Góp phần nhìn nhận sự kiện Nguyễn Hoàng làm trấn thủ Thuận Hóa năm 1558

chua-nguyen-hoang

PGS. TS Nguyễn Trọng Văn*

Mai Phương Ngọc*

Xung quanh sự kiện Nguyễn Hoàng làm trấn thủ Thuận Hoá năm 1558, hiện vẫn  còn nhiều quan điểm khác nhau. Theo Quốc sử quán triều Nguyễn, đó là lối thoát của  Nguyễn Hoàng trước sự bức bách của Trịnh Kiểm. Song, trong xu thế nhìn nhận lại vai  trò, vị trí của Chúa Trịnh, cũng có ý kiến cho rằng đánh giá việc Trịnh Kiểm có mưu đồ  ám hại Nguyễn Uông, Nguyễn Hoàng và việc Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hoá  cũng nằm trong mưu đồ ấy là không thoả đáng[1] . Tác giả Li Tana trong Xứ Đàng Trong  lịch sử kinh tế – xã hội Việt Nam thế kỉ 17 và 18 viết: “Trịnh Kiểm chỉ có ý tống khứ  một địch thủ. Nhưng ông đã đi sai nước cờ. Và thay vì tống khứ, ông lại cho không  Nguyễn Hoàng một vương quốc”[2] . Vậy, cần phải nhìn nhận như thế nào cho chân xác, khách quan? Bài viết của chúng tôi hi vọng góp thêm một kiến giải về sự kiện này.

1. Theo Đại Namthực lực Tiền biên, trong phần chép về Thái tổ Gia Dụ hoàng  đế Nguyễn Hoàng có ghi: “Đầu làm quan ở triều Lê, được phong Hạ khê hầu. Đem quân đánh Mạc Phúc Hải (con trưởng Mạc Đăng Doanh), chém được tướng là Trịnh Chí ở huyện Ngọc Sơn, khi khải hoàn vua yên uỷ khen rằng “Thực là cha hổ sinh con  hổ”. Đến khoảng năm Thuận Bình đời Lê Trung Tông, do quân công được tấn phong Đoan quận công. Bấy giờ Hữu tướng triều Lê là Trịnh Kiểm (bấy giờ xưng là Lượng quốc công) cầm giữ binh quyền, chuyên chế mọi việc. Tả tướng là Lãng quận công Uông (con trưởng Triệu tổ) bị Kiểm hãm hại. Kiểm lại thấy chúa công danh ngày càng cao nên rất ghét. Chúa thấy thế, trong lòng áy náy không yên, cùng bàn mưu với Nguyễn Ư Dĩ rồi cáo bệnh, cốt giữ mình cho kín đáo để họ Trịnh hết ngờ”[3] . Sách Đại Nam liệt truyện Tiền biên, phần chép về Nguyễn Ư Tỵ (Đại Nam thực lục Tiền biên ghi  là Ư Dĩ), viết: “Trịnh Kiểm đố kỵ vì Thái tổ có công to thường muốn mưu hại. Ư Tỵ biết  việc này, khuyên Thái tổ giả cách bị điên, có những cử chỉ thất thường khiến cho Trịnh  Kiểm khỏi để ý. Mưu sĩ của Kiểm là Nguyễn Hưng Long khuyên Kiểm giết Thái tổ đi.  Có người mật báo với Thái tổ, Thái tổ cả sợ, bàn với Ư Tỵ. Ư Tỵ nói: “Kiểm có lòng nham hiểm, ta nên tránh xa. Thuận Hoá là đất hiểm trở kiên cố, có thể giữ mình đượcVậy nên nhờ chị là Ngọc Bảo (Ngọc Bảo là con gái Triệu Tổ, và là chánh phi Trịnh  Kiểm) nói với Kiểm, xin vào trấn thủ Thuận Hoá, rồi sau sẽ mưu làm việc lớn”[4] . Cương  mục cũng chép rằng: “Cả hai đều bị Trịnh Kiểm nghi kị. Rồi Tả tướng bị Kiểm làm hại.  Còn Thái tổ Gia Dụ hoàng đế ta thì tự lắng xuống, kín đáo giữ mình”[5] .

Những dẫn chứng trên cho thấy các bộ quốc sử của triều Nguyễn trong cách chép  về sự kiện năm 1558 đã cho rằng: sau khi Nguyễn Kim bị ám hại, quyền lực nằm trong  tay Trịnh Kiểm. Trịnh Kiểm vì lo sợ trước công trạng ngày càng lớn của anh em  Nguyễn Uông, Nguyễn Hoàng đã sinh lòng nghi kỵ, sát hại Nguyễn Uông. Trước tình  thế đó, Nguyễn Hoàng buộc phải tìm cách thoát thân – bàn với Ư Dĩ, được Ư Dĩ khuyên  nhờ chị gái là Ngọc Bảo, vợ Trịnh Kiểm, xin vào làm trấn thủ Thuận Hoá. Điều này càng thôi thúc Nguyễn Hoàng khi Nguyễn Hoàng cho người đến hỏi Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm thì được khuyên rằng:  “Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân”. Và từ trước đến nay, khi nghiên cứu về giai đoạn lịch sử này, chúng ta đều  phải dựa vào nguồn sử liệu của quốc sử quán triều Nguyễn, do đó sự kiện Nguyễn  Hoàng vào trấn thủ Thuận Hoá cũng được nhìn nhận trên cơ sở như thế.

Song, khảo sát các bộ sử cũ cho thấy, ngoài các đoạn trích trên, từ khi Nguyễn  Kim chết (1545) đến khi Nguyễn Hoàng làm trấn thủ Thuận Hoá (1558), không có một  quyển sử nào ghi lại về việc Nguyễn Uông đã chết như thế nào. Cái chết của Nguyễn  Uông có chăng cũng chỉ có thể xem là một sự ngờ vực về một âm mưu của Trịnh Kiểm  mà thôi! Chép về sự kiện năm 1558, Đại Việt sử kí toàn thư chỉ ghi ngắn gọn: “Tháng  10, Thái sư Trịnh Kiểm vào chầu, dâng biểu tâu sai con thứ của Chiêu Huân Tĩnh Công  là Đoan quận công Nguyễn Hoàng đem quân và trấn thủ xứ Thuận Hoá để phòng giặc  phía đông cùng với Trấn quận công (không rõ tên) ở Quảng Nam cứu viện cho nhau.  Mọi việc ở xứ này, không cứ lớn hay nhỏ, và các ngạch thuế đều giao cả cho, hàng năm  đến kì hạn, thì thu nộp”[6] . Đại Việt thông sử của Lê Quý Đôn, trong phần chép về  nghịch thần truyện Mạc Phúc Nguyên cũng chỉ viết: “Tháng 10, Thái sư triều Hoàng đế  ở nơi hành tại, bàn về kế sách đánh giặc Mạc, phát biểu ý kiến rằng… “Hạ thần xét  thấy con trai thứ của Chiêu huân Tĩnh công là Nguyễn Hoàng, một người trầm tĩnh cương nghị, lại có mưu lược, đối với quân sĩ có độ lượng, khoan dung, giản dị. Vậy xin bổ ông làm Trấn thủ, để trị an nơi biên thuỳ và chống giặc phương Đông. Và lại cùng với Trấn quận công ở xứ Quảng Nam, cùng làm binh cứu viện lẫn nhau. Hết thảy các  việc to nhỏ ở địa phương ấy, xin đều để cho ông được tuỳ nghi định đoạt, lại xin uỷ ông  thu các sắc thuế, nộp về triều đình đúng kỳ hạn, để thêm vào sự chi tiêu trong nước”…                                                          Vua Anh Tông thi hành theo ý kiến này, tự đấy Phúc Nguyên không dám nhòm ngó tới  hai xứ Thuận Quảng[7] .

Như vậy, ngoài các tác phẩm của quốc sử quán triều Nguyễn, các bộ sử cũ đều  ghi về sự kiện Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hoá với một ngòi bút khá trung dung  và súc tích. Nội tình của sự kiện ấy, chúng ta chỉ biết qua những bộ sử của quốc sử quán  triều Nguyễn, điều đó khiến sự nghi ngờ về mức độ thoả đáng khi dành cho Trịnh Kiểm  – họ Trịnh những trang viết như nguyên nhân đẩy Nguyễn Hoàng vào vùng đất “Ô Châu  ác địa” cũng không phải là không có cơ sở.

2. Chúng tôi thiết nghĩ rằng, để tìm hiểu về sự kiện năm 1558, cần phải xuất phát  từ một trong những mối quan hệ chủ yếu của xã hội Đại Việt đã được định hình từ thế  kỉ XV: mối quan hệ hoàng quyền – thần thuộc. Mối quan hệ này có hai mặt. Mặt thứ  nhất, với chức năng đặc biệt trong việc “trị dân coi quân” của hoàng quyền trong hệ  thống tổ chức Nhà nước phong kiến làm cho các ông vua Lê sơ mang tính chất tập  quyền chuyên chế của một hoàng quyền duy nhất, một đế vị thiên tử duy nhất. Nhưng mặt khác, khi những người nối nghiệp đã không đủ uy nghi và năng lực để cai quản đất nước thì cũng từ đó các tướng lĩnh trong quan hệ thần thuộc xuất hiện mưu bá đồ vương. Giai đoạn lịch sử thế kỉ XVI – XVII – XVIII là biểu hiện rõ nét cho tính phức tạp của mối quan hệ này. Trong xã hội Đại Việt, hoàng quyền là tuyệt đối, vĩnh hằng. Sức mạnh của hoàng quyền là sức mạnh của một “ngoại lệ quyền”. Và cũng bởi vậy, hoàng quyền bao giờ cũng có sức hấp dẫn mãnh liệt đối với các dòng họ phong kiến. Họ Trịnh và họ Nguyễn cũng không nằm ngoài mục đích ấy. Thực chất, họ Nguyễn, họ Trịnh đều xuất phát từ ý đồ xác lập, khẳng định vai trò dòng họ mình. Thế nhưng trong bối cảnh bấy giờ, phù Lê diệt Mạc là cái cớ duy nhất xác đáng, là ngọn cờ hiệu triệu nhân tâm cả  nước. Dẫu sao chăng nữa, hình ảnh về vị Thái tổ trải mười năm “nằm gai nếm mật” rửa  mối nhục vong quốc nô, phục hưng nền độc lập dân tộc, hình ảnh một hoàng quyền Lê  sơ đã từng tạo nên thời kì thịnh trị vẫn còn trong tiềm thức của nhân dân. Cũng bởi vậy, lòng dân vẫn còn nặng nỗi hoài niệm vua Lê. Cả họ Trịnh và họ Nguyễn đều nhận thức rõ điều đó.

Chúng tôi cho rằng, nhìn nhận như thế sẽ giúp chúng ta xem xét sự kiện năm  1558 một cách chân xác hơn. Sự kiện Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hoá năm 1558  không chỉ đơn thuần là lối thoát của do sự bức bách của Trịnh Kiểm, thực ra đó còn  xuất phát từ chính “mưu bá đồ vương”của cả hai dòng họ.

Nguyễn Kim sau khi sang Ai Lao được vua Sạ Đẩu cho nương náu ở Sầm Châu  đã chiêu tập những người trung nghĩa với nhà Lê, tìm được người con của vua Lê Chiêu  Tông là Lê Duy Ninh lập lên làm vua, gây dựng sự nghiệp. Nhưng công cuộc trung hưng nhà Lê mới bắt đầu có thanh thế thì cái chết đột ngột của Nguyễn Kim đã chuyển  toàn bộ quyền lực sang tay dòng họ Trịnh – người con rể Trịnh Kiểm tuy không được  học hành nhưng có tài thao lược. Cũng từ đây, dòng họ Trịnh bước lên vũ đài chính trị,  từ một dòng họ nghèo khó trở thành “phi vương phi bá quyền khuynh thiên hạ”.

Như vậy, Nguyễn Kim là người khởi nghiệp cho sự trung hưng. Thế nhưng sau  đó, người được trọng trách nắm quyền bính rồi thay vua Lê điều hành, quản lí đất nước  là các chúa Trịnh. Dòng họ Nguyễn vốn là một dòng họ có danh vọng ở trang Gia  Miêu, từ Nguyễn Hoằng Dụ tới Nguyễn Kim đã được liệt vào các anh hùng của thời  đại, đến Nguyễn Uông, Nguyễn Hoàng cũng đều là các bậc dũng tướng. Vị trí của chúa Trịnh bên vua Lê hẳn không thể làm họ Nguyễn an lòng chấp thuận? Phải thấy rằng, Nguyễn Hoàng đã có một tầm nhìn sâu rộng khi vào Thuận Hoá và cũng chính trong sự  kiện năm 1558 đã ngầm mang tư tưởng đó của họ Nguyễn. Điều này được thể hiện qua  lời Ư Tỵ khuyên Nguyễn Hoàng: “Vậy nên… xin vào trấn thủ Thuận Hoá, rồi sau sẽ  mưu làm việc lớn”. Cũng chính tư tưởng này đã đưa đến các sự kiện về sau, họ Nguyễn từng bước hình thành cơ sở cát cứ của mình ở Thuận Quảng. Lời di chúc của Nguyễn  Hoàng với hoàng tử thứ sáu Nguyễn Phúc Nguyên có thể coi là minh chứng rõ nhất cho  ý định này của vị chúa Tiên: “Đất Thuận Quảng phía bắc có núi Ngang (Hoành sơn)  và sông Gianh (Linh giang) hiểm trở, phía nam có núi Hải Vân và núi Đá Bia (Thạch Bi sơn) vững bền. Núi sẵn vàng sắt, biển có cá muối, thật là đất dụng võ của người anh hùng. Nếu biết dạy dân luyện binh để chống chọi với họ Trịnh thì đủ xây dựng cơ nghiệp muôn đời. Ví bằng thế lực không địch được, thì cố giữ vững đất đai để chờ cơ hội, chứ đừng bỏ qua lời dạy của ta”. Như vậy, rõ ràng Nguyễn Hoàng – họ Nguyễn không thể chấp nhận vị trí chỉ là người phò tá cho chúa Trịnh bên vua Lê.

Với Trịnh Kiểm, chấp nhận cho Nguyễn Hoàng vào Thuận Hoá, phải chăng  Trịnh Kiểm đã “đi sai một nước cờ”? Phải chăng Trịnh Kiểm không nhận ra vị trí chiến  lược của Thuận Hoá? Phải chăng Trịnh Kiểm không hề nghĩ đến hậu hoạ về sau? Thực  ra Trịnh Kiểm đã thấy Thuận Hoá là đất quan trọng: “Xứ Thuận Hoá là một kho tinh  binh trong thiên hạ, thời xưa, quốc triều ta bắt đầu gây dựng cơ nghiệp, cũng đã dùng  dân xứ ấy để dẹp giặc Ngô. Xứ ấy, địa hình hiểm trở, dân khí cương cường, lại có rất  nhiều nguồn lợi trên rừng và dưới bể sông. Về phương diện trọng yếu không có xứ nào  có thể hơn. Gần đây, quan quân kinh lược hàng mấy chục năm mới lấy được. Vậy nên  hết sức bảo thủ, để làm như một bức bình phong vững chắc”. Trịnh Kiểm cũng đã  nhận thấy được Nguyễn Uông, Nguyễn Hoàng là những anh hùng xuất thế. Bởi vậy mà  cái chết của Nguyễn Uông trở nên nhiều nghi hoặc. Thế nhưng, sau Trịnh Kiểm còn có  Ngọc Bảo, món nợ tình cảm này khiến Trịnh Kiểm dẫu có dã tâm cũng khó có thể thực  thi theo lời mưu sĩ Nguyễn Hưng Long. Dẫu vậy, Nguyễn Hoàng là một mối lo của  Trịnh Kiểm. Trịnh Kiểm đã nhận thấy để Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hoá sẽ có  nhiều cái lợi trong bối cảnh bấy giờ, sau rồi có cơ hội thuận tiện sẽ tính lại. Để Nguyễn  Hoàng vào Thuận Hoá, trước hết, Trịnh Kiểm “tống khứ được một địch thủ” ngay cạnh  mình, để đặt thêm một dũng tướng đối phó với con cháu Chế Bồng Nga vẫn thường  sang quấy nhiễu lãnh thổ Đại Việt. Dù nhà Lê đã đặt được tam ty ở Thuận Quảng, nhưng  “nhân dân vẫn chưa một lòng, Kiểm đương lấy làm lo”. Giữ yên được Thuận Quảng thì họ Trịnh có thể rảnh tay đối phó với quân Mạc: “Như vậy thì một  khoảng xứ Ô Châu, khỏi phải để ý lo tới, hạ thần sẽ khỏi phải phân tâm, mà chỉ dốc hết  ý chí về việc đông chinh; Bắt đầu kinh lý xứ Sơn Nam và xứ Sơn Tây, rồi thứ đến khôi  phục Kinh đô cũ, tiễu trừ thoán nghịch. Nghiệp trung hưng có thể sẽ sớm thành công”. Như vậy, sự tính toán này trước hết nhằm giúp Trịnh Kiểm trong công cuộc trung  hưng nhà Lê.

Cả hai họ Trịnh – Nguyễn đều dùng vua Lê làm tấm bình phong – sử dụng một  hoàng quyền trên danh nghĩa để xây dựng, thực thi quyền lực trên thực tế của mình. Sự  kiện Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hoá năm 1558 cũng nằm trong mưu tính đó  của cả hai dòng họ. Đó là sự gặp gỡ giữa ý chí một dòng họ muốn thoát khỏi sự bức  bách, xác lập địa vị với mong muốn “đẩy lui” đồng thời lợi dụng một “địch thủ” để thực  hiện mục đích của mình.

Có một điều là, dù cho họ Nguyễn, họ Trịnh đều mang mưu bá đồ vương, dẫu có  chuyện Trịnh Kiểm cho người hỏi Nguyễn Bỉnh Khiêm về việc tự lập làm vua, dẫu họ  Nguyễn từng bước xây dựng lực lượng cát cứ, song vua Lê vẫn tồn tại trong suốt các thế  kỉ XVI – XVII – XVIII, các chúa Nguyễn dù đối địch với họ Trịnh, vẫn sử dụng niên  hiệu của các vua Lê. Đó chính là biểu hiện cho sự đan xen phức tạp của tính hai mặt lệ  thuộc – ly khai của quan hệ hoàng quyền – thần thuộc.

3. Dù xem xét dưới phương diện nào chăng nữa, cũng phải thừa nhận rằng, từ sự  kiện năm 1558, khi Nguyễn Hoàng lập cơ đồ trên vùng Thuận Hoá, đã mở ra một “thời  kì của những thế hệ đã có một tinh thần tiến thủ và ý chí khai thiết đặc biệt trong lịch  sử dân dộc, thời kì của những công trình mở rộng cương thổ trên một phần đất quan  trọng ở phương Nam”[8] , đưa lại gần 3/5 diện tích lãnh thổ hiện tại cho dân tộc Việt  Nam. Từ thời điểm ấy, người Việt Nam đã liên tục vượt qua ranh giới Việt – Chăm, mở rộng cương thổ của mình. Còn nhớ, đời vua Lê Thánh Tông, sau cuộc chinh phạt chiếm được vùng đất mới, nhà vua đã cho khắc vào núi Thạch Bi, gần đèo Cả, một thông tri, tưởng như lời tuyên bố cho một ranh giới cuối cùng giữa người Chăm và người Việt:  “Chiêm Thành qua đấy, quân thua nước mất, An Nam qua đấy, tướng chết quân tan”. Ấy vậy mà tính từ thời điểm khi vị vua anh minh Lê Thánh Tông khắc ghi lời đó, chỉ đúng ba thế kỉ sau, lãnh thổ Đại Việt đã tiến xuống tận hết đất Thuỷ Chân Lạp, bờ  cõi được mở mang khoảng nửa đất Trung kì và toàn cảnh Nam kì. Và cũng từ đó, mảnh  đất phương Nam của các chúa Nguyễn trở thành một hình mẫu cho sự phát triển mới. Không phải ngẫu nhiên mà có nhà nghiên cứu đánh giá “Thoạt nhìn, sự kiện có dáng  dấp một câu chuyện về một dòng họ đã có thể tồn tại và triển nở về mặt chính trị sau  khi đã đánh mất quyền hạn đang có ở triều đình tại Thăng Long. Nhưng về bản chất, đây lại là một sự kiện đã dẫn đến việc thành lập một hệ thống Nhà nước mới và một  nền văn hoá phồn thịnh”.

  Với sự kiện Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hoá năm 1558, mầm cát cứ đất  nước đã hình thành. Và sau đó gần 70 năm đã bùng nổ cuộc chiến tranh liên miên của  hai họ Trịnh – Nguyễn, để rồi sông Gianh làm ranh giới, sơn hà bị rạch đôi. Đành rằng,  sự chia cắt ấy bởi đôi bờ sông Gianh đã để lại những hậu quả nặng nề cho sự phát triển  đất nước, nhưng cũng trong bối cảnh ấy, lãnh thổ dân tộc lại mở rộng hơn bao giờ  hết, kinh tế, xã hội có những bước phát triển mới, đó cũng chính là biện chứng của lịch  sử.

Trích trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học: “Chúa Nguyễn và Vương triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX” Tại Thanh Hóa, ngày 18-19/10/2008

* Trưởng khoa Sau đại học – Đại học Vinh

* CH 14 Lịch sử ViệtNam – Đại học Vinh

[1] Xuân Huyên (1995), Mối quan hệ của các chúa Trịnh với vua Lê và chúa Nguyễn, Kỷ yếu hội  thảo Chúa Trịnh vị trí và vai trò lịch sử, tr. 204 – 215.

[2] (14), (15)  Li Tana, Xứ Đàng Trong lịch sử kinh tế – xã hội Việt Nam thế kỷ 17 và 18,Nguyễn Nghị  dịch, Nxb Trẻ, 1999, tr. 15-32.

[3] (6), (9), (11)  Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại nam thực lục tiền biên (tập 1), Viện Sử học dịch, Nxb Sử  học, 1962, tr. 30-44.

[4] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam liệt truyện tiền biên, Viện Sử học dịch, Nxb Thuận Hoá,  Huế, 1993, tr. 75-76.

[5] Quốc sử quán triều Nguyễn, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Viện Sử học dịch, Nxb  Giáo dục, 1998, tr. 137.

[6] Đại Việt sử ký toàn thư, tập 3, Hoàng Văn Lâu – Ngô Thế Long dịch, Nxb Khoa học Xã hội, 2007,  tr. 137.

[7](10), (12) Lê Quý Đôn, Đại Việt thông sử, Ngô Thế Long dịch, Nxb Văn hoá thông tin, tr. 378 – 379.

[8] Phan Khoang, Việt sử xứ Đàng Trong, Nxb Văn học, 2001, tr. 5.

 

Nguồn bài đăng

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s