đánh điện khen ngợi đến MacArthur: QUỐC GIA BIẾT ƠN NGÀI VÀ CẦU NGUYỆN NGÀI VÀ BINH SĨ NGÀY ĐẠT THẮNG LỢI TRONG TRẬN CHIẾN TRONG NGÀY VỀ.

                Tổn thất của phe công kích quá nhẹ vì hệ thống phòng thủ đã bị đập tan sau ba ngày pháo kích. Các vị trí tiền tiêu đã bị hủy diệt, hàng ngũ bị tổn thất do pháo dập và không kích, quân Nhật đã lùi lại, vì không có chỉ huy. Phần lớn đơn vị mất liên lạc với bộ chỉ huy Sư đoàn. Đêm đó Đại tá Kanao Kondo của Trung đoàn Pháo binh 22 kết tội chỉ huy của Tiểu đoàn 1 đã rút lui mà không có lệnh. Kondo không thèm nhìn nhận nguyên do là vì gần như toàn bộ tiểu đoàn đã bị giết sạch hoặc bị thương, còn súng ống thì bị phá hủy. “Tại sao anh không chết luôn đi?” ông gầm lên và ra lệnh binh sĩ sống sót chiến đấu đến cùng ngay tại chỗ.

                Tướng Makino không biết chi tiết về diễn tiến của trận đánh. Vào chiều tối trận tấn công ông đã vội vàng di tản bộ chỉ huy đến Tacloban và tiến về nội địa khi người Mỹ đến bờ biển. Ông chưa thể báo cáo thông tin ít ỏi ông biết cho các cấp trên của mình.

                Tại Đồn McKinley, Yamashita đang ra sức đánh giá thông tin ít ỏi từ Leyte. Ngay sau 10 giờ tham mưu trưởng mới của ông, Trung tướng Akira Muto, từ Sumatra đến, nơi ông bị Tojo “lưu đày.” Ông không có hành lý và mặc một bộ quân phục lấm lem – trong một trận pháo kích xuống sân bay ông đã nhảy vào trong một con mương đầy bùn để tự cứu mình.

                Yamashita bảo ông về trận tấn công. “Rất thú vị” là nhận xét của ông. “Nhưng Leyte ở đâu?” Họ được nhập bọn với Đại tá Ichiji Sugita (thông dịch viên của Yamashita ở Singapore), người đã bay đến từ Tokyo với tin tức không vui cho cả hai người: Bộ Tư lệnh Hoàng gia ra lệnh cho Quân đoàn Khu vực 14 đánh Trận Đánh Quyết Định tại Leyte.

                Ngày hôm sau, 21/10, bốn sư đoàn của MacArthur tiếp tục dấn về phía trước trước sức kháng cự yếu ớt của đối phương. Sân bay Dulag bị tràn ngập; hầu hết Tacloban được giải phóng, và một cuộc mít tinh đặc biệt được ấn định vào sáng hôm sau để chào đón những người chiến thắng và để tuyển mộ người bản xứ cho Bộ phận Dân sự Vụ Phi Luật Tân. Người Phi chen chúc nơi chợ búa, không đếm xỉa gì đến những tiếng nổ của hỏa lực thỉnh thoảng vang lên từ ngoại ô. “Chúng ta đã buộc phải tuân theo người Nhật để cứu mạng mình,” Saturino Gonzales, một thành viên của Ủy ban Tỉnh. Ông nói với thính giả nhưng những lời của ông hướng đến người Mỹ, bằng tiếng Anh. “Nhưng không hề nghi ngờ gì, như các bạn biết, cảm nghĩ trong thâm tâm của ta là thế nào. Tôi yêu cầu các bạn giờ đây hãy xem xét chính sách của chính quyền Mỹ đã như thế nào trước khi người Nhật đến và chính sách đó thế nào khi so sánh với sự điều hành của người Nhật. Các bạn giờ đây sẽ hiểu được những đường lối dân chủ tiếng tăm của Hoa Kỳ.”

                Diễn giả tiếp theo giơ cao một hộp khẩu phần K. Đám đông hiểu ý và hoan hô bằng tiếng Anh: “Vạn tuế người Mỹ! Người Mỹ đáng yêu!”

                Một Đại tá Mỹ bảo với đám đông là Phi Luật Tân là của nhân dân Phi Luật Tân:  “Chính quyền Thịnh vượng chung sẽ được thành lập dưới quyền tổng thống của chính các bạn, Tổng thống Osmena. Chúng tôi sẽ hỗ trợ lương thực và quần áo. Chúng tôi mong các bạn hãy kiên nhẫn. Chúng tôi cần lao động. Các bạn sẽ được trả công cho những việc bạn làm bằng tiền Phi và với tiền đó bạn có thể mua gạo và những hàng hóa khác chúng tôi mang tới. Nhưng, ơn Trời, các bạn hãy làm vậy như một người tự do!”

                Nhà báo NewYorker, Shaplen, không nghĩ là thính giả hiểu hết những điều viên đại tá nói, nhưng nhiệt tình của họ khiến cho diễn giả tiếp theo, một cựu thống đốc của Leyte, cam kết rằng họ sẽ làm việc cho người Mỹ “ba trăm sáu mươi lăm ngày một năm, và chúng tôi sẽ làm việc không công.”

                Tiếng phản đối của vị đại tá bị nhấn chìm trong tiếng hô to “Người Mỹ đáng yêu! Chúng tôi sẽ làm việc, chúng tôi sẽ làm việc!”

                Ở Manila, cách đó 340 dặm về hướng tây bắc, Yamashita đang ra sức lần cuối cùng để thuyết phục Thống chế Terauchi cãi lệnh của Tokyo về việc lấy Leyte làm chiến trường cho trận đánh quyết định trên bộ ở Phi Luật Tân. Làm sao mà quân tiếp viện có thể vượt qua lực lượng phong tỏa trên không và tàu ngầm của Mỹ chung quanh các đảo? Ngoài ra, trước khi quân số và quân nhu tới Leyte đầy đủ thì trận đánh đã qua rồi. Và nó có phải là mục tiêu chủ chốt của MacArthur không? Có thể đây chỉ là một đòn nghi binh trước một cuộc tấn công qui mô toàn diện vào Luzon.

                Nhưng lập luận của ông chẳng ích lợi gì. Terauchi không hề lay động trong tin tưởng là cuộc phản công hải-lục sắp tới sẽ nhấn chìm hạm đội xâm lăng của địch ở Vịnh Leyte. Viên thống chế đầy năng nổ và lạc quan ra lệnh cho Quân đoàn Khu vực 14 “hủy diệt hoàn toàn quân địch tại Leyte.” Miễn cưỡng Yamashita truyền lệnh lại cho Suzuki, và hứa sẽ gởi thêm tiếp viện đến Leyte. Sự yểm trợ của Hải quân hi vọng có thể đến đảo “vào ngày 24 hay 25 tháng 10.”  

                Trên Leyte, Makino buộc lòng phải tách Sư đoàn 16 ra làm hai gồm Lực lượng Phòng thủ Leyte phía Bắc và phía Nam. Mệnh lệnh của ông được diễn đạt bằng ngôn từ hùng hỗ, nhưng tận thâm tâm ông hi vọng binh sĩ mình sẽ không sụp đổ trước khi tiếp viện đến.                 Ngày hôm sau thủ phủ Taclopan khá an ninh để người Mỹ cho phép sự xuất hiện công khai của các lãnh đạo Đồng minh. Đầu giờ chiều một ban kèn Phi Luật Tân đã rảo khắp đường phố Taclopan trên một xe chở pháo; các loa phóng thanh lặp lại không ngừng là MacArthur và Osmena đang đến và sẽ có nghi lễ tiếp đón. Dẫn đầu là ban nhạc, một đoàn diễn hành dài được thành lập và khoảng ba giờ chiếu đám đông chen chúc quanh các bậc thang của trụ sở thủ phủ.

                Đoàn MacArthur bước lên bến tàu cũ từ hai chiếc tàu PST và với vị tướng d6a4n đầu, bước về phía trụ sở thủ phủ. Từ trên bậc thang MacArthur chính thức thông báo thành lập Chính quyền Dân sự Phi Luật Tân dưới sự lãnh đạo của Tổng thống Osmena và hứa hẹn sẽ giải phóng phần lãnh thổ còn lại của xứ sở. Đó là một bài diễn văn ngắn gọn và thiếu cảm xúc, nhưng cử tọa cứ hoan hô sau từng câu.

                Ban kèn tấu bài To the Colors khi quốc kỳ Mỹ và Phi được kéo lên cùng một lúc. MacArthur bắt tay với Osmena và Romulo. “Tôi và ban tham mưu của tôi giờ đây xin rút lui,” ông nói và trở lại bến tàu.            

12

 

22 . Trận Đánh Vịnh Leyte

                Hạm đội Cơ động và Lực lượng Tấn kích Thứ 1 – phần còn lại của Hạm đội Hỗn Hợp – đang tiến đến Phi Luật Tân từ phía bắc và tây. Phó Đô đốc Jisaburo Ozawa chỉ huy Hạm đội Cơ động, mà không lực của nó đã bị đánh tan tác tại Mariana và những phi cơ còn lại đã cho thấy mình không hiệu quả trong trận không chiến ba ngày ngoài khơi Đài Loan.  Nhưng vẫn là một cảnh tượng đáng sợ với tàu sân bay lớn Zuikaku, các tàu sân bay nhẹ Zuiho, Chitose Chiyoda, và các tàu chiến Ise Hyuga, được thiết kế lại thành tàu bán sân bay. Nhưng đó là một lực lượng rỗng tuếch. Chỉ có 116 máy bay được phân phối cho 6 chiếc.

                Lực lượng Tấn kích Thứ 1, đến từ Singapore, dưới quyền chỉ huy của Phó Đô đốc Takeo Kurita. Ông xuất thân từ một gia đình học giả – cha ông đã soạn bộ lịch sử Nhật Bản nổi tiếng – nhưng ông là một con người hành động. Ông đã từng là hoa tiêu của 5 tàu khu trục và hai lần chỉ huy bộ phận ngư lôi, rồi bộ phận tuần dương. Ông đã hộ tống binh sĩ đổ bộ lên Midway, và sau khi tham gia các trận đánh quanh Guadalcanal (bao gồm cuộc pháo kích Sân bay Henderson từ tàu Kongo Haruna); đảm nhiệm Hạm đội thứ 2 trong thời gian tham gia Trận Biển Phi Luật Tân. Hạm đội mới của ông chính xác là một lực lượng trên mặt nước nhưng hỏa lực của nó cũng thực sự đáng gờm. Nó bao gồm 2 tàu chiến lớn nhất và đáng sợ nhất trên thế giới, Musashi Yamato, cũng như 5 tàu chiến cũ nhưng còn phục vụ được – trong số đó có Haruna, nhiều lần báo cáo là bị đánh chìm và tàu chị em của nó, Kongo – 11 tàu tuần dương nặng, 2 tàu tuần dương nhẹ và 19 tàu khu trục. Lực lượng Tấn kích thứ 1 có thể bắn ra nhiều tấn pháo hơn bất kỳ hạm đội nào đang hoạt động khác.

                Nó đến Brunei, Borneo, vào ngày 20/10 khi người Mỹ đang đổ bộ lên Leyte. Sáng sớm hôm sau Kurita nhận lệnh đi vào Vịnh Leyte lúc hừng đông ngày 25/10 và tiêu diệt tàu đổ bộ của kẻ địch. Hạm đội Hỗn Hợp đề nghị mũi tấn công hai gọng kềm; một nhóm sẽ tiến tới qua vùng nước giam hãm của Visayan, thoát ra Thái Bình Dương qua Eo San Bernardino, quay về hướng nam qua Samar rồi đi vào Vịnh Leyte từ hướng đông; nhóm kia sẽ đột nhập vào Vịnh từ hướng nam qua Eo Surigao nhỏ hẹp giữa Mindanao và Leyte.

                Trên lộ trình dài vào khu vực tác chiến, cả hai nhóm có thể dễ dàng bị phát hiện và phục kích bởi các tàu ngầm Mỹ và các đơn vị trên mặt biển cũng như phi cơ. Kurita và ban tham mưu muốn chấp nhận sự liều lĩnh này. Điều mà họ chống đối chính là bản thân cái sứ mạng này. Họ sẵn sàng hi sinh trong một trận đánh với tàu sân bay, nhưng tại sao phải phí phạm những con tàu chiến lớn nhất của Hoàng thượng với các tàu vận tải của địch đã dỡ bỏ hàng? Hạm đội Hỗn Hợp cũng đồng tình với những chống đối này nhưng vẫn tuân lệnh. Đã quá trễ cho một quyết định khác. Kurita, tuy nhiên, được phép giao tranh với tàu sân bay nếu chúng đến trong tầm.                     

                Kurita quyết định mang phần chủ yếu của hạm đội mình qua Eo San Bernardino để giữ nó ngoài tầm hoạt động của máy bay tìm kiếm của địch lâu như có thể. Một phân đội gồm 2 tàu chiến cũ và 4 khu trục dưới quyền chỉ huy của Phó Đô đốc Teiji Nishimura sẽ đi theo lộ trình ngắn hơn nhiều về phía nam. Cả hai nhóm sẽ đi vào Vịnh Leyte lúc bình minh ngày 25/10 và tập kích vào tàu vận tải và lực lượng che chắn của địch.

                Kurita chấp nhận chịu tổn thất ít nhất nửa số tàu của mình, nhưng có quá nhiều sĩ quan dưới quyền phản đối công khai sự liều lĩnh có tính toán này đến nỗi ông bỏ hẳn thói dè dặt thường lệ để huấn thị các chỉ huy bộ phận và ban tham mưu của họ trên boong tàu chỉ huy, chiếc tuần dương nặng Atago. Ông bảo họ là tình hình cuộc chiến quá nguy cấp hơn họ có thể biết được. “Bộ không phải là điều đáng xấu hỗ khi hạm đội vẫn còn nguyên vẹn trong khi quốc gia chúng ta tiêu vong hay sao? Tôi tin rằng bộ Tư lệnh Hoàng gia đang cho chúng ta một cơ hội vinh quang. Các vị phải nhớ là phép màu là có thật. Ai dám nói là không có cơ may cho hạm đội chúng ta xoay chuyển cục diện chiến tranh trong một Trận Đánh Quyết Định?

                Những lới nói của Kurita, điềm tỉnh nhưng mạnh mẽ, được chào đón bằng những tiếng hô “Banzai!”

                Lúc 8 A.M. ngày 22/10, bộ phận chủ lực của Lực lượng Tấn kích 1 ra khỏi Brunei và bắt đầu lướt sóng về phía bắc, theo sau là phân đội Nishimura nhỏ hơn, quay sang đông tại mũi Borneo và hướng về lối vào phía nam đến Vinh Leyte, Eo Surigao. Bộ phận chủ lực tiếp tục theo hướng đông bắc qua bóng đêm trên một lộ trình zíc-zắc với tốc độ 18 hải lí, lượn vòng bờ biển tây của hòn đảo nhỏ hẹp Palawan trong lối đi rộng 25 dặm tạo bởi các rặng san hô không có trong bản đồ (thường được gọi thích đáng là “Vùng Hiểm Nghèo”) và chính hòn đảo. Trong vùng nước chảy xiết gần rặng san hô này, hai tàu ngầm quân cảnh Mỹ, Darter Dace, đi tuần hành mặt nước sóng đôi nhau. Lúc 16 phút qua nửa đêm tháp canh của tàu ngầm báo cáo: “Tiếp xúc ra-đa, một ba một đúng, 30 ngàn ya – tiếp xúc đáng ngờ – chắc chắn mây mưa.”

                Mây mưa con khỉ! thuyền trưởng, Trung tá David McClintock, nghĩ. Ông đang ở trên mặt nước. Đó là hạm đội Nhật.

                Báo cáo của nhân viên ra-đa tiếp tục khẳng định dự đoán của anh, và y chuyển thông tin bằng loa cho thuyền trưởng Dace, Trung tá Bladen Clagett. “Hãy đi tóm chúng nào,” Clagett gọi lại và cả hai tàu ngầm đuổi theo với tốc độ tối đa với Darter dẫn đầu.

                Lúc 4:50 A.M. họ đã đến gần người Nhật, và tất cả bộ phận trên Darter được gọi vào vị trí tác chiến. Lúc 5:10 nó quay ngược lộ trình, lặn xuống. Qua kính tiềm vọng, trong ánh sáng lờ mờ của buổi hừng đông, McClintock nhận ra một khối xám ở đằng xa. Một đoàn tàu đang xông thẳng về phía ông! Ông nhìn sang hướng đông nam và thấy một đoàn tàu khác gồm tàu chiến, tuần dương và khu trục cách ông vài dặm.              

                Những con tàu xám xịt hướng đến ông càng lúc càng lớn dần. Lúc 5:25 McClintock nhận dạng tàu đầu đàn, một tàu tuần dương nặng rẽ sóng, mũi tàu thật to. Thật là một cảnh tượng xinh đẹp và McClintock cho đó là tàu chỉ huy. Tất cả ống phóng đều sẵn sàng và tầm bắn dưới 1,000 ya khi đoàn tàu thình lình zíc-zắc về hướng tây, quay mục tiêu đến một góc nhắm hoàn hảo. “Bắn một!” McClintock ra lệnh. Một đèn pha tìm kiếm trên tàu tuần dương ra tín hiệu. Liệu nó có phát hiện ra một đàn 6 ngư lôi? McClintock quay hướng sang con tàu tuần dương thứ hai.

                Những quả ngư lôi của ông đang tiến về tàu chỉ huy Ataga. Trên đài chỉ huy Kurita và tham mưu trưởng của ông, Chuẩn Đô đốc Tomiji Koyanagi, bổng cảm nhận bốn chấn động dữ dội liên tiếp. Tàu tuần dương bắt đầu chìm xuống. Một tàu khu trục được báo hiệu, và Kurita cùng ban tham mưu bơi đến đó.

                Trên Dace, Clagett quan sát cảnh tượng qua kính tiềm vọng. “Ôi trời,” ông kêu lên, “trông như đang làm lễ quốc khánh ngoài này!” Một tàu chìm và một tàu khác đang bốc cháy. Bọn Nhật đang bắn búa xua. Xô diễn quá đã! Chuẩn bị đón tiếp – chúng đến kìa!” Ông quan sát hai tàu đang tiến về phía mình. “Cho chúng qua đi – chỉ là tàu tuần dương thôi.” Phía sau là một mục tiêu lớn hơn mà ông trông lầm là tàu chiến lớp-Kongo. “Bắn một, bắn hai, bắn ba, bắn bốn, bắn năm, bắn sáu,” Clagett ra lệnh, và rồi. “Lặn sâu nào, Earl. Hãy cuốn gói ra khỏi đây mau!”

                Họ nghe tiếng bùm khi những quả ngư lôi đánh trúng mục tiêu và một tiếng nổ lốp bốp “như tiếng giấy bóng kính vò nát sát bên tai.” Tàu tuần dương nặng Maya vỡ tan.

                Ngay trước khi Kurita đến được vùng nước hiểm nghèo của trung tâm Phi Luật Tân, ông đã để mất hai tàu tuần dương nặng, và tàu thứ ba, Takao, đang trong tình trạng hư hỏng nặng cần phải quay về Borneo. Hơn nữa, lộ trình của ông đã bại lộ; nhưng mà không có việc gì để làm khác hơn là tiếp tục. đến trưa ông nhận một thông điệp từ Hạm đội Hổn hợp cho ông biết một điều mà ông biết rõ hơn ai hết:

3.png

CHẮC CHẮN LÀ ĐỊCH ĐÃ BIẾT VIỆC CHÚNG TA TẬP TRUNG LỰC LƯỢNG . . . HỌ CHẮC       CHẮN SẼ HÀNH ĐỘNG THEO CÁCH SAU ĐÂY: (A) TẬP TRUNG TÀU NGẦM VỚI SỐ    LƯỢNG LỚN Ở KHU VỰC SAN BERNARDINO VÀ EO SURIGAO. (B) CHUẨN BỊ TẤN       CÔNG LỰC LƯỢNG TRÊN MẶT BIỂN CỦA CHÚNG TA, SỬ DỤNG MÁY BAY LOẠI LỚN         VÀ LỰC LƯỢNG TÁC CHIẾN SAU SÁNG MAI. (C) DỰ TÍNH HÀNH ĐỘNG QUYẾT ĐỊNH                BẰNG CÁCH TẬP TRUNG SỨC MẠNH TRÊN MẶT BIỂN CỦA HỌ TRONG KHU VỰC PHÍA          ĐÔNG EO SAN BERNARDINO VÀ TACLOBAN NƠI HỌ CÓ NHÓM VẬN TẢI . . .                VỀ PHẦN HOẠT ĐỘNG CỦA CHÚNG TA: (A) THI TRIỂN KẾ HOẠCH GỐC CỦA CHÚNG TA   . . .                      

 

2.

            Lúc hừng đông – đó là ngày 24/10 – Kurita đang ở trên tàu chỉ huy mới, tàu Yamato hùng vĩ. Các tàu của ông trong đội hình hai vòng cách nhau 7 dặm. Yamato và tàu chị em của nó, Musashi, ở trung tâm của vòng thứ nhất, và Kongo ở giữa nhóm thứ hai. Một đài cao giống như một ngôi chùa lớn nhô cao bên trên boong tàu Yamato. Gần chóp trong đài chỉ huy là bộ chỉ huy của Kurita. Ngay bên dưới, trong phòng tác chiến, ban tham mưu của ông đang ra sức tiêu hóa những mẩu thông tin đang chầm chậm gởi vào. Lực lượng Tấn kích 1 đi quanh mũi phía nam của Mindoro và tiếp tục tiến lên vào biển Sibuyan. Phần rủi ro nhất của chuyến đi – đi giữa ban ngày theo một lộ trình vòng vo quanh nhiều đảo nhỏ – không chỉ hạn chế việc lèo lái mà còn là một nơi rình rập không đâu sánh bằng cho tàu ngầm. Nhưng không có con đường nào khác đến Eo San Bernardino, cửa ngõ đến Biển Phi Luật Tân. Kurita đã đâm ra nghi ngờ báo cáo cho rằng trận giao chiến trên không ngoài khơi Đài Loan đã làm tê liệt sức mạnh tàu sân bay Mỹ, nhưng ông không biết rằng chính không lực Nhật ở Phi Luật Tân mới thực tế bị hủy diệt bởi Halsey và chỉ có thể yểm trợ ông rất ít nếu muốn nói không có gì.

                Ngay sau 8 A.M. Kurita lần nữa bị phát hiện – lần này bởi một máy bay thám thính Mỹ. Ông điện cho Manila nhờ không lực bảo vệ. Không tới một tá chiếc Zero còn dư và không có chiếc nào xoay sở đến được Lực lượng Tấn kích 1. Những máy bay khác có căn cứ trên đât liền – 180 chiếc tất cả – đã được phái đi không kích Hạm đội thứ 3 của Halsey, trải dài ngang qua Biển Phi Luật Tân từ giữa Luzon đến Leyte. Các chiếc Hellcat từ Lực lượng Tác chiến 38 của Mitscher bắn hạ gần hết số máy bay này, chỉ có một chiếc máy bay ném bom chọc thủng màn che chắn để đánh được tàu sân bay nhẹ Princeton bằng một quả bom 550 cân. Sàn chứa máy bay bốc cháy bắt đầu làm nổ tung dây chuyền các ngư lôi. Hàng giờ liền các thủy thủ cố chiến đấu để cứu con tàu, nhưng trận hỏa hoạn dữ dội không thể khống chế được và buộc lòng phải đánh chìm nó.

                Khi thấy các tàu của Kurita trong Biển Sibuyan Đô đốc Halsey đích thân chỉ huy trận đánh. Lúc 8:37 ông vượt qua Mitscher và ra lệnh cho ba chỉ huy nhóm tác chiến qua hệ thống liên lạc trực tiếp giữa các tàu: “Giáng trả! Lặp lại: Giáng trả! Chúc may mắn!” Trong vòng hai giờ đoàn tàu tấn công này – 12 chiến đấu cơ và cùng số đó các oanh tạc cơ bổ nhào và phóng ngư lôi từ các tàu Intrepid Cabot tìm được Kurita.

                Trên chiếc Musashi, Trung sĩ Shiro Hosoya đang lắt lẻo ngồi trên một buồng tín hiệu không vách bắc với đài chỉ huy thứ hai. Anh là giám sát viên đội lính đánh tín hiệu nhưng trong giờ tác chiến không có nhiều việc để làm trừ quan sát. Với một cảm giác lo lắng pha trộng sợ hãi anh nhìn người Mỹ chọc thủng bức tường vững mạnh của hỏa lực phòng không do tất cả các tàu trong đội hình bắn lên – mỗi tàu chiến có ít nhất 120 khẩu 20-mm và tàu tuần dương mang 90 khẩu. Nhìn như thế là xô biểu diễn – cho đến khi máy bay địch bắt đầu hướng thẳng về phía anh và tàu Yamato. Ngay phía trước và bên trái, nửa tá cột nước bắn lên quanh tàu Yamato. Chiếc siêu chiến hạm bị che khuất và một báo cáo chuyển đến cho rằng tàu đang chìm. Hosoya không tin; như Musashi, nó không thể chìm được. Anh nhìn chăm chú qua sóng nước đang hạ thấp cho đến khi thấy nó xuất hiện lần nữa, vẫn chạy như thể đang diễn tập.

                Thình lình một cột nước cao hơn 200 bộ dựng thẳng trước mặt Hosoya và làm ướt sũng những người trên boong. Buồng tín hiệu của anh lắc lư chóng mặt khi Musashi rùng mình hai lần – một lần do trúng bom, một lần do trúng ngư lôi. Nhưng như chị em nó, nó vẫn chạy tỉnh bơ như thể không có gì xảy ra, một bằng chứng cho thấy thực sự nó bất khả hoại. Về căn bản thì giống như Yamato, nhưng Musashi thì được chế tạo tốt hơn, có những khu vực cao cấp và xứng đáng với biệt danh của nó, “Lâu Đài.” Nó từng là tàu chỉ huy của Yamamoto, rồi của Koga, và thủy thủ đoàn có chút thắc mắc tại sao Kurita không chọn lên tàu này trong trận đánh cuối cùng của Hải quân Nhật.

                Đến trưa một cuộc tấn công thứ hai – 24 máy bay phóng ngư lôi – xà xuống về phía hai siêu chiến hạm. Musashi lãnh thêm 3 quả ngư lôi nữa nhưng vẫn tiếp tục lộ trình, mọi thiệt hại đều được kiểm soát.

                Trên Yamato, vẫn chưa bị trúng bom, Kurita gởi một yêu cầu khác xin yểm trợ không lực, lúc 1:15 P.M, đến cấp trên của ông, Đô đốc Ozawa, cũng như đến Manila:

                CHÚNG TÔI ĐANG BỊ KHÔNG KÍCH TỪ TÀU SÂN BAY ĐỊCH NHIỀU LẦN. LẬP TỨC CHO                Ý KIẾN VỀ VIỆC NGÀI TIẾP CẬN VÀ TẤN CÔNG  ĐỊCH.

                15 phút sau, 29 máy bay lù lù xuất hiện ở chân trời (chúng từ Lexington Essex). Đối với Kurita máy bay địch trông như nhiều gấp đôi khi chúng bu lấy tàu Musashi.

                Trên đài chỉ huy thứ hai của Musashi Trưởng pháo thủ Koshino đang khẩn khoản xin thuyền trưởng, Chuẩn Đô đốc Toshihira Inoguchi,  qua ống nói cho phép mình khai hỏa khẩu đại pháo 18.1 in-xơ, lớn nhất thế giới, với loại pháo phun đặc biệt gọi là sanshiki-dan. “Xin phép bị từ chối,” Inoguchi nói. Bắn một tá pháo sanshiki-dan có thể làm hư hại nòng súng; ông muốn dành đại pháo cho trận đánh trên biển ở Vinh Leyte.

                Người tấn công hóa ra hung hăng hơn những người đi trước họ. Những máy bay bổ nhào đâm xuống, theo sau là các chiến đấu cơ bắn phá boong tàu. Con tàu bị bao phủ bởi cột nước do các pháo bắn hụt gần đó. Rồi sau đó liên tiếp trong nháy mắt là bốn quả bom đánh trúng Musashi. Những mảnh “bị thép như bắp rang” bắn thia lia lên đài chỉ huy. Không khí nồng nặc mùi thuốc súng. Mộ quả ngư lôi khác bóc toạc vỏ tàu.

                Cuối cùng Musashi bị thương nặng, có thể nhìn thấy rõ. Nó rớt đằng sau Yamato

vài dặm, nhưng sĩ quan điều hành, Đại tá Kenkichi Kato, người có trách nhiệm về kiểm soát thản họa, vẫn còn tin tưởng là không cần thiết phải đích thân báo cáo với thuyền trưởng. Tuy nhiên, con tàu què quặt ảnh hưởng đến tốc độ tiến quân của Lực lượng Tấn kích 1. Kurita ra lệnh cho tốc độ hạm đội giảm xuống 22 hải lí để Musashi có thể theo kịp, rồi gởi một yêu cầu xin yểm trợ khác.

                LỰC LƯỢNG TẤN KÍCH 1 ĐANG GIAO TRANH DỮ DỘI Ở BIỂN SIBUYAN. KHÔNG KÍCH       ĐỊCH CHẮC CHẮN SẼ TĂNG CƯỜNG. YÊU CẦU KHÔNG LỰC TỪ CĂN CỨ MẶT ĐẤT VÀ              LỰC LƯỢNG CƠ ĐỘNG NHANH CHÓNG TẤN CÔNG VÀO LỰC LƯỢNG TÀU SÂN BAY                ĐỊCH ƯỚC ĐOÁN ĐANG Ở VỊNH LAMON.

                Tình trạng tàu Musashi rất dễ bị tổn thương cho Trưởng pháo thủ Koshino cơ hội làm mới lại lời nài xin sử dụng sanshiki-dantrong đại pháo. Đô đốc Inoguchi lập luận rằng con tàu đang nghiêng, khiến nó không an toàn khi bắn, nhưng khi sĩ quan điều hành ủng hộ Koshino, Inoguchi nhượng bộ.

                Nỗi phấn khích lan truyền khắp con tàu khi các đại pháo – là nguyên cớ cốt lõi cho sự tồn tại của Musashi – được quay chầm chậm về hướng đông. 65 máy bay từ Enterprise Franklin xuất hiện từ đằng xa. Chín khẩu pháo gầm thét lần đầu tiên nhắm vào kẻ thù. Tiếng ồn làm điếc tai tất cả những người trên boong tàu, và sàn bên dưới tàu nhấp nhô như thể một bầy ngư lôi bắn vào nó đồng thời. Koshino nhướn mắt nhìn ngóng đợi vào đàn máy bay đang tiến tới nhưng không có chiếc nào rơi xuống biển; đội hình chỉ đơn giản tản ra và tiếp tục tiến đánh.

                Giờ chỉ còn 6 khẩu khai hỏa. Tháp pháo phía trước đã im tiếng. Một khẩu bị kẹt đạn và hai khẩu kia không thể nâng cao hơn 45 độ. Oanh tạc cơ và máy bay phóng ngư lôi xà xuống Musashi. Từ buồng tín hiệu của mình Hosoya nhìn khiếp đảm khi một hàng 3 ngư lôi cày vào mạn trái của tàu, rồi một quả bom nổ ngay trên tháp chùa. Hosoya bị hất ngã quỵ trên đầu gối, nhưng hầu như tất cả mọi người phía trên anh ở đài chỉ huy đều bị giết chết (may mắn thay Inoguchi đang ở thên đỉnh cột tàu trong buồng quan sát). Thêm 7 quá ngư lôi nữa, nảy lên hụp xuống như những chú cá heo trên mặt nước nhấp nhô, đâm vào lần lượt hết quả này đến quả khác vào mạn trái đã bị hư hại.

                Hình như không ai chỉ huy con tàu cho đến khi một mệnh lệnh vang ra từ ống nói: “Đài chỉ huy thứ nhất, mọi người đã chết. Thuyền trưởng sẽ nắm quyền chỉ huy từ đài chỉ huy thứ hai.” Đó là Inoguchi, còn trong tháp quan sát và không hề hấn gì. Thêm 5 tiếng nổ đua nhau, một tiếng ở trên đầu. Giọng nói từ tháp quan sát yếu ớt: “Thuyền trưởng bị thương rồi. Sĩ quan điều hành, chỉ huy tàu.”

                Musashi đã nghiêng sang mạn trái, và trên đài chỉ huy thứ hai Kato ra lệnh tàu lấy lại thăng bằng bằng bì nước. Rồi anh dựa người ra khỏi buồng tín hiệu và giao cho Hosaya một thông điệp để chuyển cho tàu Yamato, đang rút chạy thật nhanh.

                Điện đã tắt và Hosoya phải sử dụng cờ hiệu: “Musashi có khả năng chạy với tốc độ 15 hải lí. Nghiêng sang mạn trái khoảng 15 độ. Một quả bom đánh trúng đài chỉ huy thứ nhất, tất cả người ở đó đều chết. 5 quả bom và 12 quả ngư lôi đánh trúng. Thuyền trưởng còn sống.”

                Nhưng thử thách của Musashi vẫn chưa kết thúc. Lúc 3:20 P.M. trận tấn công mở lại với những máy bay từ tàu Intrepid, Cabot Essex hợp cùng với những chiếc còn lại trên tàu Franklin Enterprise. Các tàu của Kurita tiếp tục phóng lên những một màn chắn phòng không nhưng không có gì có thể ngăn cản người Mỹ bu vào Musashi để kết liễu nó. Khi họ đã bay đi, bỏ lại con tàu gần như vô dụng, boong tàu ngập nước. Cái im lặng ma quái sau trận đánh bị phá vỡ bằng tiếng hô “Banzai!” từ boong tàu.

                “Banzai cho cái quái gì thế hả?”Kato từ đài chỉ huy thứ hai hét xuống.

                “Hạm đội địch đã bị hủy diệt!” một thủy thủ hét trả lời.

                “Ai bảo thế?”

                “Trưởng pháo thủ Koshino ạ.”

                Kato quay lại về phía đài chỉ huy. Có vẻ Koshino chỉ cố sức nâng cao tinh thần binh sĩ. Câu chuyện loan truyền khắp con tàu và tinh thần chiến đấu của thủy thủ đoàn vẫn cao mặc dù bị 17 quả bom và 19 quả ngư lôi bắn trúng. Nhưng chính Kato thì vô cùng phiền muộn. Ông báo tin cho Inoguchi, giờ đã xuống khỏi đài quan sát, cánh tay trái ông phải đeo nạng, rằng con tàu “không còn sức qua khỏi một trận tấn công khác.” Hosoya đánh cờ hiệu báo một thông điệp khác cho Kurita đã bặt tăm: “Tốc độ 6 hải lí, có khả năng vận hành. Thiệt hại nặng. Chúng tôi phải làm gì đây?”

                Musashi được ra lệnh rời bỏ trận địa với hai tàu khu trục hộ tống. Kể từ khi rời Borneo, Lực lượng Tấn kích 1 đã bị lấy đi một tàu chiến, bốn tàu tuần dương nặng và hai tàu khu trục. Nhưng phần còn lại của hạm đội Kurita vẫn tiếp tục len lỏi vào lối đi nhỏ hẹp dẫn đến Eo San Bernadino. Ngay trước 4 P.M., tuy nhiên, Kurita bổng nghĩ khác. Trời vẫn còn đủ sáng cho vài cuộc tấn công thêm nữa và như vậy sẽ không thể tránh né chúng trong con kênh nhỏ hẹp đằng trước. Họ sẽ bị mắc bẫy. Kurita quay ngược lộ trình và gởi một lời giải thích dài dòng đến Hạm đội Hổn hợp:

                . . . NẾU CHÚNG TÔI BUỘC PHẢI THEO LỘ TRÌNH NHƯ KẾ HOẠCH TRONG TÌNH   HUỐNG NÀY, CHÚNG TÔI CHỈ SẼ BIẾN THÀNH LÒ THỊT CHO ĐỊCH, VỚI RẤT ÍT THÀNH          CÔNG VỀ PHÍA CHÚNG TÔI. DO ĐÓ KẾT LUẬN RẰNG LỘ TRÌNH TỐT NHẤT CỦA          CHÚNG                TÔI LÀ TẠM THỜI RÚT LUI RA KHỎI TẦM HOẠT ĐỘNG CỦA MÁY BAY ĐỊCH            CHO ĐẾN KHI NHỮNG MÁY BAY PHE TA [đặt căn cứ trên mặt đất] CÓ THỂ GIÁNG TRẢ                 MỘT ĐÒN QUYẾT ĐỊNH CHỐNG LẠI LỰC LƯỢNG ĐỊCH.

                              Trong một giờ Kurita đi về tây, nhưng không có máy bay Mỹ nào xuất hiện. Được cổ vũ, ông quyết định phó cho may rủi đi đến Eo San Bernadino, cho dù chưa nhận được hồi âm về lời yêu cầu phụ giúp từ các máy bay có căn cứ mặt đất. Lúc 5:15 Lực lượng Tấn kích 1 quay ngược lộ trình lần nữa và bắt đầu thận trọng đi thành hàng giữa các hòn đảo Masbate và Buria.

                Trên Musashi, những nỗ lực để lấy lại thăng bằng cho con tàu bằng bơm khẩn cấp đã thất bại. Mũi tàu chìm trong nước và nó bò đi với tốc độ vài hải lí. Thủy thủ đoàn chuyển mọi thứ có thể chuyển đi được đến mạn phải ở đuôi tàu, nhưng tàu lại nghiêng bên trái nhiều hơn. Với đèn tín hiệu chạy bằng pin khẩn cấp, Hosoya báo cáo cho Kurita là Musashi đang vô nước quá nhiều. Câu trả lời là:

                MUSASHI HÃY ĐI TỚI HOẶC TRỞ LUI VỚI TỐC ĐỘ TỐI ĐA VÀ LÊN CẠN TẠI ĐẢO GẦN                NHẤT VÀ BIẾN THÀNH MỘT PHÁI ĐÀO TRÊN ĐẤT.  

                Inoguchi ra sức làm theo, nhưng con tàu nghiêng, ngập nước chỉ chạy vòng vòng. Ông bảo Hosoya đánh tín hiệu cho hai tàu khu trục hộ tống đến di chuyển binh sĩ bị thương, nhưng không tàu nào nhận biết.

                “Tại sao họ không đến?” Sĩ quan điều hành Kato bực tức và cú đầu Hosoya một cách nóng nảy. “Thử lần nữa đi.”

                Hosoya lặp lại thông điệp lần nữa rồi lần nữa nhưng không thấy phản ứng gì. Tàu đã nghiêng quá 20 độ, và khi bầu trời tối đen, Inoguchi ra lệnh cho mọi người lên boong. Thiếu úy Fukujiro Shimoyama, nhân viên điện đài, đi lên với 30 binh lính, tất cả đều mặc quân phục tinh tươm. Họ khiếp đảm trước cảnh tượng máu me. Thi thể, bị bắn nát và tứ chi cắt đứt, vương vải khắp boong tàu. Binh sĩ của Shimoyama đổ xăng đốt hàng trăm sổ mật mã. Nhưng họ đốt quá chậm, cuối cùng Shimoyama tọng những quyển đã cháy thành than vào bao vải cùng vài khẩu súng máy, ném xuống biển.

                Trong ánh sáng lờ mờ Inoguchi ghi lại vài dòng trong cuốn sổ tay nhỏ. Đây là lỗi của tôi, ông viết, khi đặt tin tưởng quá nhiều vào siêu chiến hạm và đại pháo, và ông cầu xin Thiên hoàng và quốc gia hãy tha tội cho mình. Ông tập họp các sĩ quan cao cấp và một ít các hạ sĩ quan trên đài chỉ huy thứ hai và giao lại sổ tay cho Kato. “Trao cuốn sổ này cho chỉ huy Hạm đội Hổn hợp,” ông nói.

                Kato xin phép được chết theo cùng với con tàu. “Thằng ngu,” ông lẩm bẩm. “trách nhiệm của tôi quá lớn đến mức không thể lấy cái chết ra đền đáp và tôi phải chịu chung số phận với con tàu, nhưng sĩ quan điều hành có trách nhiệm đưa anh em đến nơi an toàn và đưa họ lên tàu Musashi thứ hai và thứ ba để trả thù cho trận đánh hôm nay.” Ông giang tay đưa thanh kiếm của mình cho một thiếu úy trẻ. “Cám ơn cậu đã phục vụ tôi. Tín hiệu!” Hosoya bước tới chờ nhận một thông điệp khác nhưng vị thuyền trưởng trao cho anh một chiếc cặp đựng một số tiền và 7 thanh kẹo đậu phọng Toraya. “Cám ơn cậu vì phục vụ tốt. Hãy nỗ lực đến phút cuối.”

                Lệnh cuối cùng của ông cho Kato là giữ gìn ảnh chân dung Thiên hoàng, hạ cờ và tập họp tất cả thủy thủ xuống đuôi tàu để điểm danh. Lúc khoảng 7:15 P.M. Hosoya giám sát lễ hạ cờ từ cột tàu khi một thủy thủ thổi kèn bài quốc ca. Quốc kỳ khổng lồ – hình một mặt trời màu cam với 16 vạch trắng, đỏ – được trịnh trọng quấn quanh bụng một chiến sĩ tình nguyện bơi rất giỏi.

                Lúc mà Hosoya và phân đội của anh đã tụ tập với những người khác ở đuôi tàu, Musashi nghiêng gắt đến nỗi các thùng đạn được và vỏ đạn lăn lẻng kẻng xuống boong tàu.

                “Tất cả thủy thủ bỏ tàu,” Kato hét lên. “Tự lực cánh sinh!”

                Trên phía cao mạn phải Thiếu úy Shimoyama bấu chặt vào hàng rào dây thừng khi anh đẩy bao vải cuối cùng đựng sổ mật mã xuống biển. Con tàu bổng lắc lư đến mạn trái và người lính sát bên anh ôm chầm lấy anh, rồi một người khác bám chặt vào người thứ hai, rồi một người khác và một người khác nữa, cho đến khi cả một hàng dài đến 10 người. Dưới sức nặng sợ dây thừng đứt và mọi người ngã đè lên cửa xuống hầm tàu. Một hàng người thứ hai trượt vào bọn họ, và Shimoyama, choáng váng, không muốn tự cứu mình nữa. “Tenno Heika banzai!” anh hét lên và tách ra khỏi đoàn mặc cho Số mệnh. Việc tiếp theo anh biết là mình đang ở trong nước mà không mang phao cứu sinh. Phụ tá thủ quỹ Kiyoshi Takahashi, một thiếu úy trẻ, một tay bám vào hàng rào, một tay nắm chặt đôi giày và vớ. Anh có thể trông thấy một vài người trong nước nhưng chần chừ không dám theo họ. . Tàu bắt đầu lăn qua một bên. Anh nghe tiếng ùm ùm và trông thấy một thác gỗ trượt về phía anh. Anh đặt giày và vớ ngay ngắn trên boong, như thể sẽ trở lại lấy sau này, rồi leo qua hàng rào và bò qua đáy đã lộ ra của con tàu về phía sống đáy tàu. Khi Musashi tiếp tục lăn anh chạy thật nhanh để giữ vị trí, như đang tập chạy trên máy đi bộ. Cuối cùng anh đến được sống đáy tàu và nhìn xuống bên kia. Đó là một độ cao khá lớn cách mặt biển nhưng anh bơi giỏi. Anh liền nhảy, dội khỏi vỏ tàu và bất tỉnh ngay lúc anh rơi tòm xuống biển.

                Hosoya cũng chạy chân trần qua vỏ những con giáp xác bén như dao cạo bám dọc theo đáy tàu, cố gắng giữ thăng bằng khi tàu tròng trành. Hai bàn chân trần của anh rướm máu nhưng anh không cảm thấy đau đớn. Anh gặp một cái lỗ đen há hốc. Nước cuồn cuộn tràn vào, hút lấy những người đang bơi trở vào bụng của con tàu. “Lỗ ngư lôi! Theo tôi!” Anh hét lên và chạy xuống con dốc về phía mũi tàu. Anh trượt trên lớp giáp xác, nhưng không để ý đến những vết cắt trên tay và chân, anh tìm cách ra đến cuối mũi tàu, đang chìm trong nước. Anh chỉ việc đi tiếp là bước vào biển.

                Shimoyama, đã bị quăng an toàn qua khỏi tàu, sau khi từ bỏ mọi hi vọng, cố sức ngoi đầu khỏi mặt nước. Là một tay bơi xoàng ngay trong điều kiện lý tưởng, anh kinh hoảng khi nghe thấy tiếng nước hút quái đản. Anh đập dãy dụa và nhìn thấy con tàu đang chồm về phía mình. Anh bị kéo vào lực hút bên dưới, và một lúc sau, bị bắn lên mặt nước. Gần như bị chết ngạt, anh phun nước ra nhưng nuốt phải một ngụm dầu. Anh đang ở giữa một bãi dầu nhớt nhầy rộng lớn. Anh bấu một cách tuyệt vọng vào một thanh gỗ và nôn ọe.

                Là một người bơi giỏi, Phụ tá thủ quỹ Takahashi, đã dội khỏi vỏ tàu, tỉnh lại khi chìm trong nước. Phía trên anh một lỗ sáng chiếu chói lòa – nhưng xa quá không bơi đến được. Thình lình một lốc xoáy nước đẩy anh lên. Anh hít một hơi rồi bơi như điên cuồng khỏi sức hút kéo lại. Được một quãng anh quay lại. Musasgi đang dựng đứng! Anh cảm thấy sự chấn động của một cú nổ dưới nước. Con tàu chiến trượt xuống mất hút. Ngay sau đó không có gì, không một bóng người trong vùng nước yên tĩnh đến kỳ lạ. Tôi là người sống sót duy nhất. Anh cố bơi ra khỏi bải dầu nhớp nhúa, nhặt nhạnh từng mảnh vật trôi giạt. Rồi như trong mơ, anh nghe vẳng lại tiếng hát và hăng hái bơi nhanh về nơi có tiếng hát.

                Hosoya cũng trông thấy Musashi dựng đứng lên, một bóng đen in trên những tia nắng cuối cùng của vầng thái dương đang chìm xuống. Bốn hoặc năm người đang bu vào chóp của đuôi tàu đang dâng cao. Họ hình như bấu chặt hơn khi con tàu vĩ đại đang đâm thẳng xuống. Chính anh cũng cảm thấy đang bị hút trở lại. Nghe có tiếng ầm ầm rất lớn và anh bắn lên cao trong không trung. Cuộc sống hình như ngưng lại khi anh nhìn xuống – gần như nó đang xảy ra cho người khác – vào cái lỗ lớn trong lòng biển sâu tận dưới kia. Anh đã bị nuốt và bị phun ra. Theo bản năng anh cong người như một quả bóng trước khi rơi tòm trở lại xuống biển. Một lần nữa anh bị kéo xuống bên dưới, trong vùng nước xoáy lông lốc. Vẫn con ở tư thế một bào thai, anh để mặc nước cuốn quay tròn, không hề nghĩ đến thở. Gần như đã quá muộn anh nhận biết điều gì đang xảy ra và quơ tay chân ngoi lên một cách điên cuồng. Tới mặt nước anh hít vào một hơi không khí nhiệm mầu.

                Ánh trăng chiếu sáng biển tối. Không nghe tiếng nói. Anh cũng tưởng mình là người còn sống duy nhất. Ai đó chộp lấy anh từ bên dưới. Hosoya không bơi giỏi và đang muốn chìm. Bàn tay chộp đã buông ra và khi Hosoya trồi lên khỏi mặt nước, anh lại lần nữa cô độc. Rồi những cái đầu bắt đầu nhô lên khắp bốn phía. Anh nhập bọn với nhóm người – trong đó có sĩ quan điều hành Kato – và họ bắt đầu tìm kiếm những vật làm nổi. Lớp dầu gần như dày một bộ nhấn chìm họ, bôi đen nhẻm mặt mày họ chỉ lộ ra con mắt và cái miệng trắng dã. Trong một giờ Hosoya và Kato bám chung một cái thùng. Viên sĩ quan điều hành bắt đầu ngái ngủ và Hosoya chọc cho anh tỉnh dậy. Ai đó nói đùa về vụ đánh lầm một sĩ quan cao cấp. Họ hát quốc ca, hải quân hành khúc và cuối cùng những bài hát phổ thông như “Cô Em Thượng Hải.” Sau gần bốn giờ, những ngọn đèn pha quét dọc khu vực và các tàu khu trục hộ tống bắt đầu vớt lên những người còn sống. Tuy nhiên, một người không chịu được cứu vớt. Trưởng pháo thủ Koshino bơi ra xa vào bóng đêm.

3.

                Hơn 300 dặm về phía bắc, ngoài khơi Luzon trên Biển Phi Luật Tân, Hạm đội Cơ động của Ozawa đang lướt về nam. Vị đô đốc phải nhập bọn với Kurita và Nishimura trong cuộc tấn công phối hợp vào Vịnh Leyte. Nhưng trên đường đến mặt trận ông đã nghĩ ra một kế sách mới hiệu quả hơn để sử dụng bốn tàu sân bay và hai tàu bán sân bay của mình. Ông không mấy tin tưởng với chỉ có 116 máy bay có thể giáng cho quân địch một đòn chí tử. Tuy nhiên, Lực lượng Cơ động có thể tạo ra một hình ảnh ấn tượng và có thể sử dụng điều đó để lôi kéo lực lượng tàu sân bay hùng hậu của Halsey ra khỏi khu vực Leyte và tạo cho Kurita cơ hội lẻn đi an toàn qua Eo San Bernardino. Ozawa điện cho Hạm đội Hổn hợp về kế sách của mình.

                Vấn đề là làm sao cho Halsey biết được sự hiện diện của ông mà không đánh động mối ngờ vực của ông ta. Ông thực hiện điều này bằng cách phóng một cuộc không kích vào Essex, Lexington Princeton với 76 máy bay ngay khi Kurita đi vào Biển Sibuyan, một ít lúc trước trận tấn công đầu tiên vào Musashi. Đó là một tập họp hổ lốn của gần 30 loại máy bay, khi họ cất cánh lá cờ Z được kéo lên như hai lần trước đây trong trận Trân Châu Cảng và Midway. Phi công không kích báo cáo đánh trúng 2 tàu sân bay và bay thẳng đến Luzon. Họ không gây ra tổn thất nào cả, và hơn nữa, thất bại trong sứ mạng chủ yếu của mình. Halsey cho rằng họ là một bộ phận của lực lượng có căn cứ trên đất liền đánh vào Princeton và ông không đớp mồi. Ozawa, do đó, buộc phải phái 2 tàu bán sân bay, Ise Hyuga, cùng với 5 con tàu khác, đi xa hơn về phía nam làm mồi nhử.

                Cuối cùng máy bay thám thính Mỹ trông thấy lực lượng này, và như ý đồ của Ozawa, việc này dẫn đến việc “phát hiện” bộ phận chủ lực của ông vào lúc 4:30 P.M.. Ông điện cho Kurita rằng lực lượng tàu sân bay địch sẽ chắc chắn bị thu hút về phía bắc để giao tranh với mình, do đó để trống Eo San Bernardino không ai phòng vệ. Vì một nguyên do nào đó, thông điệp không hề nhận được.

                Đúng như Ozawa đã dự đoán, lần này Halsey mắc bẫy vị cáo già. Ông biết rằng hạm đội Kurita đang lướt về cánh cổng đến Biển Phi Luật Tân, nhưng nghĩ rằng nó đã thương tích đầy mình nên “chỉ có thể đánh rồi chạy.” Dù gì, Hạm đội 7 của Đô đốc Kinkaid, đang tụ tập quanh Vịnh Leyte, có dư sức mạnh hủy diệt Kutita. Vì thế tại sao phải nằm đợi ngoài khơi Eo San Bernardina như một con mèo rình ở hang chuột và đợi kẻ địch ra tay trước? Mục tiêu chủ yếu là các tàu sân bay của Ozawa. Nếu ông hủy diệt chúng các chiến dịch tương lai của mình sẽ không phải sợ mối đe dọa nào từ biển cả. Ngoài ra, ông không có ý định để lực lượng tàu sân bay của Nhật tẩu thoát được, như Spruance đã làm thế tại trận đánh Biển Phi Luật Tân; để rồi ông ta bị lên án là không được quyết liệt.

                Ngay trước 8 P.M. Halsey chỉ vào vị trí của Ozawa trên bản đồ cách đó 300 dặm và bảo với tham mưu trưởng của mình, Robert Carney, “Đây là chỗ chúng ta sẽ đến. Mick, cho hướng đến bắc.” Suốt ngày đó Halsey hành động như người chỉ huy toàn bộ Hạm đội 3. Đúng ra, ông không nhường lại nhiều việc cho Mitscher làm.

                Chuẩn Đô đốc Carney viết ra những chỉ thị ra lệnh tất cả ba nhóm tàu sân bay của Mitscher tiến lên phía bắc. Hai trong số các vị chỉ huy của nhóm bối rối vì mệnh lệnh bất ngờ. Chuẩn Đô đốc G.F. Bogan – báo động vì một báo cáo cho biết những đèn lưu thông của tàu Nhật trong Eo San Bernardino từ lâu đã tắt nay bật sáng lên – đích thân chuyển sự kiện khó hiểu này cho một trong các sĩ quan tham mưu của Halsey, và nhận được trả lời nhanh nhẩu, “Vâng, phải rồi, chúng tôi cũng có thông tin đó.” Bị cự tuyệt, Bogan quyết định không đề nghị việc ông và Phó Đô đốc W. A. Lee ở lại sau với nhóm của họ để phòng vệ eo biển.

                Chính Lee cũng nghi ngờ Ozawa và nhắc Halsey là lực lượng tàu sân bay Nhật có thể làm mồi nhử để họ đi về bắc. Câu trả lời cụt ngũn là “Roger.” Một lúc sau, Bogan cũng cảnh báo Hạm đội 3 và nhận được cùng câu trả lời.

                Trên Lexington, Mitscher nhận được lệnh muộn nhất từ Halsey đối với ba nhóm tác chiến của mình có nghĩa là ông đã bị giải nhiệm khỏi vai trò chỉ huy của Lực lượng Tác chiến 38. “Đô đốc Halsey giờ đây nắm quyền chỉ huy,” ông bảo tham mưu trưởng của mình, Arleigh Burke, và chuẩn bị đi ngủ.

                Tướng một sao Burke không muốn chuyện xảy ra như thế này. “Tốt hơn chúng ta nên xem hạm đội đó ở đâu,” ông nói, và ngay lập tức có tin cho biết là Kurita “vẫn còn đang trên biển và còn di chuyển về hướng San Bernardino.” Tin này đủ quan trọng để đánh thức Mitscher và đề nghị là ông ta nên nhắc nhở cho Halsey để hai nhóm tác chiến ở lại ngăn chận Kurita. “Đô đốc Halsey có nhận được báo cáo đó không?” Mitscher hỏi, và khi trả lời là có, ông nói, “Nếu ông ta muốn nghe lời khuyên của tôi, ông ta sẽ hỏi.” Nói xong ông lăn ra ngủ tiếp.

                Halsey không phải không biết về những báo cáo cho hay Kurita chắc chắn lẻn qua Eo San Bernardino đêm đó. Ông đã gởi một thông điệp ra lệnh cho 4 tàu chiến và một chục tàu tuần dương và khu trục “sẽ được thành lập thành Lực lượng Tác chiến 34” dưới quyền chỉ huy của Đô đốc Lee để giao chiến với Kurita nếu ông ta xuất hiện. Halsey có chủ ý đây “chỉ là một lời cảnh báo,” nhưng Đô đốc Kinkaid lý giải nó như là một mệnh lệnh – trên tàu chỉ huy Wasatch của ông trong Vịnh Leyte – mà ông do tình cờ chặn được thông điệp. An tâm là Halsey đã “lập ra kế sách để phòng vệ San Bernardino,” Kinkaid không còn bận tâm về Kurita. Mối quan ngại của ông nằm trong một lãnh vực khác. Một lực lượng Nhật nhỏ hơn trên biển – đó là Nishimura – đang tiến về phía ông từ phía nam và chắc chắn cố gắng lẻn qua Eo Surigao dưới sự che chở của bóng đêm và tìm cách tấn công đoàn tàu tụ tập trong Vịnh Leyte.

                               Mặc dù việc Kurita đã bị phát hiện sớm và đã chịu nhiều tổn thất nghiêm trọng, kế hoạch bẻ gãy cuộc tấn công vào Vịnh Leyte của MacArthur diễn tiến tốt hơn Hạm đội Hổn hợp có quyền mong đợi. Ozawa đã thành công dụ Halsy tiến về bắc, để eo biển không được phòng vệ và vị chỉ huy việc vận tải ở Vinh Leyte cũng yên lòng. Kurita còn có thể mang ra hỏa lực trên mặt biển nhiều hơn bất cứ hạm đội Nhật nào đang tồn tại, và ở phía nam Nishimura với  7 con tàu đang tiến gần Eo Surigao như dự kiến và vẫn còn nguyên vẹn.                          

           Tuy nhiên, Kurita không thể đến điểm hẹn đúng lúc; cuộc không kích đã đình hoãn ông đến nửa ngày. Ông điện cho Nishimura – trên tàu chỉ huy Yamashiro của mình – hãy tiến hành như dự định còn ông ta chỉ đến được Vịnh Leyte lúc 11 A.M. Nishimura nhận tin một cách bình thản. Như Kurita, ông là người kín tiếng, một vị đô đốc dày dạn biển cả chưa hề phục vụ ở bộ. Ông quyết tâm xuyên qua Eo Surigao với bất cứ giá nào và chết một cách hữu ích. (Con trai duy nhất của ông, Teiji, đã tốt nghiệp thủ khoa trong lớp ở Etajima, đã ngã xuống ở Phi Luật Tân.)

                Trong nhóm tàu tiên phong là tàu tuần dương nặng Mogami, cùng với ba tàu khu trục; theo sau là hai tàu chiến cũ, Fuso Yamashiro, và tàu khu trục còn lại, Shigure. Ngay trước 11 P.M. Shigure trông thấy ba xuồng PT của Mỹ. Theo lệnh của Nishimura nó quay về phía chúng và bắn trúng hai xuồng. Nishimura điện cho Kurita: TIẾN ĐÁNH NHƯ DỰ ĐỊNH TRONG KHI PHÁ HỦY ĐƯỢC CÁC XUỒNG PHÓNG NGƯ LÔI CỦA ĐỊCH.

                Hạm đội của Nishimura không phải là hạm đội Nhật duy nhất hướng đến Eo Surigao và Trận Đánh Quyết Định. Phía sau ông 30 dặm là Lực lượng Tấn kích 2 đang đến, do Phó Đô đốc Kiyohide Shima chỉ huy. Đó là một lực lượng mồ côi, mặc dù tên nghe rất kêu, chỉ gồm hai tàu tuần dương nặng, một tàu tuần dương nhẹ và bốn khu trục. Ban đầu nó được huấn luyện để làm đội tiên phong cho Ozawa, sau được tùy tiện xung vào Lực lượng Khu vực Tây Nam, có bộ chỉ huy đặt ở Manila, và được giao nhiệm vụ hộ tống. Shima đã kháng lệnh – thật là nhục nhã khi bị loại ra khỏi trận đánh sắp đến – và việc phản đối của ông gởi đến Hạm đội Hổn hợp đưa ông trở lại mặt trận; lần này ông phải hợp lực cùng với Kurita trong cuộc tấn công vào Vịnh Leyte. Khi ông tiến gần Phi Luật Tân từ phía bắc qua Biển Nam Trung Hoa, ông còn chưa nắm được mình giữ vai trò gì. Ngoài khơi Vịnh Lingayen ông nhận được mệnh lệnh ngắn gọn từ chỉ huy của Lực lượng Khu vực Tây nam là “xung phong vào Vịnh Leyte,” nhưng lại không đề cập đến chi tiết. Một lúc sau, tuy nhiên, một thông điệp gởi đến từ Kurita, vạch ra ngắn gọn kế hoạch tấn công phối hợp. Ông tự mình quyết định đi theo Nishimura vào Eo Surigao; hợp lực thì hai lực lượng hạn chế của họ sẽ trở nên hiệu quả hơn.

                Nishimura được thông báo về quyết định của Shima và chỉ có vậy. Hai vị đô đốc chuẩn bị lâm trận, và nhận lệnh từ các chỉ huy khác nhau, vậy mà không hề liên lạc nhau. Và Nishimura thì tắt sóng truyền tin. Hành động một cách độc lập, họ phải cần may mắn mới có thể phối hợp lực lượng. Khi Nishimura tiến gần đến eo biển, các xuồng PT bắn lần nữa nhưng tất cả ngư lôi đều trật. Cuối cùng vị đô đốc điện cho hay mình sẽ đi qua lối đi hẹp giữa các đảo nhỏ Panaon và Mindanao – lối vào phía nam đến Eo Surigao – lúc 1:30 A.M.

                                VÀI XUỒNG PHÓNG NGƯ LÔI BỊ PHÁT HIỆN 

                                NHƯNG TÌNH HÌNH ĐỊCH KHÔNG BIẾT RÕ.   

                Vẫn còn nguyên vẹn, Nishimura lướt qua lối vào dài 10 dặm đúng thời khóa và quay vào Eo Surigao. Chỉ cách đấy 50 dặm về phía bắc là mục tiêu của ông – tàu vận tải địch đang tụ tập.

                Dẫn đầu là hai tàu khu trục, và phía sau 1 dặm là tàu chỉ huy Yamashiro, hai bên sườn là Shigure và một tàu khu trục khác. Lực lượng tập hậu, cách nhau 600 ya, là Fuso Mogami. Thêm ba xuồng PT nữa lao ra từ bóng đêm để phóng ngư lôi vào các tàu khu trục, nhưng Nishimura gặp may. Tất cả đều hụt và lần này một xuồng bị phá hủy.

                Trăng đã lặn và tịnh không một ngọn gió; eo biển “tĩnh lặng như một nghĩa trang.” Trên boong thì ấm áp một cách dễ chịu, bên dưới thì nóng. Magellan đã từng đi qua vùng nước tráo trở này, giờ đây phẳng lẳng một cách lừa đảo như một tấm gương, từ hướng khác vào ngày 16/3/1521. Như thể một điềm báo tai họa, thỉnh thoảng những ánh chớp lóe sáng.

                Ngay phía trước, Hạm đội 7 hùng hậu của Kinkaid, được bóng đêm che phủ, đang chờ đợi với nỗi hồi hộp pha lẫn hi vọng; không ai biết chắc chắn lực lượng địch đang tập trung tiến đến lớn cỡ nào. Trên tàu tuần dương Nashville Tướng MacArthur khước từ lời khẩn khoản của thuyền trưởng là ông nên xuống tàu. “Tôi chưa bao giờ được chứng kiến một trận hải chiến và đây là cơ hội của một đời người. Cứ tiến vào trận địa khi ngài muốn.” Kinkaid mời vị tướng xuống tàu chỉ huy của mình, một tàu vận tải, nhưng nhận được câu trả lời chắc nịch: “Chuyển từ một tàu tác chiến sang một tàu không tác chiến sao? Không đời nào!” Vị đô đốc buộc lòng phải giữ tàu Nashville ngoài vòng chiến đấu.

                Mệnh lệnh chiến thuật của việc tác chiến là thuộc Chuẩn Đô đốc Jesse Oldendorf, và để ngăn chận đoàn tàu khiêm nhượng của Nishimura và Shima ông có 6 tàu chiến, 4 tàu tuần dương nặng, 4 tàu tuần dương nhẹ và 28 tàu khu trục. Oldendorf là một người vui tánh, và những báo cáo cho biết các xuồng PT của ông không bắn trúng phát nào không làm ông quạu quọ. Nhiệm vụ chính của chúng chỉ là thám sát. Chẳng bao lâu bọn Nhật sẽ đối mặt với các tàu khu trục, và rồi các khẩu pháo của tàu tuần dương và tàu chiến. Lúc 2:40 A.M. ngày 25/10 một tàu khu trục quân cảnh điện về: CHỒN HÔI 184 ĐỘ, 18 DẶM.

                Nishimura đang tiến theo một đội hình tác chiến một hàng dài. Đầu tiên là 4 chiếc khu trục, rồi 2 tàu chiến, Yamashiro Fuso, và tàu tuần dương nặng Mogami. 15 phút sau một lính canh trên khu trục Shigure trông thấy 3 con tàu cách 4 dặm phía trước. Tàu chỉ huy bắn lên pháo sáng, chiếu rõ 7 tàu khu trục địch. Họ tiến đến rất nhanh, và ngay sau 3 A.M. bắn 27 quả ngư lôi. Một trúng Shigure và mạn trái nó cong vểnh lên. Những đạn pháo 5-inxơ rơi xung quanh các tàu khu trục Mỹ, nhưng một đội thứ hai vừa trờ tới, cả hai tấn công tiếp đợt khác.

                Lúc 3:20 Shigeru Nishino, thuyền trưởng của Shigure, nhìn thấy những sóng rẽ lân tinh “sáng như ban ngày” của các ngư lôi đang ở ngay trước mặt. Shigure và 3 chiếc khu trục khác bẻ lái rất gắt để tránh nhưng không kịp. Nishino nghe một loạt các tiếng nổ. Tàu khu trục ngay phía trước chìm với một tiếng rít lớn ghê rợn, như “tiếng sắt nung đỏ nhúng trong nước”; một chiếc khác bị chết máy trôi giạt và chiếc thứ ba lết đi.

                Một quả ngư lôi đánh trúng một mục tiêu quan trọng hơn, Yamashiro, Nishino nghe một giọng nói trầm tĩnh từ tàu chỉ huy, “Tàu chúng tôi bị trúng ngư lôi. Tất cả tàu tấn công!” Từ những gì Nishino có thể nhìn thấy, Yamashiro, cách đó khoảng một dặm rưỡi, hình như không bị thiệt hại. Ông quay về để hợp lực với các tàu khác trong đội hình tấn công nhưng không tìm thấy gì. Mọi người đâu hết rồi?

                Đô đốc Nishimura, không biết mức độ thiệt hai của hạm đội mình, điện cho Kurita và Shima từ tàu chỉ huy:

                BÁO CÁO TRẬN ĐÁNH KHẨN CẤP SỐ 2. CÁC XUỒNG NGƯ LÔI VÀ KHU TRỤC ĐỊCH            HIỆN DIỆN Ở CẢ HAI BÊN LỐI VÀO PHÍA BẮC CỦA EO SURIGAO. HAI KHU TRỤC CỦA    TA BỊ TRÚNG NGƯ LÔI VÀ TRÔI GIẠT. YAMASHIRO VẪN TRỤ ĐƯỢC SAU KHI TRÚNG                MỘT NGƯ LÔI NHƯNG KHÔNG TRỞ NGẠI KHI CHIẾN ĐẤU.

              Tám phút sau, lúc 3:38 A.M., có một lóe sáng ở phía sau; tiếp theo là tiếng ầm ầm đáng sợ. Con tàu Fuso bị hư hại, cách đó 9 dặm, đã bị nổ làm hai. Cả hai phần tàu vẫn còn nổi, bốc cháy dữ dội. Hai mươi phút sau, với một tiếng ầm, Michishio, con tàu khu trục trôi giạt, cũng tan vỡ.

                Nhưng Nishimura vẫn không bỏ cuộc. Với ba tàu còn lại, Yamashiro, Mogami Shigure, ông tiếp tục tiến về bắc hướng đến Vịnh Leyte – và vào tầm súng nằm ngang của hạm đội 7. Oldendorf đã bắt được địch ngay trước mũi. Lúc 3:51 các tàu tuần dương khai hỏa tiếp theo là sáu tàu chiến – tất cả trừ một đã bị đánh trúng hoặc chìm tại Trân Châu Cảng.

                 Cả Mogami Yamashiro phản pháo cho dù chúng bị giật lùi vì bị trúng phát này đến phát kia. Tàu tuần dương nặng phóng ngư lôi lúc 4:01 A.M. và chẳng bao lâu bị các pháo từ các tàu khu trục đang bao vây bắn dồn tới tấp. Bốc cháy và tê liệt, nó quay trở về nam. Yamashiro cũng bốc cháy từ mũi đến đuôi tàu. Lúc 4:09 trận pháo ác liệt bổng ngưng lại một cách khó hiểu. (Oldendolf đã nghe tin mình đang bắn nhầm tàu khu trục của mình.) Trong khoảng lặng đó Yamashiro cũng quay ngược lộ trình và bắt đầu đi về nam sau Mogami, nhưng tàu chỉ huy đã tiêu đời. Trong vòng 10 phút nó lật úp và chìm, mang theo Nishimura và gần như toàn bộ thủy thủ đoàn.

                Tàu Shigure mỏng vỏ vẫn còn sống. Một đạn pháo đã xén qua đuôi tàu nhưng hàng trăm viên khác đã bắn trượt, tạo nên một bức tường nước gần như đứng vững hai bên nó. Nishino, tê điếng vì tiếng gầm thét điếc tai của trận đánh và tiếng chấn động inh ỏi của đạn pháo bắn hụt gần bên đã hất tung tất cả những công cụ chính xác, trông thấy con tàu lớn bốc cháy phía bên trái mình. Nó trông như một khối sắt khổng lồ bị nung đỏ; chắc là Fuso. Ông ra lệnh quay bánh lái bên phải nhưng không thấy có đáp ứng. Ông cho tàu khu trục dừng lại để sửa chữa.

                Về phía nam, ngay khi chiếc ngư lôi đầu tiên phóng đến Nishimura, Lực lượng Tấn kích 2 của Shima đã đi vào Eo Surigao với tốc độ 28 hải lí. Gần như ngay lập tức đoàn tàu của Shima đã bị xuồng ngư lôi PT tấn công, gây thiệt hại cho tàu khu trục nhỏ Abukuma nghiêm trọng đến nỗi nó phải bị bỏ lại đằng sau. Sáu tàu còn lại tiếp tục đi theo hướng bắc. Chúng bị trùm kín trong cơn gió mạnh bất ngờ nổi lên nhưng vẫn tiếp tục lái mù lèo lách qua lối đi hẹp với tốc đô không giảm. Lúc 3:25 A.M. cơn gió chấm dứt và Shima, vốn chưa nhận được “Báo cáo Trận đánh Khẩn cấp số 2” cho biết tàu chỉ huy và hai tàu khu trục của ông đã bị trúng ngư lôi, ra lệnh cho Lực lượng Tấn kích 2 vào đội hình chiến đấu với tàu chỉ huy Nachi dẫn đầu, theo sau là tàu tuần dương nặng khác Ashigara và 4 tàu khu trục. Mưa rơi từng cơn và tầm mắt bị hạn chế nhiều, nhưng Shima vẫn ra lệnh đi nhanh hơn. Mọi người trên đài chỉ huy căng mắt nhìn ra phía trước. Thình lình một lóa sáng chói lòa hình như tràn ngập khắp eo biển. Một con tàu chính nào đó đã phát nổ; Shima hi vọng đó là tàu Mỹ.

                Đó là tàu Fuso.

                Để cổ vũ Nishimura, Shima điện đài cho ông, “Chúng tôi đã đến tham gia.” Đoàn tàu  của ông vẫn còn đang tiến đến gần như hết tốc độ. Phía trước, hai con tàu (đó là hai bộ phận của Fuso) đang bốc cháy dữ dội, và Shima suy đoán rằng hạm đội của Nishimura đã bị đánh tan. Lực lượng Tấn kích 2 băng qua bên trái của bộ phận đang cháy, ôm sát bờ biển để tránh lửa tạt.

                Qua kính viễn vọng cố định Shima nhìn thấy các tàu khu trục phóng ra phóng vào màn khói. Các tàu của ông chạy sát một tàu khu trục khác bên mạn phải, chết đứng trong nước – một lá cờ Nhật trên kỳ đài. Nó phát ra tín hiệu xanh: “Tôi là khu trục Shigure. Bánh lái hư hỏng và đang sửa chữa.”

                Nachi lao vào màn khói. Từ đằng xa vọng lại tiếng nổ trầm, chậm của những khẩu đại pháo; tàn binh của Nishimura ắt hẳn ở phía trước và còn đang chiến đấu. Đoàn tàu vượt qua màn khói, chỉ để giáp mặt với một màn khói khác. Về bên phải là một con tàu lớn đang bốc cháy, nhưng Shima không thể nhận ra đó là tàu Mỹ hay Nhật. Đó là Mogami. Ra-đa của Shima phát hiện được một hạm đội địch cách 6 dặm về phía bắc. “Tất cả tấn công!” ông ra lệnh qua điện đài.

                Sĩ quan ngư lôi, Trung tá Kokichi Mori đề nghị hai tàu tuần dương nặng cũng phóng ngư lôi từ mạn trái. Shima tán thành, và Nachi, theo sau là tàu Ashigara, quay gắt sang mạn trái vì tàu khu trục, vốn chỉ có thể bắn khi nhìn thấy địch, bắn thẳng về phía trước. Ngay bên trái là Mogachi, và nó có vẻ như đã chết ví trong nước. Nachi phóng ra 8 quả ngư lôi, và di chuyển lên để ẩn núp sau đám lửa lóe sáng của Mogami. Nhưng khi tiến đến gần, Shima ngạc nhiên thấy rằng mũi tàu của Mogami có sóng rẽ. Nó đang xông vào với tốc độ gần 8 hải lí trên một lộ trình và chạm. “Quay gắt sang phải!” ông la lên, nhưng con tàu Mogami đang bốc cháy đâm thẳng vào Naichi và một tiếng nghiến răng rắc rít lên.

                “Đây là Mogami!” ai đó la lên từ đài chỉ huy qua loa phóng thanh. “Thuyền trưởng và sĩ quan điều hành đều chết rồi. Sĩ quan pháo thủ đang chỉ huy. Bánh lái đã hư hỏng. Lái tàu bằng động cơ. Rất tiếc.”

                Hai tàu trôi đi chầm chậm như thế khóa chặt vào nhau, rồi Nachi thận trọng quay trái và hai tàu tách ra. Mogami tiếp tục đi về nam. Bên trái mũi tàu Nachi đã bay mất và các kỹ sư báo cáo tốc độ lớn nhất sẽ giảm xuống 20 hải lí. Shima vẫn còn muốn đi theo các tàu khu trục của mình để tấn công. “Phía trước quân địch chắc chắn đang chờ đợi chúng ta với đôi tay mở rộng,” Mori chống đối. “Lực lượng Nishimura gần như hoàn toàn bị tiêu diệt. Rõ ràng là Lực lượng Tấn kích 2 sẽ rơi vào bẫy. Chúng ta sẽ chết bất cứ lúc nào.” Ngoài ra, họ thậm chí không biết Kurita đang làm gì. “Trong bất cứ trường hợp nào, tiến ra phía trước là điên rồ.”

                Chỉ còn hai giờ trước khi trời sáng để che giấu lực lượng rút quân. Nhiệm vụ ngay lúc này của Shima là tập họp tàn quân của Nishimura cũng như của mình. Những con tàu bỏ chạy lại bị những xuồng PT quấy nhiễu gần lối vào phía nam của eo biển. Những chiếc xuồng dai như đỉa này bị đẩy lui, nhưng ở phía sau một lực lượng truy đuổi gồm 2 tàu tuần dương nhỏ và 3 khu trục bắn vào tàu khu trục khập khiễng Asagumo. Việc này kết thúc cuộc truy đuổi trên mặt biển, nhưng Shima vẫn chưa thoát khỏi tầm hoạt động của các phi cơ Mỹ. Một đợt Avenger tìm thấy chiếc Mogami lạc loài, và một quả bom bắn trúng phòng máy buộc phải bỏ rơi nó. (Giờ chỉ còn lại Shigure trong hạm đội của Nishimura.) Trong vòng một giờ Shima nhìn thấy đợt thứ hai các Avenger từ chân trời. Trong phòng truyền tin Đại úy Kameda, sinh tại Honolulu, điều chỉnh theo sóng của địch và bắt đầu phát thanh bằng tiếng Anh: “Hê lô, Charley One, hê lô Charley One. Máy bay tàu sân bay Nhật đang tấn công chúng tôi. Hãy hủy bỏ sứ mạng hiện thời và trở lại căn cứ ngay lập tức.”

                Trên đài chỉ huy Shima trông thấy các máy bay đang tiến tới thình lình quay trở lại về hướng bắc.*

  • Không có khẳng định sự kiện này từ các tài liệu lưu trữ của Mỹ. Nó được Đô đốc Shima kể lại.

 

3.

                Gần như cùng lúc Nishimura chuẩn bị vào Eo Surigao đánh phá, Kurita len lỏi vào Eo San Bernadino 200 dặm về phía bắc. Đường vào, hẹp hơn Eo Surigao, khó cho một con tàu lưu thông thậm chí khi trời sáng vì nước chảy với tốc độ 8 hải lí. Kurita phải mang đội tàu dài 10 dặm gồm 22 tàu đi qua trong bóng đêm tối tăm, tất cả đèn lưu thông đều phải tắt hết.

                Khi Kurita thoát ra Biển Phi Luật Tân, ông tưởng sẽ đụng độ cuộc tấn công của tàu ngầm và lực lượng trên biển qui mô. Nhưng không có con tàu nào trong tầm mắt. Để cảnh giác trường hợp địch xuất hiện, ông đặt đoàn tàu vào đội hình trinh sát-đêm khi họ đi vòng bờ biển phía đông Samar và hướng về nam đến Vịnh Leyte.

                Lúc 6:27 A.M. mặt trời lên trên bầu trời ảm đạm, và lệnh được truyền đi để sắp xếp lại đội hình vòng tròn quanh Yamato. Những đám mây bay thấp, thỉnh thoảng những cơn mưa quét qua tàu, và sóng vỗ bập bềnh. Phía trên cao đài quan sát của tàu tuần dương Kumano, Đại úy Shigeo Hirayama đang thiu thiu ngủ tại trạm tác chiến. Như mọi người khác trong Lực lượng Tấn kích 1, anh gần như không được ngủ trong 72 giờ qua. Anh dụi mắt thật manh và nhìn về phía chân trời. Một máy bay địch đang tiến đến từ huớng đông. Trông nó như là máy bay phóng ngư lôi có căn cứ trên đất liền. Nó đến thẳng đây làm gì thế?

                Phi công của nó, một thiếu úy có tên Jensen, đang đi tuần tra chống tàu ngầm, cũng kinh ngạc như Hirayama. Anh bắt đầu bay thấp về phía chiếc tuần dương theo cách tiếp cận ném bom trượt.

                Những quan sát viên đồng thời trên Yamato cũng trông thấy bốn “cột buồm” ở chân trời cách 20 dặm về phía đông nam. Chúng sẽ sớm được nhận diện như là siêu cấu trúc của tàu sân bay. Trời Phật đã phù hộ chúng ta! Koyonagi nghĩ. Đây mới là mục tiêu xứng đáng với các khẩu đại pháo của họ. Các sĩ quan trẻ reo hò, gò má họ lóng lánh nước mắt. 

                Nó hẳn là một trong bốn nhóm tàu sân bay hùng mạnh của Mitscher. Không có phương cách nào trừ tấn công Và Kurita không muốn gì hơn. Hi vọng duy nhất của ông là nhóm tác chiến này cô lập. Ông tiến đến, hơi thay đổi lộ trình đến 110 độ, và điện cho Hạm đội Hỗn Hợp:

                CƠ HỘI PHẬT TRỜI ĐEM ĐẾN, CHÚNG TÔI ĐANG XÔNG TỚI TẤN CÔNG TÀU SÂN BAY     ĐỊCH. MỤC TIÊU TRƯỚC TIÊN CỦA CHÚNG TÔI LÀ HỦY DIỆT CÁC SÀN BAY CỦA    CHÚNG, RỒI LỰC LƯỢNG TÁC CHIẾN.

                Các tàu sân bay lớn của Mitschercòn ở xa về hướng bắc – do Halsey chỉ huy – đang đuổi theo mồi nhử, Ozawa, và những gì người Nhật trông thấy chỉ là một trong các lực lượng phụ của Hạm đội 7, Taffy 3, mà nhiệm vụ của nó là cung cấp sự bảo vệ trên không cho các tàu đổ bộ ở Leyte. Chỉ huy bởi Chuẩn Đô đốc Clifton A. F. Sprague, nó gồm 3 tàu khu trục và 4 tàu khu trục hộ tống cũng như 6 tàu sân bay hộ tống (có biệt danh là “tàu sân bay em bé”) chở không hơn 28 máy bay mỗi chiếc và có tốc độ tối đa là 19 hải lí. Sprague bị bất ngờ; đài ra-đa của ông đã vừa phát hiện ra địch.

                Lúc 6:58 A.M. các dàn pháo chính trên Yamato rống lên. Lần đầu tiên các đạn pháo 3,220 cân kinh khiếp được rót vào mục tiêu trên biển của địch từ các nòng súng dài 70 bộ (hơn 21 mét). Các tàu khác hồ hỡi tham gia tấn công, một bản hợp xướng gầm thét hào hùng. Các tàu khu trục địch ra sức che chắn tàu sân bay bằng khói, các máy bay nhỏ xíu của chúng có thể được trông thấy vội vã cất cánh từ sàn bay “như một bầy ong.” Kurita ra lệnh Tấn công Toàn diện. Bẻ gãy đội hình, mọi con tàu xông vào với tốc độ tối đa, và cuộc săn đuổi trở thành một cuộc tranh đua nháo nhào.

                Các tàu sân bay của Sprague chạy đi một cách chậm chạp về hướng đông, vội vàng phóng lên những chiến đấu cơ và các Avenger trang bị bom. Các loạt súng từ các tàu địch đang xông tới càng lúc càng gần, làm vọt lên những cột nước hồng, xanh, đỏ, vàng và tím – các đầu đạn được nạp những màu nhuộm khác nhau để dễ nhận diện. Những phát nổ của chúng mang “một vẻ đẹp khủng khiếp” đối với Sprague. Lúc 7:01 A.M. ông điện cầu cứu. Về phía nam là hai lực lượng tương tự các tàu sân bay em bé, Taffy 1 và Taffy 2. “Đừng quá hoảng loạn,” chỉ huy Taffy 2 la lớn, chỉ cách đó 30 dặm, “Nhớ là chúng tôi ở phía sau anh. Đừng quá kích động! Đừng làm gì hấp tấp!”

                Nhưng những lời trấn an này là vô nghĩa. Sprague hiểu rằng các con tàu của ông không thể “sống thêm 5 phút nữa hỏa lực của đại pháo này.” Nhưng ngay lúc đó một cơn mưa gió mạnh nuốt trọn Taffy 3. Đó là phút hưu chiến ngắn ngủi nhưng nó cho Sprague đủ thời gian để ra một quyết định khó khăn: ông sẽ không phân tán lực lượng của mình nhưng “kéo kẻ địch ra chỗ khác để ai khác có thể giáng trả nó.” Ông quay về nam hướng đến Taffy 2 và máy bay của nó, rồi, lúc 7:16 A.M., ông ra lệnh 3 tàu khu trục của mình – Hoel, Heermann Johnston – phản công. Có thể cần hi sinh chúng để câu giờ. Johnston (thuyền trưởng của nó một người gốc Da Đỏ Cherokee, Ernest E. Evans) tiến sát trong vòng 10,000 ya với tàu Kumano và phóng 10 ngư lôi. Một quả trúng tàu tuần dương nặng, làm nó chạy chậm tốc độ 20 hải lí và đặt nó ra ngoài vòng chiến đấu. Nhưng Johnston phải trả giá cho sự liều lĩnh của mình bằng ba quả các đạn pháo 14- và 6-inxơ xé toạc nó. Nó như, một sĩ quan cao cấp còn sống sót nhớ lại, “một cún con bị một xe tải nghiền nát.” Tuy thế nó phần nào còn nổi, boong và đài chỉ huy vương vải các thi thể.

                Hoel ở trong tầm bắn của hai đội tàu địch, các tàu chiến bên trái, tàu tuần dương bên phải. Thuyền trưởng của nó, Trung tá Leon S. Kintberger, tiến đến các tàu lớn. Các cột nước nhuộm mà xanh lá rơi như mưa lên Hoel. Một đạn pháo đánh sập đài chỉ huy. Nhưng chiếc khu trục vẫn di chuyển tới và khi cách 9,000 ya phóng ra một đám ngư lôi vào con tàu chiến dẫn đầu. Rồi Kintberger quay tàu về hướng các tàu tuần dương. Dù đạn pháo địch đã phá vỡ động cơ chính và làm kẹt bánh lái bên phải, ông xoay sở lái con tàu bằng một động cơ và quay tàu hướng về mạn đoàn tàu tuần dương. Lúc 7:35 A.M. năm quả ngư lôi còn lại của ông bắt đầu lướt về hướng Haguro, chiếc tuần dương ở trước nhất.

                Trong làn khói dày đặc Heermann, tàu khu trục thứ ba, gần như va vào một tàu hộ tống khu trục bạn và suýt chút nữa đập mạnh vào Hoel. Heermann quay về phía bắc, và trong khi bắn 7 quả ngư lôi vào Haguro, nhìn thấy một tàu chiến ở bên trái. Đó là tàu Kongo, bắt đầu tập trung hỏa lực vào Heermann. Haguro cũng vậy ngay khi nó đã tránh được những quả ngư lôi. Thêm hai tàu chiến Nhật xông vào tàu khu trục, nhưng Heermann, làm tốt hơn David, đẩy mũi tấn công vào một địch thủ khác nữa, tàu chiến Haruna cách hơn 2 dặm một chút. Nó bắn Haruna như mưa rào bằng các đạn pháo 5-inxơ, và sau khi phóng 3 quả ngư lôi cuối cùng, bỏ chạy đi lúc 8:03 A.M. nó ngừng lại, nghiêng sang mạn trái với một kho đạn bốc cháy. Chỉ khi đó Kintberger mới ra lệnh bỏ tàu.

                Sáu tàu sân bay em bé của Sprague đã xuất hiện từ màn mưa theo đội hình vòng tròn. Mười dặm về hướng bắc là các tàu chiến Nhật, và sát hơn về đông bắc là bốn tàu tuần dương địch. Những tàu này bao phủ Gambier Bay Kalinin Bay với hỏa lực ác liệt, nhưng các con tàu sân bay nhỏ vụng về xoay sở né tranh mọi loạt pháo. Kalinin Bay, tuy nhiên, không thể thoát được dàn pháo của các tàu chiến và bị bắn 15 lần. Còn nữa, những đội kiểm soát thảm họa làm việc trong lớp dầu và nước ngang đến thắt lưng đã giữ nó đi đúng đội hình.

                Phản pháo với khẩu 5-inxơ, Gambier Bay lắc lư chung quanh, xoay sở để tránh tổn thất trong gần nửa giờ, nhưng cuối cùng một quả pháo rơi xuống sàn bay. Rồi một loạt đạn rơi thẳng xuống nước ngay bên mạn trái của tàu sân bay. Một quả đánh trúng bên dưới đường nước, làm ngập nước phòng máy. Gambier Bay chạy chậm xuống đến 11 hải lí, bị rớt khỏi đội hình.

                Lúc 8:30 A.M. Trung tá Evans, hoa tiêu người Cherokee của con tàu khu trục Johnston đã tả tơi, nhìn thấy tàu tuần dương nặng Chikuma đang tiến tới dứt điểm. “Bắt đầu pháo vào tàu tuần dương, Hagen,” ông bảo sĩ quan pháo thủ của mình. “Thu hút hỏa lực của nó khỏi Gambier Bay.

                Johnston chạy ì ạch với tốc độ 17 hải lí đến trong vòng 6,000 ya cách tàu Chikuma và rót 5 quả vào nó, nhưng nó phớt lờ tàu khu trục. Heermann, vẫn còn an lành, tham gia trận tấn công và  bắt buộc Chikuma phải quay một số khẩu pháo khỏi Gambiet Bay. Nhưng đã quá muộn. Tàu sân bay bắt đầu chìm xuống lúc 8:45 A.M.

                Giờ Evans quay tàu Johnston để đối diện tàu tuần dương nhẹ Yahagi và 4 tàu khu trục đang hội tụ vào các tàu sân bay còn lại. Evans áp sát Yahagi, vốn đang di chuyển vào vị trí để phóng ngư lôi vào một trong các tàu sân bay, và tung hỏa lực quấy nhiễu bằng các khẩu pháo 5-inxơ của Johnston – nó bắn chừng một chục phát – khiến cho tàu sân bay nhẹ bắt buộc phải phóng các quả ngư lôi sớm. Các tàu khu trục đồng hành với – nó bắn chừng một chục phát – khiến cho tàu tuần dương nhẹ bắt buộc phải phóng các quả ngư lôi sớm. Các tàu khu trục đồng hành với Yahagi liền theo chân. Không tàu sân bay nào trúng đạn, nhưng người Nhật hớn hở báo cáo “ba tàu sân bay địch và một khu trục bị bao phủ trong khói đen và được quan sát thấy chìm xuống, từng chiếc một.”

                Evans, vốn đã dồn ép địch phải tiến hành cuộc tấn công quá sớm, khệnh khạng bước ngang đài chỉ huy kêu lên, “Giờ tôi đã nhìn thấy mọi thứ!” Nhưng người Nhật có biện pháp trả thù. Các tàu tuần dương và khu trục ép vào tàu Johnston. Thủy thủ đoàn của nó kháng cự cho đến khi con tàu chết đứng trong nước và Evans miễn cưỡng ra lệnh bỏ tàu. Trong quân số đầy đủ 327 người, chỉ có 141 được vớt lên cứu sống. Hoa tiêu Cherokee không có mặt trong số đó.

                Trong lúc các tàu khu trục của Sprague, được bốn tàu hộ tống khu trục cũng hung hăng không kém, đang làm cùn nhụt cuộc tấn công trên biển của Kurita, các máy bay từ tàu sân bay của Taffy 2 và 3 đánh phá Lực lượng Tấn kích 1 hết lần này đến lần khác. Ba tàu tuần dương nặng – Suzuya, Chikuma Chokai – chịu đựng nhiều thiệt hại đến mức bắt buộc phải rút lui.

                Kurita không biết là lực lượng tiên phong của mình đã bị vô hiệu quả đến thế; hai máy bay thám thính cuối cùng của Yamato đã bị bắn hạ và máy truyền tin của nó cũng hết hoạt động. Hơn nữa, nó nhìn từ một khoảng cách xa qua làn khói như thể đội tiên phong đã mất dấu địch. “Hãy ngưng lại cuộc săn đuổi này,” Koyanagi khuyên. “Còn có Vịnh Leyte phải tấn công nữa.” Kurita nhất trí, và lúc 9:11 A.M. một thông điệp được đánh đi: HẸN GẶP, LỘ TRÌNH CỦA TÔI HƯỚNG BẮC, TỐC ĐỘ 20.

                Trên đài chỉ huy của tàu Fanshaw Bay, Sprague nghe người đánh tín hiệu hét lên lúc 9:25 A.M., “Mẹ kiếp, các bạn ơi, bọn chúng thoát rồi!” Trận đánh trên biển – trận đánh cuối cùng của Thế Chiến II – đã qua. Taffy 3 không chỉ trụ vững cuộc tấn công của dàn pháo nổi  dữ dội nhất cũng như cuộc đột kích ngư lôi ác liệt mà còn gây ra tổn thất nghiêm trọng cho lực lượng mạnh hơn mình. Trong hơn một giờ tất cả đều vắng lặng. Rồi, lúc 10:50, Tướng Quarters một lần nữa được báo tin về năm tàu sân bay em bé còn sống sót. 9 máy bay địch đang bay tới thấp sát cột tàu, quá thấp đến nỗi ra-đa không phát hiện được. Họ bay lên cao vài ngàn bộ khi chiến đấu cơ Mỹ ra sức chận đánh. Năm chiến đấu cơ Zero có bom buộc ở cánh tách nhóm và nghiêng cánh về phía tàu sân bay nhỏ. Dẫn đầu là một thiếu tá mới cưới vợ, Yukio Seki. Một chiếc Zero thẳng đến đài chỉ huy của Kitkun Bay, súng máy của nó nhấp

nháy. Những người đứng nhìn tưởng nó sẽ bay vụt lên; nhưng thay vào đó nó đâm thẳng vào lối đi ở mạn trái, nổ tung và rơi tòm xuống biển. Hai chiếc khác gầm thét thẳng đến Fanshaw Bay, cũng với ý định rõ ràng là đâm sầm vào nó tự sát, nhưng ở phút cuối cùng bổng vỡ tan. Hai chiếc cuối cùng quay vụt đi tránh hỏa lực dữ dội từ tàu White Plains bắn lên. Một chiếc, đuôi bốc khói, nghiêng cánh về phía St. Lo với một khúc quanh sang phải như thể định đáp xuống, nhưng viên phi công đẩy chiếc phi cơ nhỏ lật qua, và đập vào sàn bay. Lửa lan tràn khắp sàn chứa máy bay, làm phát ra một chuỗi tiếng nổ bên trong dữ dội. Sau khi đã sống sót sau một trận đánh kéo dài không hề hấn gì, St. Lo chìm xuống.  

                Những người sống sót của tàu đặt biệt danh cho phi công Nhật là “bọn bổ nhào ba bị (devil diver).” Anh ta chính là một kamikaze đầu tiên. Ý tưởng về những cuộc tấn công tự sát gần đây đã nổi lên tự phát trong các nhóm phi công Lục và Hải quân, và một vài nỗ lực riêng rẻ đã được thực hiện trước ngày đó.* Nhưng chỉ đến khi Phó Đô đốc Takijiro Onishi đến Luzon – ngay trước khi người Mỹ đổ bộ lên Leyte – để chỉ huy Không lực Căn cứ 5 và biết rằng mình chỉ có không tới 100 máy bay hoạt động được thì Quân đoàn Tấn công Đặc biệt Kamikaze (Phi đoàn Thần phong) mới được chính thức tổ chức.

  • Năm 1570 một hoàng đế Mông Cổ giương buồm tiến đánh Nhật với một hạm đội xâm lược. Có vẻ như là Nhật Bản sẽ dễ dàng bị chinh phục, nhưng một cơn cuồng phong đã làm tan tác hạm đội Mông Cổ. Tin rằng trận đại cuổng phong là do thần linh kêu gọi, người Nhật đặt tên nó là kamikaze, “thần phong.”

Kamikaze đầu tiên của Hải quân là Chuẩn Đô đốc Masafumi Arima. Ông cất cánh từ Sân bay Clark ngày 15/10, trong trận đánh Đài Loan, dự tính đâm sầm máy bay ném bom của mình vào một tàu sân bay, nhưng nó bị bắn hạ trước khi ông đến được tàu Mỹ nào. Vụ tấn công kamikaze đầu tiên, tuy nhiên, đã đến sớm hơn 1 tháng. Vào chiều tối ngày 12/9 một nhóm phi công Lục quân của Phi đội Chiến đấu cơ 31 tọa lạc trên đảo Negros tự quyết định tiến hành cuộc tấn công tự sát vào sáng hôm sau. Hai người được tuyển chọn – Trung úy Takeshi Kosai và một trung sĩ. Đại úy Tatsumaru Sugiyama, một trong 50 chuyên gia hàng không đã từng lên kế hoạch ám sát Tojo, lãnh nhiệm vụ bảo quản. Anh gắn những quả bom 100-kí trên 2 cánh của chiến đấu cơ, và một giờ trước hừng đông hai phi công cất cánh, quyết tâm đâm sầm xuống tàu sân bay. Họ không hề trở lại. Hiển nhiên họ, như Arima, bị bắn hạ trước khi đến mục tiêu, vì không có ghi chép nào về việc một máy bay địch đâm vào một tàu sân bay vào ngày 13/9.        

                “Theo ý kiến tôi,” ông bảo chỉ huy của mình, “chỉ có một cách chuyển sức mạnh ít ỏi của mình thành hiệu quả tối đa, và đó là tổ chức những đơn vị tấn công tự sát hợp thành bởi những phi công Zero trang bị những quả bom 250 kí, với mỗi máy bay đâm sầm một tàu sân bay địch.”

                Đề nghị của Onishi được giải thích cho những phi công. “Đôi mắt họ sáng rực sôi nổi trong gian phòng lờ mờ ánh sáng,” một trung tá có tên Tamai báo cáo. “Mỗi người ắt hẳn đang nghĩ về điều này như một cơ hội để trả thù cho đồng đội đã ngã xuống gần đây trong trận chiến ác liệt ở Mariana, ở Palau và ở Yap. Nhiệt tình của họ là nhiệt tình bốc cháy tự nhiên trong trái tim của những người trẻ tuổi.”

                Nhóm kamikaze của Onishi được sáng lập đặc biệt để yểm trợ cho trận đột kích của Kurita vào Vịnh Leyte, và trận tấn công đầu tiên đã đến sớm hơn buổi sáng hôm đó. Sáu máy bay tự sát và bốn máy bay hộ tống cất cánh từ Mindanao lúc 6:30 A.M. và đi về phía bắc. Trong khi Tally 3 đang đánh bạt Kurita, các máy bay Tấn công Đặc biệt này bay đến Taffy 1. Một chiếc Zero đâm sầm vào tàu Santee và một chiếc khác vào Suwannee, nhưng cả hai tàu sân bay em bé này sẽ sớm trở hoạt động. Dù sao đi nữa, tất cả những ai từng chứng kiến người Nhật Bản đâm tàu địch bằng cả định mệnh của mình còn chấn động trước trải nghiệm này. Nó như là phần xem trước của những điều sẽ đến.                                   

5.

                Kurita mất gần hai giờ để góp nhặt các lực lượng phân tán của mình – giảm từ 32 tàu xuống còn 15 trong vòng ba ngày – và một lần nữa hướng đến nam trong đội hình vòng tròn tới Vịnh Leyte. Vị đô đốc và hầu hết ban tham mưu chưa được ngủ từ khi rời Brunei và giữ được cảnh giác chỉ bằng năng lực ý chí thuần túy. Koyanagi cảm thấy khó khăn khi di chuyển quanh đài chỉ huy thậm chí có sự giúp đỡ của gậy chống; ông đã bị trúng các mảnh pháo ở đùi ngày hôm trước.

                Kurita chắc chắn hơn bao giờ hết là mình đã vừa gặp một nhóm các tàu sân bay của Halsey (thông điệp của Ozawa nói rằng mình đã dụ được Halsey đến bắc chưa hề đến Lực lượng Tấn kích 1). Hơn nữa, một báo cáo bị chặn lại – chắc chắn từ một máy bay đặt căn cứ trên đất – cho biết một hạm đội của tàu sân bay địch nằm cách 113 dặm về phía bắc cửa Vịnh Leyte. Đây có thể là nhóm tác chiến còn lại của Halsey chăng? Trong bất cứ trường hợp nào, Kurita sẽ không được yểm trợ từ hạm đội tách ra của Nishimura được cho là xâm nhập Vịnh Leyte từ phía nam; Nishino, trên tàu khu trục Shigure, đã điện cho biết tàu của ông là tàu duy nhất còn lại.

                Khoảng 11:40 A.M. một lính canh báo cáo trong thấy một tàu chiến địch và vài tàu khu trục ở chân trời. Kurita ra lệnh đuổi theo nhưng không thể tìm thấy gì; có lẽ lính canh đã bị chứng ảo giác chăng. Rồi một tin điện cho biết một phần lực lượng của Kinkaid từ Vịnh Leyte xông ra bị chận được. Có vẻ như là phần đông các tàu vận tải đã thoát được. Thậm chí những tàu còn lại hẳn đã có năm ngày để dỡ hàng.

                Nếu Kurita xông vào chỗ nhỏ hẹp của vịnh để đánh chìm những tàu vận tải này, tàu của ông sẽ do các máy bay từ tàu sân bay hoặc từ đất liền của đich định đoạt số phận. Lực lượng Tấn kích 1 có thể bị quét sạch – và đổi lại là gì? Một ít tàu vận tải thực sự trống rỗng. Điều này, Kurita lập luận, là vớ vẩn. Thay vào đó ông quyết định – ông được Koyanagi và phần còn lại của ban tham mưu phụ họa – quay sang bắc, và với sự yểm trợ của máy bay có căn cứ

trên đất liền, tấn công lực lượng tác chiến địch đang tọa lạc cách không tới 100 dặm.*

  • “Phá hủy tàu sân bay địch là một nỗi ám ảnh của tôi, và tôi là nạn nhân cho nó.” Kurita bảo với tác giả Masanon Ito trong một kỳ phỏng vấn duy nhất sau chiến tranh. “Giờ đây khi xét lại, sự phán đoán của tôi hình như đã không đúng đắn. Lúc đó quyết định hình như đúng nhưng tâm trí thì vô cùng mệt mỏi. Nó chắc hẳn nên được gọi là ‘một phán đoán của tình trạng kiệt sức.’ Lúc đó tôi không cảm thấy mệt mỏi, nhưng đã chịu sự căng thẳng cùng cực và không ngủ suốt ba ngày đêm, tôi bị rút hết sức lực và trí lực.”

                Vị đô đốc từ chối cho tác giả cuốn sách này phỏng vấn nhưng đồng ý để Đô đốc Koyonagi nói thay cho ông. “Giờ tôi nghĩ chúng tôi đáng lẽ nên đi vào Vịnh Leyte,” ông nói. “Đô đốc Kurita cũng thế. Lúc đó chúng tôi nghĩ mình làm điều tốt nhất nhưng giờ, với cái đầu lạnh, tôi biết chúng tôi bị ám ảnh bởi các lực lượng tác chiến của địch. Chỉ bởi vì chúng tôi nhận được báo cáo – và hóa ra báo cáo đó sai – là có một hạm đội các tàu sân bay địch gần đấy, chúng ta lẽ ra không nên đuổi theo chúng.”

                Nếu Kurita cứ tiếp tục đến Vịnh Leyte, ông sẽ trước tiên đụng độ với Hạm đội 7 của Kinkaid và rồi sẽ hứng chịu một chuỗi không kích trong vùng nước chật chội. Trong vịnh có nhiều tàu đi lại – bao gồm 23 xuồng LST và 28 tàu Liberty – điều gì xảy ra nếu tất cả tàu này bị đánh chìm? Hầu hết đồ tiếp liệu đã được bốc dỡ lên bờ, như Kurita dự đoán, và trên bờ biển có quân nhu đủ dùng cho một tháng chiến dịch. MacArthur tuyên  bố rằng đánh mất các tàu này sẽ “đặt toàn bộ cuộc xâm chiếm vào tình thế hiểm nghèo.” Trên tàu vận tải còn hầu hết những tấm thép lót làm đường băng cho phi cơ, và nếu không có chúng ông ta có thể mất đi ưu thế trên không tại khu vực tạm thời. Cũng vậy, một trận pháo kích của hải quân Nhật vào binh lính Mỹ có thể gây ra những thiệt hại tạm thời. Dù sao đi nữa, không chắc cuộc tiến công của MacArthur sẽ bị đình hoãn hơn một tuần hay khoảng đó.

                Toàn thể đài chỉ huy như bị điện giật vì quyết định ấy. Thách thức của ít ngày qua họ như đã quên mất, dù đang rã rời xương cốt và vô cùng suy nhược; nhưng giờ đây họ như thể chuẩn bị bước vào trận đánh đầu tiên.

                Lúc 12:35 P.M. Kurita phát lệnh cho hạm đội đảo ngược lộ trình và “tham gia vào trận đánh quyết định với lực lượng tác chiến địch đang ở vị trí 5 độ, cách đài hải đăng Suluan 113 dặm.”

                Tin tức được tất cả tàu đón nhận với những tiếng hô “Banzai!” Lực lượng Tấn kích 1 hướng về bắc để lâm chiến trận đánh cuối cùng của mình.

 

6.

                Con mồi của ông – Lực lượng Tác chiến 38 – thực tế đang ở xa ngoài tầm hoạt động về phía bắc vì đuổi theo Ozawa. Sáng sớm hôm đó ba máy bay thám thính của Mỹ đã phát hiện Lực lượng Cơ động, và lúc 8 A.M. 180 máy bay bổ nhào, chiến đấu cơ và máy bay phóng ngư lôi đã xông vào Chitose Zuiho. Chỉ có một nhúm chiến đấu cơ Nhật bay lên đánh chặn. Số máy bay còn lại của Ozawa đã được đưa đến Phi Luật Tân để tiếp cứu. Cả hai tàu sân bay nhẹ bị bom đánh trúng và Chitose  bắt đầu chìm. Rồi một quả bom phát nổ ở phòng máy phía trước của tàu khu truc Akizuki, và một quả ngư lôi đâm thẳng vào tàu chỉ huy Zuikaku.

                Không còn chiến đấu cơ nào ra nghênh chiến đợt tấn công thứ hai. Xuyên thủng màn hỏa lực phòng không ác liệt 36 máy bay hội tụ vào tàu sân bay thứ tư Chiyoda. Các quả bom phát nổ dọc theo boong tàu và, bốc cháy, nó nghiêng thật gắt. Tàu chỉ huy của Ozawa có thể di chuyển với tốc độ 20 hải lí, nhưng bánh lái đã hư hỏng và liên lạc đã tắt ngấm. Ozawa,     người từng bị lôi khỏi con tàu Taiho sắp chìm trong Trận đánh Biển Phi Luật Tân, rời bỏ tàu Zuikaku không phản kháng gì. Không có vấn đề danh dự ở đây. Ông đã hoàn thành mục đích và tạo cho Kurita cơ hội tiêu diệt tàu đổ bộ ở Vịnh Leyte.

                Những hành động tùy tiện của Halse ngày hôm trước đã làm cho Đô đốc Kinkaid gặp rối rắm trong vịnh. Ông cố gắng tin rằng tuyến đánh cứu cấp – Lực lượng Tác chiến 34 vừa mới sinh ra dưới quyền chỉ huy của Đô đốc Lee – đã được thành lập phía trước Eo San Bernadino, nhưng không nhận được phúc đáp trong hơn 2 giờ rưỡi. Và khi trả lời của Halsey cuối cùng đến, nó làm ông bấn loạn – Lực lượng Tác chiến 34 hiện đang cùng với các tàu sân bay giao chiến với Ozawa!

                Lần này hạm đội của Kurita đã đánh Taffy 3, và Kinkaid trả lời với một yêu cầu được yểm trợ: CẦN KHẨN CẤP TÀU CHIẾN Ở VINH LEYTE NGAY LẬP TỨC.

                Phản ứng của Halsey là bực bội. nhiệm vụ của ông ta không phải là bảo vệ Hạm đội 7; ông đang đảm đương một sứ mạng quan trọng hơn, tấn công lực lượng tàu sân bay chủ lực của kẻ thù. Điều tốt nhất ông có thể làm là ra lệnh cho nhóm tác chiến 4 của Mitscher, vẫn còn cách hàng trăm dặm về phía đông hãy chạy đến Leyte.

                Trong khi đó Kinkaid đã gởi Halsey một thông điệp khác với chi tiết của lực lượng hùng hậu địch hình như chắc chắn sẽ đè bẹp Taffy3.  . . . YÊU CẦU LEE ĐẾN CHE CHẮN  LEYTE VỚI TỐC ĐỘ TỐI ĐA X YÊU CẦU CÁC TÀU SÂN BAY NHANH ĐÁNH TRẢ NGAY LẬP TỨC.

                Lời yêu cầu kép này làm Halsey nổi khùng. Ông ta hình như đã làm hết sức mình và lại đang ở giữa trận đánh. 22 phút sau Halsey nhận thêm một tin điện khác từ Kinkaid:

                . . . YÊU CẦU KHÔNG KÍCH NGAY LẬP TỨC X CŨNG YÊU CẦU YỂM TRỢ BẰNG TÀU              NẶNG X CÁC OBB CỦA TÔI [các tàu chiến cũ đã bắn phá Nishimura] CẠN KIỆT ĐẠN DƯỢC.

                Đây là một ”yếu tố mới, quá kinh ngạc” mà Halsey thấy khó chấp nhận. Tại sao Kinkaid không thông báo cho ông ta về sự kiện này sớm hơn? Halsey trả lời rằng mình ‘đang giao chiến với tàu sân bay địch” và đã phái nhóm tác chiến 4 gồm 5 tàu sân bay và 4 tàu tuần dương đến yểm trợ Kinkaid.

                Hơn nửa tiếng sau lại một thông điệp tuyệt vọng khác đến từ Kinkaid, lần này thậmchí không viết bằng mật mã:

                                LEE ĐÂU X PHÁI LEE ĐẾN

                Ở Trân Châu Cảng, Nimitz đang theo dõi những thử thách của Taffy 3, và như Kinkaid, ông tưởng rằng Lực lượng Tác chiến 34 đã được phái đến để bảo vệ Eo San Bernadino đêm hôm trước. Giờ ông ta cũng hỏi Halsey lực lượng tác chiến quỉ quái đó ở đâu. Một thiếu úy liên lạc thêm cụm chữ đệm vào đầu và cuối thông điệp để làm những người giải mã địch bối rối:

                GÀ LÔI ĐI DẠO ĐẾN VÙNG NƯỚC GG TỪ CINCPAC . . . X LỰC LƯỢNG TÁC CHIẾN 34 Ở                ĐÂU RPT [repeat tức lặp lại] Ở ĐÂU RR THẾ GIỚI THẮC MẮC

                Thông điệp này đến tàu chỉ huy của Halsey, New Jersey, một lúc sau thông điệp không mã hóa của Kinkaid. Người đánh máy, Burton Goldstein, biết rằng GÀ LÔI ĐI DẠO ĐẾN VÙNG NƯỚC là cụm từ đệm nên loại bỏ, nhưng THẾ GIỚI THẮC MẮC, mặc dù có chữ RR tách nó ra, nghe có vẻ hợp lý đến nỗi anh tưởng nó có thể là một phần của văn bản. Cấp trên của anh, một đại úy cũng nghĩ vậy, và thông điệp được chuyển đến đài chỉ huy.

                Nổi sùng vì cụm từ THẾ GIỚI THẮC MẮC (“như thể tôi bị đánh vào mặt”), Halsey ném mũ của mình xuống boong tàu. Carney nắm lấy cánh tay ông và nói, “Thôi mà! Anh bị cái quỉ gì vậy? Hãy bình tĩnh đã nào!”

                Bốc khói, Halsey trao cho ông ta bức điện. Làm sao mà Nimitz có thể gởi “một lời sĩ nhục như thế chứ”? Ông ra lệnh cho một nhóm tàu sân bay của Mitscher chạy về nam trong khi những nhóm khác tiếp tục ở lại tấn công Ozawa.

                Đợt đánh phá thứ ba với hơn 200 máy bay lúc 1:10 P.M. khiến Zuikaku lẫn Zuiho bốc cháy. Con tàu sau chạy đi hết tốc độ, nhưng Zuikaku dần dần nghiêng cho đến khi sàn bay ngập nước. Lúc 2:07 con tàu lớn, từng sống sót qua quá nhiều trận đánh, chìm xuống biển. Đợt tấn công thứ tư của Mitscher, nhỏ như đợt thứ hai, tập trung vào tàu Ise Zuiho. Con tàu chiến được biến cải gồ ghề xoay sở chạy thoát được, nhưng Zuiho, bị thương chết người, chìm xuống biển.

                Đó là tàu sân bay cuối cùng của Ozawa. Ba chiếc nằm ở đáy biển và chiếc thứ tư, Chiyoda, chết đứng trong nước. Ozawa đã dụ được Halsey đi về bắc nhưng tàu hàng ở Vịnh Leyte vẫn nguyên vẹn. Việc hi sinh của ông quả là vô ích.

                Mười phút sau khi Kurita quyết định quay đi khỏi Vịnh Leyte, ông bị 70 chiến đấu cơ và Avenger từ Taffy 3 đánh phá. Tone Nagato mỗi tàu đều bị trúng bom nhưng hạm đội tiếp tục đi tìm tàu sân bay địch. Thêm hai cuộc không kích nữa (147 lượt xuất kích tất cả từ nhóm tác chiến 4 của Mitscher còn ở xa) không gây thiệt hai, nhưng Kurita chắc chắn hơn bao giờ là mục tiêu của ông đang ở sát bên. Suốt chiều ông thúc giục tìm kiếm nhưng không thấy gì; cũng không nghe tin gì từ Ozawa. Lúc 6 P.M. ông đã chạy một mạch trở lại Eo San Bernadino. Tại đó ông tuần tra với chỉ thị từ Hạm đội Hỗn Hợp hãy tham gia trận đánh đêm nếu có thể.

                Nhưng Lực lượng Tấn kích 3 đang cạn nhiên liệu, và vì không có báo cáo về tàu sân bay địch, Kurita đành ra lệnh tháo lui. Lúc 9:25 P.M. những tàn binh của một hạm đội từng một thời hùng mạnh tìm đường về qua vùng nước nguy hiểm, tối tăm của Eo San Bernadino.

                Kế hoạch vô vọng nhằm tiêu diệt tàu hàng ở Vịnh Leyte đã đi đến kết cục tổn thất thảm thương: 4 tàu sân bay, 3 tàu chiến, 6 tuần dương nặng, 3 tuần dương nhẹ, và 10 khu trục. Khoảng 300,000 tấn hàng tác chiến bị đánh chìm, và hơn một phần tư tổng số mọi tổn thất của người Nhật kể từ trận Trân Châu Cảng. Không bao giờ thêm một lần nữa Hải quân Hoàng gia có thể đóng vai trò gì khác hơn là một vai phụ bé nhỏ trong công cuộc phòng vệ tổ quốc.      

4567               

 

23 Trận Đánh Sống Núi Hiểm Nghèo

 

1.

                Thảm bại của Đô đốc Kurita vào ngày 25/10 có nghĩa là sự cô lập thực sự của Phi Luật Tân nhưng Tướng Sosaku Suzuki, chỉ huy cuộc phòng thủ các đảo trung tâm, chưa bao giờ tỏ ra tự tin hơn. Không người Mỹ nào đã bay qua hòn đảo Cebu đặt bộ chỉ huy của ông vào ngày hôm đó – khẳng định rằng sức mạnh trên không của kẻ địch đã bị đập tan trên không phận Đài Loan. Khoảng trưa những báo cáo lạc quan về trận đánh của Kurita ngoài khơi Samar bắt đầu đổ về: một số tàu sân bay Mỹ đã bị đánh chìm; Yamato và những tàu chiến khác đang pháo kích Vịnh Leyte.

                “Tướng Tomochika,” ông bảo với tham mưu trưởng của mình, “chúng ta chuẩn bị bước vào trung tâm của trận địa. Không có vinh dự hay đặc quyền nào lớn hơn. Chúng ta thậm chí không cần đến mọi tiếp viện mà họ đang gởi đến.” Hai đơn vị đang từ Luzon đến: Sư đoàn 1 sẽ đổ bộ lên Ormoc, trên bờ biển tây của Leyte, trong khi Sư đoàn 26 đổ bộ lên hải cảng Carigara, ở phía bắc. Hai lực lượng sẽ hợp nhau và chiếm lại Tacloban trong vòng 10 ngày.

                Về điều này Suzuki không có ngờ vực gì; mối quan ngại của ông là MacArthur có thể chịu đầu hàng các lực lượng tại địa phương, như Wainwright đã làm sau vụ thất thủ Corregidor. “Chúng ta phải yêu sách y đầu hàng toàn bộ lực lượng, những lực lượng ở New Guinea và những nơi khác cũng như binh lính trên Leyte.”

                “Ưu thế trên không” của Suzuki không kéo dài lâu. Đêm đó, các tấm thép làm đường băng được tháo dỡ ra nhưng việc lợp lại vào ngày hôm sau bị cản trở bởi các cuộc không kích và mưa nặng hạt. Đến đêm mọi sân bay là một bãi sình lầy. Các kỹ sư làm việc cật lực suốt đêm 27, và việc lắp đặt phần cuối đường băng Tacloban hoàn tất ngay sau hừng đông vừa đúng lúc để đón tiếp các chiếc P-38 của Không lực 5. Một chiếc vỡ nát, nhưng 33 chiếc khác đáp xuống an toàn.

                Trước sự tấn công tới tấp của Sư đoàn 7 của Mỹ, quân Nhật đã rút lui qua bình nguyên ven bờ biển suốt đường đến Dagami. Tướng Makino ra lệnh hậu quân của Sư đoàn 16 cố thủ thị trấn trong khi bộ phận chủ lực lùi đến chân dãy núi chạy dài xuống đảo.

                Về phía bắc Sư đoàn 40 của Mỹ cũng đang tiến tới không ngừng về hướng tây. Mục tiêu của nó là Jaro, như Dagami ở chân những ngọn núi. Bị cầm chân bởi một sức kháng cự kiên cường và một con sông, các GI đầu tiên cuối cùng đã đột nhập vào thị trấn vào ngày 29/10 và tràn lên Xa lộ 2 – một con đường rộng 12 bộ trải đá và sỏi hướng đến Carigara.

                Liên lạc tồi tệ tiếp tục dày vò Suzuki. Chỉ có những báo cáo thưa thớt cho biết quân Mỹ đang tiến lên bắc. Hơn nữa, ông ta còn không biết thảm bại của Nhật trên biển. Chiều đó Thiếu tá Shigeharu Asaeda, sĩ quan tác chiến của tướng Yamashita, bay đến Cebu từ Manila với tin tốt lành hơn: Sư đoàn 1 sẽ đổ bộ vào Ormoc một ít ngày trước kỳ hạn, cùng với một tiểu đoàn của Sư đoàn 26.

                Asaeda không nói rõ cho Suzuki về tình hình đang đối đầu ông. Suzuki là một người có năng lực nhưng quá thành thật và ngây thơ; nếu ông ta nghĩ mình sẽ thắng thì ông ta sẽ chiến đấu tốt hơn. Do đó Asaeda hứa với Suzuki sẽ tiếp tục gởi tiếp viện, điều mà ông biết sẽ không bao giờ thực hiện, mà nếu có, cũng không thể đến nguyên vẹn vì ưu thế thống trị của không lực Mỹ. Suzuki không có cơ may để thắng trận, nhưng tại sao chất lên vai ông ta gánh nặng của sự thật? Có câu nói, “Điếc không sợ súng.” [Nguyên văn là : “Người mù không sợ rắn” : ND]

                 Vào sáng ngày 1/11, 11,000 lính của Sư đoàn 1 rời Manila trong một cơn mưa tầm tã trong bốn tàu vận tải lớn có 6 tàu khu trục hộ tống và 4 tàu phòng vệ bờ biển. Sư đoàn 1, cũng được biết dưới tên Sư đoàn Cẩm thạch, là một đơn vị tinh nhuệ được thành lập vào năm 1874 đã từng tham gia các cuộc chiến Hoa-Nhật và Nga-Nhật. Mùa hè đó họ đã được tách ra khỏi Quân đoàn Quảng Đông và được giao nhiệm vụ chiến đấu với quân Mỹ. Họ đã đi từ bắc Mãn Châu bằng tàu hỏa đến Thượng Hải, tại đây họ được huấn luyện như một lực lượng cứu cấp.

                Trên  đường đến Leyte, chỉ huy đội tàu giải thích với binh lính của mình điều gì đang chờ họ ở trước mặt. Trên tàu Takatsu-maru Trung úy Minetoshi Yashiro bảo các trung đội trưởng của mình rằng quân Mỹ đã đổ bộ tổng lực lên Leyte và một sư đoàn đang tiến về Carigara. Sư đoàn Ngọc thạch phải ngăn chận nó. “Chúng ta đã chuẩn bị quá lâu cho ngày này. Giờ khắc đã đến khi chúng ta phải sử dụng tất cả năng lực và kỹ năng huấn luyện của mình.”

                Ngay sau mặt trời lặn tiếng máy tàu im bặt và binh lính, bị chèn cứng trong các tầng giường sắt, nghe tiếng leng keng của xích khi neo được thả xuống. Họ đã đến Ormoc, trên Leyte. Tiếng quát tháo ra lệnh; binh sĩ, trong bộ quân phục bẩn thỉu đầy chí rận, leo lên những cầu thang sắt dốc đến boong trên bên ngoài khu chật chội nóng bức, bốc mùi cơ thể con người.

                Hạ sĩ Kiyoshi Kamiko dưới quyền Yahiro hớp lấy không khí nhiệt đới trong lành. Trên đầu, các vì sao sáng nhấp nháy; mặt biển yên tĩnh. Anh đã từng là một giáo viên tiểu học trước khi bị gọi nghĩa vụ ngay sau trận Trân Châu Cảng. Quyết tâm và có lý tưởng, anh đã hào hứng trải qua những năm tháng huấn luyện ở Mãn Châu, chấp nhận hầu hết những đối xử hung bạo của các hạ sĩ quan coi như là điều kiện cần thiết. Anh thích tình đồng đội trong quân ngũ, cảm nhận là mỗi người đều phụ thuộc vào người sát bên. Như những đồng đội khác của Sư đoàn Ngọc thạch anh năng nổ muốn chứng tỏ mình trên chiến trường và hoàn thành nghĩa vụ cho Nhật Bản và Thiên hoàng.

                Tiếng ầm ầm đáng sợ nhưng rộn rã của các khẩu pháo ở xa lướt qua sóng biển. Để ghi nhớ thời khắc, anh nhìn đồng hồ tay trong ánh sáng những vì sao. Lúc đó là 7:30. Các thang dây được buông xuống qua thành tàu vận tải, và binh sĩ, mỗi người nặng oằn dưới 90 cân trang bị, lóng cóng bước qua hàng rào. Khi thấy tín hiệu đèn pin từ bên dưới, Kamiko vụng về nhảy xuống khoang xuồng lắc lư nhẹ nhàng. Anh đưa lưng xuống trước và cuối cùng hiểu rằng tại sao mình được bảo phải bỏ dây nịt đạn ra trước.

                Trên bờ biển tướng Tomochika đang lo âu theo dõi việc đổ bộ. Ông đã đi tới Leyte trước Suzuki, được tiếp đón bằng cái tin làm nũng chí là toàn bộ Sư đoàn 16 của Makino sắp sửa sụp đổ. Ông bước tới trước để gặp Trung tướng Tadasu Kataoka, chỉ huy của Sư đoàn Ngọc thạch và ban tham mưu của ông ta. “Sư đoàn Thứ nhất,” ông bảo họ, “sẽ tiến lên với tốc độ lớn nhất có thể dọc theo con đường Ormoc-Limon-Carigara [Xa lộ 2] và tập họp đến khu vực đông nam Caragara để sẵn sàng tấn kích.”

                Là một sĩ quan kỵ binh, Kataoka hay tìm kiếm những điều bất ngờ. Phải làm gì nếu họ bị tấn công trước khi đến được Carigara trong vùng núi gần Limon?

                “Cứ tiến đến Carigara,” Tomochika trả lời. Khả năng xảy ra việc ấy là điều nực cười. “Không có gì phải lo lắng cả.”

                “Có thật vậy không?” Kataoka nhận xét, nhưng không có ý mỉa mai. Ông không hỏi gì thêm.

                Đại đội Yahiro nghỉ chân trong một rặng dừa, đợi quân số còn lại của trung đoàn 57 của họ lên bờ. Họ bắt đầu đào takotsubo (bẫy mực), sâu 4.5 bộ. Những hầm trú ẩn bên vách sát đáy có khoét lỗ để một người có thể cuối khom mình vào trong trận oanh tạc. Bề mặt cắt ngang một takotsubo trong giống một chiếc vớ Giáng sinh.                               

                Mồ hôi làm mắt cay xè, và áo mướt mồ hôi dính sát vào lưng họ, nhưng không khí ấm áp dễ chịu hơn gió quật rát da ở Mãn Châu. Về phía đông bầu trời bừng sáng một màu hồng rực rỡ với buổi bình minh trông như một tấm áp phích du lịch miền xa lạ. Chiến tranh như đã lùi xa. Bổng một tiếng ù ù từ xa vọng đến. Ai đó la lên “Vào hầm trú ẩn!” và binh sĩ nhảy phóng vào hố cá nhân của họ. Tiếng ù ù biến thành tiếng gầm thét. Các oanh tạc cơ tiến đến trong đội hình lẫm liệt, hình như bất khả xâm phạm cho dù chìm ngập trong những đốm khói đen của đạn nổ phòng không.    

                Bom từ máy bay – đó là những chiếc B-24 từ Morotai – bắt đầu rơi xuống các tàu vận tải, vẫn còn đổ người và vật liệu. Các chiến đấu cơ Zero thình lình từ trên xông xuống các oanh tạc cơ, nhưng vẫn tiếp tục điềm nhiên bay theo lộ trình. Ba chiếc Zero đồng thời bốc cháy, lao xuống đất như các sao chổi. Một đợt oanh tạc cơ thứ hai bay tới liền sau, cánh chúng lấp lánh trong ánh nắng mặt trời.

                Một chuỗi bom rơi theo đường parabôn về hướng tàu vận tải Noto-maru. Một quả bom mất hút xuống ống khói tàu. Nghe một tiếng nổ trầm, theo sau là một loạt tiếng nổ ứa nghẹn. Còi tàu bắt đầu vang lên áo não không ngớt. Bất lực, Đại tá Yoshio Miyauchi, chỉ huy Trung đoàn 57, nhìn con tàu mà ông và binh lính mình vừa rời khỏi. Ông quỳ gối trên bãi biển và cầu nguyện, rồi thơ thẩn không mục đích về phía bến tàu. Các xe tải, ngựa và hầu hết đạn dược của ông đang ở trên con tàu đang bốc cháy. Tướng Tomochika bảo với viên đại tá đang choáng váng hãy dẫn binh lính mình lên đường đến Carigara ngay khi có thể. Ông phải đi sau một nhóm tiền quân nhỏ đã khởi hành vài giờ trước. Chỉ huy sư đoàn, Tướng Kataoka, đã lên đường đến Xa lộ 2 với hai trung đội, và Miyauchi, được một phụ tá tháp tùng, giờ đã khởi hành về bắc bằng chân trần để lấy lại bình tĩnh.

                Trung đoàn của ông chỉ di chuyển ra khỏi Ormoc sau nửa đêm. Họ bước đi trong đêm tối một hàng dài nhiều dặm dọc theo xa lộ hẹp – không như chỉ huy của họ, hăng hái được chiến đấu. Họ không biết ý nghĩa của vụ chìm tàu Noto-maru.

                Trong ánh sáng nhạt nhòa của buổi rạng đông – đó là ngày 3/11 – nhóm tiền quân, dưới quyền chỉ huy của Thiếu tá Yoshio Imada, đang tiến gần Caragara. Họ đụng độ bất ngờ với bộ binh của Sư đoàn 24 tiến theo hướng ngược lại. Sau một trân đấu hỏa lực ngắn ngủi, Imada rút lui vào những ngọn đồi phía nam Xa lộ 2.

                Tướng Kataoka hay tin về cuộc đột kích ngay khi ông và hai trung đội của mình đến các đỉnh đồi phía bắc Limon, một ngôi làng gồm vài chục mái nhà tranh nơi Xa lộ 2 lên dốc cao qua những ngọn đồi gồ ghề, rồi chạy vòng quanh một sống đất nhìn bao quát ở bên phải trước khi đi xuống lần nữa đến bờ biển và Carigara. Kataoka ra lệnh cho Thiếu tá Imada tấn công quân Mỹ đang tiến tới. Imada có thể trông chờ quân tiếp viện, một tiểu đoàn chống tăng. Rồi vị tướng gởi lời lại cho Đại tá Miyauchi mang lên một khẩu pháo dã chiến nhỏ thật nhanh.

                Lệnh này nghe như vô lý đối với Miyauchi, nhưng ông cũng chất khẩu súng lên xe tải và trèo lên để chỉ đạo hoạt động. Khi xe tải ùn ùn lăn bánh qua con đường đất mấp mô, ông tự hỏi không biết một khẩu pháo nhỏ nhít này có thể làm gì. Tại Limon ông lắng nghe một cách lễ phép khi Kataoka giải thích bằng cách nào ông ta sẽ chặn quân địch tiến xuống gần Carigara. Khẩu pháo được đặt án ngữ con đường nơi nó quẹo rất gắt quanh sống đất.

                Suốt ngày Trung đoàn 57 của Miyauchi lang thang về phía bắc dọc theo con đường hẹp đi về Limon, bị máy bay Mỹ dội bom và bắn phá. Hơn 200 người bị giết và hàng chục người khác bị kiệt sức vì cái nóng hừng hực. Đêm xuống mang lại chút thoải mái. Khoảng 9 giờ binh lính nằm ngã ra mệt nhoài dọc theo hai bên xa lộ. Họ bị muỗi mòng tấn công; những ai không che mặt trước khi rơi vào giấc ngủ thức dậy với cắp mắt gần như sưng vù không mở ra được, nhưng lòng hăng hái của họ không hề thuyên giảm khi họ tiếp tục tiến bước, lần này dưới những đám mây bay thấp, đen ngòm. Tiểu đoàn của Kamiko là tiểu đoàn đầu tiên đến Limon, và chỉ huy của nó, Đại úy Sato, được lệnh của Miyauchi chiếm vị trí phía bắc ngôi làng gần nơi đặt pháo.

                Bên phía kia của dãy núi Trung tướng Walter Krueger, chỉ huy Quân đoàn 6, nghĩ rằng sư đoàn tiền phong của mình, sư đoàn 24, đương đầu với việc bao vây và tận diệt. Ông biết từ quan sát trên không là một lực lượng lớn quân Nhật đang hành quân về Limon, và ông sợ rằng địch cũng có thể đổ bộ một lực lượng lớn phía sau Sư đoàn 24 ở Carigara. Krueger phản ứng cân nhắc. Thay vì dấn tới và đánh chiếm sống đất chiến lược, vượt qua chướng ngạc vật núi non đến lúc này vẫn chưa được phòng vệ kiên cố, ông ra lệnh Sư đoàn 24 dừng lại và chuẩn bị chống trả một cuộc xâm chiếm từ biển có thể xảy ra bằng cách hợp lực với Sư đoàn Kỵ binh 1, giờ đang ngay phía sau nó.

                Lúc hoàng hôn trung đoàn của Miyauchi tiến lên con đường ngoằn ngoèo về hướng mõm sống đất. Một bóng người màu trắng ma quái tiến đến. Đó là một người lính sống sót của Sư đoàn 16, mình mẫy băng bó, bị đẩy lui suốt từ Vịnh Leyte. Y đi qua lặng lẽ. Theo sau y là nhiều thương binh hơn, dìu dắt nhau hoặc khập khiễng dựa trên nạng chống. Trong hàng ngũ lan truyền tin sư đoàn của tướng Makino đã bị tiêu diệt.

                Ngay phía trước là điểm cao nhất của Xa lộ 2, nơi con đường quẹo gắt sang hướng đông. Ngọn đồi lỡm chỡm bên phải được bao phủ bởi vạt cỏ cogon cao đến vai. Đó là một thành lũy thiên nhiên. Nhiều nhánh tỏa ra về phía biển theo hướng đông bắc và về phía Thung lũng Sông Leyte theo hướng tây nam. Giữa những con dốc cao là rừng cây rậm rạp.

                Tại đây đoàn quân dừng lại. Những chỉ thị được thì thầm ban truyền phải bỏ lại những đồ vật không cần thiết. Binh lính nhồi nhét vào túi dết của họ bánh khô và năm quả lựu đạn mỗi túi và chất đống những ba lô của mình gần con đường. Đại đội của Kamiko được ra lệnh đi đầu, và tiểu đội của mình dẫn đầu đại đội – điều đó, anh nghĩ một cách tự hào, khiến anh trở thành mũi tiến công của Sư đoàn Ngọc thạch.

                Bầu trời bổng sáng lên đột ngột đầy ấn tượng. Mặt trời lên cao đem đến hơi nóng oi bức không thể chịu được. Không khí cay xè khói thuốc súng. Chiến trường chắc gần đây nhưng sống đất vẫn tĩnh lặng. Một tiếng súng nổ. Yên tĩnh trở lại và rồi Kamiko nghe có tiếng chim hót. Tim của người cựu giáo viên đập nhanh hơn. Ngực anh co thắt lại. Anh quay sang đồng đội mình. Ánh mắt họ lấp lánh. Họ đã chuẩn bị chiến đấu trong ba năm và đang trông đợi giống như mình. Lệnh ban ra phải đi khỏi đường và trèo lên sống đất.

                Phía bên kia, các GI [bộ binh Mỹ] cũng đang đến gần mõm sống đất. Krueger đã ra lệnh cho Sư đoàn 24 đi thám sát nó; cuộc tấn công toàn diện về hướng nam sẽ bắt đầu trong hai ngày tới.

                Kamiko xô dẹt qua bụi cây và bắt đầu đi lên mõm đất. Phía sau, ai đó la lên, “tiểu đội trưởng Kamoko! Sai đường rồi!” Đó là trung sĩ trung đội. Một quả lựu đạn phát nổ. Viên trung sĩ ngã xuống, bấu lấy đùi anh. Kamiko bị đất đá vụn rơi xuống như mưa. Một người lính càu nhàu, “Tôi bị trúng đạn rồi!” Mắt lóa, Kamiko vấp vào y té ngã. Anh cố gắng giữ bình

tĩnh; anh dần dần lấy lại thị lực. Những cột đất phun lên khắp phía. Lựu đạn các GI lốp qua mõm đất đang nhảy xuống dốc như các quả táo lăn ra từ thùng táo. Kamiko lăn về phía trung sĩ và chạm vào người y. Anh cảm thấy máu dính đẫm, ấm áp. 

                Trong khi suy nghĩ phải làm gì, anh nghe tiếng đập của đạn súng cối, rồi tiếng khạc sâu của súng máy. Tiếng đạn kêu rít qua bụi cây, cắm phập vào thân người và làm phát ra những tiếng kêu kinh hoảng và đau đớn. Tiểu đội đầu tiên chưa kịp chiến đấu đã bị tiêu diệt! Anh cố chống lại cơn kinh hoàng làm tê điếng và cuối cùng nghe tiếng mình la to “Bắn!” Súng trường nổ giòn. Kamiko nhìn đồng hồ. Đúng 10 giờ ngày 5/11 năm Chiêu hòa thứ 19. Có thể đây là giây phút cuối cùng của anh trên đời.

                Kamiko bắn điên cuồng hết băng này đến băng khác. Anh ngừng bắn để nạp đạn và nhìn phía trên bụi cây. Một tiếng nổ sấm sét, một chớp lóe chói lòa, rồi bóng tối. Đát cát đổ như mưa lên đầu anh, nhưng anh chưa bị thương. Theo cẩm nang, pháo từ cùng một khẩu đại bác không bao giờ rơi xuống cùng một chỗ, vì thế anh nhảy vào một hố pháo vừa mới tạo thành.

                Anh tức thì được hai đồng đội nhập bọn, một đội súng máy nhẹ. Họ dựng vũ khí và chuẩn bị khai hỏa khi những loạt đạn súng cối bắt đầu nổ quá gần đến nỗi pháo thủ Ogura hét lên, “Ở đây nguy hiểm quá, tiểu đội trưởng!” và chạy vù ra khỏi hố pháo với khẩu súng của mình.

                Toàn tiểu đội di chuyển sang bên, và điên cuồng đào takotsubo giữa các rễ dừa chết. Dàn pháo súng cối đã im tiếng. Kamiko đặt chiếc mũ sắt lên lưỡi lê rồi giơ lên cao, ngay lập tức một cơn mưa đạn ghim xối xả vào nó “như một cái chuông gió.” Anh vội thụp người xuống nhưng hỏa lực từ mõm sống đất đã ngưng. Anh thắc mắc tại sao các bộ binh, sau khi bắn ghim họ xuống, lại rút đi.

                Kamiko bảo đồng đội ăn uống trong khi có cơ hội. Họ có bánh khô nhưng không có nước. Anh ra lệnh cho một người lính bị thương nhẹ ở chân báo cáo tình hình cho chỉ huy đại đội, Trung úy Yahiro, rồi trườn dọc theo con dốc để thám thính. Hai tiểu đội khác đã rơi vào bẫy của đạn súng cối và súng máy và chỉ ba người còn sống. Nếu không nhờ Ogura, tiểu đội của anh cũng đã bị tiêu diệt.

                Lúc hoàng hôn anh tập họp năm đồng đội còn sống và bảo họ tự mình cố thủ đồi. Anh ra lệnh họ thu gom đạn dược, vũ khí và vật dụng của các đồng đội đã hi sinh. Đến nửa đêm họ chuẩn bị cho cuộc tấn công chắc chắn sẽ đến lúc hừng đông, nhưng cái khát đã trở thành nỗi ám ảnh không thể chịu được. Kamiko nhớ mình đã thấy ngọn dừa đâu đó gần mõm đồi. Anh trút hết quần áo chỉ chừa cái khố, buột một khăn quấn đầu và lén lút bò lên đồi. Trong ánh trăng anh tìm thấy một cây dừa và bắt đầu trèo lên.

                “Tiểu đội trưởng!” Tiếng thì thào làm anh giật mình, suýt buông tay ra. “Xuống mau đi không thì bị bắn đó!” Đó là Ogura, đã lén theo sau anh. Nhưng Kamiko tiếp tục leo lên cho đến khi tới được một quày dừa. Anh giật đứt một trái rổi ném xuống nghe một tiếng thịch.      

8.png     

Anh đợi một loạt súng nổ nhưng không có gì xảy ra. Anh ném 10 trái nữa trước khi leo xuống. Hai người mang dừa về cho tiểu đội, bửa ra uống nước và ăn cơm dừa.

                Trong đêm họ được nhập bọn với Tiểu đội 4, do chính trung đội trưởng Hakoda chỉ huy. Trẻ hơn Kamiko một tuổi, anh trông như một học sinh. Anh xin lỗi đã đến quá muộn. Kamiko động viên binh sĩ mình trước bình minh. Anh ngạc nhiên khi thấy rằng, dù bị tổn thất nghiêm trọng, họ cũng như mình hăm hở vào trận chiến không kém ngày hôm qua. Anh quan sát khu vực. Một trăm bộ bên dưới là Xa lộ 2 uốn khúc. Bên trên họ lù lù mõm sống đất và anh đoán có thể nhìn thấy Vịnh Carigara từ trên đó. Giờ đã có 19 người trên gò đống chiến lược, nhánh đông nam của dãy núi.                             

                Vào khoảng 9 giờ anh nghe những mệnh lệnh bằng tiếng Anh vẳng tới. Những viên đạn bắn vào mặt đất dọc theo các tuyến takotsubo. Ogura, mắt “mở lớn như hai cái đĩa,” bắt đầu khai hỏa súng máy của anh như bị ma ám. Khi hỏa lực lơi đi ngắn ngủi và Kamiko kêu lớn tên các đồng đội: “Aoki! Shimizu! Otsuka! Ishii!” Mỗi người đều đáp lại “Hai!” (Vâng!) từ chỗ núp của mình. “Nếu họ đến đủ gần hãy ném lựu đạn,” Kamiko dặn dò họ.

                Hỏa lực lại tiếp tục, lần này ác liệt hơn vì có súng máy lớn phụ họa. “Tiểu đội trưởng!” Đó là Aoki ở hố kế bên. “Bụi cây bốc cháy!” Khói cuộn băng qua con dốc và tiếng cỏ cháy nổ lách tách át cả tiếng súng. “Tiểu đội trưởng!” Lại Aoki nữa. “Địch tới kìa!”

                Được khói che khuất một phần, bộ binh Mỹ (Đại đội 1, Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 21, Sư đoàn 24) đã xung phong qua sống đất và đang tiến sát. “Tiểu đội 3,” Kamiko hét lên, “cắm lưỡi lê vào và chuẩn bị lựu đạn!” Anh nghe tiếng clic của những lưỡi lê được lắp vào đầu súng  khi anh lắp lưỡi lê của mình và cầm lựu đạn.

                “Xung phong!” Hakoda búng ra sữa hét lên.

                Kamiko chuẩn bị chuyển lệnh cho tiểu đội của mình, nhưng nó không hợp lý. Một cuộc xung phong trước tiên phải có một loạt pháo yểm trợ bắn che. Bất giác anh la lên, “Tiểu đội 3, bám giữ!” Quân địch vẫn còn được bụi cây bốc cháy che chắn. “Mục tiêu, bên phải tiến xiên!” Kamiko hét lên. “Bắn!”

                Ogura quay súng máy sang phải.

                “Totsugeki!” Lại Hakoda nữa, giục Tiểu đội 4 xung phong vào hỏa lực chết người. Hakoka ngã xuống và viên trung sĩ mới của anh trúng đạn. “Hãy chỉ huy,” anh gọi cho Kamiko. Quân Mỹ gần như tràn ngập họ. Tất cả như đã hết. Kamiko la lên một cách tuyệt vọng, “Bắn hết đạn đi!”

                Thình lình bầu trời trên đầu bị tách ra với một tiếng rít kéo dài rồi bị cắt đứt bất ngờ bằng một cú nổ trên con dốc đằng trước. Choáng váng, bộ binh ở cả hai bên ngưng bắn. Một đạn pháo lớn khác rớt xuống đằng trước Kamiko ngay giữa đám lính Mỹ đang tiến lên. Một đạn pháo thứ ba réo phía trên, rơi thẳng xuống vị trí đại pháo của địch. Ba phát đều bắn ra từ một khẩu pháo lớn của Nhật vừa được kéo đến vị trí.

                Kamiko nhảy bật lên và hét lên, “Của phe ta!”

                Vài khẩu súng máy Mỹ tiếp tục lên tiếng. Một viên đạn pháo thứ tư phát nổ. Phía trước là im lặng. Lần này các súng máy địch đã im tiếng.

                Không có tiếng súng trường nào bắn ra từ các takotsubo phía bên trái và Kamiko bò qua để xem xét. Ishii người co quắp, đầu gục. “Bị gì vậy?” Kamiko hỏi và cởi mũ Ishii ra. Mắt anh ta vẫn mở trừng trừng nhưng trong đầu có một lỗ to bằng hạt đậu ở giữa trán. Phía sau ót trông như một quả lựu bung ra.

                Kamiko nghiến răng nổi giận. Ishii là người bạn thân nhất của anh – một sinh viên đại học, đầy nhiệt tình và lòng trắc ẩn. Anh bổng thấy lưng mình nóng lên liền quay quắt lại. Gió đang mang lửa cỏ xuống con dốc. Thương binh Hakoda đâu rồi? Kamido bắt đầu tìm kiếm anh ta để cứu ra khỏi đám cháy nhưng tất cả anh tìm được chỉ là thắt lưng da sĩ quan, thanh kiếm và khẩu súng lục. Bọn Mỹ đã bắt anh làm tù binh rồi sao? Súng máy bắt anh nhảy bổ lại xuống hố của mình, nắm chặt các vật sở hữu của chỉ huy trung đội.

                Aoki gọi lớn đến anh, “Địch đang tới!” Aoki chuẩn bị ném một quả lựu đạn nhưng Kamiko ngăn anh lại; bọn địch còn quá xa. Kamiko bò đến phía trước tay cầm lựu đạn, theo sau là Ogura. Anh khom người, chuẩn bị đứng lên để ném – rồi chết. Một lần nữa một quả pháo – lần này từ một dàn pháo bốn khẩu vừa mới được bố trí – kêu rít trên đầu, rồi nổ phía trên con dốc.

                “Trúng rồi! Ngay chốc!” ai đó hét lên phấn khích. “Năm hay sáu thằng vỡ tung!”

                Rồi anh nghe một tiếng nói khác – tiếng nói của đại đội trưởng, Trung úy Yahiro! Lực lượng chủ lực của đại đội đã đến. Kamiko nhảy cẫng lên. Quẹt nước mắt bằng lưng bàn tay trái, anh đập quả lựu đạn vào mũ sắt mình để kích hoạt nó và ném nó ra xa hết sức lên tận trên đồi. Binh sĩ anh làm theo. Năm tiếng nổ liên tiếp vang lên.

                “Xung phong!” Kamiko hét lên. Anh cảm thấy như thể không có gì có thể ngăn cản mình khi anh quăng mình lên chiến địa ngút khói, cháy đen lao về phía ụ đại pháo với lưỡi lê cắm sẵn. Phía sau bước chân đồng đội nện thình thịch. Xác lính Mỹ ở khắp nơi, thi thể họ cháy xém và phồng rộp; một thi thể hình như chảy tràn mở vàng. Kamiko, theo sau là 8 đồng đội, tràn vào những ụ súng máy. Các pháo thủ đã bị nổ banh xác; băng đạn quanh bụng của họ nổ như pháo. Đạn nổ không ít trường hợp làm bật chốt lựu đạn nổ theo. Kamido đứng lại, ưỡn ngực thẳng. Giữa tất cả xác chết này anh thấy mình còn sống. Như thể anh bước ra từ một giấc mơ. Thực tại lại vực anh dậy, và anh khom mình phóng về phía chõm sống đất. Khi anh băng mình qua mõm trước mắt anh bày ra một toàn cảnh Vịnh Carigara làm anh nín thở. Binh lính Mỹ đang bỏ chạy xuống triền dốc của sống đất, đây đó một bóng dáng tháo chạy bổng không may ngã xuống vì một phát đạn đuổi theo từ trên mõm sống đất.

                Một trung đội duy nhất, với sự yểm trợ của một tá đạn pháo, đã làm thui chột cuộc tấn công quyết tâm của kẻ địch và cho phép trung đoàn đang quá dàn trải có thời gian ra đến tiền tuyến và biến sống đất thành một pháo đài các takotsubo, giao thông hào và ụ súng.

                Kamiko nhớ lại vào thời nội chiến các samurai thường lấy đầu của kẻ thù, và anh đi lấy mũ sắt của một sĩ quan Mỹ. Lớp vải lót còn thấm máu và anh do dự – có thích đáng không cho một người hiện đại tịch thu chiến lợi phẩm? Nhưng anh còn cầm chiếc mũ trong tay khi trình diện đại đội trưởng. Gương mặt Trung úy Yahiro đen nhẻm vì lấm bụi và thuốc súng, cánh tay phải đeo nạng. Anh nhăn răng cười vui vẻ. “Cám ơn cậu nhiều lắm vì đã chịu đựng gian khổ,” anh bảo Kamiko.

                Tiểu đoàn trưởng của họ, Đại úy Sato, gọi mang danh sách tuyên dương đến và viết tên anh lên trang thứ nhất. Đó là một vinh dự không tưởng tượng được đối với một lính bộ binh, “một bông hoa ước mơ.” Thường thì chỉ có phi công hay thủy thủ được chính thức tuyên dương. Sato tò mò khi thấy chiếc mũ Mỹ. Kamiko xin lỗi vì mũ dính máu nhưng tiểu đoàn trưởng vẫn đội nó lên đầu, ngúc ngoắc đầu vài lần. “Nón nhẹ và êm quá.” Có cái nào không có lỗ đạn không?

                “Chắc có, để em tìm cho,” Kamiko tình nguyện.

                “Nếu cậu tìm được, tôi sẽ sử dụng.”

                Yahiro nhăn răng cười khi anh nhấc lên một khẩu các-bin Mỹ. “Cái này cũng nhẹ nữa. Tôi sẽ dùng nó từ giờ trở đi.”

                Đêm đó Kamiko được chỉ định làm trung đội trưởng thay thế Hakoda. Anh không sao ngủ được, các thi thể đồng đội nằm ngoài chiến trường không ai hậu sự dày vò anh. Từ bóng đêm anh nghe có tiếng ai đó nói, “Tại sao bọn Mỹ nằm ngữa khi chết vậy ta?” Một tiếng khác đáp lại, “Người Nhật lịch sự hơn; thậm chí khi chết họ cũng che chỗ kín của mình.” Cả hai cười phá lên.

                Ngay trước hừng sáng Kamiko và hai trung đội trưởng khác được lệnh trình diện tại hố cá nhân của đại đội trưởng. Yahiro bảo họ  phần còn lại của tiểu đoàn đã bị phục kích trên đường đến đây và thực sự đã bị tiêu diệt. Vì thế mô gò của họ (nó đã được Sato đặt tên lại là Đồi Yahiro để vinh danh đại đội) lại trở thành một mũi tiến công thêm một lần nữa – và bị cô lập. “Tiếp viện chắc chắn sẽ đến. Khi quân chủ lực của sư đoàn đến, quét sạch quân địch là chuyện dễ dàng. Cho đến lúc đó chúng ta phải cố thủ cho đến cuối. Tôi hi vọng mỗi trung đội trưởng sẽ làm hết sức mình với lòng quyết tâm, cho dù điều kiện gian khổ.” 

                Người Mỹ, sau khi đã bị đánh bật trở lại, mở lại cuộc tấn công vào dốc đứng – nó được đặt cho biệt danh Sống đất Hiểm nghèo – với sự yểm trợ của Sư đoàn Kỵ binh 1. Lần này họ tấn công trên một mặt trận rộng lớn hơn nhưng vẫn tập trung trên ngọn đồi nơi 80 binh sĩ của đại đội đang chờ đợi, với lệnh tạm ngưng hỏa lực. Khi các GI tiến vào trong vòng 75 ya, Trung úy Yahiro hô to “Bắn!”

                Loạt đạn súng trường và súng máy xô ngã quân địch “như các con lăn trong trò bóng gỗ.” Nhưng cuộc xung phong chỉ được chặn đứng tạm thời. Kamiko khâm phục một cách tức tối tinh thần tiến công của quân Mỹ vượt qua thi thể các đồng đội, ném lựu đạn như ném bóng chày. Mức độ tàn sát dọc theo phòng tuyến còn tồi tệ hơn hôm qua nhiều, và Kamiko không tin là Đồi Yahiro có thể giữ vững trước quyết tâm và hỏa lực mạnh mẽ của địch. Anh nóng ruột với khẩu súng trường Kiểu 38; nó bắn chính xác, nhưng sau mỗi phát một clip năm viên đạn phải được đẩy rơi ra. Anh hét lớn với Ogura hãy tập trung hỏa lực súng máy của anh ta sang phải nơi cuộc tiến công của quân Mỹ bổng chậm lại. Có lẽ họ hoảng sợ. Lựu đạn, do đồng đội phía sau anh ném tới, bay qua đầu và nảy về phía địch. Quân Mỹ dao động. Một hoặc hai quay trở lại và binh lính còn lại bắt chước chạy nháo nhào xuống đồi.                             

                Đại đội Yahiro đã giữ vững được lần nữa, nhưng chỉ 25 người còn sống. Những người còn sống thay phiên nhau đi xuống suối nước ở phía bên kia của Xa lộ 2. Họ rửa ráy mặt mày trong nước lạnh, rót đầy bi đông và ăn bánh khô. Việc này, Kamiko nghĩ, đúng là niềm hoan lạc của hư vô.

                Việc Mỹ thất bại khi đánh chiếm Sống đất Hiểm nghèo ngay lập tức gây tiếng vang. Thiếu tướng Franklin C. Sibert, chỉ huy Quân đoàn X, bao gồm các sư đoàn Bộ binh 24 và Kỵ binh 1, tiến lên chiến tuyến vào giữa trưa, và không đợi qua các kênh thủ tục, lập tức cách chức chỉ huy trung đoàn và thay thế bằng sĩ quan tình báo của mình, Đại tá William J. Verbeck.

                Verbeck nhanh chóng chứng tỏ mình là một sĩ quan tham mưu hiếu chiến hơn một sĩ quan tác chiến trung bình. Ngay khi nắm quyền chỉ huy ông phái một đại đội tấn công bên sườn sống đất. Nó cũng bị đẩy lui. Không nao núng, Verbeck ra lệnh Tiểu đoàn 2, bổ sung Đại đội L, tấn công sống đất tổng lực sáng hôm sau.

                Bình minh ngày 8/11 đã u ám. Rồi bầu trời bổng trở nên tối kịt, và mưa kèm gió giật mạnh quét qua sống đất. Các thân dừa uốn cong như cánh cung, và một số bị bật gốc hoặc gãy đôi. Cỏ cogon rập rờn như biển động mạnh. Dù như thế, trận tấn công của Verbeck vẫn khởi sự đúng kế hoạch. Nó mở màn bằng hỏa lực của đại pháo, tiếng ầm ầm của đại bác cạnh tranh với tiếng sấm sét và gió rít. Bộ binh tiến qua cơn mưa xối xả, loạng choạng trên con dốc lầy lội. Bản đồ của họ không chính xác và vài đơn vị phải mất hàng giờ mới đến được vị trí.

                Các đạn súng cối, tuy nhiên, đã rót ngay trên mõm sống đất. Hiệu quả quá khốc liệt đến nỗi Yahiro ra lệnh cho đại đội lùi xuống takotsubo ban đầu của họ gần xa lộ, và tại đó làm cứ điểm cuối cùng. Binh lính chạy ùa xuống đến các hố cá nhân, giờ đã ngập nước nhưng dù sao cũng là chỗ trú ẩn tránh khỏi đạn súng cối bay qua đầu.

                Sương mù ôm ấp triền dốc; không nhìn thấy được gì quá mười thước. Khi nằm đợi, ướt sũng nước và khổ sở, Kamiko đánh giá lại kẻ địch. Trước tiên, hắn không phải là tên hèn nhát; thứ hai, hắn có thể ném lựu đạn xa gấp hai lính Nhật; thứ ba, và quan trọng hơn hết thảy, hắn hình như luôn được nghỉ ngơi. Binh sĩ của Kamiko lúc nào cũng kiệt sức; có lẽ do trận chiến thường trực không ngừng nghỉ; có lẽ cũng do thiếu ăn.

                Không có súng cối để rót đạn qua sống đất về hướng quân Mỹ đang tiến tới, vì thế Yahiro ra lệnh binh sĩ bắn thẳng và liên tục vào mõm sống đất đang phủ sương mù. Chiến thuật này có hiệu quả; hỏa lực khiến kẻ địch không dám vượt quá mõm sống đất. Kẻ tử thủ lấy lại tự tin, nhưng cảm giác an toàn của họ không kéo dài lâu. Ở phía sau họ nghe một âm thanh nghiến nát ma quái. Một xe tăng Mỹ đã đến khúc quanh của Xa lộ 2, xoáy qua bùn lầy, khẩu pháo của nó đang nhả đạn. Họ đã bị bao vây!

                Hai người chạy xuống đồi về hướng con đường, mang theo một túi dết mìn. Những người trong các takotsubo quay lại và nhìn một màn kịch ngắn như thể trong một nhà hát cho đến khi họ nghe những tiếng hét bằng tiếng Anh gần mõm sống đất. “Dùng lựu đạn!” Kamiko la lên và bắt đầu chạy lên đồi theo sau là trung đội cạn kiệt của mình. Họ ném lựu đạn qua mõm và chạy trở lại để ném tiếp. Ba lần họ lên xuống triền dốc. Với kẻ thù ra khỏi tầm mắt, họ trở lại hố cá nhân.

                Nhưng quân Mỹ vẫn trở lại, như lúc nào cũng vậy. Kamiko nghe vật gì đó xì xèo ngay sát miệng takotsubo của mình. Một quả lựu đạn của địch đã lăn xuống đồi và bị một cọc lều chặn lại. Anh nhìn Ogura và cả hai nhún vai. Thế là hết. Nhưng quả lựu đạn bổng tắt ngòi nổ. Những quả khác dội qua các hố cá nhân nhưng nổ sau khi chúng đã bay qua.

                Trên mõm phía trên, một GI giơ khẩu súng nhắm thẳng Kamiko. Anh khom mình xuống hố, rồi nhô người lên và bắn. Tên GI ngã xuống đất, nhưng trong cơn say máu, anh còn bụp thêm ba viên vào người y. Một nòng súng đưa lên và biến mất như một kính tiềm vọng. Nó thuộc về một GI khác đang ra sức giải cứu đồng đội vừa ngã xuống của mình. Kamiko chạy vụt lên mõm sống đất và bắn y; rồi chạy nhanh về hố.

                Binh nhất Saiji Saito ở hố kế bên nhảy về phía trước, theo gương Kamiko. Khi đến mõm, anh cũng bắn. Nhưng thay vì rút về liền, anh chạy mất hút qua sườn bên kia. Tai sao Saito hi sinh quá vô ích như thế? Kamiko tự hỏi. Rồi Sato xuất hiện lại như một trò ảo thuật. Anh hổn hển chửi thề khi nhảy vào hố của Kamiko. “Tao ghét nó quá thành ra phải đá bay đầu nó mới thôi!” Có phải Sato – vốn là một thanh niên nhu mì, không hút thuốc, không uống rượu – đã nổi điên? Có phải đây chính là chứng điên cuồng của chiến trường mà Kamiko đã đọc về nó? Vậy mà, không phải chính anh cũng chẳng đã suýt làm y như thế sao?

                Về phía sau xe tăng Mỹ – loại trung bình – vẫn còn di chuyển tự do trên đường, bắn phá các takotsabo từ phía sau bằng súng máy và đại bác. Hai binh sỉ mang túi thuốc nổ phóng ra từ một con mương và ném bọc thuốc nổ dưới bánh xích xe tăng. Khi họ nhảy trở lại chỗ an toàn, một tiếng nổ trầm vang lên và chiếc xe tăng rùng mình. Nó quay lại một cách khó nhọc và rút lui mất hút quanh cua quẹo.

                Không có xe tăng trận tấn công của quân Mỹ chựng lại và thêm một lần nữa các GI buông bỏ Đồi Yahiro. Không chần chừ người Nhật leo lên con dốc lầy lội để chiếm lại vị trí của họ dọc theo mõm sống đất. Lần này Kamiko không có cảm giác của thắng lợi. Kẻ địch, đã rút lui chiến thuật, sẽ trở lại lần nữa và lần nữa. Những tàn binh của Đại đội Yahiro còn lại gì để ngăn chận họ?

                Vài trăm ya về bên phải của Kamiko trên ngọn đồi sát bên trong sống đất, Trung đội của trung sĩ Yoshio Noguchi đã bị tổn thất trầm trọng như trung đội của Kamiko do hỏa lực súng cối chết người dọc theo mõm đất. Anh còn lại hai khẩu súng máy 7.7-mm – khẩu của anh và khẩu nằm trong cái takotsubo kế bên – nhưng chỉ còn vài băng đạn.

                Khom mình trong làn nước tê cóng lên đến hông, Noguchi nghe một tiếng kêu đau đớn và người pháo thủ khẩu thứ hai bò một cách yếu ớt về phía anh. Noguchi kéo y vào. Đùi phải của y như “một tổ ong” vọt ra máu. Mặt y tái mét, kiệt sức. Người lính bò đã thu hút hỏa lực súng máy của kẻ địch. Cỏ cogon chung quanh hố của anh bị phạt sát rạt. Anh thận trọng quan sát hai bên. Không có động tĩnh gì. Rõ ràng anh là người cuối cùng của trung đội mình. Anh là một người lính gan lì, dạn dày, một thanh niên nông thôn đã tình nguyện nhập ngũ vào năm 1938. Đầu hàng là chuyện không bàn đến. Anh dí nòng súng lục vào thái dương. Anh bóp cò, nhưng súng đã kẹt vì dính bùn.

                Cách anh không đến 25 ya, binh lính Mỹ trong quân phục xanh lá cây đang tiến xuống phòng tuyến takotsubo của anh. Tại mỗi hố họ dừng lại dí khẩu súng trường sẵn sàng nhả đạn trong khi hai người trong bọn nả súng máy vào lính Nhật đã chết hoặc bị thương nằm trong đó. Tiếng súng nghe càng gần và Noguchi một lần nữa đặt súng lên đầu. Vẫn còn kẹt. Có tiếng tạch tạch cách vài ya và Noguchi biết sắp tới lượt mình. Một lá dừa bị trúng đạn súng cối đã bay đến sát miệng hố của anh. Anh lấy cây khéo léo khều lá dừa đậy qua miệng hố takotsubo. Anh nằm sát người vào vách hố, nước ngập đến cằm, chân giạng ra, rồi kéo xác bất động của pháo thủ súng máy che phía trước anh.

                Tiếng nói đã đến ngay trên đầu. Một nòng súng sáng loáng chọc giữa lá dừa. Anh suy nghĩ, chúng giữ gìn vũ khí mới kỹ lưỡng làm sao. Bịt tai mình bằng các ngón tay giữa anh cầu nguyện cho các viên đạn sẽ trượt đi. Anh cảm thấy chấn động do một chuỗi tiếng nổ điếc tai, và hàng chục viên đạn xoáy trong nước giữa hai chân mình. Vách đối diện của hố đã sụp. Noguchi nhắm mắt lại khi bùn bắt đầu lấp đến tận cổ. Lá dừa, bị bắn đứt làm hai, rơi xuống đầu anh.

                Những tiếng nói lãng đi và anh nghe một loạt đạn ở hố kế bên. Choáng váng đến độ đầu óc trống rỗng, Noguchi không cảm thấy đau đớn. Anh cẩn thận gạt bùn ra khỏi mặt và mở mắt ra. Nước trong hố đã nhuộm đỏ. Nhưng đó là máu của tấm khiêng người của anh.

                Cuối cùng tiếng súng im bặt. Bọn Mỹ hiện giờ đang làm gì? Với sự thận trọng vô vàn anh đẩy đồng đội đã chết ra và nhìn quanh quất, tưởng sẽ nhìn thấy họ đang đào hố cá nhân. Nhưng họ đang xây dựng một thứ gì đó anh chưa hề thấy trước đây – các công sự nông bằng đá, hình chữ nhật lợp mái bằng vải bố.

                Noguchi ngồi co ro hàng giờ trong hố nước đầy máu, sợ không dám di chuyển chờ đêm xuống. Cuối cùng anh đau đớn đứng lên. Khắp nơi quanh anh là những chỗ trú ẩn ngồi xổm kỳ lạ; mỗi cái có một ánh đèn le lói bên trong. Anh có thể nghe các lính Mỹ đùa cợt và ăn uống. Khói thuốc lá cuồn cuộn bay lên các cấu trúc nhỏ ấm cúng như mời mọc. Loại lính gì mà có ánh đèn ngay giữ trận địa vậy cà?

                Rồi ánh đèn tắt từng cái một, và gần đến nửa đêm trời lại bắt đầu mưa lần nữa. Noguchi rút người ra khỏi hố và bắt đầu bò đi khỏi tên GI mà anh đoán là lính gác. Anh đến một hàng rào kẽm gai hình như bao quanh dốc đứng. Một loại thiết bị cảnh báo chăng? Anh bò sát bên dưới, cố không chạm đến nó, và xuống một dốc đứng. Chân anh quá yếu và mất liên kết đến độ anh phải bám vào dây leo để khỏi rơi. Dưới chân đồi anh tìm thấy một con suối nhỏ. Anh bò đến gục đầu uống như một con chó. Trừ nước mưa, đây là những ngụm nước đầu tiên anh uống từ nhiều ngày qua. Trong bóng tối anh lờ mờ nhận ra hàng chục thi thể – các đồng đội, còn cầm bi đông trong tay, đã gặp tử thần khi đang tìm nước. Anh không thể phân biệt được mình đứng nơi đâu. Trạm chỉ huy tiểu đoàn chắc phải cách đây 200 ya, nhưng anh bò lên bò xuống trong hơn 1 dặm mà không tìm thấy nó. Kiệt sức, anh cuộn mình lại sau một bụi cây và ngủ thiếp đi.

                Anh tỉnh dậy vì nghe có tiếng nói. Qua bụi cây anh nhìn thấy binh lính Mỹ đang ăn sáng. Trong đêm anh đã đi vòng quanh và vòng quanh mô gò chỉ để trèo trở lại lên điểm xuất phát. Hai GI đi thẳng về phía anh. Anh hụp đầu xuống, hi vọng họ không bắt gặp anh trốn dưới bụi rậm. Rồi anh cảm thấy một dòng nước tưới vào mũ mình. Một tên lính Mỹ đã xả nước tiểu vào đầu anh. Khi anh nhìn lên, y đang chỉnh lại quần rồi chạy theo tên bạn đã bỏ đi trước.

                Phần lớn Sống đất Hiểm nghèo, tuy nhiên, còn trong tay quân Nhật. Sáng đó, sau khi đã oanh kích bằng pháo hạng nặng, hai tiểu đoàn của Sư đoàn 24 tiếp tục cuộc tấn công dưới cơn mưa trút nước. Họ tiến lên nhưng bị một tiểu đoàn Nhật mới đến đẩy lùi. Mưa đã trở thành một vấn đề cho quân Mỹ cũng như cho bên địch. Đường dây tiếp tế, Xa lộ 2, là một đầm lầy, và các kỹ sư đang đổ sỏi để làm nó lưu thông được. Các GI đã bị chứng lột da chân hành hạ do nhúng quá lâu trong nước.

                Người Nhật cũng khốn khổ vì cơn mưa không dứt. Sử dụng xẻng đào hào, họ cố gắng tát nước ra khỏi hố cá nhân nhưng vô ích. Kamiko nhớ rằng các ba lô Mỹ không thấm nước nên quyết định thử dùng một chiếc như một cái xô. Anh bò qua phía địch ở triền dốc bên kia của sống đất, bắt gặp một lính Mỹ chết – như thường lệ nằm ngữa mặt lên, miệng há ra – và đến lấy ba lô của y. Anh và Ogura dùng nó tát nước ra khỏi hố của họ và chuyền ba lô cho những đồng đội. Ướt như chuột lột và lạnh như cắt, họ cắt những ống cao su của mặt nạ chống hơi độc và đốt chúng. Mùi nhựa cháy làm buồn nôn nhưng có chút hơi ấm.

                Kamiko tỉnh dậy vào bình minh u ám khác – đó là 10/11. Đúng là vô lý khi cố xác định ngày giỗ của người nào đó, vậy mà anh vẫn cố. Anh vẫn không có gì phải sợ. “Mei fa tzu!” anh kêu lên – một cụm từ Trung Hoa có nghĩa “Số mệnh cả.” Không có gì để làm trừ ra tận hưởng cuộc sống cho đến phút cuối cùng.

                Cơn mưa nặng hạt hơn khi đạn pháo Mỹ rót xuống tuyến mõm sống đất ở phía trên họ. Dưới sự rung chuyển liên hồi của đất, vách takotsubo bắt đầu sụp xuống. Nó làm cho Kamiko nhớ lại trận động đất kinh khiếp năm 1923, mà anh không bao giờ có thể quên được. Hỏa lực pháo lại tăng cường.

                “Trung đội 1, vào vị trí trên tuyến sống đất!” Kamiko hét lên và xung phong lên đồi, giờ là một khối không nhận ra được những hố pháo. Ở mõm anh trong thấy từng đàn binh lính Mỹ đang tràn từ dưới lên trên triền dốc bên kia. Họ hình như vô số (có hai tiểu đoàn đầy đủ quân số của Sư đoàn Kỵ binh 1) và chỉ còn một nhúm sót lại của Đại đội Yahiro để ngăn chận họ. Anh vội vàng ra dấu cho binh sĩ trở lại hố cá nhân của mình phía dưới, dù sao cũng tương đối an toàn hơn. Anh kêu lên cảnh báo khi chạy vụt qua hố cá nhân của Yahiro. Anh

nhảy vào hố của mình một lúc trước khi đạn bắn tới tấp xuống triền dốc. Lựu đạn bay tới, lăn đến vị trí của họ. Ở bên phải có tiếng kêu bằng tiếng Anh. Trung đội 2 đã bị xóa sổ rồi chăng?

                Saito hét lên, “Hết đạn rồi!” “Tôi, cũng vậy!” một người khác nói theo. Ai đó ném cho họ vài ghim đạn để chia sẻ số đạn dược ít ỏi. Thất vọng và nổi nóng, Kamiko phóng ra khỏi hố, và theo sau là ba đồng đội phóng gần đến đỉnh đồi trước khi ném lựu đạn vào mõm sống đất. Trong cơn bốc đồng – có lẽ để hù dọa quân địch – anh hét lên bằng tiếng Anh, “Xung phong, xung phong!”

                Kết quả thật đáng kinh ngạc. Một tên Mỹ chạy vội qua mõm với lưỡi lê đã cắm sẵn và bổng thấy mình đối diện với Kamiko. Hai người há hốc nhìn nhau. Không ai nhớ bắn. Rồi tên GI, nhận ra rằng mệnh lệnh xuất phát từ phía không đúng, nhào trở về bên kia mõm đất.

                “Đại đội, tenshin!” Đó là tiếng của phụ tá Yahiro. Từ đó có nghĩa “quay lại và tiến tới” và là một từ lịch sự thế “rút lui.” Chính Yahiro cũng lặp lại từ đó, rồi hét lên như thể xin lỗi, “Rồi sau này chúng ta sẽ tiến công!”

                Những binh lính của trung đội 2 kế bên trung đội của Kamiko chưa từng nghe cụm từ này trước đây – nó chỉ mới tạo ra gần đây để đối phó một cách thực tế với chiều hướng cuộc chiến hay thay đổi – nhưng cái giọng khẩn cấp của mệnh lệnh được ban ra kéo họ ra khỏi hố, và sẵn sàng tiến hành tấn công lần cuối cùng.

                “Tenshin! Tenshin!” Yahiro, với khẩu các-bin Mỹ trong tay, vội chạy ra khỏi hố và bắt họ quay lại.

                Kamiko hiểu cụm từ đó nhưng chưa hề ngỡ sẽ được nghe trong trận đánh. Tê điếng người, anh nhìn những binh lính Mỹ đang tập trung hỏa lực của họ vào Trung đội 2 đang lộ liễu. Yahiro bắn khẩu các-bin của mình ngang hông. Một tên GI ngã xuống. Yahiro bắn ngã thêm một tên nữa, rồi chính mình ngã lăn quay xuống đất. Kamiko kéo anh vào một hố pháo. Máu phun ra từ cổ họng anh. “Đại đội trưởng!” Kamiko van xin. Họ dí một bi đông vào miệng anh. Anh hớp một ngụm, rồi đầu anh gục sang bên.

                Giờ đây số phận của một số ít người còn sống thuộc Đại đội Yahiro rơi vào tay của Kamiko. Rút lui là nhục nhã, suốt những năm huấn luyện ý nghĩ đó đã bị ngăn cấm. Dù sao thì cũng chết vì vậy họ nên lấy mạng quân địch nhiều chừng nào tốt chừng nấy. “Ném toàn bộ số lựu đạn còn lại!” anh hét lên và bắt đầu chạy lên mõm, với 5 người chạy theo bén gót. Cuộc tấn công đột xuất của họ khiến người Mỹ bất ngờ trong phút chốc. Họ lùi lại dưới trận mưa lựu đạn. Chỉ cần có một súng máy là có thể thắng, Kamiko nghĩ. Đó là một ước mơ vô vọng. Anh đang dẫn dắt binh sĩ mình vào một cái chết vô nghĩa. “Chạy theo tôi!” anh la lên và chạy tránh trở lại xuống đồi về hướng Xa lộ 2 với một í người sống sót của Trung đội 2 và người của mình. Anh nhảy xuống mương bên đường và nhìn lại. Những cái đầu đội mũ sắt nhô lên suốt dọc theo mõm sống đất.

                Có tất cả 11 người trong mương và Kamiko bắt đầu dẫn họ xuống xa lộ đi về Ormoc – dọc theo cùng một đoạn đường mới đây anh đã dẫn toàn bộ Sư đoàn Ngọc thạch – nhưng nỗi nhục phải rút lui vẫn còn gậm nhắm lương tâm anh.

                Một vài trăm ya dưới con đường họ bắt gặp cống nước; bên dưới là một dòng nước. Mei fa tzu! Điều duy nhất phải làm hết sức là không được lo lắng về tương lai. Họ còn sống. Họ cởi hết quân phục hôi hám. Khi lột giày vớ, đôi chân trần của họ trắng bệch một cách bệnh hoạn. Họ kỳ cọ quần áo trong làn nước rồi bắt đầu cười giỡn và xô đẩy nhau như thể còn ở Mãn Châu; đoạn, chỉ mặc khố, họ nằm xuống vô tư và đánh một giấc ngủ say.

                Họ bị đánh thức bởi một loạt đạn gớm ghiếc. Kamiko nhảy lên. Phía trên họ ở mõm sống đất anh có thể nhìn thấy các GI đang sử dụng súng máy. Anh chộp khẩu súng trường, và trong khi đồng đội chụp vội quần áo rồi chạy đi, anh xổ một băng đạn cuối cùng trước khi phóng theo họ. Họ bị một vài trái đạn súng cối rượt theo nổ trên các vòm lá trên đầu. Sâu trong rừng cây họ dừng lại để mặc quần áo , rồi vòng lại con đường.

                Tại một kho tiếp tế của trung đoàn, Kamiko đăng kí và viên sĩ quan trẻ coi sóc kho khen ngợi họ có được “một chiến thắng vĩ đại” cho tiểu đoàn mình. Kamiko nhìn y chằm chằm. Trên sống đất họ đã chờ đợi mõi mòn hết ngày này sang ngày khác đồ tiếp tế trong khi Tiểu đoàn 3 bị tiêu diệt. Bộ không ai ở Trung đoàn dưới này biết được chuyện gì đã xảy ra trên kia hay sao?

 

2.

                Ở Manila, Tướng Yamashita ít nhất cũng biết tin binh sĩ của Suzuki đã gặp sức kháng cự dũng mãnh ở sống đất.  Ông ra lệnh mũi tiến công chủ lực đổi hướng khỏi Carigara; thay vào đó, Suzuki sẽ quay về phía đông khỏi Xa lộ 2 phía dưới Limon và đánh thẳng ngang qua đảo vào Tacloban. Đó là một mệnh lệnh chiếu lệ. Tướng Yamashita còn nghi ngờ không biết có nên tiến hành Trận Chiến Quyết Định trên Leyte hay không. Đúng là liều mạng khi rút người và quân dụng đang rất cần khẩn thiết cho trận đánh ở Luzon. Hơn nữa, ông có lý lẽ để tin tưởng là tình hình không quá thuận lợi cho Suzuki ở Leyte. Liệu không lực và hải lực Mỹ có thực sự bị đánh cho tê liệt ở Đài Loan và Leyte hay không?

                Thống chế Terauchi, tuy nhiên, vẫn không có ấn tượng về những lập luận này. “Chúng tôi đã nghe ý kiến của Quân đoàn Khu vực 14,” ông nói, “nhưng chiến dịch Leyte vẫn tiếp tục.”

                “Tôi hiểu đầy đủ chủ định của anh,” Yamashita trả lời. “Tôi sẽ đưa nó đến thắng lợi cuối cùng.”

                Sự tin tưởng của Terauchi có được một phần nhờ ở việc ông vừa đổ bộ tương đối dễ dàng 13,000 quân (12,000 từ Sư đoàn 26) lên Ormoc. Hơn nữa, một đoàn vận tải khác, chở 10,000 quân, đang tiến gần đến Leyte được hộ tống bởi 4 tàu khu trục, 1 tàu quét mìn và một tàu săn tàu ngầm, và được che chắn bởi 3 khu trục khác.

                Sáng sớm hôm sau, ngày 11/11, đoàn vận tải quẹo vào Vịnh Ormoc. Nhưng tại điểm này mối ngờ vực của Yamashita về việc không lực và hải lực Mỹ vẫn chưa bị phá hủy được xác minh vững chắc. Gần 200 máy bay từ tàu sân bay thuộc Lực lượng Tác chiến 38 chụp  được đoàn vận tải trước khi nó đến hải cảng. Đợt tấn công đầu tiên tập trung vào 6 tàu vận tải, bị đánh trúng hết lần này đến lần khác. Đợt thứ hai tấn công các tàu khu trục, và đợt thứ ba xông vào, oanh tạc các tàu đang cháy và bắn giết các thủy thủ đang lặn lội trong nước. Trận tàn sát thật đáng sợ. Với giá của 9 máy bay Mỹ, mọi tàu vận tải và 4 tàu khu trục bị đánh chìm. Chỉ một ít trong số 10,000 người còn ở trên tàu – gần như toàn bộ sư đoàn – xoay sở bơi vào bờ qua mặt biển đỏ thắm.

                          Thảm họa không làm Terauchi lo lắng gì, ít nhất là bên ngoài, nhưng càng khiến  Yamashita tin chắc Leyte là một sự nghiệp tiêu vong. Cùng lúc ông nhận được lệnh từ Terauchi phải tiếp tục chiến dịch với khí thế. Sự dè dặt của ông được phản ánh trong một tin điện ông gởi cho Suzuki vào ngày 15/11, gần như tiên đoán được việc bỏ rơi Leyte:

                QUÂN ĐOÀN 35 SẼ NỖ LỰC HOÀN THÀNH TIÊU DIỆT ĐỊCH Ở LEYTE, ĐẶT RA          MỤC TIÊU TỐI THIỂU LÀ LÀM ĐỊCH KHÔNG THỂ SỬ DỤNG CÁC CĂN CỨ KHÔNG       QUÂN . . . TRONG TRƯỜNG HỢP TÀU CHỞ QUÂN KHÔNG THỂ PHÁI ĐẾN ĐƯỢC , LU           ZON SẼ TRỞ THÀNH CHIẾN TRƯỞNG CHỦ YẾU CHO CÁC CHIẾN DỊCH TRONG TƯƠNG

                LAI Ở PHI LUẬT TÂN.

                Suzuki bối rối một cách có thể hiểu được. Có phải có nghĩa lệnh tiến hành trận tấn công chủ lực băng qua vùng núi về hướng Tacloban bị hủy bỏ không? Ông hiểu rằng sống đất phải được giữ vững nếu không người Mỹ sẽ tràn xuống Xa lộ về hướng Ormoc. Do đó ông ra lệnh cho Kataoka phản công. Viêc này sẽ giữ được phòng tuyến sống đất, và hơn nữa, đánh lạc sự chú ý của người Mỹ về mũi tấn công qua vùng núi của mình.

                Các xe tăng Mỹ tràn lên đoạn đường xoắn ốc gần như theo ý muốn. Bộ binh khép lại từ ba phía, và sau một trận đánh tay đôi ác liệt, tràn qua sống đất trừ một vài nhánh ở cuối phía đông nam còn được hậu quân của Trung đoàn 57 thuộc Sư đoàn Ngọc thạch cố thủ. Phần còn lại của trung đoàn rút lui về nam khi đêm xuống, binh sĩ mệt mỏi bám vào nhau nhờ ánh sáng lân tinh được chà xát lên lưng người đi trước. Những binh lính này quay lại, và theo lệnh của Suzuki, tiến lên để đánh chiếm lại vùng đất mà họ vừa bỏ đi.

                Kamiko thấy mình trở lại trên sống đất – lần này ở mút phía nam. Anh và Aoki đã được gởi đến như đội quân thay thế cho Đại đội Yasuda, đang đào hố cá nhân gần mõm một mô gò có kích cỡ Đồi Yahiro. Trung úy Tatsuhide Yasuda là một người ôn hòa. “Tôi mừng các cậu đã đến đây an toàn,” anh nói qua đôi môi mím chặt. “Đại đội quân số chỉ còn không tới một phần tư, vì thế nhận được hai cậu chúng tôi thấy có thêm một triệu lính.” Kamiko được xung vào Tiểu đội 3. “Chúng tôi vừa đào công sự xong và họ vẫn chưa tấn công. Nhưng họ sẽ đến sớm thôi. Chúng tôi vui mừng có các cậu cùng chết với mình.”

                  Tiếng chim líu lo đánh thức Kamiko trước hừng đông. Trong phút chốc anh nghĩ mình đã trở về vùng núi Chiba quê hương. Qua vòm lá dầy đặc anh nhìn thấy vật gì đó màu đỏ. Có phải một đóa hoa nhiệt đới lòe loẹt nào đó chăng? Không, đó là một con chim lớn quý thường có mặt trong sở thú. Nhưng nó cũng là một loại thực phẩm. Anh bò đến hố của chỉ huy và thì thầm là mình muốn bắn con chim đó làm thức ăn. Trung úy Yasuda lắc đầu, một tiếng súng sẽ làm bại lộ vị trí. Con chim, vỗ đôi cánh nặng nề, lóng ngóng bay lên một cách ồn ào như một máy bay vận tải chở nặng và ngay lập tức thu hút những đạn pháo súng cối nổ lác đác.

                Suốt ngày Đại đội Yasuda túm tụm lặng im dưới hố của mình, khẩu phần của họ là một khối cơm vắt cho 8 người. Khi đêm đến Yasuda và ba tiểu đội trưởng của anh bò lên phòng tuyến sống đất. Nửa đường xuống triền dốc bên kia một nhóm lính Mỹ đang ăn tối ngoài trời như thể đang dự buổi dã ngoại. Trung úy đề nghị phái hai người đi lục lọi thức ăn. Cái đói ngốn ngấu họ hơn cả nỗi sợ hãi, và ba tiểu đội trưởng gật đầu tán thành.

                Hai binh nhì được phái một sứ mạng chết người và suốt đêm cả đại đội ngóng đợi đầy lo âu. Có lúc họ nghe tiếng nổ của một quả lựu đạn và tiếng tạch tạch của súng máy; họ tin chắc đồng đội mình đã hi sinh. Nhưng đến bình minh hai người trở lại, nhảy vào trong hố của Yasuda với một áo mưa chứa đầy đồ chiến lợi phẩm, phấn khích như các cậu học trò tinh nghịch. Họ đã phục kích tại một ụ súng máy Mỹ trong bóng đêm và vơ bét mọi thứ có thể tìm thấy. Đồ cướp bóc của họ hóa ra là một vài lon thuốc lá và những hộp đạn dược không sử dụng được cho vũ khí của họ.

                Aoki đốt một điếu thuốc Mỹ. “A, tôi ngỡ đã quên bẵng mùi thuốc lá,” anh nói sau khí hít một hơi dài. “Mình thấy chóng mặt.”

                Hôm đó trong lúc nới rộng hố, Kamiko bắt gặp một con cắc ké. Lột da, nó có màu hồng nhạt, khiến anh nhớ món megochi, món cá anh thường đánh bắt ở biển gần nhà. Aoki chặt nó bằng dao găm, nấu sôi trong hango của mình cho đến khi nó trắng ra. Kamiko nếm thử và thấy như vị giữa cá và thịt gà. Anh xơi xong lòng phấn khởi như vừa được tiêm một mũi adrenalin.

                Lúc trưa Yasuda ra lệnh cho tiểu đội Kamiko đi lên mô đất chiến lược cách đó 100 ya về bên phải và thay thế tiểu đội đang cố thủ nó. Mô đất khống chế khu vực và liên tục bị bắn phá. Việc mất mô đất đó sẽ gây nguy cơ cho cứ điểm của trung đoàn. Suốt buổi chiều Tiểu đội 3 không cho địch tiếp cận mình, nhưng sáng hôm sau quân Mỹ dấn tới đủ gần để ném lựu đạn. Ở đỉnh cao của cuộc tấn công, bổng loạt pháo lựu đạn im tiếng một cách khó hiểu.

                Không khí yên ắng đến nỗi Kamiko có thể nghe được tiếng chim hót – rồi một âm thanh kỳ lạ nghe như tiếng lửa hàn xì. Một đám khói đen dày đặc cuồn cuộn trước mặt anh. “Súng phóng lửa!” anh hét lên. Anh bắt đầu ném lựu đạn xa và nhanh như có thể. Cuối cùng ngọn lửa tắt ngấm. Anh ngã người kiệt sức, không biết người Mỹ rút lui ra sao. Một quả đạn pháo rơi xuống đất cách anh vài ya, cắm sâu xuống đất nhưng không nổ. Kamiko ngỡ đó là một viên pháo lép cho đến khi mặt đất trước mặt anh bắn lên như một ngọn núi lửa. Đó là một cảnh tượng khủng khiếp anh từng trải nghiệm, nó chấn động cơ thể như trận động đất 1923. Anh quay sang Aoki, mặt mày cũng xanh mét. “Họ đang sử dụng vũ khí mới nào đó.” (Thực sự chỉ là ngòi nổ cháy chậm.) Mặt đất lại ầm ầm hết lần này đến lần khác, bắn lên hàng tấn cát đá. Ở bên trái, nơi hai người lính đang núp dưới hố cá nhân, chỉ còn lại mặt đất bằng phẳng với ba ống chân ló ra. Kamiko cảm thấy cánh tay bị châm chích, rồi bàn chân. Chúng chỉ là những vết thương nhẹ, vết thương duy nhất mà anh chịu đựng trong suốt 7 ngày tròn trong trận đánh tự sát. Trước sự phản đối của mình, anh bị điều về tuyến sau.

                Trung đoàn của anh, còn không đến 400 người, đã tan rã trước sức ép không thuyên giảm của quân Mỹ. Vào ngày 23/11, các GI của Trung đoàn Bộ binh 128 thuộc Sư đoàn 32 chọc thủng chướng ngại vật núi non và tiến vào Limon. Trận đánh Sống đất Hiểm nghèo đã qua. Chỉ còn lại những ổ kháng cự lẻ tẻ. Hai ngày sau Tướng Kataoka ra lệnh cho tàn binh của Sư đoàn Ngọc thạch tập họp lại phía dưới Limon gần Xa lộ 2.

                Kamiko và Aomi khập khiễng về hướng nam dọc theo xa lộ. Họ đến một khe núi bốc mùi tử khí. Hàng ngàn xác người phân hủy, sình trướng nằm rải rác khắp trên đường và trong cả hai con mương. Mới thoạt nhìn trông như họ bị rắn độc tấn công – chúng là những ống thông của mặt nạ chống khí độc. Đây chính là “Thung lũng Tử thần.” Tại đây, với độ chính xác chết người, pháo binh Mỹ đã chụp xuống binh lính Nhật đang di chuyển đến mặt trận.

                Họ ra khỏi con đường vào trong rừng phía đông xa lộ. Tại mỗi dòng suối họ đều bắt gặp những nhóm thương binh nằm như chết, ý chí muốn sinh tồn đã bỏ rơi họ. Kamiko và Aoki dấn bước nhưng bị ám ảnh bởi ý nghĩ muốn tự sát. Họ gặp bảy kẻ lạc loài khác, do Trung sĩ Hirano dẫn đầu, và biết rằng quân Mỹ đã thọc một mũi  bên dưới Sống đất Hiểm nghèo gần như vào Xa lộ 2. Đáng lẽ họ phải chiến đấu qua phòng tuyến địch để bắt tay với sư đoàn mình. Đói khát buộc họ phải đột kích vào vị trí quân Mỹ đầu tiên họ gặp được. Họ thoát đi, tay cắp các khẩu phần GI, và bị các loạt đạn súng trường săn đuổi. Chỉ một chút thức ăn tạo nên khác biệt biết bao! Kamiko nghĩ khi nuốt xong một thỏi xô cô la. Họ có thể phớt lờ thương tích của mình nhưng thiếu thức ăn đã làm xói mòn tinh thần của họ. Nếu chúng tôi được ăn nhiều như lính Mỹ, chúng tôi sẽ xông lên sống đất và chiến đấu, anh trầm ngâm. Thắng lợi trong một trận đánh đơn giản chỉ là một tình huống tiếp tế. Làm sao Nhật Bản có thể đánh thắng một kẻ thù hùng mạnh và giàu có?

                Họ tìm được một dù tiếp tế Mỹ và gần như bị một toán binh lính da đen Mỹ đang khiêng vác thùng hàng phát hiện. Khi Kamiko nâng súng trường lên, Hirano ngăn lại, hất đầu ra dấu. Một toán khác đang tiến đến.

                “Tụi nó sao đen quá!” Kamiko thì thào; anh chưa hề gặp một người Mỹ da màu trước đây.

                “Tất cả bọn mình đều là con người, nhưng tôi thắc mắc sao họ lại khác thế.”

                “Tôi không biết họ có suy nghĩ như bọn Mỹ không?”

                “Họ cũng là người Mỹ mà,” Hirano nói.

                Họ tìm đường đi qua một ngọn núi, buộc mình đi suốt đêm dưới cơn mưa lạnh; đến sáng họ tiến gần Xa lộ 2, ngay phía dưới phòng tuyến địch. Kamiko cho dừng nhóm người. Anh bảo là họ phải đi xuyên qua địch; họ có thức ăn và quân nhân Nhật không thể đánh thua trong một trận cận chiến. “Nếu các cậu xui xẻo bị bắn, hãy tự sát như một người đàn ông.”

                Họ bắt đầu đi xuống về hướng xa lộ.

91011

 

24 Trận Thảm Bại

1.

                Sức kháng cự có tổ chức trên Leyte đang đến điểm sụp đổ nhưng Yamashita ở Manila chỉ thị cho Tướng Sosaku Suzuki tập trung sức mạnh giáng trả còn lại cho trận tấn công tuyệt vọng (Chiến dịch WA) vào các sân bay Mỹ. Những căn cứ mới thành lập gần đây là mối đe dọa cho toàn bộ Phi Luật Tân cũng như con đường tiếp tế giữa đất nhà Nhật và miền nam – Java, Mã Lai, Sumatra và Borneo.

                Có ba lực lượng chủ yếu trên đảo. Sư đoàn Ngọc thạch đã mất hơn ba phần tư quân số và nhiều nhất họ có thể làm là cầm chân sức tiến công của địch xuống Xa lộ 2. Sư đoàn 16 của Makino, sau khi bị đẩy lùi qua bình nguyên ở bờ biển, bị phá vỡ từng mảnh. Một số đơn vị cố thủ trong vùng núi tây Dagami, số còn lại phân tán sâu trong nội địa chỉ lo tìm kiếm lương thực; họ đã lai lắt sống nhờ sâu bọ sống sít, cóc, nhái, ốc, cắc kè, rết, rễ cây, cỏ – và cả thắt lưng thấm mồ hôi của mình.

                Lực lượng thứ ba, Sư đoàn 26, sẽ phải là mũi dùi chủ lực trong Chiến dịch WA. Sư đoàn, trừ một tiểu đoàn được tách ra để bảo vệ Ormoc, đang vượt qua vùng núi phía dưới Limon trong một cuộc tấn công tổng lực về phía Vịnh Leyte. Suzuki ra lệnh họ tiếp tục di chuyển theo hướng đông nam, và cùng với tàn quân của sư đoàn 16 và lính dù nhảy xuống từ Luzon, tấn công ba sân bay gần Burauen, một ngôi làng chiến lược cách Dulag 10 dặm về phía tây, vào bình minh ngày 6/12.

                Kế hoạch được thai nghén vội vàng đã hỏng ngay từ đầu. Trước tiên những binh lính của Sư đoàn 26 thấy khó mà theo đúng thời khóa do Manila ấn định. Suzuki xin hoãn lại hai ngày, nhưng bị từ chối. Sau đó chính chiến dịch bị chậm trễ vì liên lạc bị gián đoạn.

                Vào ngày 3/12 các nhà khí tượng học dự báo một thời tiết khắc nghiệt ngoài mặt trận nên Suzuki cho lệnh hoãn cuộc tấn công một ngày. Nhưng lệnh không hề đến được những binh lính còn sống sót của Sư đoàn 16. Họ vẫn tiến xuống sân bay phía trên Burauen một dặm như dự trù, ngay sau hừng đông vào ngày 6/12. Giờ quân số họ chỉ là 300, lực lượng ít ỏi này còn giảm hơn nữa do đào ngũ. Họ gặp một nhóm công binh Mỹ đang ngủ, cắm trại giữa trời, và giết họ bằng lưỡi lê. Các kỹ sư, phần nhiều chưa hề bắn vào kẻ thù, bỏ chạy chỉ trừ một đầu bếp ra sức giết được 5 lính Nhật khi họ cướp thức ăn trong nhà bếp. Các người đột kích chiếm giữ một phần sân bay trong vài giờ, nhưng không có yểm trợ họ bị đẩy lùi trở vào rừng ở phía bắc. Tại đó họ đào công sự, chửi thề bọn lính nhảy dù không đúng hẹn.

                700 lính nhảy dù này – đến từ Trung đoàn Dù 3 do Trung tá Tsunehiro Shirai chỉ huy – vẫn còn ở Luzon, chuẩn bị đáp các máy bay vận tải hai động cơ. Đợt đầu tiên gồm 26 máy bay, với 365 lính dù, bắt đầu cất cánh giữa chiều. Họ tập họp lại và hướng về nam, được chiến đấu cơ hộ tống. Họ tiếp tục bay về phía tây của Leyte để tránh bị phát giác, trước khi bay vòng về hướng nam của đảo và bắt đầu bay về hướng Vịnh Leyte. Mặt trời đang lặn khi họ quẹo gắt về hướng tây ngay bên dưới Dulag và theo Sông Marabang vào nội địa đến Burauen.

                Họ đụng độ một hỏa lực phòng không ác liệt, và bốn chiếc bị phá hủy. Những chiếc khác hạ thấp xuống 750 bộ. Lúc 6:40 lính dù nhảy ra khỏi phi cơ. Họ được dự tính là tập trung tại sân bay phía bắc, nhưng vì trời tối, chỉ có Trung tá Shirai và 60 người khác là đến được mục tiêu. Bộ phận chủ lực đặt chân đến San Pablo, đường băng cách Burauen 1 dặm rưỡi về hướng đông. Họ xung phong, hét lên một cách điên cuồng bằng tiếng Anh, “Chào, súng máy tụi bây đâu?” và “Đầu hàng đi! Kháng cự vô ích!” Choáng váng, binh Mỹ chỉ biết đứng nhìn quân Nhật đốt cháy các máy bay đang đậu và phóng hỏa kho xăng và đạn dược.

                Ở sân bay phía bắc, lực lượng của Shirai quá ít nên không mấy hiệu quả. Họ nhập bọn với đám bộ binh của Sư đoàn 16 còn ẩn núp trong rừng và đợi đợt tấn công thứ hai của các lính dù. Nhưng không có đợt tấn công thứ hai, khí hậu xấu lại hành hạ Leyte lần nữa. Cũng không có yểm trợ nào từ Sư đoàn 26. Chỉ có một tiểu đoàn ở trong tầm đánh phá Burauen, và những binh sĩ kiệt quệ này bị chặn lại và đẩy lùi bởi một tiểu đoàn của Sư đoàn Không vận 11 của Hoa Kỳ.

                Tuy nhiên, các lính dù ở San Pablo đã phát hiện ra lỗi lầm của mình, và sau khi tàn phá sân bay đó, tiến về hướng tây bắc để nhập bọn với Shirai lúc hừng sáng. Giờ thì ông đã có trong tay một lực lượng đáng kể, gần 500 người. Vào giữa sáng ông đã chiếm được toàn bộ đường băng, và trong ba ngày những binh lính ngoan cường của ông đã cố thủ chống lại bốn tiểu đoàn Mỹ. Cuối cùng chỉ bị áp đảo về quân số, một nhúm người sống sót tẩu thoát vào vùng đồi.

                Trong khi Shirai tiến hành cuộc tấn công lúc trời sáng vào đường băng ở Burauen, một hạm đội tàu khu trục – vận tải chở đầy toàn bộ một sư đoàn Mỹ, Sư đoàn 77, bất ngờ xuất hiện ở Vịnh Ormoc. Canh bạc WA không chỉ thất bại mà còn đẩy binh lính tinh nhuệ nhất của Suzuki, Sư đoàn 26, đi chệch hướng ra khỏi khu vực giờ đang trở thành mục tiêu của mũi tấn công tiếp theo của MacArthur.

                Khoảng 6:40 một chục tàu khu trục Mỹ bắt đầu pháo kích các bãi biển 4 dặm bên dưới Ormoc. Xuồng đổ bộ bò ra khỏi các tàu chở quân, và khoảng sau 7 giờ đợt binh sĩ đầu tiên đổ bộ mà không gặp sự kháng cự nào. Đó là ngày của số 7 – ở phía nam Sư đoàn 7 đã băng qua eo đảo tiến qua con đường núi được xem là không thể qua được và tiến đến bờ biển đi về hướng Ormoc. Bộ binh này chỉ bị chống trả bởi một tiểu đoàn đơn độc tách ra từ Sư đoàn 26 để bảo vệ thành phố.

                Suzuki đã không dựng chướng ngại vật nào trên bãi biển – ông cảm thấy bờ biển phía tây được bảo vệ bởi lực lượng hải quân Nhật ở Cebu ngang qua Biển Camotes nhỏ hẹp – và bây giờ bị bao vây. Người Nhật không thể làm gì nhiều để đương đầu với tình thế. Suzuki chỉ thị cho Sư đoàn 26, và tàn binh của Sư đoàn 16, quay đằng sau và nhập vào lực lượng của ông ở Ormoc. Yamashita phái đoàn vận tải đã lên kế hoạch đi Leyte và thêm vào đó ra lệnh cho 500 lính dù  của Trung đoàn Dù 4 nhảy xuống một sân bay phía trên Ormoc 8 dặm gần Xa lộ 2. Nhưng họ chỉ đến nơi lúc hừng sáng ngày 8/12 và được bỏ xuống một cánh rừng cách mục tiêu 5 dặm về phía bắc.

                Hạ sĩ Kiyoshi Kamiko, mà nhóm của ông vừa mới tìm đường xuyên qua phòng tuyến để đến Xa lộ 2, gặp gỡ nửa tá lính dù này, trẻ trung, vũ trang đầy đủ và hăng hái chiến đấu. Kamiko cảnh báo với họ là họ sẽ bị áp đảo quân số 10 đến 1, nhưng một lính trẻ kêu lên, “Mục đích của tôi là giết 10 tên trước khi chết!” và rồi đỏ mặt.

                Nét hồn nhiên của anh làm Kamiko ái ngại. Bộ Tư lệnh  Hoàng gia có quyền gì mà đưa những đứa trẻ như thế đến một sứ mạng tự sát? Tất cả những nỗi thất vọng và ngờ vực trong vài tuần qua đã kết tinh thành một quyết định nghe như là phản bội khi ở trên Đồi Yahiro: anh sẽ trốn thoát đến một hòn đảo khác. Sao lại phải chết một cách vô ích? Anh cho phép mình nghĩ về Nhật Bản, về những ngọn đồi và dòng sông xinh đẹp. Anh sẽ tìm cách đi đến bờ biển phía tây với một ít bạn đồng hành tin cậy và lấy cắp một con thuyền của dân bản địa. Có lẽ họ có thể trốn thoát đến Borneo. Một loạt sấm rền từ hướng Oremoc vọng lại. Nghe như tiếng pháo của địch. Làm sao mà người Mỹ xuống đây nhanh đến vậy?

                               Sư đoàn 77 của Thiếu tướng Andrew D. Bruce đang tiến mạnh lên bờ biển bắc về hướng Ormoc chống lại một mớ hỗ lốn các đơn vị dịch vụ trang bị nghèo nàn do sĩ quan vận tải, Đại tá Mitsui, chỉ huy. Lực lượng của ông cố thủ trên một vùng đất cao một vài dặm bên dưới thành phố và ông hi vọng mình có thể cầm chân đến khi Sư đoàn 26 trở lại. Lực lượng tiếp viện khác cũng trên đường từ biển vào, và vào ngày 9/12 một tiểu đoàn của Sư đoàn 30 đổ bộ lên Palompon, một hải cảng trên bờ tây của bán đảo nhỏ tạo thành Vịnh Ormoc. Nó chỉ cách Ormoc 15 dặm đường chim bay, nhưng là 35 dặm theo con đường núi quanh co, và binh sĩ của Bruce đã vào vùng ngoại vi của thành phố.

                Sáng hôm sau các GI chọc thủng các phòng tuyến của Đại tá Mitsui tiến vào Ormoc, một khối lượng gạch vụn ngập ngụa và các tòa nhà bốc cháy. Một màn khói đen che phủ khu vực.

                Vẫn còn hai đoàn vận tải Nhật lên đường đến Vịnh Ormoc. Một chở 3,000 quân của Sư đoàn 8 và 900 tấn đạn dược và đồ tiếp tế. Khi 5 tàu vận tải, 3 khu trục và 2 tàu săn tàu ngầm, được khoảng 30 chiến đấu cơ hộ tống, tiến gần đến bờ biển phía tây của Leyte vào sáng hôm sau, họ bị các chiếc Corsair tấn công và đánh chìm 3 tàu vận tải. Những tàu còn lại ra sức vớt những người sống sót khi họ quay về hướng Palompon, nhưng 700 người bị chết chìm. Trước khi các tàu tẩu thoát đến được hải cảng, một tàu vận tải khác bị đánh chìm bởi máy bay Lục quân và Thủy quân.

                Đoàn vận tải cuối cùng – 2 tàu khu trục và 2 tàu vận tải – chở 400 người dưới quyền chỉ huy của Thiếu tá Ito, cũng như 9 xe tăng lội nước và 20 súng cối. Nó đã lọt qua được sự phát hiện của địch và còn nguyên vẹn khi tiến gần đến Ormoc vài giờ sau nửa đêm. Tại điểm này nó bị tàu khu trục Coghlan phát hiện. Coghlan khai hỏa và đánh chìm một tàu khu trục. Tàu vận tải tiếp tục đi; một chiếc bỏ neo gần thành phố bị chiếm đóng và ra sức đổ quân xuống. Chiếc xuồng đầu tiên gần như bị đánh chìm bởi đạn pháo từ bờ biển. “Đừng bắn!” người Nhật la lên, không biết là thành phố đã rơi vào tay địch. 

                Tàu vận tải khác may mắn chạy thoát được qua bờ kia của vịnh, tại đó nó đổ quân và đồ tiếp tế mà Suzuki sẽ nhận được. Nếu xét gần 80 phần trăm tất cả tàu phái đến Leyte đều bị đánh chìm, thật đáng nễ khi có đến 45,000 binh lính lên bờ biển được an toàn. Nhưng hiệu quả của họ giảm xuống đáng kể đơn giản là vì chỉ khoảng 10,000 tấn hàng tiếp tế được cứu vớt.               

 

2.

                Mặc dù Leyte chưa mất và Luzon đang được củng cố cho trận đánh quyết định, bộ Tư lệnh Hoàng gia ra lệnh xúc tiến việc di tản các tù binh Đồng minh ở Phi Luật Tân về Nhật Bản. Ở đó họ có thể được sử dụng như các lao công và, có thể, con tin.

                Từ lâu người Nhật đã công khai lên tiếng chỉ trích cách đối xử tù binh của phe Đồng minh trong khi ca ngợi cách đối xử của mình. Chỉ một ít tuần sau khi ba phi công của Doolittle  bị hành hình – họ đã bị tra tấn và sau đó được xét xử chiếu lệ – báo Nippon Times lên án

người Anh đối xử vô nhân đạo với các tù binh Đức.

. . . Không cần phải nói, Chính quyền Nhật, thúc đẩy bởi lòng nhân đạo, đã, cho đến bây giờ, tôn trọng các nguyên tắc ghi trong Luật Quốc tế liên quan đến việc tiến hành chiến tranh và đã làm mọi thứ trong quyền lực của mình liên quan đến việc đối xử nhiều tù binh Anh trong tay họ.

                Người Mỹ được mô tả là “tận hưởng cuộc sống tại những trại tù binh khác nhau.” Trên Luzon, tại Cabanatuan, vài người sống sót trong Hành trình Tử thần Bataan giấu những sổ tay bí mật mà việc phát hiện có thể làm họ bị hành hình lập tức. Đại tá James Gillespie, sĩ quan quân y, mô tả một đạo hàng binh mới bước vào trại:

                 . . . Nhích từng bước dọc theo con đường là một đội hình rách rưới những hình thể bẩn thỉu,  xốc xếch, không cạo râu, nửa trần truồng, xanh xao, phồng dộp, dật dờ. Họ lảo đảo, vấp váp, một số lê bước, số khác không giữ được thăng bằng cũng như không đủ sức khỏe cứ nằm xuống để được các đồng đội thúc giục, nâng đỡ mà chính những người này nhiều khi chỉ khá hơn những người mình phụ giúp một chút. Chân cẳng họ sưng gấp đôi một cách kỳ cục. Gương mặt họ trơ lỳ không biểu lộ cảm xúc gì. Già trước tuổi nhiều không kể xiết. Dẫm chân trần trên đường đá sỏi. Những túi vải tơi tả biến thành khố rách. Một số người hoàn toàn trần truồng. Những tròng mắt đỏ ngàu và đôi môi nứt nẻ. Vấy bẩn chất bài tiết từ ruột già của họ. Như thế họ đi . . . đến “cuối con đường,” những người lính mạnh khỏe, trẻ trung và linh lợi của Bộ binh thứ 31 – Quân đoàn Không quân và A.A. Thật là một cảnh tượng đau buồn nhất và mong mình sẽ không nhìn thấy lần nào nữa.

                Những tù binh bị buộc phải ăn thịt mèo, thịt chó, thịt chuột nhắc và thức ăn dư để sống cầm cự; và giờ đây, họ đã mất trung bình 55 cân. Trong năm đầu ở Cabanatuan, 2,644 trong số 6,500 tù binh đã chết vì sốt rét, tiêu chảy, bạch hầu và những bệnh khác. Những cái chết của họ, theo Bác sĩ Samuel M. Bloom, một đại úy quân y, là “trực tiếp do sự bỏ bê của người Nhật, kết quả của một chính sách có chủ ý là cho họ thiếu ăn và không cung cấp thuốc men.”

                Một nhật ký khác, do Thiếu tá Roy L. Bodine, một nha sĩ và cựu binh Bataan viết, ghi lại lén lút cái ngày trước khi MacArthur đổ bộ lên Leyte. Đó là một ngày ông sẽ không bao giờ quên; nhóm của ông được chuyển đến Manila bằng xe tải đến Nhà tù Bilibid, tại đó họ biết là mình sẽ được sắp xếp để chở về Nhật. Họ sợ cách đối xử mà mình sẽ nhận được trên đất của kẻ thù, nhưng tinh thần họ dâng cao khi nghe về những cuộc dội bom ở khu vực Manila và tin tức đã mòn mõi đợi chờ là MacArthur đã đổ bộ. Vào ngày 28/10 Bác sĩ Bodine viết:        

                Điều đó cộng thêm việc oanh tạc cho chúng tôi hi vọng là bọn Nhật sẽ không thể mang chúng tôi ra khỏi đây được.

                Mỗi ngày họ loan tin là chúng tôi sẽ ra đi trong 2 hay 3 ngày, nhưng lại hoãn. Chúng tôi hi vọng và liên tục cầu nguyện là họ không thể làm điều ấy.

                Hi vọng của Bodine không hề được hiện thực. Vào ngày 12/12, tất cả bệnh nhân được khám bệnh sơ sài. Thức ăn được cải thiện, và xà phòng cùng giấy vệ sinh được phân phát – những dấu hiệu chắc chắn là họ sẽ được chở đi. “Nếu MacArthur tiến sát đến chừng này và để chúng tôi đi, thì thật là điên rồ,” Bodine viết.

                Sáng hôm sau ông cùng với 1,618 tù binh khác đi xuống Đại lộ Quezon và băng qua thành phố bị vây kín. Những người Phi đứng dọc hai bên đường nhìn đám rước buồn thảm, nhiều người lén lút ra dấu chữ V. Công viên Luneta bị giờ chen chúc những doanh trại được xây dựng vội vàng nhưng khu Gran Luna, nơi Bodine đã sống thời còn trẻ (cha ông đã từng là một nha sĩ trong quân đội), không có gì thay đổi. Khi họ tiến gần đến khu vực bến tàu ông trông thấy hiệu quả của những trận oanh tạc gần đây của Mỹ, và phía ngoài vịnh có ít nhất 40 tàu.

                Tại Cầu tàu 7 các tù binh lần lượt đi xuống một con tàu khách sang trọng 15,000 tấn được đóng trước chiến tranh, tàu Oryoku-maru.*

  • Bảy tuần trước một tàu hàng 5,000 tấn chở 1,805 tù binh từ Phi Luật Tân đã bị đánh ngư lôi trong Biển Nam Trung Hoa (chắc chắn bởi tàu ngầm Mỹ Shark II). Năm người Mỹ sống sót do một chuỗi những sự kiện trùng hợp: sau khi đeo bám vào một vật trôi giạt suốt đêm, họ tìm được một xuồng cứu sinh chứa một thùng nước ngọt; trong khi sửa chữa bánh lái, họ phát hiện một ngăn nhỏ chứa một hộp bánh ngọt; một thùng trôi bên cạnh hóa ra chứa ròng rọc và dây kéo thích hợp với con thuyền; cuối cùng, một cây cột ai đó vớt được nhiều giờ trước biến thành cột buồm. Đúng lúc họ chuẩn bị kéo buồm lên một tàu khu trục Nhật tiến đến trong vòng 100 ya nhưng vì một lý do nào đó đi qua mà không bắn phát súng nào. Thậm chí như thế, họ chắc chắn sẽ không thể đến được Trung Hoa an toàn nếu vận may không tiếp tục ưu đãi họ. Sau hai ngày giương buồm họ được một thuyền đánh cá Trung Hoa vớt lên và mang họ đến một khu vực trên bờ biển do Tưởng Giới Thạch kiểm soát.

        

                Nhóm Bodine – 300 nhân viên y tế và dân sự thuộc Lục quân – chen chúc dưới tàu, ba khoang tàu bên dưới. Tám xô cơm và các mâm cá được đem xuống sau khi trời tối. Tàu khách bắt đầu di chuyển. Nó chạy quanh Bataan vào Vịnh Subic và tiếp tục theo lộ trình về phía bắc. Thình lình, đánh động trước một mối nguy hiểm phía trước, nó quay lại và neo đậu ở vùng nước được bảo vệ dưới Olongapo. Các tù binh ngồi co ro trong bóng tối, đầu óc họ quay cuồng. Thêm một vài năm nữa ở Nhật, Bodine nghĩ, hoặc một  nấm mồ dưới biển do tàu ngầm và máy bay.

                Điều kiện của 700 người chen chúc trong khoang trước đã không thể chịu được. Lỗ thông hơi duy nhất là cửa hầm. Một vài cái thùng được ném xuống cho họ để chứa chất bài tiết. Chúng mau chóng đầy nhóc và khoang nặng mùi nước tiểu và phân vương vải khắp sàn tàu. Từ bóng tối có tiếng thét, “Ôi, trời ơi!” Một người tiểu vào trong bi đông của mình và uống nước tiểu. Một tiếng ồn không phải của con người át tiếng thở dài và rên rỉ, mà Thiếu tá van Oosten nghe như tiếng gộp gộp của gà tây. Thình lình âm thanh được lặp lại rất gần bên; người đàn ông nằm sát bên ông bắt đầu lảm nhảm. Trong cột ánh sáng sao đêm từ cửa hầm hắt xuống, Van Oosten có thể nhìn thấy người sát bên mình đang bất tỉnh. Y phù phù chiếc lưỡi trắng nhợt lúc lắc giữa hai cặp môi xệ xuống. Y sụp người xuống. Y đã chết.

                Trong khoang sau 600 người khác cũng đang trải nghiệm một địa ngục tương tự. Họ được cho ăn một bữa thiếu thốn với cơm và cá nhưng không có nước. Phần đông họ đều ực hết nước trong bi đông một cách thiếu suy nghĩ trong khi đi qua đường phố dưới cái nóng bưng bức. Họ bắt đầu thi nhau quạt không khí với đủ thứ đồ vật như không khá gì hơn. Họ cởi quần áo vì nóng như trong lò nướng. Trong bóng tối họ kêu gào xin nước. Nhưng các tên lính canh phớt lờ; các đồng đội của họ cũng đến Phi Luật Tân trong cùng những khoang tàu, nếu không nói là cũng chật chội bằng. Những gắng sức của tù binh làm dưỡng khí trong không khí cạn kiệt dần. Một người, ngạt thở, ngã vật xuống lặng lẽ với sự chịu đựng khó tin, trong khi những người khác thở hồng hộc, giãy giụa điên cuồng trước khi ngã đổ xuống. Một tá người, mất trí vì khát, hóa điên; họ cắt cổ và cổ tay của bạn đồng hành để hút máu. Cơn hoảng loạn biến khoang tàu thành một vụ hỗn loạn. Đối với Thiếu tá Virgil McCollum, một cựu binh khác của Bataan, đó là “trải nghiệm khủng khiếp nhất có thể tưởng tượng được và chắc chắn không từng xảy ra trong biên niên sử của nền văn minh.” Khi ánh sáng lờ mờ của bình minh lọt qua cửa hầm, hàng chục thân thể nằm bất động – chết ngạt hoặc bị giết chết.

                Người ta nghe những tiếng la hét phấn khích từ trên vọng xuống. Có tiếng sủa của súng phòng không, và những mảnh kính vỡ rơi xuống qua cửa hầm. Bom dội quanh tàu và đạn súng máy đập lạch cạch điếc tai khắp boong tàu phía trên. Trong khoang phía sau, các tù nhân giành giựt lên thang, kinh hoàng vì sợ bị kẹt bên dưới, nhưng lính canh đã bắn ngay giữa họ, đẩy lùi họ trở xuống. Các oanh tạc cơ cứ nửa giờ lại trở lại đánh phá.

                Giữa tàu, Thiếu tá Bodine và hai người bạn, Đại úy John Hudgins và Thiếu tá Bob Nelson, chen vào trong phòng kho nhỏ để khỏi dính đạn lạc đang rải như mưa qua cửa hầm. Dù ngạt thở nhưng cũng trú ẩn được – miễn là bom và ngư lôi không đánh trúng trực tiếp. Bodine là một người Cơ đốc, và với tử thần đang lảng vảng ông không ngớt cầu nguyện. Ông lẩm nhẩm tất cả những bài kinh cầu mình thuộc, và trên tiếng đạn pháo điếc tai ông nghe Hudgins nói hết lần này đến lần khác, “Jesus ơi cứu chúng con.”

                Những người trong khoang phía trước đối diện với một đêm kinh hoàng khác. Có những tiếng hét “Im lặng!” và “Bình tĩnh!” nhưng khi nhiệt độ lên đến 110 F, những vụ nổi loạn bắt đầu bùng phát. Đó là “thời điểm tồi tệ nhất và nhẫn tâm nhất” trong cuộc đời Đại tá Beecher. Mọi người chung quanh đều nổi điên. Họ va chạm nhau trong bóng tối, trượt ngã trong bãi phân, những người bệnh nặng bị giẫm đạp; những cuộc ấu đã điên loạn, chết người bùng phát. Những người ngã khuỵu xuống gối như các con thú liếm láp nước thải chảy trong các ống thoát lộ thiên.

                Ở phía sau, Thiếu tá McCollum cố rướn người đến vách tàu và liếm lớp thép vỏ tàu nơi đó một ít hơi nước đọng lại. Trận hỗn loạn thậm chí tồi tệ hơn đêm đầu tiên. “Nhiều người mất cả lý trí,” một thiếu tá sau đó viết trong báo cáo chính thức của mình, “và bò quanh quẩn trong bóng tối như bưng trang bị dao, muốn giết người để uống máu, hoặc cầm những bi đông đầy nước tiểu và vung vẩy chúng trong bóng tối. Khoang tàu chen cứng và mọi người như khóa chặt vào nhau đến nỗi muốn di chuyển phải qua đầu hoặc thân thể người khác.”

                Khoảng 4 giờ sáng một thông dịch viên thông báo với đám tù binh khoang giữa là họ chuẩn bị lên bờ vào hừng sáng và có thể mang theo quần, áo, bi đông và vật dụng cá nhân – nếu họ muốn giày họ sẽ phải mang chúng. Tù binh nhồi nhét nhiều như có thể trong túi áo, và trong bóng đêm mò mẫm trong túi dết nhỏ tìm những sở hữu quí giá nhất của họ. Bodine                                     

quấn tràng hạt của vợ mình quanh cổ, và vắt đôi giày qua vai. Ở phút cuối ông nhớ đến  cuốn sổ tay, bèn đút nó sâu trong túi áo. Điều ông tiếc nuối nhất phải bỏ lại phía sau là dụng cụ nha khoa của ông. Ông đã mang nó suốt trận đánh Bataan, trên Hành trình Tử thần và trong các trại tù binh.

                Ngay sau bình minh 25 tù binh đầu tiên, trong đó có 5 thương binh, bước lên thang. Người thông dich viên trở lại sau một ít phút gọi tên nhóm 25 người khác. Khi họ leo lên thang người thông dịch viên vẩy tay lia lịa kêu họ trở xuống: “Máy bay! Máy bay!”

                Một quả bom rơi phía sau tàu Oryoku-maru. Vụ nổ bắn những mảnh đạn qua khoang cuối. Phần cấu trúc phía trên đổ ập xuống cửa xuống hầm tàu, ghim chặt những người đang la hét. Lửa quét qua đống đổ nát. Hơn 100 tù binh bị mắc kẹt chết; 150 người đang hấp hối.

                Trong khoang trước, người mạnh nhất trèo lên cầu thang 40 bộ và mở cửa hầm. Gần đó họ bắt gặp những bao đường liền ném xuống dưới vài bao. Van Oosten nuốt ngấu nghiến một nắm đường. Như một phép lạ ông hình như được nạp năng lượng và leo nhanh lên cầu thang, điều mà lúc nảy ông không nghĩ là mình có thể làm được. Trên boong, những người lính Nhật bị giết chết vì bom đạn được liệm trong các bao trấu, chất một hàng dài năm tầng. Van Oosten nhảy tránh sang bên. Nước mát làm ông thêm sức và ông bơi về phía bờ biển. Sau hai ngày co quắp, sự vận động thình lình làm ông xổ ruột.

                Một tên lính hét đến nhóm của Bodine bên dưới, “Tất cả đi về nhà, mau lên!” Bên trên Bodine trông thấy bãi biển cách đó một phần tư dặm – Olongapo. Hàng trăm người, Nhật và Mỹ, đã ở giữa biển, cố gắng bơi đến bờ. Có tiếng la hét những người còn đứng trù trừ trên hàng rào tàu cho hay con tàu đang chìm. Bodine ném một miếng ván xuống biển rồi nhảy theo. Nửa đường, ông quanh nhìn lại. Con tàu khách sang trọng trông như một đống phế liệu. Bốn máy bay Mỹ bay xà xuống. Mọi người đang ngoi ngóp dưới biển vẩy tay điên cuồng, chúng quẩy đuôi và bay vọt lên đi mất.

                1,300 tù binh sống sót được lùa vào một sân quần vợt có hàng rào, tại đó họ túm tụm trên nền xi măng dưới ánh mặt trời.

 

3.

                Sáng đó, ngày 15/12, MacArthur tiến một bước dài về hướng Luzon. Lúc 7:32 hai đội tác chiến trung đoàn đổ bộ mà không gặp kháng cự nào xuống Mindanao, một vài dặm phía dưới Luzon, và vào chiều tối đã dấn sâu 7 dặm vào nội địa.

                Tướng Yamashita không có ý định tiêu hao lực lượng cho việc phòng thủ Mindanao – quân đồn trú chỉ có 1,000 người – ông cũng không dự tính phái thêm tiếp viện nào đến Leyte. Vào 22/12 ông điện quyết định của mình đến bộ chỉ huy của Suzuki tại thành phố Cebu.

                DÀN LẠI BINH LÍNH CỦA NGÀI ĐỂ CẦM CỰ KÉO DÀI TRONG NHỮNG PHẠM VI DO             NGÀI CHỌN. CHỌN NHỮNG VÙNG NHƯ BACALOD TRÊN NEGROS THÍCH HỢP NHIỀU                CHO HOẠT ĐỘNG TỰ LỰC CÁNH SINH. THÔNG ĐIỆP NÀY MIỄN TRỪ CHO NGÀI KHỎI                 SỨ MẠNG ĐƯỢC GIAO PHÓ.

                Thông điệp chỉ đến được Suzuki ba ngày sau, nhưng ông đã ra lệnh cho tàn quân của Quân đoàn 35 tập họp gần Palompon.

                Ngoài Suzuki, cá nhân bực bội nhiều nhất trong việc bỏ rơi Leyte có lẽ là Thủ tướng  Kuniaki Koiso. Vào ngày 8/11 ông đã công khai hạ lệnh cho chính quyền của mình đánh thắng tại Leyte. Trong một bài phát thanh toàn quốc ông so sánh Leyte với Trận Tennozan vào năm 1582, trận đánh quyết định ai sẽ là người cai trị Nhật Bản. Koiso do đó bảo đảm rằng nếu Nhật thắng ở Leyte, Nhật sẽ thắng cuộc chiến. Ông hay tin về quyết định bỏ rơi Leyte tại một thời khắc đặc biệt gây lúng túng – khi ông đang trên đường đến yết kiến Thiên hoàng. Hoàng thượng hỏi ngay lập tức làm sao Thủ tướng giải thích sự thất thủ của Leyte với dân chúng sau khi coi nó như Trận Tennozan. Khúm núm, Koiso lúng búng là minh sẽ khai thác tối đa tình thế, nhưng ông biết rằng chỉ có phép lạ nào đó mới cứu được nội các mình.

                Lệnh của Suzuki tập trung quân vào khu vực Palompon bị ngăn trở bởi một bước đi bất ngờ của lực lượng Tướng Bruce vào sáng ngày Giáng sinh, buộc Suzuki và ban tham mưu thoát chạy lên bờ biển phía tây của Leyte về hướng vùng núi gần San Isidro. Họ di tản khỏi Palompon ngay trước khi một tiểu đoàn tiếp viện của Sư đoàn 77 của Mỹ tiến gần hải cảng từ biển bằng xe lội nước và xuồng đổ bộ. Khu vực bị dội bom bởi pháo 155-mm đặt sâu hơn chục dặm sâu trong nội địa, và một dàn pháo từ xuồng súng cối đi trước cuộc đổ bộ. Lúc 7:20 đợt đầu tiên đến bờ biển không gặp sức kháng cự nào và đã đánh chiếm thị trấn vào buổi trưa. Tướng Bruce điện cho chỉ huy quân đoàn:

                ĐÓNG GÓP MỪNG GIÁNG SINH CỦA SƯ ĐOÀN BỘ BINH 77 ĐẾN CHIẾN DỊCH LEYTE         LÀ CHIẾM ĐƯỢC PALOMPON, HẢI CẢNG CHỦ YẾU CUỐI CÙNG CỦA ĐỊCH. TẤT CẢ              CHÚNG TA ĐỀU BIẾT ƠN ĐẤNG TOÀN NĂNG VÀO SINH NHẬT CỦA CON NGÀI VÀ VÀO                MÙA LỄ HỘI ÁNH SÁNG.    

                Vào buổi chiều MacArthur thông báo chiến dịch Leyte đã hoàn tất “trừ các hoạt động dọn sạch nhỏ bé.” Ông giao giai đoạn cuối cùng cho Quân đoàn 8 để Quân đoàn 6 của Krueger có thể chuẩn bị trận tấn công Luzon.

                Vào đêm Giáng sinh Kiyoshi Kamiko và ba đại đội đến một bãi biển cách bộ chỉ huy tạm thời của Suzuki một vào vài dặm. Khi âm thanh của trận đánh ở Palompon giảm xuống, họ nghe lời tán tụng lạc lõng “Bình an dưới thế, cho người thiện tâm.” Các GI đang chơi các bài Giáng sinh trên những ngọn đồi phía trên.

                Kamiko và các đồng đội đã chiến đấu tìm đường đến bờ biển qua những băng nhóm du kích cướp bóc và qua địa thế gần như không thể qua được, từ bãi cát lún và đầm lầy đến hẻm núi dốc đứng. (Aoki và Trung sĩ Hirano đã bị lạc khỏi nhóm, có lúc đông đến 50 người.) Hơn một lần quyết tâm trốn thoát khỏi đảo của họ lại dao động. Chỉ vài giờ trước, bị lương tâm cắn rứt vì đào ngũ, họ đã bỏ lại một đồng đội bị thường và đi xuống bãi biển về hướng Palompon để giúp phòng vệ thành phố. Họ bị một sĩ quan Nhật đang rút lui chận lại, bắt họ quay lại và ra lệnh họ đi theo đơn vị của y. Khi đến gần rặng dừa nơi đồng đội bị thương của họ, Tokoro, ẩn nấp, Kamiko và nhóm của mình đi chậm lại phía sau, quyết tâm trốn thoát lần nữa.

                Trong bóng đêm họ tìm thấy một con thuyền bản xứ rồi gắn buồm chế tác từ vải lều. Họ chất súng trường, bi đông và dừa, rồi leo lên thuyền.

                “Còn Tokoro mình tính sao?” một người thì thầm hỏi.

                Nakamura, một ngư phủ mà họ trông cậy tài đi biển, cảnh cáo là 5 người là quá nhiều, nhưng Kamoko phản đối bỏ lại bạn bè. Một tiếng nói cắt ngang vụ tranh cãi thì thầm: “Nhóm trưởng, tôi ở lại đây,” Tokoro đang ngồi trên bãi biển cách đó vài ya. “Như thế là tốt nhất cho tôi.”

                “Nhóm trưởng, tôi cũng ở lại.” Nakamura nhảy ra khỏi thuyền. Một người khác nhảy theo.

                Kamiko uể oải cho đuôi thuyền lên bờ và lặng lẽ xuống ngồi với những người khác  bên cạnh Tokoro. Cuối cùng Tokoro nói mình rất tiếc đã gây ra lộn xộn cho cả bọn rồi cà nhắc đi ra chỗ khác.

                “Thuyền quá nhỏ thậm chí cho 4 người chúng ta,” Nakamura lẩm bẩm. “Chúng ta không sao đến được đảo khác trong thuyền này.”

                “Cậu biết điều đó ngay từ đầu mà!” Kamiko la lên. “Cậu nói cậu muốn chết trên đất liền và không muốn chết ở biển! Chết ở đâu chả được. Vấn đề là lựa chọn cách gì để cho ta cơ hội sống sót lớn nhất.”

                Mọi người vẫn ngồi khom khom thành một vòng tròn sát vào nhau trên bãi cát, nhìn chăm chăm vào con thuyền mỏng manh đang vật vờ trên sóng.

                Có tiếng súng nổ. Đó là Tokoro. “Tội nghiệp,” ai đó kêu lên, rồi một người khác, “Cậu ấy làm vậy tốt hơn là chết đuối.”

                Những lời này đã đẩy Kamiko ra khỏi giới hạn. Anh rút một quả lựu đạn từ túi dết của mình. “Hãy theo gương Tokoro!” anh la lên. “Chúng ta không thể sống đến ngày mai. Vì vậy, như cậu nói, hãy chết trên đất liền. Chúng ta đã sống với nhau, chúng ta hãy chết với nhau! Mọi người hãy khom sát đầu vào nào!” Anh kích hoạt lựu đạn. Trong 4 giây, nó sẽ nổ.

                Nakamura lùi lại. “Mình sẽ đi!” anh la lên.

                Kamiko ném lựu đạn ra phía sau ngay trước khi nó nổ. Anh đứng bật dậy. “Ừ, thế thì đi!”

                Con thuyền lướt chầm chậm ra khỏi vinh nhỏ dưới ánh trăng. Nakamura, miễn cưỡng trên bờ biển là thế, mà bây giờ đã là một người hoàn toàn mới khi anh khéo léo cầm lái cho con thuyền hướng về Cebu. Thình lình ánh trăng tắt ngấm và có gì đó lạnh giá đập vào má anh. Mưa. Những đám mây đen xoay tít ghê rợn. Nakamura nhìn lên, rồi nói, “Hãy trở lại bờ.”

                “Chúng ta đang ở biển, Nakamura à, và quyết tâm liều chết,” Kamiko nói. “Vì vậy cứ thẳng tiến.”

                Con thuyền mỏng manh lắc lư quay mòng. Nakamura bám chặt bánh lái, mặt lạnh như đá khi những người khác thi nhau tát nước bằng bi đông của mình. . Một vật thể đen ngòm hiện hình phía trước họ với một tiếng gầm rú – ắt hẳn đó là một chiếc xuồng cao tốc chở bộ chỉ huy Quân đoàn 35 đến Cebu. Họ la lớn và vẩy tay nhưng chiếc xuồng vẫn ầm ầm lướt qua. Đó là một chiếc xuống PT của Mỹ.

                Ngay trước bình minh mưa ngừng rơi và mặt trời dâng lên mặt biển bình lặng. Quanh họ là những hòn đảo đá nhỏ trơ trọi. Về phiá nam, hình dáng mơ hồ của hòn đảo lớn từ từ hiện ra ttong ánh bính minh. Chắc đó là Cebu, đích đến đầu tiên của họ. Nakamura thay đổi lộ trình, và với hướng gió từ sau thổi đến, con thuyền nhỏ lướt qua mặt biển nhanh như một chiếc xe đạp chạy hết tốc độ.

                Kamiko bắt đầu cất tiếng hát bài ca yêu thích của mình, một trong những bài ca anh đã dạy cho lũ học trò mình:

                                “Từ hòn đảo xa xăm mà tên tôi không biết

                                Một trái dừa trôi lạc đến đây.

                                Bạn đã bập bềnh trên sóng nước bao tháng năm rồi

                                Xa cách bờ biển của hòn đảo quê hương?

                                Tôi suy nghĩ về những con sóng xa xôi

                                Và tự hỏi khi nào mình sẽ trở lại mảnh đất quê hương.”              

               

                Tướng Suzuki đã chọn lựa việc tập trung tàn quân của lực lượng mình, hơn 10,000 người, trên một vùng núi lỡm chỡm cao 1,200 bộ nhiều cây cối trên bờ biển phía tây giữa Palompon và San Isidro có tên là Canguipot. Các sườn dốc phía đông và tây của nó đầy đá núi, biến nó thành thành lũy thiên nhiên. Mỗi ngày những binh sĩ lạc loài từ Sư đoàn 1 và Lữ đoàn 68 đến Núi Canguipot trong tình trạng kiệt quệ, nhưng những binh lính còn sống của các sư đoàn 16 và 26 bị ghim xuống gần Xa lộ 2.

                Nhiều binh sĩ này không có dự tính nỗ lực đến vị trí của Suzuki cho dù họ có thể thoát ra được sự bao vây của địch. Như Kamiko, họ không thể tránh cái lô-gíc là chết ở Leyte là vô nghĩa trong những tình thế như thế này. Ở phía bắc vùng núi của Ormoc giữa Xa lộ 2 và bờ biển tây Trung tướng Shimpei Fukue, tự ý mình, đang lên kế hoạch thoát khỏi hòn đảo với Sư đoàn 102 ít ỏi của mình, vốn đã đóng một vai trò vô nghĩa trong trận đánh. Đã có 50 binh sĩ của ông đã trốn thoát bằng thuyền.

                Vào đêm 29/12, Suzuki nhận được thông điệp đầu tiên từ Fukue trong hơn một tuần: Sư đoàn 102 đang tiến về bờ biển, tại đó họ sẽ giương buồm trên những con thuyền nhỏ đến Cebu. Hành động chưa có tiền lệ trong binh nghiệp của Suzuki và phải khó khăn lắm người ta mới khuyên ông không lôi Fukue ra tòa án binh ngay lập tức. Thay vào đó ông ra lệnh Sư đoàn 102 giữ vững vị trí. Chính Fukue phải trình diện ngay lập tức bộ tư lệnh  Lục quân với ban tham mưu của mình.

                Nhưng thậm chí mệnh lệnh trực tiếp này cũng bị phớt lờ. Phúc đáp của Kukue – do tham mưu trưởng của ông, Đại tá Wada, soạn – cũng làm tức tối như quyết định ban đầu muốn đào ngũ. “Chúng tôi đánh giá những nỗ lực của Lục quân nhưng ở thời điểm hiện tại chúng tôi đang bận bịu công việc di tản. Do đó Chỉ huy sư đoàn và tham mưu trưởng không thể trình diện bộ chỉ huy Quân đoàn được.”

                Vào đêm trước Năm Mới, Fukue lại trơ trẻn xin Suzuki bỏ qua cho sự bất tuân lệnh của mình: “Tất cả con thuyền chuẩn bị cho việc rút quân đã bị các phi cơ phá hủy vào đêm 30, do đó việc ra đi của chúng tôi phải đình hoãn. Liệu ngài có thể gởi tàu sắt để hổ trợ việc khởi hành của tư lệnh sư đoàn hay không?” Fukue và ban tham mưu của mình, như Kamiko, xoay sở vượt qua Biển Camotes bằng thuyền. Ở thành phố Cebu vị tướng bị cách chức quyền chỉ huy theo lệnh của Suzuki. Ông chấp nhận chỉ thị của Suzuki ở lại đảo Cebu; không còn nơi nào khác để đi.

                Ở Leyte, Núi Canguipot đang sẵn sàng cho một trận vây hãm lâu dài. Số lượng lớn đồ dự trữ được mua từ các nông trại địa phương và tăng cường bởi dương xỉ, cỏ và rau bina. Muối được tách ra từ nước biển. Kế hoạch của Suzuki đối với Leyte là cầm chân binh lính địch càng nhiều càng tốt, nhưng ông cũng đâm ra ngờ vực liệu hi sinh như thế có ích lợi gì. Thực tế, ông có thể kỳ vọng cố thủ Núi Canguipot bao lâu? Một trận tấn công quyết liệt sẽ tràn ngập nó. Gần như 100 người chết đói mỗi ngày. Điều đó giúp ích gì cho đế chế? Hơn nữa, Yamashita đã từ lâu cho phép ông di tản.

                Đó là một quyết định đau lòng cho một samourai; chỉ trước đây một tuần lễ, ông không bao giờ có thể tưởng tượng mình làm được điều ấy. Sư đoàn Ngọc thạch sẽ là những người đầu tiên lên đường. Vào đêm ngày 12/1/1945, Tướng Kataoka và bộ chỉ huy của ông khởi hành trên ba chuyến, đến Cebu bình yên ngay sau bình minh. Trong tuần lễ sau 743 người – tất cả gì còn sót lại của Sư đoàn Ngọc thạch – đến Cebu với 4 khẩu súng máy nặng, 11 khẩu súng máy nhẹ và ống phóng lựu. Nhưng khi Quân đoàn 8 của Trung tướng Robert Eichellberger khép vòng vây quanh Suzuki, việc tiếp tục di tản gần như không tiến hành được.

                Trừ 16 tuần hoạt động dọn sạch tẻ nhạt, trận đánh đã qua. 70,000 binh lính Nhật đến để bảo vệ Leyte chống lại 250,000 quân Mỹ trang bị vũ khí đầy đủ đã chiến đất oanh liệt như có thể kỳ vọng. Họ làm bị thương 12,000 GI và giết 3,500 người, nhưng chỉ khoảng 5,000 – 1 trong số 13 – còn sống để nhìn thấy nước Nhật. Đó là một trận đánh quyết định – đối với người Mỹ. Họ đã tiêu diệt toàn bộ lục quân và vĩnh viễn làm tê liệt không lực và hạm đội còn lại của Nhật Bản. Đất mẹ giờ đây nằm phơi mình, chỉ trừ hai hòn đảo thành trì – Iwo Jima và Okinawa.                              

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s