Chính sách miền núi của các triều đại phong kiến và hệ quả đối với đời sống xã hội Sơn La

 

Mienbac11

Khổng Đức Thiêm

1 . SƠN LA THỜI LÝ – TRẦN – LÊ

LSQSVNT4-DaiVietthoiTran

Đại Việt thời Trần

Năm 1009 Lý Công Uẩn lên ngôi, lập nên nhà Lý, dựng quốc đô ở Thăng Long để tạo lập một trung tâm chính trị, kinh tế và văn hoá của quốc gia Đại Việt. Ra đời ở khoảng cách về thời gian còn khá gần với thời kỳ đất nước bị các triều đại phong kiến Trung Hoa đô hộ, do đó nguy cơ đất nước dễ bị ngoại xâm phương Bắc đe dọa trở thành mối quan tâm thường trực của nhà Lý. Việc xây dựng mối quan hệ đặc biệt với các khu vực tập trung đông đảo các cộng đồng dân tộc thiểu số ở phía Bắc và Đông Bắc Đại Việt trở thành yêu cầu khẩn thiết, vì vùng biên viễn này có vị trí chiến lược trọng yếu trong các cuộc chiến tranh vệ quốc. Ở những nơi này, các thổ ty có thế lực rất lớn trong đời sống vật chất và tinh thần đối với các bộ tộc của họ. Chính sách Ky mi đã giúp cho mối ràng buộc bằng tình cảm thông qua các cuộc hôn nhân, trong đó các công chúa con gái các vua nhà Lý trở thành công cụ cho sách lược liên minh giữa nhà cầm quyền trung ương với các đại diện thế lực ở địa phương. Phương thức liên minh hôn nhân tỏ ra hữu hiệu khi nhiều thế hệ trong dòng họ Thân trên đất Châu Lang (nay là Bắc Giang) trở thành Phò mã lang như Thân Thừa Quý (con rể Lý Thái Tổ) Thân Thiệu Thái (chồng của công chú Bình Dương), Thân Cảnh Phúc (con trai của Thân Thiệu Thái,  chồng của công chúa Thiên Thành). Không chỉ có họ Thân, vua  Lý Anh Tông còn gả công chúa Thiên Cực cho Lạng Châu mục Hoài Trung hầu vào năm 1167, Khi Dương Cảnh Thông được cử làm Lạng Châu mục, ông cũng trở thành Phò mã lang.

Không chỉ có các con đẻ, một số em gái hoặc con gái nuôi của các vua nhà Lý cũng được tham gia vào các hoạt động chính trị này như trường hợp con gái nuôi của Lý Thánh Tông được gả cho họ Lê ở châu Chân Đặng, Kim Thành công chúa cưới Lê Tông Thuận là châu mục Phong Châu; Khâm Thánh công chúa, em gái vua Lý Nhân Tông cưới Hà Di Khánh, Hoa Dương công chúa cưới Hà Công Phụ đều là châu mục Vị Long, Quy Hoá; Trường Ninh công chúa cưới Hà Thiện Lãm là châu mục Thượng Oai,  Diệu Bình công chúa và Thiều Dung công chúa trở thành vợ của Dương Tự Minh, châu mục Phú Lương.

Khi ấy, khu vực Tây Bắc cũng có nhiều tộc người cư trú, tuy nhiên ở một khía cạnh nào đó, các tù trưởng ở đây chưa đủ lớn để cuốn hút sự quan tâm của triều đình trung ương và mặt khác, quốc gia láng giềng của Đại Việt chưa đủ mạnh để trở thành mối đe doạ xâm lăng đối với Đại Việt. Nhiều bộ lạc ở phía Tây Bắc còn tỏ ra thần phục, thường xuyên triều cống, nộp lễ vật hoặc cầu cứu các vua nhà Lý ra tay can thiệp. Mối lo đối với láng giềng không trở thành thường trực.

Củng cố chế độ trung ương tập quyền cách tốt nhất là nắm chắc các khu vực cư dân. Chính vì lẽ đó mà nhà Lý chia khu vực đồng bằng thành 5 cấp (lộ, phủ, huyện, hương, giáp) còn miền núi thành 4 cấp (đạo, châu, trại, động).

Đây là thời kỳ mà Quắn Tố mương ghi nhận về sự có mặt của người Thái Đen ở Mường Lò với các thủ lĩnh tạo Xuông, tạo Ngần, tạo Lò, Ta Đúc.

Tồn tại và phát triển rực rỡ trong khoảng hơn một thế kỷ, nhà Lý đã bắt đầu xuất hiện dấu hiệu thoái hoá và suy vong. Thiên tai, đói kém liên tục xảy ra. Đến cuối thế kỷ XII đồng hành với các cuộc nổi dậy của nông dân là sự trỗi dậy của các thế lực cát cứ ở các địa phương. Cuối cùng, thế lực của họ Trần thông qua giải pháp hôn nhân Trần Cảnh – Lý Chiêu Hoàng đã giành được ngôi báu, lập ra nhà Trần kéo dài trên 170 năm (1226-1400).

Khác với nhà Lý, ngay sau khi thiết lập vương triều chưa được bao lâu, nhà Trần đã phải dồn công sức, binh tráng để tiến hành 3 cuộc kháng chiến chống lại giặc Nguyên-Mông. Những giải pháp về kinh tế-xã hội, do đó phải tới tận cuối thế kỷ XIII mới được thực thi. Chính sách đoàn kết dân tộc đã mở rộng hơn, không chỉ tập trung vào các tù trưởng ở miền biên viễn phía Bắc hay Đông Bắc mà đã lan tới khu vực Tây Bắc rộng lớn và xa xôi. Triều đình đã thường xuyên cử quý tộc, quan lại có năng lực hoặc có danh tiếng, am hiểu phong tục tập quán các dân tộc thiểu số để lên trấn trị, phủ dụ dân chúng. Nhiều ông vua nhà Trần đã tiến xa hơn Long Môn – Long Thủy để khẳng định sức mạnh của chính quyền trung ương cũng như cương giới của quốc gia Đại Việt đang trên đường hưng thịnh. Chiến tranh và  các cuộc binh đao giữa chính quyền trung ương với các bộ tộc ở trong khu vực hầu như đã giảm thiểu. Các cuốn cổ sử xác nhận điều này:

– Năm 1280 (Thiệu Bảo, năm thứ 2, mùa đông, tháng 10), Trịnh Giác Mật[1] [có thể hiểu là Chiềng Giác Mật- thủ phủ của một châu người Thái nay thuộc Sơn La] ở đạo Đà Giang bắt tuân phục. Vua sai Chiêu văn vương Trần Nhật Duật coi đạo Đà Giang, ngầm đem quân thuộc hạ đến.

Khi tới trại, nhiều người dàn vây mấy chục lớp và đều cầm đao thương chĩa vào phía trong. Nhật Duật đi thẳng vào, trèo lên trại. Mật mời ông ngồi. Nhật Duật thạo biết tiếng nói và am hiểu phong tục của nhiều nước, cùng ăn bốc, uống bằng mũi với Mật. Người dân thích lắm. Khi Nhật Duật trở về, Mật đem gia thuộc đến doanh trại đầu hàng. Mọi người đều vui lòng kính phục vì không mất một mũi tên mà bình được Đà Giang. Đến khi về Kinh sư, [Nhật Duật] đem Mật và vợ con vào chầu, vua rất khen ngợi. Sau đó, vua cho Mật về nhà, giữ con ở lại kinh đô. Nhật Duật mến nuôi hết lòng, xin triều đình ban tước thượng phẩm và cho vào trông ao cá, sau cũng cho về nhà[2].

– Năm 1329 (Khai Thái, năm thứ 6, mùa đông), Ngưu Hống bất tuân phục triều đình, Thượng hoàng đi tuần thú đạo Đà Giang, (nay hầu hết thuộc Sơn La, Hòa Bình) đích thân đi đánh Ngưu Hống, sai Thiêm tri Nguyễn Trung Ngạn đi theo để biên soạn thực lục.

Thượng hoàng đến Mường Việt [tức Mường Vạt-Yên Châu], đóng quân lại, ban tên [cho đất ấy] là phủ Thái Bình; [ở đây] có suối Bác Tử, ban tên là suối Thanh Thủy. Trong chiến dịch này, Thượng hoàng đích thân chỉ huy, hiệu lệnh nghiêm minh, uy thanh vang dội (1).

– Năm 1337 (Khai Hựu, năm thứ 9, mùa thu, tháng 9), triều đình cử Hưng Hiếu vương tiến quân vào trại Trịnh Kỳ [Chiềng Kỳ], giết được tù trưởng Xa Phần của Ngưu Hống. Gia đồng là Phạm Ngải lập được chiến công, được cấp 5 phần suất ruộng.

– Năm 1399 (Kiến Tân, năm thứ 2, mùa thu, tháng 8), Nguyễn Nhữ Cái ở Đà Giang làm giấy bạc giả, chiêu dụ được hơn 1 vạn người nổi dậy ở vùng sông Đà, thế lực rất mạnh. Mãi đến tháng chạp năm ấy (1/1440), Hồ Quý Ly mới sai Nguyễn Bằng Cử đem quân đi đánh, mới dẹp yên.

Như một định mệnh, nhà Trần lại mất ngôi vào tay cha con Hồ Quý Ly trong hoàn cảnh thiên tai hoành hành, bão táp của các cuộc khởi nghĩa nổi lên dữ dội, giống như những gì đã xảy ra vào cuối thời Lý.

Hồ Quý Ly cướp ngôi vua lập nên nhà Hồ trong bối cảnh nền kinh tế của đất nước lâm vào tình trạng suy tàn, lòng người ly tán. Ở phía nam, Chiêm Thành luôn luôn đe dọa còn ở phía bắc, nhà Minh đang xúc tiến một cuộc xâm lược Đại Việt, liên tiếp đòi hỏi cung cấp lương thực cho quân Minh đang đóng gần biên giới; đòi người bị thiếu, tăng nhân, đàn bà xoa bóp. Khi ý đồ xâm lược trở thành cấp thiết, nhà Minh lại sai Nguyễn Toán, Từ Cá, Nguyễn Tông Đạo, Ngô Tín sang sứ và thăm hỏi thân thuộc, dặn mật rằng, nếu có quân phương Bắc sang thì dựng cờ vàng, ghi là thân thuộc của viên nội quan họ tên là mỗ, tất sẽ không bị giết hại[3].

Đất nước đã lùi xa nạn đao binh với phương Bắc hơn một thế kỷ. Các vương hầu và con cháu các công thần có công trong các cuộc kháng chiến trước đây ngày càng sa đọa trong sự giàu sang phú quý, chỉ chăm lo củng cố địa vị và thâu tóm những thành quả đấu tranh, xây dựng của nhân dân. Mâu thuẫn xã hội ngày càng trở nên gay gắt. Nhân dân không còn động lực khi bị huy động vào lực lượng vũ trang, đi lao dịch, Vì vậy, cha con Hồ Quý Ly chỉ còn trông cậy vào thành cao, hào sâu và đã nhanh chóng thất bại trước kẻ thù xâm lược.

Chiếm được Đại Việt, tháng 6 năm Vĩnh Lạc thứ 5( 7-1407) Minh Thái Tông ra Sắc dụ cho lập ty Chỉ huy sứ Giao Chỉ, đổi tên hầu hết các phủ, huyện  châu- trong đó có việc chuyển trấn Giao Hưng  xuống thành châu Gia Hưng  lĩnh ba huyện Lung, Mông và Tứ Mang, xếp đặt bộ máy cai trị tuyển chọn từ người địa phương.

Tại huyện Tứ Mang [từ thời Lê đổi là Châu Mộc, nay là các huyện Mộc Châu, Vân Hồ và một phần huyện Đà Bắc] cựu Thổ quan Xa Miên được giao làm Tri huyện. Theo Minh Thực lục (Thái Tông, Q.179, tr.2a), vào ngày 20tháng 2 năm Vĩnh Lạc thứ 16 ( 27-3-1418), con trai của Xa Miên là Xa Tam (tức Xa Khả Sâm) hoặc Xa Khả Tham trong sử Việt), sau khi giết chết Âu Dương Trí kẻ được nhà Minh cử đến làm Tri huyện Tứ Mang thay Xa Miên, đã dựng cờ khởi nghĩa khiến Tổng binh Lý Bân phải sai Đô đốc Phượng Chính đem nhiều binh tướng đi đánh dẹp. Nghĩa quân đã đẩy lyi được nhiều đợt tấn công của giặc Minh, giết chết Đô Chỉ  huy sứ Trần Nhữ Thạch, Thiên hộ Chu Đa Bổ nhưng chẳng may Xa ĐẠo- em trai của Xa Tam rơi vào tay địch, bị sát hại.

Diễn biến của cuộc khởi nghĩa được Minh Thực lục ghị nhận như sau:

“Trước đây viên cựu Thổ quan tri huyện Tứ Mang”, châu Gia Hưng là Xa Miên, có con Xa Tam làm phản, giết bọn Tri huyện được triều đình cử đến là Âu Dượng Trí. Quan Tổng  binh Phong  Thành hầu Lý Bân sai Đô đốc Đồng tri Phương Chính mang binh thảo phạt. Giặc cậy đông cự địch, các viên Thổ quan Đô Chỉ huy Trần Nhữ Thạch, Thiên hộ Chu Đa Bồ tử trận. Quan quân ra sức đánh bại giặc, bắt người em là Xa Đạo giết chết. Bọn Xa Tam trốn, nhưng núi rừng hiểm trở khí độc mới phát; quan quân lục soát không bắt được, bèn mang quân trở về và sai người chiêu dụ. Bân báo lên và xin thưởng tuất bọn Nhữ Thạch để khuyết khích quan sĩ. Được chấp nhận” [(Hồ Thạch Thảo (dịch và hiệu đính). Minh Thực lục. Quan hệ Trung Quốc- Việt Nam thế kỷ XIV-XVII, tập 2, Nxb Hà Nội, tr.51-52)].

Cùng với các cuộc khởi nghĩa Thổ Hoàng (Hương Khê-Hà Tĩnh), Lam Sơn (Thanh Hóa) và Áo Đỏ (Gia Hưng, Tuyên Hóa), cuộc khởi nghĩa do Xa Tam lãnh đạo đã gây cho quân xâm lược Minh nhiều đòn chí mạng. Trong Sắc dụ gửi Tổng binh Lý Bân đề ngày 10-5 năm Vĩnh Lạc thứ 18 (6-1420), Minh Thái Tông phải kêu lên:

“Bọn phản loạn Phan Liêu, Lê Lợi, Xa Tam, Nông Văn Lịch đến nay vẫn chưa bắt được, không biết việc binh đến khi nào mới  hết, dân đến lúc nào mới được yên; nên ngày đêm hết lòng trù hoạch phương lược, sớm diệt bọn giặc này, để khỏi phụ sự ủy nhiệm của Trẫm” [(Hồ Thạch Thảo (dịch và hiệu đính). Minh Thực lục. Quan hệ Trung Quốc- Việt Nam thế kỷ XIV-XVII, tập 2, Nxb Hà Nội, tr.81)].

Khi cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo bước vào giai đoạn toàn thắng thì tại Tứ Mang (Mường Xang), vào khoảng tháng 6/1427, thổ tù Xa Khả  Sâm đã đem lực lượng vũ trang của châu mường đến quy phụ. Lê Lợi đã trao cho Thổ tù Mường Xang chức Nhập nội tư không Đồng binh chương sự tri Đà Giang trấn thượng bạn, cho túi Kim ngư, tước Trụ Quốc Quan phục hầu, ban quốc tính họ Lê. Các con của ông như Xa Lộc được làm Kim ngô vệ Thượng tướng quân, tước Đại tri tự; Xa Khát, Xa Bàn, Xa Điển đều được làm Ngọc vệ Đại tướng quân, tước Ninh Tự.

Để bày tỏ lòng trung thành, Xa Khả Sâm đã dâng lên Lê Lợi 3 con voi cùng vòng vàng, vòng bạc, chiêng đồng. Lê Lợi cũng ban thưởng cho ông 20 tấm lụa, 10 con ngựa.

Sự kiện Xa Khả Sâm quy phục Lê Lợi đã tác động tới thổ tù châu Ninh Viễn là Đèo [Điêu] Cát Hãn- người đã đầu hàng nhà Minh khi quân xâm lược tràn đến vùng này. Tháng 10/1427, khi Chủ thư Thị sử được Lê Lợi phái đến tuyên dụ vỗ về châu Ninh Viễn, Đèo Cát Hãn đem quân trong châu đến hàng phục. Lê Lợi chấp nhận và cho tiếp tục cai quản công việc trong châu.

Mục tiêu đánh đổ ách thống trị của nhà Minh, giành lại độc lập và chủ quyền cho đất nước mà cuộc khởi nghĩa Lam Sơn đề ra, đến cuối năm 1427 đã hoàn thành. Thủ lĩnh Lê Lợi trở thành Thái Tổ của nhà Lê, ngay từ đầu đã hướng tới mục tiêu là dùng hình luật để cai trị và bảo vệ sự vẹn toàn của lãnh thổ quốc gia.

Một trong những biện pháp quan trọng mà nhà Lê sử dụng trong buổi đầu là sắp xếp lại các đơn vị hành chính kể cả khu vực miền núi, sử dụng tầng lớp trên của các dân tộc, bổ nhiệm họ các chức như Đoàn luyện, Thủ ngự, Thổ tù người Thái là Xa Khả Tham (có sách viết là Sa Khả Sâm) được phong là Nhập nội tư không và các con ông được phong làm Đại tướng quân được ban quốc tính. Nhiều thổ tù khác có công trong kháng chiến hay chịu quy thuận, được phong những chức tước cao như Tư không, Bình chương sự, Thượng tướng quân. Đại tướng quân. Năm 1428, khi Lê Lợi chia nước làm 5 đạo và tổ chức lại bộ máy thống trị ở các châu, có đặt thêm các chức Tri châu, Đại tri châu dành riêng cho các thổ tù vùng biên viễn. Chính sách này tiếp tục được sử dụng trong các đời vua Lê về sau và tới thời Thánh Tông, nhiều thổ tù được phong đến tước Quận công.

Với bộ Luật Hồng Đức, vấn đề chính sách đối với các dân tộc thiểu số đã được xác định rõ ràng hơn. Qua những quy định của Luật Hồng Đức, nhà nước trung ương đã chú ý tới đặc điểm về phong tục tập quán, có cách ứng xử phù hợp. Điều 40 Luật Hồng Đức quy định: “Những người miền thượng du (vùng miền núi- dân tộc) cùng phạm tội với nhau thì theo phong tục xứ ấy mà định tội. Những người thượng du phạm tội với người trung châu thì theo luật mà định tội”. “Các quan tướng suý tại các phiên trấn đến những châu huyện ở trấn mình, sách nhiễu tiền tài của dân thì bị biếm ba bậc, phải bồi thường gấp đôi số tiền trả lại cho dân. Khi chiêu dụ dẹp yên dân Man Liêu mà tự tiện phá nhà cửa, lấy súc vật, tài sản của dân thì bị tội biếm hay bị đồ” (Điều 163). “Các quan quản giám các dân Man Liêu (tức các dân tộc thiểu số) tự ý giữ trông coi những vụ kiện trong hạt, riêng sai người nhà đem trát đi bắt người hoặc là ức hiếp người mà giam cầm, thì xử phạt 60 trượng và biếm 2 tư” (Điều 164).

Luật Hồng Đức cũng có những quy định cụ thể nhằm ngăn ngừa sự liên kết giữa quan hệ người Kinh và các thổ tù thiểu số, nhằm hạn chế sự gia tăng quyền lực của các thủ lĩnh ở khu vực này. điều 51 ghi: “Các quan ty mà cùng với những người tù trưởng ở nơi biên trấn kết làm thông gia, thì phải tội đồ hay lưu và phải ly dị. Nếu lấy trước rồi thì xử đoán khác”. So với thời Lý-Trần, nhà Lê đã với tay sâu hơn trong việc quản lý, chi phối khu vực này và quy định rõ trong Luật Hồng Đức: “Những người không phải ngành chính mà tranh bừa quyền phụ đạo, thủ lĩnh thì xử 70 trượng, biếm ba tư. Dòng chính phụ đạo thủ lĩnh, nếu không tâu xin mà tự tiện giữ quyền thì xử giảm một bậc” (Điều 340).

Nhiều quy định trong hình luật của nhà Lê ít nhiều có xem xét và giảm nhẹ hình phạt đối với người thuộc dân tộc thiểu số: “Người Man Liêu cướp bóc của nhau, giết nhau thì xử nhẹ hơn tội cướp, giết người một bậc; nếu hoà giải với nhau thì cũng cho” (Điều 451). Hay như quy định: “Đi thu thuế của dân Man Liêu mà không đến trình người quản giám thì xử biếm 1 tư” (Điều 595). “Ngục giám đi bắt người Man Liêu bị kiện, mà không trình quan quản giám người Man Liêu, thì xử biếm 1 tư, trong trường hợp ấy, kẻ phạm tội có đánh chửi ngục giám cũng không được xét. Nếu viên quản giám nói dối là dân Man Liêu chống cự, không sai bắt kẻ bị kiện thì cách chức quản giám” (Điều 703)[4].

Dưới triều Lê, đặc biệt từ thời Lê Thánh Tông, vai trò quyền lực của nhà nước trung ương đối với các địa phương rất to lớn. Bản đồ nước ta được hoàn thành thời Lê Thánh Tông đánh dấu bước tiến to lớn trong quản lý của nhà nước trung ương. Cả nước được chia thành 13 xứ thừa tuyên có 52 phủ, 178 huyện, 50 châu, 20 hương, 36 phường, 6.851 xã, 322 thôn, 637 trang, 40 sách, 40 động, 30 nguyên, 30 trường. Các vùng xa như Thanh- Nghệ, Thuận Hoá, Yên Bang, Tuyên Quang, Hưng Hoá đều đặt ty và thủ ngự. Nhà nước trực tiếp quản lý các địa phương thông qua hệ thống quan lại[5].

Sử cũ còn ghi lại sự kiện: Năm 1428 vua “Hạ lệnh rằng hễ thấy người áo đỏ Mường Mộc chở mắm muối về thì không được ngăn cấm”. Nhiều tù trưởng dân tộc thiểu số có công trong kháng chiến chống Minh được trọng thưởng. Một số tù trưởng được ban đặc ân”[6].

Sau khi Lê Thái Tổ lên ngôi, tù trưởng các châu của người Thái đều phục tùng triều đình; duy chỉ có ba chúa mường luông – mường lớn là Pét Lạn (Đèo Cát Hãn), phạ Nhũ (Cương Nương) và Mứn Hắm (Quy Thang) là bất quy phục.

Về sự kiện đánh dẹp Đèo Cát Hãn, Đại Việt sử ký toàn thư chép rất vắn tắt như sau: “Nhâm Tý, Thuận Thiên năm thứ 5, mùa xuân, tháng giêng, sai Thân vương Tư Tề đem quân đi đánh châu Mường Lễ. Tù trưởng châu là Đèo Cát Hãn và con là Đèo Mạnh Vượng ra hàng. Cho ở Đông Kinh, lập Hãn làm Tư mã, rồi năm sau giết chết”[7].

Tháng 12/1432, Lê Thái Tổ lại thân đi đánh châu Phục Lễ. Tháng 2/1433, nhà vua từ Phục Lễ mang quân trở về Kinh.

Năm 1434, sau khi Đèo Cát Hãn chết, con trai là Đèo Mạnh Vượng đem mẹ về đất cũ, ngay sau đó bà rời châu Phục Lễ về Đông Đô đợi mệnh của triều đình, tâu xin cho con trai là Đèo Mạnh Vượng và Đạo Thu bận đánh nhau với Mường Lự xin về chầu sau khi đã xong việc. Tháng 1/1435, Đèo Mạnh Vượng về hàng, vua Lê sắc phong cho làm Tư mã Tri bản châu quân dân sự, tước Quan phụ hầu1. Trong tháng này, viên phụ đạo Mường Việt là Cầm Công được phép đội mũ, thắt đai vào chầu; cho Đạo Miên ở châu Mã Nam làm Đại tri châu Tri quân dân sự bản châu, tước Minh tự[8].

Tháng 2/1437 (Thiện Bình, năm thứ 4, mùa xuân, tháng giêng), thổ tù châu Thuận Mỗi phủ Gia Hưng là Đạo Quỹ, Đạo Thang dẫn người châu đó đến bắt viên thổ quan là Đại tri châu Đạo Lễ đem thắt cổ chết rồi giữ trại sách chống cự lại. Triều đình bèn phái Chiêu thảo sứ là Hà An Lược- người Mai Hạ, Mai Châu, đem quân đánh dẹp, bắt sống được Đạo Quỹ và nhiều người khác giải về Kinh. Sau chiến công ấy, Hà An Lược được làm Chiêu thảo Đại sứ; Đạo Xa – con của Đạo Quỹ được làm Hoài Viễn tướng quân kiêm Đồng tri châu bản châu, ban cho mũ đai, y phục[9].

 Tháng 1/1438, nhà vua cho phát lương ở quân doanh Gia Hưng và cho phép trấn quan Hưng Hoá cho dân vay ăn[10].

Tháng 1/1438. Lê Thái Tông thân cầm quân đi châu Phục Lễ để đánh Cầm Cương Nương vì bất phục triều đình.

Tháng 4/1440 (Đại Bảo, năm thứ nhất, mùa xuân, tháng 3), Lê Thái Tông thân chinh dẫn binh đánh dẹp viên thổ quan ở châu Thuận Mỗi vì tội chống lại triều đình. Trên đường trở về, Lê Thái Tông dừng chân tại động La (Thẩm Báo ké) cho khắc lên vách đá lời tuyên cáo:

“Bài thơ của Quế Lâm động chủ ngự chế.

Tù trưởng phản nghịch ở châu Thuận Mỗi là Thượng Nghiễm vong ân bội nghĩa[11], đem dân chúng theo người Ai Lao làm phản. Thân điều khiển 6 quân đến trị tội. Trong khoảnh khắc đã đốt trụi hai dãy núi lớn, chiếm lấy  nguồn nước. Thượng Nghiễm kế cùng lực tận, dâng voi xin hàng. Ta thương mà không nỡ chém; tha tội cho, đem quân trở về để lại bài thơ:

Nửa đêm không ngủ, thương kẻ xa

Tù trưởng kia sao dám phản ta

Thế gian còn lắm anh hùng đó

Thiên hạ ai dung kẻ nghịch tà

Đường sá gian truân không hiểm nữa

Hang tối xuân về, mướt cỏ hoa

Tẩy trừ nhơ nhớp, yên dân thiện

Không để biên thuỳ ngoài đức ta

Năm đầu, niên hiệu Đại Bảo (1440) ngày lành giữa tháng Ba”[12].

Sách Đại Việt sử ký toàn thư cho biết: “Mùa thu, tháng 5, vua đem quân từ châu Thuận Mỗi trở về vì Thượng Nghiễm dâng trâu và voi xin hàng và trời đương mưa, nắng dữ”.

Tuy nhiên, Thượng Nghiễm vẫn tiếp tục bất tuân lệnh triều đình. Tháng 4/1441 “Vua lại đi đánh Thượng Nghiễm ở châu Thuận Mỗi, bắt sống viên tướng Ai Lao là Đạo Mông cùng với vợ con là động La, bắt con của  Thượng Nghiễm là Sinh Tương và Cháng Đồng. Thượng Nghiễm kế cùng phải ra hàng. Vua đem quân về dâng tù, báo thắng trận ở Thái Miếu”[13].

Tháng 8/1448 (Thái Hoà, năm thứ 6, mùa thu, tháng 7) dân vùng Tây Đạo bao gồm trấn Tuyên Quang, lộ Quy Hoá và lộ Gia Hưng của Hưng Hoá, lộ Đà Giang lâm vào đói kém. Tri Tây Đạo là Nguyễn Phú tâu về triều đình: “Các trấn lộ Tuyên Quang, Quy Hoá, Gia Hưng ở miền núi rừng hẻo lánh, ruộng đất sỏi đá xơ xác lại thêm liền năm bị hạn hán, dân chúng rất đói. Xin lấy thóc kho công cho dân vay, may ra dân được hồi sinh”.

Nhà vua y lời, xuống chiếu phát thóc trong kho cho dân vay, đợi khi được mùa thì trả lại cho nhà nước[14].

Tháng 6/1453 (Thái Hoà, năm thứ 11, mùa hạ, tháng 5) Tuyên uý châu Mường Mộc là Xa La, Kinh lược sứ châu Thuận Mỗi là Đạo Xa, Tri châu châu Mường Việt là Đạo La, Quan sát sứ châu Ngọc Ma [Thanh Hoá] là Cẩm Kha về Kinh dâng sản vật địa phương, đều được vua Lê ban tiền theo thứ bậc khác nhau cùng với nhiều đặc quyền, đặc lợi khác. Theo Chúc thư của dòng họ Xa, dòng họ Thổ tù- Phụ đạo động Đà Lý, huyện Mộc Châu, phủ Gia Hưng lập ngày 6-2 năm Hồng Đức thứ 2 (3-1471) được viết bằng chữ Hán và chữ Nôm trên lụa ta có thể thấy rõ điều đó. Nội dung bản Chúc thư như sau:

“Thổ từ Phụ đạo động Đà Lý, huyện Mộc Châu, Phủ Gia Hưng lập Chúc thư.

Tư đồ Tư mã Tư Thiếu sinh Xa Lê Miêu Xa Lê Miêu Sinh, Xa  Lê Thậm Lê Thậm Sinh, Xa Văn Phú Văn Sinh, Xa Thọ Thọ Sinh, Xa Ngọc Lan để lại ruộng đất, sản nghiệp nguyên vẹn gìn giữ cho đời sau, tránh tranh đoạt sở hữu ruộng đất, đầm ao của tổ nghiệp nên lạp Chúc thư để phân định rõ ruộng đất cùng các vật.

Nay giao cho Đạo trưởng Xa Ngọc Lan chiểu phép thường về ruộng đất để lại của tổ nghiệp, dư lập Chúc thư để đời đời truyền  con nối cháu, mãi mãi gìn giữ kỷ vật.

Như xưa nước có phép thường, nay lập Chúc thư.

Thổ tù Phụ đạo giao Đạo trưởng Xa ngọc Lan giữ một đạo, chiểu theo đúng Chúc thư thi hành.

  1. Đà Lý động binh: dân các quê xa gần thuộc quyền Quan Lang cai quản và các Quan Lang, Quan Khôn, Quan Trưởng quyền dịch quyền chán, Quan Giáo, Quan Trị, Quan Mấy, Quan Tỉnh cùng các người trong nhà Quan Lang như: Quan Lại, Quan Cốt, Quan Tiển và những người trong nhà Thổ tù, Phụ đạo động Đà Lý hàng năm cày cấy ruộng nương nước khôn quê nguồn [đất đai, xứ sở của Thổ tù, Phụ đạo].

Tháng 10: Ruộng quang do Quan Lang cày cấy.

Tháng 5: Ruộng ngọc do Quan Khôn cày cấy.

Tháng 5: Ruộng đồn do Quan trưởng cày cấy.

Tháng 5: Ruộng ban do các quan Quê cày cấy.

Còn ruộng lẻ ở tại các thôn khác thì quê nguồn thuộc các Quan Lang, Quan Khôn, Quan Mạc, Quan Công, Quan Tắt, Quan Tiên, Quan Vì, Quan Quảng, Quan Quyền, Quan Dõng và hai thôn thuộc Thổ tù, Phụ đạo kết hợp để cày cấy. Việc cày cấy phân theo nhà ở, mỗi cụm 5 nhà, những thôn rời rẽ thì mỗi cụm 3 nhà còn các thôn khác ở xã hơn thì mỗi cụn 2 nhà.

  1. Quan Khôn hễ giết trâu, bò, lợn, dê hoặc hươu nai phải nộp Thổ tù một chân và một mâm cỗ.

– Các quê của Quan Giáo, Quan Khôn hễ giết súc vật nói trên phải nộp Thổ tù một chân và một mâm cỗ, phải nộp cho Quan Khôn cũng đúng như thế.

– Quan Trưởng hễ giết các súc vật nói trên phải nộp Thổ tù một chân và một mâm cỗ.

– Các quê của Quan Trưởng , Quan Tỉnh, Quan Thông hễ giết các súc vật nói trên phải nộp  Thổ tù một chân và một mâm cỗ và phải nộp cho Quan Trưởng một bộ xương và một mâm cỗ.

– Quê của Quan Lang hễ giết các súc vật nói trên phải nộp Thổ tù một chân và một mâm cỗ, phải nộp  cho Quan Quyền và Quan Cốt một bộ xương và một mâm cỗ.

– Các thôn khác hễ giết các súc vật nói trên phải nộp Thổ tù một chân và một mâm cỗ.

– Quan Mạc hễ giết các súc vật nói trên phải nộp cho Thổ tù một chân và một mâm cỗ.

– Quan Công, Quan Tắt, Quan Liền, Quan Vĩ, Quan Quảng hễ giết các súc vật nói trên phải nộp cho Thổ tù một chân và một mâm cỗ.

  1. Các quê thuộc Quan Lang động Đà Ký phải đi tuần thú: ngày 3 người, đêm 5 người.
  2. Các quê thuộc Quan Lang bán ngựa phải nộp Thổ tù mỗi ngựa là một đại, nếu không thì Thổ tù bắt người vợ cả của kẻ bán ngựa. Khi đó Quan Lang của hai thôn (thôn Thổ tù và thôn người bán ngựa) phải tham dự lễ cướp vợ ấy. Khắp động Đà Lý này, các quê thuộc Quan Lang phải tuân theo đúng như Chúc thư của Thổ tù, Phụ đạo đã quy định.

Dưới đây liệt kê:

      1.Ruông, ao, đầm, đất và thanh bôn hoa quả 4 mùa thuộc núi rừng xa gần trong xác xú       quê Quan Lang tất cả đượcghi đúng như trong Chúc thư này:

Một thửa ruộng ngọc, ruộng binh đông giáp ruộng rừng, nam giáp suối nhỏ, tây giáp suối nhỏ, bắc giắp ruộng bản  điền.

  1. Một thửa ruộng ao, một đoạn đông giáp xứ ao, nam giáp ruộng rừng, tây giáp suối nhỏ, bắc giáp suối nhỏ.

3.Một thửa ruộng lộc, ruộng đống liền kề, một đoạn đông giáp suối nhỏ, nam giáp đống sam, tây giáp ruộng đón, bắc giáp ruộng rừng và dọi sâu.

  1. Một thửa ruộng đô năm mẫu hai đoạn: đông giáp xứ đô, nam giáp rừng, tây giáp rừng, bắc giáp xứ đô.
  2. Một thửa ruộng chằm sáu mẫu: đông giáp bản điền, nam giáp bản điền, tây giáp bản điền, bắc giáp hống.
  3. Một thửa ao rừng, một đoạn đông giáp bản diền, nam giáp bản điền, tây giáp ruộng binh thuế, bắc giáp hống.

      7.Một thửa nhược vương cung thực điền, bùi điền, đông giáp bản điền, nam giáp suối nhỏ, tây giáp hống, bắc giáp rừng.

  1. Một thửa ruộng bờ đầm: đông giáp rừng, nam giáp bản điền, tây giáp rừng, bắc giáp bản điền.
  2. Một thửa ruộng hòa hai đoạn: đông giáp bản điền, nam giáp suối nhỏ, tây giáp suối nhỏ, bắc giáp suối nhỏ.

Giao cho Đạo trưởng, Thổ tùi Xa Ngọc Lan giữ một đạo Chúc thư.

 Các thôn khác nếu nhận cày cấy thì một năm nộp: rượu hai chĩnh, xôi nếp một sâu, lợn một con và thóc gạo 1500 cân, mỗi cân 10 đấu. Dù cày cấy hay bỏ hóa đều phải tiến nộp đúng như vậy.

Ruộng đất, núi rừng, hoa quả các xứ xa gần ở động Đà  Lý: đông giáp Sùng Hưng, tây giáp Đầu Lộc Thạch Mệnh, nam giáp Chúng Bán Dương Đồn, bắc giáp Cối Cá Minh Thổ Kỵ làm bờ. Ruộng tư của họ Xa, ruộng rừng và đất đai, tất thảy điền địa thuộc  địa phận động Đà Ký đến địa ohận hai thôn gần Dương Hoàng Khu  Phiến Đồ và Bình Ban Mác Chính Thạch nay đều giao cho Thổ tù Xa Ngọc Lan quan lý.

Các Quan Quyền ở các quê thuộc địa phận cứ sau vụ đều phải tiến nạp lụa 30 thước và phải sức binh, dân cho trâu cày đất. Binh dân phải nộp liệt ngưu một đầu và lụa trắng 30 thước. Còn các thôn khác quê nguồn nước chỉ phải nộp liệt ngưu môtỵ đầu, lụa trắng hai bó 20 thước.

Địa giới động Đà Lý bốn mùa không suy xuyển, đúng như trong Chúc thư đã quy định rõ:

Đông giáp địa phận Thái Hòa (Suối Voi liền  đến Doi Cát, Quèn Lắm, Cấm Gà, Suối Lội). Tây giáp địa phận Hiệp Đưc]s (Suối Hồ, Suối Trắng, Quèn Tàng, Mỏ Đá, Đèo Vọng, Hang Mai). Nam giáp địa phận Hiền Lương (Doi Chông, Suối Động, Thạch Mừng, Quèn Hao). Bắc giáp địa phận Cường Nhuệ (từ Bờ Mèn liền đến Hang Ửng, Suối Hôi, Cửa Trai).

Vốn địa phận động Đà Lý giáp Thượng Thôn (từ Suối Nàn liền Đầm Canh, Dọi Chế, Ngọc Đương Sa, Suối Dụ Dương Linh, Hồng Đà Tản Tắc).

Ngày 6-2 năm Hồng Đức thứ 2 (3-1471).

Lập Chức thư: Thổ tù Xa Thọ ký

                    Trưởng Thổ tù, Phụ đạo Xa Ngọc Lan điểm chỉ

                    Xa Hiền, Xa An, Xa Mới, Xa Pháp, Xa Thiên, Xa ngọc Điểm chỉ” [Hà Kính. Bản Chúc thư lụa mang niên đại Hồng Đức (1471) mới được phát hiện ở Đà  Bắc. Tạp chí NCLS, số 1 (208)-1983. Phần dịch sang quốc ngữ từ văn bản Hán-Nôm được Cung Khắc Lược, Nguyễn Hữu Chế hiệu đính, chỉnh lý. Tuy nhiên, trong bài viết này còn để tồn nghi khá nhiều vấn đề như các chức quan, các hạng ruộng và đặc biệt là hàng loạt cụm từ vẫn giữ nguyên dạng phiên âm chưa giải thích được ý nghĩa hoặc so sánh với các địa danh sau này được thay thế (Đầu Lộc Thạch Mệnh, Chúng Bán Dương Đồn, Cối Cá Minh Thổ Kỵ, Dương Hoàng Khu Phiến Đồ, Bình Ban Mắc Chính Thạch, Suối Động Thạch Mừng, Dọi Chế Đương Sa, Suối  Du Đương Linh, Hống Đà Tản Tắc v.v…)

Điều đặc biệt là, trong văn bản này, chữ Quê được dùng đồng nghĩa với Làng, một từ thuần Việt được sử dụng phổ biến trong thế kỷ XV. Ngoài ra, còn nhiều từ Nôm thuần Việt khác như Tháng 5, Tháng 10 cũng xuất hiện trong văn bản].

  Tháng 5/1466 (Quang Thuận, năm thứ 7, mùa hạ, tháng 4) vua cho thay đổi xếp đặt lại quân ở 5 phủ và định quân hiệu – theo đó Quốc Oai và Hưng Hoá thuộc phủ Tây quân gồm 6 vệ (mỗi vệ có 5-6  sở, mỗi sở 400 quân), đặt chức Tả, Hữu Đô đốc, Đô đốc Đồng tri và Đô đốc Thiêm sự ở phủ; Tổng Tri, Đồng Tổng tri và Thiêm tổng tri ở vệ; Quản lãnh, Phó quản lãnh, Chánh võ uý và Phó võ uý  ở sở; Tổng kỳ ở ngũ.

Tháng 5/1467 (Quang Thuận, năm thứ 8, mùa xuân, tháng 4) vua Lê cho thu lại quân quyền và bãi chức của Tây quân Đô đốc Lê Thiệt vì có con là Bá Đạt đang giữa ban ngày phóng ngựa ra phố, dung túng gia nô đánh người; quân lính và chỉ huy của Lê Thiệt sai đi tuần tiễu biên giới đã doạ nạt lấy bạc của người châu Thoát. Đồng thời vua Lê cũng cho Tri phủ Quy Hoá là Nguyễn Thúc Thông làm Hưng Hoá Thừa tuyên sứ Tham nghị.

Tháng 8/1479 (Hồng Đức năm thứ 10, mùa thu, tháng 7), Lê Thánh Tông xuống chiếu thân hành đi đánh Ai Lao. Tuy là đi đánh nước ngoài nhưng nội dung của toàn bộ tờ chiếu lại là bản tổng kết về mối quan hệ qua lại giữa triều đình nhà Lê với các thổ tù các châu mường Tây Bắc hơn nửa thế kỷ (1427-1479), vừa dầy công vun đắp tuy lúc đậm, lúc nhạt, lúc thuận hoà, lúc đầy dông bão, vừa mang ý nghĩa chiến lược sống còn:

“Bậc đế vương đời xưa chế ngự di địch, phục tùng thì cưu mang bằng đức, phản lại thì sấm sét ra oai. Cốt để diệt bạo trừ hung, cho dứt mối lo cõi bờ bị xâm lấn; đổi lòng theo hoá, cho chọn lòng nhân của trời đất chở che.

Cho nên: Hiên Hoàng ra quân núi Trác Lộc, Chu Tuyên đi đánh rợ Hoài Di. Đó đều là thể theo lẽ đóng cửa của trời đất, bắt chước cơ khoan nhặt của âm dương. Đâu phải là thích lớn ham công, nhàm binh đánh bậy?

Tổ tông ta theo trời chịu mệnh, giữ cõi an dân, chăn nuôi bằng nhân, đánh dẹp bằng nghĩa, rạng rỡ đời trước, để phép đời sau.

Trẫm nay nối công tổ tông, giữ cơ nghiệp lớn. Vỗ yên trung châu cùng man mọi, văn trị Đại Thuấn khắp ban; phát huy mưu trí của đế vương, quy mô Chu Văn rộng mở.

Duy nước Lão Qua kia, giáp giới cõi Tây. Đương khi Thánh Tổ dẹp giặc Ngô cuồng bạo, đã nhòm sơ hở đánh úp quân ta, đến lúc Thần Vũ giết tên Thượng Nghiễm hung tàn, lại giúp kẻ gian dấy binh đánh chiếm. Chỉ vì kẻ thù của vua cha chưa diệt, mà di địch kia bạo ngược càng già. Kiêu ngạo muôn bề, lăng loàn trăm phách. Gọi Cao Hoàng là em, coi Dụ miếu là cháu lên mặt như ếch đáy giếng khác gì; sang cướp châu Lang Chánh, sang quấy phủ An Tây, nhả nọc còn độc hơn loài ong bọ. Vườn tược Sầm Thượng, Sầm Hạ, nó ăn lấn như tằm; nhân dân biên giới của ta, nó lấm lét cắn trộm. Thuận Bình, Sa Bôi do vậy rối ren; Lâm An, Quy Hợp bị chúng giày xéo. Thang Thượng, Thang Hạ là biên ấp của ta, nó cướp đoạt hoành hành; Đạo Luận, Đạo Xa, tên thổ tù phản ta, nó kêu gọi, chứa chấp. Sứ của nó sang thông, thì ta hậu đãi cho về, quan của ta giao thiệp, nó lại bắt giữ bỏ ngục.

Đến nước tên Cầm Công trong khi ẩn náu, nó đã giúp đỡ bao che và lúc tên Cầm Công trở mặt cắn càn, nó lại cho quân tiếp sức. Xâu xé bờ cõi ta, chiếm lấn đất đai ta. Khinh nhờn tự phụ, lừa dối làm càn. Đây đâu chỉ là mối lo một thời nơi cương giới, mà thực là mối thù muôn kiếp của nước nhà”[15].

Các sự kiện được Đại Việt sử ký toàn thư, Khâm định Việt sử thông giám cương mục ghi lại trên đây được coi là tương đồng với Quắm tố mương công bố trong phần Mướng Hằm làm chủ Mường Muổi, Khoa Ngấm lộng quyền, ải Têm Mương xây dựng Mường La. 

Giai đoạn lịch sử từ cuối thế kỷ XV đến đầu thế kỷ XVI, trước khi nhà Lê bị nhà Mạc cướp ngôi và những năm tiếp theo, các sự kiện xảy ra tại vùng Hưng Hoá không được sử Việt ghi lại nhiều lắm, ngoại trừ hai vấn đề dưới đây:

– Tháng 2/1499 (Cảnh Thống, năm thứ 2, mùa xuân, tháng giêng) quy định Nha môn Hưng Hoá trong thời hạn 1 tháng phải nộp xong tiền sai dư – tức là tiền sưu (thuế thân) trong kỳ đại  tập.

– Tháng 2/1512 (Hồng Thuận, năm thứ 4, mùa xuân, tháng giêng) triều đình sai võ tướng thống lĩnh binh tượng là Đỗ Nhạc làm Tán lý quân vụ đi các vùng Sơn Tây và Hưng Hoá đánh dẹp Nguyễn Nghiễm, một thủ lĩnh còn lại trong cuộc nổi dậy của Trần Tuân[16].

Quắm tố mương, ngược lại ghi chép về khoảng thời gian này khá chi tiết. Trong phần Bun Xung được vua Kinh đưa về làm chúa Mường Muổi, chúa Bầu điều chúa đất Thái diệt Mạc phò Lê, Mường La dần cướp quyền làm chủ vùng châu Thái đã đưa ra một bản tổng kê khá đầy đủ như sau[17]:

“Thời đó, vua Khánh Thống [Cảnh Thống, Lê Hiến Tông, 1497-1504] làm vua được 10 [8] năm đã mất; vua Thái Chinh [Thái Trinh, Lê Túc Tông, 6/1504-1/1505] trị vì được một [nửa] năm thì mất; vua Lạn Khánh [Đoan Khánh Lê Uy Mục 1/1504-1/1510] được 4 [7] năm đã mất; vua Hồng Xộn [Hồng Thuận Lê Tương Dực] đương trị vì.

Được tin anh em chúa Mường Muổi chém giết nhau, bun Xung tâu việc đó để vua rõ. Nhà vua bèn ban ấn sắc cho bun Xung về làm chúa Mường Muổi.

Bun Xung đã ở cạnh vua dưới Kinh cho đến khi tuổi già mới được về làm chúa Mường Muổi. Nay chúa lại đi chầu dưới vua, không may mất ở đó. Vì đường sá xa xôi, không đưa xác chúa về quê và an táng theo tục người Thái được, những người đi theo phải chôn chúa ở đất Kinh. Bản mường đưa phìa Bun lên thay.

Mường La, ải Têm Mường mất, Cầm Mựt lên làm chủ nhưng vì tham lam, trai gái, không thẳng thắn nên bô lão không phục, xin Cầm Nhân Hoà cho Cầm Kheo làm chủ. Tiếp theo đó là Cầm Pành, ún Mường, Tòng Mường làm chủ.

      Ở Mường Muổi: Hai anh em Cầm Nhân Hoà đi ăn cá đầu mùa ở bản Cuông Mường, Cầm Nhân Xơ xúi po Muối, po Tố làm lam Chiềng Pấc cầm nỏ phục bắn nhưng không trúng. Hoảng sợ, hai ông lam đánh cắp ngựa của Cầm Nhân Hoà chạy trốn. Cầm Nhân Hoà chạy về Chiềng Đi nổi cồng tập hợp dân mường. Mọi người đều đông đủ chỉ vắng có po Muổi, po Tố. Biết kẻ định giết mình, chúa cử binh đánh em ở Chiềng Pấc. Xơ sợ chạy sang Lào cùng gia quyến. Còn po Muổi, po Tố chạy về xuôi gặp tạo Nộc tức bun Xung. Lúc này ông đương làm quan Tư mã chính ngạch. Số là dưới thời vua Thái Chinh ở Mường Dôn, thao Tẩu có thư về trình vua. Không ai biết đọc thứ chữ đó. Vua phải triệu bun Xung ở đất Mọi, đất Mang về xem. Bun Xung đọc được. Vua thưởng sai thao Thay, thao Nha dựng nhà cho ông ở Cửa Đông, Cửa Hậu để ngày ngày được vua sai khiến.

Cầm Phúc tranh quyền phìa Bun. Phìa Bun sợ chết ẩn vào rừng đợi dịp lấy lại Mường Muổi. Ba năm sau khi Cầm Phúc chết, phìa Bun trở lại làm chủ Mường Muổi, lấy nàng Cầm Bua sinh ra Cầm Pành (còn gọi là Pành Mường[18].

Sau thời kỳ nhà Mạc tiếm ngôi nhà Lê và cuộc chiến tranh Lê – Mạc (Nam triều – Bắc triều) nổ ra, các châu Thái hoàn toàn nằm dưới quyền kiểm soát chặt chẽ của anh em Vũ Văn Uyên – Vũ Văn Mật, nguyên quê quán ở Gia Lộc – Hải Dương, đều có tài trí và khoẻ mạnh, lánh nạn nhà Mạc ở xóm Khau Bàu, xã Đại Đồng, trấn Tuyên Quang. Vũ Văn Mật lấy vợ và tập hợp lực lượng tại đây. Sau khi giết chết thổ tù châu Thu, Vũ Văn Mật tự xưng làm Đô tướng còn Vũ Văn Uyên chiếm thành Nghị Lang chống nhau với nhà Mạc. Vũ Văn Uyên chết, Vũ Văn Mật chiếm cứ Đại Đồng, xưng là Gia quốc công, sai người đến hành tại Thanh Hoá xin quy thuận, vua Lê phong làm Yên Tây vương vì có công đánh Mạc, được lưu thủ Đại Đồng và nối đời quản trị. Lê Quý Đôn trong Kiến văn tiểu lục khen: “Lòng trung nghĩa của Văn Uyên ngang với Trương Quỹ đời Tấn và Lý Khắc Dụng đời Đường”

Vì lúc đầu anh em họ Vũ lập nghiệp từ Khau Bầu nên người đời gọi là chúa Bầu, những thành trì do họ xây dựng đều được gọi là thành nhà Bầu trong Quắm Tố mương thì gọi là “Kinh giữa hàng là Bầu” và còn nhiều tư liệu ghi nhận tình đoàn kết chiến đấu giữa Vũ Văn Mật với các chúa mường người Thái.

Thời kỳ này chỉ thấy Đại Việt sử ký toàn thư, ghi lại sự kiện là vào tháng 4/1560, Thái sư Trịnh Kiểm đã sai Định quận công trấn giữ Hưng Hoá, chiêu tập vỗ về cư dân 10 châu Yên Tây, tư cấp binh lương cho họ[19].

Kể từ đây cho tới cuối thế kỷ XVI, Đại Việt sử ký toàn thư và nhiều bộ sử khác hầu như không có một dòng nào ghi chép về các châu mường của người Thái. Quắm tố mương thì tập trung ghi chép về việc thay đổi, tranh đoạt, cướp quyền chủ mường ở Mường La, Mường Muổi; việc người Phẻ  quấy nhiễu bản mường và sau khi bun Phanh đánh thắng người Phẻ thì thế lực Mường La phát triển khắp vùng Tây Bắc từ cuối thế kỷ XVII trở đi.

Từ cuối thế kỷ XVII, Lịch triều tạp kỷ của Ngô Cao Lãng và Khâm định Việt sử thông giám cương mục bắt đầu lại để tâm đến sử liệu khu vực các châu mường của người Thái nhiều hơn. Dưới đây là một số sự kiện chính yếu nhất:

Cuộc khởi nghĩa Lê Duy Mật- Lê Duy Chúc (1738-1770, vì cùng là con trai của Lê Dụ Tông nên trong Quắm tố mương gọi là Hoàng Mật- Hoàng Hai), mở đầu bằng sự kiện cướp Kinh thành, tiêu diệt thế lực chúa Trịnh, lập lại chế độ độc tôn của nhà Lê của một nhóm tôn thất và quan lại bất thành xảy ra vào cuối năm 1738. Lê Duy Mật-Lê Duy Chúc chạy thoát về vùng Cẩm Thủy trấn Thanh Hoá tiếp tục tập hợp lực lượng, giương cao ngọn cờ Phù Lê diệt Trịnh. Trong những năm 1739-1766, nghĩa quân của ông hoạt động mạnh ở Sơn Tây, Thái Nguyên và Thanh Hoá, Nghệ An với danh xưng Thiên Nam Đế tử, lập ra được nội phủ và ngoại phủ, chia thành 16 đồn ải ở vùng Thanh-Nghệ, khống chế cả phía nam trấn Hưng Hoá, bí mật liên lạc với chúa Nguyễn ở Đàng Trong.

Năm 1767, nghĩa quân rút sang Trấn Ninh, chúa Trịnh tung hàng vạn quân truy kích, bao vây. Cuối năm 1769, triều đình huy động lực lượng từ các trấn Nghệ An, Thanh Hoá, Hưng Hoá tiến đánh. “Đạo quân của Nghệ An do Bùi Thế Đạt chỉ huy tiến đánh theo đường Trà Lân. Nguyễn Phan thống lãnh đạo Thanh Hoa, Hoàng Đình Thể thống lãnh đạo quân của Hưng Hoá. Đây là những tướng giỏi của họ Trịnh, đều đã có kinh nghiệm trong những trận giáp mặt với nghĩa binh của Lê Duy Mật. Hai đạo quân Thanh, Nghệ do Bùi Thế Đạt và Nguyễn Phan chỉ huy bám sát sườn núi tấn công vào căn cứ Tương Ban (Mai Sơn-Hưng Hoá) và căn cứ Bạn Xung (Trấn Ninh, Nghệ An). Nghĩa quân Lê Duy Mật dựa vào địa thế hiểm yếu, núi cao rừng sâu chống cự quyết liệt nhưng cũng không giữ được hai căn cứ này. Quân Trịnh tiến sâu vào sát căn cứ Trịnh Quang, chia đặt doanh trại bao vây lâu dài. Quân Duy Mật cố thủ, quân Trịnh không tiến hơn được. Lúc này Hoàng Ngũ Phúc phải giở thủ đoạn mua chuộc dụ hàng Thế Thiều – một viên tướng đồng thời là con rể Lê Duy Mật đang ở trong thành. Thế Thiều cùng đồng bọn manh tâm phản bội, mở cửa thành ngoài cho quân Trịnh tiến vào. Chúng bắc thang trèo lên bắn vào trong thành, tiếng súng suốt ngày đêm không ngớt. Bị tấn công bất ngờ và dồn dập, nghĩa quân lâm vào tình trạng rối loạn, không thể cầm cự được lâu dài. Trong thế thua phẫn uất và tuyệt vọng, thủ lĩnh Lê Duy Mật cùng vợ con tự sát. Quân Trịnh thu gom vô số tài sản, voi ngựa, vũ khí của nghĩa quân. Cuộc khởi nghĩa Lê Duy Mật kéo dài 32 năm bị quân Trịnh đàn áp dứt diểm trong trận tấn công dữ dội vào căn cứ Trịnh Quang”[20].

Khởi nghĩa Hoàng Công Chất (1739-1769): thủ lĩnh của phong trào vốn quê ở Thư Trì, trấn Sơn Nam Hạ (sau này thuộc tỉnh Thái Bình), năm 1739 là một bộ phận của cuộc khởi nghĩa do Nguyễn Cừ lãnh đạo, nổ ra trên đất Hải Dương, sau rút về hoạt động ở Thanh Hoá cho đến năm 1751 thì rút lên vùng rừng núi Hưng Hoá.

Tại đây nghĩa quân đã liên kết với lực lượng của thủ lĩnh người Thái tên là Thành, dựa vào núi rừng hiểm trở để hoạt động với sự ủng hộ của đồng bào các dân tộc thiểu số. Tháng 6-1751, họ Trịnh cử Lê Đình Chân cùng Phan Cảnh lấy thêm quân ở vùng Tuyên Quang bao vây nghĩa quân. Thủ lĩnh Thành bị bắt và giết, Hoàng Công Chất rút lui lên châu Ninh Biên, đóng ở đông Mãnh Thiên (Lai Châu). Hoàng Công Chất chiếm cứ thành Tam Vạn và còn xây thêm một toà thành khác kiên cố hơn gọi là thành Chiềng Lê (nay thường gọi là Bản Phủ) ở xã Noọng Hẹt. Thành hiện nay vẫn còn di tích. Lực lượng nghĩa quân được bổ sung rất nhiều người thuộc thành phần dân tộc thiểu số như: người Lự, người Thái, người Lào[21].

Trong khoảng từ 1754 đến 1766, Hoàng Công Chất một mặt củng cố căn cứ ở Mường Thanh, một mặt mở rộng địa bàn hoạt động ra toàn vùng Tây Bắc và một phần Thượng Lào, uy hiếp miền sông Thao và miền trung du.

“Cuối năm 1767, nghĩa quân Hoàng Công Chất từ các căn cứ ở Tây Bắc tiến xuống chiếm châu Mộc, châu Mai rồi chia quân tiến sâu vào vùng thượng du và trung du Thanh Hoá. Lúc này lực lượng nghĩa quân đã có tới 2 vạn người, nghĩa quân chiếm các sách, động Quan Gia, Cổ Luỹ, Thiết úng, ái Chử và Bất Một thuộc Thanh Hoá; sau đó đánh úp huyện Phụng Hoá, châu Lang Chánh và chuẩn bị kế hoạch tấn công An Trường. Trước thế mạnh như vũ bão của quân khởi nghĩa, chính quyền họ Trịnh phải điều quân đội từ trung ương cùng quân bản bộ các vùng Hưng Hoá, Thanh Hoá hợp lực chống đỡ. Nghĩa quân Công Chất lại rút lui.

Mùa xuân năm 1768, chúa Trịnh Sâm giao cho Nguyễn Đình Huấn thống lãnh các đạo Thanh Hoa, Sơn Tây và Hưng Hoá, đem quân đánh Mường Thanh. Quân của Đình Huấn cùng hội với quân của Trấn thủ Hải Dương Phạm Ngô Cầu, Phan Lê Phiên và Nguyễn Xuân Huyên để hiệp đồng tác chiến. Đình Huấn trên đường đi, đóng quân ở Việt Sơn để chuẩn bị cho đủ lương thực, khí giới. Dân trong vùng tỏ rõ thái độ “bất hợp tác” bằng cách bỏ trốn, không chịu cung cấp lương thực, thực phẩm cho quân Trịnh. Đình Huấn thấy tình hình khó khăn, báo về phủ Chúa, Chúa Trịnh liền bổ Đoàn Nguyễn Thục lên thay. Cuối năm 1768, Hoàng Công Chất bị bệnh qua đời, con là Hoàng Công Toản tiếp tục chỉ huy nghĩa quân. Sau khi chuẩn bị đầy đủ lực lượng, lương thực, khí giới, đầu năm 1769, Đoàn Nguyễn Thục cùng Vũ Huy Đình, Nguyễn Trọng Hoành đốc thúc đại quân tiến vào đất Mường Thanh. Công Toản cố thủ ở Thẩm Cô và bố trí nghĩa quân mai phục những nơi hiểm yếu. Trước sức tấn công quá mạnh của quân Trịnh, các căn cứ của nghĩa quân lần lượt bị đánh tan. Công Toản chạy thoát, thành trì bị san phẳng. Quân Trịnh đã dập tắt được cuộc khởi nghĩa Hoàng Công Chất trên vùng đất biên cương vào năm Kỷ Sửu (1769)[22].

Quắm tố mương ghi chép về Lê Duy Mật với cách gọi Hoàng Mật- Hoàng Hai, về Hoàng Công Chất với cách gọi là Kinh Thiên Chất, Keo Chất, cho ta một cách nhìn khác như sau trong phần viết về Lê Duy Mật, Hoàng Công Chất chiếm Tây Bắc, bun Hiềng chiếm lại Mường Lò trong tay người Hỏ và người  Giằng.

Cùng với Quắm tố mương, Khâm định Việt sử thông giám cương mục  đã ghi lại nhiều sự kiện và diễn biến liên quan đến phong trào Lê Duy Mật – Hoàng Công Chất ở khu vực các châu mường Thái như sau:

– Năm 1752 (Cảnh Hưng, năm thứ 13), Xa Văn Ba ở châu Mộc tụ tập lực lượng nổi dậy cướp đồn Vạn Chan.

– Tháng 2/1768 (Cảnh Hưng, năm thứ 29, mùa xuân, tháng giêng), triều đình cử tướng Nguyễn Đình Huấn thống lĩnh các đạo Thanh Hoa, Sơn Tây, Hưng Hóa đánh Hoàng Công Chất ở vùng thập châu. Tháng 9 năm ấy, khởi phục cho Đoàn Nguyễn Thục giữ chức Giám quân các đạo Thanh Hoa, Sơn Tây và Hưng Hoá[23].

– Tháng 2/1769 (Cảnh Hưng, năm thứ 30, mùa xuân, tháng giêng). Thống lãnh Đoàn Nguyễn Thục mang quân đi đánh Thanh Châu, bình định được động Mãnh Thiên.

Trước đây, Nguyễn Đình Huấn vâng lệnh đi đánh Hoàng Công Chất, khi kéo quân đến Cổ Pháp, chần chừ không tiến quân, nhiều lần Trịnh Sâm sai người thúc giục, Đình Huấn bèn tiến quân đóng ở Việt Châu bắt dân cung cấp lương thực, dân đều trốn tránh, lùng bắt không được người nào, ngờ có quân mai phục, trong bụng càng sợ hãi, bèn bàn kế rút quân về. Bọn Phạm Ngô Cầu cũng phụ hoạ với lời bàn của Đình Huấn, Tán lý Vũ Huy Đĩnh không sao quyết đoán được, chỉ có Giám quân Đoàn Nguyễn Thục cố tranh cãi, cho là không nên rút quân.

Bọn Đình Huấn liền cho người phi ngựa đệ tờ khải nói: “Trong quân lương ăn không được kế tiếp, tiến thoái đều khó. Vả lại quân sĩ nhiều người mắc bệnh, xin cho thuốc thang cứu chữa”. Lúc ấy, Nguyễn Thục cũng làm tờ khải trình bày theo, nói rõ là Đình Huấn hiệu lệnh không thống nhất; khinh rẻ lấn át tướng hiệu: buông lỏng cho quân lính đi cướp bóc; chần chừ không chịu tiến quân; tất cả mười việc.

Đương đêm, Trịnh Sâm nhận được tờ khải của Đình Huấn, đã có ý không bằng lòng, cho triệu các quan trong Chính phủ vào bàn định, nghiêm khắc quở trách Đình Huấn. Tiếp đó lại thấy tờ khải của Nguyễn Thục, Trịnh Sâm nổi giận nói: “Ta vẫn biết Đình Huấn không thể dùng được, nay quả nhiên như thế”. Lập tức hạ lệnh triệu Đình Huấn về, mà bổ Nguyễn Thục kiêm giữ chức thống lãnh các đạo Sơn Tây, cầm quân thay Đình Huấn, lại đổi bổ Vũ Huy Định giữ chức Giám quân, Nguyễn Trọng Hoành giữ chức Tán lý.

Lúc ấy, Hoàng Công Chất đã chết, con là Công Toản tự xưng là Quốc công thống suất lực lượng vẫn chiếm cứ đất này. Nguyễn Thục sau khi đã thay làm tướng, quyết kế tiến đánh, cầm gươm ra lệnh cho tướng sĩ rằng:-Nếu người nào không theo mệnh lệnh, sẽ trông vào thanh kiếm này! Tướng sĩ không ai là không run sợ. Nguyễn Thục bèn tiến quân vào Thanh Châu, quân trẩy đến đâu không xâm phạm tơ hào gì của dân cả. Công Toản giữ ở Thẩm Cô để kháng cự lại, các nơi xung yếu đều có đặt quân mai phục. Nguyễn Thục sai toán quân nhanh nhẹn sắc bén tiến lên trước đánh úp, tiếp đó sai toán quân mạnh khoẻ theo đường tắt hợp sức cùng đánh, phá tan được quân địch. Công Toản chạy sang Vân Nam. Nguyễn Thục vào chiếm lấy thành, sai quan quân chia đường truy nã, bắt được quân nhu, khí giới và thóc lúa tích trữ không sao kể xiết, bàn san phẳng cả thành, rồi kéo quân trở về.

Sau bàn công đánh dẹp: Nguyễn Thục tuy có công tiến đánh, nhưng sau khi hạ được thành, không lập tức đuổi theo, để nghịch Toản chạy thoát được, nên chỉ được thăng hai bậc, trao cho chức tự khanh; Đình Huấn vì nhút nhát rút lui nên phải giáng chức và tước mất lộc binh dân. Còn các người khác đều căn cứ vào công hoặc tội, mà cho thăng chức hoặc truất giáng có từng bậc khác nhau[24].

– Tháng 2/1770 (Cảnh Hưng, năm thứ 31, mùa xuân, tháng giêng) Bùi Thế Đạt và Nguyễn Phan đánh phá được Lê Duy Mật ở thành Trình Quang và xứ Trình Ban (Mai Châu).

Duy Mật giữ lấy chỗ gò cao thành Trình Quang, dựa vào hang hốc núi non làm kiên cố. Được tin quân ba đạo kéo vào, Mật muốn cố chết giữ vững lấy thành, rồi cho toán quân lưu động lên ra đón đường chặn đánh làm cho quan quân mỏi mệt. Thế Đạt và Nguyễn Phan đốc suất quân hai đạo Thanh, Nghệ, bám sát sườn núi tiến vào, đánh phá ở các xứ Trình Ban và Bản Xung, nhiều lần được thắng trận, nhân đấy tiến sát đến ngoài gò cao thành Trình Quang, chia ra đặt doanh trại. Duy Mật cho quân đóng yên một nơi không hành động, hai viên tướng chưa biết thực hư thế nào không dám cho quân tiến thẳng vào. Gặp lúc ấy, Hoàng Ngũ Phúc chiêu dụ được mẹ tên Lại Thế Thiều là viên tướng của Duy Mật, Ngũ Phúc sai mụ này viết thư dụ dỗ Thế Thiều để làm nội ứng. Thế Thiều là con rể Duy Mật, khi nhận được thư của mẹ, bèn nhị tâm với Duy Mật, hắn ngầm khuyên đồ đảng là Lê Văn Bản mở cửa thành ngoài cho quan quân tiến vào. Khi quan quân đã vào, bèn bắc thang trèo lên bắn vào trong thành, tiếng súng suốt ngày đêm không ngớt. Duy Mật tự biết rằng đã vỡ lở ngay từ trong nhà rồi, liên tụ tập vợ con, rồi tung lửa đốt để tự chết cháy.

Bọn Thế Đạt vào thành, thu thập được khí giới, ngựa, voi và vàng lụa kể cả hàng vạn. Dùng thổ tù là Lư Cầm Uẩn, Lư Cầm Khâm làm Chánh xà và Phó xà để giữ đất ấy. Trấn Ninh hết thảy đều bình định được.

Sau bàn luận công đánh dẹp, gia phong Bùi Thế Đạt làm đại tư đồ, Nguyễn Phan làm thái tể, Hoàng Đình Thể làm thiếu bảo; còn tán lý, tham mưu, giám quân và tướng hiệu đều thăng thưởng có từng cấp bậc khác nhau.

Trước đây bàn định việc dùng quân đánh Trấn Ninh, các quan trong ngoài đều cho là khó, vì chỗ ấy vừa hiểm trở vừa xa xăm, chỉ một mình Trịnh Sâm đoán trước là tất thắng, cho nên mưu đồ đánh dẹp đều do Sâm vạch ra, thành thử cuối cùng mới có thể thu được toàn thắng. Nhưng cũng về việc thắng trận này mà mới sinh ra lòng thích đánh dẹp, khinh thường việc dùng binh lính[25].

Sau khi dẹp xong Hoàng Công Chất và Lê Duy Mật trên đất Hưng Hoá, tháng 6/1772 (Cảnh Hưng, năm thứ 33, mùa hạ, tháng 5), triều đình chấp nhận lời tâu bẫy của Lưu trấn thủ trấn Hưng Hoá cho bãi bỏ lệnh cấm dân biên trấn tàng trữ binh khí (trừ trấn Yên Quảng)[26].

– Tháng 3/1779 (Cảnh Hưng, năm thứ 40, mùa xuân, tháng 2), vua Cảnh Hưng ban sắc phong cho phụ đạo châu Mai Sơn là Bạc Cầm Qúy, cử làm Phòng ngự Thiêm sự ty Quân dân phòng ngự sứ.

Nguyên văn sắc phong như sau: “Sắc: Mai Sơn châu phụ đạo Cầm Nhân Quý vi dĩ thị phụng phiên thần, phụ đạo phá hữu tài nghệ, tài thượng tiến tiền sao dĩ tư quốc dụng. Đặc từ phòng ngự kiểm sự, chức Khả Vi Quả cảm tướng quân, quân dân phòng ngự sứ ty phòng ngự Kiểm sự. Hạ ban thử sắc. Cảnh Hưng tứ thập niên, nhị nguyệt, thập tam nhật” (Sắc ban cho phụ đạo châu Mai Sơn là Cầm Nhân Quý vốn có tài võ nghệ, lại dâng tiền để giúp vào chi dùng việc nước. Đặc phong chức Phòng ngự Thiêm sự ở ty Quân dân phong ngự sứ, hành Quả cảm tướng quân. Hạ ban. Nay sắc. Cảnh Hưng, năm thứ 40, tháng 2, ngày 13).

Hiện sắc phong này còn lưu giữ bằng chữ Hán và chữ Thái trên vách đá hang Thẩm Mu, xã Chiềng Mai, huyện Mai Sơn. Cầm Nhân Quý là một  nhân vật nổi tiếng trong số các chúa đất mường  Mụa. Ông có công giúp triều đình đánh giặc ở vùng Hưng Hoá, Tuyên Quang, Cao Bằng. Trong Quắm tố mương của Mai Sơn có ghi việc ông giúp vua Cảnh Hưng đánh nước Tụ tức miền Tụ Long hiện thuộc tỉnh Vân Nam Trung Quốc. Trong nhân dân, phổ biến những câu ca tụng ông như:

“Chúa đánh giặc Hồ, giúp đất Mường Kinh

Chúa đi đến tận vùng Đồng Văn, Bảo Lạc…”

Cầm Nhân Quý lúc đương thời gọi là án nha Cố hoặc pú chảu Cầm Chựa. Chúa là người rất gan dạ. Khi quân Hồ đánh kinh đô, nhà vua sai người lên điều các chúa Thái đem binh đánh giặc. Chúa vâng lệnh ngồi trên ngựa chiến đi đầu hàng quân, hai tay cầm hai thanh gươm dài hàng sải. Chúa mặc áo giáp của vua Bó cáp (một loại ma bay lơ lửng trên không), áo đâm chém không đứt, đạn bắn không thủng. Khi giáp trận, chúa đâm chém ba ngày, ba đêm không buông tay kiếm. Máu giặc vẫy vào người biến áo thành màu đỏ thẫm. Đến ngày thứ ba, giặc Hồ tan. chúa vẫn như điên, như loại, mặt rực đỏ, hai mắt trừng trừng, tay khư khư kiếm báu. Bộ hạ phải vực chúa xuống ngựa, mời chúa nghỉ ngơi. Nhà vua thấy chúa gan dạ phong cho chức Quả cảm Tướng quân.

Trở lại với Quắm tố mương, các sử liệu ghi lại những diễn biến diễn ra kể từ sau khi phong trào Hoàng Công Chất, Lê Duy Mật bị dập tắt ở địa phương khá đầy đủ, chủ yếu vẫn là những sự thay ngôi đổi chủ diễn ra ở các châu mường, mối quan hệ của các chúa mường với những vị vua cuối cùng của nhà Lê và cả các vua thời Sơn Tây. Ngoài ra, Quắm tố mương còn giành ra một số trang viết về các tạo Mường Muổi, Mường La, Mường Mụa tranh nhau đất, cuối cùng Mường La vẫn làm chủ.

Như vậy, trong suốt 8 thế kỷ, trải qua các triều Lý – Trần – Lê những chính sách về dân tộc ngày một hoàn thiện, nhanh chóng chuyển từ sự ràng buộc bằng hôn nhân, sang sử dụng quyền lực đối với mọi ý đồ cát cứ, để hướng mục tiêu thống nhất đất nước, củng cố nền độc lập dân tộc. Với tất cả các mặt tiến bộ, cũng như những mặt trái của vấn đề, lịch sử có lúc tiến lên, có lúc vòng lại, đe doạ nhiều đến khối đoàn kết và sức mạnh của dân tộc. Đó là thực tế và là những bài học lịch sử sâu sắc để lại cho đến tận ngày nay.

2 . SƠN LA THỜI NGUYỄN

  1. Nới lỏng sức dân

Sau khi lật đổ triều đại Tây Sơn, tháng 8/1802 Nguyễn Ánh lên ngôi, lấy hiệu là Gia Long, lập tức đối diện với tình hình hết sức rối ren ở Đàng Ngoài, khi đó gọi là Bắc Hà: Vấp phải sự chống đối mãnh liệt của các cựu thần và dòng dõi nhà Lê. Tại vùng biên giới phía bắc nhà Thanh và các thế lực địa phương Trung Hoa không ngừng nhòm ngó.

Để bảo toàn nền thống trị của họ tộc, Gia Long và tiếp theo là các đời vua Minh Mệnh (1820-1840), Thiệu Trị (1841-1847), Tự Đức (1848-1883) đã  tìm mọi biện pháp để củng cố, thâu tóm quyền hành về chính quyền trung ương. Đối với phạm vi một trấn, sau là một tỉnh như Hưng Hoá điều đó được thể hiện khá đầy đủ trong các đường hướng, chủ đích của triều đình:

Ý tưởng đầu tiên của Gia Long được đem thực thi là, ngoài khu vực các đơn vị hành chính các chúa Nguyễn đã từng cai trị sẽ có hai khu vực hành chính lớn là Bắc Thành bao gồm toàn bộ đất đai do vua Lê – chúa Trịnh đã từng cai quản và Gia Định Thành, vùng đất mới phía Nam.

 – Soạn xong bộ luật Gia Long vào tháng 8/1812 gồm 22 quyển, 398 điều; ban hành luật Gia Long dưới tên là Quốc triều luật lệ vào tháng 8/1815 với tư tưởng chủ đạo là bảo vệ uy quyền của nhà vua, khôi phục và củng cố trật tự xã hội, trấn áp mọi hành động cũng như ý định phản kháng của dân chúng.

– Ban hành phép cấm người buôn bán nước Thanh kết hôn với phụ nữ trong nước vào tháng 11/1829.

– Tháng 11/1828, nhân có lời tâu bầy xin đổi lối quần áo từ Thanh Nghệ ra Bắc Thành theo cách ăn mặc của người miền trong, tức là từ sông Gianh trở vào.

– Đối với vấn đề thuốc phiện, liên tiếp trong tháng 8/1820, 4/1824, 5/1831, 1/1834, 12/1835, 11/1839 thời Minh Mệnh và từ năm 1852 đến 1856 thời Tự Đức, triều đình ban lệnh cấm hút, chế biến, mua bán, tàng trữ nhưng đến cuối năm 1864 phải chấp nhận cho lưu thông nhưng nhà nước sẽ đánh thuế rất nặng (năm 1865 bắt đầu thu thuế, đã được 382.200 quan – trong đó Hưng Hoá thu được 1.000 quan).

– Tháng 10/1835, triều đình ra lệnh cấm người miền núi tự chế và sử dụng súng tự chế (điểu sang – còn gọi là điểu thương) nhân Minh Mệnh có mật chỉ gửi cho Viên Cơ mật.

– Để giữ yên lòng dân, triều đình đã chú trọng đến việc khoan giảm thuế má, chẩn cấp thóc gạo, khuyến khích sản xuất nông nghiệp, khẩn hoang lập đồn điền, chiêu tập dân lưu tán, cung cấp nông cụ và thóc giống cho dân ở những nơi bị binh đao, loạn lạc tàn phá dữ dội.

Tháng 2/1832, Minh Mệnh cho ban hành lệ cày tịch điền và chăn tằm ở các địa phương.

Tháng 1/1835, cho đặc cách hoãn thuế 1 năm cho dân chúng  trang Đông Quang, huyện Trấn Yên vì bị cướp bóc và nạn binh hoà thời gian qua tàn phá.

Tháng 2/1835, được tin kho thóc của tỉnh Hưng Hoá bị hao hụt nhiều, Minh Mệnh sai tỉnh Sơn Tây chở đến bổ sung 20.000 hộc thóc; lại cho đặt thêm 2 vệ binh Nam Kỳ ở tỉnh thành Hưng Hoá.

– Tháng 9/1835, để giữ yên và vỗ về lòng dân, Minh Mệnh sai ban Thông dụ về việc đã dẹp yên các cuộc nổi dậy ở Nam Kỳ và Bắc Kỳ.

– Đầu năm 1836 việc tranh chấp đất đai giữa Trình Cố của Thanh Hoá với Mộc Châu của Hưng Hoá kéo dài hơn 30 năm mới tạm thời ổn thoả.

Từ tháng 8/1804, năm Gia Long thứ 3, châu Trình Cố và Mộc Châu đã kiện tụng tranh nhau động Hàm Man. Vua sai các quan Bắc Thành và trấn Hưng Hoá, trấn Thanh Hoa đến hội xét. Mộc Châu không đưa được chứng cớ xác đáng, lời lẽ lúng túng nên các quan thành và trấn bèn lấy động ấy trả cho Trình Cố. Đến tháng 11/1824, năm Minh Mệnh thứ 5, hai châu lại tranh chiếm 2 động Mộc Thượng và Cẩm Nang vốn thuộc Mộc Châu, kiện nhau mãi không xong, thuế khoá không chịu nộp. Quan Bắc Thành đem việc tâu lên, vua sai bộ Hinh đem việc ấy ra bàn bạc rồi cuối cung xin lấy sông Mã làm phân giới, phía nam sông thuộc Thanh Hoa, phía bắc sông thuộc Hưng Hoá mà 2 động ấy lại ở về phía bắc sông Mã nên xử cho về địa giới Mộc Châu để chấm dứt cuộc tranh giành. Minh Mệnh theo lời nghị bàn, sai trấn thần Thanh Hoa lấy diều họa phúc hiểu bảo châu Trình Cố và tha tội cho.

Đến đây, vấn đề 2 động Mộc Thượng, Cẩm Nang lại trở thành vấn đề lớn giữa Mộc Châu và Trình Cố, dù trước đây đã giải quyết. Hai động này có 18 bản (người Thái gọi thôn xóm là bản), ở phía bắc sông Mã đất thuộc Mộc Châu mà dân Trình Cố từ lâu nay vẫn cày cấy và ở đã thành sản nghiệp. Bản án trước xử lấy sông Mã làm địa giới, cho đất nó thuộc về Mộc Châu; Trình Cố cuối cùng vẫn không phục tình. Lúc này, vua sai Tổng đốc Sơn-Hưng-Tuyên Lê Văn Đức tư đi thương nghị với quyền Tổng đốc Thanh Hoa Phạm Văn Điển, sai người hội khám, bèn chọn uỷ thự Tri phủ Hà Trung là Ngô Văn ước và Tri huyện Tam Nông là Nguyễn Sùng Nguyên đến nơi, lấy tình, lý hiểu dụ chỉ bảo. Mộc Châu xin nhượng cho Trình Cố, liền dựng mốc phân minh ở nơi ấy. (từ Luân Sơn đến Biều Sơn đều dựng bia làm mốc ở chân dãy núi về phía nam: trở về bắc là giới hạn Mộc Châu, trở về nam là giới hạn huyện Trình Cố. Bia khắc 6 chữ Giáp giới Mộc Châu-Trình Cố. Rồi làm sớ tâu lên.

Vua nói: “Hai châu, huyện này vì tranh nhau địa giới, gây nên kiện tụng lâu năm. Nay phái viên 2 tỉnh khéo hiểu thị để họ nhường nhau, không tranh kiện, đổi được thói Man Lạo, làm  thói nhường nhịn nhau như người đất Ngu, đất Nhuế thực đáng khen. Vậy thưởng cho Phạm Văn Điển, Lê Văn Đức đều gia 1 cấp. Chuẩn cho Ngô Văn ước, Nguyễn Sùng Nguyên (Sùng Nguyên đã có Chỉ thăng thự Lại khoa Cấp sự trung) được thực thụ ngay. Thưởng chung bọn biền binh, lại dịch và thông ngôn là những người tuỳ phái 100 quan tiền.

Ngoài việc tranh chấp với Mộc Châu, Trình Cố còn tranh chấp dân Mán (Dao) Sầm Bản thuộc châu Ninh Biên của Hưng Hoá. Tháng 4/1831, Minh Mệnh năm thứ 12, nhà vua sai Tổng trấn Bắc Thành và trấn quan Thanh Hoa hội khám. Khi án tâu lên, cũng xin lấy sông Mã làm giới hạn với phía nam sông thuộc Thanh Hoá, phía bắc sông thuộc Hưng Hoá. Với cách phân chia này Mán Sầm Bản gần Trình Cố mà xa Ninh Viễn nên đổi lệ cho lệ thuộc vào Trình Cố. Minh Mệnh chuẩn y.

– Việc cấp binh lương cho binh lính đóng giữ tại các đồn trên đất Hưng Hoá và việc chống gian lận khi thu tô thóc của dân được triều đình rất chú trọng.

Năm 1838, Hộ phủ Hưng Hoá là Ngô Dưỡng Cáo dâng tập thỉnh an nói: 12 đồn ở trong tỉnh hạt là Bảo Thắng, Phong Thu, Ninh Biên, Bảo Nghĩa, Lô Khê, Trấn Hà, Đông Quang, Bách Lẫm, Quỳnh Lâm, Vạn Bờ, Bằng La, Thượng Hạ lộ, trong đó lính ở đồn Quỳnh Lâm theo lệ do tỉnh phái đến đóng giữ, còn các đồn khác, hoặc là thủ hạ, hoặc là thổ binh từ 20, 30 đến 70 người không giống nhau, từ trước đến nay, chỉ trình bày tổng số, thường khi có phái điểm, không khỏi sự đội tên mạo nhận, xin uỷ viên tra xét, có người trá mạo và suy yếu thì thải bớt đi. Đồn nào theo lệ được chi lương, nên đình cấp cho đỡ tốn. Lại xét ngoài các đồn sở, ven núi bên động, còn nhiều đất bỏ không, có thể trồng cấy được, nên sức cho khai khẩn để làm ruộng lương.

Vua chuẩn cho theo bộ Binh bàn: Đồn nào quan yếu nhất thì số lính lấy 50 người làm hạn, quan yếu vừa thì 30 người, không quan yếu thì 20 người, đến kỳ tháng 4 kê khai rõ họ, tên, tuổi, quê quán, làm sổ kính đệ lên. Lính mộ thì thường xuyên canh giữ, lính Thổ thì mỗi năm một lần thay đổi, nếu có ai già yếu đau ốm, viên quản đồn bẩm báo lên cho thải ra điền vào, bỏ tên trong sổ, không phải phái người xét lại.

Đối với việc thu tô, nhằm tránh những thủ đoạn ăn chặn thóc của dân tựu trung như một việc thử thóc, lệ trước mỗi thăng thóc lấy 2 thược (đơn vị đo lường khi ấy) thóc nổi làm tiêu chuẩn, trẫm đã lượng đổi làm 3 thược, sau lại gia đến 4 thược, đó là muốn cho tiểu dân được dễ dàng việc nộp thuế. Nhưng triều đình dựng ra phép tuy là hay mà mánh khoé của bọn gian hoạt không cùng. Tóm lại, do quan địa phương không chịu tận tâm về việc dân để cho bọn nha lại, kẻ giữ kho được giở trò khôn khéo kiếm lợi riêng. Hễ có tiền đút lót thì thóc dù nổi quá lệ cũng thu cho ngay; không tiền thì dù thóc có sạch, dù tốt cũng không khỏi bị bác bỏ. Chính vì vậy triều đình đã phải có những quy định chặt chẽ nhằm loại trừ tệ nạn này.

– Chăm lo đến dân lưu tán, không có ruộng đất.

Số là sau khi đi kinh lý tìm hiểu về dân tình trong địa hạt, tháng 2/1839, Hộ phủ Hưng Hoá Ngụy Khắc Tuần dâng tập thỉnh ăn nói: “Một dải Phù Hoa, Đà Bắc, Mộc Châu, Yên Châu, thuộc hạt, 2 bờ tả, hữu sông Đà, nguyên có nhiều thổ dân Thạch Bi tỉnh Ninh Bình ở tản, từ trước đến nay không biên vào sổ, xin kiểm xét số người, ít thì cho thuộc vào sở tại, nhiều thì lập thành xã thôn khác, biên vào sổ bắt đầu thu thuế, cho có thống trị”.

Vua bảo rằng: “Nay nên chuyển sức các viên Tri châu, phàm thổ dân ở Thạch Bi đến ngụ ở bờ sông, thuộc phận châu nào, số nhân khẩu từ 19 người trở xuống, sáp nhập vào thổ dân sở tại; từ 20 người trở lên, cho biệt lập thành xã thôn, để dần dần đổi thói người Thổ theo thói người Kinh, rồi chọn đặt Lý trưởng, lệ thuộc vào viên Tri châu quản trị, bắt đầu thu thuế từ năm nay. Quan tỉnh ấy tìm xét ra số đinh cộng trên 360 người, tâu xin theo dụ làm việc”. Vua y cho.

– Chú trọng việc cấp gạo cho dân đói, củng cố phòng bị đồn lũy để chống phỉ từ nước Thanh vì từ cuối năm 1872, dân chúng huyện Văn Chấn thuộc tỉnh Hưng Hoá đói to. Triều đình sai trích thóc ở kho Nghĩa thương để chẩn cấp cho dân. Lại cho giảm 2 phần 10 số thuế các sở quan tân của Hưng Hoá vì bị Thanh phỉ quấy nhiễu. Đối với các trại quân ở Tuyên Quang, Hưng Hoá được phép dựng từ 3 đến 5 lớp rào gỗ. Các thuyền buôn không được mang muối, gạo, thuốc phiện và súng ống đến 2 tỉnh này vì sợ Thanh phỉ được tiếp ứng. Tán lý quân thứ Sơn Hưng Tuyên là Tôn Thất Thuyết được sung chức Thám tán, có quyền điều động toàn bộ Đề đốc, Tán lý trong khu vực. Tháng 8/1873, cấp thóc gạo cho dân Trấn Yên và thổ dõng đóng ở châu Văn Bàn, huyện Thanh Xuyên vì đang lâm vào thiếu đói.

  1. Xây dựng lực lượng vũ trang tại chỗ

– Năm 1822, dưới triều Minh Mệnh thành trấn Hưng Hoá được xây đắp lại bằng đá ong. Nguyên dưới triều Lê, tỉnh trấn Hưng Hoá được đặt ở động Bách Lẫm huyện Trấn Yên rồi dời đến sách Phương Giao huyện Thanh Xuyên. Vì khách buôn nước ngoài không thiện tiện vào nội trấn nên triều đình phải đóng nhờ ở xã Trúc Phê (khi ấy gọi là Trúc Hoa) huyện Tam Nông, trấn Sơn Tây. Triều Nguyễn, thời Gia Long, trấn thành vẫn ở đây nhưng chỉ được đắp bằng đất.

Theo Đại Nam thực lục – Chính biên (Đệ nhị kỷ Q.XIII) thì, tháng 2 năm Nhâm Ngọ, Minh Mệnh thứ 3, đắp thành trấn Hưng Hoá. Thành ở Trúc Phê (tên xã thuộc huyện Tam Nông) khuôn khổ cũ thấp hẹp. Trước vua đi Bắc Tuần, sai viên Giám thành đến ngắm địa thế để mở rộng thêm. Đến nay sai Thống quản thập cờ Trung quân là Nguyễn Khắc Tuấn trông coi 1500 người các quân thuộc Bắc Thành đến ứng dịch. Nhà dân và đình miếu phía ngoài thành, chỗ nào cần dời đi nơi khác thì cấp tiền. Khi thành đắp xong, viên Giám tu và Chuyên biện đều được thưởng tiền bổng và kỷ lục[27].

Trấn thành Hưng Hoá chu vi hơn 360 trượng, cao 1 trượng 2 thước 1 tấc; hào rộng 2 trượng 2 thước, sau 6 thước 9 tấc, mở 4 cửa.

– Tháng 8/1833, thự Tuần phủ Hưng Hoá là Ngô Huy Tuấn tâu về triều đình: “Tỉnh hạt có 16 châu, đất rất rộng rãi, huống chi ngoài thì giáp địa giới nhà Thanh, trong thì lũ giặc còn có kẻ ẩn nấp chưa bắt hết được. Xin cho thổ mục đặt làm thổ Tri huyện và Lại mục ở huyện Thanh Xuyên và châu Văn Bàn. Dân huyện Tam Nông thuộc tỉnh hạt, trước bị thổ phỉ quấy rối làm hại. Vậy xin người nào bị hại nặng, xin tha cho thuế mùa hạ, người nào bị hại nhẹ, xin hoãn việc thu thuế”. Minh Mệnh theo như lời tâu xin.

Trong tháng, triều đình còn trang bị cho tỉnh thanh Hưng Hoá 2 khẩu Đại luân xa thảo nghịch tướng quân bằng đồng, 4 khẩu Tích sơn bằng đồng, 16 khẩu Hồng y bằng gang. Lại chia cấp 500 đồng tiền Phi long hạng lớn, 100 đồng tiền Phi long hạng nhỏ cất vào trong kho phòng khi dùng đến. Thự Tuần phủ Ngô Huy Tuấn tâu xin: “Số các hạng súng bằng gang hoặc bắng sắt mà nhà nước cấp cho bản tỉnh khá nhiều nhưng không có lính pháo thủ để coi giữ. Vậy xin mộ dân ngoại tỉnh từ Quảng Bình trở vào Nam lấy 50 người am hiểu nghề bắn, đặt làm đội pháo thủ, đặt dưới quyền điều khiển của viên Thành thủ úy”. Vua chuẩn y.

Trong năm ấy, cho xây dựng đàn Xã tắc và miếu Hội đồng ở phía bắc tỉnh thành Hưng Hoá.

– Tháng 3/1834, Ngô Huy Tuấn tâu về triều đình: -Tỉnh hạt Hưng Hoá xa rộng, tiếp giáp với Ninh Bình và Tuyên Quang, còn nhiều những kẻ can phạm ẩn nấp, nhằm những chỗ sơ hở mà nhòm ngó. Nay ở Ninh Biên vừa cấp báo mà số lính ở tỉnh còn ít. Vậy xin mộ dân ngoại tịch bất cứ người Nam hay người Bắc dồn cho đủ 5 đội, đặt làm cơ thứ 2 của Hưng Hoá để điều khiển lúc lâm sự.

Minh Mệnh cho rằng, đương lúc có việc, cần sai phái, cho phép được quyền biến thi hành lời đã thỉnh cầu. Lại cấp cho Hưng Hoá 20 cây súng mã sang hạng ngắn và 2000 phát thuốc đạn để cấp theo thớt voi (mỗi thớt voi được 2 cây súng, 10 viên đá lửa, 50 phát thuốc đạn). Truyền sai Hà Nội chuyển vận đến phát cho tỉnh 2000 cân thuốc súng. Tháng sau, triều đình đổi định việc đặt súng lớn ở tỉnh thành Hưng Hoá, Tuyên Quang, Thái Nguyên đều được 1 cỗ súng đồng Đại luân xa, 1 cỗ súng đồng Phách sơn, 2 cỗ súng gang Phách sơn, 8 cỗ súng gang Hồng y, 10 cỗ súng đồng Quá sơn. Lại cấp thêm 2.000 cân diêm tiêu, 400 cân lưu huỳnh. Các hạng biền binh đương ban được xem xét để tiếp tục cấp  tiền, gạo theo lệ. Đến kỳ tháng 7, cho phép Tuần phủ, Bố chánh, án sát tuỳ theo công việc trong tỉnh nhiều hay ít mà xin lưu cả hay chia ban các hạng biền binh hiện có.

– Hàng loạt lỵ sở của huyện, châu cũng được lần lượt xây dựng như lỵ sở huyện Yên Lập đặt tại Vân Bản (1835), lỵ sở châu Lai Châu ở xã Hoài Lai (1837), lỵ sở châu Phù Hoa tại xã Quang Huy, lỵ sở châu Mai Châu tại xã Tân Mai, lỵ sở châu Văn Chấn tại xã Đại Lịch (1838), lỵ sở châu Mộc Châu tại xã Quy Hướng (1845), sau đó rời về xã Mộc Hạ (1869).

– Tháng 11/1858, Tự Đức cho rằng phủ Điện Biên là nơi địa đầu quan yếu mà đất nhiều khí độc, lính thú ở lâu không tiện, bèn theo lời bàn của  Nguyễn Bá Nghi trước đây xin cho lính dõng rút về, cho phép lập trai đinh trong châu Ninh Biên thành cơ đội, giao cho viên trú phòng của phủ Điện Biên quản lĩnh và chia phái để canh giữ. Đến tháng 6/1867, Tự Đức lại cho 4 huyện, châu thuộc 2 tỉnh Hưng Hoá, Tuyên Quang lập cơ thổ dõng (châu Văn Chấn ở Hưng Hoá trước giản binh có 60 người, rút về sổ dân, trích lấy thổ dõng 500 người; 3 huyện Mai Châu thuộc Hưng Hoá, Hàm Yên và Chiêm Hoá thuộc Tuyên Quang trước giản binh có 83 người, rút về chọn lấy thổ dõng 1000 người, đặt người cai quản, khi có việc thì triệu ra, cấp lương miễn thuế ở làng, lúc không có việc thì cho về làm  ruộng, mỗi năm cứ tháng 2 thì điểm duyệt 1 lần). Tháng 11/1868, Tự Đức lại cho chọn dồn quân khỏe mạnh ở Hưng Hoá (2 huyện Trấn Yên, Yên Lập mỗi huyện 4 đội, mỗi đội 40 người, khi xong việc thì cho về).

Như vậy, có thể xem manh nha của lực lượng dân binh – tức thổ dõng ở Hưng Hoá xuất hiện từ tháng 11/1858, hoàn thiện vào 10 năm sau đó. Về vấn đề này, Cầm Trọng trong Người Thái ở Tây Bắc Việt Nam cung cấp cho ta nhiều tài liệu quý, nhưng nguyên do và thời điểm ra đời của thổ dõng thì còn khá mông lung:

“Đến thế kỷ XIX, dươi thời Nguyễn, ở các châu mường Thái mới xuất hiện tên “thổ dõng” (lính dõng người bản địa). Căn cứ vào lời dụ của Tự Đức phát năm 1871 thì do quân lính của triều đình cử đến với những quan võ ngại khổ, ngại khó nhút nhát chỉ huy: “Giặc đến sợ không dám tiến dánh, mặc cho giặc tự do đốt nhà cướp của làm hại dân địa phương. Khi giặc cướp chán, no nê đến lúc rút đi rồi mới đuổi theo sau lấy mạo là đi tiêu diệt tăng số chém bắn giặc chết lên để nhận làm công mình, lấy thưởng…”. Do khó khăn đó cho nên Tự Đức đã cho các thổ tù lập ra thổ dõng để giữ gìn trật tự an ninh ở địa phương. Đến đời Đồng Khánh vào lúc những tên thực dân Pháp đầu tiên đặt chân tới xâm lược các châu mường ở Tây Bắc thì số thổ dõng ở một số châu mường được ghi lại như sau:

– Châu Sơn La                                           98 người

– Châu Mai Sơn                                        49 người

– Châu Phù Yên                                       182 người

– Châu Ninh Biên (Điện Biên)              184 người

– Châu Thuận                                            98 người     

– Châu Tuần Giáo                                              50 người

– Châu Lai                                                             50 người

– Châu Quỳnh Nhai                                            48 người

                                                   ________________

                                                      Cộng:            759 người[28].

Xưa người Thái chưa có những loại lính thường trực như kiểu thổ dõng nên không có tên gọi. Đến thời Nguyễn mới có thổ dõng nên người Thái cũng gọi là lính doỏng (lĩnh dõng). Trước khi xuất hiện tên này, người Thái gọi những đoàn quân chinh chiến của mình là côn với ý nghĩa là đoàn người xếp thành hàng dài nối nhau ra trận. Nó là từ đồng nghĩa với từ cảy côn, để chỉ số người kéo nhau dàn thành hàng dài cùng đi về phía trước. Như  vậy từ côn chỉ lính mới có sau này.

Số lính dõng ở các châu mường đều dưới quyền chỉ huy trực tiếp của các chẩu mường. Thời đó các chẩu mường thường được triều đình phong cho những chức về quân sự như Bạc Cầm Ten (Tiên) ở Thuận Châu là Đội bẩy, Cầm Lả ở Mường La là Đội năm, Cầm Văn Thanh ở Mai Sơn là Suất đội, Cầm Ngọc Hánh ở Mường Lò là Hiệp quản Phó đề đốc …”[29].

Phạm Thận Duật Toàn tập Sđd, tr.144-145 cho rằng: “Đầu đời Lê, quân đội đóng trên địa bàn châu huyện như sau:

–  Ở huyện Thanh Xuyên                                    gọi là đội Thắng Nhất

–  châu Mộc                                         gọi là đội Tiệp Nhất

–  châu Thuận                                      gọi là đội Hùng Nhất

–  châu Thủy Vĩ                                               gọi là đội Ninh Nhất

–  châu Đà Bắc                                                gọi là đội Tiệp Tiền

–    châu Quỳnh Nhai                           gọi là đội Hùng Tiền

–  châu Mai                                          gọi là đội Thắng Tiền

–  châu Sơn La                                     gọi là đội Dũng Tiền

–  châu Mai Sơn                                              gọi là đội Dũng Hậu

–   châu Chiêu Tấn                                          gọi là đội Ninh Tiền

–  châu Lai                                           gọi là đội Ninh Hậu

      Còn quân hiệu ở các châu huyện: Việt, Tuần Giáo, Ninh Biên, Văn Bàn, Luân, Yên chưa rõ.

 Cảnh binh ở Văn Chấn                         10 tên

– Thanh Sơn, Thanh Thủy hơn              40 tên

– Trấn Yên                                                              6 tên

– Tam Nông                                                          40 tên

 Cộng lại thành 4 đội

 Lại có 10 đội vệ binh, 3 đội lính thú ở Sơn Tây, giữ điện và tuần thành 1 đội, giữ đồn Phong Thu 50 tên, giữ đồn Bảo Thắng 30 tên, giữ đồn Nghĩa Bảo hơn 10 tên, giữ đồn Vạn Pha 30 tên. Các đội Nông Điếm, Nội Điếm cũng có tên riêng, điếm phu 19 tên. Lại có lính thổ dõng ở phủ Điện Biên. Năm Thiệu Trị nguyên niên [1841], châu Tuần Giáo 10 tên, châu Thuận 100 tên, châu Lai 40 tên. Gồm 200 tên.

Năm Tự Đức thứ 4 trở về sau, lần lượt tinh giảm đi: thổ dũng ở Tuần Giáo còn 10 tên, châu Thuận 13 tên, châu Lai 10 tên, Ninh Biên 10 tên… Cộng 60 tên.

Về lính lệ các châu huyện, chỉ có Tam Nông và Ninh Biên 30 tên, còn các châu huyện khác mỗi nơi chỉ có 20 tên.

Thổ binh ở tổng Cao Phong, huyện Thanh Thuỷ rất thiện xạ, từ đời Lê về sau, hễ có việc ở biên giới, nhiều người đắc dụng. Nay tổng ấy đã chia về huyện Bất Bạt thuộc Sơn Tây.

Vệ binh, nguyên trước có 2 vệ, năm Tự Đức thứ 7, vì quân ấy phần nhiều căn cước không rõ ràng, nên giảm bớt 1 vệ, còn 7 đội người Nam, 3 đội người Bắc họp thành một vệ. Lính thú vùng núi vốn có 300 tên, năm Tự Đức thứ 17 cũng giảm còn một nửa.

– Đầu năm 1878, nhân tiết xuân, Tự Đức xuống chiếu ban bố cho dân Hưng Hoá và các hạt vừa trải qua binh lửa, lụt lội sự gia ân cứu giúp của triều đình. Các thổ Tri phủ, Tri châu, Thổ ty, Thổ mục của Hưng Hóa và một số hạt khác đều được thưởng kim tiền có thứ bậc. Tuần phủ Hưng Hoá là Nguyễn Huy Kỷ tâu bầy, ngoài việc cấp tuất cho binh đinh chết trận, những người hy sinh mà chưa có vợ con thì số tiền tuất ấy xin cho làm chay và tế một tuần để thoả vong linh của họ.

Trước Tự Đức muốn mộ dân dời đến biên giới để cho thượng du được vững mạnh, đã sức cho các quan tỉnh: nơi nào nguyên có dân ở và ruộng đất đã cày cấy nộp thuế mà trốn đi bỏ hoang, thì phải chiêu dụ về ngay để ở và cày cấy, nơi nào nguyên chưa ở và cày cấy, ruộng đất bỏ hoang, thì lần lượt mộ dân để khai khẩn, nếu có thiếu vốn thì Nhà nước cấp vốn cho, đợi 5 năm nộp một nửa, cho miễn một nửa, ruộng đất đều làm nghiệp riêng đời đời, 10 năm mới bắt đầu thu thuế. Đến tháng 4/1879 lại dụ rằng: Trong nước có phên che ở ngoài, cũng như người có 4 chân tay, nhà có cửa ngoài, 4 chân tay mạnh, cửa ngoài vững chắc, rồi sau mới có thể giữ được bên trong mà ngăn được kẻ quấy rối ở bên ngoài. Nước ta dọc theo biên giới, thượng du các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Hưng Hoá, Tuyên Quang, Thái Nguyên, địa thế dài rộng, ruộng đều cày cấy được, đất đều ở được, lại có mối lợi về núi rừng. Trẫm thường ngày đêm lo nghĩ, chính sách mộ dân khẩn điền là việc cần phòng giữ biên giới ngày nay. Nay chuẩn cho từ tỉnh Thanh, tỉnh Nghệ trở ra Bắc, bọn Đốc, Phủ, Bố, án, Đề, Lãnh cho đến quan lại các phủ, huyện, đều theo lời Dụ bảo, hoặc chính mình tự đương, hoặc khuyến xuất chiêu mộ.

– Thống đốc Hoàng Tá Viêm cho rằng: Thượng du Hưng Hoá địa thế rộng rãi, rừng đồi nhiều ngả, dễ để cho bọn xấu đến được chỗ hiểm chọn nơi rậm rạp. Nếu không có một phen kinh lý, để làm nơi bỏ hoang, là giúp cho kẻ xấu. Xin đặt nha Sơn phòng, chọn phái viên thuộc chuyên làm công việc đồn điền khẩn hoang. Sức cho các lính mộ, đều đến nơi hoang rậm tuỳ sức khai khẩn, rồi đem nơi liên lạc với nhau cứ từ 50 đến 100 suất đinh lập làm 1 xóm, 2 xóm hoặc 8-9 xóm (suất đinh phải được trên dưới 500 người) lập làm 1 làng, sổ sách ghi chép ở huyện, châu sở tại, ngõ hầu được người họp nhiều, đất mở rộng, và thanh thế lừng lẫy. Đủ hạn, chiểu lệ thưởng phạt chuẩn cho theo nghĩ mà làm. Còn Sơn phòng sứ ấy, Hoàng Tá Viêm đã lấy Tế tửu Quốc tử giám Nguyễn Quang Bích xin cho sung vào, vua y cho. (Nha Sơn phòng Hưng Hoá được đặt ở phía hữu đồn Thục Luyện, huyện hạt Thanh Sơn, công việc cũng hơi giống như Sơn phòng tỉnh Sơn Tây).

Thống đốc Hoàng Tá Viêm lại dâng sớ về việc trù nghĩ việc phòng giữ biên giới và công việc xếp đặt về sau 7 điều (1 điều về trù nghĩ biên phòng, tỉnh hạt Hưng Hoá cắt lấy hơn 10 phủ, huyện, châu ở thượng du đặt thêm một tỉnh, đặt thêm quan lại, lương cấp cho binh lính, để quân côn đồ nước Thanh không được chiếm cứ làm sào huyệt gần; 6 điều về công việc xếp đặt về sau (một là sửa sang đồn luỹ, để cầm phòng cho nghiêm; hai là kinh lý châu, huyện để được tụ họp mở mang; ba là giúp đỡ dân ở châu; bốn là khen thưởng khuyến khích người tài giỏi; năm là yên ủi người bị giặc bắt theo; sáu là sắp xếp chỗ cho đứa ra thú).

  1. Đánh dẹp Thanh phỉ

 Tháng 4/1875, Hoàng Tá Viêm được giao thống quản các đạo quân tiến đánh Hoàng Sùng Anh. Dinh của Triệu Đạo đón đầu đánh xuống, quân của Lưu Vĩnh Phúc từ dưới đánh lên. Binh thuyền từ Sơn Tây, lực lượng của Thổ mục người Mèo đồng thời cùng đánh. Lưu Vĩnh Phúc tự mình đem quân đánh vào sào huyệt của Hoàng Sùng Anh ở Bắc Pha, Bản Quả thuộc châu Phù Yên tỉnh Hưng Hoá. Hoàng Sùng Anh đem tàn quân chạy xuống làng Châu Thượng, phủ Vĩnh Tường, tỉnh Sơn Tây thì rơi vào tay Ông ích Khiêm và Tôn Thất Thuyết[30]. Ngay sau đó, triều đình sai Tuần phủ Hưng Hoá là Nguyễn Huy Kỷ và Quan quân thứ Nguyễn Văn Giáo chia nhau đến Thập Châu để ngăn tàn quân Cờ vàng đang tràn đến đấy. Lại cho sửa lại hai đồn Trấn Hà, Quán Ty vốn là những nơi quan yếu gần đây thường bị Thanh phỉ chiếm giữ, tàn phá.

 Căn cứ vào sự thiệt hại, mất mát của dân chúng Hưng Hoá trong những năm binh lửa vừa qua, tháng 12-1879 triều đình quyết định cho tha thuế 5 năm đối với những nơi thiệt hại nặng nề nhất là các châu Phù Yên, Mộc Châu, Yên Châu, Mai Sơn, Quỳnh Nhai, Thuận Châu, Tuần Giáo, Luân Châu và 3 tổng của châu Văn Chấn; tha thuế 4 năm đối với những nơi thiệt hại vừa là các châu Điện Biên, Văn Bàn, Chiêu Tấn và  1 tổng của châu Văn Chấn; tha thuế 3 năm đối với những nơi thiệt hại ít là các châu Mai Châu, Đà Bắc và 13 xã của huyện Thanh Sơn, Thanh Thủy.

Tháng 7/1880, nhà vua lại cho tha thuế còn thiếu của 2 năm trước đối với các châu Ninh Biên, Lai Châu, Tuần Giáo, Luân Châu, Quỳnh Nhai tổng cộng là 84 lạng bạc, 1771 quan tiền, 218 hộc thóc để thưởng cho việc không người dân nào trong phủ đi theo Thanh phỉ. Lại sai Hưng Hoá lượng phát thêm tiền gạo để chẩn cấp cho dân lưu tán; cấp thóc giống cho dân chúng châu Phù Yên vì mọi người chạy loạn trở về, không mua được thóc giống.

Cuối năm 1882, triều đình cho tha hẳn các hạng thuế cho dân 7 châu là Quỳnh Nhai, Lai Châu, Tuần Giáo, Luân Châu, Ninh Biên, Thuận Châu, Mai Sơn thuộc đạo Tân Hoá mới lập (các thứ thuế là tiền thóc, vàng, bạc và diêm tiêu).

 Đối với công lao và tội trạng của các viên quan được sai đi dẹp Thanh phỉ ở Sơn Hưng Tuyên, cho giáng Hiệp biện Đại học sĩ Địch Trung tử Hoàng Tá Viêm làm Tổng đốc, nhưng vẫn đeo cách, lưu; thư Tổng đốc Vệ Chính nam Tôn Thất Thuyết làm Tham tri, đều cách bỏ tước tử, tước nam, vẫn sung chức Thống đốc, Hiệp đốc.

  1. Với các cuộc khởi nghĩa phản kháng ở địa phương

Cuộc nổi dậy của Xa Văn Nhị: Tháng 12/1826, thổ tù châu Đà Bắc là Xa Văn Nhị tập hợp lực lượng, bắt giữ người công sai, định giữ châu để nổi dậy. Khi đó, Xa Văn Nhị tôn một người trong tôn thất nhà Lê là Lê Duy Khương làm minh chủ, phong Mai Đình Khuê làm Thượng đạo Thống lĩnh, mở rộng địa bàn hoạt động đến các huyện Hoa Khê, Tam Nông trấn Sơn Tây. Triều đình cho quan trấn thành quản lĩnh binh lính, phát hịch kêu gọi thổ mục, thổ binh các châu đến đánh bắt, Quản hạt Ninh Bình thấy vùng thượng du tiếp giáp với địa bàn hoạt động của Xa Văn Nhị – Lê Duy Khương lấy làm lo ngại, báo cho án sát trấn Thanh Hoa là Tôn Thất Dịch rồi đem binh và voi đi kinh lược địa hạt; truyền hịch sai thổ ty, thổ mục các châu huyện đóng chặn vùng Thạch Bi thuộc huyện Lạc Thổ, phái 200 biền binh theo Quản phủ Thiên Quan đóng giữ bảo Lãng Phong. Trấn thủ Hưng Hoá là Phan Bá Phụng tấn công vào sào huyệt của Lê Duy Khương ở Hoa Khê, Tam Nông.

Tháng 4/1827, Xa Văn Nhị trốn vào rừng núi. Hiệp trấn Hưng Hoá bị cách là Trần Văn Thông cùng với văn võ của thành phái đi, đem quân dò xét, bắt được cả hai cha con Xa Văn Nhị, Mai Đình Khuê cùng nhiều thủ lĩnh khác giải về Bắc Thành.

Trấn áp cuộc khởi nghĩa do Lê Duy Lương lãnh đạo

Lê Duy Lương sinh năm 1814 tại Thanh Hoá, lên 3 tuổi thì phụ thân là Lê Duy Hoán bị sát hại, nhờ có Lê Duy Nhiên (tên thật là Đỗ Trọng Xuyên, người Ngọc Sơn-Thanh Hoá) bí mật đưa về Sơn Âm-Ninh Bình nuôi dấu trong gia đình Quách Tất Công, Quách Tất Tại, Quách Tất Tế, Quách Tất Nham.

Sau khi cùng các thủ lĩnh họ Quách xây dựng căn cứ, thu nạp nghĩa sĩ, tích luỹ binh lương, đầu năm 1833, Lê Duy Lương bí mật gửi thư kêu gọi tiến hành khởi nghĩa dưới ngọn cờ Phù Lê diệt Nguyễn mà đối tượng là binh lính của triều đình.

Hưởng ứng lời hiệu triệu, tháng 3/1833 (Nhâm Thìn, Minh Mệnh năm thứ 13) lính Ninh Thiện thuộc tỉnh Nghệ An đứng dậy, giết cai đội Đỗ Trọng Thái và 8 người biền binh, đốt đồn trại, cướp khí giới, rồi do đường núi Kỳ Sơn và Hội Nguyên, chia  nhau trốn ra Bắc.

Tổng đốc Tạ Quang Cự được tin báo, tức thì phái quản vệ dinh Thần sách là Trần Đức Lộc và Lê Văn Tề đem binh chia đường chặn bắt.

Tính đến thời điểm đầu tháng 4/1833 ngoài lực lượng chính đóng rải rác ở Đà Bắc, Châu Mai, Châu Mộc, lực lượng nghĩa quân còn phân ra từng khu vực:

– Vùng Thanh Xuyên có Đinh Công Tiến, nguyên là thổ Tri huyện,  gia nhập phong trào, giữ chức Thống lĩnh Trung quân; con trai là Đinh Thế Đội giữ chức Phòng ngự Thạch Bi, Đinh Công Duy, nguyên Chánh đội Trung cơ Hưng Hùng bị cách, được phong là Khâm mệnh quan; Bùi Quang Đạo – Cai đội, Nguyễn Văn Sĩ, Chánh Thân tức Phan Đình Tấn nắm trong tay trên 1.000 nghĩa quân.

– Vùng Châu Mộc có Chiêu Dẫn xưng là Điều Bát cùng các thủ lĩnh Thái, Ba Ký, Quan Trịnh, Ba Nhàn, Đinh Công Hội, Đinh Công Lân.

– Tập trung ở vùng Tản Viên là Đinh Công Tiên, Long Phê, Long Quần, Long Phao, Chiêu Rồng (con trai Quách Tất Công), lý trưởng Phùng.

Ngoài ra còn các thủ lĩnh khác như Chiêu Tế, Chiêu Nham,  Bẩy Bền, Nho Quang, Nho Sớ, Nho Nguyệt, Lê Văn Lân, Phạm Doãn Dũng, Hoàng Kim Thịnh, Đinh Thế Đức, Xa Văn Chấn, Đinh Công Tôn, Đỗ Viết Trai …

Với lực lượng trên, từ cuối tháng 4/1833, Lê Duy Lương mang quân tấn công huyện Tam Nông, làm chủ khu vực phía đông sông Đà. Một lực lượng lớn ước chừng trên 2.000 nghĩa quân chia làm nhiều cánh tiến về bao vây tỉnh thành Hưng Hoá.

Cùng thời điểm ấy, nghĩa quân Ba Nhàn, Tiền Bột đến phối hợp bao vây đánh tỉnh thành Hưng Hoá, dưới sự chỉ huy của Đinh Công Tiến, vốn là tri huyện Thanh Xuyên, tự nguyện đứng vào hàng ngũ của Lê Duy Lương.

Trận vây thành Hưng Hoá là một trận phối hợp quy mô của nghĩa quân hai tỉnh Sơn Tây và Hưng Hoá. Bản tâu của tướng Nguyễn Văn Mưu phần nào phản ánh tình hình này: “Tôi nghiệm thấy… các thổ tri trâu, tri huyện ở Mai Châu, Mộc Châu, Đà Bắc, Thanh Xuyên ngầm mưu gây biến, tụ tập châu mục, thổ dân dựa núi làm tổ, một mặt vây đánh tỉnh thành Hưng Hoá một mặt phối hợp với Sơn Tây chặn đường quan quân đến cứu”.

Vẫn theo lời tâu của Mưu, “bọn giặc ước hơn 2000 tên đều có súng ống khí giới chia làm 3 cánh bày ra 3 cửa tiền, tả, hữu của tỉnh thành. Lại thấy giặc có 7 chiếc thuyền ván và hơn 30 chiếc thuyền nan”[31].

Ngoài việc bao vây tỉnh thành Hưng Hoá, nghĩa quân còn chia lực lượng tấn công nhiều nơi trên đất Hưng Hoá, Sơn Tây, khiến quân đội triều đình phải lúng túng căng mình đối phó khắp nơi.

Đinh Công Tôn, thổ Tri huyện An Lập thuộc Hưng Hoá, Đỗ Viết Trai thí sai thổ Huyện thừa cùng Đinh Công Tiến, Phạm Doãn Dũng, chiếm giữ 2 huyện Hạ Hoa và Hoa Khê, rồi từ đó đem lực lượng tiến vào xã Lễ Nguyên và xã Tam Sơn (đều thuộc Phúc Thọ) phối hợp với nghĩa quân vây đánh tỉnh thành.

Thổ Tri châu Văn Bàn là Hoàng Kim Thịnh đem hơn 400 người đánh phá đồn Trấn Hà, được Thổ binh trong đồn trở giáo đi theo. Suất đội giữ đồn là Lê Thế Tiệp thua chạy, nghĩa quân bèn cướp lấy súng ống, khí giới, của cải, đồ vật, mở lao thả tù, tiếp đánh đồn Bách Lẫm.

Vào giữa tháng 7/1833 chiến dịch giải vây tỉnh thành Hưng Hoá để bắt sống Lê Duy Lương – Lê Duy Nhiên bắt đầu triển khai và thu được kết  quả.

Tháng 8/1833 tinh thần tâu dâng bản án phản nghịch là Lê Duy Lương, Lê Duy Nhiên, Lê Văn Lận, Phạm Doãn  Dũng và Hoàng Kim Thịnh.

Sau khi Lê Duy Lương – Lê Duy Nhiên bị bắt, nhiều thủ lĩnh của phong trào như Quách Tất Công, Phạm Công Nho, Phạm Bá Nho, Hà Công Kim, Hà Công Thần, Phạm Thúc Liêm, Lê Phi ất chuyển địa bàn hoạt động về Thanh Hoá. Năm 1836, theo sự điều động của Tổng đốc Sơn-Hưng-Tuyên, Nguyễn Văn Quýnh, Quản vệ Hưng Hoá, đem binh dõng đang đóng chặn ở 2 Châu Mai, Mộc từ Vạn Bờ (Mai Châu), Phú Lệ (Quan Hóa), thẳng tới động Hồi Xuân, hai lần đánh nhau với nghĩa quân.

  1. Đàn áp các cuộc nổi dậy của nhân dân trong vùng

 Tháng 7/1864, Tự Đức năm thứ 17, người Mông nổi lên cướp khí giới ở các bảo Bình Lư, Phong Thu, đốt phá nhiều nhà cửa. Thổ Tri châu là Điêu  Đức Chính đem binh dõng chống lại bị chết trận. Triều đình ban dụ sai án sát, Chánh hoặc Phó lãnh binh đem một lực lượng chừng 200-300 quân đến nơi để điều độ, đánh dẹp, vỗ về dân chúng châu Quỳnh Nhai. Đầu tháng 11/1864, người Mèo châu Văn Chấn lại nổi dậy. án sát Nguyễn Di, Lãnh binh Trần Đức Trang được phép tuỳ nghi tiến đánh, vỗ về. Lại cho Nguyễn Bá Nghi có trách nhiệm kiêm hạt, sai phái, trù liệu thêm, kể cả việc tăng quân để việc sớm được yên.

 Tháng 4/1865, Tự Đức năm thứ 19, người Mông lại nổi lên ở châu Chiêu Tấn, châu Quỳnh Nhai. Tỉnh thần là Phạm Đề phái binh đến đóng ở châu Văn Bàn, châu Thuỷ Vĩ để đối phó. Đến tháng 11 năm ấy, họ lại nổi lên đánh phá Trấn Yên, Thủy Vĩ. Phó lãnh binh Trần Đức Tráng đem 300 quân đánh dẹp nhưng gặp phục binh khi đi tắt qua đường rừng châu Văn Bàn. Trần Đức Tráng bị trúng đạn, chết ngay tại trận. Hiệp quản Nguyễn Văn Thành, Tri huyện Phạm Mẫn Triệu lui chạy, bị cách chức. Triều đình sai tỉnh thần là Nguyễn Mại khẩn cấp phái binh đến đánh dẹp. Binh lính tỉnh Sơn Tây cũng được điều đến để đánh giáp công. Lại sai lĩnh án sát Nguyễn Di và Phó lãnh binh Vũ Quang Tuyên đem biền binh tới chiêu dụ. Ngoài 20 đầu mục đến xin phục tùng triều đình, những người nổi dậy ở Thủy Vĩ, Văn Bàn, Quỳnh Nhai và Trấn Yên cũng hạ vũ khí. Nhận được tin, Tự Đức đã miễn lệ thuế cho xã dân Đông Quang, Phong Dụ và Đại Phác vì bị tàn phá nặng nề trong cuộc chiến vừa qua; tha thuế năm trước và trong năm cho dân các xã phiêu tán vì binh lửa ở các châu, huyện thuộc Chiêu Tấn, Trấn Yên, Văn Bàn, Thủy Vĩ.

Dưới thời Pháp thuộc, mặc dù trên danh nghĩa nhà Nguyễn vẫn tồn tại nhưng chỉ còn là cái bóng hư danh. Vả lại, mũi nhọn đấu tranh của nhân dân cả nước đều tập trung và kẻ thù chính là bọn ngoại xâm. Chính vì lẽ đó, các phong trào đấu tranh chống triều đình một cách đơn thuần hầu như đã tự triệt tiêu. Người ta chỉ còn ghi nhận được một vài sự kiện như sau diễn ra ở Sơn La:

 Tháng 3/1895, có một người tên là Am, tuổi chừng 18-20, ở xóm Ba Kên (Mường Kê), làng Mộc Hạ, thuộc Châu Mộc, được trưng tập làm cu li cho một đoàn xe đi Mường Hét. Vì bực mình, anh ta trốn về làng và tự nhận là vua, tên hiệu là Đinh Thiếu Hoàng. Một số người ở Thanh Hoá, Hưng Hoá, Mai Châu hợp tác với anh ta, lập ra một toán quân từ 50 đến 60 người, do một viên Lãnh binh và một viên xuất đội chỉ huy. Vũ khí của họ là súng Tây và súng Mường.

Một toán lính được cử đi đánh dẹp Am, gồm một viên quan hai và 25 tay súng. Am ẩn náu ở Mường Le chạy trốn về Mường Bái. Phó quan lang Đinh Công Quý ở Chợ Bờ, chịu trách nhiệm cai quản vùng Đà Bắc và quan lang ở Quy Đức, nơi quê quán của Am, đã bắt được Am. Tháng 4/1895, toán quân của ông vua này chỉ còn lại có 4 người. Một người tên là Lý Hiến, người Thanh Hoá, hình như là người xúi giục nên sự việc này. Ngày 27/4/1895, Am bị đưa về Hà Nội cùng với 4 đồng đảng[32].

 Tháng 4/1896, người Dao ở Phù Yên triệu tập toàn thể người Dao thuộc địa bàn Sơn La về qua Chợ Bờ và Vạn Bú để ra mắt nhà vua tại Hà Nội. Nhưng chưa kịp hành động những quan chức người Dao ở Phù Yên đã bị Đặc phái viên của Chính phủ bảo hộ tại Vạn Bú thải hồi và sự việc đột xuất này đã không xảy ra nữa[33].

 Ngày 28/1/1929, một người Thái ở Thuận Châu tên là Quàng Văn Pản làm đơn gửi Công sứ Sơn La khiếu kiện viên Tri châu và các thành viên trong gia đình Bạc Cầm Kỳ về tội vòi tiền, ức hiếp dân chúng và lạm quyền[34].

Nhìn nhận một cách tổng quát và khách quan, dưới thời Nguyễn, các vấn đề về dân tộc và miền núi ở phía Tây Bắc Việt Nam được thể hiện trong một hệ thống chính sách khá toàn diện và hoàn chỉnh, đi từ duy trì hoặc cách tân một loạt chế độ để xoá bỏ dần tư tưởng ly khai, phân liệt của các thủ lĩnh địa phương, trong đó có cả nhiều người lấy danh nghĩa là tôn thất nhà Lê. Hơn thế nữa, các chính sách ấy còn được lồng ghép trong những chủ trương về thuế khoá, cải tổ hệ thống đơn vị hành chính và bộ máy quản lý hành chính, sự tôn trọng trong một chừng mực cho phép về quyền tự chủ của một số vùng dân tộc, trong việc xây dựng lực lượng vũ trang tại chỗ. Một khi xuất hiện những nhân tố làm suy yếu sự thống nhất quốc gia, làm tổn hại đến đời sống dân chúng, tất cả các ông vua của triều Nguyễn đều kiên quyết loại trừ và tiêu diệt. Đó là một hiện thực và một sự thật, dù nó có phũ phàng, nhiều điều đáng lên án.

Chú thích:

[1] . Khâm định Việt sử thông giám cương mục, chép là Trịnh Giốc Mật.

[2]Đại Việt sử ký toàn thư, tập 2, Sđd, tr.67; Khâm định Việt sử thương giám cương mục, tập 1, Sđd, tr.489.

[3] Đại Việt sử ký toàn thư, tập 2, Sđd, tr.321.

[4] Quốc triều hinh luật (Luật hình nhà Lê), Viện Sử học và Nxb Pháp lý ấn hành, Hà Nội, 1991, tr.47.

[5] Phan Hữu Dật- Lâm Bá Nam. Chính sách dân tộc của các chính quyền nhà nước phong kiến Việt Nam (X- XIX). Nxb CTQG, H.2001, tr.43-46.

[6] Đoạn trích trên được lấy từ cuối Chương IV (Tạ Ngần xây dựng Mường Muổi, phát triển thế lực khắp vùng sông Đà, sông Mã) trong Tư liệu về lịch sử và xã hội dân tộc Thái. Đặng Nghiêm Vạn (chủ biên), tr.73-82.

2 . Nguyên văn chữ Hán chuyển sang

[7] Đại Việt sử ký toàn thư, tập 2, Sđd, tr.475. Sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục (tập 1, trang 838-839) lại chép rằng: “Nhà vua chính mình cầm quân đi đánh châu Ninh Viễn, thắng trận. Kha Lại chạy rồi chết, Đèo Cát Hãn lẩn trốn. Nhà vua đặt đất Ninh Viễn là châu Phục Lễ. Tháng 3 trở về cung, dâng tù binh ở nhà. 

[8] Tháng 3/1448, theo  Đại Việt sử ký toàn thư, Tư không châu Phục Lễ là Đèo Mạnh Vượng có tội, cho tự tử. Sai Nhập nội Tư mã Lê Ê đem 5000 quân hộ tống em thứ 2 của Mạnh Vượng cho làm Chiêu Thảo sứ kiêm Tri châu Phục Lễ, tịch thu gia sản của Mạnh Vượng.

[9] Đại Việt sử ký toàn thư, tập 2, Sđd, tr.525; Khâm định Việt sử thông giám cương mục, tập 1, Sđd, tr.875. Theo Hưng Hoá tỉnh lược (Gia phả họ Bạc) vào thời điểm ấy Đạo Chưởng vỗ về những người Mường

[10] Nguyên mấy năm trước, khi Lê Thái Tổ đi đánh châu Phục Lễ, sai vận chuyển lương thực đến cất giữ ở quân doanh Gia Hưng. Theo lời tâu của Tuyên uý Đại sứ trấn Hưng Hoá là Lê Đạo về việc kho lương thực có thể bị mục hỏng, xin chuyển về Đông Đô nhưng Trung thừa Bùi Cẩm Hồ đề nghị giữ lại, cho dân vay.

[11] Có sách viết là Trưởng  Nghiễm.

[12] Nguyên văn bài thơ chữ Hán như sau: Binh chẩm tiêu tâm niệm viễn nhân; Man tù hà sự tốc vong thân; Thế gian nhược hữu anh hùng chủ; Thiên hạ thuỳ dung hạn nghịch thần; Điểu  đạo, duyên vân không thị  hiểm; âm nhai sương noãn dĩ hồi xuân; cách trừ ô nhiễm an lương thiện; Nhẫn sử hà manh, ngoại chí nhân.

[13] Đại Việt sử ký toàn thư,  tập 2, Sđd, tr.549-550. Theo Phan Huy Chú (Lịch triều hiến chương loại chí) và Đại Nam nhất thống chí (tập 2, Thanh Hoá) thì, trong những chiến công ở Thuận Mỗi phải kể đến Lê Khôi.

    Lê  Khôi là con người anh thứ 2 của Lê Thái Tổ. Dưới triều Thái Tông, ông là người bày đặt được nhiều kế hoạch cho việc binh nhung. Năm 1437 ông được làm Nhập nội Tư mã, Tham tri chính sự coi việc quản các vệ Tây Đạo. Năm 1439 theo vua đi đánh Ai Lao, bắt được nhiều tù binh. Năm 1440 và 1441, theo vua đi đánh Thượng Nghiễm ở châu Thuận Mỗi; trở về được phong Nhập nội Đô đốc, được tham dự vịệc triều đình. Sau đi coi việc ở phủ Nghệ An

[14] Đại Việt sử ký toàn thư, tập 2, Sđd, tr.4570; Khâm định Việt sử thông giám cương mục, tập 1, Sđd, tr.915.

[15] Đại Việt sử ký toàn thư, tập 2, Sđd, tr.742-743.

[16] Đặng Nghiêm Vạn (chủ biên). Tư liệu về lịch sử và xã hội dân tộc Thái, Sđd, tr.96-101.

2 . Chúng tôi sắp xếp lại cho đúng với hiện thực, kể cả thứ tự và thời gian trị vì của các vua Lê.

[18] Đặng Nghiêm Vạn (chủ biên). Tư liệu về lịch sử và xã hội dân tộc Thái, Sđd, tr.96-101.

[19] Đại Việt sử ký toàn thư, tập 3, Sđd, tr.211.

[20] Lịch sử Việt Nam, tập IV, Thế kỷ XVII-XVIII, Nxb KHXH, H.2007, tr.306.

[21] Đặng Nghiêm Vạn, Cầm Trọng: Những hoạt động của Hoàng Công Chất trong thời kỳ ở Tây Bắc. Nghiên cứu lịch sử , số 81, 1965.

[22] Lịch sử Việt Nam, tập IV, Sđd, tr.310-311.

[23] Khâm định Việt sử thông giám cương mục, tập 2, Sđd, tr. 679-680.

[24] Khâm định Việt sử thông giám cương mục, tập 2, Sđd, tr.684-685.

[25] Khâm định Việt sử thông giám cương mục, tập 2, Sđd, tr.702. Sở dĩ có lệnh này vì vào năm Quang Thuận thứ 10 [1469] thời Lê Thánh Tông, nhà vua ra lệnh cấm dân gian tàng trữ binh khí riêng. Khi dẹp xong Hoàng Công Chất, Lê Duy Mật, Lưu trấn thủ trấn Hưng Hoá là Hoàng Đình Thể dâng sớ nói; “Đất nơi biên viễn, binh lính do ở nông dân mà ra. Vả lại binh khí do dân chế tạo, họ đều tự dùng để chống giữ, nay nhất luật cấm chỉ, e rằng bọn giặc cướp sẽ nhân chỗ sơ hở mà cướp bóc, thì không có gì phòng bị được”.

[26] Khâm định Việt sử thông giám cương mục, tập 2, Sđd, tr.754-755.

[27] Đại Nam thực lục-Chính biên, tập 2, Sđd, tr.190.

[28]  Đồng Khánh địa dư chí, Sđd, tr.703-750.

[29] Cầm Trọng. Người Thái ở Tây Bắc Việt Nam, Sđd, tr.372-374).

[30] Đại Nam thực lục-Chính biên, (Đệ tứ kỷ, Q.LIV) ghi nhận sự kiện này như sau: “Quan quân ở Quân thứ Tuyên Quang bắt sống được tướng giặc Hoàng Sùng Anh. Thống đốc Hoàng Tá Viêm đem việc tâu lên. Vua sai theo cách treo thưởng của Quân thứ Tuyên Quang thưởng 5000 lạng bạc. Còn bọn giặc ấy do quan Quân thứ Tuyên Quang cùng với quan nước Thanh tra xét nơi ấn nấp của bè lũ bọn ấy, tức phải bắt ngay. Rồi hội đồng xử lăng trì bêu đầu truyền cho Bắc Kỳ, đóng hòm đưa sang nước Thanh. Khi ấy Hoàng Tá Viêm đã đem đầu sỏ Hoàng Sùng Anh đóng hòm đưa đi dâng tù, vua không cho, sai lần lượt tù đi nơi sắp đến, chuyển giao đầu giặc theo Chỉ trước mà làm” (tập 8, Sđd, tr.135).

[31] Khâm định tiễu bình… tập I, Q.I, Sđd, tr.222.  

[32] Pierre Grossin. Tỉnh Mường Hoà Bình, Sđd, tr.60-61 và 68.    

[33] Pierre Grossin. Tỉnh Mường Hoà Bình, Sđd, tr.60-61 và 68.    

[34] Hồ sơ số 56685.

 

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s