Các cuộc Thập tự chinh từ thế kỷ 11 đến hết thế kỷ 13

tác giả hongsonvh 

Thập tự chinh là một loạt các chiến dịch quân sự được tiến hành vì lý do tôn giáo bởi nhiều quốc gia Công giáo La Mã ở Châu Âu, đặc biệt là nước Pháp và Đế quốc La Mã Thần thánh. Các cuộc thập tự chinh cụ thể để khôi phục lại kiểm soát của người Kitô giáo tới vùng Đất Thánh là các cuộc chiến tranh kéo dài trong thời gian gần 200 năm, từ năm 1095 đến năm 1291. Các chiến dịch ở Tây Ban Nha và Đông Âu được tiếp tục vào thế kỷ 15. Các cuộc thánh chiến chủ yếu của lực lượng Công giáo La Mã (diễn ra sau khi Sự ly khai Đông Tây và hầu hết xẩy ra trước Cải cách Tin lành) nhằm vào người Hồi giáo, những người đã chiếm đóng vùng Cận đông kể từ thời vương quốc Hồi giáo Rashidun, Mặc dù các chiến dịch này cũng được tiến hành để chống lại người Slav, người Balt ngoại đạo, người Do Thái, người Nga và Kitô hữu Chính Thống, người Mông Cổ, người Cathar, người Hussite, người Waldensian, nước Phổ cổ, và kẻ thù chính trị của các giáo hoàng. Phe Chính Thống giáo cũng tham gia chiến đấu chống lại lực lượng Hồi giáo trong một số cuộc thập tự chinh. Những người tham gia Thập tự chinh thường là tự nguyện và đã được cấp một lễ rửa tội tập thể.

Các cuộc thập tự chinh ban đầu có mục tiêu là chiếm lại Jerusalem và Đất Thánh từ tay người Hồi giáo và các chiến dịch của họ được tiến hành để trả lời lời kêu gọi từ những người Kitô giáo của Đế quốc Byzantine để giúp họ chống lại sự bành trướng của người Seljuk Turk Hồi giáo vào vùng Anatolia. Thuật ngữ này cũng được sử dụng để mô tả các chiến dịch tiếp theo được tiến hành tới tận thế kỷ 16 ở vùng lãnh thổ bên ngoài Levant, các chiến dịch này thường nhằm vào dân ngoại đạo, dị giáo và những người bị rút phép thông công bởi một tập hợp các lý do tôn giáo, kinh tế và chính trị. Sự ganh đua giữa hai quyền lực Thiên chúa giáo và Hồi giáo cũng đã dẫn đến các liên minh giữa các phe phái tôn giáo chống lại đối thủ của họ, chẳng hạn như liên minh của người Thiên chúa giáo với Vương quốc Hồi giáo Rum trong cuộc Thập tự chinh lần thứ năm.

Các cuộc thập tự chinh đã tác động sâu rộng đến chính trị, kinh tế và xã hội, một số ảnh hưởng số trong đó kéo dài tới tận thời nay. Vì các cuộc xung đột nội bộ giữa các vương quốc Thiên chúa giáo và quyền lực chính trị, một số trong những cuộc thập tự chinh đã bị lệch khỏi mục tiêu ban đầu của họ, chẳng hạn như cuộc Thập tự chinh lần thứ tư, Kết quả là một cuộc bao vây được nhắm vào thành phố Constantinople và các thuộc địa của đế chế Byzantine bởi người Venice và quân Thập tự chinh. Cuộc Thập tự chinh thứ sáu là cuộc thập tự chinh đầu tiên được khởi hành mà không cần sự cho phép chính thức của Giáo hoàng. Các cuộc Thập tự chinh lần thứ bảy, thứ tám và thứ chín kết quả là người Mamluk và Hafsid đã chiến thắng, cuộc Thập tự chinh lần thứ chín đánh dấu sự kết thúc của các cuộc thập tự chinh trong vùng Trung Đông.

Tình hình Trung Đông

Đất Thánh là nơi cực kỳ quan trọng đối với người Kitô giáo, vì nơi đây là nơi sinh ra, giảng đạo, bị đóng đinh và phục sinh của Chúa Giêsu thành Nazareth, Người Kitô luôn coi Chúa Giêsu như là Đấng Cứu thế hay Messiah. Đến cuối thế kỷ thứ 4, sau khi Hoàng đế La Mã Constantine chuyển đổi sang Thiên chúa giáo (năm 313) và sau đó thành lập đế quốc Byzantine sau sự phân rẽ của Đế quốc La Mã, Đất Thánh đã trở thành một khu vực chủ yếu là của người Kitô giáo. Các lễ hội tôn giáo được tiến hành cho nhiều lễ kỷ niệm và cho những sự kiện trong cuộc đời của Chúa Giê-xu tại các địa điểm quan trọng.

Jerusalem nói riêng giữ một ý nghĩa quan trọng trong đạo Hồi vì nó là địa điểm để lên thiên đường của tiên tri Muhammad người mà người Hồi giáo tin là vị tiên tri quan trọng nhất của Allah và Jerusalem được xem là địa điểm thiêng liêng thứ ba trong số những địa điểm thiêng liêng nhất của người đạo Hồi. Sự hiện diện của người Hồi giáo tại Đất Thánh bắt đầu với việc người Hồi giáo xâm chiếm Syria trong thế kỷ thứ 7 dưới sự lãnh đạo của Rashidun Khalip. Chiến thắng của các đội quân Hồi giáo ngày càng tăng áp lực vào Đế quốc Byzantine Chính thống giáo Đông, người ban đầu đã tuyên bố khu vực là lãnh thổ của họ (một phần của Đế quốc Đông La Mã mà Byzantine được thừa kế) – sự kiện này cũng bao gồm cuộc tấn công cuối cùng của người Seljuk Thổ Nhĩ Kỳ. Jerusalem cũng có tầm quan trọng lịch sử với tôn giáo của người Do Thái vì nó là địa điểm của Western Wall-Bức tường phía Đông- phần cuối cùng còn lại của Đền thờ thứ hai. Người Do Thái coi Israel như là quê hương của tổ tiên của họ và đã đi thăm thành phố kể từ khi nó bị chiếm đóng bởi người La Mã và bị từ bỏ bởi người Do Thái sau cuộc nổi loạn của họ vào năm 66-73 AD.

Một yếu tố khác góp phần vào sự thay đổi thái độ của phương Tây về phía phương Đông vào năm 1009, khi Quốc vương Hồi giáo al-Hakim bi-Amr Allah triều Fatimid đã ra lệnh phá hủy Nhà thờ Thánh Sepulchre. Trong năm 1039 người thừa kế ông ta sau khi yêu cầu thanh toán một khoản tiền lớn đã cho phép đế quốc Byzantine xây dựng lại nó. Người hành hương đã được phép đến vùng đất Thánh trước và sau khi Nhà thờ Sepulchre được xây dựng lại. Người Hồi giáo đã nhận ra rằng có rất nhiều của cải đến Jerusalem từ những người hành hương, vì lý do này và cả những lý do khác, sự khủng-bố nhắm vào người hành hương cuối cùng cũng dừng lại. Tuy nhiên, thiệt hại vẫn xẩy ra và bạo lực của người Thổ Nhĩ Kỳ Seljuk đã trở thành một phần của mối quan tâm mà lan rộng hỗ trợ cho các cuộc thập tự chinh Thiên chúa giáo trên toàn thế giới.

Tình hình Tây Âu

Nguồn gốc của các cuộc thập tự chinh nằm trong sự phát triển của các nước Tây Âu trước đó trong thời Trung cổ, cũng như tình hình đang ngày một xấu đi của Đế quốc Byzantine ở phía đông gây ra bởi các làn sóng tấn công mới của người Hồi giáo Thổ Nhĩ Kỳ. Các phân tích về Đế quốc Carolingian vào những năm cuối thế kỷ 9, kết hợp với sự ổn định tương đối của các địa phương biên giới châu Âu sau sự kiện những người Viking, Slavs và Magyar được Kitô giáo hóa, đã xảy ra việc một số lượng lớn các chiến binh có vũ trang và đầy nhiệt tình đã chiến đấu với nhau một cách không đúng chỗ ( các chiến binh dù đã được Kitô giáo hóa nhưng họ vẫn là những chiến binh và nghề nghiệp của họ chỉ là đánh giết ) và thường tiến hành khủng-bố dân chúng địa phương. Giáo Hội đã cố gắng để ngăn chặn nạn bạo lực này với các phong trào Thỏa thuận ngừng bắn và Hòa bình của Thiên Chúa, tuy đã thu được phần nào thành công nhưng các chiến binh được đào tạo luôn luôn tìm kiếm một lối thoát để phát huy các kỹ năng của họ và cơ hội để mở rộng lãnh thổ đang ngày càng trở nên kém hấp dẫn trước giới đại quý tộc.

Năm 1063, Giáo hoàng Alexander II đã ban phước lành của mình để giáo dân ở Iberia tiến hành cuộc chiến tranh của họ chống lại người Hồi giáo, ông đã cấp cả một tiêu chuẩn của giáo hoàng (vexillum Sancti Petri) và một lễ rửa tội cho những người đã thiệt mạng trong trận chiến. Lời cầu khẩn của Hoàng đế Byzantine, người lúc này đang bị đe dọa bởi người Seljuk đã được lọt vào những đôi tai sẵn sàng lắng nghe. Những gì xảy ra từ năm 1074, giữa Hoàng đế Michael VII với Đức Giáo Hoàng Gregory VII và từ năm 1095 giữa Hoàng đế Alexios I Komnenos với Giáo hoàng Urban II. Một nguồn xác định trong hồ sơ của Trung Quốc Michael VII như là một người cai trị của Hy Lạp (Fulin), đã gửi một phái đoàn tới nhà Tống-Trung Quốc năm 1081. Một học giả Trung Quốc cho rằng đặc sứ này và thậm chí cả Byzantine nữa trong năm 1091 yêu cầu Trung Quốc hỗ trợ trong cuộc chiến chống lại người Thổ.

Các cuộc thánh chiến là một phần lối thoát cho một niềm đạo đức tôn giáo mãnh liệt lúc này càng ngày càng tăng lên vào cuối thế kỷ 11 trong số các công dân là giáo dân ở châu Âu. Một người thập tự quân sau khi đã thề một lời thề trang trọng và nhận được một cây thánh giá từ tay của Đức Giáo Hoàng hay legate-đại diện của ông ta và được từ đó người này được coi là một “người lính của Giáo Hội”. Đây là một phần của Investiture Controversy ( sự trao quyền đầy Tranh cãi ), vốn bắt đầu khoảng năm 1075 và vẫn còn tiếp diễn đến cuộc Thập tự chinh đầu tiên. Khi hai phe thuộc Investiture Controversy cố gắng để thu hút ý kiến ủng hộ của công chúng cho họ, làm cho mọi người trở nên tham gia vào một cuộc tranh cãi tôn giáo mạnh mẽ một cách cá nhân. Kết quả là họ đã đánh thức đạo đức Kitô giáo một cách mạnh mẽ và vì lợi ích cộng đồng trong các vấn đề tôn giáo, và ý thức này lại được tăng cường hơn nữa bằng các tuyên truyền về tôn giáo, mà chủ trương là Just Wa-Chỉ bằng chiến tranh ( ý nói không có thương lượng) để chiếm lại Thánh Địa từ tay người Hồi giáo. Đất Thánh bao gồm Jerusalem (nơi theo thần học Kitô giáo đã xảy ra cái chết, phục sinh và bay vào thiên đường của Chúa Giê-xu) và Antioch (thành phố đầu tiên của Giáo dân Kitô giáo). Hơn nữa, sự tha tội ( rửa tội? em ko rành lắm) là một nhân tố thúc đẩy bất kỳ người nào còn biết kính Chúa, những người đã phạm tội ác mà muốn thoát khỏi sự trừng phạt muôn đời không thể cưỡng lại của Địa ngục. Đây là một vấn đề tranh cãi nóng bỏng trong các cuộc Thánh chiến là liệu những gì được gọi là “tha tội-rửa tội” có ý nghĩa thật sự hay không ( hay bị lợi dụng). Hầu hết những người tham gia Thập tự chinh đều tin rằng bằng cách tái chiếm Jerusalem họ sẽ đi thẳng lên thiên đàng sau khi họ chết trận. Tuy nhiên, còn nhiều vấn đề tranh cãi xung quanh chính xác những gì các giáo hoàng đã hứa trong thời gian này. Một giả thuyết là nếu một người đã chết trong chiến đấu để lấy lại Jerusalem trong thời gian “tha tội-rửa tội” được áp dụng-> sẽ được lên thiên đàng, đây là chính xác những gì Giáo hoàng Urban II nói trong bài phát biểu của mình. Điều này có nghĩa rằng nếu quân viễn chinh đã thành công và trong trường hợp tái chiếm được Jerusalem thì những người sống sót sẽ không được xoá tội và không được lên thiên đàng ( Hoàn toàn hợp lý, Giáo hoàng ban sự xóa tội cho những người hy sinh khi tái chiếm Jerusalem-họ là người tử vì đạo và được lên thiên đàng, vậy những người không tử trận thì không được xoá tội, vậy muốn lên đó thì họ phải tự tử khi vừa mới thu được thắng lợi để được lên thiên đàng?)

Phản ứng tức thì

Nguyên nhân trực tiếp của cuộc Thập tự chinh đầu tiên là hoàng đế Byzantine Alexios I đề nghị Giáo hoàng Urban II cử lính đánh thuê đến để giúp ông chống lại người Hồi giáo lúc này đang ồ vào lãnh thổ của đế quốc Byzantine. Năm 1071, tại Trận Manzikert ( sẽ có một bài riêng về trận này) Đế chế Byzantine bị đánh bại, dẫn đến sự mất mát phần lớn vùng Tiểu Á (hiện nay là Thổ Nhĩ Kỳ) và họ chỉ còn giữ được vùng duyên hải. Mặc dù cố gắng hòa giải sau Sự ly khai Đông Tây giữa Catholic Church ( Công giaó La Mã ) ở phía tây châu Âu và Giáo hội Chính Thống phương Đông đã không thành công, hoàng đế Alexius I hy vọng cho một phản ứng tích cực từ phía Giáo hoàng Urban II và đã có nó.

Khi những cuộc Thập tự chinh đầu tiên được truyền bá trong năm 1095, các hoàng tử Kitô giáo ở miền Bắc xứ Iberia đang chiến đấu ở vùng núi Galicia và Asturias, các xứ Basque và Navarre ( Basque thuộc nay TBN và Navarre nay thuộc Pháp ), đã có các thành công liên tục trong khoảng một trăm năm. Sự sụp đổ của vùng Toledo và Vương quốc León của người Moor trong năm 1085 là một chiến thắng lớn, nhưng điểm nóng chảy ( điểm thay đổi mang tính bản lề ) của phong trào Reconquista vẫn còn nằm trong tương lai. Sự mất đoàn kết của các tiểu vương Hồi giáo là một yếu tố tối cần thiết.

Trong khi phong trào Reconquista ( tái chiếm các vùng đất thuộc TBN ngày nay khỏi tay người Hồi giáo) là ví dụ nổi bật nhất về phản ứng của châu Âu để chống lại các Cuộc chinh phục của người Hồi giáo, nhưng đây không phải là ví dụ duy nhất. Robert Guiscard-tay phiêu lưu người Norman đã chinh phục xứ Calabria năm 1057 và giữ được Sicily-vùng lãnh thổ truyền thống của Đế quốc Byzantine trước sự xâm lược của người Hồi giáo. Các thành bang có hải quân phát triển như Pisa, Genoa và Catalonia tất cả đều tích cực chiến đấu chống lại vương quốc Majorca của người Hồi giáo, và giải phóng được vùng bờ biển nước Ý và Catalonia khỏi các cuộc tấn công của người Hồi giáo. Trước đó rất lâu Syria, Lebanon, Palestine, Ai Cập… quê hương của Kitô giáo đã bị chinh phục bởi đội quân của người Hồi giáo. Những đêm trường lịch sử của việc mất mát những lãnh thổ nhạy cảm này vào tay một kẻ thù tôn giáo đã tạo ra một động lực mạnh mẽ để đáp ứng lời kêu gọi của hoàng đế Byzantine Alexius I về một cuộc thánh chiến để bảo vệ Thiên Chúa giáo và để tái chiếm các vùng đất bị mất bắt đầu từ Jerusalem.

Đức Giáo Hoàng Gregory VII đã có những tranh cãi về các giá trị giáo lý của một cuộc thánh chiến và đổ máu nhân danh Chúa với những khó khăn trong việc giải quyết các câu hỏi phán xét việc bạo lực mang lại lợi lộc cho ai. Quan trọng hơn nữa là Đức Giáo Hoàng quan tâm đến việc các Kitô hữu hành hương đến Đất Thánh bị bức hại. Thánh Saint Augustine xứ Hippo-bản sao về mặt trí tuệ của Giáo hoàng Gregory, đã biện minh cho việc sử dụng vũ lực trong việc phục vụ Chúa Kitô trong The City of God-Thành phố của Thiên Chúa, và chỉ bằng chiến tranh của Kitô giáo mới có thể nâng cao vị thế của một nhà lãnh đạo mạnh mẽ đầy tham vọng của châu Âu, như Gregory đã nhìn nhận về chính mình. Những người miền Bắc sẽ tăng cường củng cố xung quanh Rome, và các hiệp sĩ chuyên gây rắc rối của họ có thể sẽ thấy được nghề nghiệp phù hợp với họ ( tiếp tục nghề đâm chém ở phương Đông ). Những nỗ lực trước đây của nhà thờ để ngăn chặn bạo lực, chẳng hạn như khái niệm “Hòa bình của Thiên Chúa” đã không thu được thành công như mong đợi. Về phía nam của Rome, người Norman đã cho thấy họ đáng sợ như thế nào đối với cả hai người Ả Rập (ở Sicily) và Byzantine (trên đất liền). Một quyền bá chủ của người La tinh ( phương Tây) ở các quốc gia Trung cận động sẽ cung cấp đòn bẩy trong việc giải quyết tranh chấp giữa Giáo hoàng trước uy quyền tối cao của Giáo trưởng Constantinople, việc này đã dẫn đến việc Sự ly khai lớn trong năm 1054, một rạn nứt không thể giải quyết bằng sức mạnh của người Frank.

Tại Đế quốc Byzantine, điểm yếu của Hoàng đế phía Đông đã bị bộc lộ bởi sự thất bại thảm hại trong Trận Manzikert trong năm 1071, lãnh thổ châu Á của đế chế ở khu vực phía tây Anatolia và vùng xung quanh Constantinople đã thất thủ. Một dấu hiệu chắc chắn cho thấy sự tuyệt vọng của Byzantine chính là lời kêu gọi của Alexios I tới Đức Giáo Hoàng-kẻ thù của mình để xin viện trợ. Nhưng Giáo Hoàng Gregory lúc này đang bận về vấn đề Investiture Controversy ( sự trao quyền đầy Tranh cãi ) và không thể kêu gọi hoàng đế Đức ( lực lượng chính của Thập tự quân), do đó một cuộc thánh chiến đã không bao giờ được hình thành ( vào thời của Giáo Hoàng Gregory).

Vào thời của Giáo hoàng Urban II-người kế nhiệm ôn hoà hơn của Gregory, một cuộc thánh chiến sẽ làm cho người Thiên Chúa giáo đoàn tụ lại, củng cố địa vị của Giáo hoàng và có thể mang lại phía Đông dưới sự kiểm soát của ông. Những người Đức và người Norman bất mãn đã không được tính đến, và trái tim và xương sống của một cuộc thánh chiến có thể được tìm thấy ở quê hương của chính Giáo hoàng Urban ở phía Bắc của nước Pháp.

Sau cuộc Thập tự chinh lần thứ nhất

Ở mức độ đại chúng, cuộc thánh chiến đầu tiên đã tạo ra một làn sóng say mê, một cách cá nhân các con chiên ngoan đạo của Thiên chúa giáo đã thể hiện sự giận dữ trong các cuộc tàn sát nhằm vào người Do Thái ( bọn bán Chúa) đi kèm với sự di chuyển của các đám đông qua châu Âu, cũng như bạo lực nhằm vào Chính thống giáo ở phía Đông vì tội “ly giáo”. Trong rất nhiều các cuộc tấn công vào người Do Thái, các Giám mục và một số Kitô hữu địa phương đã cố gắng bảo vệ những người Do Thái từ các đám đông thập tự chinh ( Khoảng mười vạn dân Pháp + Đức chia thành hai đoàn Thập tự chinh, họ hoàn toàn vô tổ chức vừa đi vừa cướp phá, khi chưa đến được Đất thánh họ đã bị tiêu diệt bởi người Thổ nhĩ kỳ và chết đói khát dọc đường-Đây không phải là lực lượng chính của quân Thập tự chinh lần thứ nhất).

Trong thế kỷ 13, các lần Thập tự chinh không bao giờ còn được thể hiện như là một cơn sốt của nhân dân và sau khi pháo đài Acre thất thủ ở cuối năm 1291 và Occitan Cathars bị tiêu diệt trong cuộc thập tự chinh Albegensian, Lý tưởng về các cuộc thập tự chinh của Đức Giáo hoàng đã bị biến chất-giảm giá trị đến mức trở thành các cuộc lấn chiếm lãnh thổ giữa các vương quốc Công giáo châu Âu với nhau.

Cuộc thập tự chinh cuối cùng của các Tổ chức hiệp sĩ được tiến hành là để giữ lãnh thổ Knights Hospitaller ( Hiệp sỹ cứu tế-bệnh viện ). Sau sự sụp đổ của Acre cứ điểm cuối cùng của người Thiên chúa giáo, họ nắm quyền kiểm soát đảo Rhodes, và trong thế kỷ 16 họ phải chuyển tới Malta trước khi cuối cùng Napoleon Bonaparte lại xua họ đi vào năm 1798.

Cuộc Thập tự chinh đầu tiên

Thời gian: từ năm 1096–> năm 1099
Địa điểm: Vùng Cận Đông (vùng Anatolia, các quốc gia Trung cận động, Palestine)
Kết quả: Thập tự quân chiến thắng quyết định và thành lập Lãnh thổ của Vương quốc Jerusalem và các thành bang thập tự chinh khác

Thành phần tham chiến

Tín đồ Cơ đốc giáo:
Đế chế La Mã Thần thánh

  • Genoa
  • Vùng hạ Lorraine
  • Quận quốc Toulouse
  • Marquisate của Provence

Vương quốc Pháp

  • Blois
  • Boulogne
  • Flanders
  • Le Puy-en-Velay
  • Vermandois
  • Normandy

Vương quốc Anh
Công quốc Apulia

  • Taranto

Đế quốc Byzantine
Vương quốc Cilicia Armenia

Chỉ huy

Godfrey của Bouillon
Raymond IV
Stephen II
Baldwin của Boulogne
Eustace III của Boulogne
Robert II của Flanders
Adhemar của Le Puy
Hugh của Vermandois
Robert II của Normandy
Bohemond của Taranto
Tancred của Taranto
Alexios I Komnenos
Tatikios
Manuel Boutoumites
Guglielmo Embriaco
Constantine I

Lực lượng

Quân Thập tự chinh:
~ 35.000 người

  • 30.000 bộ binh
  • 5.000 kỵ binh

Byzantine:
~ 2.000 người

Nông dân Pháp+Đức+Ý
~ 100.000 người

Tín đồ Hồi giáo:
Đế quốc Đại Seljuk
Vương quốc Hồi giáo Danishmend
Vương quốc Hồi giáo Fatimid
Vương quốc Hồi giáo Almoravid
Vương quốc Hồi giáo Abbasid

Chỉ huy
Kilij Arslan I
Yaghi-Siyan
Kerbogha
Duqaq
Fakhr al-Mulk Radwan
Ghazi ibn Danishmend
Iftikhar Ad-Daula
Al-Afdal Shahanshah

Lực lượng
Không rõ nhưng đông hơn lực lượng chính quy của Thập tự quân

Cuộc Thập tự chinh đầu tiên là một cuộc viễn chinh quân sự 1096-1099 do người Kitô giáo phương Tây tiến hành để lấy lại Đất Thánh vốn đã bị lấy mất trong các cuộc chinh phục của người Hồi giáo Các nước Trung cận động, cuối cùng họ (người Kitô giáo phương Tây ) cũng tái chiếm được Jerusalem. Nó (Cuộc Thập tự chinh đầu tiên ) được bắt đầu vào năm 1095 bởi Giáo hoàng Urban II với mục tiêu chính là đáp ứng kháng thư của Hoàng đế Byzantine Alexios I Komnenos, người đã yêu cầu những người tình nguyện phương Tây đến để viện trợ và giúp đỡ mình đẩy lùi các cuộc xâm-lược của người Turks Seljuk từ Anatolia. Một mục tiêu bổ sung nhanh chóng trở thành mục tiêu chính-cuộc tái chiếm Jerusalem – thành phố thiêng liêng của người Kitô giáo cùng với vùng Đất Thánh và giải phóng người Kitô giáo phương Đông từ sự cai trị của người Hồi giáo.

Trong suốt cuộc thập tự chinh, các hiệp sĩ và những người nông dân từ nhiều quốc gia của Tây Âu hành quân trên đất liền và bằng đường biển, đầu tiên là họ đến Constantinople và sau đó là về hướng Jerusalem, như là các đạo quân viễn chinh, những người nông dân đông hơn rất nhiều so với các hiệp sĩ. Nông dân và các hiệp sĩ được chia thành các đội quân riêng, tuy nhiên vì người nông dân đã không được đào tạo trong chiến đấu như các hiệp sĩ, quân đội của họ đã không đạt được Jerusalem. Khi các hiệp sĩ đến được Jerusalem, họ đã phát động một cuộc tấn công vào thành phố và chiếm giữ nó trong tháng 7 năm 1099 và thành lập các thành bang thập tự quân bao gồm Vương quốc Jerusalem, Công quốc Tripoli, Công quốc Antioch và Công quốc Edessa.

Vì cuộc Thập tự chinh đầu tiên chủ yếu liên quan đến Jerusalem, một thành phố mà đã không nằm trong ảnh hưởng của người Thiên chúa giáo trong 461 năm và quân đội thập tự chinh đã từ chối trả lại đất cho Đế quốc Byzantine, bản chất của cuộc Thập tự chinh đầu tiên là phòng thủ hay tấn công vẫn còn gây tranh cãi.

Cuộc Thập tự chinh đầu tiên là một phần của phản ứng của Kitô giáo với các cuộc chinh phục của người Hồi giáo, tiếp theo cuộc Thập tự chinh thứ hai … cho đến cuộc Thập tự chinh lần thứ IX, nhưng các cuộc Thập tự chinh khác vẫn nổ ra trong ít nhất hơn 200 năm sau. Nó cũng là bước tiến lớn đầu tiên để mở cửa trở lại thương mại quốc tế ở phương Tây kể từ sự sụp đổ của Đế quốc La Mã phương Tây.

Bối cảnh

Nguồn gốc của các cuộc thập tự chinh nói chung, và đặc biệt là của cuộc Thập tự chinh đầu tiên vẫn còn đang được tranh cãi giữa các sử gia. Phần lớn các cuộc thập tự chinh có liên quan đến tình hình chính trị và xã hội của châu Âu trong thế kỷ thứ 11, sự nổi lên của một phong trào cải cách trong chức vị giáo hoàng, và cuộc đối đầu về chính trị và tôn giáo giữa Kitô giáo và Hồi giáo ở châu Âu và Trung Đông. Kitô giáo đã lan khắp châu Âu, châu Phi và Trung Đông vào thời Cổ đại, nhưng vào đầu thế kỷ 8 nó đã bị giới hạn ở châu Âu và vùng Anatolia sau những cuộc chinh phục Hồi giáo. Vương quốc Hồi giáo Umayyad đã chinh phục Syria, Ai Cập và Bắc Phi chủ yếu là từ Đế quốc Byzantine Kitô giáo, và Tây Ban Nha từ Vương quốc Visigoth. Tại Bắc Phi, đế quốc Ummayad cuối cùng đã sụp đổ và một số vương quốc Hồi giáo nhỏ hơn đã xuất hiện, chẳng hạn như Aghlabids, đây chính là vương quốc đã tấn công vào Italy trong Thế kỷ thứ 9. Các thành phố Pisa, Genoa và Công quốc Catalonia bắt đầu chiến trận các vương quốc Hồi giáo để kiểm soát Lưu vực của biển Địa Trung Hải, điều này được minh chứng bằng các chiến dịch Mahdia và các trận chiến tại Majorca và Sardinia.

Tình hình ở châu Âu

Tại rìa phía tây của châu Âu và trong sự mở rộng của người Hồi giáo, phong trào Reconquista ở Tây Ban Nha cũng được tiến hành ở thế kỷ 11, đây được coi là cuộc chiến của ý thức hệ, bằng chứng là cuấn Epitome Ovetense của Rodrick McManigal trong năm 881, nhưng nó không phải là một dạng tiền thân của các cuộc thập tự chinh. Ở thế kỷ thứ 11 ngày càng có nhiều hiệp sĩ nước ngoài, chủ yếu là đến từ Pháp, đến Tây Ban Nha để giúp các Kitô hữu trong các nỗ lực của họ để tái chinh phục. Ngay trước khi các cuộc Thập tự chinh đầu tiên nổ ra, Giáo hoàng Urban II đã khuyến khích các Kitô hữu ở Tây Ban Nha chiếm lại lãnh địa Tarragona, Sử dụng nhiều các biểu tượng và ngôn từ tương tự như những thứ mà sau này được sử dụng để rao giảng về các cuộc thánh chiến cho người dân của châu Âu.

Bản thân vùng trung tâm của Tây Âu cũng đã chở nên tương đối ổn định sau sự Kitô hóa của người Saxon, Viking và Hungary vào cuối thế kỷ thứ 10. Tuy nhiên, sự tan rã của Đế quốc Carolingian đã tạo ra một tầng lớp chiến binh, những người lúc này không có nhiều việc để làm ngoài những cuộc chiến giữa bọn họ. Bạo lực xảy ra một cách ngẫu nhiên giữa các tầng lớp hiệp sĩ thường xuyên bị lên án là bởi nhà thờ và ( nhà thờ ) đã phản ứng bằng cách thành lập Hòa bình và thỏa thuận ngừng bắn của Thiên Chúa để cấm chiến đấu vào những ngày nhất định trong năm. Đồng thời, các giáo hoàng có đầu óc cải cách bước vào các cuộc xung đột với Hoàng đế La Mã Thần thánh, kết quả là nổ ra sự Tranh cãi về sự trao quyền. Các Giáo Hoàng như Đức Giáo Hoàng Gregory VII hợp lý hóa cuộc chiến tranh tiếp theo để chống lại các chỉ trích của Hoàng đế La Mã Thần thánh về vấn đề thần học. Người ta đã chở nên chấp nhận việc Đức Giáo Hoàng lợi dụng các hiệp sĩ trong cái tên Tín đồ Cơ đốc giáo không chỉ để chống lại kẻ thù chính trị của bản thân Giáo hoàng, mà còn để chống lại người Hồi giáo Tây Ban Nha hoặc về mặt lý thuyết để chống lại Triều đình người Turk Seljuk ở phía đông.

Về phía đông của châu Âu vốn là sân nhà của đế quốc Byzantine, họ gồm các Kitô hữu đã một thời gian dài theo một nghi thức Chính thống giáo riêng biệt, Chính thống giáo phương Đông và nhà thờ Công giáo La Mã đã ly giáo từ năm 1054. Các sử gia đã cho rằng mong muốn áp đặt quyền lực nhà thờ La Mã ở phía đông có thể là một trong những mục tiêu của chiến dịch này, mặc dù Urban II-người đã phát động cuộc Thập tự chinh đầu tiên, không bao giờ đề cập đến mục tiêu này một cách chính thức trong những lá thư của mình cho cuộc thập tự chinh “. Người Turk Seljuk đã xâm chiếm gần như toàn bộ vùng Anatolia sau thất bại của người Byzantine tại Trận Manzikert trong năm 1071, với kết quả là vào đêm trước của Hội đồng Clermont, lãnh thổ trong tầm kiểm soát của Đế quốc Byzantine đã giảm xuống chỉ còn hơn một nửa. Đến thời của Hoàng đế Alexios I Komnenos, lãnh thổ của Đế quốc Byzantine chủ yếu chỉ còn là vùng Balkan ở châu Âu và rìa Tây Bắc của vùng Anatolia và họ phải đối mặt với kẻ thù là người Norman ở phía tây cũng như người Thổ Nhĩ Kỳ ở phía đông. Để đối phó với sự thất bại ở Manzikert và sau đó thiệt hại của Byzantine ở Tiểu Á trong năm 1074, Giáo hoàng Gregory VII đã kêu gọi milites Christi (“Người lính của Chúa Kitô”) để đến và viện trợ cho Byzantine-Hy Lạp. Thực chất thì phần lớn lời kêu gọi này đã bị bỏ qua và thậm chí bị phản đối, tuy nhiên nó cũng tập trung được rất nhiều sự chú ý về phía đông.

Tình hình ở châu Á

Cho đến khi có sự xuất hiện của quân viễn chinh, Đế quốc Byzantine vẫn phải liên tục chiến đấu với người Turk Seljuq và các triều đại Thổ Nhĩ Kỳ khác kiểm soát vùng Anatolia và Syria. Người Seljuq, những người theo Hồi giáo dòng Sunni, đã cai trị Đế quốc Đại Seljuk trước đây, nhưng vào thời gian của cuộc Thập tự chinh đầu tiên nó đã bị chia thành một số tiểu quốc nhỏ hơn sau cái chết của Malik-Shah I trong năm 1092. Malik-Shah đã trao quyền thừa kế của vùng Anatolia cho Vương quốc Hồi giáo Rum của Kilij Arslan I, và Syria cho anh trai Tutush I-người đã chết trong năm 1095. Fakhr al-Mulk Radwan và Duqaq-con trai của Tutush đã kế thừa vùng Aleppo và Damascus tương ứng, rồi lại tiếp tục bị phân chia giữa các tiểu vương Syria đối kháng với nhau, cũng như Kerbogha-atabeg của Mosul.

Ai Cập và nhiều phần của Palestine đã bị kiểm soát bởi vương quốc Hồi giáo Fatimid Ả Rập Shia, vương quốc này chở nhỏ hơn một cách đáng kể kể từ khi có sự xuất hiện của người Seljuq. Chiến tranh giữa triều Fatimid và người Seljuq đã gây ra sự gián đoạn tuyệt đối cho các Kitô hữu địa phương và khách hành hương tây. Triều đình Fatimid, dưới sự cai trị danh nghĩa của quốc vương Hồi giáo al-Musta’li nhưng thực sự kiểm soát của tể tướng al-Afdal Shahanshah, đã bị mất Jerusalem vào tay người Seljuq trong năm 1073 (mặc dù một số tài liệu cũ nói rằng năm 1076); họ đã chiếm lại nó trong 1098 từ triều đình Artuqid, một bộ tộc Turk nhỏ hơn có liên kết với người Seljuq, ngay trước khi có sự xuất hiện của quân viễn chinh.

Nghiên cứu lịch sử

Bây giờ người ta không thể đánh giá chính xác tại sao cuộc Thập tự chinh đầu tiên lại xảy ra, mặc dù nguyên nhân của nó có thể đã được đề xuất bởi các sử gia. Các biên soạn lịch sử của cuộc thập tự chinh này đã phản ánh nỗ lực của các sử gia khác nhau để hiểu được nguyên nhân gây phức tạp và luận cứ của cuộc Thập tự chinh. Một lý thuyết thời đầu hiện đại, được gọi là ” luận án Erdmann “, được phát triển bởi nhà sử gia Đức Carl Erdmann, nó trực tiếp liên kết các cuộc thập tự chinh với các phong trào cải cách ở thế kỷ thứ 11. Lý thuyết này lần đầu tiên tuyên bố rằng ” việc chuyển chiến binh đến hỗ trợ phía đông và hỗ trợ cuộc chiến của đế quốc Byzantine là mục tiêu chính của Thập tự chinh, và rằng cuộc chinh phục thành phố Jerusalem là mục tiêu thứ yếu”.

Nói chung, các sử gia sau này hoặc có thể tiếp tục Erdmann với mở rộng hơn nữa luận án của ông, hoặc phản đối nó. Một số sử gia, chẳng hạn như Speros Vryonis, đã nhấn mạnh ảnh hưởng của sự gia tăng của Hồi giáo nói chung và đặc biệt là nhấn mạnh về tác động của các đợt tấn công của người Seljuk gần lúc đó. Steven Runciman cho rằng cuộc thập tự chinh đã được thúc đẩy bởi một sự kết hợp của thần học biện minh cho cuộc thánh chiến và một “sự bồn chồn nói chung và mùi vị của các cuộc phiêu lưu”, đặc biệt là giữa những người Norman và những “người con trai trẻ hơn” của giới quý tộc Pháp-những người không còn có cơ hội nào khác ( Trong gia đình một quý tộc Pháp thì thường người anh cả sẽ thừa kế gia tài, những người em trai phải bước ra ngoài để tìm kiếm cơ hội cho chính mình). Runciman thậm chí còn ngụ ý rằng không có mối đe dọa ngay lập tức từ thế giới Hồi giáo, ông còn cho rằng “vào giữa thế kỷ 11 rất nhiều Kitô hữu ở Palestine hiếm khi được chở nên dễ chịu như vậy “. Tuy nhiên, luận điểm của Runciman mình chỉ giới hạn đến vùng Palestine dưới sự cai quản của triều Fatimid 1029-1073 mà không đề cập đến thời của người Seljuq. Hơn nữa, nguồn này thường được coi là tích cực đối với nhiều Kitô hữu ở Palestine trong thế kỷ thứ 11 sau này được coi là không rõ ràng, vì có rất ít nguồn tài liệu bằng văn bản trong thời kỳ này từ Palestine và hầu như không tồn tại nguồn tư liệu của Kitô giáo phát sinh trực tiếp từ Palestine dưới thời cai trị của người Seljuk. Đối lập với đối liệu của Runciman, và trên cơ sở tài liệu hiện đại của người Jewish Cairo Geniza, cũng như tài liệu sau này của người Hồi giáo, Moshe Gil cho rằng cuộc chinh phục và chiếm đóng Palestine của người Seljuk (năm 1073-1098) là một giai đoạn “tàn sát và phá hoại, cùng với các khó khăn về kinh tế và tróc rễ dân Thiên chúa giáo”. Thật vậy, bản thảo của các nhà văn trước đó như Ignatius của Melitene, Michael xứ Syria đã ghi nhận rằng người Seljuq đã nhắm vào Coele-Syria và bờ biển Palestine để “phá hủy và cướp bóc”.

Thomas Asbridge lập luận rằng cuộc Thập tự chinh đầu tiên được Giáo hoàng Urban II phát động để cố gắng mở rộng quyền lực của giáo hội và để đoàn tụ giáo hội La Mã với Constantinople, vốn bị chia rẽ từ sự ly khai từ năm 1054. Tuy nhiên, Asbridge lại đưa ra rất ít bằng chứng từ những bài viết của Giáo hoàng Urban để củng cố tuyên bố này. Theo Asbridge, sự lan truyền của Hồi giáo là không quá quan trọng bởi vì “Hồi giáo và Thiên Chúa giáo đã cùng tồn tại một cách cân bằng trong nhiều thế kỷ “. Nhưng Asbridge lại không chú ý đến những cuộc chinh phục của người Thổ Nhĩ Kỳ vào phía nam Anatolia và Syria trước đó và đã phá vỡ sự cân bằng về quyền lực mong manh nhưng tương đối ổn định mà đế quốc Byzantine đã phần nào phục hồi và dần dần phát triển so với sức mạnh trước đó của đạo Hồi giáo trong suốt thế kỷ 11 và đầu 10 . Sau thất bại tại Manzikert trong năm 1071, người Hồi giáo đã chiếm mất một nửa lãnh thổ của đế quốc Byzantine, và các thành phố quan trọng về mặt chiến lược và tôn giáo như Antioch và Nicaea đã thất thủ trước người Hồi giáo chỉ trong thập niên trước khi Hội đồng Piacenza họp mặt. Hơn nữa, các tài liệu về cuộc xâm lược và chinh phục Anatolia của Thổ Nhĩ Kỳ được ghi nhận bởi các sử gia Kitô giáo phương Đông như là John Skylitzes, Michael Attaleiates, Matthew xứ Edessa, Michael xứ Syria và những người khác vốn được tổng hợp bởi Vryonis, dường như mâu thuẫn với hình ảnh mà Asbridge đưa ra đó là sự “chung sống” bình thản giữa thế giới Kitô giáo và Hồi giáo trong nửa sau của thế kỷ thứ 11.

Thomas Madden đại diện cho một quan điểm gần như trái ngược với quan điểm của Asbridge, cho rằng cuộc thập tự chinh chắc chắn liên quan đến cải cách giáo hội và nỗ lực để khẳng định thẩm quyền giáo hoàng, ông cũng lập luận rằng quan trọng nhất là một cuộc đấu tranh giải phóng các Kitô hữu, những người mà Madden khẳng định, “đã bị đàn áp khốc liệt dưới bàn tay của người Thổ Nhĩ Kỳ “. Lập luận này ám chỉ đến nạn bạo lực tương đối gần đó và các cuộc chiến tiếp sau những cuộc chinh phục của người Thổ Nhĩ Kỳ từ những bước tiến của người Hồi giáo. Christopher Tyerman kết hợp cả hai quan điểm đối lập trong luận án của mình, cụ thể là các cuộc Thập tự chinh xuất phát từ các cải cách giáo hội và các lý thuyết của thánh chiến cũng như nó là một phản ứng trong xung đột với thế giới Hồi giáo trên khắp Châu Âu và Trung Đông. Theo nghiên cứu của Jonathan Riley-Smith, nạn mất mùa và dân số quá đông đúc cùng với các phong trào thực dân trước đó đối với các khu vực biên giới của châu Âu cũng góp phần vào cuộc thập tự chinh…

Ý tưởng cho rằng những cuộc thánh chiến là một phản ứng với người Hồi giáo đã tồn tại từ thế kỷ thứ 12 khi nhà sử gia William xứ Tyre, người đã bắt đầu viết cuấn biên niên sử của ông khi thành phố Jerusalem đã thất thủ trước Umar. Mặc dù những cuộc chinh phục đầu tiên của người Hồi giáo đã được thực hiện nhiều thế kỷ trước khi cuộc Thập tự chinh đầu tiên được bắt đầu, các sự kiện gần đó hơn có thể vẫn còn in sâu trong tâm trí của các Kitô hữu châu Âu thời gian đó. Ví dụ, trong năm 1009 Nhà thờ Thánh Sepulchre đã bị phá hủy bởi al-Hakim bi-Amr Allah của Triều đình Fatimid; Đức Giáo Hoàng Sergius IV được cho là đã kêu gọi một cuộc viễn chinh quân sự để phản ứng lại hành động này, và ở Pháp nhiều cộng đồng người Do Thái thậm chí còn bị tấn công trả đũa mặc dù là bị nhầm đối tượng ( ở đây có lẽ là người Do Thái cho vay lãi cắt cổ nên giàu ú ụ-> bị người ta tranh thủ làm thịt). Mặc dù Nhà thờ Thánh Sepulchre đã được xây dựng lại sau cái chết của al-Hakim, và các cuộc hành hương đã được nối trở lại, bao gồm cả Cuộc Đại hành hương của người Đức năm 1064-1065, người hành hương vẫn tiếp tục bị tấn công từ người Hồi giáo địa phương. Ngoài ra, hơn nữa gần lúc này người Thổ Nhĩ Kỳ đã xâm nhập vào Tiểu Á và miền bắc Syria và theo các sử gia Kitô giáo phương Đông thì họ đã chắc chắn gieo rắc những tàn phá và người Byzantine đã trình bày lại điều này với Đức Giáo Hoàng để thu hút sự trợ giúp của người Kitô hữu ở châu Âu.

Hội đồng Clermont

Trong khi các cuộc thập tự chinh đã làm bắt rễ sâu trong cuộc sống chính trị và xã hội của châu Âu ở thế kỷ thứ 11, sự kiện cuối cùng thực sự gây ra cuộc Thập tự chinh đầu tiên được cho là đề nghị hỗ trợ từ hoàng đế Byzantine Alexios I Komnenos. Alexios đã lo lắng về sự tiến lên của người Seljuqs, lúc này họ đã đến tận phía tây İznik, cách không xa Constantinople. Trong tháng ba năm 1095, Alexios gửi sứ thần đến Hội đồng Piacenza để yêu cầu Giáo hoàng Urban II gửi viện trợ để chống lại người Thổ Nhĩ Kỳ. Giáo hoàng trả lời một cách đầy triển vọng, có lẽ ông hy vọng sẽ hàn gắn sự ly khai lớn trong bốn mươi năm trước đó, và tái thống nhất Giáo Hội là ưu tiên của Đức Giáo Hoàng bằng cách giúp giáo hội phương Đông vào lúc họ cần giúp đỡ.

Trong tháng 7 năm 1095, Urban hướng về quê hương của ông ở nước Pháp để kêu gọi tuyển dụng người cho các cuộc viễn chinh. Ông đã đi đến đó và dự họp với Hội đồng Clermont trong tháng 11, ở đây theo một số bài phát biểu khác nhau được cho là cuả ông, ông đã diễn thuyết một bài giảng đầy nhiệt huyết trước đối tượng là một số lượng rất lớn giáo sĩ và các quý tộc Pháp, ông tả chi tiết về các hành động cực kỳ tàn bạo được cho là nhằm đã nhằm vào người hành hương và các Kitô hữu phương Đông . Có năm bản ghi nhớ của bài phát biểu được ghi lại bởi những người có thể đã ở tại Hội đồng (Baldric của Dol, Guibert xứ Nogent, Robert the Monk và Fulcher xứ Chartres) hoặc những người đã tham gia vào cuộc thánh chiến (Fulcher và tác giả vô danh của cuấn Gesta Francorum), Cũng như các phiên bản khác tìm thấy bởi các sử gia sau này (chẳng hạn như William xứ Malmesbury và William xứ Tyre). Tất cả các phiên bản được viết sau khi Jerusalem đã bị chiếm đóng ( chắc là bởi quân Thập tự chinh). Vì vậy thật khó để biết những gì đã thực sự được nói và những gì là tái tạo từ kết quả của một cuộc thập tự chinh thành công. Hồ sơ hiện đại chỉ là một vài chữ cái được viết bởi Đức Giáo Hoàng Urban trong năm 1095.

Tất cả năm bản ghi nhớ của bài diễn văn này rất khác nhau từ chi tiết tới tổng thể. Tất cả các phiên bản, ngoại trừ trong cuấn Francorum Gesta, nói chung đồng ý rằng Urban nói chuyện về bạo lực của xã hội châu Âu và sự cần thiết phải duy trì hòa bình của Thiên Chúa; về việc giúp đỡ người Byzantine-Hy Lạp, những người đã yêu cầu để được hỗ trợ; về những người dị giáo đang tấn công các Kitô hữu ở phía Đông và về một cuộc chiến kiểu mới, như các cuộc hành hương có vũ trang và các phần thưởng từ trên trời rơi, nơi sự tha thứ được trao cho bất kỳ người nào phải chết trong các cuộc Thập tự chinh. Đặc biệt là không phải tất cả các phiên bản này đều đề cập đến Jerusalem như là mục tiêu cuối cùng, tuy nhiên, người ta lại lập luận rằng thuyết giảng tiếp theo của Urban tiết lộ rằng ông mong đợi rằng tất cả các chuyến viễn chinh cuối cùng sẽ đến được Jerusalem. Theo một phiên bản của bài diễn văn, đám đông đã nhiệt tình đáp lại bằng tiếng hô Deus vult! (“Chúa muốn vậy!”). Tuy nhiên, các phiên bản khác của bài diễn văn lại không bao gồm chi tiết này.

Tuyển dụng

Bài phát biểu của Urban cũng đã lên kế hoạch tuyển dụng, ông đã thảo luận về các cuộc thập tự chinh với Adhemar xứ Le Puy và Raymond IV, Bá tước của Toulouse, và ngay lập tức cuộc viễn chinh đã có sự hỗ trợ của hai nhà lãnh đạo quan trọng nhất miền Nam nước Pháp. Bản thân Adhemar đã có mặt tại Hội đồng Clermont và là người đầu tiên ” take the cross – nhận chiếc thập tự”. Trong thời gian còn lại của năm 1095 và vào năm 1096, Urban cho thông tin trên toàn nước Pháp và thúc giục các giám mục và các đại diện của mình thuyết giảng trong giáo phận của họ ở những nơi khác tại Pháp, Đức và Italy. Tuy nhiên, rõ ràng là phản ứng với bài diễn văn là nhiều hơn với ngay cả với dự kiến Đức Giáo Hoàng hay Hoàng đế Alexios. Sau ngày ông đi Pháp về, Urban đã cố gắng để ngăn cấm một số loại người nhất định (bao gồm cả phụ nữ, tu sĩ, và người bệnh) tham gia vào cuộc thập tự chinh, nhưng thấy rằng điều này gần như là không thể. Cuối cùng, hầu hết những người hưởng ứng lời kêu gọi lại không phải là giới hiệp sĩ, mà là những người nông dân không khá giả và có rất ít các kỹ năng chiến đấu… Thông thường thì sau khi lời rao giảng kết thúc tất cả mọi người đều tình nguyện tham gia một cuộc hành hương đến Nhà thờ Thánh Sepulchre, và họ cũng may một chữ thập chéo vào quần áo của họ.

Như Thomas Asbridge đã viết, “Cũng như chúng ta có thể làm gì khác hơn là ước tính số lượng hàng ngàn người phản ứng một cách nhiệt tình với lý tưởng thập tự chinh”, vì vậy với những bằng chứng còn sót lại chúng ta có thể có được một cái nhìn giới hạn về động lực và ý định của họ. ” các học giả trước đây cho rằng quân viễn chinh được thúc đẩy bởi sự tham lam, hy vọng tìm được một cuộc sống tốt hơn, thoát ra khỏi nạn đói và chiến tranh đang xảy ra ở Pháp, nhưng ghi chú của Asbridge, “Hình ảnh này là … gây hiểu lầm sâu sắc.” Ông lập luận rằng lòng tham không thể là một yếu tố chính vì chi phí là rất cao để đi một chuyến xa nhà, và bởi vì hầu hết tất cả quân viễn chinh cuối cùng đã trở về nhà sau khi hoàn thành cuộc hành hương của họ thay vì cố gắng tạo ra của cải cho bản thân mình trong vùng đất Thánh. Do đó rất khó khăn hoặc không thể đánh giá các động cơ của hàng ngàn người nghèo mà không có các hồ sơ lịch sử, hay ngay cả đối với những hiệp sĩ quan trọng, có những câu chuyện thường được kể lại bởi các thầy tu hoặc giáo sĩ. Vì thế giới thế tục thời trung cổ đã ăn rất sâu vào thế giới tâm linh của giáo hội, rất có thể đạo đức cá nhân là một trong những nhân tố chính cho nhiều Thập tự quân.

Mặc dù sự nhiệt tình là rất phổ biến, tuy nhiên, Urban muốn đảm bảo rằng sẽ có một đội quân các hiệp sĩ, được rút ra từ các tầng lớp quý tộc Pháp. Ngoài Adhemar và Raymond và các nhà lãnh đạo khác, ông tuyển dụng trong năm 1096 bao gồm Bohemond I của Antioch, một đồng minh ở miền nam Ý của các giáo hoàng theo phe cải cách; Bohemond cháu trai của Tancred-Hoàng thân Galilee; Godfrey xứ Bouillon, người đã từng là một đồng minh chống lại cải cách của Hoàng đế La Mã Thần thánh; anh trai của Baldwin I xứ Jerusalem; Hugh I-Bá tước Vermandois, anh trai của Philip I thông thái của Pháp quốc; Robert Curthose, anh trai của William II của Anh quốc; và Stephen II, Bá tước của Blois cùng với Robert II, Bá tước của Flanders. Các đoàn quân viễn chinh đại diện cho miền Bắc và miền Nam nước Pháp, Đức, và miền nam Ý và do đó được chia thành bốn đội quân riêng biệt mà không phải lúc nào cũng luôn luôn hợp tác, mặc dù họ đã được tổ chức lại với nhau bởi mục tiêu cuối cùng của họ.

Động cơ của giới quý tộc phần nào là rõ ràng hơn của những người nông dân, sự tham lam rõ ràng không phải là một yếu tố chính. Người ta thường giả định, ví dụ như Runciman đã nói ở trên, là chỉ các thành viên trẻ tuổi của một gia đình quý tộc tham gia vào cuộc thập tự chinh, để tìm kiếm sự giàu có và các cuộc phiêu lưu ở nơi khác, bởi vì họ không có triển vọng thăng tiến ở quê nhà. Riley-Smith lại chỉ ra rằng lý do không phải luôn luôn là như vậy. Cuộc thập tự chinh này đã được lãnh đạo bởi một số các quý tộc hùng mạnh nhất của Pháp, những người bỏ lại tất cả mọi thứ phía sau, và có cả trường hợp thường thấy là toàn bộ gia đình đã tham gia vào cuộc thập tự chinh với chi phí rất lớn của riêng họ. Ví dụ, Robert của Normandy phải cho vay Đất công tước của Normandy cho em trai của ông-William II của Anh và Godfrey phải bán-thế chấp tài sản của mình cho nhà thờ. Theo nhà viết tiểu sử của Tancred, ông lo lắng về bản chất tội lỗi của hiệp sĩ trong chiến tranh và được kích thích để tìm một lối thoát cho bạo lực ở vùng Đất thánh. Tancred và Bohemond, cũng như Godfrey, Baldwin, và anh trai của mình Eustace III, tước của Boulogne, là những ví dụ về các gia đình quyền quý đã tham gia thập tự chinh cùng với nhau. Riley-Smith lập luận rằng sự nhiệt tình của cuộc thập tự chinh có lẽ dựa trên quan hệ gia đình, vì hầu hết các quân viễn chinh Pháp đã bỏ lại người thân ở xa. Tuy nhiên, ít trong nhất một số trường hợp, động cơ cá nhân đóng vai trò động cơ của Thập tự chinh. Ví dụ, Bohemond đã được thúc đẩy bởi mong muốn chiếm được cho mình một lãnh thổ ở phía đông và trước đó đã chiến đấu chống lại Byzantine để cố gắng đạt được điều này. Cuộc Thập tự chinh cho ông một cơ hội nữa, đó chính là Cuộc bao vây Antioch của ông, kết quả là ông ta đã sở hữu của thành phố này và thành lập Công quốc Antioch.

Thập tự chinh của nhân dân

Tuy nhiên đây không phải là lần đầu tiên các nhà Đại quý tộc Pháp và các đội quân hiệp sĩ được đào tạo rất tốt của họ tiến hành các cuộc hành trình hướng về Jerusalem. Giáo Hoàng Urban đã lên kế hoạch xuất phát cho cuộc thập tự chinh đầu tiên vào ngày 15 tháng 8 năm 1096, đây là ngày Lễ Feast of the Assumption, nhưng nhiều tháng trước sự kiện này, một số đội quân không được tính tới của nông dân và các quý tộc nhỏ đã khởi hành đi Jerusalem vào các ngày của riêng họ, do một linh mục có sức lôi cuốn được gọi là Peter Hermit dẫn đầu. Peter là người thành công nhất trong các nhà truyền giáo khi truyền đạt thông điệp của Giáo Hoàng Urban và phát triển thành một sự nhiệt tình gần như cuồng loạn giữa các con chiên của ông, mặc dù có lẽ ông này không phải là một truyền giáo “chính thức” được cho phép bởi Giáo Hoàng Urban tại Clermont. Một thế kỷ sau ông này đã trở thành một nhân vật huyền thoại; William xứ Tyre tin rằng Peter chính là người đã khuấy lên ý tưởng về các cuộc thập tự chinh trong tâm trí của Urban. Người ta cho rằng Peter đã dẫn đầu một nhóm lớn gồm các nông dân chưa qua đào tạo quân sự và mù chữ, nhiều người thậm chí không có bất kỳ ý tưởng gì về Jerusalem, nhưng thực sự cũng có nhiều hiệp sĩ trong số các nông dân, bao gồm cả Walter Sans Avoir-người là Trung úy của Peter và dẫn đầu một đội quân riêng.


Bản đồ lộ trình của cuộc Thập tự chinh đầu tiên từ Châu Âu đến vùng Đất Thánh


Tranh vẽ Peter nhà ẩn sỹ dẫn đầu cuộc thập tự chinh của Nhân dân

Walter và người Pháp

Peter tập hợp quân đội của mình tại Cologne ngày 12 tháng 4 năm 1096, theo kế hoạch họ sẽ dừng lại ở đó và rao giảng cho người Đức và thu thập thêm quân viễn chinh mới. Tuy nhiên người Pháp lại không sẵn sàng chờ đợi Peter và người Đức và dưới sự lãnh đạo của Walter Sans-Avoir ( ông này vốn là một Hiệp sỹ nghèo còn có biệt danh là Walter không xu dính túi, nhưng ông đã được đào tạo về quân sự rất bài bản-ông không có lãnh chúa để phục vụ và không có chư hầu để chỉ huy, nhưng bù vào đó ông lại có kinh nghiệm về chiến tranh ), một vài ngàn quân viễn chinh người Pháp đã tiến trước Peter và đến được Hungary ngày 8 tháng 5, họ đi xuyên qua Hungary mà không có chuyện gì xảy ra và khi đến sông Sava tại biên giới lãnhthổ của Byzantine ở Belgrade. Viên tổng trấn Belgrade đã bị bất ngờ và đã không đưa ra mệnh lệnh để đối xử với họ như thế nào, và từ chối cho họ đi vào thành phố buộc quân viễn chinh phải cướp bóc các vùng nông thôn để lấy thực phẩm. Sự kiện này dẫn đến một cuộc giao tranh giữa quân Thập tự chinh với các đơn vị đồn trú ở Belgrade, đồng thời làm cho vấn đề chở nên tồi tệ hơn, mười sáu người của Walter đã cố gắng cướp một cửa hàng trên sông Zemun ở Hungary và đã bị tước áo giáp và quần áo, sau đó họ bị treo cổ trên các bức tường lâu đài. Cuối cùng, quân viễn chinh đã được phép tiến đến Nis, nơi họ được cung cấp thức ăn và chờ đợi những thông tin từ Constantinople.

Từ Cologne đến Constantinople

Peter và số quân viễn chinh còn lại rời Cologne vào ngày 20 tháng 4. Khoảng 40.000 quân Thập tự chinh lên đường ngay lập tức, trong khi một nhóm khác sẽ đi theo ngay sau đó. Khi họ đến bờ sông Danube, một phần của đội quân này đã quyết định tiếp tục đi bằng thuyền xuôi theo dòng sông Danube, trong khi phần chính tiếp tục đi theo con đường bộ và đi vào Hungary tại ở tại thị trấn Sopron. Ở đó, họ tiếp tục đi xuyên qua Hungary mà không gặp sự cố nào và tái gia nhập đội ngũ đi theo dòng Danube tại Zemun trên biên giới với Byzantine.

Tại Zemun quân viễn chinh trở nên nghi ngờ vì thấy cảnh 16 người của Walter bị treo cổ lủng lẳng trên các bức tường và cuối cùng một cuộc tranh chấp về giá cả của một đôi giày trong một cửa hàng đã dẫn đến bạo loạn và sau đó biến thành một cuộc tấn công toàn diện của quân viễn chinh vào thành phố (có thể điều này là ngoài ý muốn của Peter), trong vụ này khoảng 4.000 người Hungary đã bị giết. Sau đó quân viễn chinh bỏ chạy qua sông Sava đến Belgrade, nhưng chỉ sau khi đã giao chiến với quân đội đồn trú ở Belgrade. Cư dân của Belgrade phải bỏ chạy và các quân viễn chinh cướp bóc và đốt cháy thành phố. Sau đó, họ hành quân trong bảy ngày và đến được Nis vào ngày 03 tháng 7. Ở đó, người chỉ huy của Nis hứa sẽ cung cấp các đội hộ tống cho quân đội của Peter để đến Constantinople cũng như thực phẩm, nếu ông ta chịu rời đi ngay lập tức. Peter chấp nhận và sáng hôm sau ông ra lệnh khỏi hành. Tuy nhiên, một vài người Đức lại có một số tranh chấp với người dân địa phương dọc theo đường đi và họ đã châm lửa đốt vài ngôi nhà, bạo loạn nổ ra ngoài tầm kiểm soát của Peter cho đến khi Nis gửi toàn bộ quân đồn trú của nó để tấn công vào quân viễn chinh. Quân viễn chinh đã hoàn toàn bị đánh tan, và bị giết khoảng 10.000 người (một phần tư số họ), số còn lại tập kết ở xa hơn nữa về phía Bela Palanka. Khi họ đến Sofia vào ngày 12, họ đã gặp được các đoàn hộ tống Byzantine của họ và áp tải họ một cách an toàn trong phần còn lại của con đường đi đến Constantinople vào ngày 01 tháng 8.

Sự cố về Lãnh đạo 

Hoàng đế Byzantine Alexius I Comnenus, không biết làm gì khác với một “đội quân” khác thường và bất ngờ như vậy, ngoài việc nhanh chóng chở tất cả 30.000 người qua Bosporus vào ngày 06 tháng 8. Người ta đã tranh luận rằng liệu việc ông gửi họ đi mà không đưa thêm người Byzantine dẫn đường vì biết rõ rằng họ sẽ bị tàn sát bởi người Thổ Nhĩ Kỳ, hoặc có phải họ khăng khăng tiếp tục tiến vào lãnh thổ châu Á mà bất chấp các lời cảnh báo của ông. Trong mọi trường hợp, người ta đều tin rằng Alexius đã cảnh báo Peter không nên đánh nhau một cách đối mặt với người Thổ Nhĩ Kỳ, những người mà ông ta tin rằng hoàn toàn dễ dàng đè bẹp đội quân rách rưới của Peter và phải đợi đội hình chính của quân viễn chinh lúc này vẫn còn trên đường tới Constantinople.

Peter đã kết nối được với đạo quân người Pháp dưới sự chỉ huy của Walter Sans-Avoir và một số nhóm thập tự quân khác người Ý đến cùng một lúc. Khi đã sang đất châu Á, họ bắt đầu cướp phá các thị trấn và đến được Nicomedia, nơi mà một cuộc tranh cãi đã nổ ra giữa người Đức và Ý ở một phe và phe bên kia là người Pháp mặt khác. Người Đức và Ý tách ra và bầu một lãnh đạo mới, một người Ý tên là Rainald, trong khi người Pháp lại bầu Geoffrey Burel là người được chọn. Peter đã mất quyền kiểm soát một cách hiệu quả tới quân thập tự chinh.

Mặc dù Alexius đã khuyên Peter phải chờ đội quân chính ( của các quý tộc), nhưng Peter đã mất nhiều quyền lực của mình và quân viễn chinh đã thúc đẩy lẫn nhau và di chuyển mạnh dạn hơn đến các thị trấn gần đó cho đến khi cuối cùng người Pháp đã đến gâ được Nicaea, một thành trì vốn của Thổ Nhĩ Kỳ, nơi họ cướp phá các vùng ngoại ô. Người Đức, không chịu thua kém, khoảng 6.000 quân viễn chinh tiến vào Xerigordon và chiếm được thành phố để sử dụng nó như là một căn cứ để tấn công các vùng nông thôn. Để đáp lại người Thổ Nhĩ Kỳ được dẫn đầu bởi vua Thổ-Kilij Arslan tiến lên chiếm lại Xerigordon từ tay quân viễn chinh, và trong khi bị bao vây thập tự quân đã bị buộc phải uống cả máu lừa và nước tiểu của mình vì nguồn cung cấp nước của họ đã bị quân Thổ cắt đứt. Một số quân viễn chinh bị bắt đã chuyển đổi sang Hồi giáo và đã được gửi tới Khorasan, trong khi những người khác từ chối từ bỏ đức tin của họ liền bị xử tử.

Chỉ mới đi được 3 dặm từ doanh trại của họ, con đường đã đưa họ vào một thung lũng hẹp với nhiều cây cối rậm rạp ở gần làng Dracon, quân đội Thổ Nhĩ Kỳ đã phục sẵn. Khi tiếp cận vào thung lũng, quân viễn chinh đã hành quân một cách ầm ĩ và ngay lập tức bị một trận mưa tên. Tất cả đều hoảng sợ và trong vòng vài phút đám đông hỗn loạn tháo chạy trở về doanh trại. Hầu hết quân viễn chinh đã bị đánh bại; trẻ em và những người đầu hàng đã được tha. Hàng ngàn chiến binh đã cố gắng để chống trả nhưng bị đánh bại. Ba ngàn người bao gồm cả Geoffrey Burel, đủ may mắn để chạy lên một tòa lâu đài cũ bị bỏ hoang. Cuối cùng, quân Byzantine dưới sự chỉ huy của tướng Constantine Katakalon phải đi thuyền đến và tổ chức trận phá vây; khoảng vài nghìn người trở về được Constantinople, những người sống sót duy nhất của cuộc Thập tự chinh của nhân dân ( Hiệp sỹ Walter Sans-Avoir cũng tử trận trong trận đánh này)..

Cuộc tấn công vào người Do Thái trong vùng Rhineland

Ở cấp địa phương, các rao giảng về cuộc Thập tự chinh đầu tiên đã châm ngòi cho các bạo lực nhằm vào những Người Do Thái, mà một số sử gia đã coi là ” Holocaust đầu tiên “. Vào cuối năm 1095 và đầu 1096, vài tháng trước khi cuộc thập tự chinh chính thức xuất phát vào tháng 8, đã có các cuộc tấn công vào các cộng đồng người Do Thái ở Pháp và Đức. Trong tháng 5 năm 1096, Emicho xứ Flonheim (Đôi khi được gọi không chính xác là Emicho xứ Leiningen) đã tấn công người Do Thái tại Speyer và Worms. Các Thập tự quân không chính thức khác từ Swabia, do Hartmann xứ Dillingen chỉ huy cùng với người Pháp, người Anh, người Lotharingian và tình nguyện viên người Flemish, do Drogo xứ Nesle và William Carpenter chỉ huy, cũng với nhiều người dân địa phương, tham gia cùng với Emicho trong việc tiêu diệt cộng đồng Do Thái xứ Mainz vào cuối tháng. Tại Mainz ( ở Đức), một người phụ nữ Do Thái thà tự tay giết chết các con của mình còn hơn là nhìn thấy chúng bị giết chết; vị thủ lĩnh tôn giáo Do Thái-Kalonymus Ben Meshullam, đã tự sát để khỏi bị giết chết.

Sau đó đội quân của Emicho đã tiến vào Cologne và những người khác tiếp tục đi tới Trier, Metz, và các thành phố khác. Ẩn sĩ Peter có thể đã tham gia vào những vụ bạo lực nhằm vào những người Do Thái và một đội quân được dẫn đầu bởi một linh mục tên là Folkmar cũng tiếp tục tấn công vào người Do Thái ở phía đông Bohemia. Cuối cùng đội quân của Emicho tiếp tục tiến vào Hungary nhưng đã bị đánh bại bởi quân đội của Coloman xứ Hungary. Những người đi theo ông ta bị phân tán, một số cuối cùng đã gia nhập đội quân Thập tự chinh chính, mặc dù bản thân Emicho lại đi về nhà.

Nhiều người trong số những kẻ tấn công có vẻ như đã muốn ép buộc người Do Thái phải chuyển đổi đức tin, mặc dù họ cũng thích lấy được tiền từ người Do Thái. Bạo lực đối với người Do Thái chưa bao giờ là một phần của chính sách thập tự chinh chính thức của nhà thờ và các giám-mục Thiên chúa giáo, đặc biệt là Đức Tổng Giám-Mục-Cologne, đã làm hết sức mình để bảo vệ người Do Thái. Tuy nhiên, một số người trong số họ cũng nhận tiền để đổi lấy sự bảo vệ của họ. Các cuộc tấn công có thể đã bắt nguồn từ niềm tin rằng người Do Thái và người Hồi giáo đều là kẻ thù của Chúa Kitô và kẻ thù phải bị đánh đuổi hoặc phải chuyển đổi sang Kitô giáo. Godfrey xứ Bouillon đã tống tiền của người Do Thái ở các xứ Cologne và Mainz và có rất nhiều các Thập tự quân đã tự hỏi tại sao họ phải đi hàng ngàn dặm để chiến đấu với bọn dị giáo trong khi chúng lại ở ngay gần nhà của họ. Các cuộc tấn công vào người Do Thái đã được chứng kiến Ekkehard xứ Aura ( cha tu viện trưởng của Aura lúc đó ) và Albert xứ Aix ( nhà sử gia đương thời ); Giữa các cộng đồng người Do Thái, các nhân chứng đương thời là Người vô danh xứ Mainz, Eliezer ben Nathan và Solomon bar Simson.

Cuộc thập tự chinh của các Hoàng tử-Đại quý tộc

Bốn đội quân thập tự chinh chính rời châu Âu vào thời gian khoảng tháng 8 năm 1096. Họ chọn những con đường khác nhau để đến Constantinople và tập hợp bên ngoài bức tường của thành phố vào giữa tháng 11 năm 1096 và tháng 4 năm 1097, Hugh của xứ Vermandois đến đầu tiên, tiếp theo Godfrey, Raymond, và Bohemond. Thời gian này, Hoàng đế Alexios đã chuẩn bị tốt hơn cho quân viễn chinh nên có ít sự cố bạo lực trên đường đi.

Rất khó khăn để ước tính số lượng của toàn bộ các đội quân thập tự chinh, các nhân chứng đã đưa ra các con số rất khác nhau, ngay cả các sử gia hiện đại cũng có các ước tính khác nhau. David Nicolle -Nhà sử gia quân sự chuyên nghiên cứu về Thập tự chinh cho rằng các đội quân bao gồm khoảng 30,000-35,000 quân viễn chinh, trong đó có 5.000 kỵ binh. Raymond ( xứ Provence nay thuộc nước Pháp ) có một đội quân lớn nhất khoảng 8.500 lính bộ binh và 1.200 kỵ binh.

Các hoàng tử đến được Constantinople và chỉ còn lại rất ít đồ quân nhu cũng như thực phẩm và họ cần sự giúp đỡ từ Alexios. Hoàng Đế Alexios được cho là có chút nghi ngờ về sức mạnh của Thập tự quân sau kinh nghiệm của ông với cuộc Thập tự chinh của nhân dân, và cũng bởi vì trong số các hiệp sĩ có kẻ thù cũ người Norman của ông, Bohemond-người đã từng xâm chiếm lãnh thổ Byzantine nhiều lần với cha của ông ta là Robert Guiscard, và có thể thậm chí ông này đã cố gắng để tổ chức tấn công Constantinople trong khi đóng trại bên ngoài thành phố.


Tranh vẽ đoàn quân Thập tự chinh của các quý tộc đến thành phố Constantinople – bức tranh này có một chỗ không chính xác, đó là người Byzantine đón tiếp họ ở bên ngoài thành phố

Các đạo quân viễn chinh có thể đã dự kiến rằng Hoàng đế Alexios sẽ trở thành lãnh đạo của họ, nhưng ông này đã không quan tâm đến việc tham gia cùng với họ và chủ yếu là chỉ quan tâm đến việc vận chuyển họ sang đất Tiểu Á càng nhanh càng tốt. Để đổi lấy thực phẩm và đồ quân nhu, Alexios yêu cầu các chỉ huy Thập tự quân thề lờ̀i thề̀ trung thành với ông và hứa sẽ trả lại cho đế quốc Byzantine bất kỳ vùng đất nào mà họ thu hồi được từ tay người Thổ Nhĩ Kỳ. Godfrey là người đầu tiên chấp nhận những lời tuyên thệ, và gần như tất cả các chỉ huy khác cũng làm theo ông ta, mặc dù họ chỉ làm như vậy sau khi chiến tranh đã gần như bùng nổ ở gần thành phố giữa các công dân ( của Constantinople) và quân viễn chinh-những người chỉ muốn cướp bóc. Chỉ một mình Raymond là tránh lời thề, thay vào đó ông chỉ đơn giản là cam kết rằng sẽ không gây hại cho đế quốc. Trước khi đảm bảo rằng các quân đội khác nhau được chuyển ( bằng phà) qua eo biển Bosporus, Hoàng đế Alexios đưa ra lời khuyên cho các chỉ huy (Thập tự quân ) về cách tốt nhất để đối phó với quân Seljuk mà họ sẽ sớm gặp phải.

Cuộc vây hãm Nicaea

Các đội quân thập tự chinh vượt qua (eo biển Bosporus ) và tiến vào Tiểu Á trong nửa đầu năm 1097, nơi họ được gia nhập bởi Peter- nhà ẩn sĩ và phần còn lại của đội quân nhỏ bé của ông. Ngoài ra, Alexios cũng đã gửi hai trong số các tướng của mình, Manuel Boutoumites và Tatikios, để hỗ trợ các đạo quân viễn chinh. Mục tiêu đầu tiên của chiến dịch của họ là phải chiếm được Nicaea-Thành phố vốn nằm trên bờ biển phía đông Hồ İznik, thành phố này bị người Seljuk Turks chiếm từ tay Đế quốc Byzantine trong năm1081 và trở thành thủ đô của Vương quốc Hồi giáo Rum. Năm 1096 cuộc Thập tự chinh của Nhân dân-giai đoạn đầu tiên của cuộc Thập tự chinh đầu tiên, đã cướp bóc các vùng đất xung quanh thành phố trước khi bị bị tiêu diệt bởi người Thổ Nhĩ Kỳ. Kết quả là, Sultan Kilij Arslan I lúc đầu cảm thấy rằng làn sóng thứ hai của quân viễn chinh không phải là một mối đe dọa Ông đã để lại gia đình và ngân khố của mình phía sau, ở tại Nicaea và đi về phía đông để chống lại triều đình Danishmends lúc này đang kiểm soát vùng Melitene. Sau đó, khi quân Thập tự chinh đến nơi, thành phố đã phải trải qua một cuộc bao vây kéo dài, và khi Arslan nhận được tin cấp báo phải gấp rút quay trở về Nicaea và tấn công vào quân thập tự chinh vào ngày 16 tháng Năm. Ông đã bị đẩy lùi bởi một lực lượng thập tự chinh hùng mạnh mà ông không ngờ tới, và hai bên đều phải chịu những tổn thất nặng nề trong những trận chiến tiếp theo.

Cuộc bao vây của quân Thập tự chinh

Các đoàn quân viễn chinh bắt đầu rời Constantinople vào cuối tháng 4 năm 1097. Godfrey xứ Bouillon là người đầu tiên đến Nicaea cùng với Bohemund của xứ Taranto, Tancred-cháu trai của Bohemond, Raymond IV của Toulouse và Robert II của Flanders đến sau ông ta cùng với Peter Hermit và một số người còn sống sót của cuộc Thập tự chinh nhân dân và một lực lượng nhỏ của Byzantine dưới sự chỉ huy của Manuel Boutoumites. Họ đã đến vào tháng 6 và lâm vào cảnh bị thiếu lương thực, nhưng Bohemund đã bố trí cho vận chuyển thực phẩm bằng đường bộ và đường biển. Họ bắt đầu cuộc bao vây thành phố từ ngày 14 tháng 5, họ chia lực lượng của họ thành nhiều phần khác nhau để bao vây các bức tường thành phố vốn được bảo vệ rất tốt với 200 chiếc tháp canh. Bohemund đóng trại ở phía bắc của thành phố, Godfrey ở phía đông, và Raymond cùng với Adhemar của Le Puy ở phía nam.

Đánh bại Kilij Arslan

Như đã đề cập đến ở phần trên ngày 16 tháng 5, hậu vệ Thổ Nhĩ Kỳ bất thình lình tấn công vào họ ( Thập tự quân ), nhưng họ ( quân Thổ) đã bị đánh bại trong một cuộc giao tranh và mất khoảng 200 lính. Người Thổ Nhĩ Kỳ gửi thư tới Kilij Arslan để xin ông này quay trở lại và khi ông ta nhận ra sức mạnh của quân viễn chinh ông đã nhanh chóng quay trở lại. Một đội quân tiên phong đã bị đánh bại bởi quân đội của Raymond và Robert của Flanders vào ngày 20 và ngày 21 tháng 5, quân đội thập tự chinh lại tiếp tục đánh bại Kilij trong một trận chiến kéo dài vào ban đêm. Cuối cùng Quốc vương Thổ nhỹ kỳ quyết định rút lui bất chấp lời cầu xin của người Thổ ở Nicaean. Phần còn lại của quân viễn chinh tiếp tục kéo đến trong suốt phần còn lại của tháng 5 dưới sự chỉ huy của Robert Curthose (Đi cùng với Ralph de Guader) và Stephen nhà Blois đến vào đầu tháng Sáu. Trong khi đó Raymond và Adhemar đã cho đóng một máy hãm thành lớn, chiếc máy hãm thành này đã công vào tháp Gonatas để tấn công vào quân phòng thủ ở trên các bức tường thành trong khi các thợ mỏ lại tìm cách cho sập tòa tháp từ bên dưới. Tòa tháp đã bị hư hỏng nhưng quân thập tự chinh cũng không chiếm được nó.

Người Byzantine đến nơi

Hoàng đế Byzantine Alexius I chọn cách không đi cùng với quân viễn chinh, nhưng lại xuất hiện ở phía sau họ và hạ trại của ông ở Pelecanum gần đó. Từ đó, ông đã gửi các con tầu đi qua đất liền ( đương nhiên là phải khênh), để giúp quân viễn chinh phong tỏa hồ Ascanius, vốn cứ điểm này được sử dụng bởi người Thổ Nhĩ Kỳ để cung cấp thực phẩm cho Nicaea. Các con tàu đến nơi vào ngày 17 tháng 6, dưới sự chỉ huy của Manuel Boutoumites. Tướng Tatikios cũng được gửi đến cùng với 2.000 bộ binh. Alexius đã chỉ đạo Boutoumites bí mật đàm phán về sự đầu hàng của thành phố mà không cho quân viễn chinh biết. Tatikios được chỉ thị phải tham chiến trong hàng ngũ quân viễn chinh và thực hiện một cuộc tấn công trực tiếp vào các bức tường thành, trong khi Boutoumites cũng sẽ giả vờ làm như vậy để làm cho dường như người Byzantine đã chiếm được thành phố này trong trận chiến. Chiến thuật này đã được thực hiện và vào ngày 19 tháng 6 người Thổ Nhĩ Kỳ đầu hàng trước Boutoumites.

Khi quân viễn chinh phát hiện ra những gì Alexius đã làm, họ rất tức giận vì hy vọng cướp bóc được tiền và đồ nhu yếu phẩm từ thành phố. Tuy nhiên Boutoumites đã được đặt làm dux ( công tước ) của Nicaea và cấm không cho quân viễn chinh tiến vào trong thành phố với những nhóm lớn hơn 10 người tại một thời điểm. Boutoumites cũng trục xuất các tướng Thổ Nhĩ Kỳ, người mà ông coi là không đáng tin cậy ( và thực sự thì những người này đã cố gắng để bắt những người Byzantine dẫn đường của họ làm con tin trên đường đến gặp hoàng đế). Gia đình của Kilij Arslan đã được gửi đến Constantinople và cuối cùng đã được thả mà không bị đòi tiền chuộc. Alexius tặng tiền bạc, ngựa và quà cáp khác cho quân viễn chinh, nhưng họ đã không hài lòng với điều này và tin rằng họ có thể còn kiếm được nhiều hơn nếu chính họ chiếm lấy Nicaea. Boutoumites đã không cho phép họ rời đi cho đến khi tất cả bọn họ tuyên thệ lời thề tình trạng lệ thuộc-vassalage vào Alexius, nếu họ đã không làm như vậy tại Constantinople. Như ông này đã tỏ thái độ ở Constantinople, Tancred lúc đầu từ chối, nhưng cuối cùng ông đã phải chấp nhận.

Hậu quả

Các đoàn quân viễn chinh rời Nicaea vào ngày 26, trong hai đội binh: Bohemond, Tancred, Robert của Flanders và Taticius trong đội tiên phong, và Godfrey, Baldwin của Boulogne, Stephen và Hugh của Vermandois ở đội hậu binh. Taticius được chỉ thị phải bảo đảm trả thành phố bị chiếm về cho đế quốc. tinh thần của họ đang lên cao và Stephen đã viết cho vợ là Adela rằng họ dự kiến sẽ được ở Jerusalem trong năm tuần. Ngày 01 tháng 7, họ đánh bại Kilij tại Trận Dorylaeum, và vào tháng 10 họ đến được thành phố Antioch, phải sau hai năm họ mới đến được Jerusalem kể từ ngày rời Nicaea.

Trận Dorylaeum (1097)

Bối cảnh

Ngày 29 tháng 6, họ biết được rằng người Thổ Nhĩ Kỳ đã lên kế hoạch cho một cuộc phục kích ở gần Dorylaeum (Bohemund nhận thấy quân đội của mình bị đeo bám bởi trinh sát Thổ Nhĩ Kỳ). Lực lượng Thổ Nhĩ Kỳ bao gồm Kilij Arslan I và đồng minh của ông Hasan của Cappadocia, cùng với sự trợ giúp từ Danishmendids, dẫn đầu là hoàng tử Thổ Nhĩ Kỳ Ghazi ibn Danishmend, người Ba Tư và người Caucasian Albania, con số khoảng 150.000 người theo Raymond của Aguilers (Fulcher của Chartres cho rằng con số này bị phóng đại quá đáng, thực tế chỉ khoảng 36.0000 người). Theo số liệu hiện đại thì con số này ở khoảng 25,000-30,000 người (thậm chí 6,000-8,000 người theo một số ước tính gần đây).


Bản đồ vùng Anatolia trước khi nổ ra trận Dorylaeum

Quân viễn chinh rời Nicaea vào ngày 26 tháng 6 với một mối ngờ vực sâu sắc về người Byzantine, những người đã chiếm được thành phố Nicaea mà không thông báo với họ sau một cuộc bao vây dài. Để đơn giản hóa vấn đề vấn đề về vật tư, các đội quân Thập tự chinh đã chia thành hai nhóm, nhóm yếu hơn do Bohemund của Taranto, Tancred-cháu trai của ông, Robert Curthose, Robert của Flanders, và Taticius-tướng của Byzantine trong đội tiên phong, và Godfrey của Bouillon, Baldwin của Boulogne -anh trai của ông, Raymond IV của Toulouse, Stephen, và Hugh của Vermandois ở phía sau.

Ngoài một số lượng lớn không tham chiến, lực lượng của Bohemund có thể có khoảng 10.000 người, đa số là bộ binh. Và dường như có vẻ hợp lý rằng Bohemund có khoảng 8.000 lính bộ binh và 2.000 kỵ binh.

Vào tối ngày 30 tháng 6, sau một cuộc hành quân ba ngày, đội quân của Bohemund hạ trại trên một đồng cỏ ở bờ phía bắc của sông Thymbres, gần thị trấn Dorylaeum đổ nát (Nhiều học giả tin rằng đây là địa điểm của thành phố Eskişehir hiện đại).

Trận đánh

Ngày 01 tháng 7, lực lượng của Bohemund bị bao quanh bị bởi quân đội của Kilij Arslan ở bên ngoài Dorylaeum. Godfrey và Raymond đã tách ra khỏi đội tiên phong tại Leuce, và quân Thổ Nhĩ Kỳ tấn công vào đội quân của Bohemund vào lúc bình minh (không được tính là một cuộc tấn công nhanh) một cách hoàn toàn bất ngờ, và bắn tên như mưa vào trại của Thập tự quân. Các hiệp sĩ của Bohemund đã nhanh chóng lên ngựa nhưng các cuộc phản công lẻ tẻ của họ đã không thể ngăn chặn được người Thổ. Người Thổ Nhĩ Kỳ phi ngựa vào trại, và chia cắt những người không có khả năng chiến trận, những lính bộ binh không có áo giáp, những người đã không thể chạy nhanh hơn những con ngựa Thổ Nhĩ Kỳ và đã quá bị mất phương hướng hoặc quá hoảng sợ để tạo thành đội hình chiến đấu. Để bảo vệ lính bộ binh không có áo giáp và những người không tham chiến ( họ đi theo để phục vụ chiến đấu), Bohemund ra lệnh cho các hiệp sĩ của mình và hình thành một tuyến phòng thủ và tập hợp lính bộ binh cùng với những người không tham chiến vào trung tâm của trại, những phụ nữ đóng vai trò như người chở nước trong suốt cuộc chiến. Lúc này Thập tự quân đã tạo được một đội hình chiến đấu và che chở được cho nhiều lính bộ binh và những người không thể chiến đấu hơn, nhưng nó cũng làm cho người Thổ Nhĩ Kỳ có thể cơ động dễ dàng trên chiến trường ( vì kỵ binh của Thập tự quân đã xuống ngựa). Các cung kỵ Thổ Nhĩ Kỳ tấn công theo kiểu quen thuộc của họ – lao vào tấn công, bắn các mũi tên của họ và nhanh chóng rút lui trước khi quân viễn chinh có thể phản công. Các cung thủ gây được rất ít thiệt hại đến các hiệp sĩ được thiết giáp hạng nặng, nhưng họ đã gây ra tổn thất nặng nề cho ngựa và lính bộ binh không có áo giáp. Bohemund đã phải gửi sứ giả đến các đội quân Thập tự chinh khác và lúc này cố gắng chiến đấu để cầm cự cho đến lúc quân tiếp viện đến nơi và đội quân của ông đã bị buộc phải quay trở lại bờ của con sông Thymbris. Đầm lầy ở bờ sông bảo vệ quân Thập tự chinh khỏi bị quân cung kỵ tấn công vì mặt đất quá mềm để phi ngựa và các hiệp sĩ thiết giáp hình thành một vòng tròn để bảo vệ bộ binh và những người phục vụ chiến đấu khỏi bị trúng tên, nhưng người Thổ Nhĩ Kỳ tiếp tục cho các cung thủ của họ tiến lên, theo tài liệu chép lại có đến 2.000 cung kỵ đã xuống ngựa. Các hiệp sĩ của Bohemund đã nổi khùng-mặc dù có lệnh là phải giữ bình tĩnh, một số nhóm nhỏ các hiệp sĩ muốn bất ngờ phá vỡ hàng ngũ và tấn công, nhưng họ đã bị tàn sát hoặc bị buộc phải quay trở lại vì kỵ binh Thổ Nhĩ Kỳ đã quay trở lại vượt quá phạm vi hiệu lực của kiếm và tên của họ, trong khi chúng vẫn bắn vào họ những cơn mưa tên và giết chết rất nhiều ngựa của các hiệp sĩ. Và mặc dù áo giáp bảo vệ của các hiệp sĩ rất tốt (người Thổ Nhĩ Kỳ gọi họ là người sắt ) một cơn mưa mũi tên bắn vào họ có nghĩa là một số sẽ trúng vào những điểm không được bảo vệ và cuối cùng, sau khi bị bắn trúng quá nhiều một hiệp sĩ sẽ gục ngã vì những vết thương của mình.

Ngay sau giữa trưa, Godfrey đã đến nơi với một lực lượng khoảng 50 hiệp sĩ, họ đã xông qua đội hình của người Thổ Nhĩ Kỳ để tăng viện cho Bohemund. Qua ngày các nhóm nhỏ quân tiếp viện đến nơi(cũng từ Raymond, Hugh và Godfrey), một số bị giết bởi người Thổ Nhĩ Kỳ, những người khác cố chiến đấu để đến được trại của Bohemund. Vì Thập tự quân đã bị mất hết ngựa, người Thổ Nhĩ Kỳ đã trở nên hung dữ và quân Thập tự chinh bị buộc phải lui từ bờ sông có đầm lầy vào các vùng nước nông. Tuy nhiên, Thập tự quân vẫn còn giữ được tổ chức và sau khoảng 7 giờ hỗn chiến, các hiệp sĩ của Raymond đã đến (không rõ liệu Raymond có đi cùng với họ, hoặc liệu họ đã đến trước ông ta), họ phát động một cuộc tấn công bất ngờ vào cạnh sườn của quân Thổ Nhĩ Kỳ và làm cho người Thổ trở nên lộn xộn và cho phép quân Thập tự chinh tập hợp lại. Thập tự quân đã hình thành đội hình một dòng trận chiến với Bohemund, Tancred, Robert của Normandy và Stephen ở cánh trái, Raymond, Robert của Flanders ở trung tâm và Godfrey, Robert của Flanders và Hugh bên phải và họ cùng tiến lên để tấn công người Thổ Nhĩ Kỳ vừa hô to “hodie omnes divites si Deo placet effecti eritis”(” Ngày hôm nay Thiên Chúa rất hài lòng nếu tất cả các bạn sẽ trở nên giàu có “). Mặc dù sự tàn khốc của cuộc tấn công của Norman vào người Thổ Nhĩ Kỳ diễn ra một cách bất ngờ, họ đã không thể đánh gục người Thổ ngay lập tức, phải cho đến khi một lực lượng được chỉ huy bởi Đức-Giám-mục Adhemar của Le Puy-người thừa kế của giáo hoàng, đến nơi vào giữa buổi chiều, có lẽ cùng với Raymond trong đoàn tùy tùng, họ bí mật di chuyển xung quanh trận chiến qua ngọn đồi và vượt qua con sông, rồi tấn công ngang sườn vào các cung thủ ở bên trái và tấn công bất ngờ từ phía sau người Thổ Nhĩ Kỳ. Lực lượng của Adhemar đổ vào trại của người Thổ Nhĩ Kỳ và tấn công họ từ phía sau. Tất cả người Thổ Nhĩ Kỳ đều khiếp sợ khi nhìn thấy trại của họ bốc cháy và bởi sự tàn khốc và độ bền của các hiệp sĩ, vì áo giáp của các hiệp sĩ bảo vệ họ khỏi các mũi tên và che chắn cho họ khỏi bị thương từ ngay cả những nhát đâm, chém của gươm giáo và họ ( người Thổ ) nhanh chóng bỏ chạy, bỏ lại trại của họ ở phía sau và buộc Kilij Arslan-vua Thổ phải rút lui khỏi chiến trường.

Hậu quả

Quân viễn chinh đã thực sự trở nên giàu có, ít nhất là trong một thời gian ngắn, sau khi thu giữ được kho bạc của Kilij Arslan. Người Thổ bỏ trốn và Arslan quay sang mối quan tâm khác về các lãnh thổ phía đông của mình và quân viễn chinh có thể hành quân mà hầu như không bị kháng cự qua Anatolia để đến Antioch. Phải mất gần ba tháng để họ vượt qua Anatolia trong sự nắng nóng của mùa hè và vào tháng 10 họ bắt đầu cuộc bao vây thành phố Antioch.

Cuộc bao vây thành phố Antioch

Cuộc bao vây Antioch đã diễn ra trong cuộc Thập tự chinh đầu tiên từ năm 1097 -> 1098. Cuộc bao vây đầu tiên do quân viễn chinh tiến hành để chiếm thành phố từ tay người Hồi giáo, kéo dài từ ngày 21 tháng 10 năm 1097, đến ngày 02 tháng 6 năm 1098. Cuộc bao vây thứ hai để chống lại chính lực lượng viễn chinh đã chiếm nó, kéo dài từ ngày 07-> ngày 28 tháng 6 năm 1098.


Bản đồ hoạt động của quân thập tự chinh trong năm 1097 -> 1098

Bối cảnh


Bản đồ lộ trình của quân Thập tự chinh lần đầu tiên ( không phải của Thập tự chinh Nhân dân) từ thành phố Nicaea đến vùng đất Thánh

Thành phố Antioch bị người Seljuk chiếm từ tay Đế quốc Byzantine chỉ rất gần lúc đó, trong năm 1085. Các công sự của Byzantine được xây dựng kể từ thời Justinian I và gần đây chúng đã được xây dựng lại và củng cố; người Seljuks đã chiếm được thành phố qua sự phản bội và những bức tường thành phố vẫn còn nguyên vẹn. Từ năm 1088, thống đốc Seljuk của nó là Yaghi-Siyan. Yaghi-Siyan cũng đã biết rằng quân thập tự chinh đã hành quân qua Anatolia trong năm 1097 và ông ta kêu gọi sự giúp đỡ từ các quốc gia Hồi giáo láng giềng nhưng vô ích. Để chuẩn bị cho sự xuất hiện của họ, ông đã cho bỏ tù John the Oxite- Giáo trưởng chính thống của Antioch, và cho lưu đày những người Hy Lạp và Armenia theo đạo Kitô Chính Thống, mặc dù các công dân Syria theo đạo Kitô Chính Thống được phép ở lại.

Các kế hoạch của thập tự quân

Khi quân viễn chinh đến bờ sông Orontes bên ngoài Antioch vào ngày 20 tháng 10 năm 1097. Ba thủ lãnh chính của cuộc thập tự chinh vào thời điểm này, Godfrey của Bouillon, Bohemund của Taranto và Raymond IV của Toulouse ban đầu không đồng ý về những việc cần làm tiếp theo: Raymond muốn tổ chức một cuộc tấn công trực tiếp, trong khi Godfrey và Bohemund lại muốn tiến hành một cuộc bao vây thành phố. Raymond miễn cưỡng bằng lòng và một phần quân viễn chinh được triển khai để bao quanh thành phố vào ngày 21. Các pháo đài của thành phố cũ của người Byzantine đã đủ mạnh để chống lại một cuộc tấn công trực tiếp, mặc dù Yaghi-Siyan có thể không có đủ người để bảo vệ toàn thành phố và ông đã cảm thấy nhẹ nhõm và phấn khích khi quân viễn chinh đã không tấn công ngay lập tức. Bohemund đóng trại ở góc đông bắc của thành phố tại cổng Thánh Paul, Raymond lập trại của mình ở xa hơn nữa về phía tây tại cổng của Chó- Gate of the Dog và Godfrey hạ trại cho quân của mình tại các cửa của Công tước, tiếp tục xa hơn nữa về phía tây, nơi mà một cầu tàu đã được xây dựng ngan qua Orontes tới làng Talenki. Phía Nam là tháp Hai chị em và ở góc tây bắc của của Thánh George Gate, nơi này đã không bị phong tỏa bởi quân viễn chinh và được sử dụng trong suốt cuộc bao vây cung cấp thực phẩm cho Yaghi-Siyan. Về phía nam và phía đông của thành phố là khu vực đồi núi được gọi là Mt. Silpius, nơi mà thành lũy và các cổng sắt được xây dựng.

Cuộc bao vây đầu tiên 

Vào giữa tháng 10 Tancred-cháu của Bohemund đến nơi với quân tiếp viện và một hạm đội của Genova đã đi vào cảng tại St Symeon, đưa thêm thực phẩm và quân nhu. Cuộc bao vây kéo dài và vào tháng 12 Godfrey đã bị bệnh, thực phẩm đã cạn mà mùa đông lại đến gần. Vào cuối tháng này Bohemund và Robert của Flander mang khoảng 20.000 người đi tìm kiếm thức ăn và thực phẩm ở phía Nam, nhưng khi họ ra đi Yaghi-Siya đã tiến ra từ Cổng Thánh George vào ngày 29 và tấn công vào doanh trại của Raymond ở bên kia sông tại Talenki. Raymond đã đẩy được ông ta lui trở lại nhưng đã không thể chiếm được thành phố. Trong khi đó, Bohemund và Robert đã bị tấn công bởi một đội quân dưới sự chỉ huy của Duqaq xứ Damascus, lực lượng này tiến về phía Bắc để viện trợ cho Antioch. Mặc dù quân viễn chinh đã chiến thắng ở đây, họ vẫn buộc phải rút lui về Antioch với rất ít lương thực. Tháng này kết thúc mang tới điềm gở cho cả hai phía: có một trận động đất vào ngày 30 tháng 12 và những tuần sau người ta thấy những trận mưa to trái mùa và thời tiết rất lạnh làm cho Duqaq phải quay trở về nhà mà không thể tiếp tục tấn công vào quân viễn chinh.

Nạn đói

Do thiếu lương thực nên đã có một nạn đói xảy ra trong trại của quân viễn chinh, giết chết cả hai người và ngựa, một phần bảy số người bị chết vì đói và chỉ còn có 700 con ngựa còn sống sót. Có vẻ như là một số trong những người lính nghèo nhất, những tàn dư của Thập tự chinh Nhân dân được chỉ huy bởi Peter Hermit và kêu gọi Tafurs, trở thành những kẻ ăn thịt người, ăn các cơ quan nội tạng của người Thổ Nhĩ Kỳ đã chết. Những người khác ăn thịt những con ngựa, mặc dù một số hiệp sĩ thà chết đói. Các Kitô hữu địa phương, cũng như Simeon-Giáo trưởng Chính Thống của Jerusalem, người đang sống lưu vong ở Cyprus, đã cố gắng để gửi thực phẩm nhưng cũng không làm giảm bớt nạn đói. Một số hiệp sĩ và binh lính đã bắt đầu bỏ ngũ vào tháng giêng năm 1098, bao gồm cả Peter-nhà ẩn sĩ, mặc dù ông đã nhanh chóng bị tìm thấy và được đưa trở lại trại của Tancred nhưng uy tín của ông đã bị lu mờ.

Taticius bỏ đi

Trong tháng Hai, Taticius-viên tướng và là người đại diện của Byzantine, người đã ở lại với quân viễn chinh như là cố vấn và đại diện của Hoàng đế Alexius I, đột nhiên rời bỏ quân đội của quân viễn chinh. Theo Anna Comnena, người có lẽ đã nói chuyện với cá nhân Taticius, quân viễn chinh đã từ chối lắng nghe lời khuyên của ông và Bohemund đã thông báo với ông rằng các thủ lĩnh khác đã lập kế hoạch để giết ông vì họ tin rằng Alexius đã bí mật khuyến khích người Thổ Nhĩ Kỳ. Mặt khác Bohemund lại tuyên bố rằng đây là sự phản bội hay hèn nhát, lý do đủ để xóa bỏ nghĩa vụ phải trả lại Antioch cho Byzantine và ông ta cũng muốn bỏ đi trừ phi ông ta được phép giữ Antioch cho chính mình khi nó bị chiếm. Biết thừa rằng Bohemund đang lập kế hoạch để chiếm thành phố cho riêng mình và rằng có thể chính ông ta đã lên kế hoạch để đuổi Taticius đi để tạo ra điều kiện này, Godfrey và Raymond đã không để cho ông ta làm mình làm mẩy, nhưng một nhóm nhỏ các hiệp sĩ và binh lính đã công nhận yêu cầu của ông và ông ta đã đạt được sự đồng cảm của họ. Trong những lúc xảy ra sự kiện này, Yaghi-Siyan tiếp tục tìm kiếm sự giúp đỡ từ những người hàng xóm của mình và quân đội dưới sự chỉ huy của Ridwan đến Antioch từ Aleppo. Giống như Duqaq trước đó, ông ta cũng đã bị đánh bại tại Ha-rim ở ngoài thành phố Antioch vào ngày 9 tháng 2.

Người Anh tiếp viện cho quân thập tự chinh

Trong tháng 1 năm 1098 một hạm đội được dẫn đầu bởi Edgar Atheling, nhà vua bị lật đổ của nước Anh ( bởi William the Conqueror), đã đến bến Saint Simeon từ Constantinople, nơi Edgar đang sống lưu vong. Họ mang theo nguyên vật liệu để đóng một máy công thành, nhưng nó đã gần như bị mất vào ngày 6 khi Raymond và Bohemund ( họ không tin tưởng lẫn nhau để chỉ một người đi mang các vật liệu về một mình) đã bị tấn công trên đường trở về Antioch bởi một phân đội của quân đồn trú của Yaghi-Siyan. Tuy nhiên với sự giúp đỡ của Godfrey, họ đã đánh bại được quân Thổ và các vật liệu đã được thu hồi. Mặc dù Edgar đã được trao hạm đội và các vật liệu để bao vây thành phố được cung cấp bởi hoàng đế Alexius, nhưng quân viễn chinh đã không cho rằng đây là sự hỗ trợ trực tiếp của người Byzantine. Quân viễn chinh thiết lập để đóng một máy công thành, cũng như một pháo đài được gọi là La Mahomerie để ngăn chặn Gate Bridge và ngăn cản Yaghi-Siyan tấn công vào đường dây cung cấp cho Thập tự quân từ cảng Saint Simon và Alexandretta, trong khi họ cũng sửa chữa tu viện bị bỏ hoang ở phía tây của Cổng Saint George, nơi vẫn còn đang được sử dụng để cung cấp thực phẩm cho thành phố. Tancred cho quân đồn trú trong tu viện, trong khi Bá tước Raymond của Toulouse giành quyền kiểm soát pháo đài La Mahomerie. Cuối cùng thì cuộc bao vây của quân thập tự chinh đã có thể tạo ra một số hiệu ứng vào thành phố được bảo vệ rất tốt. Các điều kiện về thực phẩm đã được cải thiện đối với quân viễn chinh cũng như mùa xuân đang đến gần và thành phố đã bị phong tỏa hoàn toàn.

Sứ giả của triều Fatimid

Vào tháng Tư một sứ giả của triều đình Fatimid Ai Cập đến trại của thập tự chinh, hy vọng sẽ thiết lập một nền hòa bình với các Kitô hữu, những người đã là kẻ thù của kẻ thù của mình-người Seljuks. Peter nhà ẩn sĩ, người rất thông thạo Tiếng Ả Rập, đã được gửi đi để đàm phán. Những cuộc đàm phán đã không thu được kết quả gì. Triều đình Fatimid giả định rằng quân viễn chinh chỉ đơn giản là lính đánh thuê của người Byzantine, và họ đã chấp nhận để cho quân viễn chinh chiếm giữ Syria nếu họ ( Thập tự quân) đồng ý không tấn công vào Palestine của nhà Fatimid, một tình trạng hoàn toàn chấp nhận được giữa Ai Cập và Byzantine trước khi có các cuộc xâm lược của Thổ Nhĩ Kỳ. Tuy nhiên, quân viễn chinh không thể chấp nhận bất kỳ giải pháp nào mà không cho họ Jerusalem. Nhưng sứ giả của nhà Fatimid cũng được đối sử nồng hậu và được trao nhiều quà tặng, vốn cướp bóc được từ người Thổ Nhĩ Kỳ, những người đã bị đánh bại vào tháng Ba và dứt khoát không đạt được một thoả thuận nào giữa các bên.

Chiếm được Antioch

Các cuộc bao vây vẫn tiếp tục và vào cuối tháng 5 năm 1098 một đội quân Hồi giáo từ Mosul dưới sự chỉ huy của Kerbogha tiến đến gần Antioch. Quân đội này lớn hơn nhiều so với các nỗ lực để giải vây trước đó. Kerbogha đi cùng với Ridwan và Duqaq và quân đội của ông cũng bao gồm quân đội từ Ba Tư và từ Ortuqids ở Lưỡng Hà. Quân viễn chinh đã may mắn có được thêm thời gian để chuẩn bị cho sự xuất hiện của họ, vì lúc đầu Kerbogha đã tiến hành một cuộc hành quân kéo dài ba tuần tới Edessa, nhưng ông ta đã không thể tái chiếm thành phố này từ Baldwin xứ Boulogne-người đã chiếm nó trước đó trong năm 1098.


Tranh vẽ cảnh Baldwin xứ Boulogne tiến vào Edessatrong năm 1098

Quân viễn chinh biết họ sẽ phải chiếm được thành phố trước khi Kerbogha đến nếu họ muốn có bất kỳ cơ hội sống sót. Bohemund bí mật liên hệ với Firouz, một lính phòng thủ Armenia, người chỉ huy tháp Hai chị em nhưng lại có ác cảm với Yaghi-Siyan và mua chuộc anh ta mở cửa. Sau đó ông đi đến chỗ các thập tự quân khác và chỉ cho họ cách vào thành thông qua Firouz, nếu họ sẽ đồng ý để cho ông ta cai quản thành phố. Raymond đã rất tức giận và cho rằng thành phố cần được bàn giao cho Alexius, vì họ đã thề như vậy khi rời Constantinople vào năm 1097, nhưng Godfrey, Tancred, Robert và các thủ lĩnh khác đang phải đối mặt với một tình huống tuyệt vọng và đã chấp nhận yêu cầu của ông ta.

Mặc dù vậy, vào ngày 2 tháng 6, Stephen của Blois và một số các quân viễn chinh khác đã từ bỏ quân đội. Sau đó cùng ngày, Firouz hướng dẫn Bohemund để giả vờ tạo ra một cuộc hành quân để đánh chặn Kerbogha ( quân tiếp viện) và sau đó quay trở lại và tấn công thành phố vào ban đêm. Chiến thuật này đã được thực hiện. Firouz mở cửa và một vụ thảm sát xảy ra tiếp theo sau đó. Các Kitô hữu còn lại trong thành phố đã mở các cánh cửa khác và chính họ cũng tham gia vào các vụ thảm sát các đơn vị đồn trú Thổ Nhĩ Kỳ mà họ căm ghét. Tuy nhiên quân viễn chinh đã giết chết một số các Kitô hữu trong số những người Hồi giáo, trong đó có anh trai của Firouz. Yaghi-Siyan đã cố gắng chạy trốn nhưng bị bắt lại bởi một số Kitô hữu Syria bên ngoài thành phố. Ông này đã chặt đầu và đầu của ông được đưa đến cho Bohemund.

Cuộc bao vây thứ hai

Đến cuối ngày, vào ngày 3 tháng Sáu, các quân viễn chinh kiểm soát hầu hết các thành phố, trừ thành lũy vẫn nằm trong tay của Shams ad-Daulah con trai của Yaghi-Siyan. John the Oxite được phong làm giáo trưởng bởi Adhemar xứ Le Puy-người thừa kế của Giáo hoàng, ông này cũng muốn giữ quan hệ tốt với người Byzantine, đặc biệt là khi Bohemund có kế hoạch rõ ràng muốn chiếm thành phố cho riêng mình. Tuy nhiên, thành phố bây giờ rất thiếu thực phẩm và Kerbogha cùng quân đội của ông ta vẫn còn trên đường đến đó. Kerbogha đến chỉ chậm có hai ngày, vào ngày 05 tháng 6. Ông đã cố gắng để tấn công thành phố vào ngày 07 và 09 tháng 6 và thất bại, ông này lại phải tiến hành vây hãm quanh thành phố.

Rất nhiều quân viễn chinh khác đã bỏ ngũ trước khi Kerbogha đến và họ đã gặp Stephen của Blois tại Tarsus. Stephen đã thấy quân đội của Kerbogha đóng trại ở gần Antioch và cho rằng đã mất tất cả hy vọng, những người đào ngũ cũng đã xác nhận về những lo ngại của ông ta. Trên đường trở về Constantinople, Stephen và những người đào ngũ khác gặp Alexius lúc này đang trên đường đến để hỗ trợ cho quân viễn chinh, và không biết họ đã chiếm được thành phố và bây giờ chính mình lại đang bị bao vây. Stephen thuyết phục ông ta rằng phần còn lại của quân viễn chinh coi như đã chết và Alexius nhận được tin từ quân trinh sát của mình rằng có một toán quân Seljuk ở gần Tiểu Á. Vì thế, ông quyết định quay trở về Constantinople chứ không mạo hiểm lao vào chiến đấu.

Khám phá ra Holy Lance

Trong khi đó tại Antioch, ngày 10 tháng 6 một tu sĩ nghèo và có một cái tên không có mấy ý nghĩa là Peter Bartholomew đi lên tuyên bố đã nhìn thấy Thánh St Andrew và nói với ông rằng Holy Lance đang ở trong thành phố. Phần lớn quân viễn chinh vì đói qúa nên chẳng nhìn thấy gì và dễ bị ảo giác và một thầy tu tên là Stephen ở xứ Valence có báo lại là đã nhìn thấy Chúa Kitô và Virgin Mary. Ngày 14 tháng 6 một ngôi sao băng ( sao chổi) đã được nhìn thấy là bay về phía doanh trại của kẻ thù, đây được hiểu như là một điềm tốt. Mặc dù Adhemar cảm thấy ngờ vì ông đã nhìn thấy một di tích của Holy Lance ở Constantinople, nhưng Raymondại tin Peter. Raymond, Raymond của Aguilers, William, Giám mục xứ Orange, và những người khác đã bắt đầu đào bới trong nhà thờ Thánh Phêrô vào ngày 15 tháng 6 và khi họ đi ra với đôi bàn tay trắng, Peter đi vào chỗ đào bới, cúi xuống và nhặt lên một đầu ngọn giáo. Raymond đã diễn đạt điều này như một dấu hiệu của Thiên Chúa rằng họ sẽ tồn tại và do đó chuẩn bị cho một cuộc chiến cuối cùng thay vì đầu hàng. Peter sau đó lại đưa ra một tuyên bố khác rằng St Andrew đã chỉ thị cho quân đội thập tự chinh phải chiến đấu trong năm ngày ( mặc dù họ đang chết đói), sau đó họ sẽ chiến thắng.

Bohemund cũng đã hoài nghi về chuyện Holy Lance, nhưng không đưa ra câu hỏi nào vì phát hiện ra nó làm tăng tinh thần chiến đấu của quân viễn chinh. Cũng có thể là Peter đã tuyên bố về những gì mà Bohemund muốn (chứ không phải những gì St Andrew muốn) vì Bohemund biết- từ gián điệp của ông ta trong trại của Kerbogha, rằng các phe phái ( Hồi giáo ) khác nhau thường xuyên đấu đá với nhau. Kerbogha của Mosul đã thực sự bị nghi ngờ bởi hầu hết các Tiểu vương Hồi giáo vì ông ta cũng rất thèm muốn chủ quyền ở Syria và thường được coi như là một mối đe dọa lớn hơn đến lợi ích của họ so với những kẻ xâm lược dị giáo. Ngày 27 tháng 6, Peter-nhà ẩn sĩ đã được gửi bởi Bohemund để đàm phán với Kerbogha, nhưng việc này đã được chứng minh là vô ích và phải chiến đấu với người Thổ Nhĩ Kỳ đã trở thành điều không thể tránh khỏi. Bohemund đã thành lập lên sáu đơn vị: ông chỉ huy một mình, và năm đơn vị còn lại được dẫn đầu bởi Hugh của Vermandois và Robert của Flanders, Godfrey, Robert của Normandy, Adhemar và Tancred và Gaston IV của Béarn. Raymond đã bị ốm nên phải ở lại bên trong để bảo vệ thành phố với 200 binh sỹ, và thành trì đang được quản lý bởi Ahmed Ibn Merwan-một gián điệp của Kerbogha. ( quân Kitô giáo mới chiếm được thành phố mà chưa chiếm được chiếc thành bên trong)

Trận chiến Antioch

Vào thứ hai ngày 28 tháng 6, các lộ quân viễn chinh xuất hiện từ các cổng của thành phố, với Raymond của Aguilers mang biểu tượng Holy Lance đi trước họ. Kerbogha chần chừ trước lời khuyên của các tướng lĩnh của mình vì ông ta hy vọng sẽ tấn công họ cùng một lúc chứ không phải là chỉ một đơn vị tại một thời điểm, nhưng ông đánh giá thấp số lượng của họ. Ông giả vờ rút lui để dử quân viễn chinh đến những nơi có địa hình xấu, trong khi cung thủ của ông liên tục bắn tên vào quân viễn chinh đang tiến lên. Một đội quân đã được tung ra để tấn công vào cánh trái của quân thập tự chinh, nơi họ đã không được bảo vệ bởi bờ sông, việc này làm cho Bohemund phải nhanh chóng hình thành một đơn vị thứ bảy và đánh bại rồi đẩy lui họ. Người Thổ đã gây ra nhiều thương vong, trong đó có cả Adhemar-người mang ảnh thánh và Kerbogha cho đốt đồng cỏ giữa vị trí của mình và quân viễn chinh nhưng điều này cũng không ngăn cản nổi họ: họ đã nhìn thấy ba vị thánh đi cùng với họ, đó là: St George, St Demetrius và St Maurice ( chẳng qua quân thập tự chinh phao tin để tự nâng cao tinh thần hoặc đói quá nhìn nhầm mà thôi ). Trận chiến diễn ra rất nhanh. Trước khi quân viễn chinh đến được đội hình của Kerbogha, Duqaq và các Tiểu vương Hồi giáo khác đã phản bội Kerbogha và mang quân đội trở lại vùng đất riêng của họ, sự kiện này làm giảm đáng kể lợi thế về số quân số hùng hậu của Kerbogha trước đối thủ Kitô giáo của mình. Chẳng bao lâu thì quân Hồi giáo còn lại cũng phải rút lui.


Ở vào thế không còn gì để mất, quân thập tự chinh dàn trận chiến đấu với quân tiếp viện của người Hồi giáo ở bên ngoài thành phố Antioch và cuối cùng người Hồi giáo phải bỏ chạy, tranh vẽ Robert II xứ Normandy đang hạ gục một thủ lĩnh Hồi giáo

Sau trận đánh

Sau khi Kerbogha bỏ chạy, thành trì dưới sự chỉ huy của Merwan ibn Ahmed cuối cùng đã đầu hàng, nhưng chỉ hạ vũ khí trước cá nhân Bohemund chứ không phải là trước Raymond, điều này dường như đã được sắp đặt trước mà không cho Raymond biết trước. Theo dự kiến, Bohemund tuyên bố thành phố là của mình, mặc dù Adhemar và Raymond không đồng ý. Hugh của Vermandois và Baldwin của Hainaut được gửi tới thành phố Constantinople, tuy vậy Baldwin đã mất sau một cuộc phục kích trên đường đi. Tuy nhiên Alexius đã không quan tâm tới việc gửi một đoàn viễn chinh để đòi thành phố này vào cuối mùa hè. Trở lại Antioch, Bohemund lập luận rằng Alexius đã bỏ chạy khỏi trận chiến và do đó tất cả các lời thề của ông đối với ông ta trở nên vô hiệu lực. Bohemund và Raymond cùng chiếm đóng cung điện của Yaghi-Siyan, nhưng Bohemund kiểm soát hầu hết các phần còn lại của thành phố và cho cắm cờ xí của ông ta lên trên mặt tường thành. Đây là một giả định phổ biến rằng người Frank ở miền Bắc nước Pháp, người Provencal ở miền Nam nước Pháp ( Raymond là người Provence) và người Norman ở miền nam Italy ( người Norman lấn chiếm lãnh thổ của người Byzantine ở miền nam Italy, nên giữa Hoàng đế Byzantine và Bohemund-người Norman luôn có hiềm khích) luôn tự coi mình là “quốc gia” riêng biệt và mỗi vùng đều muốn gia tăng vị thế của nó. Điều này có thể đã là nguyên nhân của các tranh chấp, nhưng chủ yếu nhiều khả năng vẫn là các tham vọng cá nhân đã tạo ra các cuộc đấu đá nội bộ giữa hai người.

Chẳng bao lâu một bệnh dịch đã nổ ra, có thể là bệnh sốt rét, và vào ngày 1 tháng 8 Adhemar-người thừa kế của Giáo hoàng đã chết. Trong tháng 9 các lãnh tụ của cuộc thập tự chinh đã viết cho Giáo hoàng Urban II, yêu cầu chính bản thân ông ta kiểm soát thành phố Antioch nhưng ông này đã từ chối. Trong phần còn lại của năm 1098, họ giành nhau quyền kiểm soát vùng nông thôn xung quanh Antioch, mặc dù lúc này ngay cả ngựa cũng còn ít hơn trước và nông dân Hồi giáo từ chối không cho họ thực phẩm. Các hiệp sĩ và chiến binh trẻ tuổi đã trở nên bất an và nạn đói lại bắt đầu nổ ra và họ đe dọa sẽ tiếp tục tiến tới Jerusalem mà không cần tới các thủ lĩnh của họ. Vào tháng11, cuối cùng Raymond đã trao hoàn toàn quyền quản lý thành phố cho Bohemund vì mục đích duy trì hòa bình trong thập tự chinh và để chấn tĩnh đám quân đang chết đói và sắp nội loạn của ông lại. Vào đầu tháng 3 năm 1099 họ lại bắt đầu một cuộc viễn chinh mới, để lại đằng sau Bohemund lúc này đã trở thành Hoàng tử đầu tiên của Antioch và trong mùa xuân Cuộc vây hãm Jerusalem đã được bắt đầu dưới sự chỉ huy của Raymond xứ Provence.

Sự thành công tại Antioch đã làm cho quá nhiều người cảm thấy hoài nghi về Peter Bartholomew. Những gì mà Peter nhìn thấy dường như là quá đúng lúc và quá thiết thực và ông này đã công khai bị cáo buộc là nói dối. Trong cuộc cãi cọ Peter bị ép buộc phải trải qua thử thách bằng lửa để chứng minh rằng ông ta đã được thần thánh hướng dẫn. Đang ở vùng đất Thánh nên họ đã chọn một kiểu thử thách trong Kinh Thánh: Peter sẽ đi qua một lò lửa và sẽ được bảo vệ bởi một thiên sứ của Thiên Chúa ( nếu đúng là ông ta nhìn thấy Thiên Chúa ). Quân viễn chinh xây dựng một con đường đi qua một lò lửa; Peter sẽ đi bộ xuống con đường giữa những ngọn lửa. Ông đã làm như vậy và đã bị bỏng một cách khủng khiếp. Ông qua đời sau khi chịu đau đớn trong mười hai ngày. Không có gì để nói nhiều hơn về Holy Lance mặc dù một trong những phe phái vẫn tiếp tục cho rằng Peter đã nhìn thấy Thần thánh thực sự và rằng Holy Lance là có thật. ( có vẻ như là Thập tự quân chiến đấu về Niềm tin Tôn giáo nhưng họ lại không mê tín bằng người NC bây chừ).

Cuộc vây hãm Jerusalem năm 1099

Cuộc vây hãm Jerusalem diễn ra từ ngày 7 đến ngày 15 tháng 7 năm 1099 trong cuộc Thập tự chinh đầu tiên. Những Thập tự quân đã tấn công và chiếm được thành phố từ triều đình Fatimid của Ai Cập.

Bối cảnh

Sau khi bao vây và công chiếm thành công thành phố Antioch vào tháng 6 năm 1098, quân viễn chinh đã đóng lại ở khu vực trong phần còn lại của năm đó. Adhemar của Le Puy-người thừa kế Giáo hoàng đã chết và Bohemund của Taranto đã tuyên bố chiếm Antioch cho chính mình. Baldwin của Boulogne ở lại Edessa vốn bị ông ta chiếm vào hồi đầu 1098. Có xảy ra bất đồng giữa các hoàng tử về những việc cần làm tiếp theo; Raymond của Toulouse đã cảm thấy rất thất vọng và rời khỏi Antioch để chiếm lấy pháo đài Ma’arrat al-Numan trong Cuộc vây hãm Maarat. Đến cuối năm các hiệp sĩ và binh sỹ trẻ tuổi đã đe dọa hành quân đến Jerusalem mà không cần đến các thủ lĩnh.

Cuộc bao vây Arqa

Vào cuối tháng 12 hoặc đầu tháng Giêng, Robert của Normandy và Tancred-cháu trai của Bohemond đồng ý trở thành chư hầu của Raymond, người đủ giàu có để trả tiền cho sự phục vụ của họ. Tuy nhiên Godfrey của Bouillon, người mà giờ đây đã có thu nhập từ lãnh thổ của anh trai của ông tại Edessa đã từ chối không theo Raymond nữa. Ngày 05 tháng 1, Raymond cho phá hủy các bức tường của Ma’arrat và vào ngày 13 tháng 1 ông bắt đầu một cuộc trường chinh về phía nam với chân đất và ăn mặc như một khách hành hương, tiếp theo là Robert và Tancred. Đổ bộ xuống bờ biển Địa Trung Hải, họ đã gặp phải những kháng cự nhỏ bởi những thủ lĩnh Hồi giáo địa phương thích chọn phương án hòa bình và chấp nhận cung cấp cho họ lương thực và quân nhu hơn là chiến đấu. Các thủ lĩnh địa phương người Hồi giáo Sunni có thể cũng thích sự cai trị của Thập tự quân hơn là người Hồi giáo dòng Shia của triều đình Fatimid.

Raymond lên kế hoạch để chiếm Tripoli cho mình để thiết lập một thành bang tương đương với Antioch của Bohemund. Tuy nhiên lúc đầu ông đã bị bao vây ở Arqa gần đó. Trong khi đó, Godfrey cùng với Robert của Flander, những người đã từ chối trở thành chư hầu của Raymond, đã tham gia cùng với quân viễn chinh còn lại tại Latakia và hành quân về phía nam vào tháng Hai. Bohemond cũng tham gia hành quân ra với họ nhưng rồi lại nhanh chóng trở về Antioch. Tại thời điểm này Tancred rời bỏ Raymond và gia nhập với Godfrey do một số cuộc tranh cãi không rõ nguyên nhân. Ngoài ra còn một lực lượng Thập tự chinh riêng biệt nữa mặc dù họ có liên kết với lực lượng của Godfrey, được dẫn đầu bởi Gaston IV của xứ Béarn.

Godfrey, Robert, Tancred và Gaston đến Arqa vào tháng ba, nhưng vòng vây vẫn tiếp tục. Tình hình căng thẳng không chỉ ở giữa các nhà thủ lãnh quân sự, mà còn giữa các giáo sĩ, kể từ sau cái chết của Adhemar đã có không có một nhà lãnh đạo thực sự và kể từ khi lúc phát hiện ra Holy Lance bởi Peter Bartholomew tại Antioch, đã có những cáo buộc về gian dối trong số các phe phái khác nhau của nhà thờ. Cuối cùng, vào tháng Tư, Arnulf của Chocques đã thách đố Peter đi trên lò lửa. Peter đã chấp nhận thử thách và chết vì vết thương của mình, do đó đã mất hết uy tín như là một giáo sỹ thánh thiện và Raymond trở thành một trong những người giữ quyền lực tối cao trong cuộc Thập tự chinh.

Cuộc bao vây Jerusalem

Đến thành phố linh thiêng

Cuộc bao vây Arqa kéo dài cho đến 13 tháng 5 sau khi quân viễn chinh bỏ đi mà không chiếm được cái gì. Triều đình Fatimid đã cố gắng để thương lượng hòa bình với điều kiện là các thập tự quân không được tiếp tục hướng tới Jerusalem, nhưng điều này đã bị bỏ ngoài tai; Iftikhar Ad-Daula-Thống đốc của Triều đình Fatimid ở Jerusalem, đã biết được ý định của quân Thập tự chinh. Do đó ông ta cho trục xuất tất cả các cư dân người Thiên chúa giáo của Jerusalem. Ông ta cũng cho hạ độc hầu hết các giếng nước trong khu vực này. Ngày thứ 13 quân Thập tự chinh đến được Tripoli, nơi mà Thống đốc của thành phố đã tặng cho họ tiền và ngựa. Theo quấn Gesta Francorum –quấn biên niên sử vô danh, ông này cũng tuyên bố sẽ chuyển sang Kitô giáo nếu quân viễn chinh thành công trong việc chiếm giữ Jerusalem từ kẻ thù thuộc nhà Fatimid của mình. Tiếp tục đi về phía nam dọc theo bờ biển, quân viễn chinh đã đi qua Beirut vào ngày 19 tháng 5, Tyre vào ngày 23 tháng 5 và di chuyển vào sâu trong nội địa tại Jaffa, đến được Ramlah vào ngày 3 tháng 6, nơi mà đã bị bỏ hoang bởi cư dân của nó. Toà Giám mục của Ramlah-Lydda được thành lập tại nhà thờ St George (Một vị anh hùng thập tự chinh nổi tiếng) trước khi họ tiếp tục tiến vào Jerusalem. Ngày 6 tháng 6, Godfrey đã cử Tancred và Gaston đi để chiếm Bethlehem, và Tancred đã cắm cờ của mình ở Nhà thờ Chúa Giáng sinh ( VN Church of the Nativity- có thể là Nhà thờ Bethlehem ngày nay). Ngày 07 tháng 6 Thập tự quân đã trông thấy thành phố Jerusalem. Nhiều người đã khóc khi nhìn thấy thành phố mà họ đã phải trải qua một cuộc hành trình rất dài để đến nơi.


Tranh vẽ cảnh khi quân Thập tự chinh đến được Đất Thánh Jerusalem, trông họ thật tả tơi tuốt tuột

Cũng như ở Antioch, khi quân viễn chinh tiến tới thành phố, họ cũng tiến hành một cuộc bao vây mà có lẽ cuộc bao vây này lại làm hại chính bản thân họ nhiều hơn so với các cư dân của thành phố vì do thiếu lương thực và nước uống xung quanh Jerusalem. Thành phố đã được chuẩn bị tốt cho một cuộc bao vây và thống đốc Fatimid Iftikhar Ad-Daula đã cho trục xuất hầu hết các Kitô hữu. Trong số khoảng ước tính 5.000 hiệp sĩ đã tham gia vào cuộc Thập tự chinh của các Hoàng tử-Đại quý tộc, chỉ còn có khoảng 1.500 người vẫn đứng vững, cùng với 12.000 binh sĩ khỏe mạnh, (trong số có lẽ có đến 30,000 người). Godfrey, Robert của Flanders và Robert của Normandy (những người đã rời bỏ Raymond để gia nhập với Godfrey) bao vây các bức tường phía bắc tới tận Tháp David, Trong khi Raymond lập trại của ông ở phía tây, từ Tháp David đến tận Núi Zion. Một cuộc tấn công trực tiếp vào các bức tường trong ngày 13 tháng 6 đã thất bại. Nếu không có nước và lương thực thì cả người và ngựa sẽ nhanh chóng chết vì khát và đói và quân viễn chinh biết rằng thời gian đã không đứng về phía họ. Thật trùng hợp, ngay sau khi nổ ra cuộc tấn công đầu tiên, 2 chiếc tầu Galley của người Genova đã đi vào cảng Jaffa và quân viễn chinh đã có thể được cung cấp lương thực để duy trì chính bản thân mình trong một thời gian ngắn. Quân viễn chinh cũng bắt đầu thu thập gỗ từ Samaria để chế tạo một máy công thành. Họ vẫn còn thiếu lương thực và nước uống và đến cuối tháng 6 thì đã có tin đồn rằng một đội quân Fatimid đang hành quân đến từ phía bắc Ai Cập.

Đám rước chân trần


Đám rước chân trần của Tu sỹ và hiệp sỹ thập tự chinh, nó thể hiện quyết tâm phải công phá bằng được Gerusalem của họ

Đối mặt với một nhiệm vụ tưởng như không thể, tinh thần của họ đã được nâng lên khi một linh mục tên là Peter Desiderius đã tuyên bố rằng ông ta đã nhìn thấy Thiên Chúa, theo ông ta kể thì hồn ma của Adhemar ( người đã chết vì bệnh sốt rét ở Antioch) hướng dẫn họ chiến đấu trong ba ngày và sau đó họ phải tuần hành trong một đám rước bằng chân trần trên những bức tường của thành phố, sau đó thành phố sẽ sụp đổ trong chín ngày, giống như là ví dụ về Joshua tại cuộc bao vây Jericho trong Kinh Thán. Mặc dù họ đang chết đói, họ phải nhịn ăn nhưng vào ngày 08 tháng 7 họ đã thực hiện đám rước, với hàng giáo sĩ thổi kèn và hát các bài Thánh Ca trước sự chế giễu của tất cả quân phòng thủ Jerusalem. Đám rước dừng lại ở Núi Olives và các bài giảng được đọc bởi Peter Hermit ( bác này sống dai quá), Arnulf của Chocques và Raymond của Aguilers.

Cuộc tấn công cuối cùng


Quân Thập tự chinh chuẩn bị cho đượt tấn công cuối cùng, giây phút yên ả trước cơn bão tố

Trong suốt cuộc bao vây, rất nhiều cuộc tấn công đã được tiến hành vào các bức tường, nhưng tất cả đều bị đẩy lui. Một toán quân người Genova được dẫn đầu bởi chỉ huy Guglielmo Embriaco, ông này trước đó đã cho phá dỡ những con tàu mà những người Genoeses dùng để đến được vùng Đất Thánh của Thiên Chúa; Embriaco sử dụng gỗ của con tàu để đóng một số tháp công thành. Chúng được được kéo đi bằng bánh xe để tiến lại gần đến các bức tường vào đêm 14 tháng 7 sự ngạc nhiên và quan tâm của các binh lính đồn trú. Sáng ngày 15 tháng 7, chiếc tháp công thành của Godfrey đã đến được những bức tường gần cổng góc đông bắc và theo quấn Gesta Francorum thì hai hiệp sĩ người Flemish đến từ Tournai tên Lethalde và Engelbert là những người đầu tiên vượt qua tường thành để tiến vào thành phố, tiếp theo là Godfrey, Eustace -em trai của ông, Tancred và người của họ. Đầu tiên chiếc tháp công thành của Raymond bị chặn lại bởi một chiếc hào có nước, nhưng khi những lính Thập tự chinh khác đột nhập được vào thành phố, binh lính Hồi giáo bảo vệ cổng thành đã đầu hàng Raymond.


Tháp công thành, thang gỗ, pháo bắn đá đã sẵn sàng, bắt đầu thôi

Cuộc thảm sát ở Jerusalem

Cuộc thảm sát người Hồi giáo
 thaptuchinhtansathoigiao

Tranh vẽ thập tự quân tàn sát người Hồi giáo tại Jerusalem


Tranh vẽ Quân thập tự chinh xông vào Gerusalem và tàn sát 40.000 người Hồi giáo + 1.000 lính phòng thủ, họ cũng mất khoảng 11.000 người trong các trận công thành


Sự xuất hiện của các thủ lĩnh Thập tự chinh cũng chỉ vãn hồi được đôi chút tình hình

Nhiều người Hồi giáo nói nói chung là đã tìm nơi trú ẩn trong nhà thờ Hồi giáo Al-Aqsa Mosque-toà nhà thờ Đá mái Vòm và khu vực Núi Temple. Theo quấn Gesta Francorum, Nói duy nhất của khu vực núi Đền, “…[ người của chúng tôi] đã giết và tàn sát ngay cả đến tận đền thờ Solomon, nơi mà cuộc tàn sát diễn ra một cách điên cuồng nhất, quân thập tự chinh lội trong những vũng máu lên đến mắt cá chân của họ … ” Theo hồi ký của Raymond của Aguilers, loại bằng văn bản duy nhất ở khu vực núi Đền, “trong đền thờ và hiên nhà của đền thờ Solomon quân thập tự chinh người đầy máu me lên đến đầu gối và dây cương ngựa.” Tuy nhiên, hình ảnh này không nên dùng theo nghĩa đen, vì nó được lấy trực tiếp từ chương Apocalypse 14:20 trong Kinh Thánh. Đoạn viết về khu vực núi Đền của Fulcher Chartres-người không phải là một nhân chứng cho cuộc bao vây Jerusalem vì ông đã ở lại với Baldwin tại Edessa lúc đó, nói:..? “Trong ngôi đền này đã có 10.000 người bị giết hại Thực vậy, nếu bạn đã ở đó bạn sẽ nhìn thấy bàn chân của chúng tôi đến tận mắt cá chân của chúng tôi toàn là máu của người bị giết. Không một ai trong số họ còn sống sót, phụ nữ và trẻ em cũng không được tha “. Việc tàn sát một số lượng lớn người Hồi giáo ở Núi Đền đôi khi cũng gây ngờ vực rằng nó được tiến hành vào toàn bộ thành phố, một số nhà bình luận hiện đại cho rằng tất cả hoặc gần như tất cả các cư dân của thành phố đã bị giết. Không có bằng chứng hoặc nhân chứng cho một cơ sở rằng khu bán buôn bên ngoài khu vực núi Đền bị tàn sát.

Các nhân chứng trong quấn Gesta Francorum nói rằng một số người đã được tha chết. tác giả ẩn danh của nó đã viết, “Khi những người ngoại đạo đã bị chế phục, người của chúng tôi đã bắt giữ một số lượng lớn, cả nam và nữ, giết hoặc giam giữ chúng tùy họ muốn.” Sau đó cùng một nguồn viết, “[thủ lĩnh của chúng tôi] cũng ra lệnh cho tất cả những người Saracen đã chết phải bị vứt ra bên ngoài vì mùi hôi thối rất kinh khủng kể từ lúc toàn thành phố đầy ngập xác chết của họ và do đó chúng tôi kéo những người Saracens hoặc sống hoặc chết ra khỏi cửa nhà và sắp chúng thành vào đống. Từ đó không ai nhìn thấy hoặc tiếp tục nghe nói về việc tàn sát người ngoại giáo, cho đến khi việc chôn cất được tiến hành cho những đống xác chết được chất như kim tự tháp và không ai biết số của họ ngoại trừ chỉ một mình Thiên Chúa. Nhưng Raymond đã gây chuyện với các Tiểu vương và những người khác-toàn bộ những người chưa bị thương ( những Thập tự quân còn lành lặn) đã đi cùng ông ta để đến Ascalon ( nơi diễn ra trận chiến cuối cùng của cuộc Thập tự chinh lần 1). “

Một nguồn nhân chứng, Raymond của Aguilers, viết rằng vẫn có một số người Hồi giáo sống sót. Sau khi tường thuật lại việc tàn sát trên núi Đền, ông này cũng nói rằng một số người “đã chạy đến tị nạn ở Tháp David và yêu cầu Công tước Raymond bảo vệ và đầu hàng trước ông ta”, Những người Hồi giáo này được phép rời đi cùng với viên thống đốc của Triều đình Fatimid để đến Ascalon. Một phiên bản của truyền thuyết này cũng được Ibn al-Athir-sử gia Hồi giáo sau này (10, 193-95), người kể lại rằng sau khi thành phố đã bị chiếm và cướp bóc: “Một nhóm người Hồi giáo chiếm tháp David (Mihrab Dawud) và chiến đấu trong nhiều ngày, họ được tha chết để đổi lấy việc đầu hàng. Người Frank đã giữ lời của họ và nhóm này rời đi vào ban đêm để đến Ascalon. ” Một lá thư từ Cairo Geniza cũng đề cập rằng một số cư dân Do Thái đã rời khỏi thành phố cùng với thống đốc Fatimid.

Tancred tuyên bố chủ quyền ở Temple quarter cho bản thân mình và cung cấp bảo vệ cho một số người Hồi giáo ở đó, nhưng rồi ông cũng không thể ngăn chặn được việc họ bị tàn sát bởi bàn tay của các đồng chí trong quân Thập tự chinh của mình.

Mặc dù quân Thập tự chinh đã giết rất nhiều người Hồi giáo và người dân Do Thái, các nhân chứng (Gesta Francorum, Raymond của Aguilers và tài liệu của Cairo Geniza) đã chứng minh rằng một số người Hồi giáo và người dân Do Thái được phép sống, miễn là họ phải rời Jerusalem. Tất cả các ước tính hiện đại của các con số thực sự bị giết tại Jerusalem sau khi cuộc bao vây của quân Thập tự chinh hoàn toàn là do suy đoán; các nguồn tài liệu chính thức từ thời kỳ này chỉ đơn giản là không cho phép thực hiện một ước tính đáng tin cậy.

Người Do Thái

Quấn biên niên sử của Ibn al-Qalanisi cồng bố rằng người Do Thái đã tìm nơi trú ẩn trong thánh đường của họ, nhưng “người Frank đã đốt cháy nó trên đầu của họ” và giết chết tất cả mọi người bên trong. Một tài liệu cáo buộc rằng quân Thập tự chinh đứng vòng quanh tòa nhà cháy và hát “Chúa Kitô, Chúng tôi tôn thờ Ngài!, Ngài là ánh sáng của chúng tôi, lãnh tụ của chúng tôi, tình yêu của chúng tôi”. Không có câu hỏi nào cho thấy có một vụ thảm sát người Do Thái tại Jerusalem, bức thư đương đại từ Cairo Geniza yêu cầu sự trợ giúp cho những người Do Thái chạy thoát khỏi Jerusalem vào thời điểm các cuộc vây hãm có liên quan đến các vụ tàn sát của Thập tự quân lúc này. Tuy nhiên, cùng một bức thư này cũng cho thấy đã rõ ràng rằng có một số nạn nhân Do Thái sống sót.

Kitô hữu phương Đông

Trái ngược với những gì đôi khi bị cáo buộc, không có nguồn nhân chứng nào nói đến việc quân Thập tự chinh người Kitô hữu phương Đông ở Jerusalem và nguồn tin ban đầu của Cơ đốc giáo phương Đông (Matthew của Edessa, Anna Comnena, Michael Syria, vv) đã không đưa ra các cáo buộc như vậy về quân Thập tự chinh ở Jerusalem. Theo sử gia Syriac viết vào năm 1234, Kitô hữu đã bị trục xuất khỏi Jerusalem trước khi quân Thập tự chinh tiến đến. Có lẽ điều này có thể được thực hiện bởi thống đốc triều đình Fatimid để ngăn chặn sự cấu kết có thể xảy ra giữa họ với quân Thập tự chinh.

Quấn Gesta Francorum tuyên bố rằng vào Thứ Tư ngày 09 tháng 8, hai tuần rưỡi sau cuộc bao vây, Peter Hermit khuyến khích tất cả những “linh mục và giáo sĩ Hy Lạp và La tinh ” tiến hành một đám rước tạ ơn tại Nhà thờ Thánh Sepulchre. Sự kiện này cho thấy rằng một số đông giáo sĩ Thiên chúa giáo vẫn còn trong hoặc gần Jerusalem trong thời gian của cuộc bao vây. Tháng 11 năm 1100, cá nhân của Fulcher Chartres ( người thuật lại nhiều chuyện về cuộc Thập tự chinh) đi cùng với Baldwin trong một chuyến viếng thăm Jerusalem, họ đã được chào đón bởi cả giáo sĩ Hy Lạp và Syria và giáo dân (Sách II, 3), điều này cho thấy sự hiện diện Kitô giáo phương Đông ở thành phố một năm sau đó.

Hậu quả

Sau vụ thảm sát, Godfrey của Bouillon đã nhận danh hiệu Advocatus Sancti Sepulchri ( Người bảo vệ của Thánh Sepulchre) vào ngày 22, từ chối để được chọn làm vua của thành phố nơi mà Chúa Kitô đã chết, ông nói rằng ông từ chối đeo một chiếc vương miện bằng vàng ở thành phố, nơi mà Chúa Kitô đã phải đeo một vòng gai. Raymond cũng đã từ chối bất cứ danh hiệu nào và Godfrey đã thuyết phục ông rời bỏ tháp David. Sau đó Raymond đã tiến hành một cuộc hành hương và trong lúc ông vắng mặt Arnulf Chocques, người mà Raymond đã phản đối vì ông này (Raymond) đã hỗ trợ cho Peter Bartholomew, được bầu là Giáo trưởng Latin đầu tiên vào ngày 1 (các khiếu nại của Giáo trưởng Hy Lạp bị bỏ qua). Vào ngày 05 tháng 8, Arnulf sau khi lấy ý kiến của người dân còn sống sót trong thành phố, đã phát hiện ra di tích True Cross.
Ngày 12 tháng 8, Godfrey đã dẫn đầu một đội quân với chiếc chữ thập True Cross được mang theo trong đội quân tiên phong để chống lại quân đội của Triều đình Fatimid ở Trận Ascalon vào ngày 12. Các quân viễn chinh đã thành công, nhưng sau chiến thắng này phần lớn trong số họ coi cuộc thập tự chinh đã hoàn tất và không phải tất cả nhưng một vài trăm hiệp sĩ đã trở về nhà. Tuy nhiên, chiến thắng của họ đã mở đường cho việc thành lập Vương quốc Jerusalem.

Trận Ascalon

Trận Ascalon diễn ra vào ngày 12 tháng 8 năm 1099, và thường được coi là trận chiến cuối cùng của cuộc Thập tự chinh đầu tiên.

Bối cảnh

Quân viễn chinh đã thương lượng với Triều Fatimid của Ai Cập về chuyến hành trình đến Jerusalem, nhưng không đạt được sự thỏa hiệp nào- Triều đình Fatimid đã sẵn sàng từ bỏ quyền kiểm soát Syria nhưng không chịu từ bỏ Palestine, nhưng điều này là không thể chấp nhận đối với quân viễn chinh vì mục tiêu của họ là Nhà thờ Thánh Sepulchre tại Jerusalem. Jerusalem đã bị chiếm từ Triều Fatimid ngày 15 tháng 7 năm 1099, sau khi một cuộc bao kéo vây dài, và ngay lập tức quân viễn chinh biết được rằng một đội quân Fatimid đang trên đường tới tấn công họ.Quân viễn chinh đã hành động một cách nhanh chóng. Godfrey của Bouillon được nhận danh hiệu Người bảo vệ Thánh Sepulchre vào ngày 22 tháng 7 và Arnulf của Chocques, trở thành giáo trưởng của Jerusalem vào ngày 01 tháng 8, ông này phát hiện ra một di tích của True Cross vào ngày 05 tháng 8. Sứ giả của Triều Fatimid đến nơi và yêu cầu quân viễn chinh phải rời khỏi Jerusalem nhưng họ đã bỏ ngoài tai. Ngày 10 tháng 8 Godfrey dẫn đầu lực lượng thập tự quân còn lại ra khỏi Jerusalem và hướng tới Ascalon, Một ngày tháng ba đi, trong khi Peter Hermit dẫn đầu các giáo sĩ Công giáo và Chính thống Byzantine trong một đám rước và cầu nguyện từ Nhà thờ Thánh Sepulchre đến Núi Temple. Robert II của Flanders và Arnulf đi kèm với Godfrey, nhưng Raymond IV của Toulouse và Robert của Normandy lại ở lại, có thể là họ lại có một cuộc tranh cãi với Godfrey hoặc vì họ thích nghe về quân đội Ai Cập từ các chư hầu của mình. Khi sự hiện diện của Ai Cập đã được xác nhận, họ cũng đã hành quân ngày tiếp theo. Ở gần Ramla, họ đã gặp được Tancred và Eustace-em trai của Godfrey, những người đã ở lại để chiếm lấy Nablus trong tháng trước. Theo sau người đứng đầu quân đội, Arnulf mang di tích của thập giá True Cross, trong khi Raymond của Aguilers mang các di tích của Holy Lance vốn đã được phát hiện tại Antioch trong năm trước.

Trận chiến


Tranh vẽ trận Ascalon nhưng mang tính chất ảnh thánh

Quân của Triều Fatimids được dẫn đầu bởi tể tướng al-Afdal Shahanshah, người lúc này chỉ huy có lẽ có đến 50.000 quân (các ước tính khác là khoảng từ 20-30,000 đến 200.000 người theo phóng đại của Gesta Francorum). Quân đội của ông bao gồm người Seljuk Turk, Người Ả Rập, Ba Tư, Armenia, người Kurd và Ethiopia. Ông có ý định bao vây quân viễn chinh ở Jerusalem, mặc dù ông đã không mang theo các thiết bị máy móc công thành. Tuy nhiên có một hạm đội, cũng lắp ráp tại cảng Ascalon. Số lượng chính xác của quân viễn chinh là không rõ, nhưng số lượng được đưa ra bởi Raymond của Aguilers là 1.200 hiệp sĩ và 9.000 lính bộ binh. Con số ước tính cao nhất là 20.000 người nhưng điều này là chắc chắn không thể ở giai đoạn này của cuộc thập tự chinh. Al-Afdal đóng trại ở vùng đồng bằng al-Majdal trong một thung lũng ở bên ngoài Ascalon, chuẩn bị để tiếp tục hành quân đến Jerusalem và bao vây quân viễn chinh ở đó, dường như ông không biết được rằng quân viễn chinh đang tiến tới để tấn công ông ta. Ngày 11 tháng 8 của quân viễn chinh thấy các đàn bò, cừu, lạc đà và dê tụ tập xung quanh doanh trại của quân đội Fatimid, họ chăn thả gia súc bên ngoài thành phố. Theo những tù binh bị bắt bởi Tancred trong cuộc giao tranh ở gần Ramla, Các con vật này được mang đi với tác dụng là khuyến khích quân viễn chinh giải tán hàng ngũ để cướp bóc, làm cho triều Fatimid có thể tấn công dễ dàng hơn. Tuy nhiên, al-Afdal vẫn chưa biết được quân viễn chinh đã xuất hiện trong khu vực của mình và rõ ràng không mong chờ đợi họ. Và những con vật này đã tiếp tục xuất phát cùng với họ vào sáng hôm sau, làm cho quân đội của họ dường như đông hơn nhiều so với thực tế.

Vào sáng ngày 12, trinh sát thập tự quân báo cáo về vị trí của trại Fatimid và quân đội Thập tự chinh đã hành quân về phía nó. Trong thời gian hành quân, quân viễn chinh đã được tổ chức thành chín lộ binh: Godfrey chỉ huy bên cánh trái, Raymond bên cánh phải, và Tancred, Eustace, Robert của Normandy và Gaston IV của Béarn tạo thành cánh trung quân, họ được chia thành hai đơn vị nhỏ hơn và một đơn vị bộ binh lại hành quân trước một đơn vị kỵ binh. Sự sắp xếp này cũng được sử dụng như là đội hình chiến đấu ở bên ngoài Ascalon, với cánh trung quân của quân Thập tự chinh ở giữa Jerusalem và Jaffa Gates, cánh phải ra đến tận bờ biển Địa Trung Hải và cánh trái đối diện với cổng Jaffa.Theo hầu hết các tài liệu (cả từ phía thập tự chinh và người Hồi giáo), quân Fatimid đã bị tấn công mà không kịp chuẩn bị trước và trận chiến diễn ra chỉ trong một thời gian rất ngắn, nhưng Albert của Aix lại nói rằng cuộc chiến kéo trong một số thời gian khá dài và quân đội Ai Cập đã được chuẩn bị khá tốt. Lực lượng chính của hai bên giao chiến với nhau bằng cung tên cho đến khi họ tiến vào đủ để chiến đấu tay đôi bằng giáo và các vũ khí cầm tay khác. Người Ethiopia tấn công vào đội hình trung tâm của quân thập tự chinh và đội quân tiên phong của Triều đình Fatimid đã có thể dùng mưu lừa quân viễn chinh và bao quanh hậu đội của họ cho đến khi Godfrey đến để giải cứu. Mặc dù có thế mạnh số đông, quân đội của al-Afdal lại dường như không thiện chiến và nguy hiểm bằng các đội quân Seljuk mà quân viễn chinh đã gặp phải trước đó. Cuộc chiến có vẻ như đã kết thúc trước kỵ binh hạng nặng Fatimid chuẩn bị để nhập cuộc. Al-Afdal và quân đội của ông ta quá hoảng sợ và bỏ chạy về phía thành phố vốn đã được tăng cường phòng ngự; Raymond đuổi theo và một số trong số họ chạy ra biển, những người khác leo lên cây và bị giết bằng cung tên, trong khi một số khác nữa lại bị dẫm đạp trong cuộc rút lui trở lại các cánh cổng của thành phố Ascalon. Al-Afdal bỏ lại doanh trại phía sau mình cùng với các đồ vật quý báu của ông ta, và cái trại này đã bị chiếm bởi Robert và Tancred. Không rõ Thập tự quân thiệt hại bao nhiêu người nhưng người Ai Cập mất khoảng 10-12,000 người.Hậu quảQuân viễn chinh nghỉ ngơi qua đêm ở trong chiếc trại bị bỏ lại và chuẩn bị cho một cuộc tấn công khác, nhưng vào buổi sáng họ đã thấy rằng quân Fatimid đã rút lui về Ai Cập, Al-Afdal bỏ chạy bằng tàu. Họ ( Thập tự quân) đã cướp phá nhiều như họ có thể mang, bao gồm cả các lều trại và các đồ dùng cá nhân của al-Afdal và đốt bỏ các phần còn lại. Họ trở về Jerusalem vào ngày 13 và sau nhiều lễ kỷ niệm chiến thắng cả Godfrey và Raymond đều tuyên bố sẽ chiếm Ascalon. Khi đơn vị đồn trú ( của Ai Cập) biết được sự tranh chấp giữa hai người, họ đã tuyên bố từ chối đầu hàng. Sau trận đánh, hầu như tất cả quân viễn chinh còn lại đều trở về nhà của họ ở châu Âu, ý nguyện hành hương của họ đã hoàn thành. Có lẽ chỉ còn vài trăm hiệp sĩ ở lại tại Jerusalem vào cuối năm đó, nhưng họ đã dần dần được củng cố bởi quân viễn chinh mới, lấy cảm hứng từ sự thành công của cuộc thập tự chinh ban đầu.Mặc dù trận chiến Ascalon là một chiến thắng của quân thập tự chinh, thành phố này vẫn nằm trong quyền kiểm soát của Triều đình Fatimid và cuối cùng nó lại được tăng cường các đơn vị đồn trú. Nó trở thành căn cứ hoạt động cho các cuộc xâm lược vào Vương quốc Jerusalem những năm sau đó và nhiều trận giao chiến lại xảy ra ở đó trong những năm tiếp theo, cho đến năm 1153 khi cuối cùng quân viễn chinh đã chiếm được nó trong Cuộc vây hãm Ascalon.Cuộc Thập tự chinh đầu tiên đã thành công trong việc thiết lập các “Thành bang thập tự chinh” như Edessa, Antioch, Jerusalem và Tripoli tại Palestine và Syria (cũng như các đồng minh dọc theo tuyến đường của cuộc Thập tự chinh, chẳng hạn như Vương quốc Cilicia của người Armenia-chẳng biết có phải vì người Armenia có truyền thống ủng hộ người Kitô giáo từ thời này mà trong Đại chiến I-khi người Thổ tuyên chiến với các nước phương Tây, họ đã thịt một lèo hơn một triệu người Armenia trong vùng kiểm soát của họ).Trở về nhà ở Tây Âu, những người sống sót từ Jerusalem được coi là những anh hùng. Robert của Flanders đã được mệnh danh là “Hierosolymitanus” để vinh danh những cống hiến của ông. Cuộc đời của Godfrey của Bouillon đã trở thành huyền thoại ngay chỉ sau khi ông chết một vài năm. Trong một số trường hợp, tình hình chính trị tại quê nhà đã bị bị ảnh hưởng rất nhiều bởi sự vắng mặt của những đại quý tộc khi họ phải tham gia thập tự chinh. Ví dụ trong khi Robert Curthose tham gia vào một cuộc thập tự chinh, ngai vàng của nước Anh đã được truyền cho người anh em của ông-Henry I của Anh quốc và kết quả tất yếu của cuộc xung đột giữa họ đã dẫn đến Trận Tinchebray trong năm 1106.Trong khi đó, việc thành lập các Thành bang thập tự chinh ở phía đông đã giúp giảm bớt áp lực của người Seljuk vào Đế quốc Byzantine, họ (người Byzantine) đã lấy lại được một số lãnh thổ của mình ở vùng Anatolia với sự giúp đỡ của quân thập tự chinh và họ đã có một khoảng thời gian tương đối hòa bình và thịnh vượng trong thế kỷ 12. Ảnh hưởng của các triều đại Hồi giáo ở phía đông là ngấm dần dần nhưng cực kỳ quan trọng. Sau cái chết của Malik Shah I trong năm 1092 các bất ổn chính trị và làm phân chia Đế quốc Đại Seljuk, ( chính Đế quốc này) đã gây sức ép bắt người Byzantine phải kêu gọi viện trợ từ Đức Giáo Hoàng, và họ ( người Hồi giáo ) cũng đã ngăn chặn được sự hung hăng và bành trướng của các tiểu quốc Latin (các Thành bang thập tự chinh ở phía đông). Sự hợp tác giữa họ ( người Hồi giáo ) là rất ít ỏi trong nhiều thập kỷ, nhưng từ khi từ Ai Cập cho đến Syria tới Baghdad đều đứng lên hưởng ứng lời kêu gọi trục xuất quân Thập tự chinh, đỉnh điểm là cuộc tái chiếm Jerusalem dưới sự chỉ huy của Saladin vào cuối thế kỷ 12 khi Vương triều Ayyubid đã thống nhất được các khu vực xung quanh Palestine.

Cuộc Thập tự chinh trong năm 1101 ( Hậu của cuộc thập tự chinh lần một)

Cuộc Thập tự chinh năm1101 là ba chiến dịch riêng biệt được tổ chức vào năm 1100 và 1101 do hậu quả từ thành công của cuộc Thập tự chinh đầu tiên. Nó cũng được gọi là Crusade của-Faint Hearted do số người tham gia tham gia cuộc thập tự chinh này phần lớn là những người đã quay trở lại từ cuộc Thập tự chinh đầu tiên. Cuộc Thập tự chinh năm 1101 xuất phát từ một phản ứng thành công của người Seljuk Turks vào cuộc Thập tự chinh đầu tiên, đó là việc người Thổ Nhĩ Kỳ đã đánh bại các đội quân thập tự chinh trong ba trận riêng biệt.

Cuộc Thập tự chinh đầu tiên thành công đã nhắc nhở một lời kêu gọi tiếp viện cho Vương quốc Jerusalem mới được thành lập, và Đức Giáo Hoàng Paschal II, người kế nhiệm Giáo hoàng Urban II ( ông này đã chết trước khi có được kết quả của cuộc thập tự chinh mà ông đã kêu gọi), đã kêu gọi cho một cuộc thám hiểm mới. Ông đặc biệt kêu gọi những người đã chấp nhận lời thề chiến đấu nhưng chưa bao giờ khởi hành, và những người đã quay trở lại sau khi hành hương ( có võ trang). Một số người đã đào ngũ về nhà và phải đối mặt với một áp lực rất lớn để trở về phía đông; Adela của Blois, vợ của Stephen, Bá tước của Blois-người đã bỏ chạy khỏi Cuộc bao vây Antioch trong năm 1098, đã cảm thấy rất xấu hổ vì chồng bà ta và rằng bà ta sẽ không cho phép ông ở nhà ( dễ chừng bà này có bồ nên chỉ muốn đuổi chồng mình đi he he). Cả người giàu có và người nghèo đều muốn làm theo cách riêng của họ đến đến được Đất Thánh, để giải phóng đất thánh khỏi bàn tay của người dị giáo nhân danh Chúa Giêsu, họ muốn có cuộc sống vĩnh cửu trên thiên đàng sau khi họ đã chiến đấu và hy sinh vì Chúa, họ đã được crucesignati. Một số thì lại không thể chịu nổi sự khinh miệt khi họ nhận được ở nhà ( bị phỉ nhổ vì hèn nhát) và như với tất cả các cuộc thập tự chinh khác, hầu hết mọi người muốn rời khỏi đói nghèo và áp bức để tìm kiếm một cuộc sống tốt hơn.

Người Lombard

Cũng như trong cuộc thập tự chinh đầu tiên, những chiến binh và người hành hương không kéo đi thành những đội quân lớn mà là trong một vài nhóm từ các miền khác nhau từ khắp Tây Âu. Trong tháng 9 năm 1100, một nhóm lớn người Lombard rời thành phố Milan. Đây là những nông dân chủ yếu chưa qua đào tạo quân sự, được dẫn đầu bởi Anselm IV, Tổng-giám-mục của Milan. Khi họ đến lãnh thổ của Đế quốc Byzantine, họ đã cướp bóc nó một cách thiếu thận trọng vàHoàng đế Byzantine Alexius I đã áp tải họ tới một doanh trại ở bên ngoài Constantinople. Điều này đã không đáp ứng được yêu cầu của họ và họ đã tràn vào trong thành phố, cướp phá cả cung điện Blachernae, thậm chí đã giết chết một con sư tử-con vật cưng của Alexius. Người Lombard đã được nhanh chóng được chở qua vịnh Bosporus và lập trại của họ tại Nicomedia để chờ quân tiếp viện.

Vào tháng 5 năm 1101 tại Nicomedia họ đã được gia nhập bởi một đội ngũ nhỏ hơn nhưng mạnh hơn từ Pháp, Burgundy và Đức … dưới sự chỉ huy của Stephen của Blois, Stephen I, Bá tước của Burgundy, Eudes I, Công tước của Burgundy và Conrad-Hộ quốc công của Henry IV- Hoàng đế La Mã Thần thánh. Gia nhập với họ ở Nicomedia còn có Raymond IV của Toulouse, một trong những nhà lãnh đạo của cuộc Thập tự chinh đầu tiên, người lúc đó cũng đang phục vụ cho Hoàng đế (La Mã Thần thánh ). Ông được bổ nhiệm làm thủ lĩnh chung và một lực lượng lính đánh thuê người Pecheneg của Byzantine đã được gửi đi cùng với họ dưới sự chỉ huy của tướng Tzitas. Nhóm người này bắt đầu hành quân ra vào cuối tháng để đến Dorylaeum, sau khi tuyến đường được dọn sạch bởi Raymond và Stephen trong năm 1097 trong cuộc Thập tự chinh đầu tiên. Họ đã lên kế hoạch tiếp tục hướng tới Konya, nhưng người Lombard, những người luôn tỏ ra vô kỷ luật hơn tất cả các đội ngũ khác, đã xác định đi xuống phía bắc để đến Niksar nơi Bohemond I của Antioch đang bị bắt giữ bởi người Danishmend. Sau khi chiếm được Ancyra vào ngày 23 tháng 6 năm 1101 và trả nó trở về với Alexius-Byzantine, quân viễn chinh lại tiến về phía bắc. Họ nhanh bao vây thành phố Gangra-nơi có rất nhiều quân đồn trú, và sau đó tiếp tục tiến về phía bắc để cố gắng chiếm Kastamonu -thành phố do người Thổ Nhĩ Kỳ kiểm soát. Tuy nhiên, họ đã bị tấn công từ người Seljuk Turk-những người đã quấy rối họ trong nhiều tuần và một toán đi tìm kiếm lương thực đã bị tiêu diệt vào tháng Bảy.

Tại thời điểm này, trước sức ép của người Lombard, toàn bộ đội quân đã từ bỏ nơi trú chân an toàn có thể có ở bờ Biển Đen và một lần nữa di chuyển về phía đông, về phía lãnh thổ của người Danishmend và cố gắng cứu Bohemond. Tuy nhiên, người Seljuks dưới sự chỉ huy của Kilij Arslan I, ông này đã nhận ra rằng mất đoàn kết là nguyên nhân của sự thất bại của mình trong việc ngăn chặn cuộc Thập tự chinh đầu tiên, giờ đây đã liên minh với cả Danishmends và Ridwan của Aleppo. Trong đầu tháng 8 quân viễn chinh đã gặp một đội liên quân Hồi giáo tại Mersivan.

Trận Mersivan

Quân viễn chinh được tổ chức thành năm lộ binh: người Burgundy, Raymond và Byzantine, người Đức, người Pháp và người Lombard. Người Thổ Nhĩ Kỳ đã gần như tiêu diệt toàn bộ quân đội của quân viễn chinh ở gần vùng núi Paphlagonia tại Mersivan. Vùng đất rất phù hợp với người Thổ Nhĩ Kỳ-nó khô và khắc nghiệt đối với kẻ thù của họ, và nó được mở ra với nhiều không gian cho các đơn vị kỵ binh của họ. Người Thổ Nhĩ Kỳ đã quấy nhiễu những người Latinh trong một số ngày, cuối cùng sau khi chắc chắn rằng họ đã tiến vào nơi mà Kilij Arslan muốn họ chui đầu vào và đảm bảo rằng họ chỉ tìm thấy một lượng rất nhỏ lương thực và quân nhu.

Trận chiến diễn ra trong vòng vài ngày. Vào ngày đầu tiên, người Thổ Nhĩ Kỳ chặn đứng những bước tiến của quân thập tự chinh và bao quanh chúng. Ngày hôm sau, Công tước Conrad dẫn đầu đội quân người Đức của mình trong một cuộc tấn công nhưng thất bại thảm hại. Không những họ không phá được thế trận của người Thổ Nhĩ Kỳ mà họ còn không thể quay trở lại đội hình chính của quân đội thập tự chinh và đã phải trú ẩn trong một tòa thành ở gần đó. Sự kiện này có nghĩa rằng họ đã bị cắt khỏi các nguồn quân lương, tiếp viện và thôngg tin liên lạc cho một cuộc tấn công có thể đã xảy ra, dịp mà người Đức đã có thể phô trương sức mạnh quân sự của họ.


Các cung thủ Thổ nhĩ kỳ, sau những trận thua liểng xiểng người Hồi giáo bắt đầu biết được điểm yếu của Thập tự quân


Kể từ khi người Thổ nắm được điểm yếu của Thập tự chinh thì không bao giờ họ còn có thể vượt qua vùng Anatolia mà không bị thiệt hại nặng nề, thậm chí là còn bị tiêu diệt hoàn toàn.

Ngày thứ ba có phần nào yên tĩnh, với ít các cuộc giao tranh xảy ra hoặc không nghiêm trọng, nhưng vào ngày thứ tư quân viễn chinh đã nỗ lực phá vây để tự thoát khỏi cái bẫy mà họ đã chui vào. Quân viễn chinh đã gây ra tổn thất nặng nề cho người Thổ Nhĩ Kỳ, nhưng cuộc tấn công đã thất bại vào cuối ngày. Kilij Arslan đã được tăng viện bởi Ridwan hùng mạnh của xứ Aleppo và vương công Danishmend khác.

Người Lombard ở đội tiên phong bị đánh bại, người Pechenegs đào ngũ và người Pháp và Đức cũng bị buộc phải quay trở lại. Raymond đã bị mắc kẹt trên một tảng đá và được cứu bởi Stephen và Conrad. Trận chiến vẫn tiếp tục vào ngày hôm sau, khi doanh trại của quân thập tự chinh bị tấn công và thất thủ và các hiệp sĩ phải bỏ chạy, để lại phụ nữ, trẻ em các linh mục bị giết hoặc bị bắt làm nô lệ. Hầu hết người Lombard-những người không có ngựa, đã sớm bị đánh bại và bị giết chết hoặc bị bắt làm nô lệ cho người Thổ Nhĩ Kỳ. Raymond, Stephen của Blois, và Stephen của Burgundy bỏ chạy về phía bắc đến Sinope và trở về Constantinople bằng tàu thủy.

Người Nivernois

Ngay sau khi đội ngũ người Lombard rời khỏi Nicomedia, một lực lượng độc lập dưới sự chỉ huy của William II-Bá tước của Nevers đến được Constantinople. Ông đã vượt qua tiến vào lãnh thổ của Byzantine trên Biển Adriatic từ thành phố Bari, và hành quân đến Constantinople mà không gặp sự cố gì, một điều bất thường đối với một đội quân Thánh chiến. Ông nhanh chóng hành quân để cứu viện cho những người khác, nhưng trên thực tế ông không bao giờ đuổi kịp với họ, mặc dù hai đội quân đã có nhiều lần suýt bắt kịp nhau. William đã có một thời gian ngắn bao vây thành phố Iconium (nay là Konya) Nhưng không thể chiếm được thành phố và ông đã ngay lập tức bị phục kích tại Heraclea Cybistra bởi Kilij Arslan, người vừa mới chỉ đánh bại người Lombard tại Mersivan và đã sẵn sàng để tiêu diệt những đội quân mới càng sớm càng tốt. Tại Heraclea gần như toàn bộ đội quân đến từ Nevers đã bị xóa sổ, ngoại trừ vị Bá tước và một vài người trong số tùy tùng của mình.

Người Pháp và Bavaria

Ngay sau khi William II rời Constantinople, một đội quân thứ ba đã kéo đến, dẫn đầu bởi William IX Bá tước của xứ Aquitaine, Hugh của xứ Vermandois (Một trong những người đã không hoàn tất lời thề của mình về cuộc Thập tự chinh đầu tiên) và Welf I, Công tước xứ Bavaria, cùng với Ida của nước Áo-mẫu thân của Leopold III của nước Áo. Họ đã cướp phá lãnh thổ Byzantine trên đường đến Constantinople và gần như đã nổ ra một cuộc xung đột với lính đánh thuê người Pecheneg ( của Byzantine ) được gửi đến để ngăn chặn họ cho đến khi William và Welf kịp can thiệp.

Từ Constantinople, quân đội này chia đôi, một nửa đi trực tiếp đến Palestine bằng tàu thủy, trong số đó có sử gia Ekkehard của xứ Aura. Phần còn lại, đi du lịch bằng đường bộ và đến được Heraclea trong tháng 9 và cũng giống như đội quân trước, họ đã bị phục kích và tàn sát bởi Kilij Arslan. William và Welf trốn thoát, nhưng Hugh lại nằm trong số những người bị thương; số người sống sót cuối cùng đã đến được Tarsus, nơi mà Hugh đã chết ở đó vào ngày 18 tháng 10 ( biết thế thì cứ ở nhà mà mang tiếng xấu còn hơn he he ). Ida bị mất tích trong cuộc phục kích này và đã được cho là đã bị giết chết, nhưng theo truyền thuyết thì sau đó bà bị giam cầm và trở thành mẹ của Zengi-một kẻ thù lớn của quân viễn chinh trong những năm 1140, tuy nhiên điều này là không logic vì yếu tố thời gian ( bà ta quá già?).

Hậu quả của cuộc Thập tự chinh năm 1101

William Bá tước của Nevers cũng trốn thoát đến Tarsus và gia nhập vào phần còn lại của những người sống sót có cũng như Raymond của Toulouse. Dưới sự chỉ huy của Raymond họ đã chiếm được Tortosa (Tartous), với sự giúp đỡ từ một hạm đội Genova. Vào lúc này thì quân Thập tự chinh đã trở nên một giống như một đoàn hành hương nhiều hơn là chiến binh ( Họ đã kiệt quệ). Một số người sống sót đến được Antioch vào cuối năm 1101 và tại Lễ Phục Sinh của năm 1102 họ đến được Jerusalem. Sau đó nhiều người trong số họ chỉ đơn giản là quay về nhà, ý nguyện của họ đã được hoàn thành mặc dù một số khác vẫn còn ở lại để giúp vua Baldwin I phòng thủ chống lại một cuộc tấn công của Ai Cập ở Ramla. Stephen của Blois đã bị giết chết trong trận đánh này ( bít thí bác này cứ ở nhà nghe vợ nó tửi sướng hơn ), Hugh VI của Lusignan-Tổ phụ của triều đại Lusignan tương lai của Jerusalem và Cyprus cũng vậy. Joscelin của Courtenay cũng ở lại phía sau và sống sót để trở thành Bá tước của Edessa trong năm 1118.

Thất bại của quân viễn chinh cho phép Kilij Arslan thành lập thủ đô tại Konya ( thủ đô cũ là thành phố Nicaea đã bị quân Thập tự chinh chiếm và giao cho người Byzantine), và cũng chứng tỏ với thế giới Hồi giáo rằng quân viễn chinh không phải là bất khả chiến bại như họ đã tỏ ra trong cuộc Thập tự chinh đầu tiên. Quân Thập tự chinh và người Byzantine đổ lỗi cho nhau vì những thất bại này và lúc này không ai trong số họ có thể đảm bảo được một lộ trình an toàn đi xuyên qua vùng Anatolia khi mà Kilij Arslan đã củng cố được vị thế của mình. Lúc này con đường duy nhất đến vùng Đất Thánh là tuyến đường biển và điều này sẽ làm lợi cho các thành phố của Ý. Việc thiếu một con đường an toàn trên bộ từ Constantinople cũng làm lợi cho Công quốc Antioch, nơi mà Tancred đang nắm quyền thay cho Bohemond chú của ông, người cũng đã có thể củng cố quyền lực của mình mà không cần can thiệp của Đế quốc Byzantine. Các cuộc Thập tự chinh thứ hai và thứ ba đều gặp những khó khăn tương tự khi Thập tự quân cố gắng để vượt qua vùng Anatolia.

Cuộc Thập tự chinh lần thứ hai

Tóm lược tình hình vùng Đất Thánh sau cuộc Thập tự chinh lần một

Năm 1119. Quân đội của các thành bang thập tự chinh bị đánh bại tại trận Cánh đồng Đẫm máu

Năm 1121. Al-afdal-tể tướng của Vương triều Fatimid Aicập bị ám sát
Năm 1122. Công tước Roceline của Edessa bị bắt bởi người Thổ nhĩ kỳ, cái chết của nhà cai trị người Hồi giáo Thổ nhĩ kỳ Ghazi Ibn Artuq II, thừa kế bởi Temur Tash Husam al-Din như là người cai trị Artuqi
Năm 1123 Vua Baldwin II của Jerúalem bị bắt và giam giữ tại Harput ở miền Đông Anatolia, cái chết của Sultan Shah Ibn Ridwan-nhà cai trị người Saljuq ở Syria: atabeg Tughtakin trở thành nhà cai trị cuả Damacus.

Năm 1124. Vua Baldwin II của Jerusalem được thả khỏi Harput ( trong tháng 6), bến cảng của thành phố Tyre thuộc Triều Fatimid thất thủ về tay Thập tự quân của Vương quốc Jerusalem ( tháng 7).

Năm 1125. Quân đội Thổ nhĩ kỳ dưới sự chỉ huy của Aqsunqur al-Bursiqui bị đánh bại bởi vua Baldwin II của Gerusalem tại trận Azaz, Aqsunqur al-Bursiqui bị ám sát.

Năm 1126. Bohemond II trở thành người cai trị của Công quốc Antioch.

Năm 1127. Imad al-Din Zangi được chọn làm Thống đốc Mosul, ông ta đã chiếm được Nisibin, Sinjar và Harran tại vùng Jazira phía Bắc Mesopotamia.

Năm 1128. Sự xuất phát của hàng loạt cuộc Thập tựchinh, Tughtigin của Damacus chết và được thừa kế bởi Buri Ibn Tughtigin. Imad al-Din Zangi chiếm Allepo.
Năm 1129. Bá tước Fulk của Ạnjoụ cưới Melisande và được của hồi môn là thừa kế Jerusalem, quân Thập tự chinh tấn công Damacus không thành công.

Năm 1130. Bohemond chết khi chiếm đấu với người Danismandid Turk, Alice-bà vợ góa của ông ta từ chối quy thuận bố đẻ của mình-Baldwin II vua của Jerusalem và kêu gọi Imad al-Din Zangi trợ giúp, Imad al-Din Zangi đánh bại liên quân thành bang Thập tự chinh và người Artuqid Turk chiếm Mardin phía đông nam Anatolia và Artharib phía bắc Syria.

Năm 1131. Vua Baldwin II của Jerusalem, Fulk của Anjou trở thành vua cùng với Melisende là nữ Hoàng của ông ta, Bá tước Jocelin ( xứ Courtenay) của Edessa chết, Sultan Mahmud II chết, kết quả là nổ ra nội chiến trong Đế quốc Đại Saljuq ( Iraq và phía tây Iran ngày nay).

Năm 1132. Isma’il Buri trở thành Burid nhà cai trị của xứ Damacus, quốc vương Abbasid al-Mustarshid đánh bại Imad al-Din Zangi ở gần Samara.

Năm 1134. Konya trở thành thủ đô của Vương quốc Rum của người Saljuq Turk ( ở vùng Anatolia), Amir Ghazi-nhà cai trị của Danishmanđi ( vùng phía bắc Anatolia) chết, ông ta được thừa kế bởi Muhamad Ibn Amir Ghazi.

Năm 1135. Mahmud Buri trở thành nhà cai trị Burid của Da macus, Imad al-Din Zangi của Mosul chiếm Kafr Tab, Ma’arat al Nu’man và Atharib ở Syria nhưng thất bại trong việc chiếm Damacus, tranh cãi về quyền thừa kế và nội chiến nổ ra giữa Stephen và Matilda ở Anh Quốc..

Năm 1136. Raymond của Poitiers cưới Constance và trở thành nhà cai trị Antioch.

Năm 1137. Hoàng đế Byzantine John Comnenus đánh bại vua Leo Roupenian người Armenian tại Cilicia, và tiến, Imad al-Din Zangi chiếm Montferrand từ tay quân Thập tự chinh, Bá tước Pons chết-Raymond II trở thành Bá tước của thành bang Tripoli.

Năm 1138. Chiến dịch của Hoàng đế Byzantine John Comnenus để chống lại sự cai trị của người Hồi giáo ở Syria, Imad al-Din Zangi tránh đánh trận với quân đội Byzantine nhưng chiếm được quyền kiểm soát Him bằng hôn nhân.

Năm 1139. Mahmud Ibn Buri trở thành nhà cai trị Burid của Damacus, Hoàng đế John phát động chiến dịch chống lại người Danismandid Turk ở phía Đông Anatolia Imad al-Din Zangi chiếm vùng Ba’alka ở Lebannon nhưng đã thất bại trong việc chiếm Damacus.

Năm 1140.Vua Fulk đối trận với Imad al-Din Zangi ở gần Dara’a ở phía nam Syria, Abaq Ibn Muhamad trở thành Buri, nhà cai trị Damacus, vào thánh Sau một trận động đất nổ ra ở Damacus tạo ra những phá hủy nghiêm trọng.

Năm 1142. Imad al-Din Zangi tiếp tục chiến dịch chống lại người Kurd ở phía Tây nam Anatolia ( kể từ năm 1141), sự tan ra của vương quốc Danishmandid ở phía Đông của A natolia, sự tan rã của vương quốc Menguiekid Turk ở phía Bắc Anatolia, Hoàng đế Byzantine John Comnenus thất bại trong việc chiếm Antioch.

Năm 1143. Hoàng đế Byzantine John Comnenus chết khi đang tiến hành chiến dịch Cilicia, ông được thừa kế bởi Manuel-con trai mình , vua Fulk của Jerusalem bị giết tại Acre, được thừa kế bởi con trai ông ta-Baldwin III

Năm 1144. Imad al-Din Zangi chiếm thành phố Edessa ( Urfa) và một nửa phía tây của Công quốc Edessa, Qara Arslan Fakhr al-Din trở thành vua của triều Artuqid của vùng Hisn Kayfa phía Đông nam Anatolia.

Năm 1145. Quân nổi loạn người Armenia ở Cilicia bị đánh bại bởi người Byzantine, Bá tước Raymond của Antioch chấp nhận quyền bá chủ của Đế quốc Byzantine, Eugenius II trở thành Giáo hoàng La Mã và kêu gọi cho cuộc thập tự chinh thứ hai.

Năm 1146. St Bernard của Clairvaux cầu nguyện cho quân thập tự chinh, tàn sát dân Do thái ở Rhineland, Imad al-Din Zangi bị ám sát, ông này được thừa kế bởi Sayf-Din Zangi I Ibn Zanghi tại Mosul, Atabar của Damacus chiếm quyền kiểm soát Ba’albak và ký hiệp ước liên minh với Hím và Hama. Vua Kondrad III của Đức quốc đồng ý tham dự cuộc thập tự chinh lần thứ hai, cuộc xâm lược của Manuel-Hoàng Đế Byzantine vào vương quốc Rum của người Turk Saljuq đã thất bại.Nur al-Din Mahmud Ibn Zangi trở thành người cai trị của Alepo, ataberg Anur của Damacus và Nur al-Din của Alepo đã nhất trí để ký một hiệp ước liên minh, và Nur al-Din cưới con gái của Anur, Thống đốc của vùng Hawran đưa ra đề nghị chuyển giao vùng Busra và Salkhad cho Vương quốc Jerusalem ( vào khoảng tháng 5 và tháng 6) Vua Baldwin III xâm lược vùng lãnh thổ của Damacus, Anur yêu cầu Nur al-Din giúp đỡ, họ cùng nhau chiếm lại vùng Busra và Salkhad khi mà quân đội của quân thập tự chinh rút lui, Giáo hoàng mở rộng Cuộc thập tự chinh lần thứ 2 sang vùng vịnh Iberia ( Tây ban nha và Bồ đào nha), người Bồ đào nha chiếm được Santarem ( vùng đệm- March), Giáo hoàng ủy thác cho một cuộc thập tự chinh của người Đức để chống lại người Wend dị giáo ( người Slav ở phía Tây) vào ngày 13 tháng 4, một đạo thủy quân của quân thập tự chinh lần 2 xuất phát từ Dartmounth ( cuối tháng 5), đạo bộ quân đầu tiên của quân thập tự chinh lần 2 bắt đầu Hành quân về phía Trung Đông ( khoảng tháng 5 và tháng 6), Giáo Hoàng Eugenius và Bernard của Clairvaux tổ chức một buổi lễ hào nhoáng ở Abbey of Saint-Denis để kỷ niệm ngày xuất phát của Vua Louis Vii, các chiến dịch của người German và Scandinavia để triệt phá người Wend ( tháng 7 -> 9), Thập tự quân người Đức dưới sự chỉ huy của Konrad III tới Constantinople ( vào ngày 10 tháng 9), Thập tự quân người Pháp dưới sự chỉ huy của Louis VII tới Constantinople ( vào ngày 4-5 tháng 10), quân Đức được chia thành nhiều đạo binh, Konrad III thống lĩnh lực lượng trung quân tiến về phía lãnh thổ của người Saljuq ( giữa tháng 10 ), thập tự quân chiếm thành phố cảng Almeria ở Bán đảo Iberia ( ngày 17 tháng 10), người Bồ đào nha và Hạm đội thập tự chinh của các quốc gia Bắc Âu công chiếm được Lisbon ( vào ngày tháng 10), thập tự quân người Đức dưới sự thống lĩnh của Konrad III bị đánh bại bởi người Saljuq Turk ở phía nam của Dorylaeum ( ngày 25 tháng 10), Konrad và thập tự quân người Đức hội binh với quân đội của Vua Louis, quân thập tự chinh người Đức và Pháp hành quân dọc theo bờ biển và đón mừng lễ Noel ở Ephesus, người Norman ở phía nam Ytalia tấn công vào lãnh thổ của Đế quốc Byzantine ở Hylạp.

Năm 1148. Quân thập tự chinh người Pháp dưới sự chỉ huy của Louis VII đánh bại một cuộc phục kích của người Thổ ở gần con sông Meander ( ngày 1 tháng 1) nhưng đã bị thiệt hại nặng nề khi họ vượt qua các ngọn núi ở vùng Honaz Dagi

( vào khoảng ngày 8 tháng 1) trước khi đến được vùng Antalya ( ngày 20 tháng 1), hạm đội của quân Thập tự chinh căng buồm từ Lisbon đến Trung Đông ( ngày 1 tháng 2), Konrad III và quân thập tự chinh căng buồm từ Constantinople tới Acre ( đến nơi vào tháng 4), Louis và quân thập tự chinh người Pháp đi thuyền từ Antalya tới Antioch ( đến vào 19 tháng 3), hạm đội của miền Nam nước Pháp dưới sự chỉ huy của Bá tước Alphonse-Jordan của Toulouse đến được Arc ( vào mùa xuân). Alphonse-Jordan chết tại Caesarea, Vua Alphonso của xứ Leon và Castile thất bại khi tấn công Jaen ( vào tháng 4), ataberg Anur củaDa macus lại cầu xin Sayf al-Din của Mosul-người đã mang quân đội của mình để hội binh với quân của Nur al-Din tại Hims, quân thập tự chinh họp bàn ở Palmarea và quyết định tấn Damacus ( trong tháng 6), quân thập tự chinh đến được ngoại ô Damacus ( vào ngày 24 tháng 7), quân đội của Damacus đã cố gắng chặn không cho quân thập tự chinh vượt sông Barada nhưng họ đã bị đẩy lui, cuộc bao vây Damacus của quân thập tự chinh lần thứ 2 được bắt đầu vào ngày ( 24-> 28 tháng 7), thập tự quân từ bỏ cuộc bao vây Damacus và trở lại Vương quốc Jerusalem ( ngày 29 tháng 7), Vua Konrad III đi thuyền từ Acre ( 8 tháng 8) tới Thessalonika và lập một liên minh với Hoàng Đế Byzantine Manuel đển chống lại vua Roger của Sicily, người đã xâm lược lãnh thổ của Đế quốc Byzantine, phần lớn quân thập tự chinh người Pháp và Eleanor còn ở lại, người Genoese và Bá tước của Barcelona chiếm Tortosa ( 30 tháng 12), Vương quốc Aragon ( của người Kitô giáo) chiếm được vùng đồng bằng hạ Ebro ( 1149).

Năm 1149. Konrad trở về Đức ( vào mùa thu ) bằng thuyền, Hoàng tử Raymond của xứ Antioch bị giết trong trận chiến tại Ain Murad ( 29 tháng 6), Louis và Eleanor đến được Sicily ( vào cuối tháng 7), Mu’in al-Din Anur, atabeg của Damacus chết ( 28 tháng 8), Sayf al-Din của Mosul chết và ông được thừa kế bởi Mawdud Qutb al-Din Ibn Zangi, Louis và Eleanor quay trở lại Pháp ( tháng 11).

Năm 1151. Nur al-Din của Alepo công chiếm pháo đài cuối cùng của Quận quốc Edessa vốn lúc này đã không còn tồn tại.

Năm 1153. Quân thập tự chinh của Vương quốc Jerusalem công chiếm thành công Ascalon, cứ điểm cuối cùng của Triều đình Fatimid ở Palestine.

Năm 1154. Nur al-Din nắm quyền kiểm soát Damacus.Cuộc Thập tự chinh lần thứ hai (1145-1149) là cuộc thập tự chinh được bắt đầu từ châu Âu. Nó được bắt đầu trong năm 1145, để trả lời sự sụp đổ của Quận quốc Edessa vào tay lực lượng của Zengi trong năm trước. Quận quốc này được thành lập trong cuộc Thập tự chinh lần thứ nhất (1095-1099) bởi Baldwin của Boulogne trong năm 1098. Nó là thành bang đầu tiên của quân Thập tự chinh được thành lập được thành lập và cũng là thành bang đầu tiên bị thất thủ.

Cuộc Thập tự chinh thứ hai

được tuyên bố bởi Đức Giáo Hoàng Eugene III và nó cũng là cuộc thánh chiến đầu tiên được dẫn dắt bởi các vị vua của châu Âu, cụ thể là Louis VII của Pháp và Conrad III của Đức, với sự giúp đỡ từ một số quý tộc quan trọng khác của châu Âu. Quân đội của hai vị vua đã hành quân một cách riêng rẽ trên khắp châu Âu. Sau khi vượt qua lãnh thổ của Đế quốc Byzantine để tiến vào vùng Anatolia, quân đội của cả hai nhà vua đã bị đánh bại một cách riêng rẽ bởi người Turk Seljuk. Theo nguồn tin chính của Thiên chúa giáo phương Tây-Odo của Deuil và Syriac Christian cho rằng Hoàng đế Byzantine Manuel I Comnenus bí mật cản trở sự tiến quân của quân viễn chinh, đặc biệt là ở Tiểu Á, nơi ông đã bị cáo buộc là đã cố ý cảnh báo cho người Thổ Nhĩ Kỳ để tấn công họ-quân Thập tự chinh ( đương nhiên đây là những lời chữa ngượng vì đến đợt thập tự chinh thứ 3 có cả ba vị vua lớn nhất của châu Âu: Vua Anh-Pháp-Đức thì quân thập tự chinh vẫn thua như thường). Louis và Conrad và tàn quân của họ đến được Jerusalem, và trong năm 1148, tham gia vào một cuộc tấn công theo một lời khuyên sai lầm vào Damascus. Cuộc thập tự chinh ở phía đông là một thất bại thảm hại cho quân viễn chinh và là một chiến thắng tuyệt vời đối với thế giới Hồi giáo. Cuối cùng nó có ảnh hưởng quan trọng đến sự sụp đổ của vương quốc Jerusalem và cuộc Thập tự chinh lần thứ ba vào cuối thế kỷ 12.

Sự thành công duy nhất của cuộc Thập tự chinh lần thứ hai đến từ một lực lượng liên quân gồm 13.000 người Flemish, Frisian, Norman, Anh, Scotland và quân viễn chinh Đức trong năm 1147. Xuất phát bằng đường thủy từ Anh đến Đất Thánh, đội quân này đã dừng lại và giúp đội quân nhỏ bé hơn 7000 người của Bồ Đào Nha chiếm Lisbon và trục xuất người Moor ra khỏi đó.

Cuộc vây hãm Edessa

Cuộc vây hãm Edessa đã diễn ra từ ngày 28 -> 24 tháng 12 năm 1144, kết quả là sự sụp đổ của quận quốc của Quận quốc Edessa của thập tự chinh để Zengi, atabeg của Mosul và Aleppo.

Bối cảnh

Quận quốc Edessa là thành bang đầu tiên của quân thập tự chinh được thành lập trong khi diễn ra cuộc Thập tự chinh đầu tiên. Nó ở xa nhất về phía bắc và là thành bang yếu nhất với ít dân cư nhất; nhưng nó luôn phải chịu các cuộc tấn công thường xuyên từ các quốc gia Hồi giáo xung quanh được cai trị bởi các Triều đại Ortoqid, Danishmend và Seljuk Turk. Bá tước Baldwin II và Bá tước tương lai Joscelin của Courtenay đã bị kẻ thù bắt tù binh sau những thất bại của họ ở trận Harran năm 1104. Cả Baldwin và Joscelin đã bị bắt lại lần thứ hai trong năm 1122 và mặc dù Edessa đã hồi phục phần nào sau trận Azaz năm 1125, Joscelin đã bị giết chết trong trận chiến của năm 1131. Người kế nhiệm ông Joscelin II đã buộc phải tham gia một liên minh với Đế quốc Byzantine, nhưng trong năm 1143 cả hai vị hoàng đế Byzantine John II Comnenus và Fulk xứ Anjou-vua của Jerusale đều qua đời. John II được kế vị bởi con trai ông Manuel I Comnenus, người phải đối phó và củng cố quyền lực tại quê nhà để chống lại người anh lớn tuổi của mình, trong khi Fulk được kế tục bởi vợ ông-Melisende và con trai của ông-Baldwin III. Joscelin cũng đã có những tranh cãi với Raymond II xứ Tripoli và Raymond xứ Antioch làm cho Edessa không còn có một đồng minh mạnh mẽ nào cả.

Cuộc bao vây và tàn sát

Năm 1144, Joscelin đã liên minh với Kara Aslan, người cai trị Vương quốc Diyarbakır Triều Ortoqid để chống lại sức ép và ảnh hưởng ngày càng tăng của Zengi. Joscelin hành quân từ Edessa với gần như toàn bộ quân đội của mình để hỗ trợ Kara Aslan tấn công Aleppo. Zengi đã lợi dụng cái chết của Fulk trong năm 1143 và vội vã tiến về phía bắc đến bao vây Edessa và đến nơi vào ngày 28. Thành phố này đã được cảnh báo về việc ông ta kéo quân đến và đã được chuẩn bị cho cuộc bao vây, nhưng họ có quá ít quân để có thể phòng thủ trong khi Joscelin và quân đội chính của Quận quốc lại ở nơi khác.

Việc tổ chức phòng thủ thành phố được chỉ đạo bởi Hugh II-Đức Tổng-Giám-mục Latin, Giám-mục John người Armenia và Đức-Giám-mục Jacobite Basil. John và Basil đảm bảo rằng sẽ không có Kitô hữu bản địa nào đào ngũ sang phía Zengi. Khi Joscelin biết về cuộc bao vây, ông đã cho quân đội của mình dừng lại ở Turbessel, vì biết rằng ông không bao giờ có thể đánh bật được Zengi đi mà không có sự giúp đỡ từ các thành bang thập tự chinh khác. Tại Jerusalem Melisende đáp trả yêu cầu của Joscelin bằng cách gửi một đội quân được dẫn đầu bởi Manasses của Hierges, Philip của Milly và Elinand của Bures. Raymond của Antioch bỏ qua lời kêu gọi giúp đỡ, vì quân đội của ông này đang bận để chống lại đế quốc Byzantine ở Cilicia.

Zengi cho bao vây toàn bộ thành phố, và nhận thấy rằng không có quân đội bảo vệ nó. Ông cho chế tạo tháp công thành và bắt đầu phá hủy các bức tường thành ( bằng cách đào hầm ngầm để làm sập tường thành ), trong lúc lực lượng của ông ta được người Kurd và Turcoman tiếp viện. Cư dân của Edessa chống cự ở mức họ có thể, nhưng họ không có kinh nghiệm trong việc chiến đấu giữ thành, các tòa tháp của thành phố không được bố trí phòng thủ đủ mạnh. Họ cũng không có kinh nghiệm về cách chống lại chiến thuật đào hầm ngầm và một phần của bức tường ở gần chiếc cổng Giờ (the Gate of the Hours ) đã sụp đổ vào ngày 24. Quân của Zengi đã xông vào thành phố và giết chết tất cả những người không thể chạy trốn vào Thành lũy Maniaces. Hàng ngàn người khác bị chết ngạt hoặc giẫm đạp đến chết vì hoảng sợ, kể cả Đức-Tổng-Giám mục Hugh. Zengi đã ra lệnh ngừng các vụ thảm sát, mặc dù ông đã cho hành quyết tất cả các tù nhân người Latin; các Kitô hữu bản địa được tha chết và được phóng thích. Thành lũy được bàn giao vào ngày 26. Một trong những chỉ huy của Zengi, Zayn ad-Din Ali Kutchuk, được bổ nhiệm làm thống đốc, trong khi Đức-Giám-mục Basil, dường như sẵn sàng dâng sự trung thành của mình cho bất cứ ai cai quản thành phố và ông được công nhận là lãnh đạo tinh thần của dân Kitô giáo tại Edessa.

Hậu quả

Trong tháng giêng năm 1145 Zengi chiếm giữ Saruj và bao vây Birejik, nhưng quân đội của Vương quốc Jerusalem cuối cùng đã đến và hội binh với Joscelin. Zengi nghe nói về có biến xảy ra tại Mosul ( vương quốc của ông ta ) và vội vã trở lại để kiểm soát nó. Ở đó ông ta được ca ngợi bởi tất cả người Hồi giáo như là “người bảo vệ của đức tin” và nhận danh hiệu al-Malik al-Mansur- vị vua chiến thắng. Ông không tiếp tục tiến hành một cuộc tấn công nào nữa trên lãnh thổ còn lại của Edessa, hoặc vào Công quốc Antioch, như người ta lo sợ. Joscelin II tiếp tục trị vì phần còn lại ở phía tây của Công quốc ở bên kia sông Euphrates từ Turbessel, nhưng dần dần phần lãnh thổ nhỏ bé còn lại của ông tiếp tục bị chiếm bởi người Hồi giáo hoặc bị bán cho người Byzantine.

Zengi đã bị ám sát bởi một người nô lệ trong năm 1146, trong khi bao vây Qalat Jabar và Nur al-Din con trai ông trở thành quốc vương của Aleppo. Joscelin đã cố gắng để chiếm lại Edessa sau khi Zengi bị giết và ông đã lên kế hoạch để chiếm lại tất cả vào tháng 10 năm 1146. Tuy nhiên, ông không có được sự trợ giúp từ các thành bang thập tự chinh khác, và đoàn quân chinh phạt ít ỏi của ông bị đẩy ra khỏi Edessa bởi al Nur-Din trong tháng 11. Joscelin, lo sợ cho sự an toàn của Kitô giáo Armenia của thành phố và đã cố gắng đột phá, tạo một lỗ hổng trong vòng vây của Nur al-Din để người dân địa phương có thể chạy trốn đến an toàn. Tuy nhiên, nỗ lực của Joscelin đã thất bại và những nỗi lo sợ của ông đã thành sự thật khi quân của Nur al-Din đã tàn sát những người Armenia chạy trốn và bắt những người còn sống sót làm nô lệ.
Đến thời điểm này, tin tức về sự sụp đổ của Edessa đã vang đến châu Âu và Raymond của Antioch đã gửi một phái đoàn bao gồm Hugh-Giám mục của Jabala, để tìm kiếm viện trợ từ Đức Giáo Hoàng Eugene III. Ngày 1 tháng 12 năm 1145 Eugene đã ban hành Sắc lệnh Quantum praedecessores kêu gọi cho cuộc Thập tự chinh thứ hai. Cuộc thập tự chinh này đã được chỉ huy bởi Louis VII của Pháp và Conrad III của Đức, nhưng nó đã kết thúc trong thảm họa trong năm 1148 và Edessa đã không bao giờ được khôi phục.

Cuộc Thập tự chinh lần thứ 2 ở phương Đông

(Cuộc thập tự chinh lần thứ 2 thực chất bao gồm ba cuộc Thập tự chinh riêng biệt, cuộc thập tự chinh ở phương Đông do vua Pháp và vua Đức tiến hành, cuộc thập tự chinh vào người Weds-Tây Slav ở trung Âu và cuộc Thập tự chinh ở Bồ đào nha-công chiếm Thành phố Lisbon. Người sưu tầm xin ưu tiên nói đến các cuộc Thập tự chinh ở phương Đông còn ở nơi khác xin bổ sung sau)

Joscelin đã cố gắng để chiếm lại Edessa sau cái chết của Zengi, nhưng Nur ad-Din đã đánh bại ông ta trong tháng 11 năm 1146. Ngày 16 tháng 2 năm 1147 các thủ lĩnh của quân viễn chinh Pháp và Đức đã gặp nhau ở Étampes để thảo luận về lộ trình của họ. Người Đức đã quyết định đi đường bộ qua Hungary, vì tuyến đường biển là không thực tế bởi vì Roger II-vua của Sicily là một kẻ thù của Conrad. Nhiều người trong số các quý tộc Pháp không tin tưởng về con đường trên bộ, con đường sẽ đưa họ qua lãnh thổ của đế quốc Byzantine, sự khủng khiếp của nó vẫn còn được ghi trong tài liệu của quân Thập tự chinh lần đầu tiên. Tuy nhiên Conrad đã quyết định chọn con đường bộ và khởi hành vào ngày 15 tháng 6. Roger II bị xúc phạm ( ai thì không rõ- khả năng là Conrad) và từ chối không tiếp tục tham gia. Tại Pháp, cha tu viện trưởng Suger và Bá tước William II của Nevers được bầu làm nhiếp chính, trong khi nhà vua tham gia vào cuộc thập tự chinh. Tại Đức, những bài giảng mở rộng được thực hiện bởi Adam của Ebrach và Hồng y Otto của Freising cũng tham gia vào Thập tự chinh. Ngày 13 tháng 3 năm 1147, tại Frankfurt, Frederick -con trai của Conrad được bầu làm vua dưới sự nhiếp chính của Henry, Tổng–giám-mục của Mainz. 5 năm sau Conrad III được Frederick Barbarossa -cháu trai của ông (Frederick râu đỏ) làm người kế nhiệm. Người Đức có kế hoạch khởi hành vào Lễ Phục sinh nhưng đã không thể bắt đầu cho đến tháng 12 năm 1146.

Quá trình hành quân của người ĐứcQuân viễn chinh người Đức, đi kèm theo với người thừa kế của Giáo hoàng và hồng y Theodwin, dự định sẽ gặp người Pháp tại Constantinople. Ottokar III của Styria gia nhập với Conrad tại Vienna và Geza II vua của Hungary-đối thủ của Conrad cho phép họ đi qua lãnh thổ của mình mà không gây hề hấn gì. Khi quân Đức- khoảng 20.000 người đến được lãnh thổ Byzantine, Manuel đã lo sợ rằng họ sẽ tấn công ông ta và quân đội Byzantine đã được cảnh báo để đảm bảo rằng không có sự cố gì xảy ra. Có một cuộc giao tranh ngắn với một số trong những tay cứng đầu người Đức ở gần thành phố Philippopolis và Adrianople, nơi tướng Prosouch của Byzantine đã đánh nhau với Frederick-cháu trai của Conrad kiêm hoàng đế tương lai. Mọi thứ trở thành tồi tệ hơn khi một số binh sĩ Đức bị thiệt mạng trong một trận lụt vào đầu tháng Chín. Tuy nhiên vào ngày 10 tháng Chín, họ đã đến được Constantinople, nơi mà mối quan hệ ( giữa người Đức) với Manuel trở nên rất tệ và người Đức đã bị thuyết phục để vượt sang Tiểu Á càng nhanh càng tốt. Manuel muốn Conrad để lại một số quân của mình đằng sau, để hỗ trợ trong việc bảo vệ chống lại các cuộc tấn công của Roger II ( vua Sicily nhưng thực chất là người Norman), người đã nắm lấy cơ hội này để cướp bóc các thành phố của Hy Lạp, nhưng Conrad đã không đồng ý, dù ông này cũng là một kẻ thù của Roger. Tại Tiểu Á, Conrad quyết định không chờ đợi người Pháp nữa và quyết định tiến đến Iconium-thủ đô của Vương quốc Hồi giáo Rum của người Seljuk. Conrad chia quân đội của mình thành hai bán đội. Nhà vua Đức đích thân chỉ huy một trong số này và nó đã gần như bị hủy diệt hoàn toàn bởi người Seljuks vào ngày 25 tháng 10 năm 1147 tại trận Dorylaeum lần thứ hai ( có nguồn nói rằng người Đức bị thương vong đến 9/10 phần quân số, tức là 18.000 người lính, nhưng nguồn này không có dẫn chứng).Trong trận chiến này, người Thổ Nhĩ Kỳ sử dụng chiến thuật điển hình của họ là giả vờ rút lui và sau đó quay trở lại để tấn công lực lượng nhỏ kỵ binh của người Đức đã tách ra khỏi đội quân chính để truy đuổi họ. Conrad đã bắt đầu phải rút lui một cách chậm chạp về phía Constantinople và hàng ngày quân đội của ông liên tục bị quấy rối bởi người Thổ Nhĩ Kỳ, họ đã tấn công và đánh bại những toán lính Đức bị lạc ra khỏi đội hình của hậu quân. Ngay cả Conrad cũng đã bị thương trong một cuộc giao tranh với họ. Một bộ phận khác được dẫn đầu bởi Đức-Giám-mục Otto của Freising-người anh em cùng cha khác mẹ với nhà vua, lúc này cũng đang hành quân về phía nam tới bờ biển Địa Trung Hải và cũng đã bị đánh bại bằng một chiến thuật tương tự vào đầu năm 1148.

Quá trình hành quân của người Pháp

Quân viễn chinh người Pháp đã khởi hành từ Metz vào tháng Sáu năm 1147, dẫn đầu là các đại Quý tộc Louis và Thierry của Alsace, Renaut I của Bar, Amadeus III của Savoy và William V của Montferrat-người anh cùng cha khác mẹ của ông ta, William VII của Auvergne và những người khác, cùng với quân đội từ Lorraine, Britainy, Burgundy và Aquitaine. Một lực lượng từ Provence, do Alphonse của Toulouse chỉ huy đã chọn cách chờ đến tháng Tám và đi đến vùng đất Thánh bằng đường biển. Tại Worms, Louis gia nhập với các đạo quân viễn chinh từ Normandy và Anh quốc. Họ đã theo con đường mà Conrad đã đi qua một cách khá bình yên, mặc dù Louis đã có một cuộc xung đột với Geza (vua) của Hungary khi Geza phát hiện Louis cho phép người cướp ngôi Hungary gia nhập vào quân đội của ông ta. Các quan hệ (của người Pháp với người Đức và cả với người bản địa ) tại lãnh thổ Byzantine là rất tồi tệ và người Lorrain, những người đã hành quân vượt trước phần còn lại của quân Pháp, cũng đã rơi vào một cuộc xung đột với người Đức- những người đi chậm hơn ( so với đoàn quân chính của người Đức) mà họ gặp trên đường.Kể từ các cuộc đàm phán ban đầu giữa Louis và Manuel, Manuel đã cho tạm dừng các chiến dịch quân sự chống lại Vương quốc Hồi giáo Rum, và ký kết một thỏa thuận ngừng bắn với Sultan Mesud I-đối phương của ông. Thỏa thuận ngừng bắn này được thực hiện để Manuel được rảnh tay tập trung vào việc bảo vệ vương quốc của mình từ quân Thập tự chinh, những người đã nổi tiếng về các hành vi trộm cướp và phản bội từ khi cuộc Thập tự chinh đầu tiên và được bị nghi ngờ là có chứa những dự định độc ác với thành phố Constantinople. Tuy nhiên, mối quan hệ của Manuel với quân Pháp có vẻ tốt hơn so với người Đức và Louis đã được đòn tiếp một cách xa xỉ ở Constantinople. Một số người Pháp đã bị xúc phạm bởi thỏa thuận ngừng bắn của Manuel với người Seljuk và kêu gọi một thành lập một liên minh với Roger II và tấn công vào thành phố Constantinople, nhưng họ đã bị ngăn cản bởi Louis.Khi các đội quân từ Savoy, Auvergne và Montferrat gia nhập với đội quân của Louis ở Constantinople, họ đã đi qua các tuyến đường xuyên qua nước Ý và qua Brindisi để đến được Durazzo, toàn bộ quân Pháp đã được vận chuyển qua eo biển Bosporus để Tiểu Á. Người Byzantine đã được khuyến khích bởi những tin đồn rằng quân Đức đã chiếm được Iconium, nhưng Manuel từ chối điều cho Louis bất cứ đội quân Byzantine nào. Người Byzantine đang bị xâm chiếm bởi Roger II của Sicily và tất cả quân đội của Manuel là rất cần thiết ở tại khu vực Balkan. Vì thế cả người Đức và người Pháp đã tiến vào phần đất châu Á mà không cần bất kỳ sự trợ giúp nào của Byzantine, không giống như các đội quân Tây Âu trong cuộc Thập tự chinh lần đầu tiên. Theo truyền thống của Alexios I-ông nội của ông để lại, Manuel cũng bắt người Pháp phải tuyên thệ là sẽ trả lại cho đế quốc ( Byzantine) bất cứ lãnh thổ mà họ chiếm được. Người Pháp đã gặp được tàn quân của Conrad tại Nicaea và Conrad gia nhập với lực lượng của Louis. Họ đã theo con đường của Otto của Freising ( anh em cùng cha khác mẹ với Conrad), di chuyển gần hơn tới bờ biển Địa Trung Hải, và họ đã đến được Ephesus trong tháng 12, tại đây họ biết được rằng người Thổ Nhĩ Kỳ đang chuẩn bị để tấn công chúng. Manuel cũng đã gửi sứ giả đến để phàn nàn về sự cướp bóc mà quân của Louis đã làm trên đường đi và không bảo đảm rằng người Byzantine sẽ giúp họ chống lại người Thổ. Trong khi đó, Conrad đã bị ốm và quay lại Constantinople, nơi Manuel đã đón tiếp cá nhân ông ta một cách long trọng và Louis, mà không có chú ý đến sự cảnh báo của ( người Byzantine) về những cuộc tấn công của người Thổ Nhĩ Kỳ, khi người Pháp và những người sống sót hành quân Đức ra khỏi Ephesus. Người Thổ Nhĩ Kỳ đã chờ đợi để tấn công họ từ lâu nhưng trong một trận chiến nhỏ ở bên ngoài Ephesus người Pháp đã chiến thắng.

Họ đến được Laodicea vào đầu tháng 1 năm 1148, gần như cùng một lúc với thời gian quân đội của Otto Freising bị tiêu diệt tại cùng một vùng. Lại tiếp tục cuộc hành quân và đội tiên phong dưới sự chỉ huy của Amadeus xứ Savoy đã bị cắt với đội trung quân ở tại núi Cadmus và quân đội của Louis bị tổn thất nặng nề từ người Thổ Nhĩ Kỳ. Theo lời kể của Odo xứ Deuil thì bản thân Louis đã phải leo lên một tảng đá và người Thổ Nhĩ Kỳ đã không tấn công vì không nhận ra ông ta là ai. Người Thổ Nhĩ Kỳ đã không tổ chức những đợt tấn công quyết liệt và người Pháp tiếp tục hành quân về phía Adalia trong khi liên tục bị quấy rối từ xa bởi người Thổ Nhĩ Kỳ, họ ( người Thổ Nhĩ Kỳ ) đã cho đốt cháy mặt đất để ngăn chặn việc người Pháp kiếm thêm lương thực cho người và ngựa của họ. Louis không còn muốn tiếp tục đi bằng đường bộ và ông đã quyết định tập hợp một hạm đội tại Adalia và giương buồm đi Antioch. Sau khi bị trì hoãn trong một tháng do bão tố, hầu hết tất cả các tàu được cử đi đã không đến được đích. Louis và các tùy tùng thân tín đã lên tàu và đi bằng đường thủy, trong khi phần còn lại của đội quân này phải tiếp tục hành quân một chặng dài đến Antioch. Quân Pháp đã gần như hoàn toàn bị tan rã bởi người Thổ Nhĩ Kỳ hoặc vì thiếu ăn và bệnh tật.

Hành trình đến Jerusalem

Cuối cùng Louis đã đến Antioch vào ngày 19 tháng 3 sau khi bị trì hoãn do một cơn bão; Amadeus của Savoy đã qua đời vào ngày trên đường đi Síp. Louis đã được chào đón bởi Raymond của Poitiers-chú của Eleanor. Raymond muốn ông ta giúp để chống lại người Thổ Nhĩ Kỳ và đi cùng với ông này (Raymond của Poitiers ) cho một chuyến viễn chinh chống lại Aleppo-một thành phố Hồi giáo vốn là cửa ngõ để đến Edessa, nhưng Louis đã từ chối, ông muốn kết thúc cuộc hành hương của mình ở Jerusalem thay vì tập trung vào các khía cạnh quân sự của cuộc thập tự chinh. Eleanor rất muốn đi theo Louis, nhưng chú của bà đã yêu cầu bà ta ở lại để mở rộng vùng đất của dòng họ và ly hôn Louis nếu nhà vua từ chối giúp đỡ những gì chắc chắn là mục tiêu về mặt quân sự của cuộc Thập tự chinh. Louis nhanh chóng rời Antioch đến Tripoli nhưng Eleanor đã bị giữ ở lại (Eleanor đã li dị Louis của Pháp và cưới Henry II-Công tước người Norman, người trở thành vua Henry II của Anh quốc. Sự kiện này cũng là một trong các nguyên nhân chính của chiến tranh trăm năm giữa Anh và Pháp vì Eleanor là nữ Bá tước vùng Aquitaine ). Trong khi đó, Otto của Freising và phần còn lại trong tờ trình của quân đội của ông đến Jerusalem vào đầu tháng Tư và Conrad đến ngay sau đó. Fulk-Giáo trưởng Jerusalem, đã gửi lời mời Louis cùng tham gia với họ. Đội tàu đã dừng lại tại Lisbon và trong khoảng thời gian này thì người Provençal cũng rời châu Âu dưới sự chỉ huy của Alfonso Jordan-Bá tước của Toulouse. Bản thân Alphonso đã không đến được Jerusalem vì ông qua đời ở Caesarea. Ông được cho là đã bị đầu độc bởi Eleanor của Aquitaine hoặc Raymond II của Tripoli, họ là những người cháu rất e sợ tham vọng chính trị của ông. Sự tập trung ban đầu của cuộc thập tự chinh là Edessa, nhưng mục tiêu mà vua Baldwin III và các Hiệp sĩ Templar quan tâm lại là Damascus.

Hội đồng quân sự ở Acre

Các quý tộc ở Jerusalem hoan nghênh sự có mặt của quân đội đến từ Châu Âu và họ rằng nên tổ chức một hội đồng quân sự để quyết định đâu là mục tiêu tốt nhất cho quân viễn chinh. Sự kiện này diễn ra vào ngày 24 tháng 6 năm 1148, khi Cour Haute của Jerusalem ( đây tương tự như một nghị viện thời Trung cổ của Jerusalem ) gặp quân viễn chinh đến từ Châu Âu tại Palmarea-một thành phố lớn của ở Vương quốc Jerusalem của quân thập tự chinh ở gần Acre. Đây là cuộc họp ngoạn mục nhất trong sự tồn tại của nó (Cour Haute của Jerusalem) .

Cuối cùng, (Hội đồng quân sự ở Acre ) đã quyết định phải tấn công thành phố Damascus, một đồng minh cũ của Vương quốc Jerusalem lúc này đã chuyển sang liên minh với người Zengid và tấn công thành phố Bosra vốn đang liên minh với Vương quốc Jerusalem trong năm 1147. Trong tháng 7 quân đội của họ ( Thập tự quân) được tập hợp tại Tiberias và hành quân đến Damascus bằng cách qua biển Galilee và Banyas. Có lẽ họ có tổng cộng 50.000 quân.

Cuộc bao vây Damascus

Cuộc bao vây Damascus đã diễn ra trong bốn ngày vào tháng 7 năm 1148, trong cuộc Thập tự chinh thứ hai. Nó đã kết thúc với một thất bại mang tính quyết định thập tự chinh và dẫn tới sự tan vỡ của cuộc thập tự chinh này. Như đã nói ở phần trên hai lực lượng người Kitô giáo được lãnh đạo bởi Louis VII của Pháp và Conrad III của Đức hành quân đến thánh địa để hưởng ứng lời kêu gọi Giáo hoàng Eugenius III và Bernard của Clairvaux về cuộc Thập tự chinh lần thứ hai. Cả hai ( quân Pháp và quân Đức) đều phải đối mặt với thảm họa bị tiêu diệt khi hành quân qua vùng Anatolia trong những tháng tiếp theo và phần lớn quân đội của họ đã bị phá hủy. Mục tiêu tập trung ban đầu của cuộc thập tự chinh là Edessa, nhưng ở Jerusalem, nhưng vua Baldwin III của Jerusalem và các Hiệp sĩ Templar lại muốn tấn công Damascus. Tại Hội đồng Acre, các Đại quý tộc từ Pháp, Đức và Vương quốc Jerusalem đã quyết định chuyển hướng của cuộc thập tự chinh đến Damascus.

Thất bại thảm hại tại Damascus

Quân viễn chinh quyết định tấn công Damascus từ phía tây, nơi mà Jerusalem sẽ cung cấp cho họ một nguồn quân lương ổn định. Họ đến Daraiya vào ngày 23 tháng 7 với đội tiên phong là quân đội của Jerusalem, theo sau là quân của Louis và hậu đội là quân của Conrad. Người Hồi giáo đã được chuẩn bị tốt để giáng trả các cuộc tấn công và liên tục quấy rối các đạo quân tấn công khi họ tiến qua các vườn cây ăn quả ở bên ngoài Damascus vào ngày 24 tháng 7. Các vườn cây ăn quả được bảo vệ bởi các tháp và các bức tường và các thập tự quân đã liên tục bị tấn công bằng cung tên và các mũi lao dọc theo những con đường hẹp.

Nhờ một đợt tấn công đầy nỗ lực do Conrad chỉ huy, quân viễn chinh mới đẩy lực lượng trở lại phía sông Barada và thành Damascus. Khi đến bên ngoài các bức tường của thành phố, họ ngay lập tức bố trí bao vây và sử dụng gỗ từ vườn cây ăn quả để làm các phương tiện công thành. Bên trong thành phố người dân đã ngăn các đường phố chính và chuẩn bị cho những gì họ tin là một cuộc tấn công không thể tránh khỏi. Unur đã tìm sự giúp đỡ từ Saif ad-Din Ghazi I ( vua) của Mosul và Nur ad-Din Zangi ( vua) của Aleppo, và bản thân ông cũng dẫn đầu một tấn công vào doanh trại của quân thập tự chinh, họ ( thập tự quân) bị lui đẩy trở lại từ bên ngoài các bức tường thành vào trong vườn cây ăn trái, nơi họ dễ bị phục kích và tấn công theo kiểu du kích. Theo William của xứ Tyre, ngày 27 tháng 7 thập tự quân quyết định chuyển đến đóng quân ở đồng bằng phía đông của thành phố nơi có ít các công sự ( của người Hồi giáo) hơn nhưng cũng lại ít lương thực và nước hơn.

Có những xung đột nổ ra trong nội bộ của cả hai phe: Unur không tin tưởng Saif ad-Din hoặc Nur ad-Din vì sợ rằng họ sẽ thuận tay dắt bò ( ý nói là nhân cơ hội này sau khi đẩy lui Thập tự quân họ sẽ chiếm luôn Damacus) và quân viễn chinh không thể nhất trí về việc ai sẽ tiếp quản thành phố nếu họ chiếm được nó. Guy Brisebarre-lãnh chúa của Beirut đề nghị để quyền quản lý lại cho các nhà lãnh đạo địa phương, nhưng Thierry của Alsace- Bá tước của Flanders lại muốn có nó cho chính mình và ông này lại được hỗ trợ bởi Baldwin, Louis và Conrad. Một số tài liệu đã ghi lại là Unur đã tìm cách mua chuộc các thủ lĩnh Thập tự quân để họ di chuyển đến một vị trí ít được phòng thủ hơn và rằng Unur đã hứa sẽ cắt đứt liên minh của ông với Nur ad-Din nếu quân viễn chinh quay về nhà. Trong khi đó Nur ad-Din và Saif ad-Din lúc này đã kéo đến Homs và đàm phán với Unur về quyền sở hữu Damascus, đây là điều mà cả Unur lẫn quân viễn chinh đều không muốn (Unur sợ bị mất đất mà Thập tự quân sợ bị tấn công từ đằng sau ). Dường như Saif ad-Din đã viết một lá thư cho quân viễn chinh và kêu gọi họ trở về nhà. Với việc ad Nur-Din đã vào vị trí chiến đấu thì quân Thập tự chinh không thể quay trở về vị trí tốt hơn của họ ( ở phía Tây thành phố). Các thủ lĩnh địa phương của quân thập tự chinh từ chối tiếp tục với cuộc bao vây và ba vị vua đã không còn lựa chọn nào khác và phải bỏ thành phố. Đầu tiên là Conrad sau đó là phần còn lại của quân đội, họ quyết định rút về Jerusalem vào ngày 28 tháng 7, mặc dù đã rút lui toàn bộ, họ vẫn bị đeo bám và quấy rối bởi các cung kỵ Thổ Nhĩ Kỳ.

Hậu quả của cuộc Thập tự chinh lần 2

Mỗi lực lượng Kitô giáo lại cảm thấy bị phản bội bởi một lực lượng Kitô giáo khác. Một kế hoạch mới đã được thực hiện để tấn công Ascalon và Conrad cùng quân đội của ông đã đến đó, nhưng không có lực lượng Thiên chúa giáo nào nữa và đến tham gia cùng ông, do sự thiếu tin tưởng lẫn nhau nên kết quả là cuộc vây hãm đã không thành công. Sự mất lòng tin lẫn nhau kéo dài sự thất bại trong một thế hệ, đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ của các vương quốc Kitô giáo trong vùng Đất Thánh. Sau khi dỡ bỏ vây ở Ascalon, Conrad trở về Constantinople để tiếp tục liên minh với Manuel ( để chống lại Roger II của Sicily ) còn Louis của Pháp quốc thì tiếp tục ở lại Jerusalem cho đến năm 1149.

Quay trở về châu Âu, Bernard của Clairvaux ( người đại diện của Giáo Hoàng) coi thất bại là một sự nhục nhã. Bernard nhiệm vụ của mình là phải gửi một lời xin lỗi đến Giáo hoàng và nó được thêm vào phần thứ hai trong cuấn Book of Consideration của ông. Ông giải thích rằng chính những tội lỗi của quân viễn chinh là nguyên nhân của sự bất hạnh và thất bại của họ. Khi cố gắng của ông để kêu gọi một cuộc thập tự chinh mới không thành công, ông đã cố gắng tách mình ra khỏi sự thất bại của cuộc Thập tự chinh thứ hai. Ông chết vào năm 1153.

Cuộc Thập tự chinh vào người Wendish ( Tây Slav) đạt được kết quả khác nhau. Trong khi người Saxon ( ở lục đia châu Âu-không phải ở nước Anh) khẳng định quyền sở hữu của họ ở Wagria và Polabia, người ngoại đạo lại vẫn giữ được quyền kiểm soát vùng đất Obodrite-phía đông của Lübeck. Người Saxon cũng nhận được phần thưởng từ giáo trưởng Niklot, đó là vùng lãnh địa Giám mục Havelberg , và họ đã phóng thích một số tù nhân người Đan Mạch. Tuy nhiên, các nhà lãnh đạo Kitô giáo đã tỏ ra nghi ngờ các đối tác của họ và thường cáo buộc lẫn nhau về các chiến dịch phá hoại. Tại bán đảo Iberia, các chiến dịch tại Tây Ban Nha, cùng với cuộc bao vây thành công Lisbon được xem là những thắng lợi duy nhất của người Kitô giáo trong cuộc Thập tự chinh lần thứ hai. Chúng ( các chiến thắng này) được xem là những trận đánh then chốt để mở rộng phong trào Reconquista ( tái chinh phục Tây ban nha và Bồ đào nha về tay người Kitô giáo) ra rộng hơn nữa và phong trào này sẽ hoàn thành vào năm 1492.

Ở phương Đông tình hình đã trở nên xấu hơn đối với các Kitô hữu. Tại Đất Thánh, cuộc Thập tự chinh lần thứ hai đã để lại hậu quả tai hại lâu dài cho Jerusalem. Damascus không còn tin vào các thành bang thập tự chinh nữa ( trước đây họ đã từng liên minh với người Kitô giáo để giữ cân bằng tại khu vực này ), và thành phố đã được bàn giao cho Nur ad-Din vào năm 1154. Baldwin III cuối cùng đã chiếm giữ Ascalon vào năm 1153, và đưa Ai Cập vào sâu hơn trong các cuộc xung đột. Vương quốc Jerusalem đã có thể đánh bại người Ai Cập và chiếm được Cairo trong một thời gian ngắn trong những năm 1160. Tuy nhiên, quan hệ với Đế quốc Byzantine thì lẫn lộn cả tốt lẫn xấu, và quân tiếp viện từ châu Âu lại rất thưa thớt sau thảm họa của cuộc Thập tự chinh lần thứ hai. Vua Amalric I của Jerusalem đã liên minh với người Byzantine và tham gia vào một cuộc xâm lược kết hợp vào Ai Cập trong năm 1169, nhưng cuộc viễn chinh cuối cùng đã không thành công. Năm 1171, Saladin-cháu trai của một trong những tướng lĩnh của Nur ad-Din, đã tuyên bố làm Sultan của Ai Cập và thống nhất Ai Cập với Syria và hoàn toàn bao quanh các vương quốc thập tự chinh. Trong khi đó liên minh với người Byzantine đã kết thúc với cái chết của hoàng đế Manuel I năm 1180 và năm 1187, Jerusalem đã phải đầu hàng trước Saladin. Sau đó lực lượng của ông này đã tràn lên phía bắc để chiếm tất cả các thành phố thủ phủ của các thành bang thập tự chinh còn lại và sự kiện này chính là nguyên nhân chính của cuộc Thập tự chinh lần thứ ba.

Khoảng thời gian giữa cuộc Thập tự chinh lần thứ nhất và lần thứ hai

Trong khoảng thời gia này đã xuất hiện những danh tướng tuyệt vời như Saladin của Ai Cập và đối thủ của ông-Baldwin IV-vua hủi thành Jerusalem. Trước khi bị bại trận trước Risa Sư tử tâm của nước Anh ( mặc dù những trận này cũng không hoàn toàn thay đổi được chiến cuộc) thì Saladin vĩ đại chỉ thua trận trước Baldwin IV và nếu người thanh niên chỉ sống đến có 22 tuổi này không đoản thọ thì không biết đến bao giờ người Hồi giáo mới chiếm được Jerusalem ( nếu bác nào đã xem cuốn phim Jeusalem thì ông này là nhân vật có đeo mặt nạ bằng vàng nhưng trên thực tế thì có thể chiếc mặt nạ chỉ là hư cấu)

Saladin vị danh tướng-quân vương vĩ đại của người Hồi giáo

Salah ad-Din Yusuf ibn Ayyūbi ( từ năm 1138 – Ngày 04 tháng 3 năm 1193), được biết đến trong thế giới phương Tây như là Saladin, là một người Kurd theo Hồi giáo, người trở thành Sultan ( Hoàng đế) đầu tiên của Vương triều Ayyubid của Ai Cập và Syria. Ông đã lãnh đạo phe Hồi giáo để chiến đấu với người Frank và những người châu Âu khác tại vùng Levant ( tên gọi khác của vùng Trung Đông). Ở đỉnh cao quyền lực của mình, ông đã cai trị Ai Cập, Syria, Mesopotamia ( Lưỡng Hà), Hejaz và Yemen. ( Buồn thay cho ông là người Kurd-con cháu của ông ngày nay lại không có tổ quốc)Ông đã lãnh đạo người Hồi giáo chống lại quân Thập tự chinh và cuối cùng chiếm lại được Palestine từ tay của Vương quốc Jerusalem của quân Thập tự chinh sau chiến thắng của ông trong trận Hattin, vì vậy ông là một tượng đài của người Kurd, người Ả Rập và văn hóa Hồi giáo. Saladin có một quan hệ chặt chẽ với người Hồi giáo Sunni và các đệ tử của tổ chức Qadiri Sufi thần bí ( chẳng biết có phải là giống Ninja của Nhựt Bủn không nhỉ). Những hành vi nghĩa hiệp của ông đã được ghi nhận bởi các sử gia Kitô giáo, đặc biệt là trong các tài liệu về cuộc bao vây Kerak ở Moab, và mặc dù là địch thủ của Thập tự quân ông đã giành được sự tôn trọng của rất nhiều người trong số họ, bao gồm cả Richard Lionheart ( vua Risa Sư tử tâm của nước Anh), thay vì trở thành một nhân vật đáng ghét ở châu Âu, ông đã trở thành một ví dụ nổi tiếng của quy tắc về tinh thần thượng võ của các Hiệp sỹ châu Âu.

Thời trẻ

Saladin được sinh ra tại Tikrit, Iraq. Gia đình ông là một gia đình mang phong cách đặc trưng của người Kurd và có nguồn gốc từ thành phố Dvin ở vương quốc Armenia thời trung cổ. Cha của ông tên là Najm ad-Din Ayyu, đã bị trục xuất khỏi thành phố Tikrit năm 1139 , ông ( Saladin ) và chú của mình là Asad al-Din Shirkuh, chuyển đến Mosul. Sau đó ông tham gia phục vụ quân đội cho Imad ad-Din Zengi, người chỉ định ông làm chỉ huy pháo đài của ông ta ở Baalbek. Sau cái chết của Zengi năm 1146, Nur ad-Din con trai ông ta, trở thành nhiếp chính của Aleppo và thủ lãnh của vùng Zengids.

Thời trẻ Saladin sống ở Damascus nhưng thông tin về thời thơ ấu của ông thì khá là khan hiếm. Về giáo dục, Saladin đã viết rằng “trẻ em được nuôi dậy theo cách thức mà người lớn tuổi đã được hưởng” Theo al-Wahrani, một trong những người viết tiểu sử của ông thì Saladin có thể trả lời câu hỏi về toán học, số học và pháp luật nhưng đây là một ý tưởng chỉ mang tính truyền thuyết. Một số nguồn tin cho rằng trong quá trình học tập của mình, ông đã quan tâm nhiều về vấn đề tôn giáo hơn là quan tâm đến việc gia nhập quân đội. Một yếu tố khác có thể có ảnh hưởng quan tâm của ông về tôn giáo là cuộc Thập tự chinh đầu tiên, Jerusalem đã bị chiếm giữ bởi một cuộc tấn công bất ngờ của các Kitô hữu. Ngoài Hồi giáo, Saladin còn có kiến thức về các phổ hệ, tiểu sử và lịch sử của người Ả Rập, cũng như các giống ngựa Ả Rập. Quan trọng hơn ông thuộc lòng các bài thơ Hamasah của Abu Tammam ( thơ về lòng tự hào dân tộc của người Arab ).

Cuộc chinh phạt đầu tiên

Sự nghiệp quân sự của Saladin đã bắt đầu dưới sự giám hộ của người chú Asad al-Din Shirkuh của ông, ông này là một chỉ huy quân sự quan trọng dưới quyền của Nur ad-Din. Năm 1163, khi Shawar-vị tể tướng của al-Adid-vua triều Fatimid bị đuổi ra khỏi Ai Cập bởi Dirgham-đối thủ của ông ta và ông này cũng là một thành viên của bộ lạc Banu Ruzzaik hùng mạnh. Ông (Shawar ) đã yêu cầu sự ủng hộ bằng quân sự từ Nur ad-Din, ông này đã đồng ý và đã gửi Shirkuh ( chú của Saladin) đến để hỗ trợ cho Shawar trong để chống lại Dirgham trong năm 1164. Saladin lúc đó mới tuổi 26, đã đi cùng với đoàn quân chinh phạt. Sau khi Shawar thành công phục hồi chức vị tể tướng, ông yêu cầu Shirkuh rút quân đội của mình từ Ai Cập để đổi lấy một số tiền khoảng 30.000 dinar, nhưng ông này đã từ chối và khẳng định rằng Nur ad-Din muốn ông ở lại. Vai trò của Saladin trong cuộc viễn chinh này là rất nhỏ và người ta chỉ được biết rằng ông đã được lệnh của Shirkuh là phải thu thập đồ dự trữ từ Bilbais ( một thành phố pháo đài của Ai Cập) trước khi cuộc bao vây được tiến hành bởi một lực lượng liên quân của quân Thập tự chinh và quân đội của Shawar ( ông này đòi không được quay ra liên minh với Thập tự quân để chiếm lại đất của mình).

Sau khi công chiếm Bilbais, lực lượng liên quân Ai Cập và Thập tự chinh đã giao chiến một trận lớn với lực lượng của Shirkuh trên vùng biên giới sa mạc của sông Nile ở phía tây Giza. Saladin đã đóng một vai trò quan trọng trong trận đánh này, ông chỉ huy cánh phải của quân đội Zengid, trong khi một lực lượng của người Kurd ở cánh tráivà Shirkuh chỉ huy trung quân. Tuy nhiên nguồn tài liệu của người Hồi giáo vào thời điểm đó lại nói rằng Saladin chỉ huy toán quân ” vận chuyển hành lý ở trung quân” với nhiệm vụ là thu hút đối phương vào một chiếc bẫy bằng cách dàn dựng một cuộc rút lui giả vờ. Lực lượng Thập tự chinh đã thu được thành công thành ban đầu khi quân đội của họ tấn công vào Shirkuh, nhưng do địa hình quá dốc và cát trên sa mạc làm cho ngựa của họ không thể chạy nhanh và Hugh của xứ Caesarea-chỉ huy của họ đã bị bắt trong khi tấn công vào đội quân của Saladin. Sau những cuộc chiến rải rác trong các thung lũng nhỏ ở phía nam của vị trí trung quân, người Zengid tập trung lực lượng phản công ngược trở lại, Saladin tham gia cuộc phản công này từ phía hậu quân.

Trận đánh kết thúc với chiến thắng thuộc về người Zengid và Saladin được cho là đã trợ giúp Shirkuh ở một trong những ” những chiến thắng đáng được chú ý nhất trong lịch sử”, theo sử gia Hồi giáo Ibn al-Athir, mặc dù quân của Shirkuh đã thiệt mạng nhiều hơn và thậm chí trận chiến được xem xét bởi hầu hết các nguồn khác lại không phải là một chiến thắng ( của Shirkuh). Saladin và Shirkuh chuyển hướng tới Alexandria, nơi họ được chào đón, cung cấp tiền, vũ khí và một căn cứ để đóng quân. Đối mặt của một lực lượng liên quân Thập tự chinh-Ai Cập đông đảo hơn đang cố gắng bao vây thành phố, Shirkuh chia quân đội của mình ra làm hai. Ông này và một số lớn quân của mình rút ra khỏi Alexandria trong khi Saladin đã được để lại ( với ít quân hơn) với nhiệm vụ bảo vệ thành phố.

Tại Ai Cập

Ở cương vị tể tướng của Ai Cập

Shirkuh đã tham gia vào một cuộc tranh giành quyền lực ở Ai Cập với Shawar và Amalric I của Vương quốc Jerusalem, trong đó Shawar yêu cầu Amalric hỗ trợ. Năm 1169, Shawar được cho là đã bị ám sát bởi Saladin và Shirkuh qua đời một năm sau đó. Nur ad-Din đã chọn một người ( không biết ai) kế nhiệm cho Shirkuh, nhưng al-Adid ( vua của Triều Fatimid) lại bổ nhiệm Saladin làm tể tướng để thay thế Shawar.

Lý do đằng sau việc al Adid-một người theo Hồi giáo dòng Shia lại lựa chọn Saladin-một người theo dòng Sunni làm tể tướng ( người có thực quyền nhất trong vương quốc). Sử gia Hồi giáo Ibn al-Athir tuyên bố rằng vị quốc vương đã chọn ông sau khi nói với các cố vấn của ông rằng “không có một người nào yếu ớt hơn hoặc trẻ hơn” so với Saladin và “không có một người nào trong đám tiểu vương-emirs vâng lời ông ta hoặc phục vụ ông ta” Tuy nhiên cũng lại có một ý kiến khác là sau một số cuộc thương lượng và mặc cả, cuối cùng ông đã được chấp nhận bởi đa số các tiểu vương. Các cố vấn của Al-Adid bị nghi ngờ là cố gắng để chia rẽ vương quốc Zengid ở Syria bằng sự phong chức này. Al-Wahrani viết rằng Saladin đã được lựa chọn vì danh tiếng của “sự rộng lượng và sức mạnh quân sự” của ông ta trong họ. Imad ad-Din viết rằng sau thời gian ngắn tang lễ cho Shirkuh, bởi vì có quá nhiều các “ý kiến khác nhau”nên tiểu vương Zengid quyết định chọn Saladin và buộc quốc vương Ai Cập phải chấp nhận ” ông ta là tể tướng” của mình. Mặc dù vị trí là nguyên nhân của những cuộc đấu đá phức tạp giữa các nhà lãnh đạo Hồi giáo, phần lớn những người cai trị Syria đã hỗ trợ Saladin trong chuyến viễn chinh Ai Cập của ông, và trong chiến dịch này ông đã thể hiện một trình độ quân sự đỉnh cao.

Trở thành tể tướng vào ngày 26 tháng 3, Saladin đã sám hối “về việc uống rượu và bỏ những trang phục phù phiếm để mặc trang phục mang tính chất tôn giáo.” Có được nhiều quyền lực hơn và trở nên độc lập hơn bao giờ hết trong sự nghiệp của mình, ông vẫn phải đối mặt với vấn đề về lòng trung thành cuối cùng giữa al-Adid và Nur ad-Din. Có một tin đồn là tại một cuộc gặp mặt bí mật giữa Nur ad-Din với Saladin và người ta đã trích dẫn câu nói ( của Nur ad-Din) là “làm thế nào anh dám [Saladin] làm bất cứ điều gì mà không có mệnh lệnh của ta?” Ông này (Nur ad-Din) đã viết nhiều thư cho Saladin để yêu cầu ông này không được từ bỏ sự trung thành của mình với chính ông ta ( Nur ad-Din).

Cuối năm đó, một nhóm binh sĩ Ai Cập và các tiểu vương đã cố gắng ám sát Saladin, nhưng biết được âm mưu này, ông đã cho xử tử Mu’tamin al-Khilafa quan điện tiền của Triều Fatimid, người cầm đầu âm mưu này. Ngày hôm sau, 50.000 binh sĩ người Phi từ các chiến đoàn trong quân đội Fatimid phản đối sự cai trị của Saladin đã cùng với một số tiểu vương người Ai Cập và dân thường tổ chức một cuộc nổi dậy. Vào ngày 23 tháng Tám, Saladin đã quyết dẹp yên những cuộc nổi dậy và không bao giờ phải đối mặt với một thách thức quân sự nào nữa từ Cairo.

Đến cuối 1169, Saladin với quân tiếp viện từ Nur ad-Din đã đánh bại một lực lượng liên quân lớn của quân Thập tự chinh và người Byzantine ở gần Damietta. Sau đó, vào mùa xuân năm 1170, Nur ad-Din cho gửi cha của Saladin đến Ai Cập theo yêu cầu của Saladin, cũng như khuyến khích từ al-Mustanjid, quốc vương của triều Abbasid ở Baghdad, họ ( Nur ad-Din và al-Mustanjid ) gây áp lực để ép Saladin phế truất al-Adid, vị quốc vương đối thủ của mình. Bản thân Saladin đã được tăng cường được thế lực của mình ở Ai Cập và mở rộng các căn cứ ủng hộ ông ở đó. Ông bắt đầu bố trí các thành viên trong gia đình của mình vào những vị trí cao cấp trong vùng và gia tăng ảnh hưởng của người Sunni tại Cairo, ông đã ra lệnh xây dựng một trường đại học cho người Hồi giáo Maliki-chi nhánh của Hồi giáo Sunni trong thành phố, cũng như một trường nữa cho nhóm Hồi giáo Shafi’i mà ông là thành viên ở al-Fustat.

Sau khi đã vững chân ở Ai Cập, Saladin đã phát động một chiến dịch chống quân Thập tự chinh, bao vây Darum năm 1170. Vua Amalric phải rút những Hiệp sỹ dòng Đền của ông đang đồn trú ở Gaza đến để giúp ông ta bảo vệ Darum, nhưng Saladin đã lẩn tránh lực lượng của họ và thay vào đó là ông kéo quân vào Gaza. Ông cho phá hủy thị trấn được xây dựng bên ngoài lâu đài của thành phố và giết chết hầu hết các cư dân của nó vì họ không vào được tòa lâu đài. Không chính xác khi nào, nhưng cũng trong năm đó ông đã tấn công và chiếm được lâu đài của quân thập tự chinh ở Eila, đây là một pháo đài vốn được xây dựng trên một hòn đảo ngoài khơi Vịnh Aqaba. Nó là một mối đe dọa cho sự di chuyển của hải quân của người Hồi giáo, nhưng lại có thể quấy rối các đội tàu nhỏ hơn của họ và Saladin đã quyết định là phải xóa xổ nó trên con đường tiến quân của mình.

Làm Sultan của Ai Cập

Theo sử gia Imad ad-Din, Nur ad-Din đã viết thư cho Saladin trong tháng 6 năm 1171, và nói với ông rằng hãy thiết lập lại vương quốc Hồi giáo Abbasid ở Ai Cập, sau đó ông lại được khuyến khích thêm bởi Najm ad-Din al-Khabushani, faqih- người cầm đầu tòa án Hồi giáo của Shafi’i, ông này đã kịch liệt phản đối việc dòng Hồi giáo Shia trị vì Ai Cập. Một số tiểu vương người Ai Cập đã bị giết chết vì chống đối, nhưng al-Adid ( vua Ai Cập lúc đó) lại được báo cáo rằng họ đã bị giết bởi nổi loạn chống lại chính ông ta. Ông này sau đó đổ bệnh hoặc bị đầu độc. Trong khi bị bệnh, ông ta hỏi Saladin cung cấp tiền cho mình để chăm sóc những đứa con nhỏ của ông ta, nhưng Saladin từ chối vì sợ rằng ông ta sẽ sự dụng số tiền này để chống lại triều Abbasids và ông ( Saladin) được cho là đã hối hận vì hành động của mình sau khi nhận ra những gì al-Adid muốn. Ông ta (al-Adid) qua đời vào ngày 13 tháng 9 năm 1171 tức là năm ngày sau đó, nhà Abbas khutba đã được lên ngôi ở Cairo và al Fustat, và tuyên bố al-Mustadi ( quốc vương Triều Abba ở Baghdad ) là quốc vương.

Ngày 25 Tháng Chín, Saladin rời Cairo để triển khai một cuộc tấn công phối hợp vào Kerak và Montreal, những lâu đài trên sa mạc của Vương quốc Jerusalem, còn Nur ad-Din thì sẽ tấn công từ Syria. Trước khi đến Montreal, Saladin đã rút lui vì nhận ra rằng nếu ông gặp Nur ad-Din ở Shaubak, ông sẽ không được quay trở lại Ai Cập vì Nur ad-Din sẽ giữ ông để kiểm soát lãnh thổ của Saladin. Ngoài ra, để vương quốc của người Thập tự chinh tồn tại như một quốc gia làm vùng đệm giữa Syria và Ai Cập, nó có thể đã sụp đổ nếu hai thủ lãnh của người Hồi giáo cùng tấn công từ phía đông và bờ biển. Điều này cũng sẽ trao cho Nur ad-Din cơ hội thôn tính Ai Cập. Saladin tuyên bố rằng ông rút lui vì tàn dư của Triều Fatimid âm mưu chống lại ông, nhưng Nur ad-Din đã không chấp nhận “mọi lý do”

Trong mùa hè năm 1172, một đội quân người Nubian cùng với một đội quân khác người tị nạn Armenia trên biên giới Ai Cập, được hồi báo là đang chuẩn bị cho một cuộc bao vây chống lại Aswan. Vị tiểu vương của thành phố yêu cầu sự trợ giúp của Saladin và nhận được quân tiếp viện dưới sự chỉ huy của Turan-Shah- anh trai của Saladin. Do đó, người Nubians đã xuất phát, nhưng lại quay lại trong năm 1173 và lại một lần nữa bỏ đi. Có được sự kiện này là do lực lượng Ai Cập tiến về phía Aswan và chiếm được thị trấn Nubian của Ibrim. Mười bảy tháng sau cái chết của al Adid, Nur ad-Din đã không tiến hành bất kỳ hành động liên quan đến Ai Cập, mà ông dự định trả một số tiền 200.000 dinar mà ông đã nhận để sử dụng quân đội của Shirkuh để chiếm giữ đất nước này. Saladin trả khoản nợ này với 60.000 dinar bằng những ” hàng hoá được sản xuất tuyệt vời”, một số đồ trang sức, một con lừa giống tốt nhất và một con voi. Trong khi vận chuyển hàng hoá đến Damascus, Saladin đã có cơ hội để tàn phá các vùng nông thôn của quân thập tự chinh. Ông không tạo ra một cuộc tấn công trực tiếp chống lại những lâu đài sa mạc, mà cố gắng để xua người Hồi giáo Bedouins ( mấy bác này thì ai cũng chén hết bất kể là Hồi giáo hay Phật giáo) vào sống ở lãnh thổ của quân Thập tự chinh với mục đích làm người Frank mất phương hướng.

Ngày 31 tháng 7 năm 1173, Ayyub-cha của Saladin bị thương trong một tai nạn cưỡi ngựa, cuối cùng dẫn đến cái chết của ông vào ngày 09 tháng 8. Năm 1174, Saladin đã cử Turan Shah đi để chinh phục Yemen và chiếm vùng Aden cho nhà Ayyubid. Yemen là một lãnh thổ dành cho hợp khẩn cấp, nơi mà Saladin có thể chạy trốn trong trường hợp xảy ra một cuộc xâm lược của Nur ad-Din.

Mua lại Syria

Chiếm Damascus

Trong đầu mùa hè năm 1174, Nur ad-Din tập hợp một đội quân và gửi giấy triệu tập tới Mosul, Diyarbakir và al-Jazira với một mục đích rõ ràng là chuẩn bị cho một cuộc tấn công vào Ai Cập của Saladin. Triều đại Ayyubid đã tổ chức một hội đồng để thảo luận về mối đe dọa có thể và Saladin thu thập quân đội của mình ở bên ngoài Cairo. Ngày 15 tháng 5, Nur ad-Din chết sau khi bị đầu độc và ngai vàng của ông đã được giao cho con trai mười một tuổi as-Salih Ismail al-Malik . Cái chết của ông đã làm cho Saladin có sự độc lập về mặt chính trị và trong một bức thư được cho là gửi Salih, ông hứa sẽ ” như một thanh kiếm” để chống lại kẻ thù của mình và gọi cái chết của cha as-Salih như là một “cú sốc từ động đất”.Với dư chấn từ cái chết của Nur ad-Din, Saladin phải đối mặt với một quyết định khó khăn, ông nên cho quân đội của mình hành quân chống lại quân Thập tự chinh từ Ai Cập hay chờ cho đến khi được mời bởi Salih ở Syria để đến viện trợ cho ông kia và khởi động một cuộc chiến tranh từ lúc đó. Ông cũng có thể chiếm Syria cho mình trước khi nó có thể có thể bị rơi vào tay đối thủ, nhưng ông sợ rằng tấn công vào một vùng đất trước đây thuộc về ông chủ của mình- là điều bị cấm trong các nguyên tắc của Hồi giáo mà ông đang theo-có thể miêu tả ông là đạo đức giả và do đó, ông không phù hợp để dẫn đầu cuộc chiến chống quân Thập tự chinh. Saladin thấy rằng để có được Syria, ông cần một lời mời từ như-Salih hoặc cảnh báo cho ông kia về tiềm năng của tình trạng hỗn loạn và nguy hiểm khi mà quân Thập tự chinh nổi được lên.Khi Salih bị ép chuyển đến Aleppo vào tháng Tám, Gumushtigin-vị tiểu vương của thành phố Aleppo kiêm chỉ huy trưởng của một đội chiến binh kỳ cựu của Nur ad-Din đã tự nhận làm người giám hộ cho Salih. Vị tiểu vương này chuẩn bị để lật đổ tất cả các đối thủ của mình tại Syria và al-Jazira, ông ta bắt đầu đầu tiên với Damascus. Trong trường hợp khẩn cấp này, tiểu vương của Damascus đã kêu gọi Saif al-Din (một người anh em họ của Gumushtigin) của Mosul để trợ giúp chống lại Aleppo, nhưng ông này đã từ chối buộc người Syria phải yêu cầu sự trợ giúp của Saladin và ông này đã nhận lời. Saladin cưỡi ngựa vượt sa mạc cùng với 700 lính kỵ binh đi qua al-Kerak và sau đó đến Bosra, ông được sự tham gia của các tiểu vương, chiến binh, người Kurd và người Bedouins. Vào ngày 23, ông đã tới Damascus giữa sự hoan hô nhiệt liệt của dân chúng và nghỉ ngơi tại ngôi nhà cũ của cha mình ở đó cho đến khi cửa của tòa thành của Damascus được mở ra để đón ông vào bốn ngày sau đó. Ông sống trong tòa lâu đài và nhận được sự kính trọng và lời chúc mừng của các công dân của thành phố.

Các cuộc chinh phục xa hơn nữa

Để anh trai của ông là Tughtigin làm Thống đốc Damascus, Saladin tiến quân để chiếm các thành phố khác vốn thuộc về Nur ad-Din, nhưng thực tế lúc này đã trở thành độc lập. Ông đã chiếm được Hamah một cách tương đối dễ dàng, nhưng phải lui quân trước Homs vì sức mạnh của bức tường thành của nó. Sau đó ông chuyển về phía bắc Aleppo và bao vây nó vào ngày 30 tháng 12 sau khi Gumushtigin từ chối thoái vị. Có vẻ như Salih đã hoảng sợ trước Saladin, nên đã đi ra khỏi cung điện của mình và kêu gọi người dân không từ bỏ ông ta và trao thành phố quân xâm lược. Một trong những tuyên bố của các sử gia của Saladin là “mọi người đi theo lời thần chú của ông”Gumushtigin yêu cầu Rashid ad-Din Sinan, đại sư phụ của Assassins ( tổ chức sát thủ) người đã có xung đột với Saladin kể từ khi ông thay thế triều Fatimids của Ai Cập, để ám sát Saladin trong doanh trại của ông. Một nhóm mười ba sát thủ của Assassins dễ dàng đột nhập vào doanh trại của Saladin, nhưng đã bị phát hiện ngay trước khi họ tiến hành cuộc tấn công. Một người bị giết bởi một viên tướng của Saladin và những người khác đã bị giết trong khi cố gắng trốn thoát. Để làm cho tình hình của ông ta thêm khó khăn, Raymond của Tripoli đã cho tập hợp lực lượng của mình ở Nahr al-Kabir nơi ông có một vị trí rất tốt để bắt đầu một cuộc tấn công vào lãnh thổ của người Hồi giáo. Sau đó ông chuyển về hướng phía Homs nhưng rút lui sau khi nghe nói có một lực lượng tiếp viện đã được gửi đến từ thành phố của Saif al-Din.Trong khi đó, các đối thủ của Saladin ở Syria và Jazira đã tiến hành một cuộc chiến tuyên truyền khi tuyên bố rằng ông đã “ông đã quên rằng ông là đầy tớ của Nur ad-Din ” và cho thấy ông không có lòng biết ơn đối với chủ cũ của mình khi bao vây con trai của ông ta, và dấy lên ” cuộc nổi loạn chống lại Chúa của mình “. Saladin nhằm để chống lại những lời tuyên truyền này bằng cách khởi động các cuộc bao vây để bảo vệ người Hồi giáo từ quân Thập tự chinh, quân của ông quay trở lại Hama và tấn công một lực lượng Thập tự quân ở đó. Các Thập tự quân rút đi từ trước đó và Saladin tuyên bố đó là “một chiến thắng mở cửa của trái tim của người Hồi giáo” Ngay sau đó, Saladin đã tiến đến Homs và chiếm được thành phố vào tháng 3 năm 1175, sau khi đánh bại những quân phòng thủ cứng đầu của nó.

Những thành công của Saladin đã báo động đến Saif al-Din. Người đứng đầu các hậu duệ của Zengid bao gồm cả Gumushtigin, ông này coi Syria và Lưỡng Hà như là tài sản riêng của gia tộc và đã cực kỳ tức giận khi Saladin cố gắng để chiếm đoạt phần của họ. Saif al-Din tập trung một đội quân lớn và gửi nó đến Aleppo nơi quân phòng thủ đang lo lắng để chờ đợi họ. Các lực lượng kết hợp của Mosul và Aleppo đã hành quân để chống lại Saladin ở Hama. Ít hơn đối thủ rất nhiều, ban đầu ông cố gắng để thương lượng với những người thuộc dòng tộc Zengids bằng cách từ bỏ tất cả các cuộc chinh phục phía bắc của Damascus, nhưng họ đã từ chối và khẳng định rằng ông phải trở về Ai Cập. Thấy rằng một cuộc đối đầu là điều không thể tránh khỏi, Saladin chuẩn bị cho trận chiến, chiếm một vị trí cao hơn trên những ngọn đồi của các hẻm núi của con sông Orontes. Ngày 13 tháng 4 năm 1175, quân Zengid hành quân đến để tấn công lực lượng của ông nhưng ngay sau đó họ lại thấy mình bị bao quanh bởi các chiến binh Ayyubid kỳ cựu của Saladin và họ đã bị tiêu diệt. Trận đánh kết thúc với một chiến thắng quyết định cho Saladin, ông truy kích nhà Zengid đến tận cửa của Aleppo, buộc của các cố vấn Salih phải trao cho ông các tỉnh của Damascus, Homs và Hama, cũng như một số thị trấn bên ngoài Aleppo như al-Numan Ma’arat.

Sau khi ông chiến thắng trước dòng tộc Zengid, Saladin tự xưng làm vua và xóa tên của Salih trong lời cầu nguyện Hôm thứ sáu và tiền đúc của Hồi giáo. Từ đó, ông ra lệnh cho những buổi cầu nguyện trong tất cả các nhà thờ Hồi giáo của Syria và Ai Cập như là một vị vua có chủ quyền và ông đã cho ban hành tại Cairo tiền vàng đúc tên của ông al-Malik an-Nasir Yusuf Ayyub, ala ghaya . Quốc vương Hồi giáo Abbasid ở Baghdad chào đón ân cần Saladin và tuyên bố ông là “vua của Ai Cập và Syria”.

Trận Hama đã không kết thúc cuộc tranh giành quyền lực giữa dòng Ayyubids và nhà Zengid, cuộc đối đầu cuối cùng xảy ra vào mùa xuân năm 1176. Saladin đã mang lực lượng của mình đến từ Ai Cập và quân của Saif al-Din là lính mới tuyển ở giữa các bang nhỏ của Diyarbakir và al-Jazira. Khi Saladin vượt qua Orontes để rời Hama, mặt trời đã khuất bóng và đây được xem là một điềm xấu nhưng ông tiếp tục cuộc hành quân về phía bắc của mình. Ông đến được núi của Sultan, 15 dặm (24 km) từ Aleppo, nơi mà lực ng của ông đã gặp phải quân đội của Saif al-Din. Một cuộc cận chiến nổ ra ngay sau đó và nhà Zengids đã cố gắng để đánh bại cánh trái của Saladin, đẩy họ về phía trước ông ta, trong khi ông tấn công trực diện về phía lực lượng cận vệ của nhà Zengid. Lực lượng của nhà Zengid đã hoảng sợ và nhất là khi các sỹ quan của Saif al-Din đã bị giết hoặc bị bắt sống, ông này (Saif al-Din ) cũng suýt tự trốn thoát. Doanh trại, ngựa nghẽo, hành lý, lều trại và đồ dự trữ của quân đội nhà Zengid đều bị chiếm bởi quân Ayyubids. Tuy nhiên các tù nhân nhà Zengid đã được phóng thích và trao quà tặng bởi Saladin và tất cả các chiến lợi phẩm trong chiến thắng của ông đã được chia cho quân đội, ông không giữ lấy một thứ gì cho chính mình.

Ông tiếp tục hướng tới Aleppo lúc này vẫn đóng cửa trước mặt mình và tạm dừng trước khi đến thành phố. Trên đường đi, quân đội của ông đã chiếm Buza’a sau đó là Manbij. Từ đó họ hướng về phía Tây để bao vây pháo đài A’zaz vào ngày 15 tháng 5. Một vài ngày sau đó, trong khi Saladin đang nghỉ ngơi ở chiếc lều của mình, một sát thủ xông tới và đâm vào đầu ông bằng một con dao. Nhưng con dao đã không xuyên qua được chiếc mũ sắt của ông và ông đã cố gắng nắm được bàn tay của tên sát thủ và kẻ tấn công đã nhanh chóng bị giết chết. Saladin đã không bị mất bình tĩnh trước nỗ lực để lấy đi cuộc sống của mình, mà ông đã cáo buộc là âm mưu của Gumushtugin và Assassins và do đó ông cho tăng các nỗ lực trong cuộc bao vây.

A’zaz đầu hàng vào ngày 21 và sau đó Saladin vội vã cho lực lượng của mình hành quân để trừng phạt Aleppo của Gumushtigin. Cuộc tấn công của ông lại một lần nữa thất bại, nhưng ông đã cố gắng để đảm bảo không chỉ là một thỏa thuận ngừng bắn mà là một liên minh với Aleppo, trong đó Gumushtigin và Salih được phép tiếp tục giữ thành phố này cho họ và ngược lại, họ công nhận Saladin có chủ quyền trên tất cả các lãnh địa mà ông đã chinh phục. Các tiểu vương của Mardin và Keyfa-đồng minh Hồi giáo của Aleppo, cũng công nhận Saladin là vua của Syria. Khi hiệp ước đã được ký kết, em gái của Salih đã được gửi đến chỗ Saladin để làm con tin và ông phải trả lại pháo đài A’zaz; điều kiện được tuân thủ và ông trả cô bé lại cho Aleppo với rất nhiều quà tặng.

Trận chiến và thỏa thuận ngừng bắn với Baldwin

Triều Ayyubids đã cho phép vua Baldwin chiếm được Ascalon và Gaza dựa trên lực lượng Hiệp sỹ dòng Đền mà không tiến hành bất cứ biện pháp phòng ngừa nào chống lại một cuộc tấn công bất ngờ. Mặc dù lực lượng Thập tự quân chỉ gồm 375 hiệp sĩ, Saladin đã do dự trong việc phục kích họ do có sự hiện diện của các võ sỹ có trình độ lão luyện. Ngày 25 tháng 11, trong khi phần lớn hơn của quân đội Ayyubid đã ở chỗ khác, Saladin và người của ông đã tấn công bất ngờ vào Tell Jezer ở gần Ramla. Trước khi họ có thể lập đội hình, lực lượng Templar (Hiệp sỹ dòng Đền) đã tấn công vào quân đội Ayyubid. Ban đầu, Saladin đã cố gắng tổ chức để những người của mình vào trận chiến, nhưng các vệ sĩ của ông đều bị giết, ông thấy rằng thất bại là không thể tránh khỏi và như vậy với phần còn lại của đội quân của mình, ông nhanh chóng nhảy lên lưng một con lạc đà chạy bán xới về lãnh thổ của Ai Cập.

Không nản lòng bởi thất bại của ông tại Tell Jezer, Saladin đã chuẩn bị kỹ càng để chiến đấu chống lại quân Thập tự chinh lại một lần nữa. Vào mùa xuân 1178, ông đóng trại dưới các bức tường của Homs và một vài cuộc giao tranh xảy ra giữa quân đội của ông và quân Thập tự chinh, lực lượng của ông ở Hama đã giành được một chiến thắng trước kẻ thù của họ và mang chiến lợi phẩm, cùng với nhiều tù binh chiến tranh. Saladin đã ra lệnh cho chặt đầu các tù binh vì tội “cướp bóc và làm xú uế các vùng đất của các tín đồ sùng đạo” Ông dành phần còn lại của năm ở Syria mà không có một cuộc đối đầu nào với kẻ thù của mình.

Trinh sát của Saladin báo cáo với ông rằng quân Thập tự chinh đang lập kế hoạch cho một cuộc tấn công vào Syria. Như vậy, ông ra lệnh cho Farrukh-Shah, một trong số các tướng lĩnh của ông bảo vệ biên giới Damascus với một ngàn chiến binh của mình để đánh chặn một cuộc tấn công, sau đó tìm cách hưu chiến và truyền tin cho ông bằng ánh sáng đèn hiệu trên những ngọn đồi mà Saladin sẽ diễu hành qua đó. Trong tháng 4 năm 1179, quân Thập tự chinh do vua Baldwin chỉ huy dự kiến sẽ không có đề kháng mạnh mẽ và chờ đợi để khởi động một cuộc tấn công bất ngờ vào khu chăn thả đàn gia súc của người Hồi giáo ở phía đông của cao nguyên Golan. Baldwin đã tiến quá xa khi truy đuổi Farrukh-Shah, lực lượng vốn được tập trung ở phía đông nam Quneitra và sau đó bị đánh bại bởi quân Ayyubids. Với chiến thắng này, Saladin đã quyết định gọi thêm quân từ Ai Cập, ông đã yêu cầu 1.500 kỵ sỹ được gửi bởi al-Adil.

Vào mùa hè năm 1179, vua Baldwin đã thiết lập một tiền đồn trên đường đến Damascus và nhằm để củng cố một đoạn trên sông Jordan, tiền đồn này được gọi là Ford of Jacob, và pháo đài này đã kiểm soát việc tiếp cận đồng bằng Banias (đồng bằng này được phân chia giữa những người Hồi giáo và các Kitô hữu). Saladin đã trả 100.000 dinar vàng cho Baldwin để từ bỏ công việc xây dựng pháo đài vốn xâm phạm đến quyền lợi của người Hồi giáo nhưng vô ích. Sau đó ông giải quyết bằng cách tiêu diệt chiếc pháo đài này và cho di chuyển sở chỉ huy của mình về phía Banias. Khi quân Thập tự chinh vội vã lao ra để tấn công lực lượng Hồi giáo, họ rơi vào rối loạn với việc bộ binh bị tụt lại phía sau. Mặc dù có thành công ban đầu, họ đã quá ham truy đuổi người Hồi giáo và đủ để trở thành quá rải rác và Saladin đã lợi dụng thời cơ này để tập hợp quân đội của mình và tấn công vào quân Thập tự chinh. Trận chiến đã kết thúc với chiến thắng quyết định thuộc về Ayyubid và nhiều hiệp sĩ thất thủ đã bị bắt sống. Sau đó Saladin tiến lên bao vây pháo đài và nó thất thủ vào ngày 30 tháng 8 năm 1179.

Vào mùa xuân 1180, khi Saladin ở trong vùng Safad, lo rằng sẽ có một chiến dịch mạnh mẽ nhằm vào Vương quốc Jerusalem, King Baldwin đã gửi sứ giả tới ông ta và đề nghị ký hiệp ước hòa bình. Do hạn hán và mất mùa làm đồ quân nhu của ông bị hao hụt, Saladin đã đồng ý một cuộc ngừng bắn. Raymond của Tripoli lên án cuộc ngưng bắn, nhưng đã buộc phải chấp nhận sau một cuộc đột kích của Ayyubid vào lãnh thổ của mình trong tháng 5 và sau khi có sự xuất hiện hạm đội hải quân của Saladin ở ngoài khơi cảng Tartus.

Mở rộng Đế quốc

Chinh phục nội địa Mesopotamian ( Lưỡng hà-Iraq ngày nay)

Saif al-Din đã chết trước đó trong tháng 6 năm 1181 và anh trai của ông Izz al-Din kế thừa quyền cai trị Mosul. Ngày 04 tháng 12, thái tử của nhà Zengid, as-Salih đã chết ở Aleppo. Trước khi chết, ông đã bắt trưởng quan của mình thề trung thành với Izz al-Din, vì ông này là người cai trị nhà Zengid đủ mạnh để chống lại Saladin. Izz al-Din đã được chào đón ở Aleppo, nhưng đồng sở hữu nó và Mosul là quá tải đối với khả năng của ông ta. Vì thế ông giao Aleppo cho anh trai của ông là Imad al- Din Zangi để đổi lấy Sinjar. Saladin không đưa ra sự phản đối nào với những giao dịch này để tôn trọng hiệp ước trước đây của ông với nhà Zengids.

Ngày 11 tháng 5 năm 1182, Saladin cùng với một nửa của quân đội Ayyubid Ai Cập và nhiều người phục vụ chiến đấu rời Cairo đến Syria. Vào buổi tối trước khi xuất quân, ông ngồi với bạn đồng hành của mình và là người đỡ đầu của một trong những con trai của ông rồi đọc một dòng thơ: “tận hưởng hương thơm của cây mắt bò của Najd, để sau buổi tối này sẽ không bao giờ còn dịp này nữa. ” Saladin được mô tả như là biết trước một điềm xấu và ông không bao giờ được nhìn thấy Ai Cập một lần nữa. Biết rằng lực lượng của người Thập tự chinh đã dồn đến biên giới để ngăn chặn ông ta, ông đã chọn con đường qua sa mạc trên bán đảo Sinai để đến Ailah ở đầu Vịnh Aqaba. Không gặp đối thủ Saladin tàn phá vùng nông thôn của Montreal, trong khi lực lượng của Baldwin chỉ theo dõi mà từ chối can thiệp ( ông này vẫn còn tởn vì trận trước). Ông tới Damascus vào tháng 6 và được biết rằng Farrukh-Shah đã tấn công vào Galilee, chiếm Daburiyya và bắt Habis Jaldek, một pháo đài có tầm quan trọng rất lớn của quân Thập tự chinh. Trong tháng 7, Saladin cử Farrukh-Shah đi tấn công al-Hawa Kawkab. Sau đó vào tháng 8, triều Ayyubids phát động một cuộc tấn công bằng cả thủy bộ để chiếm Beirut, Saladin đã dẫn quân đội của mình tiến vào thung lũng Bekaa. Nhưng cuộc tấn công có vẻ trở nên là một thất bại và Saladin cho dừng chiến dịch để tập trung vào các vấn đề ở Lưỡng Hà.

Kukbary, tiểu vương của Harran, mời Saladin đến và chiếm đóng khu vực Jazira, chiếm miền bắc Lưỡng Hà. Ông tuân thủ và các thỏa thuận ngừng bắn giữa ông và nhà Zengids nó chính thức kết thúc vào tháng 9 năm 1182. Trước cuộc hành quân của ông đến Jazira, căng thẳng đã tăng lên giữa những người cai trị nhà Zengid trong khu vực, chủ yếu liên quan đến việc họ không muốn trả tiền để chiều theo Mosul. Trước khi ông vượt qua Euphrates, Saladin bao vây Aleppo trong ba ngày để báo hiệu rằng cuộc ngưng bắn đã kết thúc.

Sau khi ông đến Bira ở gần sông, ông đã bị tấn công bởi Kukbary và Nur al-Din của Hisn Kayfa và các lực lượng này cùng phối hợp để chiếm giữ thành phố Jazira đội quân này tiếp đội quân kia. Trước tiên, Edessa thất thủ tiếp theo Saruj và sau đó là ar-Raqqah, Karkesiya và Nusaybin. Ar-Raqqah là một cứ điểm quan trọng và được tổ chức phòng thủ bởi Qutb al-Din Inal, người đã bị mất Manbij trước Saladin ở năm 1176. Khi nhìn thấy số lượng lớn của quân đội của Saladin, ông đã có rất ít nỗ lực để chống lại và đầu hàng với điều kiện rằng ông sẽ giữ lại tài sản của mình. Saladin đã kịp thời tạo ấn tượng với các cư dân của thành phố bằng cách đưa ra một sắc lệnh rằng một số loại thuế sẽ được hủy bỏ và xóa tất cả các giấy nhận nợ và nêu rõ “người cai trị tồi tệ nhất là những người rất chất béo nhưng người dân của họ lại gầy” Từ ar-Raqqah, ông chuyển đến chinh phục al-Fudain, Husain al-, Maksim, Durain, ‘Araban, và Khabur-tất cả đều đã thề trung thành với ông.

Saladin chiếm được Nusaybin mà không hề có kháng cự. Là một thành phố cỡ trung bình, Nusaybin không quá quan trọng, nhưng nó lại được đặt tại một vị trí chiến lược giữa Mardin và Mosul và dễ di chuyển đến Diyarbakir. Trong bối cảnh gặt hái hàng loạt những chiến thắng, Saladin nhận được tin rằng quân Thập tự chinh lại đột kích vào các ngôi làng của Damascus. Ông trả lời: “Hãy để họ … trong khi họ tấn công các làng mạc thì chúng ta lại chiếm các thành phố, khi chúng ta trở lại, chúng ta sẽ có tất cả các sức mạnh hơn nữa để chống lại chúng.” Trong khi đó, ở Aleppo, tiểu vương của thành phố Zangi đã đột kích vào các thành phố của Saladin ở phía bắc và phía đông, chẳng hạn như Balis, Manbij, Saruj, Buza’a, al-Karzain. Ông cũng cho phá hủy thành phố A’zaz của riêng mình để ngăn chặn việc nó được sử dụng bởi quân Ayyubids nếu họ tái chiếm nó.

Sở hữu Aleppo

Saladin chuyển sự chú ý từ Mosul tới Aleppo, và cử anh trai của ông al-Mulk Taj để chiếm Tell Khalid, 80 dặm (130 km) về phía đông bắc của thành phố. Một cuộc bao vây đã được thiết lập, nhưng thống đốc của Tell Khalid đã đầu hàng khi bản thân Saladin xuất hiện vào ngày 17 tháng 5 trước khi một cuộc bao vây có thể diễn ra. Theo Imad ad-Din, sau Tell Khalid, Saladin đã đi một đường vòng về phía Bắc để đến Ain Tab, nhưng ông đã sở hữu được nó khi quân đội của ông hướng về phía nó, cho phép ông di chuyển nhanh chóng theo chiều ngược lại 60 dặm (97 km) về phía Aleppo. Ngày 21 tháng 5, ông đóng trại bên ngoài thành phố về phía đông của thành lũy của Aleppo, trong khi lực lượng của mình bao quanh các khu ngoại ô của Banaqusa ở phía đông bắc và Bab Janan ở phía tây. Ông cho quân của mình đóng gần thành phố một cách quá mạo hiểm, và hy vọng cho một thành công tức thì.

Zangi đã không thể kéo dài sự kháng cự. Ông không được lòng dân và muốn trở về Sinjar của mình, thành phố mà trước đó ông đã cai trị và một cuộc đàm phán đã được tiến hành và Zangi sẽ bàn giao Aleppo cho Saladin để đổi lấy sự phục hồi quyền kiểm soát của ông với Sinjar, Nusaybin và ar-Raqqa. Zangi sẽ nắm giữ các lãnh thổ này như là chư hầu của Saladin về các điều khoản của phục vụ quân sự. Ngày 12 táng Sáu, Aleppo được chính thức đặt vào tay Ayyubid. Những người dân của Aleppo đã không được biết về các cuộc đàm phán và đã bị bất ngờ khi cờ hiêụ của Saladin được treo trên tường thành. Hai tiểu vương trong đó có một người bạn cũ của Saladin, Izz al-Din Jurduk, hoan nghênh và cam kết về sự phục vụ của họ với ông ta. Saladin thay thế quan tòa Hanafi bằng Thống đốc Shafi’i, mặc dù ông có một lời hứa là sẽ không can thiệp vào sự lãnh đạo tôn giáo của thành phố. Mặc dù ông đang thiếu tiền, Saladin vẫn cho phép Zangi khởi hành với tất cả các đồ dự trữ của thành phố mà ông ta có thể mang đi và bán phần còn lại cho Saladin.

Mặc dù có những do dự trước đó, ông không hề nghi ngờ gì về thành công của mình và nói rằng Aleppo là “chìa khóa để tiến vào các vùng đất” và “thành phố này là mắt của Syria và tòa thành là học trò của nó” Đối với Saladin, bản thân việc chiếm được thành phố đã đánh dấu sự kết thúc hơn tám năm chờ đợi kể từ khi ông nói với Farrukh-Shah “chúng ta đã chỉ làm công việc vắt sữa và Aleppo ( con bò sữa) sẽ là của chúng ta.” Theo quan điểm của mình, bây giờ ông có thể đe dọa toàn bộ bờ biển của quân Thập tự chinh.Sau khi nghỉ một đêm tại của thành Aleppo, Saladin đã hành quân đến Ha-rim, nơi ở gần thành phố Antioch vốn nằm trong tay Thập tự quân . Thành phố này (Ha-rim ) đang được quản lý bởi Surhak, một “Mamluk trẻ tuổi-một đẳng cấp chiến binh có nguồn gốc là nô lệ trong thế giới Hồi giáo thời đó ” Saladin đề nghị đổi thành phố Busra và tài sản tại Damascus để lấy Ha-rim, nhưng khi Surhak đòi hỏi thêm nữa thì chính quân đồn trú của ông tại Ha-rim đã buộc ông phải ra đi. Sau đó ông này bị bắt bởi Phó tướng của Saladin là Taqi al-Din và bị cáo buộc rằng ông đã lập kế hoạch để nhường Ha-rim cho Bohemond III của Antioch ( thủ lĩnh quân Thập tự chinh). Khi Saladin nhận đầu hàng của mình, ông ( Surhak) đã tiến hành sắp xếp việc phòng thủ Ha-rim trước quân Thập tự chinh. Ông cũng báo lại với vị quốc vương và thuộc cấp của mình tại Yemen và Baalbek ( vùng thuộc Lebannon ngày nay) khi họ đang hành quân để tấn công người Armenia. Saladin đã đồng ý một thỏa thuận ngừng bắn với Bohemond để đổi lấy các tù nhân Hồi giáo bị binh bắt tù bởi ông ta và sau đó ông đã giao thành phố A’zaz cho Alam ad-Din Suleiman và giao Aleppo cho Saif al-Din al-Yazkuj quản lý. Người đầu tiên vốn là một tiểu vương của Aleppo đã đi theo Saladin và và người thứ hai là một cựu Mamluk của Shirkuh, người đã cứu ông khỏi những âm mưu ám sát tại A’zaz.Chiến tranh với MosulKhi Saladin đến gần Mosul, ông phải đối mặt với vấn đề tấn công vào trong một thành phố lớn và biện minh cho hành động của mình. Nhà Zengids của Mosul kêu gọi an-Nasir, tể tướng của triều Abbasid ở Baghdad ủng hộ họ. An-Nasir gửi Badr al-Badr (một nhân vật tôn giáo cao cấp) đến để hòa giải giữa hai bên. Saladin đến thành phố vào ngày 10 tháng 11 năm 1182. Izz al-Din đã không chấp nhận các điều khoản của ông vì ông này coi nó (các điều khoản của Saladin ) là không trung thực và đòi hỏi quá nhiều và Saladin ngay lập tức bao vây thành phố vốn có hệ thống phòng thủ hạng nặng.Sau một vài cuộc đụng độ nhỏ và bế tắc trong các cuộc bao vây được khởi xướng bởi vị quốc vương này, Saladin có ý định tìm một cách để rút lui khỏi cuộc bao vây mà không thiệt hại tới danh tiếng của mình trong khi vẫn giữ một số áp lực về quân sự. Ông quyết định tấn công Sinjar, giờ đây được quản lý bởi Izz al-Din Sharaf, anh trai của al-Din. Thành phố thất thủ sau một cuộc bao vây 15 ngày, đó là ngày 30 tháng 12. Các chỉ huy và binh sĩ của Saladin đã trở nên mất kỷ luật của họ và cướp bóc thành phố; Saladin chỉ bảo vệ viên thống đốc và các sỹ quan của ông này bằng cách gửi họ đến Mosul. Sau khi thiết lập một đơn vị đồn trú tại Sinjar, ông chờ đợi một liên minh được tập hợp bởi Izz al-Din bao gồm các lực lượng của chính ông ta, những người khác đến từ Aleppo, Mardin và Armenia. Saladin và quân đội của ông đã gặp quân liên minh ở Harran vào tháng Hai năm 1183, nhưng khi nghe thấy rằng ông ( Saladin ) đang đến gần, Izz al-Din gửi sứ giả đến Saladin để cầu hòa. Các lực lượng trở lại thành phố của họ.Ngày 02 tháng 3, al-Adil từ Ai Cập đã viết thư cho Saladin và báo rằng Thập tự quân đã tấn công các vùng “trung tâm của đạo Hồi.” Raynald de Châtillon đã gửi tàu đến từ vùng Vịnh Aqaba để đột kích các thị trấn và làng mạc ngoài khơi bờ biển Hồng hải. Đây không phải là một nỗ lực nhằm mở rộng ảnh hưởng của Thập tự quân về phía miền duyên hải hoặc chiếm giữ các tuyến đường thương mại của họ ( người Arab Hồi giáo), mà chỉ đơn thuần là một động thái tựa như cướp biển. Tuy nhiên, Imad al-Din ghi các cuộc tấn công để báo động cho người Hồi giáo vì họ không quen với các cuộc tấn công từ phía biển và Ibn al-Athir cho biết thêm rằng người dân không có kinh nghiệm với Thập tự quân như các chiến binh hoặc thương nhân.Ibn Jubair đã cho biết, mười sáu chiếc tàu của người Hồi giáo đã bị đốt bởi quân Thập tự chinh, sau đó họ lại bắt giữ một con tàu và một đoàn hành hương tại Aidab. Ông cũng cho biết họ dự định tấn công Medina ( đất thiêng của đạo Hồi) và phá hủy l.ă.ng mộ Muhammad. Al-Maqrizi còn cho biết thêm có tin đồn là họ tuyên bố ngôi mộ Muhammad sẽ được chuyển đến lãnh thổ của thập tự quân và như vậy sẽ làm cho người Hồi giáo phải đến và hành hương ở đó. May mắn cho Saladin, al-Adil có tàu chiến của mình di chuyển từ Fustat và Alexandria đến Biển Hồng hải dưới sự chỉ huy của một lính đánh thuê người Armenia. Họ đã phá vỡ vòng phong tỏa của quân Thập tự chinh, phá hủy hầu hết các tàu bè của họ và truy kích bắt giữ những người đang thả neo và chạy trốn vào sa mạc. 170 Thập tự quân bị bắt tù binh và Saladin đã ra lệnh hành quyết họ ở các thành phố Hồi giáo.Từ quan điểm riêng của Saladin thì về lãnh thổ, cuộc chiến tranh chống lại Mosul đang tiến triển tốt, nhưng ông vẫn không đạt được mục tiêu của mình và quân đội của ông đã phải thu hẹp lại; Taqi al-Din đưa người của ông ta trở lại Hama, trong khi Nasir al-Din Muhammad và các lực lượng của ông này cũng rút lui. Điều này khuyến khích Izz al-Din và các đồng minh của mình tổ chức những cuộc tấn công. Quân liên minh lúc này tập hợp lại tại một địa điểm cách Harzam 90 dặm (140 km) từ Harran. Trong đầu tháng 4, không cần chờ đợi sự trở lại của Nasir al-Din và Taqi al -Din, Saladin bắt đầu tiến quân để tấn công quân liên minh, ông tiến quân về hướng đông để không bị ngăn cản bởi Ras al-Ein. Đến cuối tháng Tư, sau ba ngày kể từ ngày “chiến đấu thực sự” dưới sự chỉ huy của Saladin, quân đội Ayyubids đã chiếm được Amid. Ông bàn giao thành phố cho Nur al-Din Muhammad cùng với đồ quân nhu của nó-đó bao gồm 80.000 ngọn nến, rất nhiều mũi tên, và 1.040.000 cuốn sách. Để đáp lại Nur al-Din đã thề trung thành với Saladin, hứa sẽ theo ông trong mỗi chuyến chinh phạt trong cuộc chiến chống quân Thập tự chinh và cho sửa chữa các thiệt hại của thành phố. Sự sụp đổ của Amid, ngoài mặt lãnh thổ nó còn thuyết phục Il-Ghazi của Mardin chạy sang phe Saladin và làm suy yếu liên minh của Izz al-Din.

Saladin đã cố gắng để có được các hỗ trợ của Quốc vương an-Nasir trong việc chống lại Izz al-Din bằng cách gửi cho ông một lá thư về một tài liệu mà có thể làm cho ông ta được biện hộ về mặt pháp luật khi tiếp quản Mosul và vùng lãnh thổ của mình. Saladin nhằm thuyết phục vị quốc vương tuyên bố rằng trong khi ông chinh phục Ai Cập và Yemen dưới lá cờ của triều Abbasids, nhà Zengids của Mosul công khai hỗ trợ người Seljuks (đối thủ của vương quốc Hồi giáo) và chỉ xuất hiện khi vị quốc vương yêu cầu. Ông cũng cáo buộc lực lượng của al-Din Izz gây rối công cuộc “Thánh chiến” của người Hồi giáo chống lại quân Thập tự chinh và nêu rõ “họ không thể chiến đấu ( chống lại quân Thập tự chinh, nhưng họ lại ngăn chặn những người có thể.” Saladin bảo vệ hành vi của mình khi chính ông tuyên bố rằng đến Syria để chống quân Thập tự chinh, để tiêu diệt tổ chức sát thủ Assassins và để kết thúc những sai lầm ngớ ngẩn của người Hồi giáo. Ông cũng hứa rằng nếu Mosul được trao vào tay ông ta thì hậu quả của nó là thành phố Jerusalem, Constantinople, Georgia, và các vùng đất Almohad trong Maghreb “cho đến khi lời của Chúa là tối cao và vương quốc Hồi giáo Abbasid sẽ lan rộng ra khắp thế giới và biến nhà thờ Kitô giáo thành nhà thờ Hồi giáo. ” Saladin nhấn mạnh rằng tất cả điều này sẽ xảy ra do ý muốn của Chúa và thay vì yêu cầu sự hỗ trợ tài chính và quân đội từ quốc vương nhà Abbasid, ông lại cho chiếm và chuyển giao cho họ lãnh thổ của Tikrit, Daquq, Khuzestan, Kish Island và Oman.

Cuộc thánh chiến của Saladine chống quân Thập tự chinh

Trận Hattin – Saladin chiến thắng
Cuộc bao vây Jerusalem – Saladin chiến thắng
Trận Montgisard – Vua Baldwin IV chiến thắng ( Sa ladin bị tiêu diệt 90% tổng số gần 3 vạn quân của mình)
Trận Jacob’s Ford – Saladin chiến thắng
Trận Kerak – Vua Baldwin IV chiến thắng
Trận Cresson – Saladin chiến thắng các hiệp sỹ dòng Đền

Các trận chiến trong cuộc thập tự chinh lần thứ 3
Cuộc bao vây Arce – Vua Richard the Lionheard chiến thắng
Trận Arsuf – Vua Richard the Lionheard chiến thắng
Trận Jaffa – Vua Richard the Lionheard chiến thắng

Các trận đánh này sẽ được lần lượt giới thiệu ở các phần sau

Quan hệ giữa Saladin và Richard the Lionheard của Anh quốc

Các đội quân của Saladin tham chiến với quân đội của vua Richard trong trận Arsuf trong ngày 07 tháng 9 năm 1191, tại đó Saladin đã bị đánh bại. Mọi nỗ lực được thực hiện bởi Richard the Lionheart để chiếm lại Jerusalem đều thất bại. Tuy nhiên, mối quan hệ giữa Saladin và Richard là một trong những sự tôn trọng lẫn nhau giữa các hiệp sỹ và cũng như sự đối đầu của hai thủ lĩnh quân sự. Khi Richard bị mắc bệnh với triệu chứng sốt, Saladin đã gửi hai bác sĩ riêng của mình đến để điều trị cho ông ta. Saladin cũng đã gửi cho ông này những trái cây tươi được ướp trong tuyết lạnh để làm mát đồ uống như là một cách để điều trị bệnh ( nên nhớ là tại Trung Đông quân Thập tự chinh bị chết khát và nắng nóng nhiều hơn bị quân địch giết chết, vậy mà Saladin có tuyết để làm mát đồ uống thì đúng là Tần Thủy Hoàng rồi). Tại Arsuf, khi Richard bị chết mất con ngựa của mình thì Saladin đã gửi tặng ông này hai con thay thế. Richard đã đề xuất với Saladin rằng tại Palestine, Kitô giáo và Hồi giáo có thể có thể được chung sống qua cuộc hôn nhân của Joan của Anh quốc-chị gái của ông kiêm Nữ hoàng của Sicily với anh trai của Saladin và rằng Jerusalem có thể sẽ chở thành món quà cưới [ điều này không bao giờ được thực hiện]. Tuy nhiên hai người đàn ông không bao giờ gặp mặt một cách trực tiếp và giao tiếp giữa hai người đều qua văn bản thư từ hoặc bằng tin nhắn.

Như là các thủ lĩnh của các phe phái của mình, hai người đã đi đến một thỏa thuận trong Hiệp ước Ramla năm 1192, theo đó Jerusalem sẽ vẫn còn trong tay người Hồi giáo nhưng sẽ được mở cho các cuộc hành hương của người Kitô giáo. Theo Hiệp ước này thì các Thành bang Latin của người Thập tự chinh chỉ còn lại một dải dọc theo bờ biển từ Tyre đến Jaffa. Hiệp ước này đã được hai bên nhất trí tôn trọng trong ít nhất ba năm.

Cái chết của Saladin

Saladin chết vì một cơn sốt trong ngày 4 tháng 3 năm 1193, tại Damascus, không lâu sau khi Richard khởi hành về Anh quốc. Tài sản riêng của Saladin tại thời điểm ông qua đời là 1 đồng tiền vàng và 47 đồng bạc. Ông đã cho phần tài sản lớn của mình cho những thần dân nghèo đói của mình và không có đủ tiền để trả cho đám tang của chính ông. Ông được chôn cất trong một l.ă.ng mộ trong khu vườn bên ngoài nhà thờ Hồi giáo Umayyad ở Damascus, Syria.

Bảy thế kỷ sau đó, Hoàng đế Wilhelm II của Đức trao tặng chiếc quách bằng đá cẩm thạch mới ở l.ă.ng mộ của ông. Tuy nhiên Saladin lại không được đặt ở trong đó. Thay vào đó l.ă.ng mộ được mở cửa cho du khách, hiện nay có hai chiếc quách: một chiếc để trống làm bằng đá cẩm thạch và các chiếc kia được làm bằng gỗ có thể thực sự là dùng để an táng Saladin.

Một số trận đánh giữa Saladin và quân thập tự chinh trước khi nổ ra cuộc Thập tự chinh lần 3

Trận Hattin

Tóm tắt trận đánh

Thời gian của trận đánh: ngày 4 tháng 7 năm 1187
Địa điểm: tại làng Hittin ở gần vùng Tiberia
Kết quả: Triều Ayyubid chiến thắng chiến lượcCác bên Tham chiếnNgười Thiên chúa giáo:Vương quốc Jerusalem
Hiệp sĩ Templar
Knights Hospitaller
Hiệp sỹ St. Lazarus
Công quốc Antioch

Chỉ huy

Guy của Lusignan
Raymond III của Tripoli
Gerard de Rideford
Balian của Ibelin
Raynald của Châtillon

Lực lượng : 20.000 quân

  • 15.000 bộ binh
  • 1.200 hiệp sĩ
  • 500 cung kỵ

Thương vong và thiệt hại : Khoảng 17.000 người cả bị chết và bắt tù binh

Người Hồi giáo: Triều Ayyubid

Chỉ huy :Saladin

Lực lượng : Khoảng 30.000 quân

Thương vong và thiệt hại : Không có số chính xác nhưn nhẹ hơn quân Thiên chúa giáo nhiều lần

Trận Hattin diễn ra vào ngày thứ Bảy mồng 4 tháng 7 năm 1187, giữa Vương quốc Jerusalem của quân thập tự chinh và lực lượng của triều đại Ayyubid ( của Ai Cập và Syria).

Quân đội Hồi giáo dưới sự chỉ huy của Saladin đã bắt hoặc giết chết phần lớn lực lượng của người Thập tự chinh và loại bỏ khả năng theo đuổi chiến tranh của họ. Kết quả trực tiếp của trận chiến là lực lượng Hồi giáo lại một lần nữa trở thành quyền lực quân sự hùng mạnh nhất tại vùng Đất Thánh, người Hồi giáo đã tiến hành tái chiếm thành công Jerusalem và các thành phố cứ điểm chiến lược khác của Thập tư quân tại Palestine. Việc người Kitô giáo bị đánh bại đã dẫn đến một cuộc Thập tự chinh lần thứ ba được bắt đầu hai năm kể từ sau trận Hattin.

Trận chiến diễn ra gần Tiberias ở Israel ngày nay. Bãi chiến trường ở gần thị trấn Hittin, về mặt địa lý thì đây là một ngọn đồi đôi ( “Sừng của Hattin”) bên cạnh một con đèo nối vùng núi phía bắc giữa Tiberias và đường từ thành phố Acre ở phía tây. Con đường Darb al-Hawarnah được xây dựng bởi người La Mã là con đường đông-tây nối giữa các pháo đài ở Jordan, bờ biển Galilee với bờ biển Địa Trung Hải.

Bối cảnh nổ ra trận đánh

Guy của Lusignan trở thành vua của Jerusalem năm 1186, để thay mặt Sibylla-vợ ông, sau cái chết của Baldwin V-con trai của Sibylla. Vương quốc Jerusalem là vào thời gian này bị chia rẽ giữa “phe Triều đình” của Guy, Sibylla, và những người có liên quan đến vương quốc như Raynald của Châtillon, cũng như Gerard của Ridefort-đại sư phụ của Hiệp sĩ Templar và “‘phe quý tộc” dẫn đầu bởi Raymond III của Tripoli, người đã là nhiếp chính cho nhà vua trẻ Baldwin V ( cháu trai của vua bị bệnh hủi Baldwin IV) và đã phản đối kế của Guy. Quá chán nản Raymond của Tripoli chỉ còn cách ngồi nhìn những quý tộc trẻ tuổi của Jerusalem l.ă.ng xăng làm lễ cúi đầu trước nhà vua Guy và hoàng hậu Sibylla. Vị thủ lĩnh vĩ đại của xứ Tripoli quyết định phi ngựa theo chiều ngược lại, lên thung lũng sông Jordan để đến Tiberias. Tình hình rất căng thẳng và gần như sẽ nổ ra một cuộc chiến tranh giữa Raymond và Guy-người đã muốn bao vây Tiberias, một pháo đài được nắm giữ bởi Raymond qua hôn nhân, vợ ông là Eschiva-Quận chúa của Galilee. Chiến tranh đã được tránh khỏi thông qua sự hòa giải của Balian xứ Ibelin người ủng hộ Raymond.

Trong khi đó, các quốc gia Hồi giáo xung quanh vương quốc Jerusalem đã được thống nhất trong những thập kỷ 1170 và 1180 bởi Saladin. Saladin đã được bổ nhiệm làm tể tướng của triều đình Ai Cập trong năm 1169 và nhanh chóng cai trị đất nước như một ông vua. Năm 1174, ông đã áp đặt sự cai trị của mình vào Damascus, quyền lực của ông kéo dài đến Aleppo vào năm 1176 và Mosul vào năm 1183. Lần đầu tiên, Vương quốc Jerusalem bị bao quanh bởi một lãnh thổ thống nhất của người Hồi giáo dưới sự cai trị của duy nhất một quân vương. Quân viễn chinh đã đánh bại Saladin ở Trận Montgisard trong năm 1177, và trong những năm đầu của thập kỷ 1180 hai bên đã có một thỏa thuận ngừng bắn mà nó vốn không làm thỏa mãn cả hai phe, rồi thỏa thuận này bị phá vỡ bởi các cuộc đột kích của Raynald vào các đoàn xe Hồi giáo đi qua lãnh địa của ông ở Oultrejordain. Raynald lại còn đe dọa sẽ tấn công vào chính thánh địa Mecca của người Hồi giáo.

Khi Guy trở thành vua, Raymond đã thực hiện một thỏa thuận ngừng bắn riêng rẽ với Saladin và năm 1187 cho phép quốc vương Hồi giáo gửi một đội quân vào phía bắc của vương quốc Jerusalem. Đồng thời, lúc đó có một phái đoàn đang trên đường từ Jerusalem đến Tripoli để thương lượng một cuộc hòa giải giữa Raymond và Guy. Phái đoàn này đã bị đánh bại tại trận Cresson vào tháng 1, bởi một lực lượng nhỏ dưới sự chỉ huy của Al-Afdal. Raymond ăn năn với tội lỗi của mình ( vì đã để cho người Hồi giáo vượt qua đất của mình và đột kích vào Jerusalem) đã tìm cách hòa giải với Guy, người lúc này đang tập hợp toàn bộ quân đội của vương quốc và tiến về phía Bắc để ứng chiến với Saladin.

Cuộc vây hãm Tiberias

Sau khi hòa giải, Raymond và Guy đã gặp nhau ở Acre với số lượng lớn của quân đội thập tự chinh. Theo tuyên bố của một số nguồn tin châu Âu, đội quân này bao gồm 1.200 hiệp sĩ, một số lượng lớn kỵ binh hạng nhẹ và có lẽ có tới 10.000 lính bộ binh bao gồm cả lính bắn nỏ vốn được bổ sung từ các hạm đội thương đoàn của Ý cùng một số lượng lớn lính đánh thuê ( lính cung kỵ Turcopoles khả năng là người Thổ?) với tiền thuê được tài trợ bởi quốc vương Henry II của nước Anh. Ngoài ra họ còn mang theo với quân đội thánh tích của True Cross bởi giám mục của Acre, mang nó thay cho giáo trưởng Heraclius ốm yếu.

Ngày 02 tháng 7, Saladin muốn thu hút Guy di chuyển quân đội của ông ta ra khỏi Saffuriya nên bản thân ông đã dẫn đầu một cuộc bao vây của pháo đài của Tiberias Raymond, trong khi lực lượng chính của quân Hồi giáo đã ở lại Kafr Sabt. Các đơn vị đồn trú tại Tiberias tìm cách trả tiền cống nộp cho Saladin nhưng ông đã từ chối. Pháo đài bị thất thủ trong cùng ngày hôm đó, một tháp canh bị đào hầm và nó đã sụp đổ, quân của Saladin xông vào và chỉ chém giết những người còn cố gắng chống cự số còn lại thì bắt tù binh.

Eschiva-vợ của Raymond bị bao vây trong tòa thành này. Và khi việc đào hầm được bắt đầu để phá các bức tường thành, Saladin đã nhận được thông tin là Guy đã cho di chuyển quân đội người Frank ( người Hồi giáo gọi chung những Thập tự quân đến từ châu Âu là người Frank) của mình về phía Đông. Vị thủ lĩnh Thập tự quân đã bị mắc bẫy.

Quyết định của Guy rời khỏi hệ thống phòng thủ an toàn của ông cũng là kết quả của một cuộc họp của hội đồng chiến tranh của Thập tự quân được tổ chức vào đêm ngày 02 tháng 7. Mặc dù các báo cáo về những gì đã xảy ra tại cuộc họp này là bị ảnh hưởng bởi thành kiến do mối hận thù cá nhân giữa những người Frank, có vẻ như Raymond đã lập luận rằng một cuộc hành binh từ Acre để đến Tiberias chính xác là những gì mà Saladin mong muốn trong khi Sephoria là một vị trí mạnh mẽ cho quân Thập tự chinh để phòng thủ. Hơn nữa, Guy không nên lo lắng về Tiberias vì đây chỉ là một tài sản cá nhân của Raymond và sẵn sàng từ bỏ nó vì sự an toàn của vương quốc. Để đối phó với lập luận này, và mặc dù đã có sự hòa giải giữa họ (phe Triều đình mạnh hơn), Raymond đã bị buộc tội hèn nhát bởi Gerard và Raynald. Hai người kia đã gây ảnh hưởng vào Guy để ông này hạ lệnh tấn công ngay lập tức.

Do đó Guy ra lệnh cho quân đội hành quân để tấn công vào Saladin ở Tiberias, đó thực sự là những gì mà Saladin đã lên kế hoạch, vì ông đã tính toán rằng đánh bại quân viễn chinh chỉ trong một trận trên chiến trường thì dễ dàng hơn là đào công sự bao vây của họ.

Trận chiến

Quân viễn chinh bắt đầu hành quân từ Sephoria vào ngày 03 tháng 7. Raymond dẫn đầu đội tiên phong; Guy chỉ huy đội trung quân còn Balian, Raynald và các Hiệp sỹ thánh chiến thì tạo thành các hậu đội. Các quân viễn chinh đã gần như ngay lập tức bị theo đuôi và quấy rối từ các khinh binh của Hồi giáo từ trên lưng ngựa.

Vẫn còn chín dặm nữa (14 km) mới đến được Tiberias. Mới chỉ hành quân được có nửa ngày, bất kỳ mọi cố gắng để đi tìm nguồn nước chắc chắn sẽ chở thành mục tiêu ( của người Hồi giáo ) trong ngày hôm đó, trong khi họ vẫn phải chịu đựng các cuộc tấn công quấy rối liên tục của quân đội của Saladin, thật quá là dại dột. (Năm 1182 quân đội Frank chỉ có thể tiến 8 dặm (13 km) trong một ngày để đối mặt với đối phương và năm 1183 Guy đã rất cố gắng nhưng chỉ tiến được sáu dặm (10 km) trong một tình huống tương tự, trong một ngày.) Tuy nhiên, là Saladin đã viết, “quỷ Satan đã xúi giục Guy làm những gì đi ngược lại mục đích của mình.” Đó là, vì lý do gì không rõ, Guy tiếp tục ra lệnh trong buổi chiều hôm đó, tiếp tục tiến binh về phía trước và về phía Tiberias.

Trong các trận giao tranh sau đó, hậu đội của quân Frankish đã bị buộc phải ngừng lại bởi các cuộc tấn công liên tục và do đó đã giữ cho toàn bộ quân đội của họ phải đóng trên cao nguyên. Do đó quân viễn chinh bị buộc phải hạ trại và họ lúc này hoàn toàn bị bao quanh bởi người Hồi giáo. Vào lúc này họ hoàn toàn không còn nước uống cũng không hy vọng nhận được bất kỳ quân nhu hay tiếp viện.

Sáng ngày 04 tháng 7, quân viễn chinh đã bị mất tầm nhìn do khói từ các đám cháy mà lực lượng của Saladin đã đốt để thêm vào đau khổ cho quân đội của người Frank, qua các làn khói này kỵ binh Hồi giáo đã bắn vào họ 400 bó tên vốn đã được đưa đến trong buổi đêm. Gerard và Raynald khuyên Guy tạo thành đường chiến đấu và tấn công và nó đã được thực hiện bởi Amalric- anh trai của Guy. Raymond chỉ huy đạo quân đầu tiên với Raymond của Antioch, con trai của Bohemund III của Antioch, trong khi Balian và Joscelin III của Edessa tạo nên các hậu đội. Trong khi việc ngày được tiến hành có năm hiệp sĩ của Raymond đã đào thoát sang phía Saladin và kể với họ về tình hình khủng khiếp trong doanh trại của quân thập tự chinh.

Quá khát và mất tinh thần, quân viễn chinh đã bỏ trại của họ và đổi hướng quay về khúc đường cong ở Hattin, nhưng các đợt tấn công của họ rất lẻ tẻ và bị nghiền nát bởi quân đội của Saladin đang chặn đường và không cho phép xẩy ra bất cứ một cuộc rút lui nào. Bá tước Raymond tung ra hai đợt tấn công trong một nỗ lực để đột phá và để tìm nguồn cung cấp nước tại Biển Galilee. Sau đợt tấn công lần thứ 2 ông thấy mình bị cắt ra khỏi đội quân chính và bị buộc phải rút lui. Hầu hết các lính bộ binh của quân thập tự chinh đã bỏ chạy bằng cách di chuyển trên các sừng của Hattin. Guy đã cố gắng một lần nữa để ngăn chặn kỵ binh Hồi giáo, nhưng vì không có bộ binh bảo vệ ngựa của các hiệp sĩ đã bị bắn hạ bởi các cung thủ Hồi giáo và thế là các kỵ binh đã buộc phải bỏ ngựa để chiến đấu. Sau đó, họ cũng rút về phía Horns.

Giờ đây, quân viễn chinh đã bị bao vây và, mặc dù họ đã tung ra ba cuộc phản công đầy tuyệt vọng vào vị trí của Saladin, cuối cùng tất cả các cuộc phản công này đều đã bị đánh bại. Một tài liệu được ghi lại bởi nhân chứng của sự kiện này-chính là al-Afdal, con trai của Saladin. Được trích dẫn bởi Ibn al-Athir:

Khi vua của người Frank [Guy] rút lên trên ngọn đồi với binh lính của ông ta, họ đã tiến hành một đợt xung phong cực kỳ ghê gớm vào những người Hồi giáo phải đối mặt với họ, và họ đã xua được những người này ( người Hồi giáo ) xuống chỗ của cha tôi [Saladin]. Tôi nhìn về phía ông và ông đã khắc chế được sự lo lắng ( sợ người Thập tự chinh phá được vây ) và da của ông xám lại. Ông đã giữ lấy bộ râu của mình rồi tiến lên và hô to “Hãy bắt Quỷ dữ nằm xuống!” người Hồi giáo tập hợp, quay trở lại để chiến đấu và leo lên ngọn đồi. Khi tôi thấy rằng người Frank rút lui và bị truy đuổi bởi những người Hồi giáo, tôi hét lên vì vui mừng, “Chúng tôi đã đánh bại họ!” Tuy nhiên, người Frank đã tập hợp lại và lại tấn công một lần nữa cũng dữ dội như lần đầu tiên rồi lại đẩy người Hồi giáo xuống chỗ cha tôi. Ông lặp lại hành động như ông đã làm vào lần đầu tiên và người Hồi giáo lại quay lại và đẩy người Frank trở lại ngọn đồi. Tôi lại hét lên, “Chúng ta đã đánh bại họ!” nhưng cha tôi nhìn thẳng vào tôi và nói, “Hãy yên lặng đi! Chúng ta vẫn chưa đánh bại họ cho đến khi chiếc lều [của Guy] đổ xuống” Đúng lúc ông đang nói chuyện với tôi, thì chiếc lều đổ xuống. Nhà vua xuống ngựa và làm lễ lạy tạ ơn Chúa Toàn Năng và khóc trong niềm vui sướng.

Hậu quả

Người Hồi giáo đã chiếm được chiếc lều hoàng gia của vua Guy, cũng như chiếc Thánh tích True Cross sau khi Đức Giám mục của Acre bị giết trong cuộc chiến. Các tù binh bao gồm Guy, Amalric II-anh trai của ông, Raynald, William V của Montferrat, Gerard de Ridefort, Humphrey IV của Toron, Hugh của Jabala, Plivain của Botron, Hugh của Gibelet, và nhiều người khác. Có lẽ chỉ khoảng 3.000 Kitô hữu chạy thoát khỏi chiến trường. Tài liệu ẩn danh De Expugnatione Terrae Sanctae per Saladinum Libellus cho rằng Raymond, Joscelin, Balian và Reginald của Si-đôn đã chạy trốn khỏi bãi chiến trường vào lúc giữa trận đánh và chà đạp lên cả “các Kitô hữu, người Thổ Nhĩ Kỳ và cả thập giá” trong quá trình chạy trốn, nhưng điều này không được chứng thực bởi các tài liệu khác và phản ánh thái độ thù địch của tác giả với Polein-phe quý tộc của Raymond xứ Tripoli.

Những kẻ bị giam cầm đã kiệt sức được đưa đến lều của Saladin, nơi Guy được mời một cốc nước đá như thể hiện một dấu hiệu của sự hào phóng của Saladin. Khi Guy chuyển chiếc cốc cho Raynald-người đồng bào của ông, Saladin đã cho phép ông già này uống (Raynald đã khoảng 60 tuổi), nhưng ngay sau đó nói rằng ông không muốn mời nước cho Raynald và không bị ràng buộc bởi các quy tắc hiếu khách của người Hồi giáo. Khi Saladin buộc tội Raynald phá bỏ lời tuyên thệ ( về hiệp ước đình chiến trước đó ), Raynald trả lời ” các vị vua vẫn luôn luôn hành động như vậy, tôi cũng làm như vậy. Không có gì hơn.” sau đó Saladin tự tay chặt đầu Raynald và chặt đầu ông ta bằng thanh kiếm của mình. Guy quỳ xuống ( để đợi bị chặt đầu) khi nhìn thấy xác chết của Raynald nhưng Saladin ra lệnh cho binh lính của mình đỡ ông ta đứng lên, nói rằng “người đàn ông này đã bị giết chết chỉ vì bản tính tàn ác và sự phản trắc của mình.”

Thánh tích True Cross đã bị đóng lộn ngược trên đầu một giáo và được gửi tới Damascus. Một số người của Saladin lúc này rời khỏi quân ngũ, mang theo các tù nhân người Frank với họ như những nô lệ.

Ngày chủ nhật mùng 5 tháng bảy, Saladin hành quân thêm sáu dặm (10 km) để chiếm Tiberias và Nữ bá tước Eschiva đã ra lệnh cho chiếc pháo đài của thành phố đầu hàng. Bà ta được phép rời đến Tripoli với tất cả gia đình và tài sản. Raymond của Tripoli, sau khi thoát khỏi trận chiến đã chết vì viêm màng phổi vào cuối năm 1187 ( khả năng bác này hít quá nhiều khói trong trận đánh ).

Ngày thứ hai mùng 6 tháng 7, hai ngày sau khi trận chiến nổ ra, Các tù binh là hiệp sỹ dòng Đền ( Templar ) và Hiệp sỹ cứu tế ( Hospitaller) có cơ hội để chuyển đổi sang đạo Hồi ( khả năng là có ít người xin chuyển, đa số nhận cái chết).

Cuộc hành quyết được tiến hành (một trong chỉ hai mệnh lệnh hành quyết tù nhân được ra lệnh bởi Saladin). Trong một hành động để tỏ tình đoàn kết, nhiều người trong số các thập tự quân bị bắt cũng nhận làm hiệp sĩ Templar, để người của Saladin chặt luôn đầu của họ. Saint Nicasius, một Hiệp sỹ cứu tế (Hospitaller Knight) được tôn kính như là một liệt sĩ của Kitô giáo, được cho là một trong những nạn nhân. Guy được đưa tới Damascus như là một tù nhân và những người khác cuối cùng đã được chuộc. Đến giữa tháng Chín, Saladin đã chiếm Acre, Nablus, Jaffa, Toron, Sidon, Beirutn và Ascalon. Tyre được cứu bởi sự xuất hiện bất ngờ của Conrad của Montferrat. Jerusalem đã được bảo vệ bởi Nữ hoàng Sibylla, Giáo trưởng Heraclius và Balian, người sau đó thương lượng đầu hàng của Jerusalem với Saladin trong ngày 02 tháng 10

Tin tức về sự thất bại thảm hại tại Hattin được đưa đến châu Âu bởi Joscius, Đức-giám-mục của Tyrre, cũng như những người hành hương khác. Kế hoạch đã ngay lập tức thực hiện cho một cuộc thánh chiến mới; Giáo hoàng Gregory VIII đã ban hành sắc lệnh Audita tremendi và ở Anh và Pháp thuế thập phân Saladin đã được ban hành để tài trợ chi phí của cuộc Thập tự chinh mới.

Tuy nhiên cuộc Thập tự chinh lần thứ ba đã không được tiến hành cho đến năm 1189, nó cũng đã tạo ra ba đội ngũ Thập tự quân riêng biệt do Richard Lionheart, Philip Augustus, và Frederick Barbarossa chỉ huy.

Trận chiến

Saladin tiếp tục cuộc hành binh của ông về hướng Jerusalem và nghĩ rằng Baldwin sẽ không dám bám theo ông chỉ với một toán quân lèo tèo vài người như vậy. Ông đã tấn công các vùng Ramla, Lydda và Arsuf, nhưng vì cho rằng Baldwin không phải là một mối nguy hiểm, ông cho phép quân đội của mình dàn trải ra trên một diện tích lớn để cướp bóc và tìm kiếm lương thực. Tuy nhiên, Saladin lại chưa biết rằng lực lượng mà ông để lại để ngăn chặn vị vua của Jerúalem là không đủ và bây giờ cả Baldwin và các Hiệp sỹ Templar đã hành quân để đánh chặn ông ta ( Saladin) trước khi ông tới được Jerusalem.

Cuộc vây hãm Jerusalem (1187)

Cuộc vây hãm Jerusalem đã diễn ra từ ngày Ngày 20-02 tháng 10, 1187. Nó dẫn đến sự tái chiếm của Jerusalem của Saladin, và làm sụp đổ gần như toàn bộ Vương quốc Jerusalem của quân thập tự chinh. Điều này đã kích động cuộc Thập tự chinh lần thứ ba bằng cách tạo ra mục tiêu chính của nó – chiếm lại Jerusalem cho người Thiên Chúa giáo lần thứ hai.Bối cảnhVương quốc Jerusalem, bị suy yếu do tranh chấp nội bộ, đã hoàn toàn đánh bại trong trận Hattin vào ngày 04 tháng 7 năm 1187. Hầu hết các quý tộc của vương quốc này đã bắt làm tù binh, trong đó có vua Guy và trong suốt mùa hè Saladin nhanh chóng tràn vào vương quốc. Đến giữa tháng 9, Saladin đã chiếm được Acre, Nablus, Jaffa, Toron, Sidon, Beirut và Ascalon. Những người sống sót trong những trận chiến và người tị nạn khác đã trốn sang Tyre, thành phố chỉ có thể cầm cự chống lại Saladin do có sự xuất hiện bất ngờ của Conrad của Montferrat.Tình hình tại JerusalemTại Tyre, Balian của Ibelin đã yêu cầu Saladin cho ông ta đến Jerusalem an toàn để đón vợ là Maria Comnena và gia đình của họ. Saladin chấp nhận yêu cầu của ông, miễn là Balian không cầm vũ khí để chống lại ông và không ở Jerusalem nhiều hơn một ngày. Tuy nhiên, khi đến thành phố thánh, giáo trưởng Heraclius, Nữ hoàng Sibylla và những người dân còn lại xin ông phụ trách bảo vệ thành phố. Heraclius-người đã lập luận rằng ông phải ở lại vì lợi ích của Kitô giáo cấp sự tha thứ cho việc ông vi phạm lời thề và Balian đã đồng ý.Ông đã gửi tin nhắn về quyết định của mình đến Saladin ở Ascalon, thông qua một đại diện của tầng lớp thị dân, những người đã từ chối lời đề nghị của quốc vương Hồi giáo về một cuộc thương lượng cho sự đầu hàng của Jerusalem. Tuy nhiên, Saladin vẫn bố trí một đội hộ tống để đưa Maria cùng con cái và tất cả gia đình của họ đến Tripoli. Bởi vì ông ta là lãnh chúa có thứ hạng cao nhất còn lại ở Jerusalem, theo nhà sử gia Ibn al-Athir, Balian được nhìn thấy bởi những người Hồi giáo như là đang nắm giữ vị trí “ít nhiều ngang ngửa với một vị vua.”Balian thấy tình hình ở Jerusalem cực kỳ thảm khốc. Thành phố lúc này đầy ắp những người tị nạn chạy trốn khỏi cuộc chinh phục của Saladin và tiếp tục kéo đến đông hơn hàng ngày. Có ít hơn mười bốn hiệp sĩ trong toàn thành phố, do đó, ông đã phong sáu mươi hiệp sĩ mới từ cấp bậc Squiresvõ-sinh thực tập (con cái những quý tộc muốn chở thành Hiệp sỹ phải đi làm võ sinh cho một Hiệp sỹ càng danh tiếng càng tốt) và thị dân. Ông chuẩn bị lưu trữ thực phẩm và tiền bạc cho một cuộc vây hãm không thể tránh khỏi do. Quân đội của Syria và Ai Cập đã được dưới sự chỉ huy của Saladin và sau một cuộc bao vây ngắn vào Tyre không thành công, quân đội của Sultan đã đến bên ngoài Jerusalem vào ngày 20.

Người ta không biết Saladin đã mang đến Jerusalem bao nhiêu binh sĩ. Một số người tin rằng quốc vương Hồi giáo đã tập trung quân Hồi giáo, những người còn sống sót tại Horn của Hattin, cùng với một vài ngàn binh sĩ khác đến từ Syria và Ai Cập. Nhưng những người khác lại tin rằng những con số có thể đã lên tới 200.000 người, đó là số binh sĩ lớn nhất mà Saladin có trong toàn bộ quân đội của mình.

Trận vây hãmCác cuộc đàm phán đã được tiến hành giữa Saladin và Balian, thông qua sự trung gian của Batit Yusuf, một trong những giáo sĩ củaChính thống giáo phương Đông, phần lớn trong số họ bị đàn áp bởi sự cai trị của Thiên chúa giáo La tinh và biết rằng họ sẽ có nhiều quyền tự do hơn nếu thành phố được trả lại cho người Hồi giáo. Saladin muốn có thành phố mà không có đổ máu, nhưng những người bên trong lại từ chối rời khỏi thành phố thánh của họ, và họ thề sẽ phá hủy nó trong chiến đấu cho đến chết còn hơn là nhìn thấy nó được chuyển giao một cách hòa bình. Do đó cuộc bao vây được bắt đầu.

Quân đội của Saladin đã phải đối mặt với Tháp David và cổng Damascus. Các cung thủ của ông liên tục dội tên vào hệ thống đồn lũy kiên cố. Mỗi lần.những chiếc Tháp công thành được đẩy về phía các bức tường nhưng lại bị đẩy trở lại. Trong sáu ngày, các cuộc giao tranh đã có kết quả là hàng ngàn người Hồi giáo và Saracens thiệt mạng. Ngày 26 tháng 9, Saladin đã cho di chuyển trại của mình đến một phần khác của thành phố, trên núi Olives, nơi không có cửa chính mà từ đó quân viễn chinh có thể phản công. Các bức tường được liên tục bị bắn phá bởi các máy công thành catapult, mangonel, petrary, lửa Hylạp, cung nỏ… Một phần của bức tường đã bị đào hầm và nó sụp đổ vào ngày 29. Quân viễn chinh đã không thể đẩy quân đội của Saladin trở vị trí ban đầu nhưng đồng thời người Hồi giáo không thể chiếm được lối vào thành phố. Người Hồi giáo lúc này đông hơn quân viễn chinh nhiều lần và ( Quân thập tự chinh ) chỉ còn có độ hai tá hiệp sĩ và một số binh sỹ còn lại có khả năng mang vũ khí và bảo vệ các bức tường, không còn tìm ra nhiều người nữa ngay cả khi hứa trả một khoản tiền rất lớn.

Một số lớn thường dân đã tỏ ra cực kỳ tuyệt vọng. Theo một đoạn văn có thể được viết bởi Ernoul, một võ sinh của Balian, trong bản Old French Continuation of của William xứ Tyre, các giáo sĩ đã tổ chức một đám rước chân trần trên các bức tường, nhiều giáo sĩ tham gia vào cuộc Thập tự chinh đầu tiên cũng đã tiến hành một đám rước chân trần bên ngoài các bức tường năm 1099. Tại Mount Calvary, phụ nữ trẻ em cắt tóc của họ, sau khi ngâm chúng sâu tới cằm trong những chậu nước lạnh. Những hành động thể hiện sự sám hối được nhằm chuyển cơn thịnh nộ của Thiên Chúa ra khỏi thành phố, nhưng ” … Chúa Giêsu đã không đoái hoài đến để nghe những lời cầu nguyện hoặc tiếng ồn đã được thực hiện trong thành phố nghìn năm. Đối với mùi hôi thối của tội ngoại tình, sự kinh tởm của lãng phí và các tội khác chống lại con người sẽ không làm cho lời cầu nguyện của họ đến được tai của Thiên Chúa. “

Các cuộc đàm phán giữa Balian và Saladin

Vào cuối tháng Chín, Balian đã cử ra một sứ giả để đáp lại yêu cầu của quốc vương Hồi giáo, đó chính là việc đầu hàng mà ông đã bước đầu từ chối. Saladin đã không chấp nhận sự đàn phán này vì có thể thấy rằng khi họ đang nói chuyện thì người của ông ( Saladin) tiếp tục bắn phá các bức tường và lại tiến lên với những chiếc thang của họ. Tuy nhiên, chẳng bao lâu sau thập tự quân lại đẩy lùi được cuộc tấn công của họ. Saladin bằng lòng, và hai đồng ý rằng thành phố sẽ được bàn giao cho Saladin một cách hòa bình, và tìm cách ngăn ngừa các cuộc thảm sát hàng loại đã xảy ra khi quân viễn chinh chiếm thành phố vào năm 1099. Vị sultan nhận được một khoản tiền chuộc hai mươi đồng bezant cho nam giới, mười đồng cho phụ nữ, và năm đồng cho trẻ em, nhưng những người không thể trả được sẽ bị bán làm nô lệ. Balian lập luận rằng yêu cầu này là vô nghĩa vì có nhiều người không thể trả nổi tiền, có lẽ có đến 20.000 người tị nạn từ các nơi khác đến tại vương quốc này.

Sau khi ( Balian) trở về Jerusale, người ta đã quyết định rằng bảy ngàn trong số những người dân nghèo có thể được chuộc từ tiền lấy ra từ kho bạc mà vua Henry II của Anh quốc đã lập nên ở đó, vốn dĩ kho bạc này được bảo vệ bởi các Hospitaller ( Hiệp sỹ cứu tế). Tiền này được sẽ sử dụng bởi Henry cho một cuộc hành hương hay một cuộc thánh chiến, trong việc đền tội cho cái chết của Thomas Becket ( còn cụ thể là ntn thì lại phải xem tiểu sử của Henry II của Anh quốc) nhưng nhà vua không bao giờ đến Jerusalem và một phần ngân quỹ đã được sử dụng để trả tiền cho lính đánh thuê trong trận Hattin.

Balian và Saladin lại gặp một lần nữa và lần này vị quốc vương Hồi giáo đã đồng ý giảm khoản tiền chuộc xuống mười bezant cho một người nam giới, năm cho phụ nữ, và một cho trẻ em. Balian vẫn cho rằng thế là quá lớn và Saladin đề nghị một khoản tiền chuộc là 100.000 bezant cho tất cả các cư dân. Balian vẫn nói là điều không thể và Saladin nói rằng ông sẽ đòi tiền chuộc bảy ngàn người không thấp hơn 50.000 bezant. Cuối cùng, cả hai đã quyết định phí để trả cho Saladin để có sự tự do của bảy ngàn người là 30.000 bezants; hai người phụ nữ hoặc mười trẻ em sẽ được phép thay thế bởi một người đàn ông cho cùng một giá ( tức là cứ một người đàn ông chấp nhận bị bắt làm nô lệ sẽ cứu được 2 phụ nữ hoặc 10 trẻ em – đã số binh lính của Jerusalem đã chấp nhận làm điều này).

Jerusalems đầu hàng

Balian bàn giao chìa khóa của tháp David, các thành lũy vào ngày 02 tháng 10. Người ta đã được thông báo rằng mọi người dân có khoảng một tháng để trả tiền chuộc của họ, nếu họ có thể (độ dài của thời gian có lẽ là 3-50 ngày, tùy thuộc vào nguồn). Saladin đã hào phóng và giải phóng một số trong những người bị buộc làm nô lệ; anh trai của ông Saphadin cũng làm như vậy ( tiền chuộc được chia cho từ vua đến lính Hồi giáo-về phần của Saladin ông đã không nhận tiền), và cả Balian và Heraclius tìm cách giải phóng nhiều người khác với tiền riêng của họ. Họ đã tự làm con tin cho các công dân còn lại (ít nhất là vài nghìn người) vì không có tiền chuộc để trả nhưng Saladin đã từ chối.

Saladin cho phép cho một cuộc ra đi trong trật tự từ Jerusalem. Các cư dân đã trả tiền chuộc đi trong ba cột; các Hiệp sỹ Templar và Hospitaller dẫn đầu hai cột đầu tiên còn Balian và vị giáo trưởng dẫn đầu cột thứ ba. Balian được phép đoàn tụ với gia đình nhà vợ và sống ở Tripoli. Heraclius đã được cho là có sơ tán một số bảo vật của nhà thờ và các hòm đựng thánh tích theo nhà sử gia Hồi giáo Imad ad-Din al-Isfahani mặc dù ông đã góp phần vào việc quyên góp tiền chuộc.

Saladin cho phép người Kitô giáo được hành hương tới Jerusalem, và cho phép Nhà thờ của Thánh Sepulchre vẫn còn thuộc về Thiên chúa giáo. Để quảng bá tuyên bố của Hồi giáo về Jerusalem, nơi có nhiều địa điểm mang tính Đất thánh bao gồm những được gọi là Đền thờ Hồi giáo Al-Aqsa Mosque đã được tiến hành nghi thức thanh tẩy với nước hoa hồng. Ông ( Saladin ) tiếp tục chiếm giữ một số pháo đài khác vẫn ra sức chống lại ông ta, bao gồm cả Belvoir, Kerak và Montreal và quay lại Tyre để bao vây nó lần thứ hai.

Cùng với thất bại thảm hại của Quân Thập tự chinh ở trận Hattin, sự sụp đổ của Vương quốc Jerusalem đã làm chấn động châu Âu thời bấy giờ. Thậm chí người ta nói rằng khi nghe tin Jerusalem thất thủ Giáo hoàng Urban III đã ngã lăn ra chết vì đau tim. Nhà thờ Thiên chúa giáo Tây Âu sôi lên sùng sục để kêu gọi một cuộc thập tự chinh lần thứ 3, và sau 2 năm chuẩn bị cuộc thập tự chinh lần thứ 3 đã được bắt đầu bởi 3 nhà lãnh đạo của 3 vương quốc Thiên chúa giáo hùng mạnh nhất Tây Âu, đó là: Richard Lionheart của Ang quốc, Philip Augustus của Pháp quốc, và Frederick Barbarossa của Đức quốc. Nhưng tiếc thay ba người này lại chẳng ưa gì nhau mà có khi họ lại ghét nhau hơn cả ghét người Hồi giáo, kết quả là cuộc Thập tự chinh lần thứ 3 lại thất bại.

Balian của Ibelin

Balian của Ibelin (đầu những năm 1140-1193) là một nhà quý tộc quan trọng trong vương quốc Jerusalem của quân thập tự chinh trong thế kỷ 12.

Tuổi trẻ

Sau cái chết của người anh trai cả của Balian tên là Hugh năm 1169, lâu đài của nhà Ibelin được truyền lại cho Baldwin- em trai kế tiếp của ông này. Nhưng Baldwin lại thích ở lại lãnh chúa của Ramla nên đã trao nó cho Balian. Balian nhận Ibelin và chở thành một chư hầu của anh trai mình và gián tiếp chở thành một chư hầu của nhà vua Jerusalem kể từ khi Baldwin tiếp tục giữ Ramla.

Tranh chấp thừa kế ngai vàng của JerusalemBaldwin hỗ trợ Raymond III của Tripoli trong phe đ.ả.ng quý tộc Miles of Plancy như là nhiếp chính cho vua Baldwin IV năm 1174 và năm 1177 anh em họ đã có mặt tại trận Montgisard, nơi mà đội tiên phong hàng đầu đã xung phong và đánh thắng những vị trí mạnh nhất trong đội hình của quân Hồi giáo. Năm đó Balian kết hôn với Maria Comnena, góa phụ của vua Amalric I và trở thành cha dượng của công chúa Isabella ( con riêng của Maria Comnena). Ông đã nhận được lãnh địa Nablus, vốn được coi như một món quà cho Maria sau cuộc hôn nhân với Amalric. Năm 1179, Baldwin đã bị bắt bởi Saladin sau trận của Ford Jacob và Balian đã giúp thu xếp để lo tiền chuộc cho anh trai mình và ông này được thả vào năm sau, cuối cùng tiền chuộc đã được trả bởi Hoàng đế Byzantine Manuel I Comnenus, chú của Maria.

Năm 1183 Balian và Baldwin ủng hộ Raymond chống lại Guy của Lusignan, chồng của Sibylla của Jerusalem và lúc này ( Guy) đã chở thành nhiếp chính của Baldwin IV, người đã chết vì bệnh phong. Nhà vua mới 5 tuổi cháu của ông Baldwin của Montferrat cũng được đăng quang làm vua ( mặc dù Baldwin IV chưa chết nhưng Baldwin V đã được đăng quang làm vua) trong một nỗ lực để ngăn chặn Guy thừa kế làm vua. Ngay trước khi qua đời vào mùa xuân 1185, Baldwin IV đã ra lệnh chính thức ra lệnh đội vương miện cho cháu trai của ông tại Nhà thờ Thánh Sepulchre. Trong đó Balian-một người đàn ông cao một cách đáng chú ý-người mang cậu bé con Baldwin V trên vai của mình tại buổi lễ, đánh dấu sự hỗ trợ của gia đình Isabella cho cháu trai của cô. Ngay sau đó, ở 8 tuổi cậu bé đã trở thành vị vua duy nhất (Baldwin IV chết). Và rồi thì nhà vua trẻ tuổi Baldwin V cũng chết nốt trong 1186, Balian và Maria, với sự hỗ trợ của Raymond, đã đưa ra Isabella-con gái của Maria, sau đó khoảng 14, như là một ứng cử viên cho ngai vàng. Tuy nhiên, Humphrey IV của Toron-chồng cô bé đã từ chối vương miện và thề trung thành với Guy. Balian cũng phải miễn cưỡng tỏ lòng tôn kính với Guy, trong khi anh trai của ông từ chối không làm như vậy và bị đi đày tới Antioch. Baldwin giao mhiệm vụ cho Balian nuôi dạy Thomas-con trai ông và sẽ là vua tương lai của Ramla, người không đi cùng với cha mình đến Antioch. ( và thực sự thì đúng Guy của Lusignan là kẻ bất tài nên đã dẫn đến thảm bại ở Hattin và sau đó là sự sụp đổ của Vương quốc Jerusalem)

Hòa giải tranh chấp giữa Raymond và GuyBalian vẫn ở vương quốc Jerusalem như là một cố vấn cho Guy. Vào cuối năm 1186 Saladin đã trở thành quốc vương Hồi giáo của Ai Cập và Damascus, đã đe dọa biên giới của vương quốc sau khi đồng minh của Guy là Raynald của Châtillon, lãnh chúa của Oultrejordain, đã tấn công một đoàn người Hồi giáo. Saladin đã liên minh với các đơn vị đồn trú của Tiberias ở phía bắc của vương quốc, một lãnh thổ được nắm giữ bởi Raymond III. Guy tập hợp quân đội của mình ở Nazareth và lên kế hoạch để bao vây Tiberias, nhưng Balian không đồng ý với điều này và thay vào đó ông cho rằng Guy nên cử một sứ giả đến chỗ Raymond ở Tripoli, hy vọng cả hai có thể hòa giải trước khi Guy lại thực hiện một cuộc tấn công điên cuồng lớn hơn vào quân đội của Saladin. Đoàn thương thuyết đầu tiên đã thất bại và tình hình vẫn không thay đổi trong suốt những tháng đầu 1187. Sau sau lễ Phục Sinh năm đó, Balian, Gerard của Ridefort ( Đại thủ lĩnh của Knights Templar), Roger des Moulins(Đại thủ lĩnh của Hiệp sĩ Hospitaller ), Reginald của Sidon và Joscius Đức Tổng-Giám-Mục của Tyre đã được đến như là một đoàn thương thuyết mới tới Tripoli . Trong suốt cuộc hành trình của họ dừng lại ở Nablus-thái ấp của Balian và Balian có kế hoạch ở lại đó một thời gian ngắn trong khi những người khác vẫn tiến về phía trước. Ngày 01 Tháng 5, các Hiệp sỹ Templar và Hospitaller bị đánh bại bởi al-Afdal, con trai của Saladin ở trận Cresson; Balian vẫn còn ở lại một ngày sau và ông cũng đã dừng lại tại Sebastea để chào mừng một ngày lễ. Sau khi gặp nhau tại lâu đài La Fève, nơi mà các hiệp sỹ Templar và Hospitaller cắm trại, ông thấy rằng nơi này bị bỏ hoang và sớm được nghe tin tức về cuộc chiến thảm khốc từ số ít người sống sót. Raymond nghe nói về trận chiến và cũng đã gặp phái đoàn tại Tiberias và đồng ý đi cùng họ trở về Jerusalem.

Trận Hattin

Kể từ lúc quân đội của al -Afdal được phép tiến vào vương quốc Jerusalem qua liên minh của họ với Raymond, lúc này vị Bá tước lại hối hận về hành động của mình và tìm cách hòa giải với Guy. Guy hành quân ở phía bắc và đóng trại tại Sephoria và ra lệnh cho quân đội tiến vào một đồng bằng và khô để giải vây cho Tiberias. Quân đội của Thiên Chúa giáo không có nước uống và bị liên tục quấy nhiễu bởi quân đội của Saladin, và cuối cùng họ bị bao vây ở Horn của Hattin ở bên ngoài Tiberias vào đầu tháng 7. Trong trận chiến tiếp theo vào ngày 4, Balian và Joscelin III của Edessa chỉ huy lực lượng hậu đội, nhưng đội quân thập tự chinh đã hoàn toàn bị đánh bại. Tài liệu ẩn danh De Expugnatione Terrae Sanctae per Saladinum Libellus cho rằng Raymond, Joscelin, Balian và Reginald của Si-đôn đã chạy trốn khỏi bãi chiến trường vào lúc giữa trận đánh và chà đạp lên cả “các Kitô hữu, người Thổ Nhĩ Kỳ và cả thập giá” trong quá trình chạy trốn, nhưng điều này không được chứng thực bởi các tài liệu khác và phản ánh thái độ thù địch của tác giả với các Polein-phe đả.ng quý tộc của Raymond của Tripoli.

Sự thất bại là một thảm họa đối với Vương quốc Jerusalem: vua Guy bị bắt làm tù binh, và gần như tất cả các thành phố và lâu đài nhanh chóng rơi vào Saladin. Balian, Raymond, Reginald, và Payen của Haifa là trong số ít các quý tộc đã chốn thoát đến Tyre. Raymond và Reginald ngay lập tức tham gia vào việc bảo vệ lãnh thổ của mình và bảo vệ Tyre dưới sự lãnh đạo của Conrad của Montferrat, chú của Baldwin V, người đã đến không lâu sau trận Hattin. Balian đã trở thành một trong những đồng minh thân cận nhất của ông. Tại Tyre Balian hỏi Saladin liệu có được phép quay trở lại qua con đường tới Jerusalem để hộ tống vợ và con cái của ông ta đến Tripoli. Saladin cho phép việc này, miễn là Balian rời khỏi thành phố và có một lời thề không bao giờ cầm vũ khí chống lại ông.

Phòng thủ Jerusalem

Khi Balian và nhóm nhỏ các hiệp sĩ của ông đến được thành phố, người dân cầu xin họ ở lại, và Balian được từ bỏ lời thề của mình với Saladin và được tha tội bởi Giáo trưởng Heraclius, người cho rằng yêu cầu của Thiên Chúa giáo là mạnh mẽ hơn lời tuyên thệ của ông với một người không phải là Thiên Chúa giáo. Balian đã được chỉ định để chỉ huy phòng thủ thành phố, nhưng ông thấy chỉ còn mười bốn Hiệp sỹ ,vì vậy ông đã phong thêm sáu mươi hiệp sĩ mới từ những thị dân tham gia phòng thủ. Nữ hoàng Sibylla dường như có có đóng chút gì đó trong công cuộc phòng thủ thành phố và đã tuyên thệ để bầu Balian làm lãnh chúa. Với Eraclius, ông chuẩn bị cho cuộc vây hãm không thể tránh khỏi bằng cách lưu trữ thực phẩm và tiền bạc. Saladin thực sự đến và bao vây thành phố trong tháng Chín, sau khi ông đã chinh phục gần như tất cả các phần còn lại của vương quốc này, bao gồm Ibelin, Nablus, Ramla, và Ascalon. Nhà vua cảm thấy không có ác ý gì trong việc Balian đã vi phạm lời thề của mình và sắp xếp cho một hộ tống để đi cùng với Maria và con của họ đến Tripoli. Khi là lãnh chúa có thứ bâ cao nhất còn lại ở Jerusalem, Balian, như Ibn al-Athir đã viết, đã được xem bởi những người Hồi giáo là “ít nhiều tương đương với một vị vua.”

Saladin đã có thể phá sập một phần của các bức tường, nhưng không thể chiếm được lối vào thành phố. Sau đó Balian đã cưỡi ngựa ra ngoài để nói với quốc vương Hồi giáo, để nói với ông rằng những người bảo vệ sẽ tự giết nhau và phá hủy thành phố hơn là nhìn thấy nó bị chiếm bởi lực lượng Hồi giáo. Sau các cuộc đàm phán, người ta đã quyết định rằng thành phố phải được bàn giao một cách hòa bình và rằng Saladin sẽ thả tự do bảy ngàn người để đổi lấy 30.000 bezant; hai người phụ nữ hoặc 10 trẻ em sẽ thay thế cho một người đàn ông. Balian bàn giao chìa khóa cho tháp của David vào ngày 02 tháng 10. Người dân thành Jerusalem có một thời hạn 50 ngày để trả tiền chuộc. Những người không thể trả tiền cho tự do của họ bị buộc làm nô lệ; Saladin đã giải phóng một số người trong số họ, tuy nhiên ông cho phép một cuộc ra đi trật tự từ Jerusalem và ngăn chặn các thảm sát như đã xảy ra khi quân Thập tự chinh chiếm thành phố vào năm 1099. Balian và Giáo trưởng Eraclius đã tưự nguyện làm con tin cho những công dân người Frank còn lại, nhưng Saladin đã từ chối. Các cư dân được chuộc đi trong ba cột. Balian và Giáo trưởng đi theo cột thứ ba, họ là những người cuối cùng rời khỏi thành phố, có thể là khoảng ngày 20 tháng 11. Balian cùng vợ và con của ông về sống ở Tripoli.

Balian kẻ tạo vua và cuộc Thập tự chinh lần thứ ba

Sự sụp đổ của Jerusalem và cái chết của Sibylla tại cuộc vây hãm Acre năm 1190, đã dẫn đến một cuộc tranh chấp ngôi vua của vương quốc. Isabella-con gái riêng của Balian giờ đây trở thành nữ hoàng hợp pháp, nhưng Guy đã từ chối thừa nhận danh hiệu của mình, và Humphrey-chồng của Isabella người đã bỏ cô trong năm 1186, vẫn trung thành với ông. Nếu Isabella được thừa kế, cô cần chấp nhận sự cố vấn về chính trị và quân sự của chồng, ứng cử viên rõ ràng là Conrad của Montferrat, người cũng có một số yêu cầu như chú về đằng nội của Baldwin V. Balian và Maria giữ Isabella và ép cô phải đồng ý ly dị Humphrey. Có tiền lệ: việc bãi bỏ hôn nhân của Amalric I với Agnes của Courtenay và những nỗ lực không thành công để buộc Sibylla ly dị Guy.

Cuộc hôn nhân của Isabella được bãi bỏ bởi Ubaldo Lanfranchi-Đức Tổng-Giám-Mục của Pisa và là người thừa kế của giáo hoàng và Philip của Dreux, Đức Giám-mục-của Beauvais. Sau đó Đức Giám Mục của Beauvais gả cô ta cho Conrad ( điều còn đang tranh cãi). Việc tranh chấp thừa kế được kéo dài bởi sự xuất hiện của Richard I của Anh và Philip II của Pháp ở cuộc Thập tự chinh thứ ba: Richard hỗ trợ Guy, như là một chư hầu ở Poitevin, trong khi Philip hỗ trợ Conrad, người người em họ của người cha đã quá cố.

Balian và Maria có nhiều vai trò trong vụ ly dị của Isabella và sự hỗ trợ của họ để lên làm vua Conrad đã nhận được những sự hận thù sâu sắc của Richard và những người ủng hộ ông này. Ngày 28 tháng 4 năm 1192, chỉ vài ngày sau khi vương quyền của ông được khẳng định bởi một cuộc bầu cử, Conrad đã bị ám sát trong Tyre. Người ta nói rằng một trong hai sát thủ-Hashshashin chịu trách nhiệm đã chà trộn vào gia đình Balian ở Tyre vài tháng trước đây và giả vờ làm một người đầy tớ để lén theo nạn nhân, còn người kia thì tương tự có thể thâm nhập vào gia đình Reginald của Sidon hay của Conrad. Richard bị nhiều người nghi ngờ rằng ông có tham gia trong vụ giết người này. Isabella, người lúc này đang chờ đợi để sinh đứa con đầu lòng ( Maria của Montferrat ) lại kết hôn với Henry II của Champagne chỉ một tuần sau đó.

Balian đã trở thành một trong những cố vấn của Henry và cuối năm đó (cùng với William của Tiberias), ông chỉ huy đội hậu quân của Richard tại trận Jaffa. Sau đó, ông đã giúp hai bên thương lượng Hiệp ước Ramla giữa Richard và Saladin, kết thúc cuộc thập tự chinh. Theo hiệp ước này, Ibelin vẫn nằm dưới sự kiểm soát của Saladin, nhưng nhiều địa điểm dọc theo bờ biển đã được chinh phục trong cuộc thập tự chinh vẫn được phép ở lại trong tay của người Thiên chúa giáo. Sau khi Richard bỏ về nước Anh, Saladin đã bồi thường cho Balian lâu đài Caymont và năm lâu đài khác ở gần đó, tất cả các lâu đài này đều ở bên ngoài Acre.

Các trận chiến của Saladin với Vua Baldwin IV ( Xảy ra trước trận Hattin)

Baldwin IV của Jerusalem

Baldwin IV của Jerusalem (1161-16 tháng 3 năm 1185 ), được gọi là vua cùi hoặc vua bị bệnh phong, con trai của Amalric I của Jerusalem và người vợ đầu tiên của ông, Agnes của Courtenay, là vua của Jerusalem từ 1174-1185. em gái cùng bố mẹ với ông là Nữ hoàng Sibylla của Jerusalem và cháu trai của ông-con của em gái (người kế vị ông) là vua Baldwin V. Ông là một người em gái cùng cha khác mẹ từ cuộc hôn nhân lần thứ 2 của cha mình là công chúa Isabella của Jerusalem, và một người em trai nữa nhưng người này đã chết rất trẻ.

Tuổi trẻ

Baldwin đã dành tuổi trẻ của mình trong triều đình của cha của ông ở Jerusalem, ông cũng có chút ít liên lạc với mẹ của ông-Agnes của Courtenay, Nữ bá tước của Jaffa và Ascalon và sau đó là Nữ hoàng của Sidon, người mà cha của ông đã bị buộc phải ly dị. Baldwin IV được giáo dục bởi nhà sử gia William của Tyre (sau này là Đức Tổng-Giám-Mục của Tyre và cũng là một viên tướng của vương quốc), người đã phát hiện ra một biểu hiện đáng lo ngại của Hoàng tử: trong một ngày ông ( Baldwin IV ) và bạn bè của mình chơi với nhau và cố gắng để làm tổn thương lẫn nhau bằng cách cào móng tay của họ vào các cánh tay của mỗi ngươ, nhưng Baldwin cảm thấy không đau đớn. William ngay lập tức nhận ra đây là một dấu hiệu của một căn bệnh nghiêm trọng, nhưng ông cũng đã không kết luận được xác định đây là bệnh phong cho đến khi một vài năm sau đó: vào lúc có sự khởi đầu của tuổi dậy thì của Baldwin IV, thì căn bệnh phong của ông mới trở nên nghiêm trọng nhất.

Cha của Baldwin qua đời vào năm 1174 và cậu bé đã lên ngôi ở tuổi mười ba, ngày 15 tháng 7 năm đó. Vương quốc bé nhỏ của ông được cai trị bởi hai nhiếp chính kế tiếp, đầu tiên là Miles của Plancy mặc dù không phải là chính thức và sau đó Raymond III của Tripoli, người anh em họ của cha ông. Năm 1175, Raymond III, thay mặt nhà vua của Jerusalem đã ký một hiệp ước với Saladin.

Là một người bị bệnh phong, Baldwin đã không được dự kiến sẽ trị vì lâu dài hoặc sản hoặc tạo ra được một người thừa kế, và các cận thần và lãnh chúa tự cố tạo ảnh hưởng nhiều hơn vào những người thừa kế của Baldwin, như vào Sibylla-công chúa chị em ruột và Isabella-công chúa cùng cha khác mẹ của ông. Sibylla đã được mang đi bởi Ioveta-người dì của cô và sống trong tu viện Bethany, trong khi Isabella sống tại cung điện của mẹ cô- hoàng thái hậu Maria Comnena tại Nablus.

Sự cai trị của Baldwin

Raymond kết thúc thời kỳ nhiếp chính vào ngày kỷ niệm lễ đăng quang thứ hai của Baldwin: nhà vua trẻ bây giờ đã đủ tuổi. Ông đã không phê chuẩn hiệp ước của Raymond với Saladin và thay đó là tiến hành đột kích vào Damascus và các vùng xung quanh Thung lũng Beqaa. Ông bổ nhiệm Joscelin III-người chú về đằng mẹ làm Bá tước trên danh nghĩa của Edessa, và là người quản gia sau khi ông này được chuộc về ( ông bị bắt bởi người Hồi giáo). Joscelin là người có quyền thừa kế gần nhất ( đàn ông ) nhưng ông này không tuyên bố quyền thừa kế ngôi vị, vì vậy ông được đánh giá là một người ủng hộ đáng tin cậy, ông cũng đã chứng tỏ lòng trung thành thực sự của mình.

Khi còn làm nhiếp chính, Raymond của Tripoli đã bắt đầu đàm phán về việc kết hôn của công chúa Sibylla với William của Montferrat, một người anh em họ đầu tiên của Louis VII của Pháp và Frederick I, Hoàng đế La Mã Thần thánh. William đã đến vào đầu tháng Mười và trở thành Bá tước của Jaffa và Ascalon sau cuộc kết hôn của mình. Người ta hy vọng rằng ông sẽ có thể trở thành người điều hành cho nhà vua khi ông này trở thành bất lực và kế thừa ngai vàng của ông ta cùng với Sibylla.

Trong khi đó, Baldwin đã lập kế hoạch cho một cuộc tấn công vào căn cứ của Saladin ở Ai Cập. Ông đã gửi Raynald của Châtillon (cựu hoàng tử của Antioch qua hôn nhân với Constance của Antioch-họ hàng của Amalric I ) đến Constantinople làm phái viên để họp với Manuel I Comnenus, để có được sự hỗ trợ của hải quân Byzantine. Raynald lúc đó mới được thả từ nơi ông ta bị giam cầm ở Aleppo: Manuel chịu trả tiền chuộc ông ta vì ông này ( Manuel) là người cha dượng của Hoàng hậu Maria của Antioch. Manuel tìm kiếm sự phục hồi của ảnh hưởng của Chính thống giáo tại vương quốc này và sắp xếp cuộc hôn nhân của Bohemond III của Antioch với cháu gái lớn của ông-Theodora Comnena, em gái của hoàng thái hậu Maria. Reynald trở lại vào đầu năm 1177, và được khen thưởng bằng cách kết hôn với Stephanie của Milly, một nữ thừa kế góa bụa và giàu có. Cuộc hôn nhân này làm cho ông ta chở thành lãnh chúa của Kerak và Oultrejourdain. Baldwin đã cố gắng để đảm bảo rằng Reynald và William của Montferrat hợp tác để phòng thủ miền Nam. Tuy nhiên vào tháng Sáu, William qua đời ở Ascalon sau một số tuần, để lại Sibylla góa bụa đang mang thai nhà vua tương lai-Baldwin V.

Vào tháng 8 anh em họ đầu tiên của nhà vua, Philip của Flanders, đã đến Jerusalem để tham gia vào cuộc thập tự chinh. Philip yêu cầu cưới của chị gái của Baldwin để chở thành chư hầu của ông. Philip là họ hàng gần gũi nhất của về đằng nhà nội của Baldwin (ông là cháu trai của Fulk và là anh em họ đầu tiên của Baldwin, Raymond là cháu trai của Melisende và do đó là anh em họ đầu tiên của cha của Baldwin), tuyên bố nhiếp chính thay thế cho Raymond. Cour Hautetừ chối không đồng ý điều này và Baldwin của Ibelin công khai xúc phạm Philip. Bị xúc phạm, Philip rời vương quốc và thay vào đó thì ông này tiến hành các chiến dịch ở Quận quốc Antioch. Gia đình Ibelin được bảo trợ của nữ hoàng thái hậu Maria và có thể là Baldwin của Ibelin hành động theo cách này với hy vọng rằng bản thân ông sẽ được kết hôn với một trong các chị em gái của Baldwin.

Trong tháng 11, Baldwin và Raynald của Châtillon đã đánh bại Saladin với sự giúp đỡ của các Hiệp sĩ Templar ở trận Montgisard. cùng năm đó, Baldwin cho phép mẹ kế của ông được kết hôn với Balian của Ibelin, một động thái để thu phục được cả hai, nhưng nó mang những rủi ro cho tham vọng của nhà Ibelins. Với sự bảo trợ của Maria, nhà Ibelins đã cố gắng để tổ chức cho các công chúa Sibylla và Isabella kết hôn vào gia đình của họ.

Năm 1179, nhà vua đã gặp một số thất bại quân sự ở miền Bắc. Ngày 10 tháng Tư, ông đã dẫn đầu một cuộc đột kích vào bãi thả gia súc của người Hồi giáo ở Banias, nhưng bị tấn công bất ngờ bởi Farrukh Shah-cháu trai của Saladin. Baldwin không thể leo lên ngựa và để cứu ông Humphrey II của Toron-vị hộ quốc công có nhiều uy tín của vương quốc đã phải bị tử thương. Ngày 10 tháng 6, để đáp lại các cuộc tấn công bằng kỵ binh ở gần Sidon, Baldwin dẫn đầu một lực lượng cùng với Raymond của Tripoli và Odo của St Amand-Đại thủ lĩnh của các Hiệp sỹ Templar đánh trận Marj Uyun. Họ đánh bại các toán cướp và sau đó lội con sông Litani, nhưng sau đó đã bị phản kích bởi lực lượng chính của Saladin. Nhà vua (không thể đi điều khiển ngựa chạy ngược lại mà không có trợ giúp – chân tay của ông bị phong nên phải quấn băng kín mít) và ông đã được mang ra khỏi chiến trường trên lưng của hiệp sĩ hộ vệ của mình. Bá tước Raymond phải chạy trốn sang Tyre và cha dượng của vua Reginald của Sidon đã cứu được một số kẻ bỏ chạy, nhưng những người bị bắt làm tù binh bao gồm Đại thủ lĩnh của các Hiệp sỹ Templar, Baldwin của Ibelin và Hugh của Tiberias, một trong các con riêng của vợ của Raymond. Trong tháng 8 chiếc lâu đài dở dang-Ford Jacob đã bị Saladin chiếm sau một cuộc bao vây chớp nhoáng với việc tàn sát một nửa các Hiệp sỹ Templar đang đồn trú trong pháo đài.

Baldwin và Guy của Lusignan

Vào mùa hè năm 1180, Baldwin IV tổ chức kết hôn giữa Sibylla với Guy của Lusignan, anh trai của Hộ quốc công Amalric của Lusignan. Trước đó các sử gia cho rằng cuộc hôn nhân thứ hai của Sibylla là hoàn toàn do ảnh hưởng của bà mẹ nhà vua, tuy nhiên, Hamilton lập luận rằng điều này là để phản ánh những lời than phiền cá nhân của William của Tyre và của nhà Ibelins. Một kế hoạch kết hôn giữa Sibylla và Hugh III của Burgundy đã bị hỏng; Raymond của Tripoli dường như đã cố gắng để cưới cô này cho Baldwin của Ibelin để củng cố cơ sở quyền lực của mình. Một đám cưới với người nước ngoài là cần thiết cho vương quốc này, nó mang lại khả năng trợ giúp bên ngoài. Với vị vua mới của Pháp Philip II lúc này đang ở tuổi vị thành niên, tình trạng của Guy như là một chư hầu của người anh em họ-vua Henry II của Anh – người còn nợ Đức Giáo Hoàng một cuộc hành hương đền tội – là hữu ích trong khía cạnh này. Baldwin cũng cho đính hôn Isabella-em gái của ông mới 8 tuổi rưỡi với Humphrey IV của Toron, để trả một khoản nợ cứu mạng của người ông của Humphrey ở Banias và loại bỏ Isabella khỏi sự kiểm soát của mẹ cô và phe cánh nhà Ibelin.

Guy trước đó đã liên minh với Raynald, người lúc này lợi dụng vị trí của mình tại Kerak để sách nhiễu các đoàn lữ hành giữa Ai Cập và Damascus. Sau khi Saladin đã trả đũa cho các cuộc tấn công trong chiến dịch Belvoir Castle trong 1182, Baldwin IV lúc này đã bị mù và không thể đi lại, ông phải bổ nhiệm Guy làm nhiếp chính của vương quốc.

Tuy nhiên, năm 1183, Baldwin IV đã trở nên bị xúc phạm bởi hành động của Guy trong cương vị một nhiếp chính. Guy đã tham dự lễ hội cưới của Isabella (lúc đó khoảng 11 tuổi ) và Humphrey, được tổ chức tại Kerak, tuy nhiên, buổi lễ hội với các khách dự đám cưới bên trong vẫn bị gián đoạn bởi Saladin, người đã tổ chức bao vây pháo đài. Baldwin đã thống lĩnh quân đội đến cứu viện và cuộc bao vây bị dỡ bỏ, nhưng Guy đã từ chối chiến đấu với Saladin và quân đội của Saladin chỉ đơn giản là đi về nhà. Baldwin không thể chịu đựng được điều này và phế bỏ quyền nhiếp chính của Guy. Trong ô nhục, Guy đã về nghỉ tại Ascalon và mang theo vợ mình là công chúa-Sibylla đi cùng với ông ta.

Đồng làm vua với Baldwin V và cái chết của ông

Mặc dù Baldwin dường như đã có một di chúc không ác ý đối với em gái mình, Baldwin IV bổ nhiệm người cháu trai mới 5 tuổi của ông ở Montferrat như mình là người thừa kế và kế nhiệm mình với sự hỗ trợ của Agnes và chồng là Reginald của Sidon, Raymond và nhiều thủ lĩnh khác mà loại trừ Sibylla khỏi việc kế vị. Raymond trở thành người giám hộ của người thừa kế trẻ tuổi, và sau đó là nhiếp chính nếu Baldwin IV chết, nhưng bản thân Baldwin IV vẫn tiếp tục cai trị. Người cháu trai lên ngôi như là vua Baldwin V vào ngày 20 tháng 11 năm 1183.

Trong những tháng đầu năm 1184 Baldwin đã cố gắng để bãi bỏ cuộc hôn nhân giữa Sibylla và Guy. Cặp đôi này đã làm thất bại nỗ lực này bằng cách nhanh chóng chiếm giữ Ascalon và không tham dự các thủ tục bãi bỏ cuộc hôn nhân. Cuộc chinh phạt quân sự để giải vây cho Karak và các cuộc đấu đã trong nội bộ triều đình đã làm suy yếu đáng kể sức khỏe của Baldwin. Ông qua đời tại Jerusalem vào mùa xuân 1185 vài tháng sau cái chết của Agnes-mẹ của ông ở Acre vào cuối năm 1184. Mặc dù thường xuyên bị ảnh hưởng của bệnh phong và phải cầm quyền cùng với các nhiếp chính, Baldwin đã có thể tự mình duy trì làm vua lâu hơn thời gian mà người ta dự kiến. Như đã được quyết định, Baldwin V đã kế nhiệm ngai vàng của chú của mình và Raymond của Tripoli trở thành nhiếp chính.

Trận Montgisard

Tóm tắt trận đánh

Thời gian của trận đánh: Ngày 25 tháng 11 năm 1177
Địa điểm: Montgisard, gần Ramla
Kết quả: Quân Thập tự chinh chiến thắng chiến lượcCác bên Tham chiến

Người Thiên chúa giáo: Vương quốc Jerusalem, Hiệp sĩ Templar

Chỉ huy :

Baldwin IV của Jerusalem
Raymond III của Tripoli
Odo de St Amand
Raynald của Châtillon
Lực lượng : 475 Hiệp sỹ Templar, Vài nghìn lính bộ binh

Thương vong và thiệt hại : 1.100 người thiệt mạng, 750 người bị thương

Người Hồi giáo: Triều Ayyubid

Chỉ huy : Saladin

Lực lượng : Khoảng 26.000 quân

Thương vong và thiệt hại : Khoảng 23,000 người bị giết và bắt tù binh

Trận Montgisard là trận chiến giữa Triều Ayyubids và Vương quốc Jerusalem vào ngày 25 tháng 11 năm 1177. Vào năm 16 tuổi vua Baldwin IV đang bị ảnh hưởng một cách trầm trọng bởi bệnh phong, nhưng ông vẫn dẫn đầu một số lực lượng Thiên chúa giáo chiến đấu chống lại quân đội của Saladin. Lực lượng Hồi giáo đã bị phá hủy và thương vong của họ là rất lớn, chỉ có một phần quân đội đã cố gắng chạy trốn đến được nơi an toàn.

Bối cảnh của trận đánh

Năm 1177, vua Baldwin IV và Philip của Alsace, người vừa đặt chân vào cuộc hành hương, đã lên kế hoạch liên minh với đế quốc Byzantine cho một cuộc tấn công bằng hải quân vào Ai Cập nhưng không số nào trong các kế hoạch này được thực hiện.

Trong khi đó, Saladin lại có kế hoạch xâm lược của riêng mình vào Vương quốc Jerusalem từ Ai Cập. Biết được kế hoạch này của Saladin, Baldwin IV rời Jerusalem và mang theo William của Tyre và đi cùng chỉ với có 375 hiệp sĩ để cố gắng lập một phòng tuyến ở Ascalon, nhưng Baldwin đã bị chặn lại bởi một đội quân được cử đi bởi Saladin, người mà theo William của Tyre, phải có đến 26.000 lính. Cùng đi với Baldwin có Raynald của Châtillon, lãnh chúa của Oultrejordain, người chỉ mới được thả từ nơi bị giam cầm ở Aleppo trong năm 1176. Raynald là một kẻ thù quyết liệt của Saladin và là người chỉ huy quân đội có hiệu quả thay mặt vua Baldwin lúc này quá đau ốm với bệnh phong. Ngoài ra với quân đội Thiên chúa giáo còn được giúp đỡ bởi Odo de St Amand, Đại thủ lĩnh của Hiệp sĩ Templar, Baldwin của Ibelin-anh trai của Balian ( người chỉ huy trận Jerusalem), Reginald của Sidon và Joscelin III của Edessa. Một lực lượng Templar nữa đã cố gắng để gia nhập với Baldwin ở Ascalon, nhưng họ cũng lại bị bao vây tại Gaza.

Trận chiến

Saladin tiếp tục cuộc hành binh của ông về hướng Jerusalem và nghĩ rằng Baldwin sẽ không dám bám theo ông chỉ với một toán quân lèo tèo vài người như vậy. Ông đã tấn công các vùng Ramla, Lydda và Arsuf, nhưng vì cho rằng Baldwin không phải là một mối nguy hiểm, ông cho phép quân đội của mình dàn trải ra trên một diện tích lớn để cướp bóc và tìm kiếm lương thực. Tuy nhiên, Saladin lại chưa biết rằng lực lượng mà ông để lại để ngăn chặn vị vua của Jerúalem là không đủ và bây giờ cả Baldwin và các Hiệp sỹ Templar đã hành quân để đánh chặn ông ta ( Saladin) trước khi ông tới được Jerusalem.

Các Kitô hữu, được dẫn đầu bởi nhà vua Baldwin IV đã đuổi theo người Hồi giáo dọc theo bờ biển, cuối cùng đã chộp được kẻ thù của họ ở Mons Gisardi, gần Ramla. Saladin đã bị tấn công hoàn toàn bất ngờ. Quân đội của ông đang ở trong tình trạng lộn xộn, không có đội hình chiến đấu và mệt mỏi từ một cuộc hành quân kéo dài. Quân đội Hồi giáo, trong trạng thái hoảng loạn, đã tranh giành để lập phòng tuyến chiến đấu chống lại kẻ thù. Tuy nhiên, ở phía xa, quân đội Kitô giáo hoàn toàn câm lặng. Vua Baldwin đã ra lệnh đưa di tích của True Cross lên ở phía trước của các hàng quân. Nhà vua với một cơ thể thiếu niên đã bị tàn phá ghê gớm bởi bệnh phong, đã xuống ngựa dưới sự giúp sức của các võ sỹ hộ vệ của mình và quỳ xuống trước cây thánh giá. Ông đã cầu nguyện để Thiên Chúa mang cho họ chiến thắng và đứng lên trên đôi chân của mình để cổ vũ quân đội. Khi quân đội của Saladin vội vàng để chuẩn bị chiến đấu, Baldwin đã bắt đầu cho phi ngựa tấn công trên mặt cát.

Quân đội Jerusalem lao ầm ầm như núi lở vào người Hồi giáo lúc này vẫn đang cố gắng nhanh chóng sắp xếp đội hình và gây thương vong rất lớn cho người Hồi giáo. Nhà vua chiến đấu với hai bàn tay băng bó để che dấu vết thương khủng khiếp và nỗi đau đớn của mình và lao trận hỗn chiến dày đặc, quân đội của Saladin đã nhanh chóng bị áp đảo. Họ đã cố gắng chạy trốn nhưng rất khó để trốn thoát. Bản thân Saladin phải tránh để bị bắt sống bằng cách nhảy lên trên lưng một con lạc đà đua.

Vua Baldwin đã chiến thắng hoàn toàn. Ông đã hoàn toàn phá hủy lực lượng xâm lược, chiếm lại được đoàn hành lý của Saladin và giết chết Ahmad-cháu trai của ông (con trai của Taqi ad-Din).

Baldwin đã cho truy kích Saladin cho đến khi màn đêm xuống và sau đó rút về nghỉ ngơi ở Ascalon. Bị ngập lụt bởi mười ngày mưa lớn và đau khổ mất đến khoảng chín mươi phần trăm của quân đội của mình, bao gồm cả vệ sĩ riêng người Mamluk của ông, Saladin bỏ chạy trở lại Ai Cập và bị quấy rối bởi người Bedouins trên đường rút quân. Chỉ có chưa đến một phần mười quân đội của ông đã quay được trở lại Ai Cập cùng với ông ta.

Hậu quả

Baldwin kỷ niệm chiến thắng của mình bằng cách dựng một tu viện Benedictine trên chiến trường, dành riêng cho St Catherine of Alexandria, người có ngày lễ trùng hợp vào ngày xẩy ra trận đánh. Tuy nhiên, đó là một chiến thắng khó nhọc; Roger des Moulins, Đại thủ lĩnh của Hiệp sĩ Hospitaller, ghi lại rằng phe Thập tự quân có 1.100 người bị giết và 750 người bị thương và trở về được nhà. Saladin, vì sợ rằng liên minh lỏng lẻo của Ai Cập với chư hầu Syria của ông sẽ bị tan vỡ bởi thất bại này nên đã cho tuyên truyền rằng các Kitô hữu đã bị bại trận trong trận chiến này.

Trong khi đó, Raymond III của Tripoli và Bohemund III của Antioch đang hợp tác với Philip của Alsace để tiến hành một cuộc chinh phạt hiểm vào thành phố Ha-rim ở Syria, những cuộc vây hãm Ha-rim kéo dài đến tận năm 1178, và việc Saladin bị đánh bại tại Montgisard đã ngăn cản ông này giải vây cho chư hầu Syria của mình. Mặc dù vậy chit sau một năm tương đối hòa bình, vào năm 1179 Saladin đã có thể tiếp tục các cuộc tấn công của mình trên vương quốc Jerusalem, bao gồm cả chiến thắng của ông ta tại trận Marj Ayyun năm đó. Sự kiện này đã dẫn đến các cuộc chiến liên tục kéo dài gần một thập kỷ mà đỉnh cao của chiến thắng của Saladin trước Thập tự quân tại trận Hattin vào năm 1187.

Trận Ayyun Marj

Tóm tắt trận đánh

Thời gian của trận đánh: Ngày 10 tháng 6 năm 1179
Địa điểm: Marjayoun, Lebanon
Kết quả: Chiến thắng chiến lược của Triều Ayyubid

Các bên Tham chiến

Người Thiên chúa giáo:Vương quốc Jerusalem ,Hiệp sĩ Templar

Chỉ huy :

Baldwin IV của Jerusalem
Odo de St Amand của Hiệp sỹ dòng Đền
Raymond III của Tripoli

Lực lượng: Vài trăm Hiệp sỹ + Hiệp sỹ thánh chiến, Một nghìn lính bộ binh

Thương vong và thiệt hại : Không có con số chính xác nhưng thiệt hại nặng nề
Odo de St Amand của Hiệp sỹ dòng Đền bị bắt sống Baldwin của Ibelin ( anh trai của Bailan Ibelin bị bắt sống)

Người Hồi giáo: Triều Ayyubid

Chỉ huy : Saladin

Lực lượng : Không rõ số lượng nhưng lực lượng kỵ binh đông hơn quân Thiên chúa giáo nhiều lần

Thương vong và thiệt hại : Tử vong cũng tương đương nhưng không bị bắt tù binh

Trận Marj Ayyun hay còn được gọi là trận Marj Ayyoun, là một trận đánh của quân đội của Triều đình Ayyubid dưới sự chỉ huy của Saladin đã đánh bại một đội quân Thập tự chinh do vua Baldwin IV của Jerusalem dẫn đầu vào ngày 10 tháng 6 năm 1179. Nhà vua Kitô giáo vì tàn tật do bệnh phong đã suýt bị bắt trên đường tháo chạy.

Bối cảnh

Năm 1177 quân đội Ayyubid của Saladin xâm lược Vương quốc Jerusalem của người Latin từ Ai Cập. Trong năm đó, vua Baldwin đã tấn công bất ngờ và đánh bại quân đội Ai Cập-Saracen trong trận Montgisard.

Năm 1179 một lần nữa Saladin lại tiến hành xâm chiếm các thành bang của Thập tự quân từ Damascus. Ông lập căn cứ cho quân đội của mình ở Banias và cử các lực lượng đột kích để cươ ́p bóc làng và phá hoại cây trồng ở gần vùng Sidon và các vùng ven biển. Nông dân và người nghèo khổ ở thành thị bị người Saracen đột kích, cướp phá nên không thể trả tiền thuê đất cho các lãnh chúa người Frank của họ. Trừ phi bị chặn đứng, nếu không chính sách phá hoại của Saladin sẽ làm suy yếu vương quốc Thập tự chinh.

Để đáp lại, Baldwin IV đã cho chuyển quân đội của mình đến Tiberias trên biển Galilee. Từ đó ông hành quân về phía bắc-tây bắc tới gần tòa thành của Safed. Tiếp tục theo cùng một hướng, ông đã đến được lâu đài Toron ( Tebnine ), khoảng 13 dặm (21 km) về phía đông-đông nam của Tyre. Cùng với các Templar Knights do Odo của St Amand và một lực lượng từ Công quốc Tripoli do Bá tước Raymond III chỉ huy, Baldwin di chuyển về phía đông bắc.

Trận đánh

Từ phía đông của vùng ven biển, quân Thập tự chinh đã nhìn thấy chiếc lều của Saladin ở phía xa. Baldwin và các quý tộc của ông đã quyết định tiến xuống vùng đồng bằng và tấn công cùng một lúc. Khi quân đội của người Frank di chuyển xuống phía dưới, quân kỵ binh đã sớm bỏ lại những người lính bộ. Sau khi bị chậm trễ một vài giờ, đội quân Thập tự chinh tập hợp lại, sau đó họ gặp và dễ dàng đánh bại các lực lượng đột kích của người Saracen, những người trở về từ các cuộc đột kích của họ.

Tin rằng mình đã chiến thắng cuộc chiến này, người Frank cho phép các lính canh của họ nghỉ ngơi. Các hiệp sĩ của Raymond và Odo của St Amand của Templar chuyển lên một vùng đất cao giữa Ayyun Marj và sông Litani. Lính bộ binh của Thập tự quân cũng nghỉ nghơi để bù cho cuộc hành quân vội vã của họ trước đó trong ngày.

Đột nhiên, đội quân chính của Saladin đã bất ngờ tấn công vào quân Thập tự chinh vốn không được chuẩn bị và đánh bại họ một cách nặng nề. Các nhà phân tích quân sự thời gian đó đổ lỗi thất bại cho Odo của St Amand, người đã bị bắt sống tại trận. Vua Baldwin hầu như suýt nữa không kịp chạy thoát, ông không thể nhảy lên ngựa vì bị bệnh tê liệt của mình ( do bị bệnh phong), ông đã được mang đến nơi an toàn bởi một hiệp sĩ, các vệ sĩ của ông mở một đường máu xuyên qua người Saracens. Nhiều người Frank sống sót sau cuộc chiến bỏ chạy tới nơi trú ẩn tại lâu đài Beaufort (Qala’at tro-Shaqif Arnoun) ở khoảng năm dặm về phía tây nam của chiến trường.

Hậu quả

Saladin ngay lập tức đã lợi dụng chiến thắng của mình để phá hủy vừa được thành lũy Le Chastellet vừa mới được xây dựng xong ở trong trận Ford Jacob. Trong những năm sau trận Marj Ayyun, các thủ lĩnh Frank trở nên thận trọng hơn và hai chiến dịch tiếp theo-các trận Belvoir Castle (1182) và trận Al-Fule (1183) công việc phòng thủ được thực hiện một cách nghiêm túc.

Trận Ford Jacob

Tóm tắt trận đánh

Thời gian của trận đánh: năm 1179
Địa điểm: Gần sông Jordan phía bắc Israel ngày nay
Kết quả: Triều Ayyubid Chiến thắng

Các bên Tham chiến

Người Thiên chúa giáo:Vương quốc Jerusalem

Chỉ huy : Baldwin IV của Jerusalem

Lực lượng : 1.500 người

Thương vong và thiệt hại : 700 người bị giết, 800 bị bắt sống

Người Hồi giáo:  Triều Ayyubid

Chỉ huy : Saladin

Lực lượng : Không rõ về số lượng nhưng đông hơn phe Thiên chúa giáo nhiều lần

Thương vong và thiệt hại : Không có con số chính xác

Jerusalem được cho là một trong những thành phố linh thiêng nhất trên thế giới. Vì lý do này mà người Kitô giáo và người Hồi giáo đã liên tục chiến đấu với nhau để kiểm soát thành phố của vùng Đất Thánh trong nhiều thế kỷ. Khoảng năm 1095, các Kitô hữu từ châu Âu đã hành quân đến thánh địa để kiểm soát Jerusalem. Vào năm 1099, quân Thập tự chinh đã đạt được mục tiêu của họ và chiếm Jerusalem từ tay người Hồi giáo. Mặc dù tình trạng bất ổn hoành hành trên vùng Đất Thánh sau cuộc Thập tự chinh đầu tiên, quân Thập tự chinh liên tục đánh bại bất cứ quân đội Hồi giáo nào chống lại họ trong nhiều năm. Saladin, một trong những nhân vật nổi tiếng nhất trong lịch sử Hồi giáo, đã có thể chiếm lại Jerusalem năm 1187 sau gần một thế kỷ dưới sự cai trị của người Kitô giáo. Nhiều học giả tin rằng việc quân Hồi giáo chiếm lại được thành phố Đất Thánh có thể được bắt nguồn từ chiến thắng của người Hồi giáo trước Thập tự quân tại pháo đài Ford Jacob ở Syria, trận chiến xảy ra vào năm 1179 giữa Saladin-vua Hồi giáo và vua Baldwin IV-Thiên chúa giáo. Địa điểm này còn được gọi trong tiếng Latin là Vadum Iacob và trong tiếng Do Thái hiện đại là Ateret.

Những người tham chiến trong năm 1179 đấu tranh cho quyền lực và sự khởi đầu của họ

Saladin, một trong những nhà cai trị Hồi giáo nổi tiếng nhất, ông là vua của Ai Cập và vào năm 1174, ông trở thành sultan của Syria sau khi tiếp quản thành phố Damascus. Sau khi lên nắm chính quyền ở Syria, Saladin cam kết sẽ tạo thành một đế quốc Hồi giáo xung quanh Jerusalem. Đương nhiên, mục tiêu cuối cùng là để chiếm lại thành phố Thánh từ tay của quân Thập tự chinh, một bước quan trọng hướng tới sự kết thúc của Jihad ( phong trào Thánh chiến của người Hồi giáo). Tuy nhiên, kế hoạch (Jihad ) này cũng bao gồm việc chiếm được vùng Đất Thánh mà không có xung đột quân sự lớn. Baldwin IV đã kiểm soát được Vương quốc Jerusalem ở tuổi mười ba sau cái chết của cha mình là Amalric I trong năm 1174, cùng năm mà Saladin lên nắm quyền. Baldwin là một tín đồ trung thành của Kitô giáo và kết quả đây là vấn đề lớn nhất mà Saladin phải vượt qua. Mặc dù Baldwin là một nhà lãnh đạo mạnh mẽ và giàu có nhưng ông lại bị mắc bệnh phong ở một độ tuổi rất trẻ. Vì thế nên đôi khi nếu được mô tả trong bộ phim và tranh vẽ, Baldwin sẽ được mô tả là có mang một chiếc mặt nạ sắt để dấu đi những đám loét trên khuôn mặt.

Sau khoảng ba năm tại vị trên ngai vàng tại Jerusalem, Baldwin đã phải đối mặt với thách thức quân sự đầu tiên rất mình. Saladin xâm chiếm vương quốc Thiên chúa giáo trong khoảng năm 1177 và ép quân Thập tự chinh phải tháo chạy. Mặc dù Saladin đã có gần hai mươi năm chinh chiến và có kinh nghiệm hơn rất nhiều so với Baldwin, vị quốc vương trẻ trung của người Kitô giáo vẫn không bị lúng túng trong những tình huống căng thẳng. Baldwin và quân Thập tự chinh đã đánh bại một cách tuyệt đối người Hồi giáo tại trận Mont Gisard vào ngày 25 tháng 11 năm 1177. Một học giả người đã từng tham gia Thập tự chinh đã viết về trận Mont Gisard, “[trận đánh] là một thành tựu nổi bật của Baldwin – đây là thất bại duy nhất trong chiến trận mà Saladin đã phải nhận trước khi gặp phải Richard Lionheart và cuộc Thập tự chinh lần thứ ba “. Cuối trận đánh, Saladin đã buộc phải bỏ chạy trở lại Ai Cập sau khi thoát chết trong gang tấc. Mặc dù chiến thắng này cũng gây thiệt hại to lớn cho đội quân của Baldwin, hình ảnh của ông trên toàn vương quốc được nâng cao. Trong thực tế, một số Kitô hữu ở vùng Cận Đông đã thậm chí còn tin rằng “‘phép màu’ của chiến thắng của ông [tại Mont Gisard] xuất hiện như là một dấu hiệu của sự ủy nhiệm của Thiên Chúa.”

Jacob Ford và tòa lâu đài Chastellet

Jacob Ford nằm ở vị trí khoảng một trăm dặm về phía bắc Jerusalem và tại con sông Jordan, nó chính là một con sông chính cắt ngang một trong những tuyến đường chính giữa Acre, Israel và Damascus. Jacob Ford cũng là một trong các cửa an toàn nhất của Jordan và vì vị trí và tầm quan trọng của nó, nó đã bị chiếm đóng bởi cả người Kitô giáo Palestine và Hồi giáo Syria như là một ngã tư lớn giữa hai nền văn minh. Trong thế kỷ thứ mười hai, Baldwin và Saladin liên tục tranh cãi về khu vực mà Jacob Ford được định vị. Như một động thái chiến lược táo bạo và là kết quả của chiến thắng quân sự của mình tại Mont Gisard, Baldwin đã quyết định hành binh đến Jacob Ford và xây dựng một pháo đài phòng thủ trên lãnh thổ của mình. Nhà vua và quân Thập tự chinh của ông đưa ra giả thuyết rằng đó là một pháo đài có thể bảo vệ Jerusalem khỏi một cuộc xâm lư.ợc từ phía Bắc và gây áp lực tới các đồn lũy của Saladin ở Damascus. Giữa tháng 10 năm 1178 và tháng 4 năm 1179, Baldwin đã bắt đầu giai đoạn đầu tiên xây dựng một hệ thống phòng thủ mới của ông, một pháo đài gọi là Chastellet tại Jacob Ford. Trong khi công cuộc xây dựng đang được tiến hành, Saladin đã nhận thức đầy đủ được ý nghĩa của tòa pháo đài này, ông sẽ phải vượt qua tại của Ford Jacob nếu ông ta còn muốn bảo vệ Syria và chinh phục Jerusalem. Vào lúc đó, ông đã không thể ngăn chặn công trình xây dựng của Chastellet bằng biện pháp quân sự bởi vì một phần lớn quân đội của ông đã đang đóng quân ở miền bắc Syria, để đánh dẹp người Hồi giáo nổi loạn. Một trong những tác giả Hồi giáo viết, “Saladin đã luôn luôn cho vẽ những bức tranh miêu tả mình là nhà vô địch của người Hồi giáo trong việc chống lại những kẻ xâm nhập từ châu Âu, mặc dù trong thực tế, ông đã dành rất nhiều, nếu không nói là gần như toàn bộ sự nghiệp của mình để tham gia vào một cuộc chiến tranh chống lại … những người Hồi giáo khác” Do đó, vị sultan quay sang tìm cách hối lộ và sẽ nộp 60.000 dinar nếu Baldwin ngừng xây dựng pháo đài. Baldwin đã từ chối, nhưng Saladin đề nghị một giá mới là 100.000 dinar. Vị vua Thiên chúa giáo trẻ tuổi nhưng cứng đầu lại từ chối một lần nữa và tiếp tục xây dựng Chastellet. Đến mùa hè 1179, Baldwin lực lượng đã xây dựng được một bức tường đá rất lớn. ” tòa lâu đài lúc này có tường cao ghê gớm hơn 10 mét-những gì mà tài liệu Ả Rập sau này mô tả là một thành lũy vững chắc của đá và sắt” – và một tháp, nhưng nó vẫn còn là trong quá trình xây dựng dở dang”.

Kế hoạch và chiến thuật

Sau khi Baldwin từ chối cả lần hai hối lộ, Saladin chuyển sự chú ý ra khỏi cuộc nổi dậy ở miền bắc Syria và tập trung vào Ford Jacob và tòa lâu đài Chastellet. Ông đã hoàn toàn nhận thức được rằng bất kỳ cuộc đàm phán thương lượng tiếp theo hoặc sẽ chỉ là vô ích và rằng ông chỉ lãng phí thêm thời gian, thời gian mà Baldwin rất cần để hoàn thành tòa pháo đài khổng lồ của mình. Năm 1179, chỉ vài tháng sau khi công trình xây dựng Chastellet bắt đầu, Saladin đã triệu tập một đội quân Hồi giáo lớn để xuống phía đông nam của Ford Jacob. Kế hoạch cực kỳ là đơn giản: bao vây lâu đài và cư dân của nó trước khi quân tiếp viện từ Jerusalem hoặc bất kỳ vùng lãnh thổ lân cận của nó có thể đến nơi. Mặt khác Baldwin lại đang ở Tiberias, một tỉnh nằm trên biển Galilee, xa khoảng gần một nửa ngày hành quân từ Ford Jacob. Nếu có bất kỳ cuộc tấn công nào vào dự án của ông, quân tiếp viện sẽ có thể đến nơi tương đối nhanh chóng. Hơn nữa, pháo đài tại của Ford Jacob, ít nhất là những gì đã được hoàn thành của nó là tương đối mạnh và có khả năng có thể cầm cự cho đến khi cứu trợ có thể đến trong trường hợp xảy ra một cuộc bao vây. Một học giả đã từng tham gia những cuộc thập tự chinh khẳng định rằng: ” cuộc bao vây được triển khai như một cuộc chạy đua – người Hồi giáo phải phá vỡ các thành lũy phòng thủ của Ford Jacob trước khi lực lượng Latin tới” ( nếu không họ sẽ bị nghiền thành bột)

Trận chiến tại Ford Jacob và chiến thắng của Saladin

Ngày 23 tháng 8 1179, Saladin đến Ford Jacob và ra lệnh cho quân đội của mình bắn phá tòa lâu đài bằng cung tên và do đó bắt đầu cuộc bao vây vào tòa lâu đài. Trong khi các cung thủ làm phân tâm những người đàn ông bên trong pháo đài, các thợ mỏ đã đào một đường hầm để chọc thủng bức tường đá ở góc đông bắc của Chastellet. Khi đường hầm đã được đào xong, người của Saladin đã cho một số lớn gỗ xuống đường hầm và châm lửa đốt. Quá trình này, được gọi là sự hủy hoại, đây là một phương pháp người ta đốt nóng chân các bức tường thành từ một đường hầm ngầm khiến các bức tường cuối cùng sụp đổ dưới trọng lượng của chúng. Sự hủy hoại đầu tiên đã không thành công cho Saladin và quân đội của ông. Vì vậy, các binh sĩ bị buộc phải dập lửa bằng những xô nước và họ được trả một đồng vàng cho mỗi thùng để làm như vậy. Sau khi đám cháy được dập tắt, những người thợ mỏ lại tiếp tục vào và hướng dẫn cách để đốt lửa. Đồng thời, Baldwin, có được biết về vụ tấn công này, ông liền kêu gọi quân tiếp viện từ Jerusalem. Tuy nhiên, thông tin liên lạc giữa Baldwin và Chastellet đã bị chậm chễ và vào lúc ông ta (Baldwin) biết thì cuộc bao vây đã được tiến hành trong nhiều ngày.

Lực lượng bên trong lâu đài của Baldwin bắt đầu củng cố các cửa chính trong tòa lâu đài. Ngay sau đó, người Hồi giáo châm lại đám cháy trong đường hầm dưới chân bức tường của tòa lâu đài và bức tường sụp đổ. Kết quả là, các “mọi nỗ lực của quân Thập tự chinh tăng cường cho tòa lâu đài đều vô ích và khoảng sáu ngày sau khi cuộc bao vây bắt đầu, Saladin và quân đội của ông đã tiến vào được Chastellet. Vào ngày 30 tháng 8 năm 1179, quân xâm lược người Hồi giáo đã cướp phá tòa lâu đài tại Ford Jacob và giết chết hầu hết các cư dân của nó. Cùng ngày hôm đó, chậm hơn một tuần sau khi quân tiếp viện được gọi đến, Baldwin và đội quân tiếp viện của ông mới xuất phát từ Tiberias, từ xa họ chỉ còn thấy trên chân trời các làn khói đen kịt tỏa lên trực tiếp từ Chastellet. Rõ ràng, họ đã đến quá muộn để cứu 700 hiệp sĩ, kiến trúc sư và công nhân xây dựng, những người đã thiệt mạng và 800 người khác bị bắt giam. Baldwin và quân tiếp viện của ông quay trở lại về Tiberias và Saladin đã ra lệnh phần còn lại của pháo đài phải được phá bỏ.

Hậu quả

Mặc dù Saladin tuyên bố đây là một chiến thắng quân sự cho Chastellet, quân đội của ông lại là nạn nhân của một kẻ thù khác. Ngay sau cuộc bao vây, 700 quân Thập tự chinh của Ford Jacob đã bị giết chết và được đặt vào một cái hố. Do nhiệt độ tháng 8 các xác chết trong hố đã bắt đầu phân rã và kết quả là một bệnh dịch phát sinh gây thiệt mạng một số sĩ quan cao cấp của Saladin, khoảng mười người chết vì bệnh dịch. Tuy nhiên, thiệt hại đã không làm giảm bớt sức mạnh quân sự của Saladin . Năm 1180, Saladin và Baldwin đã ký thỏa thuận ngừng bắn. Sau đó, bảy năm sau khi hòa bình được thiết lập giữa những người Hồi giáo và quân Thập tự chinh, Saladin chiếm lại Jerusalem từ các Kitô hữu sau trận Hattin năm 1187. Một số học giả cho thấy sau thành công của cuộc chinh phạt của Saladin ở Ford Jacob năm 1179, Jerusalem trở nên rất dễ bị chiếm vì “việc xâm nhập vào vương quốc này theo cách vượt sông Jordan ngay phía nam của hồ Tiberias … như Saladin đã từng sử dụng trong các năm 1182, 1184 và 1187 và nó hầu như không được bảo vệ “. Saladin vẫn thu được các thành công về quân sự và chính trị trong vùng Cận Đông sau khi chiếm Jerusalem cho đến khi có một cuộc chạm trán quân sự với Richard the Lionheart, sau đó ông đã buộc phải ký hiệp ước hòa bình vào năm 1192. Ông qua đời trong năm sau đó. Mặt khác, Baldwin IV đã không làm được bất kỳ điều gì để ngăn chở Saladin. Bệnh phong đã tàn phá cơ thể của vị vua trẻ tuổi và ông đã qua đời ở tuổi 23 trong năm 1185 và ông đã không thể phục thù cho bản thân mình hoặc cho quân Thập tự chinh của mình vì thất bại của ông tại Ford Jacob.

Cuộc vây hãm Kerak
Trận vây hãm Kerak đã diễn ra năm 1183 với việc lực lượng của tấn công Saladin bị đẩy lùi từ bức tường thành của Thập tự quân.
Kerak là một thành lũy của Raynald của Châtillon, lãnh chúa của Oultrejordain, ở 124 km về phía Nam của Amman. Pháo đài được xây dựng năm 1142 bởi Pagan Butler, Lãnh chúa của Montreal. Trong khi Raynald cai trị, có một số hiệp ước tồn tại giữa Kitô hữu và quốc gia Hồi giáo trong Đất Thánh, không ai kể cả Raynald đủ dũng cảm để phá vỡ hiệp ước. Nhưng rồi cuối cùng đến năm 1183 khi ông này tổ chức một chuyến chinh phạt xung quanh Biển Hồng Hải . Ông ta đã chiếm được thị trấn Aqaba, nơi cung cấp cho ông ta một căn cứ để tung ra các hoạt động tấn công vào những thành phố linh thiêng nhất của Hồi giáo như Mecca. Saladin-vị thủ lãnh của các lực lượng Hồi giáo, không thể chịu đựng được điều này và quyết định bao vây lâu đài của Raynald.

Cuộc vây hãm và cứu viện

Người Hồi giáo đã tìm cách để có Kerak nhiều năm, nhưng bây giờ họ kéo dài đến điểm phòng thủ của nó phá vỡ. Tại một điểm, 9 máy phóng máy bay đã được bắn phá các bức tường và dân cư bên trong.

Bên trong bức tường, một cuộc hôn nhân hoàng gia đang diễn ra. Humphrey IV của Toron, trai riêng của vợ Raynald và là người thừa kế của bà đang nắm bàn tay của Isabella của Jerusalem-em gái cùng cha khác mẹ với nhà vua. Khi đám cưới lễ tiếp tục, Saladin ra lệnh cho quân lính của mình tránh không bắn phá vào khu nhà của đôi vợ chồng trẻ, nhưng áp lực vẫn tiếp tục đè lên Kerak. Vài tín sứ đã cố gắng để thoát ra khỏi thị trấn và đưa thư xin cứu viện tới vua Baldwin IV.

Baldwin ngay lập tức hành quân với một lực lượng cứu viện cùng với nhiếp chính của mình, Raymond III của Tripoli. Mặc dù bị bệnh phong từ khi còn nhỏ Baldwin vẫn quyết tâm làm thất bại nỗ lực của Saladin là như vậy mà ông đã dẫn cá nhân, mặc dù ông đã phải được khênh đi trên một chiếc cáng. Lực lượng Thiên chúa giáo đến nơi khi Saladin vẫn còn đang dở tấn công vào các công kiên cố. Biết rằng nếu tiếp tục liều thì có thể ông sẽ bị nghiền giữa quân đội của quốc vương và các bức tường của Kerak, nên ông đành dỡ bỏ cuộc bao vây

Nhà vua của vương quốc Jerusalem tiếp tục đối đầu với đối thủ Hồi giáo của ông trong một thời gian nữa, mặc dù người ta biết rõ ràng rằng ông không thể tồn tại lâu hơn nữa bởi vì căn bệnh của chính mình. Chỉ 5 năm sau khi đối thủ lớn của Saladin ra đi, Vương quốc đã sụp đổ.

Hậu quả

Saladin Kerak trở lại một lần nữa vào 1184, với kết quả tương tự. Kerak vẫn là một thành lũy của Thập tự quân và là một biểu tượng của phương Tây trong khu vực cho đến khi nó thất thủ trước người Hồi giáo trong năm 1263 ( tức là sau gần một thế kỷ nữa). Lần sau, quân Thập tự chinh đã đối mặt với một cuộc bao vây lớn ở chính các bức tường của thành phố Thánh Địa Jerusalem.

Trận Cresson

Trận Cresson là một trận đánh nhỏ xảy ra trong ngày 1 tháng 5 năm 1187, tại khúc đường cong Cresson, hoặc Ain Gozeh ở gần Nazareth. Đây là một khúc dạo đầu cho sự thất bại quyết định của Vương quốc Jerusalem ở trận Hattin hai tháng sau đó.

Bối cảnh

Tình hình chính trị căng thẳng ở Jerusalem vì phe phái kình địch giữa hai chi nhánh của nhà vua. Raymond III của Tripoli, người trước đây là nhiếp chính cho vương quốc này từ chối chấp nhận Guy của Lusignan làm vua, sau cái chết của vua con-Baldwin V (con trai riêng của vợ Guy) trong năm trước. Gerard của Ridefort, Đại thủ lĩnh của Hiệp sĩ Templar, Roger de Moulins Đại thủ lĩnh của Hiệp sĩ Hospitaller, Balian của Ibelin, Joscius, Đức tổng-giám-mục của Tyre và Reginald Grenier, lãnh chúa của Sidon đã được gửi đến Tiberias để đàm phán với Raymond.

Trận chiến

Trong khi đó, Saladin gửi một đương đối nhỏ lực lượng nhỏ đến Tiberias do al-Afdal, con trai của ông, để tìm kiếm sự trả thù cho một cuộc tấn công vào một đoàn người Hồi giáo của Raynald của Châtillon. Raymond III Saladin hy vọng sẽ đồng minh với ông ta để chống lại Guy và cho phép lực lượng này đi qua Tiberias trên 30 tháng 4, mặc dù ông đã cảnh báo các tín hữu sự hiện diện của đội quân này ở Nazareth. Biết được sự kiện này, Gerard nhanh chóng tập hợp một đội quân nhỏ, bao gồm các đơn vị đồn trú của các Hiệp sỹ Templar từ Qaqun và al-Fulah và các hiệp sĩ của hoàng gia đóng quân tại Nazareth, tổng số chỉ có khoảng 130 hiệp sĩ; Balian đã dừng lại trên đường đi tới thái ấp của ông và đến về Nablus và Reginald cũng đi nơi khác. Lực lượng của Saladin, do con trai ông, bao gồm khoảng 7000 người.

Gerard đến được Cresson ngày 1 tháng 5. Quấn Itinerarium Peregrinorum et Gesta Ricardi Regis , một biên niên sử của cuộc Thập tự chinh lần thứ ba có ghi:

Vì vậy, Saladin tập hợp lực lượng vũ trang của mình và gấp rút hành quân vào Palestine. Ông đã cử tiểu vương của Edessa, Manafaradin [ al-Muzaffar ] tiến về phía trước với 7000 người Thổ Nhĩ Kỳ để tàn phá Đất Thánh. Bây giờ, khi này Manafaradin tiến vào khu vực Tiberias, ông tình cờ gặp phải Đại thủ lĩnh của Tu sỹ dòng Đền-Gerard de Ridefort và Đại thủ lĩnh của Tu sỹ Cứu tế-Roger des Moulins. Trong trận chiến bất ngờ sau đó, ông ta đặt đẩy lui được người đầu tiên và giết chết người thứ hai..

Người Hồi giáo giả vờ rút lui, một chiến thuật phổ biến mà không cần phải lừa Gerard, tuy nhiên, ông này ra lệnh tấn công mà không quan tâm đến lời khuyên của Roger và các hiệp sĩ đã bị tách ra từ những người lính. Người Hồi giáo đã đẩy lui một cách dễ dàng một cuộc tấn công trực tiếp bằng giáo và giết chết cả các hiệp sĩ lúc này đã kiệt sức và sau đó họ quét sạch số lính bộ binh còn lại. Gerard bị thương nhưng sống sót, tuy nhiên, hầu như tất cả những người khác đều đã thiệt mạng. Tuy nhiên theo quấn sử Itinerarium, Gerard đã không ham truy đuổi đối phương mà thực sự ông này bị mắc bẫy mà không biết và ông ta cũng là nạn nhân của cuộc tấn công của mình. Itinerarium cũng ghi lại sự thành công của một Hiệp sỹ Templar có tên là Jakelin de Mailly, người mà sau khi tất cả các đồng đội của ông đã bị giết thì ông này vẫn chiến đấu đơn thương độc mã chống lại các đám đông người Hồi giáo cho đến khi kiệt sức và ngã gục xuống.

Balian còn đến đó sau một ngày sau và ông cũng đã dừng lại tại Sebastea để chào mừng một ngày lễ. Sau khi đến được tòa lâu đài La Fève, nơi mà các Hiệp sỹ Templar và Hospitaller cắm trại, ông thấy rằng nơi này bị bỏ hoang. Ông đã gửi Ernoul-Hiệp sỹ thực tập của ông tiến về phía trước để tìm hiểu những gì đã xảy ra và tin tức về cuộc chiến thảm khốc đến ngay từ số ít người sống sót. Raymond nghe nói về trận chiến và cũng đã gặp phái đoàn tại Tiberias và đồng ý đi cùng họ trở về Jerusalem.

Raymond cuối cùng đã sẵn sàng thừa nhận Guy làm vua, nhưng thiệt hại cho vương quốc này là khá trầm trọng và cả Gerard và Raynald đều coi Raymond là một kẻ phản bội. Saladin tập hợp một đội quân lớn hơn 20.000 người và xâm chiếm vương quốc Jerusalem vào tháng 6 và đánh bại Guy tại Hattin vào ngày 4 tháng 10 và sau đó ông tiến hành công chiếm Jerusalem.

Các tổ chức hiệp sỹ Thánh chiến trong các cuộc Thập tự chinh ở phương Đông

về cơ bản có ba tổ chức Hiệp sỹ Thập tự chinh lớn. đó là:Hiệp sỹ dòng Đền ( Knights of Templar), Hiệp sỹ cứu Tế ( Knights Hospitaller ), Hiệp sỹ Teuton (Knights Teutonic )-hay còn gọi là giáo binh đoàn Teuton. Tổ chức thứ 3 không hoạt động ở vùng Trung Đông mà chủ yếu ở Đông Âu và Baltic nên em xin giới thiệu sau, mời các bác đón xem.

Tổ chức Hiệp sỹ dòng Đền ( Order of Knights of Templar)

Những đồng đội nghèo-người lính của Chúa Kitô và của đền Solomon ( tiếng Latinh: Pauperes commilitones Christi Templique Solomonici ), thường được gọi là Hiệp sĩ Templar, Tổ chức của Hiệp sỹ đền thờ ( tiếng Pháp: Ordre du Temple hoặc Templiers ) hoặc đơn giản chỉ là Templar, là một trong những tổ chức quân sự nổi tiếng nhất của Kitô giáo phương Tây. Tổ chức này tồn tại trong khoảng hai thế kỷ trong thời kỳ Trung Cổ.Được chính thức công nhận bởi Giáo Hội Công Giáo vào khoảng năm 1129, tổ chức này đã trở thành một tổ chức ủng hộ từ thiện trong suốt Thiên Chúa giáo và phát triển nhanh chóng về mặt hội viên và quyền lực. Hiệp sĩ Templar đặc biệt thường mặc một chiếc áo choàng mầu trắng với một chữ thập màu đỏ và họ thường là những võ sỹ có trình độ cao nhất trong số các Hiệp sỹ chiến đấu cho các cuộc Thập tự chinh. Các thành viên không chiến đấu của Tổ chức đã quản lý một cơ sở hạ tầng kinh tế lớn trong những vương quốc theo Thiên Chúa giáo, họ đã có công tiến hành các đổi mới về công nghệ tài chính (VN-financial techniques) góp phần tạo ra các hình thức nguyên thủy của hệ thống ngân hàng, và họ cũng có công xây dựng nhiều hệ thống công sự trên khắp châu Âu và vùng Đất Thánh.Sự tồn tại của Tổ chức Templar “có liên hệ chặt chẽ với các cuộc thập tự chinh, khi Đất Thánh bị thất thủ thì sự hỗ trợ cho tổ chức này phai nhạt. Tin đồn về những buổi hành lễ bí mật của Templar đã tạo ra những sự không tin tưởng và nhà vua Philip IV của Pháp quốc-lúc đó đang chìm sâu trong nợ nần về tài chính với Tổ chức Templar, đã lợi dụng tình hình ( ra tay tiêu diệt tổ chức này để xù nợ). Năm 1307, nhiều người là các thành viên của Tổ chức Templar ở Pháp đã bị bắt giữ và tra tấn để phải nhận tội và sau đó bị thiêu sống. Dưới áp lực của vua Philip, Đức Giáo Hoàng Clement V đưa ra sắc lệnh giải tán Tổ chức này vào năm 1312. Sự biến mất đột ngột của phần cơ sở chính của tổ chức này ở Châu Âu đã dẫn đến nhiều sự đoán già đoán non và truyền thuyết về Tổ chức này và thuật ngữ “Templar” vẫn còn sống mãi cho đến ngày nay.

Lịch sử của Tổ chức TemplarSự bắt nguồn

Tổng hành dinh đầu tiên của Hiệp sĩ Templar là ở Al Aqsa Mosque (Mosque-nhà thờ Hồi giáo) trong Núi Đền (Temple Mount) ở Jerusalem. Thập tự quân gọi đó là đền thờ của Solomon, vì nó được xây dựng trên đống đổ nát của ngôi đền ban đầu và chính từ vị trí của ngôi Đền này mà các Hiệp sĩ lấy tên của họ là Templar ( Knights of Templar).

Sau khi cuộc Thập tự chinh đầu tiên thành công và Thập tự quân chiếm được Jerusalem và năm 1099, nhiều người Kitô giáo đã hành hương đến và tham quan những gì họ gọi là Thánh Địa. Tuy nhiên, mặc dù thành phố Jerusalem đã thuộc kiểm soát của Thập tự quân và an toàn một cách tương đối, nhưng phần còn lại của Outremer ( tên người châu  gọi của các thành bang Thập tự chinh ở Trung Đông ) thì lại không được như vậy. Có rất nhiều các băng nhóm kẻ cướp ở vùng biên và khách hành hương thì thường xuyên bị tàn sát, có những lúc đến hàng trăm người khi họ cố gắng tiến hành những cuộc hành trình từ bờ biển Jaffa vào vùng Đất Thánh.

Khoảng năm 1119, hai cựu binh của cuộc Thập tự chinh đầu tiên, hiệp sĩ người Pháp Hugues de Payens và bạn thân của ông-Godfrey de Saint-Omer, đề xuất việc thành lập một tu viện để bảo vệ những người hành hương. Vua Baldwin II của Jerusalem đã đồng ý yêu cầu của họ và ban cho họ một khoảng đất để xây dựng trụ sở chính trên núi Đền, tại nhà thờ Hồi giáo Al Aqsa Mosque vốn đã bị chiếm bởi quân Thập tự chinh lần một. Núi Đền có chứa một sự thần bí vì nó đã được xây dựng ở trên những gì được cho là tàn tích của đền thờ Solomon. Do đó quân Thập tự chinh thường gọi nhà thờ Hồi giáo Al Aqsa là đền Solomon và vì thế mà tổ chức này ( do hai bác người Pháp thành lập ) đã lấy tên của Hiệp sĩ nghèo của Chúa Kitô và đền Solomon , hoặc ” hiệp sĩ Templar”. Tổ chức được lập ra với khoảng chín hiệp sĩ ban đầu và họ có một nguồn tài chính ít ỏi và dựa vào sự đóng góp của những người hảo tâm để tồn tại. Biểu tượng của họ là hai hiệp sĩ cưỡi chung một con ngựa-nó nhấn mạnh là họ rất nghèo ( không đủ tiền mua cho mỗi người một ngựa).

Tình trạng nghèo khó của các Hiệp sỹ Templar không kéo dài. Họ đã có một người ủng hộ mạnh mẽ từ Saint Bernard của Clairvaux, một người có vị trí cao trong Giáo Hội và một người cháu trai của André de Montbard. Ông này đã phát biểu và viết thư một cách thuyết phục trong lúc đại diện cho bọn họ vào năm 1129 tại Hội đồng Troyes, và họ đã chính thức được chấp nhận bởi Giáo Hội. Với những lời chúc phúc chính thức, Templar đã trở thành một tổ chức ủng hộ từ thiện trong suốt thời kỳ đỉnh cao của Thiên Chúa giáo và họ nhận được tiền, đất đai, các doanh nghiệp và các thanh niên từ các gia đình quý tộc ( để đào tạo Hiệp sỹ), những người sẵn sàng giúp đỡ cho cuộc chiến ở trong vùng Đất Thánh.

Một lợi thế mới đã đến với họ trong năm 1139, khi sắc lệnh Omne Datum Optimum của Giáo hoàng Innocent II miễn việc Tổ chức phải phục tùng pháp luật của chính quyền địa phương ( tức là độc lập với các nhà cai trị của các thành bang Thập tự chinh). Phán quyết này có nghĩa là các Hiệp Templar có thể vượt qua các biên giới một cách tự do và không phải trả bất kỳ khoản thuế nào và được miễn trừ với tất cả các cơ quan quyền lực ngoại trừ với Giáo hoàng.

Có nhiệm vụ rõ ràng và nguồn tài nguyên phong phú, tổ chức này đã phát triển một cách nhanh chóng. Các Hiệp sỹ Templar thường là lực lượng xung kích trong các trận đánh quan trọng của Thập tự quân, bởi vì các hiệp sĩ Templar thường được thiết giáp hạng nặng và cưỡi những con ngựa chiến cũng được bọc giáp không kém phần của họ và thường bắt đầu trận đánh bằng cách lao vào tấn công đối phương, trong một nỗ lực để phá vỡ đội hình của quân địch. Một trong những chiến thắng nổi tiếng nhất của họ là trận Montgisard vào năm 1177, tại đó khoảng trên dưới 500 hiệp sĩ Templar đã giúp vua Baldwin IV đánh bại quân đội hơn 26.000 binh sĩ của Saladin.

Mặc dù mục đích chính của Tổ chức là quân sự, nhưng chỉ một vài thành viên trong số họ là những chiến binh. Những người khác hoạt động ở các vị trí để hỗ trợ các hiệp sĩ và để quản lý cơ sở hạ tầng tài chính. Mặc dù các thành viên của Tổ chức đã phải tuyên thệ khi nhậm chức là phải sống nghèo và giản dị về mặt cá nhân, nhưng Tổ chức này lại sở hữu nhiều tài sản và cực kỳ giàu có do sự quyên góp trực tiếp. Một nhà quý tộc người quan tâm đến việc tham gia cuộc thập tự chinh của mình có thể uỷ quyền tất cả tài sản của mình cho quyền quản lý của Templar trong khi ông đi xa ( chết nghẻo càng tốt he he). Họ đã tích lũy của cải theo cách này tại các vương quốc Thiên Chúa giáo và Outremer, năm 1150 Templar đã bắt đầu tạo ra thư tín dụng (letters of credit- em ko sure là có giống ngày nay hay ko ) cho khách hành hương khi họ tiến hành các cuộc hành trình đến Đất Thánh: khách hành hương ký gửi những vật có giá trị của họ cho một Thầy tu Templar ở địa phương trước khi bắt đầu lên đường, nhận được một khế ước thể giá trị bằng tiền của thứ họ gửi, sau đó người hành hương sử dụng khế ước này để lấy tiền của họ khi đã đến Đất Thánh. Sự kiện này đã sắp xếp đổi mới hình thức ban đầu của ngân hàng và có thể họ có các hệ thống chính thức ban đầu hỗ trợ cho việc sử dụng Séc (cheques), các biện pháp này tăng cường cải thiện sự an toàn của khách hành hương bằng cách làm cho họ chở nên ít hấp dẫn hơn trước những tên trộm cướp và cũng góp phần đóng góp vào các quỹ của Templar ( chắc qua service charge quá).

Dựa trên kết hợp từ các khoản đóng góp và từ kinh doanh, Tổ chức Hiệp sỹ Templar thành lập mạng lưới tài chính trên toàn bộ các quốc gia Thiên Chúa giáo. Họ mua lại những vùng đất rộng lớn, cả ở châu Âu và Trung Đông, họ đã mua và quản lý trang trại và vườn nho, họ xây dựng nhà thờ và lâu đài, họ đã tham gia vào tất cả các công đoạn nhập khẩu, sản xuất và xuất khẩu; họ có hạm đội tàu của riêng mình và tại một thời điểm thậm chí họ còn sở hữu toàn bộ hòn đảo Síp. Theo tiêu chuẩn ngày nay thì Tổ chức Hiệp sĩ Templar được cho là hội tụ đủ điều kiện để trở thành tập đoàn đa quốc gia đầu tiên trên thế giới.

Thoái trào

Giữa thế kỷ 12 lần lượt bắt đầu các thủy triều của các cuộc thập tự chinh. Thế giới Hồi giáo đã trở nên thống nhất dưới sự lãnh đạo hiệu quả của Saladin và các bất đồng nảy sinh giữa các phe phái trong Kitô giáo về những việc có liên quan đến Đất Thánh. Tổ chức Hiệp sĩ Templar đôi khi cũng có mâu thuẫn với hai Tổ chức quân sự Kitô giáo khác, như Tổ chức Hiệp sĩ Hospitaller và Tổ chức hiệp sĩ Teutonic, nhiều thập kỷ hận thù cùng nội chiến đã làm suy yếu vị trí chính trị và quân sự của phe Kitô giáo. Sau khi nhiều Hiệp sỹ Templar đã tham gia vào nhiều chiến dịch không thành công, bao gồm cả những trận đánh quan trọng như Trận Hattin, Jerusalem đã bị chiếm đóng lực lượng của Saladin năm 1187. Quân Thập tự chinh chiếm lại được thành phố và năm 1229 mà không cần sự trợ giúp của Templar, nhưng họ chỉ giữ được nó trong một thời gian ngắn. Năm 1244, người Khwarezmi-Thổ Nhĩ Kỳ chiếm lại được Jerusalem, và thành phố đã không quay trở lại quyền kiểm soát của phương Tây cho đến năm 1917 khi người Anh chiếm được nó từ người Ottoman-Thổ Nhĩ Kỳ.

Tổ chức Hiệp sỹ Templar đã bị buộc phải di dời trụ sở của họ để các thành phố khác ở phía bắc, như thành phố cảng biển Acre mà họ nắm giữ ở các thế kỷ tiếp theo. Nhưng họ bị mất nó vào năm 1291, tiếp theo là Tortosa-cứ điểm mạnh nhất trên lục địa của họ (nay thuộc Syria ) và Atlit. Sau đó trụ sở của họ đã được chuyển đến Limassol trên đảo Síp và họ cũng đã cố gắng duy trì một lực lượng đồn trú trên nhỏ trên đảo Arwad ở ngoài khơi bờ biển của Tortosa. Năm 1300, có một số nỗ lực để tham gia phối hợp các chiến dịch quân sự của quân Mông Cổ thông qua một lực lượng xâm lược mới tại Arwad. Tuy nhiên vào năm 1302 hoặc năm 1303, Templar lại bị mất hòn đảo này vào tay người Mamluk-Ai Cập trong Cuộc vây hãm Arwad. Với việc hòn đảo bị thất thủ, quân Thập tự chinh đã bị mất chỗ đứng chân cuối cùng của họ trong vùng Đất Thánh.

Lúc này các sứ mệnh quân sự của Tổ chức ngày càng kém quan trọng, và sự hỗ trợ cho tổ chức đã bắt đầu ngày càng kém quan trọng. Tình hình trở nên rất phức tạp mặc dù trong hai trăm năm tồn tại của mình Tổ chức Hiệp sỹ Templar đã trở thành một phần của cuộc sống hàng ngày trong suốt thời kỳ đỉnh cao của Thiên Chúa giáo. Tài sản của tổ chức Templar như bất động sản, hàng trăm tòa nhà nằm rải rác khắp châu Âu và Trung Cận Đông đã tạo cho họ một sự hiện diện rộng rãi ở khắp các nơi. Tổ chức Hiệp sỹ Templar vẫn còn quản lý nhiều doanh nghiệp và nhiều người châu Âu hàng ngày vẫn tiếp xúc và kinh doanh với mạng lưới của Templar, chẳng hạn như khi họ làm việc tại một nông trại hay vườn nho thuộc sở hữu của Templar, hoặc bằng cách sử dụng dịch vụ của nó như là một ngân hàng để cất trữ các đồ có giá trị. Tổ chức vẫn không chịu thần phục chính quyền địa phương, làm cho nó chở thành một “vương quốc trong một vương quốc” ở khắp mọi nơi, quân đội thường trực của nó, mặc dù không còn có nhiệm vụ được xác định rõ ràng, có thể vượt qua các biên giới một cách tự do. Tình trạng này đã gây căng thẳng với một số quý tộc châu Âu, đặc biệt là Tổ chức Hiệp sỹ Templar đã cho thấy sự quan tâm trong việc thành lập nhà nước riêng trong các tu viện của họ, cũng giống như các hiệp sĩ Teutonic đã làm tại Phổ và các Hiệp sĩ Cứu tế đã làm với đảo Rhodes.

Bị bắt giữ và giải thể

Năm 1305, Giáo hoàng mới Clement V, có trụ sở tại Pháp, đã gửi thư cho cả hai Grand Master-Đại thủ lĩnh Jacques de Molay-Hiệp sỹ dòng Đền và Đại thủ lĩnh Fulk de Villaret-của Hiệp sỹ cứu tế để thảo luận về khả năng sáp nhập hai Tổ chức này làm một. Dù ý tưởng này không được tuân theo, nhưng Giáo hoàng Clement vẫn kiên trì và trong năm 1306, ông mời cả hai Đại thủ lĩnh sang Pháp để thảo luận về vấn đề này. De Molay đến đầu tiên vào đầu năm 1307, nhưng de Villaret đã trì hoãn trong vài tháng. Trong khi chờ đợi, De Molay và Clement đã thảo luận về vấn đề một cuộc tấn công đã được tiến hành hai năm trước đó để phá hủy một chiếc Đền thờ. Nhìn chung thì cả hai đều đồng ý rằng cuộc tấn công này là sai trái, nhưng Clement có gửi cho vua Philip IV của Pháp một tài liệu để yêu cầu trợ giúp trong quá trình điều tra. Vua Philip đã chìm sâu trong nợ nần với Tổ chức Hiệp sỹ Templar vì cuộc chiến của ông với nước Anh và quyết định bắt giữ họ sau khi tạo những tin đồn cho mục đích riêng của mình. Ông bắt đầu gây sức ép với Giáo Hội để họ phải có những hành động chống lại Tổ chức Hiệp sỹ dòng Đền, như một cách để ông thoát khỏi các khoản nợ của mình.

Ngày thứ sáu 13 tháng 10 năm 1307 Philip đã ra lệnh bắt giữ de Molay và các thành viên khác của Templar ở Pháp cùng một lúc. Lệnh bắt giữ được bắt đầu với cụm từ: ” Dieu n’est pas content, nous avons des ennemis de la foi dans le Royaume ” ( dịch thoát là “Thiên Chúa không hài lòng. Chúng ta có kẻ thù trong đức tin của vương quốc “). Tổ chức Templar bị buộc tội vi phạm rất nhiều tội danh (kể cả bội đạo, thờ thần tượng, dị giáo, nghi thức khiêu dâm và đồng tính luyến ái, tham nhũng và gian lận tài chính và hội họp bí mật). Nhiều người trong số các bị cáo thú nhận với các cáo trạng này sau khi bị tra tấn và những lời thú tội mặc dù được thu thập từ tra tấn bức cung đã gây ra một vụ bê bối ở Paris. Tất cả các cuộc thẩm vấn đã được ghi lại vào một tờ giấy da dài ba mươi mét, được lưu giữ tại “Archives nationales” tại Paris. Các tù nhân bị ép buộc phải thú nhận rằng họ đã nhổ vào chiếc thập giá: ” Moi Raymond de La Fère, 21 ans, reconnais que (J’ai) craché trois fois sur la Croix, mais de bouche et pas de coeur ” ( dịch thoát là: “Tôi, Raymond de La Fère, 21 tuổi, thừa nhận rằng tôi đã nhổ ba lần vào chiếc thập giá, nhưng chỉ từ miệng của tôi chứ không phải từ trái tim”). Tổ chức Hiệp sỹ Templar đã bị buộc tội thờ thần tượng. Tấm giấy da đề cập đến một bức tranh một người đàn ông màu đỏ mặc áo vải lanh hoặc bông, trông giống như một tượng thần trong buổi thẩm vấn. Sự kiện này cho thấy có sự hiện diện của tấm vải liệm Turin. Năm 1307 rất ít người biết về nơi cất dấu nó. Sau cuộc chiếm đóng Constantinople bởi cuộc Thập tự chinh lần thứ tư trong năm 1204, tấm vải liệm vốn đã thuộc về sở hữu của Hoàng đế Byzantine đã biến mất trong khoảng một thế kỷ. Nó xuất hiện trở lại tại thị trấn nhỏ Lirey, tại vùng Champagne của Pháp khoảng những năm 1353-1357 và thuộc về sở hữu của Geoffroy de Charny và sau đó tại Chambéry thuộc sở hữu của Công tước xứ Savoy.

Sau khi chịu sức ép nhiều hơn từ Philip, Đức Giáo Hoàng Clement sau đó đã ban hành sắc lệnh của Pastoralis Praeeminentiae giáo hoàng vào ngày 22 tháng 11 1307, sắc lệnh này chỉ thị tất cả các quốc vương Kitô giáo ở Châu Âu phải bắt giữ tất cả thành viên của Tổ chức Hiệp sỹ Templar và tịch thu tài sản của họ.

Đức Giáo Hoàng Clement cho tổ chức phiên điều trần của Giáo hoàng để xác định xem các Hiệp sỹ Templar có tội hay vô tội và lúc này đã cho toà án dị giáongừng tra tấn, nhiều Hiệp sỹ Templar đã công khai rút lui lời thú tội của họ. Một số đã có đủ kinh nghiệm về mặt pháp luật để bảo vệ mình trong các buổi xét xử, nhưng trong năm 1310 Philip đã ngăn chặn nỗ lực này, bằng cách sử dụng những lời nhận tội bị ép buộc trước đây và đem thiêu sống hàng chục Hiệp sỹ Templar tại Paris. Vì Philip đã đe dọa sử dụng biện pháp quân sự, trừ khi Giáo hoàng tuân theo ý muốn của ông ta, cuối cùng Giáo hoàng Clement đã đồng ý giải tán Tổ chức, và viện dẫn một vài vụ bê bối nào đã được tạo ra trong những lời thú tội. Tại Hội đồng Vienne năm 1312, ông đã ban hành một loạt các sắc lệnh của giáo hoàng, bao gồm cả Vox trong excelso để chính thức giải thể Tổ chức và Ad providam để chuyển giao hầu hết các tài sản của các Hiệp sỹ Templar cho các Hiệp sỹ Hospitaller. Đối với các nhà lãnh đạo của Tổ chức, Đại thủ lĩnh Jacques de Molay, người đã cao tuổi đã thú nhận khi bị tra tấn, cũng đã rút lại tuyên bố của ông. Người phó của ông-Geoffrey de Charney, thầy tu ở Normandy, cũng bắt chước de Molay và khăng khăng nói mình vô tội. Cả hai người đã bị tuyên bố tái phạm niềm tin dị giáo và họ đã bị kết án thiêu sống trên các cây cọc ở Paris vào ngày 18 tháng 3 năm 1314. De Molay được người ta nói rằng vẫn tỏ ra thách thức đến chết, ông yêu cầu được trói theo cách mà ông có thể vẫn quay mặt về phía Nhà thờ Đức Bà và tiếp tục giữ các bàn tay của theo tư thế cầu nguyện. Theo truyền thuyết, ông ta gọi to ra từ trong ngọn lửa rằng cả Giáo hoàng Clement và vua Philip sẽ sớm gặp lại ông trước mặt Đức Chúa Trời. Những từ thực tế mà ông đã nói trước khi chết được ghi lại trên mảnh giấy da như sau: ” Dieu sait qui a tort et a pëché. Il va bientot arriver malheur à ceux qui nous ont condamnés à mort ” ( dịch thoáng: “Chúa sẽ biết ai là người vô tội và ai là kẻ phạm tội. Tai họa sẽ xảy ra cho những kẻ đã lên án chúng ta cho đến chết “). Giáo hoàng Clement đã chết chỉ một tháng sau đó và vua Philip cũng qua đời trong một tai nạn săn bắn trước khi kết thúc năm đó.

Với việc những nhà lãnh đạo cuối cùng của Tổ chức bị bắt giữ, phần còn lại của Tổ chức Hiệp sỹ Templar ở xung quanh Châu Âu đã hoặc bị bắt và điều tra theo sắc lệnh của giáo hoàng (và hầu hết không bị kết án), hoặc chuyển sang các Tổ chức quân sự khác như Hiệp sĩ Cứu tế, hoặc về hưu và được phép sống những ngày cuối cùng của họ một cách hòa bình. Một số có thể đã bỏ chạy tới vùng lãnh thổ khác ngoài tầm kiểm soát của giáo hoàng, hoặc những vùng bị rút phép thông công ( excommunicated ) như Scotland hoặc Thụy Sĩ. tổ chức Templar ở Bồ Đào Nha chỉ đơn giản là đổi tên của họ, từ Hiệp sĩ Templar sang thànhHiệp sĩ của Chúa Kitô.

Tổ chức của Templar

Tổ chức Hiệp sỹ Templar được tổ chức như là một dòng tu-monastic order tương tự như tổ chức dòng Xitô của Bernard, được coi là tổ chức quốc tế đầu tiên có hiệu quả ở châu Âu. Cơ cấu của tổ chức có một chuỗi uy quyền mạnh mẽ. Mỗi quốc gia có sự hiện diện của Tổ chức lớn của Templar như (Pháp, Anh, Aragon, Bồ Đào Nha, Poitou, Apulia, Jerusalem, Tripoli, Antioch, Anjou, Hungary, và Croatia) có một Thủ lĩnh cho Tổ chức Hiệp sỹ Templar trong khu vực đó. Tất cả đều là cấp dưới của Grand Master-Đại thủ lĩnh, người vốn được chỉ định trong suốt cuộc đời và giám sát những nỗ lực về quân sự của Tổ chức tại phương Đông và việc quản lý tài chính của họ ở phương Tây. Không có con số chính xác về thành viên, nhưng người ta ước tính rằng tại thời điểm đỉnh cao Tổ chức Templar có khoảng 15.000 và 20.000 thành viên trong đó khoảng một phần mười là những hiệp sĩ thực sự.

Bernard de Clairvaux và Hugues de Payens-những người sáng lập đã tạo ra những luật lệ cụ thể cho hoạt động cụ thể của Templar, nó được biết đến trong lịch sử hiện đại như là Rule Latin . 72 điều khoản quy định các hành vi lý tưởng cho các Hiệp sĩ, chẳng hạn như họ sẽ được ăn mặc như thế nào và họ có thể có bao nhiêu con ngựa. Hiệp sĩ ăn bữa ăn của họ trong im lặng, ăn thịt không quá ba lần mỗi tuần và không được có quan hệ với bất kỳ loại phụ nữ, ngay với cả các thành viên trong gia đình của họ. Một Thủ lĩnh của Tổ chức được giao “4 con ngựa, và một giáo sĩ và một thư ký được giao ba con ngựa một hộ sĩ được giao hai con ngựa và một Hiệp sỹ được giao một lá chắn và một cây thương cùng với một con ngựa.” Khi Tổ chức này phát triển lên thì nhiều điều hướng dẫn nữa được thêm vào và danh sách 72 điều khoản ban đầu cuối cùng đã được mở rộng thành vài trăm điều khoản.

Có một sự phân chia thành ba ngạch của Templar: các hiệp sĩ quý tộc, các võ sĩ có đẳng cấp thấp hơn, và các giáo sĩ. Các Hiệp sĩ được yêu cầu là phải có nguồn gốc hiệp sĩ và mặc áo choàng trắng. Họ được trang bị như kỵ binh nặng với ba hoặc bốn con ngựa và một hoặc hai Squires. Nói chung thì các võ sinh ( NV- Squire: có thể gọi là võ đồng, hoặc tùy tùng của Hiệp sỹ) không phải là thành viên của Hội mà là người ngoài, những người được thuê theo Hợp đồng thời vụ. Bên dưới các hiệp sĩ là các võ sỹ thường được tuyển từ tầng lớp xã hội cấp thấp hơn. Họ-võ sỹ thường được trang bị như những kỵ binh hạng nhẹ với một con ngựa chiến hoặc phục vụ bằng cách khác như quản lý tài sản của Hội hoặc thực hiện những nhiệm vụ hèn mọn và các ngành nghề khác. Giáo sĩ, tạo thành một lớp Templar thứ ba, họ được thụ phong thành các linh mục để chăm sóc nhu cầu phần hồn của các Hiệp sỹ Templar.Các hiệp sĩ mặc một chiếc áo choàng màu trắng với một chữ thập đỏ trên chiếc áo choàng; các võ sĩ mặc một chiếc áo choàng dài màu đen hoặc nâu và cũng có một chiếc thập tự mầu đỏ ở phía trước và cả đằng sau lưng, Chiếc áo choàng trắng đã được ủy nhiệm cho Tổ chức Hiệp sỹ Templar tại Hội đồng Troyes trong năm 1129 và qua có lẽ là chiếc thập tự mầu đỏ này được thêm vào chiếc áo choàng thụng của họ và được ra mắt sớm nhất là tại cuộc Thập tự chinh lần thứ hai vào năm 1147, khi Giáo hoàng Eugenius III và vua Louis VII của nước Pháp và những nhân vật nổi tiếng khác tham dự một cuộc họp của Tổ chức Hiệp sỹ Templar tại trụ sở của họ ở Pháp gần Paris. Theo quy tắc của họ, các hiệp sĩ phải mặc chiếc áo choàng trắng suốt cả ngày đêm, thậm chí họ bị cấm không được ăn uống khi họ không mặc nó.Buổi lễ gia nhập vào Hội được gọi là receptio đây là một buổi lễ trang nghiêm. Người ngoài không được khuyến khích tham dự những buổi lễ này, trong đó làm nảy sinh những nghi ngờ của các phán quan thời Trung cổ trong thời gian của những buổi thẩm vấn sau đó.Các thành viên mới phải sẵn sàng bàn giao cho Hội toàn bộ tài sản của họ và nguyện sống nghèo khó, thanh tịnh, lòng mộ đạo và biết vâng lời. Hầu hết các huynh đệ của Hội tham gia cho đến cuối đời, mặc dù một số được phép tham gia trong một thời gian được định sẵn. Đôi khi một người đàn ông đã lập gia đình được phép gia nhập nếu ông này có sự cho phép của vợ mình, nhưng ông ta không được phép mặc áo choàng trắng.Chiếc chữ thập mầu đỏ mà các Hiệp sỹ Templar đeo trên áo choàng của họ là một biểu tượng của sự tử vì đạo và cái chết trong chiến đấu được coi là một vinh dự lớn mà nó sẽ đảm bảo cho họ một suất nơi thiên đường. Có một quy định cực kỳ quan trọng rằng các chiến binh của Hội không bao giờ được đầu hàng trừ khi lá cờ Templar bị đổ xuống và thậm chí cả trong trường hợp đó vì việc đầu tiên là họ phải cố gắng tập hợp lại với nhau hoặc dưới lá cờ của các Tổ chức Kitô giáo khác, chẳng hạn như là của Tổ chức Hiệp sỹ Hospitaller. Chỉ sau khi tất cả các lá cờ của họ đã xuống thì họ mới được phép rời chiến trường. Quy định này được tuân thủ một cách cực kỳ kiên quyết cùng với danh tiếng của họ về sự can đảm, xuất sắc trong đào tạo và trang bị vũ khí hạng nặng, đã làm cho những Hiệp sỹ Templar chở thành một trong những lực lượng chiến đấu đáng sợ nhất trong thời kỳ Trung cổ.Các Đại thủ lĩnh-Grand MastersBắt đầu Hugues de Payens-nhà sáng lập trong năm 1118-1119, người có chức vụ cao nhất trong Hội là Grand Master ( tạm dịch là Đại thủ lĩnh), một chức vụ có thể được giữ suốt cả cuộc đời, mặc dù xét về mặt thực tế thì nó thường có một nhiệm kỳ rất ngắn. Trong tổng số có hai Đại thủ lĩnh chết tại phòng làm việc và một số đã chết trong các chiến dịch quân sự. Đó là trong cuộc vây hãm Ascalon vào năm 1153, Đại thủ lĩnhBernard de Tremelay đã dẫn đầu một nhóm khoảng 40 Hiệp sỹ Templar đã lao qua một đoạn bị phá sập trong các bức tường thành phố khi mà phần còn lại của đội quân Thập tự chinh đã không làm theo họ, các hiệp sỹ Templar bao gồm cả Đại thủ lĩnh của họ đã bao vây và bị chặt đầu. Đại thủ lĩnh Gérard de Ridefort đã bị chặt đầu bởi Saladin năm 1189 tại cuộc vây hãm Acre.Vị Đại thủ lĩnh giám sát tất cả các hoạt động của Hội, bao gồm cả các hoạt động quân sự tại Đất Thánh và Đông Âu và và giao dịch kinh doanh tài chính của Templar ở Tây Âu. Một số Đại thủ lĩnh cũng từng là chỉ huy chiến trường, mặc dù họ không phải luôn luôn là sáng suốt: một số sai lầm ngớ ngẩn của Đại thủ lĩnh de Ridefort đã góp phần vào sự thất bại khủng khiếp tại trận Hattin. Vị Đại thủ lĩnh cuối cùng là Jacques de Molay đã bị thiêu sống tại Paris vào năm 1314 theo lệnh của vua Philip IV.

Tổ chức Hiệp sỹ Cứu tế (Order of Knights Hospitaller )

Tổ chức Hiệp sĩ Cứu tế, cũng còn được gọi là Order of Hospitaller hoặc đơn giản chỉ là Hospitaller, là một nhóm người thuộc một bệnh viện ở Jerusalem được thành lập bởi Thánh Gerard ở khoảng năm 1023, nó là bắt nguồn của hai Tổ chức Hiệp sỹ lớn có tinh thần thượng võ cao, đó là nhóm các Hiệp sĩ của Thánh Lazarus và nhóm các Hiệp sĩ của St John, nhóm sau được biết đến như là một Tổ chức quân sự kiểm soát chủ quyền của đảo Malta.Tổ chức Hospitaller được phát sinh xung quanh công việc của một bệnh viện có tên là Amalfitan nằm ở Muristan, một vị trí ở Jerusalem, tổ chức này được thành lập khoảng năm 1023 để cung cấp sự chăm sóc cho người hành hương nghèo, bị bệnh hoặc bị thương đến Đất Thánh. Sau khi Thiên chúa giáo phương Tây xâm chiếm Jerusalem vào năm 1099 trong cuộc Thập tự chinh đầu tiên, tổ chức đã trở thành một tổ chức tôn giáo và tự vũ trang theo điều lệ của riêng mình và tham gia bảo vệ Đất Thánh. Sau cuộc chinh phục vùng Đất Thánh của lực lượng Hồi giáo, Tổ chức đã phải hoạt động từ đảo Rhodes nơi mà nó đã giành được chủ quyền (sovereign ) cho chính mình và kể từ khi chuyển về Malta nơi mà nó được quản lý như một quốc gia chư hầu của phó vương Tây Ban Nha ở Sicily.Tổ chức này đã bị suy yếu bởi cuộc chiếm đóng của Napoleon vào Malta năm 1798 và nó bị phân tán trên khắp Châu Âu. Nó lấy lại được sức mạnh trong đầu thế kỷ 19 vì nó mở rộng mục đích hoạt động của bản thân trong cả mảng tôn giáo và nhân đạo. Tổ chức này là nguồn gốc của Tổ chức quân sự có Chủ quyền của Công giáo La Mã ở Malta ( Roman Catholic Sovereign Military Order of Malta ) hiện đại ngày nay và có trụ sở tại Rome, và Tổ chức Đồng minh Tin Lành ( Allied Protestant Order ) có trụ sở chính tại Vương quốc Anh, Đức, Hà Lan và Thụy Điển.

Quá trình thành lập và lịch sử ban đầu

Năm 600, Giáo hoàng Gregory I ủy quyền cho Tu viện trưởng Ravennate Probus, người trước đây là sứ giả của ông tại Triều đình Lombard, để xây dựng một bệnh viện ở Jerusalem để điều trị và chăm sóc khách hành hương người Kitô giáo trên Đất Thánh. Năm 800, Charlemagne-hoàng đế của Đế quốc La Mã Thần thánh cho mở rộng bệnh viện Probus và thêm vào cho nó một phòng thư viện. Khoảng 200 năm sau, năm 1005, Quốc vương Hồi giáo Al Hakim đã cho phá hủy bệnh viện này và ba ngàn tòa nhà khác ở Jerusalem. Năm 1023, các thương gia từ Amalfi và Salerno ở Ý được sự cho phép của Quốc vương Hồi giáo Ali az-Zahir của Ai Cập đã xây dựng lại khu bệnh viện ở Jerusalem. Khu bệnh viện được xây dựng trên địa điểm của tu viện Thánh John the Baptist, tại đó khách hành hương Kitô giáo được đi vào những nơi gọi là thánh địa của Kitô giáo. Bệnh viện được phục vụ bởi các thầy tu dòng Benedictine.Tổ chức ( Hội) tu Hospitaller được thành lập sau thời gian của cuộc Thập tự chinh đầu tiên bởi Thánh Gerard, người có vai trò sáng lập đã được xác nhận bởi một sắc lệnh của Đức Giáo Hoàng Paschal II trong năm 1113. Gerard đã giành được vùng lãnh thổ và các khoản thu cho Tổ chức của ông ở khắp Vương quốc Jerusalem và những nơi xa hơn nữa. Raymond du Puy de Provence-người kế nhiệm ông, đã cho thành lập một trạm điều trị đầu tiên đầy ý nghĩa của Hospitaller ở gần nhà thờ của Thánh Sepulchre ở Jerusalem. Ban đầu Hội chỉ cung cấp dịch vụ chăm sóc khách hành hương ở Jerusalem, nhưng nó sớm mở rộng để cung cấp cho khách hành hương các dịch vụ hộ tống vũ trang ( đây gọi là bảo kê đúng không ạ ), và tổ chức này nhanh tróng phát triển thành một lực lượng quân sự đáng kể.Các Hiệp sỹ Hospitaller và Knights Templar-thành lập năm 1119, đã trở thành những Tổ chức Thiên chúa giáo mạnh nhất trong khu vực. Cách mà họ phân biệt bản thân trong các trận chiến với người Hồi giáo là các chiến binh của họ phải mặc một áo choàng màu đen với một chữ thập màu trắng. Hội đã sử dụng trang phục này để hoạt động trong một thời gian dài cho đến năm 1248 khi mà Đức Giáo Hoàng Innocent IV (1243-1254), phê duyệt một trang phục quân sự tiêu chuẩn cho loại mà các Hiệp sỹ Hospitaller được mặc trong chiến trận. Thay vì mặc một chiếc áo choàng không tay khít với áo giáp của họ ( làm hạn chế chuyển động của họ), họ đã mặc một chiếc áo choàng thụng đỏ với một cây thánh giá màu trắng trang trí như là phù hiệu trên đó.Đến giữa thế kỷ 12, Tổ chức đã được phân chia rõ ràng thành những người chuyên về mảng quân sự và những người làm việc với các bệnh nhân. Nó vẫn là một Tổ chức tôn giáo và nhận được đặc quyền từ Giáo hoàng, ví dụ: Tổ chức được miễn phải chịu quyền kiểm soát của các nhà cai trị địa phương mà chỉ chịu trách nhiệm trước Đức Giáo Hoàng, và nó không phải trả thuế Thập phân và được cho phép để sở hữu các tòa nhà tôn giáo. Rất nhiều các công sự, thành lũy của người Kitô giáo tại Đất Thánh được xây dựng bởi các Tổ chức Hiệp sỹ Templar và Hospitaller. Ở thời kỳ đỉnh cao của Vương quốc Jerusalem, Hospitaller đã cho xây bảy pháo đài lớn và 140 bất động sản khác trong khu vực này. Hai tòa lớn nhất trong số này, cũng là căn cứ của quyền lực của họ ở Jerusalem và trong Quận quốc Antioch, đó là các lâu đài Krak des Chevaliers và Margat ở Syria. Các tài sản của Hội được chia thành priories, sau đó được chia nhỏ hơn nữa thành bailiwicks, rồi lại được chia thành commandries. Frederick Barbarossa-Hoàng đế La Mã Thánh thần, đã cam kết sự bảo vệ của mình cho các Hiệp sĩ của St John trong một điều luật về các đặc quyền được cấp năm 1185.Hiệp sĩ của Cyprus và RhodesCuối cùng người Hồi giáo đã trục xuất các Hiệp sĩ Hospitaller ra khỏi Jerusalem. Sau sự sụp đổ của Vương quốc Jerusalem năm 1291 (Jerusalem bị sụp đổ năm 1187), các Hiệp sĩ chỉ còn được hoạt động giới hạn trong quận quốc Tripoli và khi Acre sụp đổ vào năm 1291, họ tìm kiếm nơi cư trú trong Vương quốc đảo Síp. Thấy mình trở thành bị mắc quá sâu trong hoạt động chính trị của đảo Síp, Grand Master của họ-Guillaume de Villaret, đã lập nên một kế hoạch mua lại mua lại một mảnh đất tạm thời cho chính họ, họ đã lựa chọn đảo Rhodes làm ngôi nhà mới của. Fulkes de Villaret-người kế nhiệm Villaret, đã tiến hành kế hoạch và vào ngày 15 tháng năm 1309, sau hơn hai năm vận động đảo Rhodes đã thuộc về các hiệp sĩ. Họ cũng đã kiểm soát một số đảo lân cận và các cảng Bodrum và Kastelorizo ở Anatolia

Knights Templar đã bị giải thể năm 1312 và nhiều tài sản của họ đã được trao cho các Hospitaller. Các phần này được chia thành tám tongue ( ở Crown of Aragon, Auvergne, Castile, Anh, Pháp, Đức, Italy và Provence ). Mỗi tongue được quản lý bởi một Prior hoặc nếu có nhiều hơn một nhà dòng ở tongue, thì nó sẽ được quản lý bởi một Grand Prior. Tại Rhodes và sau đó là Malta, các hiệp sĩ thường trú ở từng tongue và được chỉ huy bởi một Bailli. Grand Prior người Anh vào thời đó là Philip De Thame, người đã mua bất động sản và giao cho tongue ở Anh năm 1330-1358.
.
Sau ngay Hospitaller chuyển về Rhodes và họ cũng được gọi là Hiệp sĩ của Rhodes, và dần dần họ đã bị buộc phải nên có tính chất của một lực lượng quân sự nhiều hơn, đặc biệt là họ phải chiến đấu với bọn cướp biển Barbary. Họ đã phải chịu đựng hai cuộc xâm lược trong thế kỷ 15, một của Sultan của Ai Cập trong năm 1444 và một của Sultan Mehmed II-Ottoman trong năm 1480, sau khi triều đình này đánh bại Đế quốc Byzantine và chiếm Constantinople và năm 1453 thì mục tiêu ưu tiên của họ là các Hiệp sĩ Hospitaller.

Năm 1522 một đội quân xâm lược hoàn toàn mới đã kéo đến: 200.000 lính và 400 tàu chiến dưới sự chỉ huy của Sultan Suleiman Vĩ Đại đã đổ bộ xuống đảo Rhodes. Để chống lại lực lượng này các Hiệp sĩ Hospitaller dưới sự chỉ huy của Đại thủ lĩnh Philippe de Villiers L’Isle-Adam, có khoảng 7.000 người và hệ thống công sự của họ. Cuộc bao vây kéo dài sáu tháng và cuối cùng Hospitaller đã bị đánh bại và những người sống sót được phép chuyển tới Sicily.

Hiệp sĩ của Malta

Sau bảy năm di chuyển từ nơi này đến nơi khác ở châu Âu, Các Hiệp sĩ Hospitaller lại có chỗ trú chân vào năm 1530 khi Charles V của Tây Ban Nha cũng là vua của Sicily, đã ban cho họ đảo Malta, và Gozo cùng cảng Tripoli ở Bắc Phi làm thái ấp vĩnh viễn để đổi lấy duy nhất một chú chim ưng Malta hàng năm, mà họ phải gửi vào All Souls Day-ngày linh hồn cho đại diện của nhà vua kiêm Phó vương Sicili.

Các Hiệp sỹ Hospitaller tiếp tục hành động của họ để chống lại người Hồi giáo và đặc biệt là những tên cướp biển Barbary. Mặc dù họ chỉ có một vài con tàu nhưng họ đã nhanh chóng thu hút sự giận dữ của Đế quốc Ottoman, người không hài lòng với việc tái định cư của họ. Năm 1565 Suleiman đã gửi một lực lượng xâm lược khoảng 40.000 người và tiến hành vây hơn 700 hiệp sĩ và 8.000 binh sĩ và tìm cách trục xuất họ khỏi Malta và cũng để có một căn cứ mới để từ đó có thể khởi động một cuộc tấn công vào châu Âu.

Lúc đầu, cuộc chiến đã diễn biến rất xấu cho các Hiệp sỹ Hospitaller ở đảo Rhodes: hầu hết các thành phố đã bị phá hủy và khoảng một nửa số các hiệp sĩ đã thiệt mạng. Ngày 18 tháng 8 vị trí của họ bị bao vây và tình hình ngày càng trở nên tuyệt vọng: quân số của họ ngày càng thưa thớt, họ đã trở nên quá yếu ớt để giữ một tuyến công sự quá dài. Nhưng khi hội đồng quân sự của ông đề nghị từ bỏ Il Borgo và Senglea và rút về để tăng cường Fort St Angelo, Đại thủ lĩnh Jean Parisot de la Valette đã từ chối.

Phó vương Sicilia đã không gửi quân tiếp viện, có thể là vị phó vương đã nhận được mệnh lệnh của Philip II của Tây Ban Nha là hãy chút gánh nặng của việc phòng thủ lên vai các Hiệp sĩ. Một quyết định sai lầm có thể có nghĩa là thất bại và Sicily cùng với Naples sẽ dễ dàng rơi vào tay triều Ottoman. Ông đã để lại đứa con trai riêng của mình chiến đấu cùng với La Valette, do đó dường như ông không thể thờ ơ với số phận của pháo đài. Dù điều gì đi chăng nữa có thể là nguyên nhân của sự chậm trễ của ông, vị Phó vương đã do dự cho đến khi trận chiến đã gần như được quyết định bởi những nỗ lực không cần trợ giúp của các Hiệp sĩ, trước khi bị buộc ông bị buộc phải ra lệnh gửi quân tiếp viện do sự phẫn nộ của các sỹ quan của mình.Vào ngày 23 tháng 8 đã nổ ra thêm một cuộc tấn công lớn, đây là nỗ lực quan trọng cuối cùng và nó đã được chứng minh bởi những người vây thành. Nó đã bị đẩy trở lại với những thiẹt hại lớn nhất trong một phần quân phòng thủ. Tuy nhiên, lúc này hoàn cảnh của lực lượng Thổ Nhĩ Kỳ lại trở nên tuyệt vọng. Ngoại trừ Fort St Elmo, các công sự của Malta vẫn còn nguyên vẹn. Công việc sửa chữa được tiến hành vào ban đêm và ngày hôm sau quân đồn trú đã phục hồi được chỗ bị thiệt hại và việc chiếm Malta dường như ngày càng chở nên là điều không thể. Nhiều binh sỹ trong quân đội Ottoman phải sống ở những chỗ quá trật trội và nhiều người đã bị ốm trong những tháng mùa hè kinh khủng. Đạn dược và thực phẩm đã bắt đầu cạn và quân Ottoman đang trở nên ngày càng chán nản ở sự thất bại của các cuộc tấn công và thiệt hại của họ. Ngày 23 tháng 6 cái chết của Dragut-viên chỉ huy có trình độ lão luyện vốn là một cướp biển và đô đốc của hạm đội Ottoman là một đòn nghiêm trọng. Các chỉ huy Thổ Nhĩ Kỳ, Piyale Pasha và Mustafa Pasha đã trở nên bất cẩn. Họ có một hạm đội lớn được sử dụng có hiệu lực duy nhất chỉ một lần. Họ bỏ qua các thông tin liên lạc của họ với các bờ biển châu Phi và đã không cố gắng để tìm kiếm và đánh chặn quân tiếp viện từ Sicilia.Ngày 01 tháng 9 họ đã tiến hành một nỗ lực cuối cùng, nhưng tinh thần chiến đấu của quân Ottoman đã xuống rất nghiêm trọng và các cuộc tấn công nổ ra một cách yếu ớt, và điều này đã khuyến khích những người bị bao vây, lúc này họ bắt đầu cảm thấy hy vọng được giải thoát. Những bối rối và thiếu quyết đoán của người Ottoman khi nghe nói đến quân tiếp viện của Sicilian ở Mellieħa Bay. Không biết rằng đây chỉ là một lực lượng rất nhỏ, họ đã dừng các cuộc bao vây và bỏ đi vào ngày 8 tháng 9. Cuộc Đại bao vây vào Malta có thể là hành động quân sự cuối cùng mà một lực lượng hiệp sĩ đã giành một chiến thắng quyết định.Khi người Thổ rời khỏi Malta thì Hospitaller chỉ còn có 600 người có thể cầm vũ khí. Con số ước tính đáng tin cậy nhất về số lượng của quân đội Ottoman là khoảng 40.000 quân nhưng cuối cùng chỉ có khoảng 15.000 người trở về Constantinople. cuộc bao vây này được miêu tả sinh động trong bức tranh tường của Matteo Perez d’Aleccio trong Đại sảnh của St Michael và St George, nơi đây cũng được gọi là Phòng Ngai vàng, tại cung điện của Đại thủ lĩnh Valletta… Sau khi cuộc bao vây kết thúc một thành phố mới đã được xây dựng – thành phố hiện nay có tên Valletta để tưởng nhớ vị Đại thủ lĩnh-người đã chiến thắng trong cuộc bao vây.

Những hiệp sĩ trong thế kỷ 16 và 17: tái chinh phục biển

Sau khi các Hiệp sĩ lại Hospitaller chuyển đến Malta họ thấy rằng họ không thể theo đuổi các mục tiêu ban đầu- cho sự tồn tại của họ; đó là hỗ trợ và tham gia những cuộc thánh chiến tại Đất Thánh lúc này đã chở thành một nhiệm vụ bất khả thi vì lý do tài chính và sức mạnh quân sự phụ thuộc vào vị trí địa lý. Với suy giảm nguồn thu từ tài trợ vì châu Âu không còn sẵn sàng hỗ trợ và một tổ chức tốn kém vô nghĩa, các Hiệp sĩ quay sang quan tâm đến Địa Trung Hải vì đang có các mối đe dọa ngày càng gia tăng của cướp biển, đặc biệt là từ những mối đe dọa của hoạt động của cướp biển Barbary vốn được hỗ trợ của triều Ottoman từ bờ biển Bắc Phi. Vào cuối thế kỷ 16 được khuyến khích mạnh mẽ bởi một chiến thắng quyết dịnh sau khi phòng thủ thành công cho hòn đảo của họ vào năm 1565 và cũng bởi chiến thắng của người Kitô giáo trước hạm đội Ottoman trong trận Lepanto năm 1571, các Hiệp sĩ đã lập nên hệ thống hộ tống các tầu thương gia của người Kitô giáo đến và đi từ Levant và giải phóng các nô lệ Thiên chúa giáo vốn bị bắt giữ bởi cướp biển Barbary Corsair. Hoạt động này được gọi là Corso.Tuy nhiên, lúc này Hội sớm phải vật lộn với sự giảm sút thu nhập. Bởi vì chính sách Địa Trung Hải mà họ phải cạnh tranh với người có trách nhiệm bảo vệ truyền thống của vùng Địa Trung Hải, các thành phố quốc gia hải quân như Venice, Genoa và Pisa. Chưa hết một điều nữa làm tồi tệ thêm tình hình tài chính của họ, trong suốt thời gian này tỷ giá hối đoái của đồng nội tệ so với đồng ‘scudo’ vốn được thành lập vào cuối thế kỷ 16 dần dần trở thành lỗi thời, có nghĩa là các hiệp sĩ dần dần nhận được ít hơn từ thương mại nội địa. Kinh tế bị cản trở bởi các hòn đảo cằn cỗi họ bây giờ ngày càng có nhiều người ở, nhiều hiệp sĩ của họ đã phải vượt ra ngoài cái gọi nhiệm vụ đột kích tàu Hồi giáo ( tức là cũng trở thành cướp biển). Và ngày càng có nhiều tàu bị cướp bóc, và các khoản lợi nhuận từ đó cho phép nhiều hiệp sĩ sống yên và sang trọng và cưới các phụ nữ địa phương làm vợ rồi đăng ký vào các lực lượng hải quân Pháp và Tây Ban Nha để tìm kiếm kinh nghiệm sống, phiêu lưu và nhiều tiền bạc hơn.Những sự thay đổi thái độ hiệp sĩ được kết hợp từ các tác động của cải cách và chống cải cách của Tôn giáo và sự thiếu ổn định từ Nhà thờ Thiên chúa giáo La Mã. Sự kiện này ảnh hưởng mạnh mẽ đến các Hiệp sĩ và vào thế kỷ 16 -> 17 thái độ sùng kính tôn giáo đã giảm dần trong rất nhiều người Kitô hữu ở châu Âu (và đồng thời tầm quan trọng của một đội quân tôn giáo) và do đó các Hiệp sĩ cũng thường xuyên phản ánh thái độ của các quốc gia châu Âu. Do đó các Hiệp sĩ-một tô chức quân sự Công giáo La Mã, lại muốn hợp tác với nước Anh và chở thành một trong những quốc gia thành viên của nó – Tổ chức đã bị tịch biên cùng với các tu viện của nó dưới thời vua Henry VIII-nhưng ở thời Nữ hoàng Elizabeth I theo Tin Lành, bà ta đã khéo léo thể hiện sự khoan dung tôn giáo mới với Tổ chức này. Thậm chí Tổ chức còn có một phần thành viên người Đức theo Tin Lành và một phần theo Công giáo La Mã.Sự xuy thoái đạo đức mà các Hiệp sĩ đã trải qua trong giai đoạn này được đánh dấu bởi nhiều hiệp sĩ quyết định phục vụ trong lực lượng hải quân nước ngoài và trở thành “lính đánh thuê- Hải cẩu từ thế kỷ 14 đến thế kỷ 17″ với Hải quân Pháp là điểm đến phổ biến nhất. Quyết định này đã đi ngược lại lý do cho sự tồn tại của các Hiệp sĩ, bởi vì bằng cách phục vụ trực tiếp một cường quốc châu Âu họ phải đối mặt với khả năng rất thực tế rằng họ sẽ phải chiến đấu chống lại một lực lượng Công giáo, như trong vài cuộc đụng độ hải quân giữa Pháp-Tây Ban Nha xảy ra trong thời gian này. Một trong những nghịch lý lớn nhất là một thực tế, trong nhiều năm Pháp vẫn tỏ ra thân thiện với Đế quốc Ottoman. Vào lúc này Đế quốc Ottoman là kẻ thù lớn nhất và khó chịu nhất của các Hiệp sĩ và là mục đích duy nhất cho sự tồn tại của họ. Paris đã ký kết nhiều hiệp định thương mại với Đế quốc Ottoman và đồng ý ký một hiệp ước ngừng bắn không chính thức ( cuối cùng lại không hiệu quả) giữa hai vương quốc trong thời kỳ này. Do đó khi các Hiệp sĩ liên kết với đồng minh của kẻ thù trong lễ tuyên thệ nhậm chức của họ đã cho thấy sự mâu thuẫn về mặt đạo đức trong thế kỷ 17. Phục vụ trong lực lượng hải quân nước ngoài, đặc biệt là cho nước Pháp, đã tạo cho các Hiệp sĩ cơ hội để phục vụ Giáo Hội và cho nhiều người khác nữa, thậm chí cho vua của nước Pháp, đã làm tăng cơ hội thăng tiến của các Hiệp sỹ trong lực lượng hải quân và được trả lương cao hơn và cũng để không bị trong những chuyến đi biển thường xuyên của họ. Quyết định này cho thấy ” sự mai một đi của lòng trung thành của các Hiệp sĩ với Tổ chức của họ và với đức tin Công giáo. Đổi lại, người Pháp đã có được kinh nghiệm về hải quân một cách nhanh chóng để ngăn chặn các mối đe dọa của Triều đình Habsburg của Tây Ban Nha.Malta thất thủThành lũy của họ ở Malta-Địa Trung Hải đã bị chiếm đóng bởi Napoleon trong năm 1798 trong chuyến viễn chinh của ông đến Ai Cập. Napoleon yêu cầu một hải cảng an toàn để tái cung cấp nước ngọt cho tàu của mình và khi họ từ chối ông ta, Bonaparte đã gửi một đơn vị để tấn công vào các ngọn đồi của Valletta. Đại thủ lĩnh Ferdinand von Hompesch zu Bolheim đã không thể đoán trước hoặc chuẩn bị cho mối đe dọa này, vì không được chỉ huy một cách hiệu quả, họ đã nhanh chóng đầu hàng Napoleon vì cho rằng điều luật của tổ chức cấm chiến đấu chống lại người Kitô hữu. Năm 1799, trong ô nhục và chịu áp lực từ tòa án của nước Áo, ông từ chức và rút lui về Montpellier-Pháp.

Cuộc Thập tự chinh lần thứ ba

Thời gian: năm 1189-> 1192

Địa điểm: vùng Cận Đông ( Anatolia, Levant, Palestine )

Kết quả: Hiệp ước Ramla

  • Jerusalem vẫn còn nằm trong sự kiểm soát của Hồi giáo
  • Thập tự quân chiến thắng trong tất cả các cuộc đụng độ quân sự
  • Ý củng cố kiểm soát các cảng của Syria
  • Người Hồi giáo cho phép người Thiên chúa giáo không vũ trang được hành hương vào Đất Thánh

Lãnh thổ thay đổi: Cyprus, Acre, Jaffa và phần lớn bờ biển Palestine nằm trong sự kiểm soát của Thập tự quân

Lực lượng đôi bên

Quân Thập tự chinh

  • Vương quốc JerusalemVương quốc Anh
    • Hiệp sĩ Templar
    • Hiệp sĩ Teutonic
    • Hiệp sĩ Hospitaller
  • Vương quốc của Pháp
    • Blois
  • Đế quốc La Mã Thần thánh
    • Swabia
    • Áo
    • Montferrat

Vương quốc Hungary

Chỉ huy của quân Thập tự chinh

  • Richard I của Anh
  • Guy của Lusignan – Jerusalem
  • Henry II của Champagne – Jerusalem
    • Robert de Sable – Hiệp sĩ Templar
    • Meister Sibrand – Hiệp sĩ Teutonic
    • Garnier de Nablus – Hiệp sĩ Hospitaller
    • Balian của Ibelin – Jerusalem
  • Philip II của Pháp
    • Theobald V của Blois
  • Frederick I – Đế quốc La Mã Thần thánh
    • Fredrick VI của Swabia
    • Leopold V của Áo
    • Conrad của Montferrat

Géza của Hungary

Lực lượng của quân Thập tự chinh

Anh: 8.000 người
Pháp: 2.000 người
Đức: 20.000 người ( có nguồn tin lên đến 100.000)

Người Saracens và đồng minh

  • Ayyubids
  • Zengids
  • Đế quốc Seljuk

Đế quốc Byzantine
Vương quốc Sicilia

Chỉ huy của người Saracens và đồng minh

  • Saladin – Ayyubid
  • Kilij Arslan II – Đế quốc Seljuk
  • Isaac II Angelus – Đế quốc Byzantine
  • Isaac Komnenos – Đế quốc Byzantine
  • Tancred của Sicily

Lực lượng người Saracens và đồng minh
Không có thông tin chi tiết

Cuộc Thập tự chinh lần thứ ba ( năm 1189-1192), cũng được gọi là Thập tự chinh của các nhà vua, là một nỗ lực của các nhà lãnh đạo châu Âu để chiếm lại các Đất Thánh từ Saladin (Salah ad-Din Yusuf ibn Ayyub). Đó là phần lớn thành công, nhưng đã giảm ngắn-mục tiêu cuối cùng của mình trong cuộc tái chiếm Jerusalem.

Sau sự thất bại của cuộc Thập tự chinh thứ hai, triều đình Zengid kiểm soát một Syria thống nhất và tham gia vào các cuộc xung đột với triều Fatimid cai trị Ai Cập, kết quả cuối cùng của cuộc chiến dẫn đến việc thống nhất các lãnh thổ Ai Cập và Syria dưới sự chỉ huy của Saladin, người lãnh đạo phong trào Thánh chiến và quyết tâm đánh đổ các Thành bang Kitô giáo để chiếm lại Jerusalem vào năm 1187. Bị thúc đẩy bởi lòng nhiệt thành tôn giáo, Henry II của Anh và Philip II của Pháp đã chấm dứt các cuộc xung đột của họ để bắt đầu lại một cuộc thập tự chinh mới (mặc dù Henry II đã chết vào năm 1189 và quân Thập tự chinh của Anh được Richard Lionheart chỉ huy thay thế). Hoàng đế La Mã Thánh Thần Frederick Barbarossa vốn đã cao tuổi đáp lại lời kêu gọi bằng cách huy động một đội quân lớn và dẫn đầu nó đến vùng Anatolia, nhưng ông đã bị chết đuối trước khi đến được vùng Đất Thánh. Rất nhiều người trong đội quân của ông đã không còn động lực và quyết định quay về nhà.

Sau khi đuổi người Hồi giáo ra khỏi Acre, lực lượng Thiên chúa giáo đã tranh chấp nhau về chiến lợi phẩm của cuộc chiến; vì thất vọng với Richard, Leopold V của Áo-người thừa kế của Frederick và Philip đã rời Đất Thánh vào tháng 8 năm 1191. Saladin đã thất bại trong mọi cuộc đụng độ quân sự trước Richard và Richard đã chiếm thêm được một số thành phố cứ điểm quan trọng ven biển. Tuy nhiên, vào ngày 02 tháng 9 năm 1192, Richard đã ký một hiệp ước với Saladin trong đó nói rằng Jerusalem sẽ vẫn thuộc người Hồi giáo kiểm soát, nhưng người Thiên chúa giáo hành hương không vũ trang được cho phép đến tham quan thành phố và Richard rời Đất Thánh vào ngày 9. Những thành công của cuộc Thập tự chinh lần thứ ba cho phép quân Thập tự chinh duy trì một vương quốc lớn có trụ sở tại Cyprus và bờ biển Syria. Nhưng sự thất bại của cuộc Thập tự chinh lần thứ ba trong việc tái chiếm Jerusalem đã dẫn đến việc kêu gọi một cuộc Thập tự chinh lần thứ tư sáu năm sau đó.

Tóm tắt bối cảnh

Người Hồi giáo thống nhất đất nước: Sau sự thất bại của cuộc Thập tự chinh lần thứ hai, Nur ad-Din Zangi đã kiểm soát Damascus và thống nhất Syria.

Cuộc chinh phục của Saladin: Saladin là người lãnh đạo cuộc thánh chiến chống lại quân Thập tự chinh và cũng là người trở thành vua của cả Ai Cập và Syria và sáng lập ra triều đại Ayyubid.

Sự sụp đổ của Vương quốc Jerusalem: Do Guy Lusignan-vua của Jerusalem đã không nghe lời khuyên của Raymond xứ Tripoli mà mang quân đi giải vây cho Tiberias dẫn đến quân Thập tự chinh bị thất bại và hoàn toàn tê liệt tại trận Hattin, hậu quả gần của nó là sự sụp đổ của vương quốc Jerusalem và hàng loạt các thành phố khác của quân Thập tự chinh trong năm 1087.

Đến cuối năm 1089, Saladin chiếm được Acre và Jerusalem. Giáo hoàng Urban III được cho là đã bị chết vì đau tim khi nghe tin về sự sụp đổ này. Tuy nhiên thì tại thời điểm xảy ra cái chết của ông, tin tức về việc Jerusalem thất thủ vẫn chưa thể đến được tai của ông ta, mặc dù ông đã biết về kết quả của trận chiến Hattin và sự sụp đổ của Acre.

Chuẩn bị

Đức Giáo Hoàng mới-Gregory VIII tuyên bố rằng việc chiếm Jerusalem là hình phạt cho tội lỗi của người Kitô hữu trên khắp châu Âu. Đây là một lời kêu gọi cho một cuộc thập tự chinh mới đến Đất Thánh. Henry II của Anh và Philip II của Pháp đã kết thúc cuộc chiến tranh giữa họ với nhau và thậm chí đã ra một sắc lệnh thuế mới ” thuế thập phân Saladin ” đánh vào các công dân của họ để tài trợ cho cuộc Thập tự chinh. Tại Anh, Baldwin của Exeter, Tổng-giám-mục Canterbury, đã thực hiện một chuyến đi tới xứ Wales để thuyết phục 3.000 binh lính mang chiếc chữ thập ( dụ dỗ họ tham gia cuộc Thập tự chinh), chuyến đi này được ghi lại trong quấn hành trình của Giraldus Cambrensis.

Chiến dịch của Barbarossa

Hoàng đế cao tuổi của Đế quốc La Mã Thánh Thần Frederick Barbarossa đáp lại lời kêu gọi này ngay lập tức. Ông đã nhận chiếc Thánh Giá tại tòa nhà thờ chính ở Mainz vào ngày 27 tháng 3 năm 1188 và là người đầu tiên khởi hành để đến về phía vùng Đất Thánh vào tháng 5 năm 1189 với một đội quân gồm khoảng 100.000 người, bao gồm 20.000 hiệp sĩ. Tuy nhiên, một số sử gia tin rằng đây là một con số cường điệu và rằng con số thực có thể chỉ lên đến hơn 15.000 người, bao gồm 3.000 hiệp sĩ. Một đội quân khoảng 2.000 người được dẫn đầu bởi Géza-hoàng tử Hungary, em trai của vua Béla III của Hungary cũng đi cùng với Barbarossa để đến Đất Thánh.

Hoàng đế Byzantine Isaac II Angelus đã thực hiện một liên minh bí mật với Saladin để cản trở bước tiến của Frederick để đổi lấy sự an toàn của Đế quốc của mình. Trong khi đó, quốc vương Hồi giáo Rum hứa cho Frederick hành quân an toàn qua vùng Anatolia, nhưng sau khi phải chịu nhiều cuộc tập kích Frederick đã mất kiên nhẫn và vào ngày 18 tháng 5, 1190, quân đội Đức đã công chiếm Iconium, thủ đô của Vương quốc Hồi giáo của Rum. Ngày 10 tháng 6 năm 1190 con ngựa nhỏ của Frederick đã trượt ngã trong khi qua sông Saleph và hất ông ta vào các tảng đá. Sau đó ông bị chết đuối trên con sông này. Sau đó, phần lớn quân đội của ông đã trở về Đức để tham dự đoán cuộc bầu chọn Hoàng đế sắp tới. Frederick xứ Swabia-con trai của ông ta tiếp tục dẫn đầu khoảng 5000 người còn lại 5.000 đến Antioch. Ở đó, cơ thể của vị hoàng đế đã được đun sôi để loại bỏ phần xác thịt-phần này được chôn tại nhà thờ Thánh Peter, bộ xương của ông đã được đặt trong một cái túi để tiếp tục cuộc thánh chiến. Tuy nhiên tại Antioch thì quân Đức tiếp tục bị hao hụt bởi dịch sốt. Frederick Trẻ tuổi ( vì bố ông ta cũng tên là Frederick ) đã phải yêu cầu sự hỗ trợ của người thân tộc ông là Conrad của Montferrat để đưa ông đến Acre một cách an toàn bằng cách vượt qua Tyre, nơi xương cốt của ông cha được chôn cất ở đó.

Cuộc khởi hành của Richard và Philip

Henry II của Anh quốc qua đời vào ngày 06 tháng 7 1189 sau khi phải chịu một thất bại trước con trai ông-Richard I (Lionheart) và Philip II. Richard thừa kế ngôi vua và ngay lập tức bắt đầu gây quỹ cho cuộc thập tự chinh này. Trong tháng bảy năm 1190, Richard và Philip đã cùng khởi hành từ Marseille, Pháp đến Sicily. Philip II đã thuê một đội tầu vận tải của người Genova để vận chuyển quân đội của mình trong đó bao gồm 650 hiệp sĩ, 1.300 ngựa chiến và 1.300 hộ sỹ đến Đất Thánh.

William II của Sicily đã chết vào năm trước đó và được kế nhiệm bởi Tancred, người đã tống Joan của Anh quốc- vợ của William và cũng là em gái của Richard vào tù. Richard ra tay can thiệp và chiếm được Messina-thủ đô của Sicily vào ngày 04 tháng 10 năm 1190 và Joan đã được phóng thích. Richard và Philip lại có vấn đề về cuộc hôn nhân của Richard, bởi vì ông này ( Richard ) đã quyết định kết hôn với Berengaria của Navarre và phá vỡ lời hứa hôn từ lâu của mình với Alys-em gái cùng bố khác mẹ của Philip. Philip rời Sicily và đi thẳng tới Trung Đông vào ngày 30 tháng Ba năm 1191 và đến Tyre vào giữa tháng. Ông tham gia vào cuộc bao vây Acre vào ngày 20 tháng 5. Richard đã không khởi hành từ Sicily cho đến ngày 10 tháng 4 năm đó.

Ngay sau khi khởi hành từ Sicily, Hạm đội gồm chiếc 100 tàu của Richard (chở 8.000 quân) đã bị tấn công bởi một cơn bão mạnh. Một số tàu bị mắc cạn, trong đó có một chiếc chở Joan và Berengaria-vị hôn thê mới của ông ta và một lượng lớn các kho báu được tích lũy để chi dùng cho cuộc thập tự chinh này. Họ đã ngay lập tức phát hiện ra rằng Isaac Dukas Comnenus của Síp đã thu giữ kho báu này. Những phụ nữ trẻ thì không bị hề hấn gì. Richard tiến vào Limassol vào ngày 6 và gặp Isaac,ông này đã ngay lập tức đồng ý trả lại đồ đạc cho Richard và cũng gửi ké 500 binh sĩ của ông đến vùng Đất Thánh. Sau khi trở lại pháo đài Famagusta của ông, Isaac đã phá vỡ lời tuyên thệ của ông về lòng hiếu và ra một mệnh lệnh bắt Richard phải rời khỏi hòn đảo này. Sự kiêu ngạo của Isaac khiến Richard nổi giận và tiến hành chinh phục hòn đảo này trong vài ngày sau đó ông tiếp tục hành trình đến Đất Thánh và tham gia vào cuộc bao vây Acre.

Cuộc bao vây Acre

Cuộc vây hãm Acre là một trong những cuộc đối đầu đầu tiên của cuộc thập tự chinh lần thứ 3, kéo dài từ 28 tháng tám năm 1189 cho đến ngày 12 tháng 7 1191, và lần đầu tiên trong lịch sử mà vị vua của Jerusalem bị ép buộc phải đích thân đứng nhìn công cuộc bảo vệ Đất Thánh. Nó cũng là một trong những sự kiện đẫm máu nhất toàn bộ của thời kỳ của các cuộc thập tự chinh của giai cấp thống trị người Kitô giáo ở phương đông.

Bối cảnh

Sau khi Saladin đánh bại quân Thập tự chinh ở trận Hattin vào ngày 04 tháng 7 năm 1187, ông ta đã chinh phục một phần lớn Vương quốc Jerusalem trong đó có cả thành phố Acre với một sự đề kháng nhỏ và ngày 2 tháng 10 ông chiếm nốt Jerusalem. Sau đó Thập tự quân chỉ kiểm soát Tyre, Tripoli và Antioch, những nơi này đã bị Saladin tấn công trong năm 1188 mặc dù ông này đã không thu được thành công. Tin tức về sự sụp đổ của Jerusalem và Palestine đã gây sốc cho châu Âu và ngay lập tức đã có những lời kêu gọi về một cuộc Thập tự chinh mới bởi Giáo hoàng Gregory VIII vào tháng 10 năm 1187 và được tiếp tục bởi người kế nhiệm Đức Giáo Hoàng Clement III.

Tyre

Trong Tyre, Conrad của Montferrat đã cố thủ thành công trước các đợt tấn công của Saladin vào cuối năm 1187. Sau đó nhà vua hướng sự chú ý của mình vào các mục tiêu khác, nhưng sau đó đã cố gắng thương lượng một hiệp ước để thành phố đầu hàng, nhưng trong giữa năm 1188 lực lượng tăng viện đầu tiên từ châu Âu đến Tyre bằng đường biển. Cũng với những cam kết khác theo các điều khoản của hiệp ước Saladin sẽ phải phóng thích vua Guy, người mà ông đã bắt tù binh tại Hattin ( để đổi lấy việc bàn giao thành phố, nhưng mặc dù quân Kitô giáo đã có tiếp viện và không giao thành phố nữa ông vẫn cho thả Guy). Việc này đã leo thang xung đột giữa Guy-người đã có lỗi trong thảm họa của Hattin và Conrad-người đã bảo vệ thành công Tyre khỏi cuộc xâm lược tiếp theo. Guy đã được phóng thích và xuất hiện trước Tyre, nhưng Conrad đã không để cho ông ta vào thành phố và tuyên bố rằng là ông sẽ quản lý nó cho đến khi các vị vua khác sẽ đến từ trên biển để nhận bàn giao.Đây là điều đúng theo quy định trong di chúc của Baldwin IV: ông (Conrad của Montferrat) là người bà con gần nhất về đằng nội của Baldwin V. Guy bỏ đi trước khi xuất hiện một lần nữa ở bên ngoài Tyre với vợ của mình là nữ hoàng Sibylla, người sở hữu vương quốc này trên phương diện luật pháp, nhưng ông lại bị từ chối bởi Conrad và ông đã phải hạ trại của mình ở bên ngoài cổng của thành phố.

Vào cuối mùa xuân năm 1188, William II của Sicily đã gửi tới một đội tàu với 200 hiệp sĩ, họ đến vào ngày 06 Tháng Tư năm 1189, Ubaldo Lanfranchi, Đức Tổng-giám-mục của Pisa cụng đến với 52 tàu. Guy đã thành công trong việc thuyết phục hai đội quân này về phe mình. Trong tháng Tám, Conrad lại từ chối không cho ông ta tiến vào thành phố, vì vậy ông này ( Guy ) đã cho dỡ trại và tiến về phía nam để tấn công Acre, ông và quân đội của mình hành quân dọc theo bờ biển, trong khi quân đến từ Pisans và Sicilia đi bằng đường biển. Guy rất cần một căn cứ vững chắc để từ đó ông có thể tổ chức một cuộc phản công vào Saladin và kể từ lúc ông không thể lấy lại Tyre, ông đã hướng sự quan tâm của mình vào Acre-50 km ( 31 dặm ) về phía nam ( của Tyre). Vì vậy, Guy và Conrad lại trở thành những đồng minh để chống lại Saladin.

Acre

Cảng Acre nằm trên một bán đảo ở Vịnh Haifa. Phía Đông của phần cũ của thành phố là cảng và nó được bảo vệ để phòng thủ từ biển, trong khi về phía tây và phía nam bờ biển được bảo vệ bởi một bức tường thành kiên cố. Bán đảo này được bảo vệ về phía đất liền bằng hai công sự được gia cố bằng các tháp canh. Đơn vị đồn trú người Hồi giáo của thành phố có thể đông gấp hai lần so với quân đội do Guy, người đến ngày 28 tháng 8, 1189. Ông này đã cố gắng để tấn công bất ngờ các đơn vị đồn trú bằng một cuộc xung phong vào các bức tường, nhưng chiến thuật này đã không thành công và do đó Guy cho lập doanh trại của ông ở bên ngoài thành phố để chờ quân tiếp viện, lực lượng này bắt đầu đến đó bằng đường biển một vài ngày sau đó. Một hạm đội Đan Mạch và Frisian sẽ thay thế cho người Sicilia, họ đã rút lui khi nghe tin tức về cái chết của William II. binh sĩ Pháp và Flemish cũng đã đến dưới sự chỉ huy của James của Avesnes, Henry I của Bar, Andrew của Brienne, Robert II của Dreux, và Philip của Dreux-anh trai của ông ( Guy ), Giám mục của Beauvais. Binh sỹ người Đức dưới sự chỉ huy của Margrave Louis III của Thuringia và Otto I của Guelders và người Ý dưới sự chỉ huy của Đức-Tổng-Giám mục Gerhard của Ravenna và Giám mục của Verona cũng đã đến. Louis của Thuringia đã có thể thuyết phục Conrad, anh em họ đằng mẹ của ông đưa quân từ Tyre đến. Khi Saladin được thông báo về việc hội binh này, ông đã tập hợp quân đội và hành quân đến Acre, nơi ông đã tấn công không thành công vào doanh trại của Guy vào ngày 15.

Trận Acre

Ngày 04 Tháng 10 năm 1189, Saladin di chuyển về phía đông của thành phố và đối mặt với doanh trại của Guy. Quân Thập tự chinh (trong đó bao gồm 7.000 bộ binh và 400 kỵ binh) không kể lực lượng của Guy đã dàn trận trước lực lượng của Saladin. Quân đội Thiên chúa giáo bao gồm các lãnh chúa phong kiến của vương quốc này, nhiều đội quân Thập tự chinh nhỏ đến từ châu Âu và các thành viên của các Tổ chức Hiệp sỹ thánh chiến, quân đội Hồi giáo bao gồm quân đội từ Ai Cập, Turkestan, Syria và Lưỡng Hà.

Người Hồi giáo dàn một đội hình bán nguyệt về phía đông của thành phố và quay mặt về phía Acre. Quân Thập tự chinh đóng ở giữa với xạ thủ bắn nỏ trang bị nhẹ ở dòng đầu tiên và kỵ binh nặng trong dòng thứ hai. Tại trận Arsuf sau đó các Kitô hữu đã chiến đấu một cách mạch lạc, ở đây các trận chiến bắt đầu với một chiến tách biệt giữa các Templar và cánh phải của Saladin. Các hiệp sỹ Templar đã đánh bại đối phương làm cho họ phải điều quân tiếp viện từ các phần khác trong đội hình của họ. Do đó cánh trung quân của Kitô giáo có thể tiến lên một cách ổn định để tấn công vào cánh quân trung tâm của Saladin, các xạ thủ bắn nỏ liên tục xạ kích để mở đường cho một cuộc tấn công bằng bộ binh và nó đã gặp không sức đề kháng quá lớn. Cánh quân trung tâm dưới sự chỉ huy trực tiếp của Saladin và cánh phải đã phải bỏ chạy.

Tuy nhiên khi những kẻ thắng trận tản mát ra để cướp bóc chiến lợi phẩm. Saladinđã cho tập hợp người của mình và khi các Kitô hữu bắt đầu nghỉ ngơi với đống chiến lợi phẩm của họ, thì ông đã tung các kỵ binh nhẹ của mình ra để tấn công những kẻ đang thỏa mãn chiến thắng. Người Kitô giáo kháng cự một cách rời rạc và người Thổ Nhĩ Kỳ tàn sát những kẻ đào tẩu cho đến khi bị chặn lại bởi các đội quân mới xuất hiện từ sườn bên phải của người Kitô giáo. Vào lúc này của cuộc chiến, lực lượng dự bị dưới sự chỉ huy của Guy đang cầm cự với người Saracens ở Acre, cũng phải rút lui và do đó khoảng 5.000 người Hồi giáo phá vòng vây ra khỏi thành phố và tiến về phía Bắc, rồi họ gia nhập với cánh phải của Saladin và đánh ồ ạt vào nhóm Hiệp sỹ Templar, những người bị chặn mất đường rút lui của họ. Gerard de Ridefort-Đại thủ lĩnh của Templar đã bị giết. Andrew của Brienne cũng thiệt mạng và Conrad đã được giải cứu bởi Guy. Cuối cùng thì quân Thập tự chinh cũng đẩy lui được đội quân phá vây, Thương vong của phe Kitô giáo trong dao động khoảng từ 4.000 -> 5.000 trong tổng số 10.000 người. Saladin không thể đẩy họ trở lại vì không thể triển khai một cuộc tấn công dữ dội nữa và chiến thắng của ông là vẫn chưa hoàn toàn.

Cuộc bao vây kép

Trong mùa thu, nhiều quân Thập tự chinh châu Âu đã kéo đến, cho phép Guy phong tỏa Acre bằng đường bộ. Tin tức về sự xuất hiện sắp xảy ra của Frederick I, Hoàng đế La Mã Thần thánh đã đến tai Thập tự chinh, không chỉ làm tăng tinh thần chiến đấu của quân Thiên Chúa Giáo mà còn buộc Saladin phải mang đến nhiều binh sĩ hơn nữa để vây cả thành phố và doanh trại của quân Thập tự chinh trong hai cuộc vây hãm riêng biệt.

15 tháng trôi qua mà không có hành động lớn giữa hai bên. Ngày 31 tháng 10, 50 chiếc Galley của người Hồi giáo đã phá vỡ phong tỏa đường biển và vượt qua vòng vây của người Cơ Đốc giáo để cung cấp cho thành phố thực phẩm và vũ khí. Ngày 26, một hạm đội Ai Cập xuất hiện để thiết lập lại quyền kiểm soát khu cảng và đường vào nó. Trong tháng 3 năm 1190, khi thời tiết trở nên tốt hơn, Conrad đi tới Tyre trên tàu riêng của mình và sớm trở lại với các nguồn cung cấp cho quân Thập tự chinh, giúp họ chiến đấu chống lại hạm đội Ai Cập từ trên bờ. Các vật liệu xây dựng đưa tới bởi Conrad đã được dùng để chế tạo các máy móc và thiết bị bao vây, mặc dù những máy móc này đã bị mất khi quân Thập tự chinh cố gắng để tấn công thành phố vào tháng 5.

Ngày 19 tháng 5, Saladin đã tiếp tục tăng cường quân đội của mình trong những tháng trước đó, đã bắt đầu một cuộc tấn công vào doanh trại của quân Thiên chúa giáo, cuộc tấn công này kéo dài tám ngày trước khi nó bị đẩy lùi. Ngày 25 tháng 7, bất tuân mệnh lệnh chỉ huy của họ, binh lính người Thiên Chúa giáo đã đổ ra và tấn công vào bên sườn phải của Saladin và họ bị đánh bại. Có thêm quân tiếp viện từ Pháp tới doanh trại của Thập tự quân trong mùa hè do Henry II của Champagne, Theobald V của Blois, Stephen I của Sancerre, Ralph của Clermont, John của Fontigny, Alain của Saint-Valéry, Đức Tổng-Giám-Mục của Besançon, Giám mục của Blois và Giám mục của Toul. Frederick VI-Công tước của Swabia đến vào đầu tháng 10 với phần còn lại của quân đội của cha mình ( Frederick Barbarossa ) sau khi hoàng đế bị chết đuối tại sông Saleph vào ngày 10 tháng Sáu và ngay sau đó quân Thập tự chinh người Anh dưới sự chỉ huy của Baldwin Exeter, Tổng-giám mục-Canterbury. Trong tháng 10, Bá tước của Bar cũng đã đến và ngườiKitô hữu đã có một bước đột phá qua Haifa và cố gắng này đã cho phép họ mang được nhiều thực phẩm hơn để đến doanh trại của quân Thiên Chúa giáo tại Acre.

Sinh hoạt ở trong thành phố ( Hồi giáo) và doanh trại của quân Thiên Chúa giáo tại Acre nhanh chóng trở nên khó khăn sau khi họ bị phong tỏa bởi Saladin. Thực phẩm vẫn còn hạn chế, nguồn nước cung cấp cho người Thiên Chúa giáo đã trở nên bị ô nhiễm bởi xác chết động vật và con người ( quân Hồi giáo hạ độc các nguồn nước bằng xác chết của động vật và con người ) và các dịch bệnh lây lan nhanh chóng bắt đầu. Bị lây bệnh sốt rét nên Louis của Thuringia đã phải trở về nhà khi người Pháp đến và ông này đã chết ở Síp trên đường trở lại Acre vào ngày 16. Ở khoảng cuối tháng Bảy đến tháng Mười, vợ của Guy-Nữ hoàng Sibylla đã chết và một vài ngày sau đó thì cả hai cô con gái của họ-Alais và Marie đều chết hết. Vì cái chết của nữ hoàng, Guy đã bị mất quyền đòi ngai vàng của Jerusalem như là người thừa kế hợp pháp của Sibylla. người thừa kế chính của bà ta lúc này chính là cô em gái cùng cha khác mẹ-Isabella của Jerusalem. Tuy nhiên Guy đã từ chối ủng hộ Isabella.

Các nhà quý tộc của vương quốc này ( tàn dư phe đả.ng của Raymond ) đã sử dụng cơ hội này để truất ngôi của Guy và sắp xếp cuộc hôn nhân của Conrad với Isabella. Tuy nhiên, Isabella đã kết hôn với Humphrey IV của Toron và tình trạng hôn nhân của Conrad là không chắc chắn (ông này đã cưới một công chúa Byzantine vào năm 1187, vài tháng trước khi đến Tyre, cô ta đã bãi hôn khi ông ta vắng mặt) . Ngoài ra, người chồng đầu tiên của Sibylla lại là William Longsword-anh trai của Conrad, một cuộc hôn nhân giữa Isabella và Conrad có thể bị coi là “loạn luân”. Giáo trưởng Eraclius bị bệnh, và Baldwin- của Exeter, người đại diện được chỉ định của ông lại đột ngột qua đời vào ngày 19. Vì vậy đích thân Đức Tổng-Giám-Mục Ubaldo Lanfranchi của Pisa và cũng là người thừa kế của giáo hoàng, cùng với Philip-Đức Giám mục của Beauvais đã đồng ý để Isabella ly hôn với Humphrey vào ngày 24. Conrad rút về Tyre cùng với Isabella nhưng Guy vẫn khăng khăng cho rằng ông ta vẫn là vua của Jerusalem: tranh chấp này đã không được giải quyết triệt để cho đến khi có một cuộc bầu cử vào năm 1192.

Quân đội của Saladin lúc này đã quá đông nên quân Thập tự chinh không thể tiến hành bất kỳ cuộc tăng viện nào trên bộ đất và mùa đông có nghĩa là không có nguồn cung cấp hoặc tiếp viện bằng đường biển. Trong doanh trại Kitô giáo, các thủ lĩnh bắt đầu phải chống chọi với dịch bệnh. Theobald của Blois và Stephen của Sancerre đã chết và Frederick của Swabia cũng đã chết vào ngày 20 tháng 1 năm 1191. Henry của Champagne đã phải nằm dài vì bệnh tật trong nhiều tuần trước khi hồi phục. Giáo Trưởng Eraclius cũng đã chết trong cuộc bao vây nhưng rõ vào ngày tháng nào.

Ngày 31 tháng 12, một nỗ lực khác để tấn các bức tường thành đã không thành công và vào ngày 06 tháng 1 năm 1191 một phần bức tường sụp đổ dẫn đến việc người Kitô giáo đã tiến hành nhiều nỗ lực để đè bẹp đơn vị đồn trú Hồi giáo ở trong thành phố. Ngày 13 tháng 2, Saladin thành công trong việc phá vỡ đội hình của người Thiên chúa giáo và vào được thành phố để ông có thể thay thế những người lính phòng thủ đã kiệt sức bằng một đơn vị đồn trú mới nếu không thì có thể toàn bộ lực lượng đồn trú cũ đã chết vì bệnh dịch. Conrad của Montferrat cố gắng tiến hành một cuộc tấn công bằng đường biển vào chiếc tháp Flies nhưng gặp bất lợi về gió và vỉa đá ngầm bên dưới bề mặt nước đã ngăn cản không cho các con tàu của ông có thể tiến vào đủ gần để gây thiệt hại đáng kể. Tuy nhiên trong tháng ba khi thời tiết trở nên tốt hơn và các con tàu lại một lần nữa có thể cập bến và cho bốc dỡ vật tư lên bờ biển, người Kitô giáo lại một lần nữa tránh khỏi nguy cơ thất bại. Leopold V của Áo đến và nắm quyền kiểm soát lực lượng Thiên chúa giáo. Sự kiện các con tàu cập bờ cũng là những thông tin xấu cho Saladin. Ông đã bỏ lỡ cơ hội của mình để đè bẹp số Kitô hữu còn lại và bây giờ vua Richard của Anh quốc cùng với vua Philip của Pháp quốc đang trên đường đến Đất Thánh, mỗi người đi kèm với một đội quân của mình. Cơ hội để chiến thắng của Saladin là đã bị tuột mất.

Các vị vua ở Acre

Philip đến ngày 20 Tháng Tư và Richard ngày 08 tháng 6 năm 1191 sau khi ông tranh thủ cơ hội để chinh phục đảo Síp trên đường đi. Richard I đến với một hạm đội của Anh gồm 100 tàu ( chở 8.000 quân), trong khi Philip II đã đến với một hạm đội của Genova dưới sự chỉ huy của Simone Doria. Philip đã sử dụng thời gian chờ đợi Richard để chế tạo những chiếc tháp công thành và bây giờ những vị vua hùng mạnh nhất của châu Âu đã xuất hiện, và lúc này chỉ có thành phố chứ không phải là doanh trại của người Kitô giáo bị bao vây. Khi Richard đến, ông đã tìm cách đàn phán với Saladin và một cuộc ngừng bắn ba ngày đã được thoả thuận để cuộc đàn phán có thể được tiến hành. Tuy nhiên, cả Richard và Philip đều bị ốm và cuộc đàn phán đã không xảy ra.

Các máy công thành đã phá được những lỗ thủng ở bức tường của Acre, nhưng mỗi lần quân Thiên chúa giáo tổ chức một đợt công thành thì họ lại phải chống trả lại một cuộc tấn công dữ dội từ đội quân của Saladin và nó tạo cho đơn vị đồn trú của Acre có cơ hội để sửa chữa những thiệt hại trong khi các Kitô hữu phải phân tâm để đối phó với quân Hồi giáo ở phía ngoài. Ngày 01 tháng 7, Philip của Alsace đã chết trong doanh trại, đây là một cuộc khủng hoảng lớn cho vua Pháp, vì kể từ khi Philip-Bá tước của Flanders và Vermandois và cũng là một trong những người quan trọng nhất trong đoàn tùy tùng của nhà vua chết đi thì ông này đã không còn người thừa kế và việc giải quyết thừa kế của ông là một vấn đề khẩn cấp nhưng rất khó khăn vì nhà vua đang ở rất rất xa nước Pháp.

Vào ngày 03 tháng 7, một cuộc bắn phá đủ dữ dội để tạo ra lỗ thủng trong các bức tường, nhưng các cuộc tấn công của quân Thiên chúa giáo vẫn bị đẩy lùi. Ngày 04 tháng 7, thành phố đề nghị xin đầu hàng, nhưng Richard từ chối các điều kiện của họ. thời gian này Saladin không tiến hành được một cuộc tấn công quy mô lớn nào vào doanh trại của quân Thiên chúa giáo. Ngày 07 tháng bảy, thành phố đã gửi một sứ giả để yêu cầu Saladin trợ giúp và đe dọa sẽ đầu hàng nếu ông ta không giúp đỡ. Ngày 11 tháng 7, đã xảy trận chiến cuối cùng và vào ngày 12 thành phố lại một lần nữa đưa ra điều kiện xin đầu hàng cho quân Thập tự chinh và lần này họ đã được chấp nhận. Conrad của Montferrat đã trở về Tyre vì Richard đã ủng hộ cho Guy của Lusigna làm vua của Jerusalem, và chiến dịch được tạm dừng theo yêu cầu đàn phán của Saladin. Saladin đã không đích thân tham gia vào các cuộc đàm phán, nhưng đã chấp nhận cho thành phố được đầu hàng. Quân Kitô giáo tiến vào thành phố và đơn vị đồn trú Hồi giáo đã bị tống giam. Conrad giơ cao ngọn cờ của Vương quốc Jerusalem và sau đó là cờ của Pháp, Anh và Áo trong thành phố.

Leopold của Áo rời khỏi Acre ngay sau khi chiếm được thành phố sau khi có một cuộc cãi vã với Richard: là người lãnh đạo còn sống sót của Đế quốc Đức hoàng, ông yêu cầu phải được đối xử ngang bằng với vị thế Philip và Richard nhưng đã bị từ chối và cờ hiệu của ông bị xé rách và ném xuống từ các thành lũy của Acre. Ngày 31 Tháng Bảy, Philip cũng trở về nhà để giải quyết việc thừa kế Vermandois và Flanders và chỉ còn Richard ở lại để phụ trách các lực lượng viễn chinh Thiên chúa giáo.

Việc hành quyết các tù nhân

Lúc Richard và Saladin để hoàn tất việc đầu hàng của thành phố. Lực lượng Kitô giáo bắt đầu xây dựng lại tuyến phòng thủ của Acre và Saladin thu tiền để trả cho các khoản chuộc binh lính đồn trú lúc này đang bị bỏ tù. Ngày 11 tháng 8, Saladin giao số tiền đầu tiên của ba lần thanh toán đã được lên kế hoạch và tiến hành trao đổi tù nhân, nhưng Richard lại từ chối điều này bởi vì các quý tộc Christian đã không được bao gồm trong cuộc trao đổi này và nó đã bị đổ vỡ rồi các cuộc đàm phán thêm nữa cũng không thành công. Richard cũng đã nhấn mạnh về việc bàn giao này Philip cũng phải chia sẻ với các tù nhân qua người mà nhà vua Pháp đã ủy quyền, đó là Conrad của Montferrat người thân tộc của ông. Conrad miễn cưỡng đồng ý, dưới áp lực của Richard. Ngày 20 tháng tám, Richard nghĩ rằng Saladin đã bị trì hoãn quá lâu và mang 2700 tù nhân Hồi giáo từ đơn vị đồn trú của Acre ra chặt đầu. Saladin phản ứng bằng cách hành động tương tự, hành hình tất cả các tù nhân Kitô giáo mà ông đã bắt. Ngày 22 Tháng Tám, Richard và quân đội của ông rời thành phố và nó được bàn giao tạm thời cho các quân viễn chinh của Bertram de Verdun và Stephen de Lonchamp.

Hậu quả

Các đội quân Thập tự chinh đã hành quân về phía nam, với biển đến quyền và quân đội của Saladin sau họ lại của họ. Ngày 07 tháng chín, họ gặp nhau tại trận Arsuf, phía bắc của Jaffa, trong đó Saladin đã bị đánh bại. Richard bắt Jaffa vào ngày 10, nhưng vì lý do chiến lược quyết định không vây Jerusalem. Các tranh chấp về vương quyền của Jerusalem đã được giải quyết trong tháng 4 năm 1192, với cuộc bầu cử của Conrad của Montferrat, nhưng ông đã bị ám sát chỉ vài ngày sau chiến thắng của mình. Nữ hoàng Isabella mang thai đã được vội vã kết hôn và Philip cháu trai của Richard, Henry của Champagne.

Trận Arsuf

Ngày: 07 tháng 9 năm 1191
Địa điểm: Arsuf- Đất Thánh
Kết quả: Thập tự quân chiến thắng
Quân Thập tự chinh: Quân Anh, Hiệp sĩ Templar, Hiệp sỹ Hospitaller. Chỉ huy Richard I của Anh quốc, Robert de sable – Templar, Garnier de Nablus – Hospitaller.
Lực lượng: 20.000 người bao gồm: 14.000 bộ binh, 4.000 hiệp sĩ, 2.000 turcopoles ( cung kỵ và kỵ binh hạng nhẹ).
Thiệt hại: 700 người
Quân Hồi giáo: Vương triều Ayyubids ( binh lính đến từ Thổ nhĩ kỳ, Syria, Ai Cập, Lưỡng Hà …).
Chỉ huy: Saladin.
Lực lượng: 20.000 kỵ binh, không rõ số lượng bộ binh.
Thiệt hại: 7.000.

Trận Arsuf là một trận chiến của cuộc Thập tự chinh lần thứ ba, trong đó Richard I của Anh quốc đã đánh bại Saladin ở Arsuf. Sau một loạt các cuộc tấn công quấy rối bởi lực lượng của Saladin, trận chiến đã tham gia vào sáng ngày 07 Tháng 9 năm 1191. Lực lượng của Richard đã chống lại mọi nỗ lực để phá vỡ sự gắn kết trong đội hình của họ cho đến khi hàng ngũ của các Hiệp sỹ Hospitaller bị phá vỡ, ông tập hợp lại lực lượng của mình và dẫn họ tới chiến thắng.

Tiến về phía Nam từ Acre

Sau khi chiếm được Acre năm 1191, Richard đã phải chiến đấu theo kiểu hàng loạt các cuộc đụng độ với Saladin ( có khả năng là Saladin chiến đấu trên sân nhà và cóđông quân hơn nên dễ dàng hơn trong việc thay thế những người lính bị tử trận của mình hơn nên ông ta ưa cách đánh tiêu hao-và ông ta cũng chẳng muốn đối trận với quân địch có trang bị tốt hơn ), mà mục tiêu chính là để ngăn chặn sự tái chiếm Jerusalem. Biết rằng mình cần phải kiểm soát được hải cảng Jaffa trước khi thực hiện được một nỗ lực tấn công về Jerusalem, Richard bắt đầu hành quân dọc theo bờ biển từ Acre vào ngày tháng 8m 1191. Richard đã cố gắng chuẩn bị trước với sự chú ý tới mọi tiết. Ý thức được những bài học của thảm họa tại trận Hattin , ông biết rằng cái mà quân đội của ông cần nhất là nước và sự kiệt sức là nguy hiểm lớn nhất của họ. Mặc dù bị nhiều sức ép về thời gian, ông đã cho chỉ hành quân trong buổi sáng trước khi phải chịu cái nóng đỉnh cao trong ngày. Ông đã cho dừng lại nghỉ ngơi thường xuyên, luôn luôn ở bên cạnh các nguồn nước. Hạm đội khởi hành đi dọc theo bờ biển để cung cấp những hỗ trợ tức thì, đó là một nguồn cung cấp lương thực và nơi điều trị cho những người bị thương. Ý thức được sự nguy hiểm từ khả năng xuất hiện vào bất cứ lúc nào của đối phương cũng như kỹ năng tấn công đánh và rút ( hit-and-run) của họ, ông luôn tìm cách giữ đội hình các cột một cách chặt chẽ với một xương sống gồm mười hai đại đội kỵ binh, mỗi đại đội có khoảng một trăm hiệp sĩ. Lực lượng bộ binh hành quân tạo thành một cánh để hộ tống cho kỵ binh khỏi bị tấn công từ phía đất liền ( tức là 12 đại đội kỵ binh lần lượt nối đuôi nhau lập thành một cột sát mép bờ biển, lực lượng bộ binh lập thành một cột ở bên trái lực lượng kỵ binh để bảo vệ họ ). Bất chấp liên tục bị quấy rối bởi các cung thủ và tarantulas của Saladin vào ban đêm, chiến thuật của Richard vẫn đảm bảo tổ chức và kỷ luật của Thập tự quân vẫn được duy trì hoàn cảnh khó khăn nhất. Baha ad-Din ibn Shaddad, nhà sử gia Hồi giáo mô tả cuộc hành quân như sau:Người Hồi giáo bắn tên vào các bên sườn của họ, cố gắng để khuấy động họ phá vỡ hàng ngũ, nhưng họ vẫn kiểm soát được một cách kiên nhẫn đội hình của mình và tiếp tục hành quân, họ vẫn tiến binh một cách rất đều đặn cùng với các con tàu của họ lúc này di chuyển dọc theo bờ biển song song với họ ( vừa hỗ trợ vừa cung cấp bảo vệ từ phía biển cho lục quân ), cho đến khi họ kết thúc từng giai đoạn hành quân và hạ trại .

Phản ứng của Saladin

Khi quân Thập tự chinh đã hành quân đến phía bên kia của sông ở Caesarea, Saladin cũng tiến hành cách bố trí đội hình riêng của mình. Ông đã lên kế hoạch tung quân của mình qua các con đường La Mã cổ ở sâu bên trong vùng nội địa, cho phép ông ta có thể tấn công theo hướng nào có cơ hội thuận tiện nhất. Nhưng việc quân Thập tự chinh hành quân dọc theo ven biển đã bắt buộc ông phải theo tiến theo hướng song song với họ. Vào lúc bình minh lên, các cuộc tấn công quấy rối không có tác dụng như dự định; và chúng đã được đẩy mạnh cường độ và trở thành những trận chiến nhỏ trong quá trình hành quân. Khi quân đội của Richard tiến đến Caesarea vào ngày 30 tháng Tám, lực lượng bảo vệ phía sau ( hậu quân) được chỉ huy bởi Hugh III của Burgundy đã phải chịu các cuộc tấn công nghiêm trọng và nó bị cắt ra khỏi phần còn lại của quân đội trong một thời gian. Richard đã cố gắng để tập hợp toàn bộ đội quân trong khi các giáo sỹ đi cùng với họ hô to Sanctum Sepulchrum adjuva (“Thánh Sepulchre hãy trợ giúp chúng tôi!”).

Saladin, đánh giá sự tiến quân của đội hình của đối phương và ra quyết định tiến hành một cuộc tấn công ở Arsuf gần Jaffa, trong khi quân đội của ông phải đối mặt với quân Thập tự chinh ở phía tây và phía biển. Sườn phía bắc của ông được bảo vệ bởi các cánh rừng của Arsuf với con sông Rochetaillée và đầm lầy ở phía trước. Ở phía nam, sườn trái của ông đã được bảo vệ bằng một dải các ngọn đồi có cây cối rậm rạp, nó trải xuống chính những tàn tích của thành phố Arsuf. Kế hoạch là dử quân Thập tự chinh tiến vào sau một loạt những trận trá bại và tiêu diệt họ bằng một cuộc tổng tấn công khi mà thế trận của họ đã bị vỡ. Khoảng cách giữa những ngọn đồi của Arsuf và biển chỉ có hai dặm ( 3 km), làm cho Richard ít có khoảng không gian để cơ động, và hạn chế sức mạnh tổng lực của các hiệp sĩ được bọc thép dày. Saladin coi đây là cái bẫy hoàn hảo nhưng Richard đã nhanh chóng biến nó thành một cơ hội cho ông ta.

Trận đánh

Vào rạng sáng ngày 7 tháng 9 năm 1191, sứ giả của Richard đi đến các doanh trại và thông báo rằng trận chiến sẽ xảy gia ngày hôm đó. Các Hiệp sĩ Templar dưới sự chỉ huy của Robert de sable được lệnh phía trước, cùng với người Angevin và Bretons ( tiểu quốc thuộc Pháp), theo sau là Guy của Lusignan và Poitevins. Tiếp đến là những người Anglo-Norman và sau đó là những người Flemings dưới sự chỉ huy của James của Avesnes . Sau người Flemings là đến người Pháp và cuối cùng là Hiệp sĩ Cứu tế, đứng đầu là Fra Garnier de Nablus. Dưới sự lãnh đạo của Henry II của Champagne, một đội quân nhỏ đã được tách ra để trinh sát các ngọn đồi và một toán các hiệp sĩ dưới sự chỉ huy của Hugh của Burgundy được tách ra để đi chạy ngược chạy xuôi khắp các hàng quân để đảm bảo rằng họ giữ được tổ chức của thế trận.

Cuộc tấn công đầu tiên của người Saracen diễn ra vào lúc chín giờ sáng. Trong một nỗ lực để phá hủy sự gắn kết của đối phương và làm lung lay quyết tâm của họ, các cuộc tấn công dữ dội đã được kèm theo âm thanh khủng khiếp của tiếng chiêng trống và thanh la, tiếng kèn cùng với tiếng người la hét. QuấnItinerarium Regis Ricardi có ghi: “Vì vậy, người Thổ Nhĩ Kỳ đông một cách không kể xiết đổ vào quân đội của chúng ta từ mọi phía, từ hướng biển và từ đất liền. Lúc đó khoảng không gian xung quanh không rộng đến hai dặm (3 km), và dường như là không cái gì có thể tồn tại trước những đợt tấn công của người Thổ Nhĩ Kỳ “. Nhưng khi đợt tấn công này không có hiệu quả như mong muốn, nó được hướng sang bên cánh trái của quân Thập tự chinh và các Hiệp sỹ Hospitaller phải chịu áp lực lớn nhất. Từng bước từng bước một, các cuộc tấn công kéo sang phần còn lại của đội hình của Richard. Những cuộc tấn công diễn ra theo cùng một kiểu: người Bedouins và Nubians bắn tên và phóng lao vào đội hình của kẻ thù, trước khi cho phép các cung kỵ tiến lên và tấn công theo kiểu phi ngựa vòng quanh, một kỹ thuật được thực hành rất tốt của người châu Á. Các xạ thủ bắn nỏ của quân Thập tự chinh trả lời khi khả năng này là có thể, mặc dù nhiệm vụ chính của các quân Thập tự chinh chỉ đơn giản là để duy trì đội hình của họ khi đối mặt với các hành động khiêu khích. Tại một số vị trí dọc theo đội hình hình cột của Thập tự quân, hai đội quân đã tham gia cận chiến.

Các Hiệp sỹ Hospitaller phá vỡ hàng ngũ

Tất cả những nỗ lực tột bậc nhất của Saladin cũng không thể chia chia cắt đội hình hình cột của Thập tự quân hoặc ngăn chặn bước tiến của họ về hướng Arsuf. Richard được xác định là giữ vững các đội quân của mình lại với nhau, buộc đối phương phải lao vào như những con thiêu thân trong những cuộc tấn công lặp đi lặp lại, và rồi ông thấy rằng đây đúng là dịp để tung các hiệp sĩ của mình vào một cuộc tấn công tổng lực tập trung. Tuy nhiên lúc này vẫn tồn tại những rủi ro vì binh sỹ không chỉ hành quân dưới sự khiêu khích nghiêm trọng của đối phương mà họ còn bị nắng nóng và khát. Và tình hình cũng rất là nghiêm trọng vì người Saracens đã giết chết rất nhiều ngựa đến mức một số những hiệp sĩ riêng của Richard bắt đầu tự hỏi xem liệu có thể triển khai một cuộc tấn công vào lúc này.

Vào lúc mà lực lượng tiên phong tiến vào được vào Arsuf vào giữa buổi chiều, các xạ thủ bắn nỏ của Hospitaller ở phía hậu quân đã vừa nạp tên vừa bắn lại vừa đi giật lùi. Chắc chắn rằng chiến đấu theo kiểu này làm cho họ bị mất đội hình và đối phương đã nhanh chóng tận dụng cơ hội này và di chuyển vào khoảng trống đó. Đối với quân Thập tự chinh, trận Arsuf lúc này đã bước vào một giai đoạn quan trọng. Garnier de Nablus yêu cầu Richard cho phép tấn công. Nhưng ông này từ chối và vẫn ra lệnh duy trì vị trí chung. Mệnh lệnh này là quá với sức mà các Hiệp sỹ Hospitaller có thể chịu đựng. Ông ta (Garnier de Nablus ) rút kiếm tấn công vào người Saracen sau một tiếng hô Thánh George! và cuấn theo sau một cách nhanh chóng tất cả các phần còn lại của hiệp sĩ của mình rồi một số người Pháp cũng bị cuấn theo họ.

Phản ứng của Richard

Hành động nông nổi của các Hiệp sỹ Hospitaller có thể làm cho toàn bộ chiến thuật của Richard bị phá sản. Nhưng rất may là khi mà Garnier de Nablus bắt đầu cuộc tấn công của mình thì Saladin lại ra lệnh cho cung thủ của mình xuống ngựa để bắn tên được chính xác hơn và họ đã bị choáng bởi cuộc tấn công bất ngờ của các Hiệp sỹ Hospitaller.

Richard biết rằng nếu ông không hỗ trợ cho các Hiệp sỹ Hospitaller, họ sẽ ngay lập tức bị cô lập và tàn sát. Nhưng nếu ông quyết định gửi quá nhiều kỵ binh tăng viện cho họ, có thể ông sẽ làm suy yếu toàn bộ lực lượng còn lại của mình. Muzaffar al-Din Gökböri, một trong những chỉ huy của Saladin đang cố gắng để tập hợp người của mình với ý định là tấn công vào các cung thủ của đối phương. Trước khi ông ta vào được một vị trí để triển khai được cuộc tấn công này, Richard tập hợp lại quân đội của mình và tung ra một đợt tấn công thứ hai bao gồm các hiệp sĩ người Breton và Angevin hướng tới sườn trái của Saladin. Bản thân Richard dẫn đầu một cuộc tấn công thứ ba và cuối cùng bao gồm các hiệp sĩ người Norman và người Anh.

Trong một nỗ lực để khôi phục lại tình hình, Taqi al-Din, cháu trai của Saladin đã điều 700 người là vệ sĩ riêng của Sultan ( Saladin ) để vào sườn trái của Richard. Cảnh giác với sự nguy hiểm vì lúc này lực lượng của ông đã bị trải ra rải rác. Richard cho tập hợp lại lực lượng của mình một lần nữa rồi và rồi tung ra đợt tổng tấn công cuối. Nó đã gây ra nhiều áp lực hơn so với sức ép mà đối phương có thể chịu được; quân của Saladin đã bị vỡ trận và bị truy kích một cách gắt gao trên những ngọn đồi của Arsuf bởi các hiệp sĩ Thập tự chinh. Ngọn cờ của nhà vua ( Richard ) đã được cắm trên ngọn đồi của Saladin, trong khi doanh trại của quân Saracen bị cướp phá. Vào lúc này bóng tối đã buông xuống, Richard không cho phép đuổi theo nữa.

Thiệt hại và hậu quả

Như thường lệ với những trận đánh thời trung cổ, rất khó để đánh giá chính xác thiệt hại ở mức nào. Các nhà sử gia Kitô giáo tuyên bố người Hồi giáo bị giết khoảng 32 vị tiểu vương và 7.000 binh sỹ nhưng con số thực thì có thể là hơn hoặc ít hơn. Thiệt hại của Richard là không quá 700 người trong đó có James của Avesnes.

Arsuf là một chiến thắng quan trọng, nhưng không giống như chiến thắng của Saladin ở trận Horn of Hattin, trận này không phải là một trận thắng quyết định. Quân đội đối phương đã không bị phá hủy, nhưng tháo chạy được coi là một sự xấu hổ của người Hồi giáo và nó thúc đẩy nâng cao tinh thần chiến đấu cho quân Thập tự chinh. Sau khi tháo chạy Saladin đã có thể tập hợp lại và cố gắng để tiếp tục giao tranh nhưng chỉ làm cho quân Thập tự chinh giật mình quay lại và phản ứng chứ ông ta không còn khả năng tổ chức một cuộc tấn công với quy mô hoành tráng. Mùa đông đã bắt đầu có nghĩa là Saladin không thể tiếp tục theoi đuổi. Arsuf đã làm hoen ố danh tiếng của Saladin như là một chiến binh bất khả chiến bại và đã chứng tỏ lòng dũng cảm của Richard trong cương vị một người lính và kỹ năng của ông như là một chỉ huy. Richard đã có thể tấn công và giữ được Jaffa – một động thái quan trọng chiến lược để chiếm lại Jerusalem. Khi lấy đi Jaffa của Saladin, Richard đã đe doạ nghiêm trọng đến Jerusalem lúc này đang nằm trong tay Saladin bởi vì Jaffa là một hải cảng rất gần thành phố Thánh Địa.

Sau khi ông ngã bệnh nặng trong năm 1170, Henry II đưa ra kế hoạch để phân chia vương quốc của mình, còn ông sẽ điều hành một cách tổng thể qua các con trai của ông tới vùng lãnh thổ của họ. Năm 1171, Richard đến Aquitaine cùng với mẹ mình và vua Henry II phải phong cho ông danh hiệu công tước xứ Aquitaine theo yêu cầu của Eleanor. Richard và mẹ của ông đã bắt đầu các chuyến đi khắp vùng Aquitaine trong năm 1171 trong một nỗ lực nhằm xoa dịu những người dân địa phương. Họ cùng nhau đặt viên đá cho phần hạ tầng của tu viện St Augustine tại Limoges. Trong tháng 6 năm 1172, Richard được chính thức công nhận là Công tước Aquitaine khi ông được cấp cho ngọn thương và cờ xí tại một buổi lễ đã được tổ chức tại Poitiers và được tổ chức lại ở Limoges, nơi ông được đeo chiếc nhẫn của St Valerie-đây là biểu hiện của người đứng đầu vùng Aquitaine.

Trận Jaffa

Thời gian xảy ra trận đánh: năm 1192
Địa điểm: thành phố Jaffa
Kết quả: Quân thập tự chinh chiến thắng
Phe quân Thập tự chinh: chỉ huy Richard I của Anh quốc,
lực lượng 80 Hiệp sĩ + quân phòng thủ tòa lâu đài của Jaffa. Quân tiếp viện Richard và 54 Hiệp sĩ + 2000 lính bắn nỏ người Genova
Phe Hồi giáo: chỉ huy Saladin,
lực lượng 7.000 kỵ binh

trận Jaffa là một trong một loạt các chiến dịch giữa quân đội của Saladin và lực lượng thập tự chinh của vua Richard Lionheart. Đó là trận chiến cuối cùng của cuộc Thập tự chinh lần thứ ba, sau đó Saladin vua Richard đã tiến hành thương lượng cho một thỏa thuận ngừng bắn. Mặc dù quân Thập tự chinh đã không giành lại được thành phố Đất Thánh Jerusalem, người hành hương Thiên chúa giáo được phép nhập cảnh vào thành phố và quân Thập tự chinh đã giữ lại quyền kiểm soát một dải đất khá lớn kéo dài từ Beirut tới Jaffa.Trận Jaffa là một trận chiến mang tính chất quyết định, nó thể hiện cả tinh thần quyết tâm của Saladin và sự dũng cảm đến mức thiếu thận trọng của Richard. Đây là trận chiến cuối cùng trước khi hiệp ước giữa Richard và Saladin được kết luận và nó giúp giữ lại sự hiện diện của quân Thập tự chinh ở phía nam và đảm bảo rằng ít nhất là tại thời điểm đó người Thiên chúa giáo đã hiện diện bên ngoài Đất Thánh.

Bối cảnh

Ngày 07 Tháng 9 Năm 1191, sau khi giành chiến thắng trong trận Arsuf, quân Thập tự chinh tiến từ Arsuf đến Jaffa, nơi mà họ đã tổ chức chiếm đóng và tăng cường phòng thủ., họ-người Thiên chúa giáo hy vọng rằng Jaffa sẽ là căn cứ để phát động những cuộc tấn công và chiếm lại thành phố Jerusalem. Khi mùa đông năm 1191->1192 đến gần, các chiến dịch đã bị bỏ dở và các cuộc đàm phán thường xuyên hơn nữa giữa Richard Lionheard và Saladin đã được tiến hành, mặc dù không có kết quả ngay lập tức. Trong những tháng mùa đông, Richard mang quân đi chiếm và tăng cường phòng thủ cho Ascalon, nơi mà các công sự trước đây của nó đã bị san bằng bởi Saladin. Mùa xuân 1192 người ta vẫn chỉ thấy các cuộc đàm phán vẫn được tiếp tục và đồng thời các cuộc giao tranh giữa các lực lượng thù địch cũng nổ ra thường xuyên. Trong thời gian này, Richard đã bắt đầu nhận tin tức đáng lo ngại của các hành động của John- anh trai của ông và Philip Augustus. Khi xuân qua hè tới thì ngày càng trở nên rõ ràng rằng Richard sẽ phải quay trở lại nước Anh để bảo vệ quyền lợi của mình ở đó.

Trận đánh

Vào ngày 5 tháng 7 năm 1192, Richard đã bắt đầu rút lui về phía bắc từ vùng Đất Thánh. Có nhận ra rằng Jerusalem đã không được phòng thủ ( vậy mà không hiểu sao Richard lại không tiến lên để chiếm lấy thành phố), ông bắt đầu cho rút lui các lực lượng Thập tự quân ra khỏi lãnh thổ thù địch. Hầu như ngay lập tức sau khi Richard rút lui, Saladin đã tiến hành bao vây thị trấn Jaffa vốn được sử dụng như là một căn cứ hoạt động của Richard trong những cuộc hành quân vào sâu trong nội địa trước đây của ông nhằm để chiếm lấy Jerusalem. Các binh sĩ của Saladin trong việc công chiếm các bức tường thành của thành phố, chỉ còn tòa thành của Jaffa là vẫn nằm trong tay người Thiên chúa giáo và những người phòng đã cố gắng để gửi tin nhắn để nói về hoàn cảnh của họ . Richard thu thập được một nhóm nhỏ các binh sĩ và bắt đầu cuộc hành trình của ông trở lại thành phố. Khi nhìn thấy cờ của Hồi giáo bay từ trên các bức tường, ông cho rằng thành phố đã bị chiếm, cho đến khi một người lính thuộc lực lượng phòng thủ bơi ra gặp ông và thông báo về tình hình nghiêm trọng của tòa thành.

Khi được báo tin Richard nhảy ào xuống nước một cách thiếu thận trọng và lội qua những con sóng để tiến bãi biển. Một lần nữa Richard lại cho thấy lòng dũng cảm của ông và giá trị của nó tại chiến trường. Ông dẫn đầu năm mươi tư hiệp sĩ và 2.000 xạ thủ bắn nỏ người Genova và Pisan vào trận chiến. Trận chiến ngày càng trở nên quyết liệt và con ngựa của ông đã bị giết chết bởi trúng tên. Khi Saladin thấy Richard chiến đấu như một người lính bộ binh, ông đã ra lệnh mang một con ngựa từ chuồng ngựa của mình và gửi đến Richard như để thay thế. Richard Lionheart và các hiệp sĩ của ông tập hợp lại và hạ thấp các ngọn thương của họ xuống và hướng chúng vào lực lượng kỵ binh Hồi giáo đông đảo lên đến 7.000 người. Được hỗ trợ bởi hàng loạt những trận mưa tên từ các cung thủ bắn nỏ của mình, nhà vua đã ép được quân đội của Saladin quay trở lại thành phố, nơi họ bị bao vây và đánh bại. Richard đã chiếm lại được Jaffa cho quân Thập tự chinh.

Richard Lionheart của Anh quốc

Richard I (Ngày 8 tháng 9 năm 1157 – 6 tháng 4 năm 1199) là Vua của Anh từ 06 tháng 7 năm 1189 cho đến khi ông chết. Ông cũng là Công tước của Normandy, Công tước Aquitaine, Công tước xứ Gascony, Chúa tể của Ireland, Chúa tể Cyprus, Bá tước xứ Anjou, Bá tước của Maine, Bá tước Nantes và Chúa tể của Brittany tại các thời điểm khác nhau trong cùng một thời kỳ. Ông được biết đến như là Coeur de Lion, hoặc Richard Lionheart, ngay cả trước khi ông lên ngôi ông đã có tiếng tăm như là một nhà lãnh đạo quân sự lớn và chiến binh dũng cảm. Người Saracen gọi ông là Melek-Ric hoặc Malek al-Inkitar – Vua của nước Anh.

Ở tuổi 16 Richard đã chỉ huy quân đội của mình dấy lên những cuộc nổi loạn tại Poitou chống lại vua Henry II-cha của ông ta. Richard là một trong các nhà lãnh đạo cao cấp của cuộc Thập tự chinh lần thứ ba, các chiến dịch do ông chỉ huy sau sự ra đi của Philip Augustus đã rất thành công và thu được những chiến thắng đáng kể trước Saladin-thủ lĩnh của người Hồi giáo, nhưng Richard đã không thể chiếm lại Jerusalem.

Mặc dù chỉ nói được tiếng Pháp và ít khi sống ở Anh (Ông sống tại lãnh địa của mình-Công quốc Aquitaine, ở phía tây nam của nước Pháp và thường chỉ sử dụng nước Anh làm một nguồn thu để hỗ trợ cho quân đội của mình), ông được xem là một anh hùng về mặt đạo đức của những người tôn sùng ông. Ông là một trong rất ít những vị vua của Anh được nhớ tới bởi danh hiệu chứ không phải Triều đại của mình (few Kings of England remembered by his epithet, rather than regnal number ). Và nó là một biểu tượng mang tính lâu dài ở Anh.

Giai đoạn đầu tới khi trở thành Công tước Aquitaine

Gia đình và tuổi trẻ

Richard được sinh ra vào ngày 08 tháng 9 năm 1157, có lẽ là tại Beaumont Palace. Ông là một người anh em của William IX-Bá tước Poitiers; Henry nhà vua trẻ và Matilda-nữ công tước của Sachsen. Là con trai hợp pháp thứ ba của vua Henry II của Anh quốc, Ông đã không được dự kiến sẽ nối ngôi. Ông là anh trai của Geoffrey II, Công tước xứ Brittany; Leonora của Anh quốc-Nữ hoàng xứ Castile; Joan của Anh quốc và John-Bá tước của Mortain, người kế vị ông làm vua. Richard là em cùng mẹ khác cha với Marie de Champagne và Alix của Pháp. William IX Bá tước Poitiers-con trai cao tuổi nhất của Henry II và Eleanor của Aquitaine ( như đã nói ở trong cuộc thập tự chinh lần 2, bà này bỏ chồng cũ là Louis VII-vua Pháp để lấy Henry II ), qua đời năm 1156, trước khi sinh ra Richard. Richard thường được mô tả là một người con trai được mẹ là Eleanor của Aquitaine. Henry-cha ông là một người Pháp và là cháu nội lớn tuổi nhất của William the Conqueror. Mối quan hệ gần gũi nhất với người Anh trong hệ phả của Richard là Edith-vợ của Henry I của Anh. Sử gia đương thời Ralph Diceto đã chứng minh rằng dòng dõi của gia đình ông qua Edith có liên quan đến Alfred the Great ( trong những bài trước đã có bài nói về ông này ) vị vua vĩ đại của người Anglo-Saxon và nước Anh và từ đó gia đình ông có dây mơ rễ má với Noah và Woden. Theo truyền thuyết của vùng Angevin thậm chí còn có cả dòng máu của quái vật dưới địa ngục trong gia đình của ông.

Trong khi cha của ông đến thăm vùng đất của ông ( ở Pháp ) từ Scotland, thì có thể lúc đó Richard lại đang ở nước Anh. Ông được nuôi nấng bởi một người phụ nữ có tên là Hodierna và khi ông lên ngôi vua ông đã ban cho bà ta tiền bạc của mình một cách hào phóng. Người ta không được biết nhiều về giáo dục của Richard. Mặc dù được sinh ra ở Oxford, Richard không nói được tiếng Anh, ông là một người có đào tạo và sáng tác được thơ và biết viết bằng tiếng Limousin (lenga d’òc) và bằng tiếng Pháp. Ông được cho là có ngoại hình khá hấp dẫn với tóc mầu hung đỏ và mắt sáng với một làn da nhợt nhạt. Theo sử gia Clifford Brewer thì ông có chiều cao trên trung bình, khoảng 6 feet 5 inches (1,96 m) nhưng bộ xương của ông đã bị thất lạc từ ít nhất là thời Cách mạng Pháp cho nên không ai biết chính xác chiều cao của ông. Từ khi còn nhỏ ông đã cho thấy khả năng về chính trị và quân sự, tinh thần Hiệp sỹ và lòng can đảm trong chiến đấu được thể hiện trong lúc kiểm soát các quý tộc nổi loạn trong lãnh địa của mình. Henry anh trai của ông đã lên ngôi vua nước Anh trong khi cha của ông vẫn còn sống như là Henry III. Các nhà sử học đã phải đặt tên là Henry “nhà vua trẻ” để không nhầm ông với vua Henry III của Anh sau này, người cũng là cháu trai của ông.

Các cuộc liên minh qua hôn nhân (marriage alliance ) là rất phổ biến ở các Triều đình thời trung cổ: nó cho phép các gia đình ( Đại quý tộc) tuyên bố quyền thừa kế các vùng đất của nhau và tạo ra các liên minh chính trị và các hiệp ước hòa bình. Trong tháng 3 năm 1159 Richard đã được bố trí để kết hôn với một trong các cô con gái của Ramon Berenguer IV, Bá tước của Barcelona, tuy nhiên, thỏa thuận này đã không thành công và cuộc hôn nhân này không bao giờ xảy ra. Henry-anh trai của Richard đã kết hôn với Margaret, con gái của Louis VII của Pháp quốc và là người (Margaret ) thừa kế ngai vàng của Pháp, ngày 02 tháng 11 năm 1160. Mặc dù có liên minh giữa dòng Plantagenet và dòng Capetian-Triều đại đang trị vì nước Pháp, nhưng đôi khi giữa hai nhà vẫn có các cuộc xung đột. Năm 1168, sự can thiệp của Giáo hoàng Alexander III là điều cần thiết để đảm bảo một thỏa thuận ngừng bắn giữa hai Nhà. Henry II đã chinh phục xứ Brittany ( thuộc Pháp ) và kiểm soát vùng Gisors và Vexin, vốn là một phần của hồi môn của Margaret. Đầu những năm 1160 đã có đề xuất cho hôn nhân giữa Richard và Alys (Alice), con gái thứ hai của vua Louis VII; vì sự cạnh tranh giữa các vị vua của nước Anh và Pháp, Louis đã cản trở cuộc hôn nhân. Một hiệp ước hòa bình đã được ký kết trong tháng 1 năm 1169 và cuộc hứa hôn của Richard với Alys đã được chấp nhận. Henry II lên kế hoạch để phân chia vương quốc của mình cho ba con trai của ông vào thời điểm đó, Henry sẽ trở thành vua của nước Anh và có quyền kiểm soát Anjou, Maine và Normandy, trong khi Richard sẽ kế thừa vùng Aquitaine từ mẹ mình và trở thành Bá tước Poitiers , và Geoffrey sẽ nhận được vùng Brittany thông qua hôn nhân liên minh với Constance-người thừa kế vùng này. Tại buổi lễ hứa hôn, Richard đã chấp nhận và tỏ lòng tôn kính nhà vua của nước Pháp và chấp nhận chở thành chư hầu của vua Pháp như là Công tước vùng Aquitaine.

Cuộc nổi loạn chống lại Henry II

Theo Ralph của Coggeshall, vua Henry Trẻ là kẻ xúi giục các cuộc nổi loạn chống lại Henry II; ông muốn cai trị độc lập hơn ít nhất là một phần của lãnh thổ cha ông đã hứa với ông, và để thoát khỏi sự phụ thuộc của ông vào Henry II, người kiểm soát chặt hầu bao của ông. Jean Flori, một sử gia chuyên nghiên cứu về thời trung cổ, tin rằng con trai bà Eleanor thao tác với cuộc nổi dậy chống lại cha mình. Vua Henry trẻ rời bỏ cha mình và chạy vào triều đình Pháp và tìm kiếm sự bảo vệ từ Louis VII, Richard và Geoffrey-các em trai của ông đã sớm bắt trước ông, chỉ có John lúc này mới 5 tuổi vẫn còn với Henry II. Louis đã hỗ trợ cho ba người con trai của Henry II và thậm chí ông còn phong tước hiệp sĩ cho Richard và buộc họ phải trở thành chư hầu. Cuộc nổi loạn này đã được mô tả bởi Jordan Fantosme, một nhà thơ đương đại, như là một “cuộc chiến tranh mà không có tình yêu”.

Ba anh em thực hiện lời tuyên thệ tại triều đình Pháp rằng họ sẽ không đàn phán với Henry II mà không có sự đồng ý của Louis VII và các quý tộc Pháp. Với sự hỗ trợ của Louis, vua Henry Trẻ đã thu hút được sự hỗ trợ của nhiều nhà Đại quý tộc qua những hứa hẹn về đất đai và tiền bạc, một trong những Đại quý tộc là Philip, Bá tước của Flanders, người đã được hứa là sẽ nhận được £ 1.000 và nhiều tòa lâu đài. Ba anh em cũng nhận được sự ủng hộ ở nước Anh-những người sẵn sàng nổi loạn, dẫn đầu là Robert de Beaumont, Bá tước xứ Leicester, Các cuộc nổi loạn ở Anh bắt đầu từ Hugh Bigod, 1 Bá tước Norfolk, Hugh de Kevelioc, Bá tước của Chester và William I của Scotland. Liên minh đã thu được thành công ban đầu nhưng vào tháng 7 năm 1173 họ đã bị bao vây ở Aumale, Neuf-Marche, Verneuil và Hugh de Kevelioc đã bị bắt ở Dol – Anh. Richard đã đi Poitou và thu thập những nhà quý tộc trung thành với ông và mẹ của ông để tiến hành một cuộc nổi loạn chống lại cha mình. Eleanor bị bắt, do đó chính Richard đứng ra chỉ huy chiến dịch của ông chống lại những người ủng hộ Henry II tại vùng Aquitaine của riêng mình. Ông đã hành quân đến La Rochelle, nhưng đã bị phản đối bởi cư dân ở vùng này và phải rút về thành phố Saintes mà ông đã thành lập như là một căn cứ hoạt động.

Trong khi đó, Henry II đã tung ra một đội quân rất đắt tiền của mình gồm hơn 20.000 lính đánh thuê để trấn áp cuộc nổi loạn. Ông đã hành quân về Verneuil và Louis phải rút lực lượng của mình về. Quân đội của Henry hành quân để chiếm lại Dol và tiêu diệt quân phản loạn ở Anh quốc. Tại thời điểm này, Henry II đã đưa ra một đề nghị hòa bình cho các con trai của ông, nhưng theo lời khuyên của Louis nên lời đề nghị này đã bị từ chối. Lực lượng của Henry II đã bất ngờ chiếm Saintes với đội quân đông đảo của ông ta, tuy nhiên Richard đã có thể đào thoát với một nhóm nhỏ các binh sĩ trung thành. Ông đã tìm nơi ẩn nấp ở Château de Taillebourg trong phần còn lại của cuộc chiến. Vua Henry trẻ và các Công tước của Flander lên kế hoạch đổ bộ lên nước Anh để hỗ trợ cuộc nổi dậy của Bá tước Leicester. Biết được kế hoạch này Henry II trở lại Anh với 500 binh sĩ và tù nhân của mình (bao gồm cả Eleanor và các hôn thê cùng vợ của các con trai của ông ), nhưng khi về đến Anh ông mới nhận ra rằng cuộc nổi loạn đã bị sụp đổ. William I của Scotland và Hugh Bigod bị bắt vào ngày 13 và 25 tháng bảy tương ứng. Henry II trở về Pháp, nơi ông đã tiến hành bao vây Rouen, nơi mà Louis VII được sự ủng hộ của vua Henry trẻ sau khi ông đã từ bỏ kế hoạch đổ bộ của mình vào nước Anh. Louis đã bị đánh bại và một hiệp ước hòa bình-Hiệp ước Montlouis được ký kết vào tháng 9 năm 1174.

Khi Henry II và Louis VII đã thực hiện một cuộc ngưng bắn ngày 08 tháng 9 năm 1174, Richard đã bị loại bỏ. Bị bỏ rơi bởi Louis và không thể đối mặt với quân đội của cha mình trong một trận chiến, Richard đã đi đến triều đình của Henry II tại Poitiers, ngày 23 tháng Chín và cầu xin sự tha thứ, khóc lóc và quỳ xuống chân của Henry, người đã trao cho Richard cái hôn của hòa bình ( chính vì vậy mà sau này Richard cũng tha thứ cho John người em trai của mình? ). Vài ngày sau, những người anh em khác của Richard cũng tìm kiếm sự hoà giải với cha của mình. Các điều khoản mà ba anh em nhận được thua xa về mặt rộng rãi so với những gì mà họ đã nhận được trước đó trong cuộc xung đột ( khi trước Richard được giao bốn tòa lâu đài tại Aquitaine và một nửa số thu nhập từ công quốc này) và sau này Richard được trao quyền kiểm soát hai lâu đài ở Pitou và một nửa thu nhập của Aquitaine; vua Henry trẻ được trao hai lâu đài ở Normandy và Geoffrey được phép có một nửa thu nhập từ Brittany. Eleanor sẽ vẫn là tù nhân của Henry II cho đến khi ông này chết, một phần là để kiềm chế hành động của Richard.

Dưới triều đại của Henry II

Khi chiến tranh kết thúc là lúc bắt đầu quá trình bình định các tỉnh đã nổi dậy chống lại Henry II. Ông đi đến vùng Anjou với mục đích này và giao quyền quản lý vùng Britany cho Geoffrey. Trong tháng 1 năm 1175, Richard đã được cử đến Aquitaine để trừng phạt các Đại quý tộc, những người đã chiến đấu vì ông ta. Theo quấn biên niên sử của Roger Howden dưới triều đại Henry II, hầu hết các lâu đài thuộc sở hữu của các phiến quân đã được trả lại cho chính quyền sở tại trong 15 ngày trước khi chiến tranh bùng nổ, trong khi những tòa khác đã bị san bằng. Có ý kiến cho rằng vào thời gian này cho các lâu đài được xây dựng phổ biến là bằng đá và nhiều nhà quý tộc đã mở rộng hoặc tăng cường phòng thủ cho các lâu đài của họ, nên điều này không phải là một nhiệm vụ dễ dàng (bình định các tỉnh nổi dậy ). Gillingham lưu ý rằng quấn biên niên sử của Roger Howden là nguồn chính mô tả các hoạt động của Richard trong giai đoạn này, mặc dù ông lưu ý rằng nó chỉ ghi những chiến dịch thành công và sau chiến dịch này Richard đã có biệt hiệu là “Richard Lionheart”. Một trong những thành công đầu tiên là cuộc vây hãm Castillon-sur-Agen. Tòa lâu đài “nổi tiếng là kiên cố”, nhưng trong một cuộc bao vây hai tháng những người bảo vệ đã bị đánh bại bởi những chiếc tháp công thành của Richard.

Henry dường như không muốn ủy thác cho bất kỳ người con trai nào của mình những nguồn lực có thể sẽ được sử dụng để chống lại ông. Người ta đã nghi ngờ rằng Henry đã chiếm đoạt Công chúa Alys, người mà Richard đã đính hôn, con gái của Louis VII của Pháp làm người vợ thứ hai của mình, hoặc như là tình nhân. Sự kiện này đã làm cho cuộc hôn nhân giữa Richard và Alys về mặt kỹ thuật là không thể trong con mắt của Giáo Hội, Nhưng Henry nói quanh co rằng lâu đài Vexin-của hồi môn của Alys là rất có giá trị. Richard đã không sẵn sàng từ bỏ Alys bởi vì cô này là em gái của vua Philip II của Pháp-một đồng minh thân cận của ông.

Sau thất bại trong việc lật đổ cha mình, Richard tập trung vào việc bình định các cuộc nổi dậy trong nội bộ của các quý tộc Aquitaine, đặc biệt là vùng lãnh thổ Gascony. Sự trấn áp khốc liệt ngày càng gia tăng của ông đã dẫn đến một cuộc nổi dậy chính ở đó năm 1179. Hy vọng sẽ truất quyền của Richard, các phiến quân tìm kiếm sự giúp đỡ của các anh em của ông-Henry và Geoffrey. Bước ngoặt đã xảy ra trong Charente Valley vào mùa xuân năm 1179. Chiếc pháo đài của Taillebourg được bảo vệ tốt và được xem là bất khả xâm phạm. Lâu đài được bao quanh bởi một vách đá trên ba mặt và một thị trấn ở mặt thứ tư với một bức tường ba lớp. Đầu tiên Richard cho phá hủy và cướp phá các trang trại và các vùng đất xung quanh pháo đài, khiến quân phòng thủ không có quân tiếp viện hay đường rút lui. Đơn vị đồn trú trong lâu đài tiến ra ngoài và tấn công Richard, đầu tiên là ông đã đánh bại đội quân và sau đó theo sau lực lượng phòng thủ để vào thành và dễ dàng chiếm tòa lâu đài trong hai ngày. Chiến thắng của Richard tại Taillebourg đã làm nản chí nhiều nhà quý tộc muốn nổi loạn và buộc họ phải tuyên bố trung thành. Chiến dịch này cũng tạo cho Richard danh tiếng là một chỉ huy quân sự có trình độ cao.

Năm 1181-1182, Richard phải đối mặt với một cuộc nổi dậy trong trong hạt Angoulême. Đối thủ của ông đã xin Philip II của Pháp để hỗ trợ và chiến tranh lan rộng qua Limousin và Périgord. Richard bị cáo buộc có nhiều hành động tàn bạo chống lại các kẻ thù của mình, kể cả cưỡng-hiếp. Tuy nhiên, với sự hỗ trợ từ người cha của mình và từ vua Henry Trẻ, Richard đã thành công trong việc đưa bắt các Nam tước Aimar V của Limoges và Elie của Périgord phải quỳ gối.

Sau khi Richard hoàn thành các cuộc chinh phục những nhà nổi loạn của mình, ông một lần nữa thách thức cha mình về ngai vàng nước Anh. Từ năm 1180-1183 sự căng thẳng giữa Henry và Richard ngày càng lớn dần vì như vua Henry đã ra lệnh cho Richard phải thần phục vua Henry Trẻ ( anh trai của Richard) nhưng Richard từ chối. Cuối cùng năm 1183, Vua Henry trẻ và Geoffrey, Công tước xứ Brittany xâm chiếm Aquitaine trong một nỗ lực để bắt Richard quy phục. Các quý tộc của Richard đã về phe của những người này và quay lưng lại với công tước của họ. Tuy nhiên, Richard và quân đội của ông đã có thể giữ chân được đội quân xâm lược và họ hành quyết bất kỳ tù nhân nào mà họ bắt được. Cuộc xung đột đã tạm dừng một cách ngắn ngủi vào tháng 6 năm 1183 khi vua Henry trẻ qua đời. Tuy nhiên, Henry II vẫn tiếp tục cho John-con trai út của ông xâm lược Aquitaine. Sau cái chết của vua Henry Trẻ, Richard đã trở thành con trai cao tuổi nhất và là người thừa kế vương miện nước Anh nhưng ông vẫn tiếp tục chống lại cha mình.

Để củng cố vị trí của mình, năm 1187 Richard liên minh với Philip II-con trai riêng của Louis VII-chồng cũ của Eleanor với Adele của Champagne. Để đổi lấy sự giúp đỡ của Philip để chống lại cha mình, Richard hứa thừa nhận chuyển quyền của mình sang cho ông kia hai tỉnh Normandy và Anjou. Richard đã quy thuận Philip vào tháng 11 cùng năm này. Khi tin tức của Trận Hattin đến tai họ, ông đã nhận chiếc Thập tự trước sự hiện diện của rất nhiều quý tộc Pháp.

Năm 1188 Henry II dự định chuyển quyền thừa kế Aquitaine cho John-con trai út của ông. Năm sau, Richard đã cố gắng để chiếm ngôi vua Anh cho mình bằng cách tham gia liên minh với Philip để chống lại cha mình. Vào ngày 04 tháng 7 1189, lực lượng của Richard và Philip đánh bại quân đội của Henry tại Ballans. Henry với sự đồng ý của John, đã đồng ý để Richard làm người thừa kế của mình. Hai ngày sau, Henry II đã chết tại Chinon và Richard đã thừa kế ông để thành vua của nước Anh, Công tước của Normandy và của Anjou. Nhà sử học Roger Hoveden tuyên bố rằng xác chết của Henry bị chảy máu từ mũi và có sự hiện diện của Richard ở đó, đây là một dấu hiệu cho rằng Richard đã gây ra cái chết của cha ông.

Một vị vua và một Thập tự quân

Bạo lực nhằm vào người Do Thái

Các kế hoạch Thập tự chinh

Richard đã nhận thập giá như là Công tước của Poitou năm 1187. Cha của ông và Philip II cũng đã làm như vậy tại Gisors vào ngày 21 tháng 11 năm 1188, sau khi nhận được tin tức về sự sụp đổ của Jerusalem trước Saladin. Khi trở thành vua, Richard và Philip đã đồng ý để tham gia cuộc Thập tự chinh lần thứ ba cùng với nhau, vì mối lo ngại rằng, trong thời gian người này vắng mặt, người kia có thể chiếm đoạt lãnh thổ của mình.

Richard đã tuyên thệ một lời thề từ bỏ quá khứ tội ác của mình để thể hiện rằng mình xứng đáng để nhận chiếc thập tự. Ông bắt đầu gây dựng và trang bị cho một đội quân thập tự chinh mới. Ông dành phần lớn ngân quỹ của cha mình ( cùng tiền huy động từ thuế thập phân Saladin), tăng thuế và thậm chí đồng ý phóng thích cho vua William I của Scotland khỏi lời tuyên thệ của ông với Richard để đổi lấy 10.000 đồng Mark. Để tăng thêm tiền, ông đã cho bán các chức vụ chính thức, quyền lợi và các vùng đất cho những người quan tâm đến họ. Những người đương chức cũng đã bị buộc phải trả một khoản tiền lớn để giữ được chức vụ của họ. William Longchamp, Giám mục của Ely và Tể tướng của nhà vua đã chiến thắng trong một cuộc bỏ thầu với giá 3.000 £ để vẫn là Tể tướng. Ông này rõ ràng đã bị trả giá cao hơn bởi Reginald của Ytalia nhưng vẫn trúng thầu.
Richard thực hiện một số thỏa thuận cuối cùng tại lục địa. Ông khẳng định sự bổ nhiệm của người cha mình cho William Fitz Ralph vào vị trí quan trọng-quản gia của Normandy. Tại Anjou, Stephen của Tour đã được thay thế và bị tạm giam vì yếu kém trong công tác quản lý tài chính. Payn de Rochefort, một hiệp sĩ vùng Angevin, đã được nâng lên vị trí của Anjou. Tại Poitou, Peter Bertin-cựu thị trưởng của Benon, đã trở thành quản gia và cuối cùng tại Gascony, Helie de La Celle-người đứng đầu ngự lâm quân đã được chọn để làm đại quản gia ở đó. Sau khi tái định vị một phần đội quân của mình, ông ở lại phía sau để bảo vệ tài sản ở Pháp của ông, cuối cùng Richard bắt đầu cuộc thập tự chinh vào mùa hè 1190. (Sự chậm trễ của ông đã bị chỉ trích bởi những người hát rong chẳng hạn như Bertran de Born ) Ông bổ nhiệm Hugh-Giám mục Durham và William de Mandeville, Bá tước thứ 3 của Es*** làm nhiếp chính-ông này lại chết sớm và được thay thế bởi Tể tướng William Longchamp của Richard. John-em trai của Richard đã không cảm thấy hài lòng bởi quyết định này và bắt đầu âm mưu chống lại William.

Richard cho rằng nước Anh là “lạnh và luôn luôn mưa” và khi ông gây quỹ cho cuộc thập tự chinh của mình, người ta đã kể rằng ông đã tuyên bố, “tôi đã có thể bán London nếu tôi có thể tìm thấy một người mua nó ” Tuy nhiên, mặc dù vậy nước Anh lại là một phần quan trọng trong vùng lãnh thổ của ông, đặc biệt quan trọng ở chỗ nó cho ông một danh hiệu hoàng gia nào đó để ông có thể tiếp cận các vị vua khác một cách bằng vai phải lứa-ông cũng không phải đối mặt với vấn đề nội bộ hay các mối đe dọa lớn ở bên ngoài trong thời kỳ trị vì của ông, không giống như các lãnh thổ lục địa và vì vậy không cần thiết phải có sự hiện diện liên tục của ông ở đó. Giống như hầu hết các vị vua các Nhà Plantagenet trước thế kỷ 14, ông không thấy không cần thiết phải học Tiếng Anh. Trao đất nước này vào tay của các quan chức khác nhau, ông đã chỉ định (bao gồm cả mẹ của mình), Richard có nhiều sự quan tâm hơn đến các vùng đất rộng lớn ở Pháp của mình. Cuối cùng sau khi hoàn tất giai đoạn chuẩn bị của mình, ông đã có một đội quân gồm 4.000 binh sỹ vũ trang, 4.000 bộ binh và một hạm đội gồm 100 chiếc tàu.

Chiếm đóng Sicily

Trong tháng 9 năm 1190, Richard và Philip đến Sicily. Sau cái chết của vua William II của Sicily, Tancred của Lecce-người anh em họ của ông ta đã chiếm quyền lực và tự đội vương miện lên đầu làm vua Tancred I của Sicilia vào năm 1190, mặc dù người thừa kế hợp pháp là Constance-dì của William, vợ của Hoàng đế mới Henry VI. Tancred đã giam giữ hoàng hậu Joan-vợ góa của William, cũng là em gái của Richard và đã không đưa cho cô số tiền mà cô phải được thừa hưởng ở William. Khi Richard đến, ông yêu cầu phải thả em gái của ông ra cùng với tài sản thừa kế của cô, cô được trả tự do vào ngày 28 tháng Chín, nhưng không nhận được tiền thừa. Sự hiện diện của quân đội nước ngoài cũng gây ra tình trạng bất ổn: trong tháng 10, người dân Messina nổi loạn, đòi người nước ngoài phải rời đi. Richard tấn công Messina và chiếm thành phố vào ngày 04 tháng 10 năm 1190. Sau khi cướp bóc và đốt cháy thành phố, Richard thành lập căn cứ của ông ở đó, nhưng sự việc này đã tạo ra căng thẳng giữa Richard và Philip Augustus ( vua Pháp ). Ông ở lại đó cho đến khi Tancred cuối cùng đã đồng ý ký một hiệp ước vào ngày 04 tháng ba năm 1191. Hiệp ước này đã được ký bởi Richard, Philip và Tancred. Các điều khoản chính của nó là:

  • Joan sẽ nhận được 20.000 ounce vàng như là bồi thường cho tài sản thừa kế của mình, vốn bị chiếm giữ bởi Tancred.
  • Richard chính thức tuyên bố cháu trai của mình, Arthur của Anh quốc, con trai của Geoffrey, như là người thừa kế của mình và Tancred hứa sẽ gả một cô con gái của ông cho Arthur khi anh này đến tuổi trưởng thành, 20.000 ounce vàng sẽ được trả về bởi Richard nếu Arthur không kết hôn với con gái của Tancred.

Hai vị vua ở lại ở Sicily trong một thời gian, nhưng việc này dẫn đến sự gia tăng căng thẳng giữa họ và người của họ, đồng thời Philip Augustus âm mưu với Tancred để chống lại Richard. Hai vị vua cuối cùng gặp nhau để xóa bầu không khí căng thẳng và đạt được thỏa thuận, bao gồm việc kết thúc hứa hôn của Richard với Alix-em gái của Philip ( người được cho là người tình của Henry II-cha của Richard).

Cuộc chinh phục Cyprus

Trong tháng 4 năm 1191, Richard với một hạm đội lớn rời Messina để đến Acre. Nhưng một cơn bão làm tan tác hạm đội. Sau khi mất một số thời gian để tìm kiếm, ông đã phát hiện ra rằng chiếc tàu chở em gái và Berengaria-vị hôn thê của mình đã neo trên bờ biển phía nam Cyprus, cùng với các xác của một số tàu đắm khác, bao gồm cả chiếc tàu chở kho báu. Những người sống sót những chiếc tàu đắm đã bị bắt làm tù binh của bạo chúa chúa đảo Isaac Komnenos.

Ngày 01 tháng 5 năm 1191, hạm đội của Richard đến cảng Lemesos (Limassol) ở Cyprus. Ông ra lệnh cho Isaac thả các tù nhân và trả lại kho tàng. Isaac từ chối, do đó Richard đã cho đổ bộ quân của ông xuống Limassol.
Đồng thời các hoàng tử ở vùng Đất Thánh đến Limassol, đặc biệt là Guy của Lusignan. Tất cả đều tuyên bố ủng hộ Richard miễn là ông hỗ trợ Guy chống lại đối thủ của ông này là Conrad của Montferrat.

Bị các quý tộc địa phương bỏ rơi, Isaac cố gắng dàn hòa với Richard và xin cùng tham gia vào cuộc thập tự chinh của ông và và nói rằng con gái của mình (Isaac) cũng kết hôn với một người cũng có tên là Richard. Tuy nhiên, Isaac đã đổi ý và cố gắng trốn thoát. Sau đó Richard tiến hành chinh phục toàn bộ hòn đảo, quân đội của ông được chỉ huy bởi Guy de Lusignan. Isaac đầu hàng và bị xích bằng một sợi dây xích bằng bạc, bởi vì Richard đã hứa rằng ông sẽ không xích ông ta trong dây xích bằng thép. Vào ngày 01 tháng 6, Richard đã chinh phục toàn bộ hòn đảo. Ông ủy quyền cho Richard de Camville và Robert Thornham làm thống đốc. Sau đó ông bán hòn đảo cho các Hiệp sĩ Templar và sau nữa thì nó đã được mua lại trong năm 1192 bởi Guy của Lusignan và trở thành một vương quốc phong kiến ổn định.

Cuộc chinh phục thần tốc của Richard vào hòn đảo là rất quan trọng. Hòn đảo này chiếm một vị trí chiến lược quan trọng trên các tuyến đường hàng hải đến Đất Thánh vì sự chiếm đóng của các Kitô hữu không thể được tiếp tục mà không có sự hỗ trợ từ biển. Síp vẫn là một thành trì của người Kitô giáo cho đến khi xảy ra Trận Lepanto năm 1571. Thành tích của Richard cũng đã được công bố công khai và góp phần làm tăng danh tiếng của ông. Richard cũng thu được lợi ích đáng kể về tài chính từ cuộc chinh phục vào hòn đảo này.

Richard rời đi Acre vào ngày 5 tháng 6 cùng với các đồng minh của mình.

Tại vùng Đất Thánh

Vua Richard đổ bộ xuống Acre vào ngày 08 tháng sáu năm 1191. Ông đã hỗ trợ Guy của Lusignan-chư hầu của ông ở Poitevin, người đã đem quân giúp ông ta tại Síp. Guy là người chồng goá vợ-Sibylla của Jerusalem và đã cố gắng để giữ lại vương quyền của Jerusalem, bất chấp cái chết của vợ ông trong Cuộc vây hãm Acre năm trước. tuyên bố của Guy là thách thức Conrad của Montferrat, chồng củaIsabella-em gái cùng cha khác mẹ của Sibylla: Conrad, người có công phòng thủ Tyre và cứu vương quốc khỏi bị sụp đổ hoàn toàn vào năm 1187, ông này được hỗ trợ bởi Philip của Pháp, con trai của Louis VII của Pháp-người anh họ của ông, và bởi một người anh em họ khác-Công tước Leopold V của Áo. Richard liên minh với Humphrey IV của Toron, Người chồng đầu tiên của Isabella, người mà cô này đã bị buộc phải ly dị vào năm 1190. Humphrey trung thành với Guy và nói thành thạo tiếng Ả Rập, do đó Richard sử dụng ông này như một phiên dịch trong các cuộc đàm phán.Richard và lực lượng của mình hỗ trợ trong việc chiếm Acre bất chấp đang bị ốm nghiêm trọng. Ở một khoảng thời, trong khi đang bị bệnh khó đại tiện ( kết quả của thiếu vitamin C khi hành quân dài ngày trên biển), Richard được cho là vẫn ra bảo vệ các bức tường với một chiếc nỏ trong khi được khênh đi trên một chiếc cáng. Cuối cùng, Conrad của Montferrat đã kết thúc được các cuộc đàm phán đầu hàng với Saladin và hành quân vào thành phố với các lá cờ của các vị vua. Richard cãi nhau với Leopold V của Áo qua vụ việc của Isaac Komnenos (ông này-Isaac Komnenos lại có họ hàng với bà mẹ người Byzantine của Leopold) và vị trí của ông này trong cuộc thập tự chinh. Cờ hiệu của Leopold đã được cắm cùng với các cờ hiệu của vua Anh và vua Pháp. Điều này được hiểu như là sự xúc phạm đến sự kiêu ngạo của cả Richard và Philip, vì Leopold là một chư hầu của Hoàng đế La Mã Thần thánh (Mặc dù ông là chỉ huy cao cấp nhất còn sống sót trong lực lượng của đế quốc La Mã Thánh thần). Người của Richard đã xé lá cờ xuống và ném nó vào trong con hào của Acre. Leopold rời khỏi cuộc thập tự chinh ngay lập tức. Philip cũng rời khỏi đó ngay sau đó vì lý do sức khỏe kém và sau những tranh chấp hơn nữa với Richard về vị thế của Cyprus (Philip yêu cầu sở hữu một nửa hòn đảo) và về vương quyền của Jerusalem. Richard đột nhiên thấy mình không có đồng minh.Richard đã giữ 2.700 tù nhân Hồi giáo làm con tin để ép Saladin phải hoàn tất tất cả các điều khoản của sự đầu hàng của các vùng đất xung quanh Acre. Philip trước khi rời khỏi Acre đã giao các tù nhân của mình cho Conrad, nhưng Richard buộc ông phải bàn giao họ cho anh ta. Richard sợ lực lượng của mình sẽ bị phong tỏa ở trong Acre, vì ông tin rằng chiến dịch của ông không thể tiến triển nếu ông tiếp tục giữ các tù nhân. Vì thế, ông đã ra lệnh hành quyết tất cả các tù binh của mình. Sau đó ông chuyển về phía nam, đánh bại lực lượng của Saladin ở Trận Arsuf vào ngày 07 tháng 9 năm 1191. Ông đã cố gắng thương lượng với Saladin, nhưng cuộc thương lượng này đã không thành công. Trong nửa đầu năm 1192, ông và quân đội của ông đã tăng cường cho Ascalon.Sau một cuộc bầu cử Richard đã buộc phải chấp nhận Conrad của Montferrat làm vua của Jerusalem, và ông đã bán Cyprus cho Guy-người được bảo trợ bị đánh bại của ông. Chỉ vài ngày sau, vào ngày 28 Tháng Tư năm 1192, Conrad bị đâm chết bởi thành viên của tổ chức sát thủ Hashshashin trước khi ông này có thể kịp đăng quang. Tám ngày sau, Henry II của Champagne-cháu trai của Richard đã kết hôn với quả phụ bụa Isabella, mặc dù cô này đang mang bầu với Conrad. Vụ giết người chưa bao giờ được điều tra đến kết luận cuối cùng và Richard bị người đương thời nghi ngờ rằng có sự tham gia của ông vào vụ ám sát này.Biết rằng ông không có hy vọng giữ lại Jerusalem ngay cả khi ông chiếm được nó, Richard đã ra lệnh rút lui. Thời này bắt đầu một giai đoạn của các cuộc xung đột nhỏ với lực lượng của Saladin trong khi Richard và Saladin vẫn đang cố gắng đàm phán để giải quyết cuộc xung đột, khi cả hai nhận ra rằng ở vị trí của họ thì việc tiến lên là không có cơ sở. Richard biết rằng cả Philip và của chính John-em trai của ông đã bắt đầu một âm mưu chống lại ông. Tuy nhiên, Saladin đã khẳng định những thông tin trên rồi đốt trụi các công sự ở Ascalon, những thứ mà người của Richard đã cố công để xây dựng lại, và một vài điểm khác. Richard đã thực hiện một nỗ lực cuối cùng để tăng cường vị thế mặc cả của mình bằng cách cố gắng xâm nhập vào Ai Cập-căn cứ cung cấp chính của Saladin-nhưng không thành công. Cuối cùng, Richard đã không còn thời gian nữa. Ông nhận ra rằng chuyến đi trở về của ông là không thể trì hoãn, vì cả Philip và John đều lợi dụng sự vắng mặt của ông để nổi loạn và xâm hại quyền lợi của ông ởh và Pháp. Ông và Saladin cuối cùng đi đến một sự nhất trí vào ngày 2 tháng 9 năm 1192, thỏa thuận này bao gồm các quy định đòi hỏi chấm dứt phá hủy các bức tường của Ascalon cũng như một thỏa thuận cho phép người Thiên chúa giáo đến Jerusalem. Nó cũng bao gồm một thỏa thuận ngừng bắn ba năm.

Bị giam cầm và trở về AnhThời tiết xấu buộc tàu của Richard phải đi vào Corfu, nơi đây thuộc vùng đất của Hoàng đế Byzantine Isaac II Angelos, người phản đối việc chiếm đảo Síp của Richard-trước đây là lãnh thổ Byzantine. Cải trang là một Knight Templar, Richard khởi hành từ Corfu với bốn người hộ tống, nhưng con tàu của ông lại bị đắm ở gần Aquileia buộc Richard và nhóm của ông phải đi vào một con đường đất nguy hiểm qua trung tâm châu Âu.Trên đường đi đến lãnh thổ của Henry của Saxony-anh rể của ông, Richard đã bị bắt ngay trước Giáng sinh năm 1192, ở gần Vienna bởi Leopold V, Công tước của Áo đã cáo buộc Richard đã dàn sếp cho cái chết của Conrad của Montferrat-anh em họ của ông ta. Ngoài ra, Richard đã xúc phạm cá nhân Leopold bằng cách cho vứt các lá cờ của ông từ các bức tường của Acre xuống đất. Richard và thuộc hạ của ông đã cải trang như là những khách hành hương nghèo, nhưng ông đã bị nhận dạng hoặc là vì ông đã đeo một chiếc nhẫn đắt tiền, hoặc nhấn mạnh về việc ông đã ăn món gà nướng, một món ăn quý tộc.Công tước Leopold giam giữ tù nhân của ông tại Dürnstein Castle. Những rủi ro của ông đã sớm được thông báo tới nước Anh, nhưng trong một vài tuần các quan nhiếp chính đã không biết chắc chắn về nơi ông bị giam giữ. Khi ở trong tù, Richard đã viết lá thư Ja nus hons pris hoặc Ja nuls om pres, và gửi đến Marie de Champagne-người chị cùng mẹ khác cha của mình. Ông đã viết các bài thơ bằng tiếng Pháp và Occitan, để thể hiện cảm xúc khi bị bỏ rơi bởi người dân và em gái của mình. Việc tạm giam quân thập tự là trái với luật pháp và căn cứ vào điều này Giáo hoàng Celestine III đã rút phép thông công của Công tước Leopold.Ngày 28 tháng 3 năm 1193, Richard đã được đưa đến Speyer và bàn giao cho Henry VI, Đức Thánh Hoàng đế La Mã, vị Hoàng đế này đã bị bực mình bởi các hỗ trợ mà dòng Plantagenets đã trao cho gia đình của Henry the Lion và việc Richard công nhận Tancred ở Sicily và người bị ông ta giam giữ ở Trifels Castle. Henry VI cần tiền để nuôi một đội quân và khẳng định quyền của ông đối với miền nam Ý, tiếp tục giam giữ Richard để đòi tiền chuộc. Để đáp lại Đức Giáo Hoàng Celestine III đã rút phép thông công Henry VI như ông đã làm đối với Leopold vì đã bỏ tù Richard một cách trái pháp luật.Richard đã phản đối việc rút phép thông công của Giáo Hoàng và bầy tỏ sự tôn kính với hoàng đế và tuyên bố với ông, “Tôi sinh ra từ một đẳng cấp mà Thiên Chúa đã không công nhận là có khả năng siêu thường – I am born of a rank which recognizes no superior but God “. Mặc dù vẫn có khiếu nại của ông như các điều kiện giam cầm là không khắc nghiệt.Hoàng để yêu cầu trả 150.000 Mark (65.000 £ bạc) trước khi ông phóng thích nhà vua, đây là khoản tiền đúng bằng số tiền huy động từ khoản thuế thập phân Saladin chỉ mới một vài năm trước và tương đương 2-3 lần thu nhập hàng năm của Vương quốc Anh dưới thời Richard. Eleanor của Aquitaine tìm cách để thu thập tiền chuộc. Cả giáo sĩ và giáo dân bị đánh thuế một phần tư giá trị tài sản của họ, các kho vàng bạc của các giáo hội bị tịch thu, và tiền đã được huy động từ thuế bất động sản và tiền triều cống. Cùng lúc đó, John-em trai của Richard và vua Philip của Pháp đã gửi 80.000 Mark cho Hoàng để tiếp tục giam giữ Richard cho đến Michaelmas ( ngày thánh Michael ) năm 1194. Nhưng Hoàng đế đã từ chối nhận khoản tiền này. Số tiền để giải cứu nhà vua đã được chuyển đến Đức bởi đại sứ của hoàng đế và cuối cùng vào ngày 04 tháng Hai năm 1194 Richard được phóng thích. Philip đã gửi một tin nhắn đến John: “Hãy tự chăm sóc bản thân, ma quỷ sắp xuất hiện”.

Vụ việc đã có một ảnh hưởng lâu dài đến nước Áo, do việc một phần số tiền từ khoản tiền chuộc của vua Richard đã được sử dụng bởi Công tước Leopold V để tài trợ cho việc thành lập một thành phố mới-Wiener Neustadt trong năm 1194 và thành phố đã có một vai trò quan trọng trong nhiều thời kỳ khác nhau của lịch sử nước Áo thậm chí cho đến nay.

Những năm sau đó và cái chết

Trong lúc Richard vắng mặt, John-em trai của ông đã nổi loạn với sự trợ giúp của Philip; thành quả của cuộc chinh phục của Philip trong thời gian Richard bị cầm tù là vùng Normandy. Richard đã tha thứ cho John khi họ gặp nhau, đây có thể là sự cần thiết về mặt chính trị và đặt ông này làm người thừa kế của ông thay thế cho Arthur vì ông này có mẹ là Constance của Brittany và có lẽ bà này đã ngả về phía Philip II.

Richard bắt đầu cuộc tái chiếm Normandy của ông. Sự sụp đổ của lâu đài Château de Gisors trước các cuộc tấn công của người Pháp trong năm 1196 đã tạo ra một khe hở trong hệ thống phòng thủ Normandy. Công cuộc tìm kiếm một địa điểm để xây dựng một lâu đài mới để bảo vệ Công quốc Normandy và hoạt động như một căn cứ mà từ đó Richard có thể khởi động chiến dịch của mình để chiếm lại Vexin từ tay người Pháp đã bắt đầu. Một vị trí phòng thủ tự nhiên đã được xác định ở thượng nguồn sông Seine, một tuyến đường vận tải quan trọng trong lanh địa Andeli. Theo các điều khoản của thỏa ước Hòa bình Louviers (tháng 12 năm 1195) giữa Richard và Philip II, không nhà vua nào được phép củng cố vị trí này, bất chấp quy định này Richard dự định xây dựng Chateau Gaillard thành một tòa lâu đài lớn. Richard đã cố gắng để chiếm được thái ấp này thông qua đàm phán. Walter de Coutances, Tổng-giám-mục của Rouen đã không muốn bán thái ấp này vì nó đang là một trong những giáo phận tạo nhiều lợi nhuận nhất và các vùng đất khác thuộc giáo phận ở gần đó đã bị hư hại bởi chiến tranh. Khi Philip bao vây Aumale ở Normandy, Richard đã quá mệt mỏi vì chờ đợi và quyết định thu giữ trang viện, mặc dù hành vi đó đã bị phản đối bởi Giáo Hội. Walter de Coutances đã ban hành một mệnh lệnh chống lại công quốc Normandy, lệnh này cấm không cho tiến hành các nghi lễ nhà thờ trong khu vực này. Roger Howden chi tiết “những xác người chết không được chôn cất đang nằm trên các đường phố và quảng trường của các thành phố của Normandy”. Công cuộc xây dựng được bắt đầu với lệnh cấm treo lơ lửng ở Normandy nhưng sau đó đã được bãi bỏ vào tháng 4 năm 1197 bởi Giáo hoàng Celestine III, sau khi Richard tặng quà cho Walter de Coutances và giáo phận của Rouen, bao gồm hai thái ấp và chiếc cảng Dieppe vốn rất thịnh vượng.

Trong thời gian trị vì của Richard, chi tiêu của hoàng gia cho các tòa lâu đài giảm xuống tương ứng với các mức chi tiêu của thời Henry II-cha của Richard. Bởi vì quy định phải tập trung các nguồn lực cho chiến tranh của Richard với nhà vua của nước Pháp. Tuy nhiên, công việc xây dựng tại lâu đài Château Gaillard là một trong số những công trình tốn kém về cả tiền bạc lẫn thời gian và chi phí ước tính lên đến khoảng từ £ 15.000 đến £ 20.000 giữa những năm 1196 và 1198. Chi phí này nhiều hơn gấp đôi chi tiêu của Richard cho một lâu đài ở Anh, ước tính chỉ khoảng £ 7.000. Tốc độ xây dựng là chưa từng có, các phần chủ yếu của lâu đài đã được hoàn thành chỉ trong hai năm, trong khi hầu hết các công trình xây dựng có quy mô như vậy phải tốn ít nhất là một thập kỷ. Theo William của Newburgh, trong tháng 5 năm 1198 Richard và những người lao động làm việc trên tòa lâu đài đã bị ướt đẫm trong một “cơn mưa máu”. Trong khi một số cố vấn của ông nghĩ rằng mưa máu là một điềm xấu, Richard đã không nản lòng.

Quyết tâm chống lại kế hoạch của Philip vào các vùng đất tranh chấp ở Angevin như Vexin và Berry, Richard đã sử dụng tất cả sự tinh thông về quân sự và nguồn tài nguyên rộng lớn của ông vào cuộc chiến với vua Pháp. Ông xây dựng một liên minh chống lại Philip, bao gồm cả Baldwin IX của Flanders, Renaud-Bá tước của Boulogne và vua Sancho VI của Navarre-cha vợ của ông, người đã đột kích các vùng đất của Philip từ phía nam. Quan trọng nhất là ông đã bảo đảm quyền thừa kế vùng Welf ở Saxony cho đứa cháu trai của mình, Otto của Poitou-con trai của Henry the Lion, người được bầu làm vua Otto IV của Đức trong năm 1198.

Như một phần kết quả từ âm mưu này là Richard giành nhiều chiến thắng hơn Philip. Tại Freteval trong năm 1194, chỉ sau khi Richard trở lại từ nơi bị giam giữ quay về Anh rồi sang Pháp, Philip đã bỏ chạy và bỏ lại toàn bộ kho tài liệu lưu trữ và các văn bản về tài chính … của ông, chúng đã bị chiếm được bởi Richard. Ở trận Gisors (Đôi khi còn gọi là Courcelles) năm 1198 Richard đã dùng câu “Dieu et mon Droit” – “Thiên Chúa và Quyền của tôi”-như là phương châm của ông (câu này vẫn còn được sử dụng bởi chế độ quân chủ Anh ngày nay), thậm chí danh tiếng của ông vang vọng đến mức Hoàng đế Henry của Đế quốc La Mã Thánh thần cũng phải thừa nhận rằng trên ông ta chỉ có Đức Chúa Trời (echoing his earlier boast to the Emperor Henry that his rank acknowledged no superior but God).

Trong tháng 3 năm 1199, Richard đến Limousin để đàn áp cuộc nổi dậy của Nam tước Aimar V của Limoges. Mặc dù lúc này đang là mùa chay, Ông đã “tàn phá vùng đất của Nam tước với lửa và kiếm”. Ông ta tiến hành bao vây tòa lâu đài Chalus-Chabrol nhỏ bé và hầu như không được vũ trang. Một số nhà sử gia cho rằng có sự kiện này là do một nông dân địa phương đã phát hiện ra một kho vàng từ thời La Mã, và Richard tuyên bố từ lâu đài của ông rằng vàng ở Aimar là sở hữu của mình vì ông là một lãnh chúa phong kiến.

Trong khoảng thời gian đầu của buổi tối ngày 25 tháng ba năm 1199, Richard đã đi bộ xung quanh chu vi lâu đài mà không mặc áo giáp lưới của mình, để quan sát tình hình binh bị trên các bức tường của lâu đài. Tên lửa thỉnh thoảng được bắn ra từ các bức tường của tòa lâu đài nhưng ông không quan tâm đến chúng. Một binh sỹ phòng thủ đặc biệt quan tâm đến nhà vua-đó là một người đàn ông đứng trên tường thành, một tay cầm cây nỏ và tay kia giữ chặt một chiếc chảo mà anh ta đã sử dụng suốt cả ngày như là một chiếc lá chắn để chặn những phát tên lửa được bắn lên bởi quân tấn công. Anh ta cố nhằm bắn vào nhà vua và được ông ta vỗ tay khen ngợi ( tất nhiên là phát bắn bị trượt) tuy nhiên, sau đó một cung thủ bắn nỏ đã bắn trúng nhà vua ở vai trái gần cổ. Ông đã cố gắng để kéo mũi tên ra trong căn lều riêng của mình nhưng đã không thành công, một bác sĩ phẫu thuật, được gọi là “đồ tể” của Hoveden, đã gỡ bỏ được nó ra và vô tình hỏng cánh tay của nhà vua trong quá trình phẫu thuật. Vết thương nhanh chóng trở nên bị hoại thư. Sau đó, Richard yêu cầu được gặp tay cung thủ đã bắn hạ ông trước đó và theo các sử gia ông cũng cho gọi Peter Basile, John Sabroz, Dudo và Bertrand de Gurdon (từ thị trấn Gourdon), tay cung thủ hóa ra lại chỉ là một cậu bé (theo một số nguồn tin, nhưng không phải tất cả). Cậu bé này nói rằng Richard đã giết cha của cậu bé và hai anh em của nó và rằng nó muốn giết chết Richard để trả thù. Cậu bé đã tưởng rằng mình sẽ bị hành quyết nhưng Richard như một hành động cuối cùng của lòng thương xót, đã tha thứ cho cậu bé và nói rằng, “Hãy sống và tận hưởng ánh sáng ban ngày,” trước khi ra lệnh phóng thích cậu bé và cho cậu ta 100 đồng shilling. Sau đó Richard cho John-em trai ông thừa kế tất cả các vùng lãnh thổ của mình và để đồ trang sức của lại cho cháu trai Otto.

Richard qua đời vào ngày 06 tháng 4 năm 1199 trong vòng tay của mẹ ông, sau đó mọi người nói rằng “Khi ngày kết thúc, ông cũng kết thúc những ngày của ông ở trên trần thế.” Cái chết của ông sau này được gọi là con sư tử đã bị kiến giết. Theo một nhà chép sử, hành động của tinh thần thượng võ cuối cùng của Richard đã không có kết quả, trong một thời kỳ của sự tàn bạo ở thời trung cổ, viên đội trưởng Mercadier-người nổi tiếng ham lợi đã lột sạch tiền của tay cung thủ rồi treo cổ cậu bé ngay sau khi Richard qua đời.

Trái tim của Richard đã được chôn cất tại Rouen ở Normandy, trong trung tâm của Châlus (Nơi ông qua đời) và phần còn lại của cơ thể của ông được chôn cất ở gần mộ của cha ông ở tại Fontevraud Abbey ở Anjou.

Di sản

Richard để lại một dấu ấn không thể xóa nhòa trong trí tưởng tượng của người dân nước Anh thậm chí cho đến ngày nay, phần lớn là do khả năng về quân sự của ông. Điều này được phản ánh trong phán quyết cuối cùng về Richard I của Steven Runciman: “Ông là một đứa con xấu, một người chồng xấu và một vị vua xấu, nhưng là một người lính hào hiệp và lộng lẫy.”(quấn “Lịch sử của các cuộc thập tự chinh” Vol. III)

Trong khi còn sống, ông thường bị chỉ trích bởi các nhà sử gia (và các giáo sĩ) vì đã đánh thuế cả các giáo sĩ để có tiền chi trả cho cuộc Thập tự chinh và để có tiền chuộc bản thân mình, trong khi thường là nhà thờ và các giáo sĩ được miễn các loại thuế.

Richard không có người thừa kế hợp pháp và chỉ công nhận có một người con trai ngoài giá thú, Philip của Cognac. Kết quả là, ông đã được thừa kế bởi John-anh trai của ông làm vua của nước Anh. Tuy nhiên, vùng lãnh thổ ở Pháp của ông ban đầu đã từ chối công nhận John làm người kế nhiệm và họ muốn Arthur của Anh-cháu trai của ông, con trai của Geoffrey làm người thừa kế chứ không phải là John. Đặc biệt, việc không có bất kỳ người thừa kế trực tiếp từ Richard là bước đầu tiên của sự tan rã của Đế quốc Angevin ( và vùng này sau này đã được sát nhập vào nước Pháp). Trong khi vị vua của nước Anh tiếp tục tuyên bố sở hữu các tài sản trên lục địa châu Âu, nhưng họ không bao giờ một lần nữa kiểm soát được các vùng lãnh thổ Richard I đã thừa hưởng. ( cuộc chiến tranh Trăm năm cũng bắt nguồn từ việc Anh và Pháp tranh chấp các vùng lãnh thổ Anjou, Normandy, Aquitanie … những vùng đất thuộc sở hữu của Richard tại nước Pháp)

Cuộc thập tự chinh lần thứ tư

Cuộc Thập tự chinh lần thứ tư ( năm 1202-1204) ban đầu được dự định là để chinh phục người Hồi giáo và kiểm soát Jerusalem bằng cách tiến hành một cuộc xâm lược vào Ai Cập. Nhưng thay vào đó, trong tháng 4 năm 1204, quân Thập tự chinh Tây Âu đã xâm lược và chinh phục thành phố Constantinople của Kitô hữu ( Eastern Orthodox ), thủ đô của Đế quốc Đông La Mã ( Byzantine Empire ). Đây được xem là một trong các hành vi cuối cùng trong sự ly khai lớn giữa Giáo Hội Chính Thống Phương Đông và Giáo Hội Công Giáo La Mã.Quân viễn chinh đã thành lập Đế quốc Latin (1204-1261) và thành bang Latin khác ở các vùng đất của Byzantine mà họ chinh phục.

Bối cảnh

Sau thành công hạn chế của cuộc Thập tự chinh lần thứ ba (1189-1192), châu Âu có rất ít quan tâm đến một cuộc thánh chiến nữa chống lại người Hồi giáo. Quân viễn chinh đã để mất Jerusalem trước triều đại Ayyubid, triều đại vốn đang cai trị toàn bộ Syria và Ai Cập, và chỉ còn có một vài thành phố dọc theo bờ biển vẫn còn nằm trong tay của quân thập tự chinh, Vương quốc Jerusalem hiện chỉ tập trung ở Acre. Cuộc Thập tự chinh lần thứ ba cũng đã thành lập một vương quốc La tinh ở Cyprus.

Giáo hoàng Innocent III đã lên ngôi giáo hoàng trong năm 1198 và các lời rao giảng về một cuộc thánh chiến mới trở thành mục tiêu của của ông. Nhưng phần lớn lời gọi của ông đã bị bỏ ngoài tai bởi các quốc vương Châu Âu: nước Đức đang chiến đấu để chống lại quyền lực của giáo hoàng trong khi nước Anh và nước Pháp vẫn tham chiến với nhau. Tuy nhiên, do lời rao giảng của Giáo hoàng đã đến được Fulk của Neuilly, một đội quân thập tự chinh cuối cùng đã được thành lập tại một giải đấu (tournament) đang được tổ chức ở Écry bởi Bá tước Thibaut của Champagne trong năm 1199. Thibaut được bầu làm lãnh đạo, nhưng ông đã qua đời vào năm 1200 và được thay thế bởi một vị Bá tước khác-Boniface của Montferrat.Boniface và các nhà thủ lãnh khác đã gửi phái viên tới Venice, Genoa và các thành phố khác để đàm phán một hợp đồng vận chuyển đến Ai Cập, đích đến của cuộc thập tự chinh của họ, một trong những phái viên là Geoffrey Villehardouin-nhà sử gia tương lai. Genoa đã không quan tâm tới cuộc thập tự chinh, nhưng trong tháng 3 năm 1201 các cuộc đàm phán đã được bắt đầu với Venice, và thành phố này đồng ý vận chuyển 33.500 quân viễn chinh, một số lượng đầy tham vọng. Thoả thuận này yêu cầu Venezia có một năm chuẩn bị để chế tạo thêm nhiều tàu và đào tạo thêm thủy thủ để điều khiển những con tầu này, tất cả đã được tiến hành bất chấp sự giảm sút về hoạt động thương mại của thành phố. Các đội quân thập tự chinh được dự kiến sẽ bao gồm 4.500 hiệp sĩ (cũng như 4.500 ngựa ), 9.000 hộ sỹ và 20.000 binh lính.

Phần lớn quân đội thập tự chinh đã khởi hành từ Venice vào tháng 10 năm 1202 và đa số họ có xuất xứ ở các vùng thuộc nước Pháp. Họ bao gồm người đến từ Blois, Champagne, Amiens, Saint-Pol, Ile-de-France và Burgundy. Một số khu vực khác của châu Âu đã gửi một lực lượng đáng kể cũng như Flanders và Montferrat. Đáng chú ý là các nhóm khác đến từ đế quốc La Mã Thần thánh, bao gồm cả những người đi theo Giám mục Martin của Pairis và Đức Giám mục Conrad của Halberstadt, cùng trong liên minh với những người lính và thủy thủ của Venezia do Tổng trấn Enrico Dandolo chỉ huy. Quân thập tự chinh đã sẵn sàng để lên tầu vào ngày 24 tháng 6 năm 1202 và thực hiện một chuyến viễn chinh thẳng tới Cairo, thủ đô của vương triều Ayyubid,. Thỏa thuận này được phê chuẩn bởi Giáo hoàng Innocent, với một lệnh nghiêm cấm các cuộc tấn công vào các quốc gia Thiên chúa giáo.

Tấn công Zara

Vì không có thỏa thuận ràng buộc giữa các quân viễn chinh rằng tất cả đều phải đi thuyền từ Venice nên nhiều người đã chọn để đi thuyền từ cảng khác, đặc biệt là từ các cảng Flanders, Marseilles và Genoa. Vào năm 1201 phần lớn quân đội thập tự chinh đã được tập hợp tại Venice, mặc dù quân số lúc này ít hơn dự kiến: 12.000 người thay vì 33.500 người. Người Venice đã thực hiện một phần của thỏa thuận: họ có tầu chiến Galley, tầu vận chuyển lớn, và tầu vận chuyển ngựa – với trọng tải gấp ba lần số lượng người ngựa mà quân Thập tự chinh có thể tập hợp. Người Venice, dưới sự chỉ huy của Viên Thống đốc Dandolo-người vừa mù vừa cao tuổi, đã không để cho quân viễn chinh lên đường mà không trả toàn bộ số tiền đã ký hợp đồng ban đầu bao gồm 85.000 đồng Mark bạc.Quân viễn chinh chỉ có thể trả một số tiền là 51.000 đồng Mark bạc và chừng đó đã đủ làm cho họ chở nên đói nghèo đến cùng cực. Đây là tai họa với Venezia vì thành phố đã phải dừng các hoạt động thương mại của họ lại trong một thời gian rất dài để chuẩn bị cho chuyến chinh phạt này. Ngoài ra khoảng 20-30,000 người đàn ông (trong tổng số dân cư khoảng 60.000 người của Venice) đã được tuyển mộ để điều hành toàn bộ hạm đội, đã tạo thêm sự căng thẳng cho kinh tế của Venezia.

Dandolo và người Venice đã thành công trong việc lợi dụng quân thập tự chinh vào mục đích riêng của họ như là một hình thức trả nợ. Sau vụ thảm sát của người Latinh, các thương gia Venetian đã bị trục xuất ở thời cầm quyền của triều đại Angelos với sự ủng hộ của người dân Byzantine. Những sự kiện này đã cho người Venezia có một thái độ thù địch đối với Byzantine. Dandolo-người đã tham gia cuộc thập tự chinh trong một buổi lễ công cộng tại nhà thờ San Marco di Venezia, đề xuất rằng quân viễn chinh nên trả nợ họ bằng cách tấn công bến cảng Zara ở Dalmatia. Thành phố đã nằm trong sự thống trị về kinh tế của Venice trong suốt thế kỷ 12 , nhưng đã trỗi dậy trong năm 1181 và liên minh với vua Emeric của Hungary và Croatia. Cuộc tấn công sau đó của người Venetian đã bị đẩy lùi và vào năm 1202 thành phố đã trở nên độc lập về kinh tế, dưới sự bảo vệ của nhà vua Hungary.

Nhà vua Hungary là người Công giáo và đã tự mình đồng ý tham gia cuộc Thập Tự Chinh (mặc dù chủ yếu vì lý do chính trị và thực tế ông đã không chuẩn bị để khởi hành). Nhiều Thập tự quân đã phản đối kế hoạch tấn công Zara và một số người, bao gồm cả một lực lượng được chỉ huy bởi Simon de Montfort đã hoàn toàn từ chối tham gia và trở về nhà. Trong khi đại diện của Giáo hoàng đi cùng quân Thập tự chinh-Đức Hồng Y Peter của Capua-người thừa kế Giáo hoàng, đã tiến hành một số bước cần thiết để ngăn chặn sự hoàn toàn thất bại của cuộc thập tự chinh này, Giáo hoàng Innocent III đã được cảnh báo vì nguy cơ này ( thay bằng đi đánh quân Hồi giáo lại quay ra ăn cướp của người Thiên chúa giáo ) và đã viết một lá thư cho các thủ lãnh quân thập tự chinh và “đe dọa rút phép thông công”.

Trong quấn The Crusades sử gia Geoffrey Hindley đã đề cập rằng trong năm 1202 Giáo hoàng Innocent III cấm quân Thập tự chinh của Thiên Chúa giáo phương Tây có các hành vi tàn bạo những người hàng xóm Kitô giáo của họ, mặc dù ông này vẫn muốn phát huy uy quyền của giáo hoàng Byzantine. Bức thư này đã bị ém nhẹm đi và đa phần binh lính Thập tự chinh đã không được biết đến cho đến sau khi cuộc tấn công được tiến hành. Các công dân của Zara đã cố gắng nhắc nhở một thực tế rằng họ cũng là những đồng bào Công giáo bằng cách treo các lá cờ có đánh dấu thánh giá từ cửa sổ của mình và ở các bức tường của thành phố, tuy nhiên thành phố đã bị thất thủ sau một cuộc bao vây ngắn. Khi Innocent III nghe nói về cuộc bao vây ông đã gửi một lá thư cho quân viễn chinh và tuyên bố rút phép thông công họ và ra lệnh bắt họ phải thực hiện lời thề thiêng của mình và đi đến Jerusalem. Do lo sợ rằng sự kiện này sẽ làm tan rã quân đội, các thủ lãnh quân thập tự chinh đã quyết định không thông báo về điều này cho binh lính.

Chuyển hướng đến Constantinople

Trong khi đó Boniface của Montferrat đã rời hạm đội trước khi nó khởi hành từ Venice, và đến thăm Philip của Swabia-người anh em họ của ông. Lý do cho chuyến viếng thăm của ông là một vấn đề vẫn còn đang được tranh cãi, có thể ông đã nhận ra kế hoạch của Venezia và bỏ đi để tránh vạ thông công, hoặc có thể ông muốn gặp Alexios Angelos-hoàng tử Byzantine, anh rể của Philip và con trai gần đây đã lật đổ hoàng đế Byzantine Isaac II Angelos. Alexios đã bỏ chạy tới lãnh địa của Philip vào năm 1201 nhưng người ta không chắc chắn rằng Boniface có gặp ông ta tại triều đình của Philip hay không. Alexios sẽ cung cấp 200.000 đồng Mark bạc, 10.000 người để giúp đỡ quân Thập tự chinh, duy trì 500 hiệp sĩ tại Đất Thánh, hải quân Byzantine sẽ tham gia vận chuyển quân Thập tự chinh tới Ai Cập và vị trí của Giáo Hội Chính Thống Đông sẽ dưới quyền của Giáo hoàng nếu họ đi thuyền đến Byzantine và lật đổ Alexios III Angelos-nhà vua trị vì, và cũng là anh trai của Isaac II. Đó là một lời đề nghị hấp dẫn đối với đạo quân lúc đó đang thiếu tiền.

Quan hệ giữa quân Thập tự chinh và Byzantine đã trở nên căng thẳng kể từ khi bắt đầu phong trào thập tự chinh, nhưng lời đề nghị của Alexios là một trong, ít nhất là trên lý thuyết, lí do để hàn gắn các rạn nứt giữa phương Đông và phương Tây và đó là những nỗ lực đáng kể để trợ giúp người Latinh. do đó Bá tước Boniface đã đồng ý và Alexios IV đã trở lại cùng với Hầu tước và tham gia với hạm đội ở tại Corfu sau khi nó đã khởi hành từ Zara. Các nhà lãnh đạo còn lại của quân Thập tự chinh cuối cùng đã chấp nhận kế hoạch này. Tuy nhiên có nhiều nhà lãnh đạo cao cấp không ưa thích đề xuất này và nhiều người bỏ ngũ. Hạm đội gồm 60 tầu chiến Galley, 100 tàu chở ngựa và 50 tầu vận tải lớn (toàn bộ hạm đội có 10.000 tay chèo và lính thủy người Venetian ) đến Constantinople vào cuối tháng 6 năm 1203. Ngoài ra, 300 thiết bị công thành được mang theo trong hạm đội.

Khi binh lính của cuộc Thập tự chinh lần thứ tư đến được Constantinople, thành phố có khoảng 400.000 dân và một đơn vị đồn trú khoảng 15.000 người (trong đó có lính vệ binh 5.000 Varangian ) và một hạm đội 20 tầu Galley. Động cơ ban đầu của quân Thập tự chinh là khôi phục lại ngôi Hoàng đế Byzantine cho Isaac II để họ có thể nhận được sự hỗ trợ mà Alexios đã hứa. Conon của Bethune gửi thông điệp này đến phái đoàn người Lombard vốn được gửi đến bởi đương kim hoàng đế Alexios Angelos III, người đã bị lật đổ Isaac-anh trai của ông. Các công dân của Constantinople thì không quan tâm đến nguyên nhân tại sao hoàng đế bị lật đổ và con trai của ông đang phải sống lưu vong; tiếm quyền là việc thường xuyên xảy ra ở Byzantine và lần này thì việc thay đổi ngôi vị thậm chí vẫn chỉ trong nội bộ một gia đình. Các Thập tự quân đã khởi hành đến Constantinople trong 10 chiếc Galley và cho họ nhìn thấy Alexios IV, nhưng từ những bức tường của thành phố người Byzantine đã chế giễu và nhạo báng quân viễn chinh, mặc dù có người đã nói rằng Hoàng tử Alexios sẽ được chào đón. Trước tiên là quân viễn chinh đã bao vây và chiếm các thành phố Chalcedon và Chrysopolis sau đó họ đánh bại 500 lính kỵ binh của Byzantine trong một trận chiến chỉ bằng 80 hiệp sĩ người Frank. Lúc này Thập tự quân quay sang tấn công vào thành phố Constantinople.

Cuộc vây hãm của tháng 7 năm 1203

Để chiếm thành phố bằng vũ lực, đầu tiên là quân viễn chinh cần phải vượt qua vịnh Bosphorus. Khoảng 200 tàu chở ngựa và tầu Galley đã chở các đội quân thập tự chinh qua eo biển hẹp, đến nơi Hoàng đế Alexios III đã cho tập hợp quân đội Byzantine thành một đội hình chiến dọc theo bờ vịnh ở phía bắc vùng ngoại ô Galata. Các hiệp sĩ Thập tự chinh tấn công thẳng từ tầu chở ngựa và quân đội Byzantine tháo chạy về phía nam.

Quân Thập tự chinh đuổi theo về phía nam và tấn công vào tháp Galata, người Byzantine phòng thủ phần cuối ở phía bắc bằng những chuỗi xích lớn để chặn lối vào vịnh Sừng Vàng. Khi họ bao vây tòa tháp, người Byzantine phản công và thu được một số thành công ban đầu. Tuy nhiên, khi quân Thập tự chinh tập hợp lại thì người Byzantine phải rút về phía ngọn tháp, quân Thập tự chinh đã bám theo những binh lính đang rút lui để chiếm chiếc cổng và tòa tháp phải đầu hàng.Lúc này Golden Horn đã được mở cửa cho quân Thập tự chinh và các hạm đội Venetian đã tiến vào.

Ngày 11 tháng 7, quân Thập tự chinh đã vào vị trí đối diện với Cung điện của Blachernae ở góc tây bắc của thành phố. Họ bắt đầu cuộc bao vây một cách nghiêm túc vào ngày 17, và chia ra thành bốn lộ binh để tấn công vào bức tường trên bộ, trong khi hạm đội Venetian tấn công các bức tường trên biển từ vùng vịnh Sừng Vàng. Người Venice đã chiếm được một phần của bức tường trên biển với khoảng 25 tòa tháp, trong khi quân vệ binh Varangian đã đẩy được quân Thập tự chinh ra khỏi bức tường trên bộ. Lính vệ binh Varangians di chuyển để chặn đứng mối đe dọa mới và người Venice rút lui dưới các đám lửa cháy. Ngọn lửa đã phá hủy khoảng 120 mẫu Anh (0,49 km 2 ) diện tích thành phố.

Cuối cùng Alexios III đã chuyển sang tấn công và đích thân chỉ huy 17 đội binh từ cổng St Romanus, quân đội của Alexios III có khoảng 8.500 người và đối mặt với bảy đội binh của Thập tự quân (có khoảng 3.500 người), mặc dù chiếm ưu thế đáng kể về quân số so với quân viễn chinh, nhưng lòng can đảm của ông đã thất bại và quân đội Byzantine trở lại thành phố mà không chiến đấu. Việc ông rút lui và những ảnh hưởng của các đám cháy đã làm cho tinh thần của các công dân của Constantinople bị suy xụp và họ quay ra chống lại Alexios III và sau đó ông này đã bỏ chạy. Ngọn lửa đã phá hủy rất nhiều ngôi nhà và làm 20.000 người chở thành vô gia cư. Hoàng tử Alexios được đặt lên ngôi vua như là Alexius IV cùng với Isaac- người cha mù của mình cai trị Đế quốc.

Các cuộc tấn công nữa vào thành phố Constantinople

Alexios IV nhận ra rằng lời hứa của ông là rất khó giữ. Alexios III đã thành công khi chạy trốn với 1.000 kg vàng và một số đồ trang sức vô giá và để lại một kho bạc hoàng gia gần như trống rỗng. Lúc đó vị hoàng đế trẻ tuổi đã ra lệnh tiêu hủy và nấu chảy các biểu tượng có giá trị của La Mã và Byzantine để chiết xuất ra vàng và bạc, nhưng thậm chí sau đó ông này cũng chỉ có thể thu thập được 100.000 đồng Mark bạc. Nhưng trong con mắt của tất cả những người Byzantine thì đây là một dấu hiệu gây sốc của sự tuyệt vọng và lãnh đạo yếu kém và đáng bị trừng phạt bởi Chúa Trời. Sử gia Byzantine Nicetas Choniates coi đó là “bước ngoặt và làm suy sụp nhà nước Đông La Mã.”

Bắt người dân phải phá hủy các biểu tượng của họ theo lệnh của một đội quân ly giáo người nước ngoài đã làm cho Alexios IV bị các công dân của Constantinople thù ghét. Trong nỗi sợ hãi suốt cuộc đời của mình, vị đồng hoàng đế này đã yêu cầu quân Thập tự chinh ở lại thêm sáu tháng theo một hợp đồng mới đến cuối tháng 4 1204. Tuy nhiên, vẫn còn xung đột xảy ra trong thành phố. Trong tháng 8 năm 1203 Thập tự quân đã tấn công một nhà thờ Hồi giáo (ở Constantinople vào thời gian này có khá nhiều dân Hồi giáo) vốn được bảo vệ bởi một lực lượng kết hợp của người Hồi giáo và người Byzantine đối lập. Trong khi đó, Alexios IV đã yêu cầu 6.000 quân Thập tự chinh hành quân để chống lại Alexios III-đối thủ của mình tại Adrianople.

Lần nỗ lực thứ hai của người Venezia trong việc tạo ra một bức tường lửa để hỗ trợ cho việc tháo chạy của họ, họ gây ra một đám cháy cực to và đám cháy này đã đốt cháy và phá hủy một phần lớn thành phố Constantinople. Sự phản đối Alexios IV đã ngày càng tăng lên và Alexios Doukas (biệt danh ‘Mourtzouphlos’ vì ông này có đôi lông mày dậm)-một trong những cận thần của ông, đã ngay lập tức lật đổ ông này và cho người bóp cổ ông ta đến chết. Alexios Doukas tự lên ngôi với tên hiệu là Alexios V; Isaac qua đời ngay sau đó, có thể là do nguyên nhân tự nhiên.

Quân viễn chinh và người Venezia đã cực kỳ tức giận với cái chết của những người mà họ bảo trợ và yêu cầu Mourtzouphlos tôn trọng hợp đồng mà Alexios IV đã hứa. Khi hoàng đế Byzantine từ chối, Thập tự quân lại tấn công thành phố một lần nữa. Ngày 08 Tháng Tư, quân đội của Alexios V đã kháng cự một cách mạnh mẽ và làm nhiều quân viễn chinh nản lòng.

Người Byzantine đã bắn những viên đạn rất lớn vào các máy công thành của quân địch và phá vỡ rất nhiều chiếc trong số chúng. Một trở ngại nghiêm trọng cho quân viễn chinh là điều kiện thời tiết xấu. Gió thổi từ biển và ngăn chặn hầu hết các tàu chiến không cho chúng vào đủ gần đến các bức tường để phát động các cuộc tấn công. Chỉ có năm trong số các tháp canh của bức tường đã được thực sự bị tấn công và không chiếc nào trong số những chiếc này đã bị chiếm, và vào giữa buổi chiều người ta đã thấy một điều hiển nhiên rằng các cuộc tấn công đã thất bại.

Các giáo sĩ Latin thảo luận tình hình với nhau và họ muốn quân đội Thập tự chinh không bị mất tinh thần. Họ đã phải thuyết phục những người của họ rằng các sự kiện của ngày 09 tháng 4 không phải là sự phán xét của Thiên Chúa vào một đội quân chứa đầy tội lỗi: Họ lập luận rằng các chiến dịch là chính đáng và phù hợp với niềm tin rằng nó sẽ thành công. Câu nói lòe bịp rằng Thiên Chúa thử thách quyết tâm của quân Thập tự chinh qua những thất bại tạm thời là một phương tiện quen thuộc cho các giáo sĩ để giải thích những thất bại trong quá trình của chiến dịch.

Thông điệp của các giáo sĩ được viết ra để trấn an và động viên quân Thập tự chinh. Lập luận của họ rằng là các cuộc tấn công vào Constantinople xoay quanh hai chủ đề về tinh thần. Đầu tiên, họ nói người Byzantine là những kẻ phản bội và giết người vì họ đã giết chết Alexios IV-chúa tể hợp pháp của họ. Các giáo hội sử dụng ngôn ngữ có tính chất kích động và tuyên bố rằng ” người Byzantine còn tồi tệ hơn người Do Thái” và họ cầu khấn cho sự ủy quyền của Thiên Chúa và Đức Giáo Hoàng để hành động.

Mặc dù Innocent III đã một lần nữa yêu cầu rằng họ ( quân Thập tự chinh ) không được tấn công người Byzantine, lá thư của giáo hoàng đã bị dấu nhẹm bởi các giáo sĩ và các Thập tự quân lại chuẩn bị cho cuộc tấn công của họ, trong khi người Venezia thì tấn công từ hướng biển; quân đội của Alexios V ở lại trong thành phố để chiến đấu, cùng với các vệ sĩ của Hoàng đế-đội vệ binh Varangians, nhưng bản thân Alexios V thì lại chạy trốn trong màn đêm.

Công chiếm Thành phố Constantinople

Ngày 12 tháng 4, năm 1204, cuối cùng thì điều kiện thời tiết đã ủng hộ quân Thập tự chinh. Một luồng gió mạnh từ phía bắc đã giúp cho các tàu của Venetian xáp đến gần các bức tường. Sau một cuộc chiến ngắn, khoảng bảy mươi lính Thập tự quân đã cố gắng đột nhập vào thành phố. Một số quân Thập tự chinh cuối cùng đã có thể tiến vào qua các lỗ hổng của các bức tường đủ rộng để một vài hiệp sĩ có thể chui qua tại một thời điểm để tiến vào; người Venice cũng đã chiếm được một phần các bức tường từ phía biển, mặc dù đã nổ ra những trận chiến rất đẫm máu với các vệ binh Varangian. Quân viễn chinh đã chiếm được Blachernae-một phần ở phía tây bắc của thành phố và sử dụng nó như một căn cứ để tấn công các phần còn lại của thành phố, và đồng thời họ cũng cố gắng tự bảo vệ mình bằng một bức tường lửa, họ đã tạo nhiều đám cháy hơn nữa trong thành phố. Các đám cháy thứ hai này đã làm 15.000 người trở thành vô gia cư. Thập tự quân hoàn toàn chiếm thành phố vào ngày 13.

Quân Thập tự chinh đã gây ra một tội ác khủng khiếp và man rợ tại Constantinople trong ba ngày, vào lúc đó rất nhiều công trình cổ đại và trung cổ của La Mã và Hy Lạp đã được bị lấy cắp hoặc bị phá hủy. Thư viện của thành phố Constantinople cũng đã bị phá hủy, bất chấp lời thề của họ và mối đe dọa của sự rút phép thông công, quân Thập tự chinh đã phá hủy một cách tàn nhẫn và có hệ thống các nhà thờ tu viện của thành phố, họ phá hủy, làm ô uế hoặc ăn cắp tất cả những thứ họ có thể lấy được. Có người nói rằng tổng số tiền bị cướp từ Constantinople có giá trị khoảng 900.000 đồng mark bạc. Người Venezia nhận được 150.000 đồng mark bạc mà là người ta nợ họ, trong khi quân Thập tự chinh cũng nhận được 50.000 đồng mark bạc. Khoảng 100.000 đồng mark bạc được chia đều ra giữa quân Thập tự chinh và người Venice. Phần còn lại khoảng 500.000 đồng mark bạc đã được bí mật giữ lại bởi các hiệp sĩ Thập tự chinh.

Theo một hiệp ước sau đó Byzantine đã được phân chia giữa Venice và các thủ lĩnh của quân thập tự chinh và thành lập một đế quốc La-tinh ở Constantinople. Boniface không được bầu làm hoàng đế mới mặc dù dường như người dân thường coi ông là, người Venice nghĩ rằng ông đã có quá nhiều mối quan hệ với đế quốc Byzantine trước đây vì anh trai của ông-Renier của Montferrat đã kết hôn với Maria Komnene, người vốn là một hoàng hậu trong các năm 1170. Thay vào đó họ đã đưa Baldwin của Flanders trên ngai vàng. Boniface đã ra đi và nhận lấy Vương quốc Thessalonica-một nước chư hầu của Đế quốc La-tinh mới. Người Venice cũng thành lập Công quốc của quần đảo ở biển Aegean. Trong khi đó, người tị nạn Byzantine cũng đã thành lập các vương quốc của riêng mình, đáng chú ý nhất trong số này là đế quốc Nicaea của Theodore Laskaris ( một viên tướng cũ của Alexios III) và các vương quốc Trebizond và Despotate Epirus.

Kết quả

Hầu như quân viễn chinh của lần thứ tư không bao giờ tiến được đến Đất Thánh và Đế quốc vốn Latin không có sự ổn định đã làm thất thoát nhiều nguồn lực của quân thập tự chinh ở châu Âu. Cái mà cuộc Thập tự chinh lần thứ tư để lại là ý nghĩa sâu xa về sự phản bội mà người Latinh đã gieo vào lòng những đồng đạo người Byzantine của mình. Với các sự kiện của năm 1204, sự ly giáo giữa các Giáo hội ở phương Tây và phương Đông không chỉ là hoàn thành mà còn được củng cố. Để kết thúc sự kiện này, Giáo hoàng Innocent III đã chỉ trích quân viễn chinh một cách gay gắt. Tuy nhiên, phản ứng tiêu cực của Đức Giáo Hoàng cũng chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn. Khi quân viễn chinh lấy tiền, đồ trang sức và vàng bạc mà họ đã chiếm được ở Constantinople và tặng cho Rome, Innocent III đã hoan nghênh những của ăn cướp này và đồng ý để cho quân viễn chinh quay trở lại với Giáo Hội La Mã phương Tây ( không còn rút phép thông công nữa).

Đế chế La tinh đã sớm phải đối mặt với một số đông kẻ thù mà quân viễn chinh đã không tính trước đến. Bên cạnh các tàn dư của Đế quốc Byzantine như Epirus và Nicaea, Đế chế La tinh đã phải chịu sức ép rất lớn từ Vương quốc Hồi giáo Seljuk và Đế quốc Bungari ( quả thật người Bungari lúc đó rất đáng sợ  ). Các quốc gia tách ra từ Byzantine đã tấn công cả Đế quốc Latinh và đánh lẫn nhau. Hầu hết các nhân vật chính của Byzantin và Latinh trong sự kiện trên đã bị giết chết ngay sau đó.

Murtzuphlus đã bị phản bội bởi Alexius III, ông bị bắt và dẫn độ đến Đê quốc Latinh và bị hành hình tại Constantinople. Không lâu sau, chính bản thân Alexius III đã bị bắt giữ bởi Boniface và phải sống một cuộc sống lưu đầy ở miền Nam Italy. Một năm sau khi cuộc chinh phục vào thành phố Constantinople, Hoàng đế Baldwin (Đế quốc Latinh) đã bị đánh bại tại Trận Adrianople vào ngày 14 tháng Tư năm 1205 bởi người Bulgaria và bị bắt sống rồi sau đó bị hành hình bởi Kaloyan-Hoàng đế Bungari. Hai năm sau đó, ngày 4 tháng 9 năm 1207, chính bản thân Boniface cũng bị giết trong một cuộc phục kích của người Bulgaria và đầu của ông đã được gửi đến cho Kaloyan. Ông được kế vị bởi Demetrius của Montferrat-người con trai trẻ tuổi của ông, ông này cai trị Vương quốc Thessalonica cho đến khi đến tuổi trưởng thành, nhưng cuối cùng cũng đã bị đánh bại bởi Theodore I Ducas-bạo chúa của Epirus và họ hàng của Murtzuphlus và do đó Vương quốc Thessalonica đã trở về sự cai trị của Đế quốc Byzantine trong 1224.

Rất nhiều các Lãnh chúa Pháp-Latin khác nhau trên khắp Hy Lạp – đặc biệt như công quốc Athen và công quốc của Morea – đã cố gắng tạo ra sự kết nối về văn hóa với Tây Âu và thúc đẩy khoa học nghiên cứu về Hy Lạp. Đặc biệt là các nhà quý tộc Pháp đã cho lưu hành một bộ sưu tầm về pháp luật được gọi làAssises de Romanie (chiếc cân của Hy Lạp). Phiên bản của quấn biên niên sử của xứ Morea cũng xuất hiện ở cả Pháp và Hy Lạp (và sau đó là Ý và Aragonese). Ấn tượng còn lại về các tòa lâu đài của quân thập tự chinh và nhà thờ kiểu Gothic vẫn có thể được nhìn thấy ở Hy Lạp. Tuy nhiên, Đế quốc La tinh tại Hy Lạp luôn được đặt trên một nền tảng yếu đuối ( vì không được lòng dân Byzantine ). Thành phố đã bị chiếm lại bởi Đế quốc Nicaean của người Hy Lạp dưới sự lãnh đạo của Hoàng đế Michael VIII Palaeologus trong năm 1261 và thương mại giữa Byzantine với Venice đã được tái lập.

Trong một loạt các sự kiện đáng mỉa mai ở giữa thế kỷ 15, Giáo Hội La Tinh ( Roman Catholic Church) đã cố gắng tổ chức một cuộc thập tự chinh mới nhằm khôi phục lại Đế quốc Đông La Mã hay Đế quốc Byzantine lúc này đã dần dần bị tràn ngập bởi những bước tiến của Đế quốc Ottoman-Thổ Nhĩ Kỳ ( đương nhiên Đông La Mã là rào chắn cho các nước Tây Âu khỏi người Ottoman-Thổ Nhĩ Kỳ, nhưng khi rào chắn này đổ sụp thì các nước Tây Âu tha hồ mệt mỏi với người Thổ-chính vì vậy mà Giáo Hoàng mới hô hào khôi phục lại Đế quốc Đông La Mã ). Tuy nhiên, các nỗ lực này đã thất bại bởi vì phần lớn thường dân Byzantine và một phần các giáo sĩ của họ từ chối công nhận và chấp nhận một cuộc tái hòa nhập ngắn ngày giữa các Giáo Hội Kitô giáo phương Đông và phương Tây theo hiệp ước đã được ký kết tại Hội đồng của Florence và Ferrara bởi giáo trưởng Joseph II của Constantinople. Dân Hy Lạp, những người đã từng chứng kiến sự hình thành và sụp đổ của Đế quốc Latinh, cho rằng nền văn minh của Byzantine vốn xoay quanh đức tin chính thống thậm chí sẽ được an toàn hơn dưới sự cai trị của triều đình Hồi giáo Ottoman. Nhìn chung, nếu quan sát về mặt tôn giáo thì người

Byzantine đã chọn việc hy sinh sự tự do và độc lập về chính trị để bảo tồn các truyền thống và nghi lễ cùng với niềm tin riêng của họ chứ không muốn bị hòa nhập vào Công giáo La Mã. Trong đầu thế kỷ 14 và cuối thế kỷ 15, hai cuộc thập tự chinh cuối cùng đã được tổ chức bởi các vương quốc Hungary, Ba Lan, Wallachia và Serbia. Cả hai đều đã bị chặn đứng bởi đế quốc Ottoman. Trong cuộc bao vây thành phố Constantinople của Đế quốc Ottoman năm 1453, một nhóm các hiệp sĩ quan trọng của Venezia và Genova đã chết trong khi phòng thủ thành phố này.

Tám trăm năm sau khi xảy ra cuộc Thập tự chinh lần thứ tư, Đức Giáo Hoàng John Paul II hai lần bày tỏ sự chia buồn cho các sự kiện của cuộc Thập tự chinh lần thứ tư. Năm 2001, ông đã viết cho Christodoulos, Tổng-Giám-mục của Athens rằng: “Đó là bi kịch mà những kẻ tấn công, những người đã đặt ra mục tiêu là đảm bảo cho các Kitô hữu khi hành hương đến Đất Thánh lại quay lưng lại với những người anh em cùng đức tin của họ. Sự thật là các Kitô hữu Công giáo Latin đã cảm thấy sự hối tiếc sâu sắc. ” Năm 2004, trong lúc Đức Thượng phụ Bartholomew I- Đại Giáo trưởng của Constantinople, đến thăm Vatican, John Paul II đã hỏi, “tại sao chúng ta ( Giáo hội Kitô giáo phương Đông và phương Tây ) lại không chia sẻ, ở một khoảng thời gian lên đến tám thế kỷ, những đau đớn và sự ghê tởm ( của việc công phá thành phố Constantinople )”. Sự kiện này đã được xem như là một lời xin lỗi đến Giáo Hội Chính Thống Hy Lạp về các cuộc tàn sát đã được gây ra bởi các chiến binh của cuộc Thập tự chinh lần thứ tư.

Vào tháng 4 năm 2004, trong một bài phát biểu nhân dịp kỷ niệm 800 ngày thành phố bị chiếm giữ, Đức Thượng phụ Bartholomew I- Đại Giáo trưởng của Constantinople đã chính thức chấp nhận lời xin lỗi. “Tinh thần hoà giải là mạnh hơn hận thù,” ông nói trong lúc làm lễ nghi có sự tham dự của Đức Tổng-Giám-mục Công giáo La Mã Philippe Barbarin của Lyon, Pháp. “Chúng tôi chấp nhận với lòng biết ơn và tôn trọng cử chỉ thân mật của ngài về các sự kiện bi thảm của cuộc Thập tự chinh lần thứ tư. Thực tế là một tội ác đã được tiến hành ở đây trong thành phố này 800 năm trước đây” Bartholomew nói rằng ông chấp nhận lời xin lỗi theo tinh thần của Pascha ( Lễ phục sinh ). ” tinh thần hòa giải của sự phục sinh … đã thúc giục chúng ta tới sự hòa giải với các Giáo hội của chúng ta-The spirit of reconciliation of the resurrection… incites us toward reconciliation of our churches”

Cuộc Thập tự chinh Albegensian

Thập tự chinh Albegensian hay còn gọi là Thập tự chinh Cathar (1209-1229) là một chiến dịch quân sự kéo dài 20-năm được bắt đầu bởi Giáo hội Công giáo để loại trừ người dị giáo Cathar trong vùng Languedoc. Cuộc Thập tự chinh được bắt đầu chủ yếu do người Pháp và kết quả là không chỉ giảm đáng kể số lượng người theo tôn giáo Cathar mà còn là một cuộc tái tổ chức lại vùng Occitania và đưa nó vào vòng kiểm soát của vương quốc Pháp và làm giảm dần sự khác biệt của các nền văn hóa trong khu vực này và ảnh hưởng của người Aragonese ( người Tây Ban Nha ngày nay).Khi nỗ lực ngoại giao của Innocent III để kêu gọi sự hội nhập của người Catharism ( một giáo phái Kitô giáo ly khai ở vùng Languedoc bị nhà thờ La Mã kết tội dị giáo) thu được rất ít thành công và sau khi Pierre de Castelnau-người thừa kế giáo hoàng bị sát hại (người ta đã cáo buộc thủ phạm là một người thuộc giáo phái Cathar ở Toulouse), Innocent III tuyên bố một cuộc thánh chiến chống lại người Languedoc và trao các vùng đất của người dị giáo Cathar cho bất kỳ nhà quý tộc Pháp nào sẵn sàng cầm vũ khí để tham gia thánh chiến. Bạo lực bùng nổ đã dẫn đến việc nước Pháp đã chiếm được vùng đất vốn có quan hệ gần gũi hơn với văn hóa và ngôn ngữ với vùng Catalonia.Cuộc Thập tự chinh Albegensian cũng đã có một vai trò trong việc tạo ra và dòng tu Dominica và Toà án dị giáo thời Trung cổ.

Nguồn gốc

Giáo hội Công giáo đã luôn luôn đối xử lý nghiêm khắc với các nhánh của Kitô giáo mà nó bị coi là dị giáo, Nhưng trước thế kỷ 12 có xu hướng tập trung xung quanh những nhóm truyền đạo cá lẻ, các giáo phái địa phương nhỏ. Đến thế kỷ 12, nhiều các nhóm được tổ chức như Waldensian và Cathar đã bắt đầu xuất hiện trong các thị xã, thành phố thuộc khu vực mới được đô thị hoá. Ở miềm Tây thuộc Địa Trung Hải của Pháp-một trong những vùng được đô thị hóa mạnh nhất ở châu Âu vào thời điểm đó, niềm tin Cathars đại diện cho một phần rất đông đảo quần chúng nhân dân và niềm tin đã lan rộng đến các khu vực khác. Tương đối ít người tin đã theo consolamentum ( giáo lý của Cathar )để trở thành một người Cathar hoàn toàn, nhưng niềm tin này đã thu hút được nhiều cảm tình viên.

Người Cathari không tin là có một Chúa Trời quyền năng duy nhất mà có những hai vị Thần và cả hai có sức mạnh ngang bằng nhau một cách so sánh về trạng thái. Họ cho rằng thế giới vật chất là xấu xa và được tạo ra bởi Rex Mundi (Tiếng Latin là “vua của thế giới”), người đã tạo ra tất cả những sự hỗn loạn về vật chất còn thần thứ hai-một trong những người mà họ tôn thờ. Ông là vị thần tự do, tình yêu và hòa bình. Giáo hội Công giáo đã được báo động về sự lây lan của giáo phái Cathar và cảm nhận thấy sự tăng trưởng của một đối thủ được tổ chức tốt trên một quy mô lớn kể từ thời Arianism và Marcionism ( các giáo phái của Kitô giáo bị nhà thờ Chính thống giáo và nhà Thờ La Mã coi là dị giáo từ dị giáo từ hàng thế kỷ trước ).

Phát sinh giống như từ các thuyết ngộ đạo trước đây, thần học Cathar đã khai thác được những thành công ngoạn mục nhất trong vùng Languedoc và những người theo giáo phái Cathar còn được gọi là Albigensian, hoặc do họ có liên minh với thành phố Albi, hoặc bởi vào năm 1176 Hội đồng Giáo Hội đã tuyên bố học thuyết dị giáo Cathar được tổ chức ở gần thành phố Albi. Trong vùng Languedoc, sự kiểm soát về chính trị được phân chia giữa các lãnh chúa địa phương và hội đồng thành phố. Trước khi nổ ra cuộc thập tự chinh này, có rất ít chiến sự bùng nổ trong khu vực và chính thể thì khá là phức tạp. Phía Tây Địa Trung Hải của Pháp trong thời gian này được phân chia giữa Crown of Aragon ( Công quốc Aragon) và các quận của Toulouse.

Trở thành Giáo hoàng trong năm 1198, Innocent III tìm cách để đối phó với người Cathars. Giáo phái Cathar đã tiến hành một cuộc rút lui khỏi quyền lực của Giáo Hội và các nhà truyền đạo đã đồng ý ly giáo với nhà thờ thông La Mã. Nỗ lực chuyển đổi một cách hòa bình đã được tiến hành nhưng thu được rất ít thành công. Ngay cả Thánh Dominic đã cố gắng đàn phán một cách độc lập hơn, nhưng cũng chỉ thu được một số chuyển đổi ít ỏi. Lãnh tụ của giáo phái Cathar được bảo vệ bởi các quý tộc và một số giám mục hùng mạnh-những người bị cáo buộc có bất mãn với quyền lực của giáo hoàng và không tỏ ra thù địch với niềm tin Cathar. Năm 1204 Đức Giáo Hoàng đã đình chỉ quyền của một số các giám mục và bổ nhiệm đại diện của Giáo hoàng để điều hành thay mặt mình. Năm 1206 ông đã tìm cách hỗ trợ cho các hoạt động quy mô lớn hơn chống lại những người Cathar của các quý tộc vùng Languedoc, còn những quý tộc hỗ trợ người Catharism đã bị rút phép thông công.

Vị công tước hùng mạnh Raymond VI của Toulouse đã từ chối giúp đỡ và bị giúp phép thông công vào tháng 5 năm 1207. Đức Giáo Hoàng đã kêu gọi Philippe II-vua Pháp hành động để trợ giúp việc chống lại những nhà quý tộc-những người đã bị rút phép thông công vì theo giáo phái Catharism, nhưng Philippe đã từ chối hành động. Bá tước Raymond đã gặp Pierre de Castelnau-người thừa kế giáo hoàng vào tháng Giêng năm 1208 và sau một cuộc họp đầy sóng gió Castelnau đã bị sát hại vào ngày hôm sau. Đức Giáo Hoàng đã phản ứng với vụ giết người này bằng cách đưa ra một sắc lệnh công bố một cuộc thánh chiến vào vùng Languedoc-đem thưởng vùng đất của những người dị giáo cho bất kỳ người nào tham gia thánh chiến. Sự kiện này đã gây ra các cuộc xung đột giữa các quý tộc miền Bắc Pháp với các quý tộc ở miền Nam.

Các chiến dịch quân sự

Các chiến dịch quân sự của các cuộc Thập tự chinh này có thể được chia thành nhiều giai đoạn: giai đoạn đầu tiên năm 1209-1215 là một loạt những thành công lớn của quân viễn chinh ở vùng Languedoc. Tuy nhiên phần lớn các vùng đất bị chiếm lại bị mất vào giữa những năm 1215 và 1225 trong một loạt các cuộc nổi dậy và đảo chiều về quân sự. Tình hình chỉ trở lại yên tĩnh trở lại sau khi có sự can thiệp của Louis VIII-nhà vua Pháp. Trong năm 1226. Mặc dù ông qua đời vào tháng 10 năm đó, cuộc chiến đấu vẫn còn tiếp tục dưới thời vua Louis IX. Vùng này đã bị chinh phục vào năm 1229 và các nhà quý tộc hàng đầu đã ký kết các hiệp ước hòa bình. Sau 1233 tòa án Tôn giáo là công cụ để nghiền nát những gì còn lại của giáo phái Catharism. Thỉnh thoảng vẫn tiếp tục có những cuộc kháng chiến nổi dậy, nhưng giáo phái Catharism đã bị tràn ngập. Các hoạt động quân sự đã chấm dứt vào năm 1255.Thành công ban đầu 1209-1215

Đến giữa năm 1209 khoảng 10.000 quân Thập tự chinh đã tụ tập tại Lyon trước khi hành quân về phía nam. Trong tháng 6, Raymond của Toulouse đã nhìn thấy thảm họa trước mắt, cuối cùng đã hứa sẽ hành động chống lại người Cathar và các giới hạn nhắm vào ông đã được dỡ bỏ. Quân viễn chinh quay về phía vùng Montpellier và vùng đất của Raymond-Roger de Trenca.vel, nhằm vào các cộng đồng Cathar xung quanh lâu đài Albi và Carcassonne. cũng giống như Raymond của Toulouse, đã chào mời Raymond-Roger một vị trí trong quân viễn chinh, nhưng ông đã từ chối một cuộc họp và quay trở về để chuẩn bị phòng thủ lâu đài Carcassonne của mình.

Trong tháng 8 năm 1209 quân viễn chinh chiếm được ngôi làng nhỏ có tên là Servian và tiến tới Bézier vào ngày 21 tháng 7. Họ bao vây thành phố và kêu gọi người Công giáo sống ở bên trong đi ra ngoài và yêu cầu người Cathar đầu hàng. Cả hai nhóm người đều từ chối yêu cầu này. Thành phố đã thất thủ vào ngày hôm sau khi một cuộc phá vây thất bại bị đẩy lùi vào thành phố qua một cánh cổng thành mở sẵn. Dân cư của toàn thành phố đã bị tàn sát và thành phố bị đốt cháy đến tận móng. Các nguồn thông tin đưa ra ước tính về số người về số người bị giết dao động từ mười lăm đến mười sáu ngàn người. Đây cũng là con số mà Arnaud-Amaury-người thừa kế của giáo hoàng đã báo cáo với ông này. Tin tức về thảm họa nhanh chóng lan rộng và sau đó nhiều khu dân cư đầu hàng mà không có chiến đấu.

Mục tiêu quan trọng tiếp theo là Carcassonne. Thành phố đã được tăng cường, nhưng dễ bị tổn thương và đầy tràn người tị nạn. Quân viễn chinh xuất hiện trước ở thành phố vào ngày 01 tháng 8 năm 1209. Cuộc bao vây đã không kéo dài bởi vào ngày 07 tháng 8 họ đã cắt nguồn cung cấp nước của thành phố. Raymond-Roger đã tìm cách thương lượng nhưng lại bị bắt làm tù binh trong khi đang tiến hành một thỏa thuận ngừng bắn và lâu đài Carcasonne đã đầu hàng vào ngày 15. Người dân ở đó không bị tàn sát nhưng bị buộc phải rời khỏi lâu đài mà không được mặc quần áo-theo Peter của les Vaux-Cernay-de. Simon de Montfort lúc này lãnh đạo quân đội Thập tự chinh và được ( Giáo Hoàng ) ủy quyền kiểm soát vùng này bao gồm cả lâu đài Carcassonne, Albi và Béziers. Sau sự sụp đổ của lâu đài Carcassonne, các thị trấn khác đã đầu hàng mà không chiến đấu. Albi, Castelnaudary, Castres, Fanjeaux, Limoux, Lombers và Montréal-tất cả các thành phố đã thất thủ một cách nhanh chóng. Tuy nhiên, một số các thị trấn đã đầu hàng sau đó lại nổi loạn.

Các trận chiến tiếp theo tập trung vào Lastours và các lâu đài kế cận của Cabaret. Cuộc tấn công nổ ra trong tháng 12 năm 1209, Pierre-Roger de Cabaret đã đẩy lùi các cuộc tấn công. Phần lớn các cuộc xung đột đã ngừng lại vào mùa đông nhưng rồi lại có quân viễn chinh mới đến trong tháng ba năm 1210, Bram đã bị thất thủ sau một cuộc bao vây ngắn. Trong tháng 6 thành phố Minerv vốn được tăng cường tăng cường phòng thủ kiên cố đã bị bao vây. Nó phải chịu đựng một cuộc bắn phá nặng nề, nhưng rồi cũng bị triệt hạ vào cuối tháng 6 và vào ngày 22 tháng 7, thành phố đã đầu hàng. Những người Cathar đã được trao cơ hội để quay trở lại niềm tin Công giáo. Hầu hết trong số họ đã chấp nhận cải đạo, 140 người từ chối đã bị thiêu sống. Trong tháng 8 quân thập tự chinh tiến hành công phá thành lũy Termes. Bất chấp một cuộc phá vây được chỉ huy bởi Pierre-Roger de Cabaret, cuộc bao vây được tiến hành một cách kiên quyết và trong tháng 12 pháo đài đã thất thủ. Đó là chiến dịch cuối cùng của năm 1210.

Khi khi chiến dịch được khởi động trở lại năm 1211 Arnaud-Amaury và Simon de Montfort ( các thủ lĩnh Thập tự quân ) đã bị xa lánh bởi một số các lãnh chúa quan trọng, bao gồm Raymond de Toulouse-người đã bị rút phép thông công một lần nữa. Lực lượng quân viễn chinh trở lại Lastours vào tháng ba và Pierre-Roger de Cabaret ngay sau đó đồng ý đầu hàng. Trong tháng này lâu đài Aimery de Montréal đã thất thủ, ông (Pierre-Roger de Cabaret ) và các hiệp sĩ cao cấp của mình bị treo cổ và hàng trăm người Cathar đã bị thiêu sống. Cả hai lâu đài của Cassès và Montferrand đều dễ dàng thất thủ vào đầu tháng 6 và quân viễn chinh tiến tới Toulouse. Thành phố đã bị bao vây, nhưng khi này quân tấn công đã bị cạn nguồn cung cấp và nhân lực và vì vậy Simon de Montfort đã phải rút lui trước khi tháng này kết thúc. Được khuyến khích bởi cuộc rút quân này, Raymond de Toulouse đã dẫn đầu một đội quân tấn công vào Montfort ở Castelnaudary trong tháng Chín. Montfort đã phải dỡ bỏ hoàn toàn cuộc bao vây và thành phố Castelnaudary bị tái chiếm bởi lực lượng của Raymond cùng với hơn ba mươi thị trấn nữa trước khi cuộc phản công trên bộ bị chặn lại ở Lastours vào mùa thu. Vào năm sau nhiều tỉnh ở vùng Toulouse đã bị chiếm bởi lực lượng của người Công giáo.

Năm 1213, quân đội do vua Peter II của Aragon-vua của vùng Catalonia, xuất hiện để chi viện cho Toulouse. Lực lượng này tiến hành bao vây lâu đài Muret, nhưng vào tháng 9 một cuộc tấn công bất ngờ từ lâu đài đã giết chết vua Peter và quân đội của ông đã bỏ chạy. Đó là một cú đánh nghiêm trọng vào lực lượng chống đối và vào năm 1214 tình hình còn trở nên tồi tệ hơn: Raymond đã buộc phải chạy trốn sang Anh và vùng đất của ông đã được Đức Giáo Hoàng giao cho Philippe II-người chiến thắng, một âm mưu của nhà vua Pháp cuối cùng đã thành công trong cuộc xung đột. Vào tháng 11 vị bá tước hiếu chiến Simon de Montfort tiến vào Périgord và dễ dàng chiếm được lâu đài Domme và Montfort, ông cũng đã chiếm được Castlenaud và phá hủy các công sự của pháo đài Beynac. Năm 1215, Castelnaud lại được chiếm lại bởi Montfort khi quân Thập tự chinh tiến vào Toulouse. Toulouse đã nằm dưới quyền kiểm soát của Montfort. Trong tháng 4 năm 1216 ông đã nhượng lại vùng đất của mình cho Philippe.

Cuộc nổi dậy và thế đảo ngược năm 1216-1225

Tuy nhiên Raymond cùng với con trai ông ta quay trở lại vùng nay trong tháng 4 năm 1216 và ngay lập tức gây dựng được một lực lượng đáng kể từ các thị trấn đang bất mãn. Beaucaire bị bao vây vào tháng Năm và thất thủ sau một cuộc bao vây kéo dài ba tháng, những nỗ lực của Montfort để chiếm lại thành phố đã bị đẩy lùi. Sau đó Montfort đã có những nỗ lực dập tắt một cuộc nổi dậy ở Toulouse trước khi hành quân về phía Tây để chiếm giữ Bigorre, nhưng ông đã bị đẩy lùi ở Lourdes trong tháng 12 năm 1216. Trong tháng 9 năm 1217, trong khi Montfort đóng quân ở vùng Foix, Raymond đã tái chiếm Toulouse. Montfort đã phải vội vã quay trở lại, nhưng lực lượng của ông đã không đủ để tái chiếm thành phố trước khi chiến dịch tạm ngừng. Montfort kéo dài cuộc bao vây vào mùa xuân năm 1218. Trong khi cố gắng để chống đỡ một cuộc xung phong ra ngoài của lực lượng bảo vệ thành phố, Montfort bị bắn trúng và bị giết chết bởi một viên đạn bằng đá bắng ra từ các thiết bị phòng thủ ( pháo binh thời đó ). Các tài liệu thời đó ghi lại rằng pháo binh của thành phố này được vận hành bởi những người phụ nữ và trẻ em của Toulouse.Giáo Hoàng Innocent III đã qua đời trong tháng 7 năm 1216 và lúc này Montfort cũng đã chết, quân thập tự chinh còn lại ở trong tình trạng tạm thời lộn xộn. Chức vụ tổng chỉ huy của quân Thập tự chinh được giao cho Philippe II-người thận trọng hơn Montfort nhiều, ông này ( cũng là vua nước Pháp ) đã có nhiều quan tâm hơn về Toulouse so với dân dị giáo ( ý nói là cụ này máu về mặt bất động sản hơn lo cải đạo dân chúng). Quân Thập tự chinh đã chiếm Belcaire và bao vây Marmande vào cuối năm 1218 dưới sự chỉ huy của Amaury de Montfort, con trai nhỏ tuổi của Simon. Trong khi Marmande đã thất thủ vào ngày 03 tháng 6 năm 1219, nỗ lực để chiếm lại Toulouse đã không thành công và một số vị trí khác bị chiếm bởi người của Montfort cũng mất dần. Năm 1220, Castelnaudary được tái chiếm từ tay Montfort ( con ). Ông này tái triển khai bao vây thành phố trong tháng 7 năm 1220, nhưng nó chỉ chịu được một cuộc bao vây 8 tháng. Năm 1221, Raymond và con trai của ông tiếp tục gặt hái thành công: Montréal và Fanjeaux đã được tái chiếm và nhiều người Công giáo bị buộc phải bỏ chạy. Năm 1222, Raymond chết và được kế vị bởi con trai ông cũng tên là Raymond. Năm 1223, Philippe II qua đời và được kế tục bởi Louis VIII. Năm 1224, Amaury de Montfort bỏ Carcassonne. Các con trai của Raymond-Roger de Tren trở về từ nơi lưu vong để đòi lại vùng này. Montfort chuyển giao yêu cầu đòi sở hũu của mình đến các vùng đất thuôc Languedoc cho Louis VIII người nhận chức Tổng tư lệnh quân thập tự chinh.Hoàng gia Pháp can thiệpTrong tháng 11 năm 1225, tại một cuộc họp của Hội đồng Bourges, Raymond-cũng như cha của mình đã bị tuyệt thông. Hội đồng đã tập trung hơn một ngàn cha cố để ra một đạo luật thuế thu nhập hàng năm-“Albegensian thứ mười”, để hỗ trợ cho cuộc Thập tự chinh, mặc dù các cải cách các lâu dài dùng để tài trợ cho các chiến dịch của giáo hoàng đã vĩnh viễn chìm nghỉm. Louis VIII làm thủ lĩnh của cuộc thập tự chinh mới vào khu vực này trong tháng 6 năm 1226. Thị trấn đã được tăng cường và lâu đài đã đầu hàng mà không có kháng cự. Tuy nhiên, vùng Avignon, dưới sự cai trị của hoàng đế Đức, đã chống cự và quân Thập tự chinh đã phải tiến hành một cuộc bao vây ba tháng để bắt thành phố phải đầu hàng vào tháng Chín. Louis VIII đã chết trong tháng 11 và được kế tục bởi vua Louis IX-con trai ông ta. Nhưng nữ hoàng nhiếp chính Blanche của Castile cho phép cuộc thánh chiến vẫn tiếp tục dưới sự chỉ huy của Humbert de Beaujeu. Labécède thất thủ vào năm 1227 và Vareilles và Toulouse trong năm 1228. Tuy nhiên, Queen Blanche đã ký với Raymond một hiệp ước: công nhận ông là lãnh đạo của Toulouse để đổi lấy việc ông này chiến đấu với người Cathar, trả lại tất cả tài sản cho Giáo Hội, quay về lâu đài của mình và phá hủy các công trình phòng thủ Toulouse. Hơn nữa, Jeanne-cháu gái của Raymond đã kết hôn với con gái của Louis Alphonse, cặp vợ chồng và con cháu của họ sẽ được thừa kế Toulouse sau cái chết của Raymond, và quyền thừa kế sẽ được chuyển lại cho nhà vua trong trường hợp họ không có con cái. Raymond đã đồng ý và thực sự ký kết hiệp ước tại Meaux trong tháng 4 năm 1229. Sau đó ông bị bắt giữ, đánh đập và cầm tù trong một thời gian ngắn.

Tòa án dị giáo

Lúc này vùng Languedoc đã nằm dưới sự kiểm soát một cách chắc chắn của nhà vua Pháp. Tòa án dị giáo được thành lập tại Toulouse trong tháng 11 năm 1229, và quá trình ridding diện tích Cathar niềm tin và đầu tư mạnh của nó còn lại bắt đầu. Theo Đức Giáo Hoàng Gregory IX Toà án dị giáo đã được trao quyền lực lớn để đàn áp dị giáo. Trái với truyền thuyết phổ biến, Toà án dị giáo tiến hành chủ yếu bằng phương tiện thuyết phục điều tra pháp lý và hòa giải. thủ tục tư pháp đã được sử dụng và mặc dù các bị cáo không được phép biết tên của những người tố cáo họ, họ đã được cho phép để mở một phòng. Đại đa số bị kết tội dị giáo đã phải chịu những hình phạt nhẹ. 11 % số người phạm tội dị giáo bị tống vào nhà tù. Chỉ có khoảng 1 % những người theo niềm tin Cathar ngoan cố nhất và tái phạm đã bị giao cho chính quyền thế tục để đối mặt với bản án thiêu sống. Tuy nhiên một số những xác chết đã bị khai quật để thiêu cháy. Nhiều người vẫn còn chống cự, họ dựa vào các pháo đài tại Fenouillèdes và Montségur làm căn cứ, hoặc kích động các cuộc nổi dậy nhỏ. Năm 1235, Toà án dị giáo bị buộc phải ra khỏi Albi, Narbonne và Toulouse. Raymond-Roger de Trenca.vel đã dẫn đầu một chiến dịch quân sự năm 1240, nhưng ông đã bị đánh bại tại Carcassonne vào tháng 10, sau đó bị bao vây tại Montréal. Ông đã sớm đầu hàng và bị lưu đày đến Aragon. Năm 1242, Raymond của Toulouse đã cố gắng phát động một cuộc nổi dậy kết hợp với một cuộc xâm lược của người Anh, nhưng người Anh đã nhanh chóng bị đẩy lui và những người ủng hộ ông đã tan rã. Sau đó ông sau đó đã được sự ân xá của nhà vua.Các thành lũy của người Cathar đã bị thất thủ từng chiếc một. Pháo đài Montségur phải chịu đựng một cuộc bao vây kéo dài chín tháng trước khi nó bị thất thủ tháng 3 năm 1244. Chiếc pháo đài nhỏ tại Quéribus là căn cứ cuối cùng, nó đã nhanh chóng thất thủ vào tháng 8 năm 1255. Người cuối cùng bị hỏa thiêu vì niềm tin Cathar ở Corbières, ngày nay thuộc Thụy Sĩ trong năm 1321.

Cuộc Thập tự chinh lần thứ năm

Cuộc Thập tự chinh lần thứ năm (1213-1221) là một cố gắng nhằm giành lại Jerusalem và phần còn lại của Đất Thánh bằng cách chinh phạt Triều đình Ayyubid hùng mạnh của vương quốc Ai Cập.

Giáo hoàng Innocent III và người kế nhiệm của ông-Đức Giáo Hoàng Honorius III đã đứng ra tổ chức một đội quân thập tự chinh do vua Andrew II của Hungary và Công tước Leopold VI của Áo, và một bước đột phá so với Jerusalem cuối cùng rời thành phố trong tay người Hồi giáo. Sau đó trong 1218, một quân đội Đức do Oliver của Cologne, và quân đội hỗn hợp của người Hà Lan, Flemish và Frisco nằm dưới sự chỉ huy của William I, Bá tước của Hà Lan đã tham gia vào cuộc thập tự chinh. Để tấn công vào vùng Damietta ở Ai Cập, họ đã liên minh với Vương quốc Hồi giáo Rum của người Seljuk ở vùng Anatolia để tấn công các thành trì của triều Ayyubids tại Syria trong một nỗ lực để giải phóng quân Thập tự chinh khỏi việc phải chiến đấu trên hai mặt trận.

Sau khi chiếm được bến cảng Damietta, Quân Thập tự chinh đã hành quân về phía nam-phía Cairo vào tháng 7 năm 1221, nhưng họ đã phải quay trở lại sau khi nguồn cung cấp của họ bị cạn kiệt và sự kiện này đã dẫn đến một thất bại. Một cuộc tấn công vào ban đêm của Sultan Al-Kamil đã dẫn đến một số lượng lớn quân thập tự chinh thiệt mạng và cuối cùng thì toàn bộ quân đội đã phải đầu hàng. Al-Kamil đã đồng ý ký một thỏa thuận hòa bình tám năm với Châu Âu.

PhápThông điệp về chiến dịch Thập tự chinh mới của Giáo hoàng đã được thuyết giảng tại Pháp bởi Robert của Courçon, Tuy nhiên, không giống như các cuộc thập tự chinh khác, không có nhiều hiệp sĩ Pháp tham gia bởi vì họ đang bận tham chiến ở cuộc Thập tự chinh Albegensian để chống lại dị giáo giáo phái Cathar ở miền nam nước Pháp.Năm 1215 Đức Giáo Hoàng Innocent III triệu tập Hội đồng Lateran lần thứ tư, Ở đây cùng với Giáo trưởng Latinh của Jerusalem-Raoul của Merencourt, Ông thảo luận về công cuộc khôi phục Đất Thánh với các quan chức khác của nhà thờ. Giáo hoàng Innocent muốn cuộc Thập tự chinh này phải được lãnh đạo trực tiếp bởi chính chức danh Giáo hoàng như là ở cuộc Thập tự chinh đầu tiên để tránh những sai lầm của cuộc Thập tự chinh lần thứ tư vốn đã được tiến hành bởi người Venice. Giáo hoàng Innocent lên kế hoạch để quân Thập tự chinh tập trung tại Brindisi trong năm 1216, và với người với người Hồi giáo bị cấm để đảm bảo rằng quân Thập tự chinh có đủ tàu và vũ khí. Mỗi thập tự quân sẽ nhận được một Ân xá, bao gồm cả những người chỉ đơn giản là giúp chi trả các chi phí của cuộc thập tự chinh bất chấp việc bản thân họ lại ngồi nhà.

Hungary và Đức

Oliver của Cologne đã rao giảng về một cuộc thánh chiến tại Đức, và Hoàng đế Frederick II đã cố gắng tham gia vào năm 1215. Frederick là vị vua cuối cùng mà Innocent muốn tham gia bởi vì ông này đã thách thức Chức vị của Giáo hoàng (Và ông ta vẫn còn làm như vậy trong những năm sau đó). Tuy nhiên Giáo Hoàng Innocent đã qua đời vào năm 1216. Ông đã được kế tục bởi Đức Giáo Hoàng Honorius III, người đã cấm Frederick tham gia và đội quân thập tự chinh được tổ chức bởi Andrew II-vua của Hungary và công tước Leopold VI của Áo. Andrew có một đội quân Hoàng gia lớn nhất trong lịch sử của những cuộc thánh chiến (20.000 hiệp sĩ và 12.000 lính đồn trú trong các lâu đài).

Quá trình chiến dịch

Tại Jerusalem

Andrew và quân đội của ông ta đã lên tầu vào ngày 23 tháng 8 năm 1217 ở Spalato. Họ đổ bộ lên đảo Cyprus vào ngày 9 tháng 10 ngày từ đó họ đi thuyền đến Acre và đươc tham gia bởi John của Brienne, người đang cai trị Vương quốc Jerusalem ( nhưng thực ra chỉ có Acre và các vùng lân cận ), Hugh I của Cyprus và Hoàng tử Bohemund IV của Antioch tham gia chiến đấu chống lại Triều Ayyubid ở Syria.
Tại Jerusalem, các bức tường và công sự của thành phố đã bị phá hủy để ngăn chặn việc người Kitô giáo có thể bảo vệ thành phố nếu họ chiếm được nó. Người Hồi giáo đã chạy trốn khỏi thành phố vì sợ rằng sẽ lặp lại một cuộc tắm máu như ở cuộc Thập tự chinh đầu tiên năm 1099.

Quân đội gồm một số lượng đông đảo các kỵ binh chất lượng cao của vua Andrew đã đánh bại sultan Al-Adil I của Ai Cập tại Bethsaida trên Sông Jordan vào ngày 10 tháng 11 năm 1217. Lực lượng Hồi giáo rút lui vào pháo đài và thị trấn của họ. Các máy bắn đá đã không được chuyển đến trong thời gian này, do đó ông đã tấn công một cách không hiệu quả vào các pháo đài ở Lebanon và Núi Tabor. Sau đó Andrew đã dành thời gian để thu thập thánh tích.

Andrew và quân đội của ông quay về Hungary vào tháng 2 năm 1218 và Bohemund cùng với Hugh cũng trở về nhà.

Liên minh với Vương quốc Hồi giáo Rum

Sau đó trong năm 1218 Oliver của Cologne đã đến với một đội quân Đức mới và Bá tước William I của Hà Lan cũng kéo đến với một đội quân hỗn hợp gồm các binh lính người Hà Lan, Flemish và Frisco. Leopold và John bàn bạc rằng họ nên tấn công Damietta ở Ai Cập. Để thực hiện cuộc tấn công này, họ đã liên minh với Keykavus I-vua của người Turk Seljuq ở vùng Anatolia, họ sẽ tấn công vào lãnh thổ của Triều Ayyubids tại Syria trong một nỗ lực để quân Thập tự chinh được rảnh tay và không phải chiến đấu cùng một lúc trên hai mặt trận.

Tại Ai Cập

Trong tháng 6 năm 1218 quân Thập tự chinh bắt đầu bao vây Damietta và bất chấp quốc vương Hồi giáo Al-Adil đã chuẩn bị kháng cự rất tốt, toà tháp bên ngoài thành phố đã bị chiếm vào ngày 25. Nhưng rồi họ cũng không thể chiếm được thành phố Damietta và trong tháng sau đó bệnh dịch bùng phát đã giết chết rất nhiều người trong số các Thập tự quân, bao gồm cả Robert của Courcon. Al-Adil cũng qua đời và được kế thừa bởi Al-Kamil. Trong khi đó, Honorius III gửi Pelagius của Albano dẫn đầu một đội quân thập tự chinh vào năm 1219. Al-Kamil đã cố gắng thương lượng hòa bình với quân Thập tự chinh. Ông muốn đánh đổi Damietta lấy Jerusalem, nhưng Pelagius đã không chấp nhận cuộc thương lượng này. Sau khi nghe tin Bá tước William I của Hà Lan rời khỏi đội ngũ quân thập tự chinh và khởi hành về nhà. Vào tháng 8 hoặc tháng 9, Francis of Assisi đến trại thập tự chinh và vượt sang để giảng đạo cho Al-Kamil. Trước đó, quân Thập tự chinh đã tiêu hao được lực lượng của quốc vương Hồi giáo và cuối cùng họ đã chiếm được bến cảng.

Ngay lập tức, giáo hoàng và các giáo sỹ thế tục đã tranh nhau quyền kiểm soát thành phố, và John của Brienne tuyên bố nó cho mình vào năm 1220. Pelagius đã không chấp nhận điều này và John trở về Acre năm sau đó. Pelagius hy vọng Frederick II sẽ đến với một đội quân mới, nhưng ông này đã không bao giờ, thay vào đó sau một năm không có hoạt động quân sự nào ở cả Syria và Ai Cập, John của Brienne đã quay trở lại và quân Thập tự chinh lại tiếp tục hành quân về phía nam-hướng về Cairo vào tháng 7 năm 1221. Cuộc hành quân này đã bị quan sát bởi lực lượng của Al-Kamil và các cuộc tấn công thường xuyên vào cạnh sườn của quân Thập tự chinh đã dẫn đến việc 2000 lính Đức đã từ chối tiếp tục tiến về phía trước và rút về Damietta.

Thế là vào lúc này Al-Kamil đã có đồng minh là nhà Ayyubid khác ở Syria, người đã đánh bại Keykavus I ( vua Thổ-đồng minh của quân Thập tự chinh ). Quân Thập tự chinh hành quân đến Cairo đã bị gặp phải thảm họa, dòng sông Nile bị ngập nước ở phía trước và chặn đứng bước tiến quân của quân thập tự chinh. Một con kênh cạn nước mà quân Thập tự chinh đã vượt qua trước đó lúc này lại bị ngập lụt, do đó đã ngăn chặn mất đường rút lui của quân thập tự chinh. Với việc nguồn cung cấp hậu cần bị cạn kiệt, họ đã bị buộc phải bắt đầu rút lui, đỉnh điểm là cuộc tấn công vào ban đêm của Al-Kamil đã làm cho một số lượng lớn quân thập tự chinh bị tổn thất và cuối cùng quân đội dưới sự thống lĩnh của Pelagius đã phải đầu hàng.

Hậu quả

Điều kiện đầu hàng có nghĩa là phải trả lại thành phố cảng Damietta cho Al-Kamil để đổi lấy việc phóng thích quân Thập tự chinh. Al-Kamil đã đồng ý ký một thỏa thuận hòa bình tám năm với người Châu Âu và trả lại một phần của thập tự True Cross. Tuy nhiên, không bao giờ Al-Kamil giao trả cây thập tự này vì trên thực tế ông ta không có nó.

Cuộc Thập tự chinh lần thứ sáu

Cuộc Thập tự chinh lần thứ sáu bắt đầu từ năm 1228 như một nỗ lực để chiếm lại Jerusalem. Nó bắt đầu bảy năm sau thất bại của Cuộc Thập tự chinh lần thứ năm. Thực tế thì có rất ít chiến sự xảy ra trong cuộc Thập tự chinh này và theo một số nguồn thì nó không được coi như là một cuộc thập tự chinh; mà họ cho rằng ” cuộc Thập tự chinh lần thứ sáu ” là nỗ lực tại Damietta của Louis IX, hai thập kỷ sau đó. Tuy nhiên, chiến dịch về ngoại giao của Frederick đã dẫn đến việc Vương quốc Jerusalem tạm thời giành lại kiểm soát vùng Jerusalem và các vùng đất nhỏ khác ở vùng Đất Thánh.

Frederick II và các Giáo hoàngFrederick II-Hoàng đế La Mã Thần thánh, đã tham gia sâu rộng trong Cuộc Thập tự chinh lần thứ năm, ông đã gửi quân đội của mình từ nước Đức, nhưng ông đã không trực tiếp đi cùng với họ, bất chấp sự khuyến khích của Giáo hoàng Honorius III và sau đó Gregory IX, vì ông ta thấy cần thiết phải củng cố vị trí của mình ở Đức và Ý trước khi bắt tay vào một chiến dịch mới. Tuy nhiên, Frederick lại hứa hẹn một lần nữa là sẽ tham gia vào một cuộc thập tự chinh sau khi ông được đăng quang làm hoàng đế vảo năm 1220 bởi Đức Giáo Hoàng Honorius III.

Năm 1225 Frederick kết hôn Yolande của Jerusalem (Còn được gọi là Isabella), con gái của John của Brienne, nhà cai trị trên danh nghĩa của Vương quốc Jerusalem với và Maria của Montferrat. Frederick lúc này có một lý do để tuyên bố sở hữu vương quốc cố gắng để khôi phục lại nó. Năm 1227, sau khi Gregory IX trở thành Đức Giáo Hoàng, Frederick và quân đội của ông khởi hành bằng đường thủy từ Brindisi, Italy đến Acre (đây là thủ đô của Vương quốc Jerusalem bị thu nhỏ), nhưng bệnh dịch đã buộc Frederick phải quay trở về Italy. Gregory đã lợi dụng cơ hội này để rút phép thông công Frederick-vì ông này đã vi phạm lời thề thập tự chinh của mình, mặc dù điều này chỉ là một cái cớ, lý do chính là vì Frederick đã cố gắng củng cố quyền lực của Đế quốc ở Italia trong nhiều năm và có những cố gắng để làm mất uy tín của Giáo hoàng ( xung đột giữa Hoàng đế La Mã thánh thần ( người Đức ) và Giáo hoàng (thuộc phe thân pháp).

Gregory công bố rằng lý do của việc rút phép thông công là bởi vì Frederick đã miễn cưỡng ra nhập vào cuộc thập tự chinh, kể từ cuộc cuộc Thập tự chinh lần thứ năm. Frederick đã cố gắng thương lượng với Đức Giáo Hoàng, nhưng cuối cùng ông này đã quyết định bỏ qua Giáo hoàng và khởi hành đi đến Syria trong năm 1228 bất chấp lệnh rút phép thông công này, rồi ông đến Acre trong tháng Chín.

Cuộc Thập tự chinhThay vì đi thẳng đến vùng Đất Thánh, đầu tiên Frederick khởi hành đến Cyprus, vốn đã là một thái ấp của Đế quốc từ khi nó bị Richard Lionheart chiếm trên đường tới Acre trong cuộc Thập tự chinh lần thứ ba. Vị hoàng đế đến với ý định rõ ràng về sự kiểm soát của ông đối với vương quốc này, nhưng ông đã được đối xử một cách thân thiện bởi các quý tộc Kitô giaó địa phương cho đến khi một phát sinh giữa tranh chấp ông và John của Ibelin- vị nhiếp chính của đảo Síp,. Frederick nói rằng nhiếp chính của ông là bất hợp pháp và yêu cầu John trả lại Beirut-đất liền kề thái ấp của John cho hoàng đế. Tuy nhiên, ông đã sai lầm, và John đã chỉ ra rằng hai vương quốc Cyprus và Jerusalem có sự riêng biệt về mặt luật pháp và ông không thể bị trừng phạt bởi tội ở Cyprus bằng cách chiếm giữ Beirut. Sự kiện này đã tạo ra một hậu quả quan trọng cho cuộc thập tự chinh bởi vì nó đã bị xa lánh bởi phe phái Ibelin hùng mạnh và thậm chí còn làm cho họ chống đối lại hoàng đế.

Acre, là thủ đô trên danh nghĩa của Vương quốc Jerusalem và địa điểm mà Giáo trưởng Latinh sống và làm việc, và nó đã bị chia rẽ thành một nửa ủng hộ Frederick. Quân đội riêng của Frederick và các Hiệp sỹ Teutonic ủng hộ ông ta, nhưng Giáo trưởng Gerald của Lausanne (và các giáo sĩ) lại ủng hộ thái độ thù địch của Giáo hoàng. Khi tin tức về việc rút phép thông công của Frederick được lan tỏa đến đây thì sự hỗ trợ cho ông đã bị suy giảm đáng kể. Vị thế của các hiệp sỹ Hospitaller và Templar trở nên phức tạp hơn, mặc dù họ từ chối tham gia vào quân đội của hoàng đế một cách trực tiếp, họ hỗ trợ cuộc thập tự chinh này nếu Frederick đồng ý loại tên mình ra khỏi danh sách chính thức những người chỉ huy cuộc Thập tự chinh. Ban đầu các quý tộc bản địa nhiệt tình chào đón Frederick, nhưng sau đó họ đã thận trọng vì vị hoàng đế này dường mong muốn áp đặt quyền lực của mình lên triều đình của họ. Sự kiện này phần lớn được thể hiện qua cách đối xử của Frederick với John của Ibelin tại đảo Síp và thái độ khinh bỉ rõ ràng của ông đối với luật pháp địa phương ( luật pháp của các thành bang Thập tự chinh tại vùng Đất Thánh).

Thậm chí ngay khi quân Thập tự chinh mới lên tàu, lực lượng của Frederick chỉ còn là một cái bóng của một đội quân được kêu gọi cho cuộc Thập tự chin này. Ông nhận ra rằng hy vọng duy nhất của ông về sự thành công ở vùng Đất Thánh là phải tìm cách thương lượng để thu hồi lại Jerusalem bởi vì ông ta không đủ nhân lực để chiến đấu với đế quốc Ayyubid trong một trận chiến mở. Frederick hy vọng rằng một cuộc biểu dương lực lượng, một đe dọa sự đe dọa về cuộc hành quân về vùng duyên hải sẽ là đủ để thuyết phục Kamil al-vị sultan của Ai Cập, và bắt ông này phải tuân theo một thỏa thuận đã được đàm phán một vài năm trước đó, trước khi xảy ra cái chết của al-Muazzam-Thống đốc Damascus. Nhà vua Ai Cập lúc này đang bận đàn áp lực lượng nổi loạn tại Syria, đã đồng ý nhượng lại Jerusalem cho người Frank cùng với một hành lang hẹp đến bờ biển.

Ngoài ra, Frederick cũng nhận được Nazareth, Sidon, Jaffa và Bethlehem. Các lãnh chúa khác cũng có cơ hội để quay trở lại trong sự kiểm soát của Kitô giáo, nhưng họ đã từ chối. Tuy nhiên một điều khoản thỏa hiệp của hiệp ước, người Hồi giáo vẫn được giữ lại kiểm soát khu vực Núi Đền của Jerusalem, nhà thờ Hồi giáo al-Aqsa và nhà thờ bằng đá của người Hồi giáo. Các lâu đài ở Jordan vẫn nằm trong tay của triều đình Ayyubid và theo nguồn tài liệu Ả Rập thì Frederick đã không được phép khôi phục lại các công sự của Jerusalem. Hiệp ước được hoàn tất vào ngày 18 tháng 2 năm 1229 và nó đã tạo ra một cuộc ngưng bắn trong mười năm.

Frederick tiến vào Jerusalem vào ngày 17 tháng 3 năm 1229, và tham dự một buổi lễ đội vương miện vào ngày hôm sau. Người ta không được rõ rằng liệu ông có dự định chọn ngày này để làm lễ đăng quang chính thức cho mình như là vua của Jerusalem hay không, trong bất kỳ trường hợp nào thì sự vắng mặt của giáo trưởng Gerald đã chứng tỏ rằng nó ( buổi lễ đăng quang ) có vấn đề. Có bằng chứng cho thấy rằng chiếc vương miện mà Frederick đã đeo thực sự là một vương miện của đế vương, nhưng trong mọi trường hợp tuyên bố của ông về việc sở hữu Jerusalem là một hành động khiêu khích. Về mặt pháp lý, ông thực sự chỉ là nhiếp chính của Conrad II của Jerusalem-con trai ông, đây là người con duy nhất của Yolande và cũng là cháu trai của Maria xứ Montferrat và John xứ Brienne, cậu bé đã được sinh ra ngay trước khi Frederick bắt đầu cuộc Thập tự chinh trong năm 1228.

Cuộc Thập tự chinh lần thứ bảy

Cuộc Thập tự chinh lần thứ bảy là một chiến dịch được lãnh đạo bởi Louis IX của Pháp từ năm 1248-1254. Khoảng 800.000 đồng bezant đã được trả như là tiền chuộc cho vua Louis cùng với hàng ngàn binh lính của ông, những người bị đánh bại và bị bắt làm tù binh bởi quân đội Ai Cập do Quốc vương Ayyubid Turanshah cùng với sự hỗ trợ của đội quân Mamluk Bahariyya được chỉ huyh bởi Faris ad-Din Aktai, Baibars al-Bunduqdari, Qutuz, Aybak và Qalawun.

Bối cảnh

Năm 1244, người Khwarezmians, lúc này bị buộc phải di cư bởi các cuộc tiến công của người Mông Cổ, đã chiếm Jerusalem sau khi kết đồng minh với người Mamluk Ai Cập. Sự kiện này đã chuyển giao Jerusalem sang cho sự kiểm soát của người Hồi giáo, nhưng việc Jerusalem sụp đổ không còn là một sự kiện rung chuyển thế giới Kitô giáo Châu Âu, những người đã quá quen với cảnh thành phố bị chuyển quyền kiểm soát nhiều lần từ tay người Thiên chúa giáo sang người Hồi giáo và ngược lại trong hai thế kỷ qua. Trong thời gian này, mặc dù có nhiều lời kêu gọi từ các Giáo hoàng, đã không còn sự nhiệt tình rộng rãi cho một cuộc thập tự chinh mới.

Giáo hoàng Innocent IV và Frederick II-Hoàng đế La Mã Thần thánh tiếp tục cuộc chiến đấu giữa giáo hoàng-hoàng đế. Frederick đã cho bắt giữ và giam cầm rất nhiều giáo sĩ trong khi họ đến Hội đồng đầu tiên của Lyon, và trong năm 1245 ông đã chính thức bị hạ bệ bởi Innocent IV. Trước đó Đức Giáo Hoàng Gregory IX cũng đã mời chào cho bá tước Robert của Artois-em trai vua Louis ngôi vua của nước Đức, nhưng Louis đã từ chối. Do đó, Hoàng đế La Mã Thần thánh không còn vị thế trong cuộc Thánh chiến. Henry III của Anh vẫn còn tranh giành với Simon de Montfort về các vấn đề ở Anh quốc. Henry và Louis đã không có được sự nhất trí trong cuộc tranh chấp giữa hai giòng họ Capetian-Plantagenet và trong khi nhà vua Louis tiến hành cuộc thập tự chinh ông đã ký một thỏa thuận ngừng bắn để bắt người Anh hứa hẹn không tấn công vào vùng đất Pháp. Louis IX cũng đã mời vua Haakon IV của Na Uy tham gia vào cuộc thập tự chinh này, và gửi sử gia Matthew Paris làm sứ giả, nhưng một lần nữa ông này đã không thành công. Chỉ có một người duy nhất quan tâm đến việc lãnh đạo một cuộc thập tự chinh do đó là Louis IX, người đã tuyên bố ý định của mình về một cuộc viễn chinh ở phương Đông trong năm 1245.

Chiến đấuPháp có lẽ là nhà nước mạnh nhất ở châu Âu vào thời điểm đó, bởi vì cuộc Thập tự chinh Albegensian đã mang vùng Provence vào sự kiểm soát của Paris. Vùng Poitou cũng nằm dưới sự cai trị của Alphonse de Poitiers-em trai của Louis IX, người gia nhập cuộc Thập tự chinh của ông trong năm 1245. Charles I của Anjou-một người anh em khác của ông cũng đã tham gia cùng với Louis. Trong ba năm Louis thu thuế thập phân của giáo hội, và năm 1248 ông có một đội quân hùng hậu gồm khoảng 15.000 người trong đó có 3.000 hiệp sĩ và 5.000 lính bắn nỏ đi trên 36 chiếc tàu từ hải cảng Aigues-Mortes, vốn được xây dựng để chuẩn bị cho cuộc thập tự chinh này và từ Marseille. Bộ máy tài chính của Louis IX chuyến chinh phạt này được tổ chức tương đối tốt và ông đã có thể huy động khoảng 1.500.000 Livre. Tuy nhiên, nhiều quý tộc tham gia vào cuộc thập tự chinh này cùng với Louis đã phải vay tiền từ ngân khố Hoàng gia và cuộc thập tự chinh lại trở nên là rất tốn kém.
Đầu tiên họ khởi hành đến Cyprus và trú đông trên hòn đảo này, sau khi đàm phán với một số cường quốc khác nữa ở phía đông, đế quốc La-tinh-vốn được thiết lập sau cuộc Thập tự chinh lần thứ tư yêu cầu giúp đỡ để chống lại Đế quốc Nicaea của người Byzantine, và Công quốc Antioch cùng với các Hiệp sĩ Templar muốn nhận được sự giúp đỡ tại Syria, nơi mà lúc này người Hồi giáo đã chiếm Sidon.

Tuy nhiên, Louis IX cho rằng Ai Cập mới là đối tượng của cuộc thập tự chinh của mình, và vào năm 1249 ông đã đổ bộ xuống Damietta trên bờ sông Nile-Ai Cập, Louis cho rằng địa điểm này sẽ tạo ra được một căn cứ để từ đó có thể tấn công Jerusalem, và sự giàu có cũng như kho ngũ cốc đầy ắp của nó sẽ cung cấp đủ trang bị và lương thực cho quân Thập tự chinh.

Ngày 6 tháng 6 Damietta đã bị chiếm chỉ với vài sự kháng cự nhỏ của người Ai Cập-họ đã rút lên thượng nguồn sông Nile. Lũ lụt của sông Nile đã không được đưa vào các tài liệu ghi chép, tuy nhiên nó đã giam chân Louis và quân đội của ông tại Damietta trong sáu tháng, nơi mà các hiệp sĩ đã ngồi và thưởng thức những chiến lợi phẩm của cuộc chiến. Louis đã bất chấp thoả thuận trong Cuộc Thập tự chinh lần thứ năm rằng Damietta phải được trao cho Vương quốc Jerusalem, lúc này chỉ còn là một vương quốc bị cắt xẻo nhằng nhịt ở xung quanh Acre, mà ông đã thiết lập một địa hạt có tổng giáo chủ (dưới quyền của Giáo trưởng Latin của Jerusalem) và sử dụng thành phố như là một căn cứ chỉ huy các hoạt động quân sự chống lại người Hồi giáo ở Syria. Sử gia Hồi giáo al-Maqrizi ở thế kỷ thứ mười lăm miêu tả Louis IX đã gửi một bức thư cho Salih Ayyub và viết rằng:

Như ngài đã biết, tôi là người cai trị của quốc gia Kitô giáo và tôi cũng biết ngài là người cai trị của quốc gia Muhammadan. Người dân vùng Andalusia đãcho chúng tôi tiền và quà tặng trong khi chúng tôi họ đi như những đàn gia súc. Chúng tôi đã giết chết những người đàn ông của họ và biến những phụ nữ của họ thành góa phụ. Chúng tôi đã bắt con trai và con gái của họ thành tù nhân và chúng tôi đã cướp sạch nhà của họ. Tôi đã nói với đủ với ngài và tôi khuyên ngài rằng, bây giờ nếu ngài chấp nhận một lời thề cao nhất với tôi và nếu ngài đi đến chỗ các vị linh mục Thiên chúa giáo và các tu sĩ và nếu ngài thể hiện sự tử tế trước mắt tôi như là một dấu hiệu của sự tuân theo cây thánh giá, tất cả này sẽ ngăn chặn tôi đến chỗ ngài và giết chết ngài ngay tại chỗ thân yêu nhất của ngài trên quả đất này. Và nếu như vậy thì vùng đất này sẽ là của tôi và đó sẽ là một món quà cho tôi. Nếu vùng đất này sẽ là của ngài trong trường hợp ngài đánh bại tôi sau đó ngài sẽ có thế thượng phong. Tôi đã nói với ngài và tôi đã cảnh báo ngài rằng binh sĩ của tôi sẽ tuân theo mệnh lệnh của tôi. Họ sẽ tiến qua các cánh đồng rộng mở và các ngọn núi, số lượng của họ là không thể đếm xuể. Họ sẽ được gửi đến chỗ ngài như thanh kiếm hủy diệt.

Trong tháng 11, Louis đã hành quân tới Cairo, và gần như cùng lúc đó as-Salih Ayyub-vị sultan của triều Ayyubid của Ai Cập qua đời. Một lực lượng do Robert của Artois chỉ huy và các Hiệp sỹ Templar tấn công vào doanh trại của quân Ai Cập tại Gideila và tiến đến Al Mansurah-nơi họ bị đánh bại tại Trận Al Mansurah và Robert đã bị giết chết. Trong khi đó, lực lượng chính của Louis bị tấn công bởi người Mameluk của Baibars-chỉ huy của quân đội và một vị sultan trong tương lai. Louis cũng đã bị đánh bại, nhưng ông đã không chịu rút quân về Damietta trong nhiều tháng mà muốn triển khai việc bao vây Mansourah, và cuộc bao vây này kết thúc với nạn đói và chết chóc cho quân Thập tự chinh chứ không phải là cho người Hồi giáo. Trong sự đau đớn đến tột cùng, một hiệp sĩ Templar than thở:

Sự thịnh nộ và nỗi buồn đang chiếm chỗ trong trái tim tôi … vì chắc chắn rằng tôi hiếm có cơ hội để sống sót. Có vẻ như Chúa muốn hỗ trợ cho người Thổ Nhĩ Kỳ để đánh bại chúng tôi ah … Thiên Chúa … than ôi, vùng phía Đông đã mất bị mất mát quá nhiều đến nỗi không bao giờ họ còn có thể vùng dậy một lần nữa. Họ sẽ xây một Nhà thờ Hồi giáo ở chỗ của tu viện của Thánh Mary và từ khi những hành vi trộm cắp làm hài lòng đứa con của Đức Mẹ, ai sẽ rỏ nước mắt lúc này, chúng tôi đã bị buộc phải làm theo … bất cứ người nào muốn được chiến đấu chống lại người Thổ Nhĩ Kỳ đều là kẻ điên, bởi vì Chúa Giêsu của người Kitô không còn muốn chống lại chúng nữa. Họ ( người Hồi giáo ) đã chinh phục và họ sẽ chinh phục. Mỗi ngày họ lại đẩy lui chúng tôi, biết rằng Thiên Chúa-người đã thức dậy nhưng bây giờ lại tiếp tục ngủ gục và người Muhammad lại xông lên một cách mạnh mẽ.

Trong tháng 3 năm 1250 cuối cùng Louis đã cố gắng để quay trở về Damietta, nhưng ông đã bị bắt tù binh tại Trận Fariskur nơi mà quân đội của ông đã bị tiêu diệt. Louis bị ngã bệnh kiết lỵ và được chữa khỏi bệnh bởi một bác sĩ người Ả Rập. Trong tháng 5 ông đã chấp nhận khoản tiền chuộc 800.000 bezants, một nửa trong số đó đã được thanh toán trước khi nhà vua rời Ai Cập, và thành phố Damietta cũng phải đầu hàng như là một điều khoản của vụ chuộc người này. Lúc này, ông đã ngay lập tức rời Ai Cập để đến Acre, một trong vài vị trí còn sót lại của quân thập tự chinh ở Syria.

Hậu quả

Louis đã ký một liên minh với người Mamluk-người vào thời điểm đó đã trở thành đối thủ của Sultan của Damascus, Và từ căn cứ mới của mình ở Acre, ông bắt đầu cho xây dựng lại các thành phố thập tự chinh khác, đặc biệt là Jaffa và Saida. Mặc dù Vương quốc đảo Síp vẫn khẳng định quyền của họ ở đó, Louis là người cai trị trên thực tế. Năm 1254 Louis đã hết tiền và sự hiện diện của ông là ở Pháp cần thiết, bởi vì mẹ ông và nhiếp chính Blanche của Castile vừa mới qua đời. Trước khi ông thành lập một đơn vị đồn trú thường trực của Pháp tại Acre, thủ đô của Vương quốc Jerusalem sau khi mất Jerusalem, để đại diện cho vương miện của vua nước Pháp, đội quân này đã lại đó cho đến khi Acre thất thủ vào năm 1291. Cuộc thập tự chinh của ông là một thất bại, nhưng ông vẫn được coi là một là một vị thánh bởi nhiều người dân và danh tiếng của ông đã tạo cho ông một quyền lực lớn hơn nữa ở châu Âu và còn lớn hơn cả Hoàng đế La Mã Thần thánh. Năm 1270, ông lại cố gắng tiến hành một cuộc thập tự chinh nữa, rồi thì nó cũng đã kết thúc trong thất bại.

Cuộc Thập tự chinh lần thứ tám

Cuộc Thập tự chinh lần thứ tám là một chiến dịch được phát động bởi vua Louis IX- của nước Pháp trong năm 1270. Cuộc Thập tự chinh lần thứ tám đôi còn được tính là thứ bảy, nếu cuộc Thập tự chinh Thứ năm và thứ sáu của Frederick II được tính chỉ như là một cuộc thập tự chinh duy nhất. Cuộc Thập tự chinh lần thứ IX đôi khi cũng còn được tính như là một phần của cuộc Thập tự chinh lần thứ Tám.

Louis đã bị thu hút bởi các sự kiện ở Syria, nơi Baibars-vị sultan người Mamluk đã tấn công những phần còn lại của các thành bang Thập tự chinh. Baibars đã nắm lấy cơ hội sau một cuộc chiến tranh qua lại giữa các thành phố Venice và Genoa với nhau (1256-1260) đã cạn kiệt các hải cảng của Syria vốn được hai kiểm soát bởi thành phố này ( thì chắc ông nọ lại móc lốp hải cảng của ông kia thôi). Vào năm 1265 Baibars đã chiếm Nazareth, Haifa, Toron và Arsuf. Hugh III của đảo Síp, trên danh nghĩa là vua của Jerusalem, đã đổ bộ xuống Acre để bảo vệ thành phố này trong khi Baibars hành quân xa về phía bắc Armenia, đây thuộc vùng kiểm soát của người Mông Cổ vào thời gian đó.

Những sự kiện này đã dẫn đến một lời kêu gọi của Louis cho một cuộc thánh chiến mới trong năm 1267, mặc dù thời gian này nó nhận được rất ít sự ủng hộ; Jean de Joinville, nhà sử gia đi cùng với Louis trong Cuộc Thập tự chinh lần thứ bảy, đã từ chối không cùng đi với ông ta nữa. Louis đã nhanh chóng bị thuyết phục bởi Charles của Anjou-anh trai của ông là đầu tiên phải tấn công Tunis, nơi này sẽ cung cấp cho họ một căn cứ vững chắc để tấn công Ai Cập, Trọng tâm của Louis trước cuộc thập tự chinh này cũng như trong Cuộc Thập tự chinh lần thứ năm, cả hai đều đã bị đánh bại ở đó. Charles-vua của Sicily cũng có những lợi ích riêng của ông ta ở vùng biển Địa Trung Hải này. Vị Khalif của Tunis, Muhammad al-Mustansir I, cũng đã có liên lạc với người Kitô giáo ở Tây Ban Nha và được xem như là một ứng cử viên tốt cho việc chuyển đổi. Vào tháng Bảy năm 1270 Louis đã đổ bộ xuống bờ biển châu Phi, một mùa rất bất lợi cho đổ bộ. Phần lớn quân đội bị bệnh vì ít uống nước nghèo, John Sorrow-người con trai của ông được sinh ra ở Damietta đã chết vào ngày 3 và đến ngày 25 tháng 8 thì bản thân Louis cũng đã chết vì một “căn bệnh trong dạ dày-flux in the stomach “, một ngày sau khi có sự xuất hiện của Charles. Câu nói của ông trước khi chết là “Jerusalem.” Charles tuyên bố Philip III-con trai của Louis là nhà vua mới, nhưng vì ông này còn quá trẻ nên bản thân Charles trở thành lãnh tụ thực tế của cuộc thập tự chinh này.Vì bệnh dịch tiếp tục bùng phát nên cuộc vây hãm Tunis của người Kitô giáo đã phải dừng lại và vào ngày 30 tháng 10 và một hiệp ước đã được ký với vị quốc vương Hồi giáo. Theo thỏa thuận này người Kitô giáo được tự do buôn bán với Tunis và nơi cư trú cho các tu sĩ và linh mục trong thành phố đã được đảm bảo, do đó cuộc thập tự chinh này có thể được coi là thành công một phần. Sau khi nghe về cái chết của Louis và quân Thập tự chinh đã rút khỏi Tunis, Sultan Baibars của Ai Cập hủy bỏ kế hoạch gửi quân Ai Cập của ông để chống lại Louis ở Tunis. Lúc nay Charles đã liên minh với Hoàng tử Edward của Anh, người vừa mới đến Đất thánh. Khi Charles chặn đứng các cuộc tấn công vào Tunis, Edward tiếp tục tiến vào Acre- tiền đồn cuối cùng của quân thập tự chinh ở Syria. Thời gian mà ông này ở đó người ta thường gọi là Thập tự chinh lần thứ IX.

Cuộc Thập tự chinh lần thứ Chín

Cuộc Thập tự chinh lần thứ IX, đôi khi còn được nhập lại với cuộc Thập tự chinh lần thứ tám, Thường được coi là chiến dịch lớn cuối cùng thời trung cổ đến vùng Đất Thánh. Nó xảy ra trong 1271-1272.Louis IX của Pháp đã không chiếm Tunis trong cuộc Thập tự chinh lần thứ tám Hoàng tử Edward của Anh đã đi bằng đường thủy đến Acre để bắt đầu cuộc Thập tự chinh lần thứ IX. Cuộc Thập tự chinh lần thứ IX thất bại phần lớn là do sức mạnh tinh thần của thập tự quân đã gần như “cạn kiệt” và vì sức mạnh ngày càng tăng lên của Baibars và Mamluk ở Ai Cập. Nó cũng báo hiệu trước sự sụp đổ sắp xảy ra của các pháo thập tự chinh cuối cùng còn lại dọc theo bờ biển Địa Trung Hải.

Lời nói đầu

Sau chiến thắng của Mamluk trước người Mông Cổ năm 1260 tại Trận Ain Jalut bởi Qutuz và Baibars-một vị tướng của ông, Qutuz bị ám sát và Baibars đã trở thành quốc vương. Ở trên cương vị một Sultan-Baibars đã tiến hành các cuộc tấn công vào quân Thập tự chinh người Thiên chúa giáo tại Arsuf, Athlith, Haifa, Safad, Jaffa, Ascalon và Caesarea. Các thành phố pháo đài của người Kitô giáo đã bị thất thủ từng chiếc một, người Kitô giáo tìm kiếm sự hỗ trợ từ Châu Âu, nhưng quân tiếp viện đến rất chậm.

Trong năm 1268 Baibars công chiếm thành phố Antioch tiêu diệt tàn dư cuối cùng của Công quốc Antioch, đảm bảo an toàn cho biên giới phía Bắc của người Mamluk và đe dọa Quận Tripoli bé nhỏ của người Thiên chúa giáo.

Sau khi Louis IX của Pháp tổ chức một đội quân thập tự chinh lớn với mục đích tấn công Ai Cập, đã chuyển hướng vào Tunis, nơi mà bản thân ông này đã chết trong năm 1270. Hoàng tử Edward của Anh đến Tunis quá trễ để đóng góp vào phần còn lại của cuộc thánh chiến tại Tunis. Thay vào đó, ông này lại tiếp tục đến Đất Thánh để hỗ trợ cho Bohemund VI- Hoàng tử của Antioch và Bá tước của Tripoli, để chống lại mối đe dọa của người Mamluk tới quận quốc Tripoli và phần còn lại của Vương quốc Jerusalem.

Hoạt động của quân Thập tự chinh tại Đất Thánh

Edward cùng với Charles của Anjou-anh trai của Louis đã quyết định điều chuyển lực lượng của họ về Acre, thủ đô của phần còn lại của Vương quốc Jerusalem và mục tiêu cuối cùng của chiến dịch của Baibars. Quân đội của Edward và Charles đến Acre vào năm 1271, cùng vào lúc Baibars bao vây thành phố Tripoli-đây là lãnh thổ cuối cùng còn lại của Quận quốc Tripoli và thành phố này bị chật ních bởi hàng chục ngàn người tị nạn Thiên chúa giáo. Từ các căn cứ của họ tại Síp và Acre, Edward và Charles cố gắng tấn công vào đội hình của Baibars và phá vỡ cuộc bao vây.

Ngay sau khi Edward đến Acre, ông này đã thực hiện một số nỗ lực để tạo thành một liên minh Pháp-Mông Cổ, ông đã gửi một đoàn sứ giả đến vùng Abagha thuộc Ba Tư, nơi mà người Mông Cổ đang cai trị-đây là một kẻ thù của người Hồi giáo. Đoàn sứ giả được điều hành bởi Reginald Rossel, Godefroi của Waus và John của Parke, và sứ mệnh của nó là kêu gọi sự hỗ trợ về mặt quân sự từ người Mông Cổ. Ngày 4 tháng 9, năm 1271, Abagha trả lời rằng ông ta đồng ý hợp tác và yêu cầu rằng nên phải có một cuộc tấn công phối hợp vào lực lượng của người Mamluk.

Sự xuất hiện của lực lượng tăng viện từ Anh và Hugh III của Síp, dưới sự chỉ huy của Edmund-em trai của Edward đã khuyến khích ông này, và ông ta đã tổ chức một cuộc đột kích vào thành phố Qaqun. Vào cuối tháng 10 năm 1271, một lực lượng nhỏ quân Mông Cổ đã tiến đến Syria và tàn phá vùng đất ở phía nam Aleppo. Tuy nhiên Abagha lại đang mắc vào các xung đột khác trong vùng Turkestan nên chỉ có thể gửi 10.000 kỵ binh Mông Cổ dưới sự chỉ huy của tướng Samagar từ đội quân đang đồn trú tại vùng Anatolia của người Seljuk, cộng với quân đồng minh người Seljukid. Mặc dù đây chỉ là một lực lượng tương đối nhỏ nhưng đội quân này vẫn gây ra một cuộc di cư ồ ạt của người Hồi giáo (những người còn nhớ đến sự khủng khiếp của chiến dịch Kithuqa trước đó) đến tận phía nam Cairo.

Nhưng người Mông Cổ đã không ở lại và khi Baibars-vị vua người Mamluk tiến phàn một cuộc phản công từ Ai Cập vào ngày 12, người Mông Cổ đã rút lui ra ngoài Euphrates.

Trong thời gian đó, Baibars đã nghi ngờ rằng sẽ có một cuộc tấn công kết hợp bằng cả hai đường thủy bộ vào Ai Cập. Cảm thấy vị trí của mình bị đe dọa một cách nghiêm trọng, ông này đã cố gắng chặn đầu bằng cách xây dựng một hạm đội. Ông này đã cố công hoàn thành việc xây dựng một hạm đội hơn là tấn công trực tiếp vào quân đội của người Thập tự chinh, Baibars đã cố gắng đổ bộ xuống đảo Cyprus trong năm 1271, hy vọng để đuổi được Hugh III của Síp ( Trên danh nghĩa là Vua của Jerusalem) và hạm đội của ông ta rời khỏi Acre với mục tiêu chính là chinh phục hòn đảo này và làm cho Edward và quân thập tự chinh trở nên không có đối thủ ở vùng Đất Thánh. Tuy nhiên, trong các chiến dịch hải quân sau đó hạm đội này đã bị phá hủy và quân của Baibars đã bị buộc phải quay trở lại.

Sau chiến thắng này, Edward nhận ra rằng để tạo dựng được một lực lượng có khả năng chiếm lại Jerusalem sẽ là rất cần thiết phải chấm dứt tình trạng bất ổn nội bộ trong các thành bang Thiên chúa giáo, và vì vậy ông đã trung gian hòa giải giữa Hugh và các hiệp sĩ của ông ta đến từ gia đình Ibelin của Síp-những người vốn chẳng nhiệt tình với cuộc Thánh chiến. Song song với buổi hòa giải, Hoàng tử Edward và vua Hugh đã bắt đầu đàm phán một thỏa thuận ngừng bắn với Sultan Baibars; một thỏa thuận ngừng bắn kéo dài năm 10, tháng 10 và 10 ngày đã được ký kết vào tháng 5 năm 1272 tại Caesarea. Hầu như ngay lập tức Hoàng tử Edmund đã rời khỏi quân đội Anh, trong khi Edward vẫn ở lại để quan sát xem liệu hiệp ước có được tuân thủ. Tháng sau đo, Baibars đã cố gắng ám sát Edward. Edward đã hạ được tay sát thủ nhưng đã phải lãnh một vết thương từ một con dao găm có tẩm thuốc độc trong trận chiến này, sự kiện này tiếp tục trì hoãn việc khởi hành của Edward. Trong tháng 9 năm 1272, Edward rời Acre đến Sicily và trong khi phục hồi lại sức khỏe ở trên hòn đảo, lần đầu tiên ông nhận được tin về cái chết của John-con trai ông và sau đó một vài tháng là tin tức về cái chết của cha mình. Năm 1273 để trở về nhà Edward đã bắt đầu hành trình của mình qua Ý, Gascony và Paris. Cuối cùng Edward đã về đến Anh vào mùa hè năm 1274 và lên ngôi vua của nước Anh trong ngày 19 tháng 8 năm 1274.

Hậu quả của cuộc thập tự chinh cuối cùng

Edward đã được đi kèm theo Theobald Visconti, người trở thành Giáo hoàng Gregory X trong năm 1271. Gregory kêu gọi tiến hành một cuộc thập tự chinh mới tại Hội đồng Lyons năm 1274, nhưng lời kêu gọi này đã không được hưởng ứng. Trong khi đó có những rạn nứt mới xuất hiện trong các tiểu quốc Kitô giáo khi Charles của Anjou đã lợi dụng tranh chấp giữa Hugh III, các Hiệp sĩ Templar và người Venice để nhằm đưa vương quốc Kitô giáo nằm dưới sự kiểm soát của ông. Dựa vào lời tuyên bố của Mary của Antioch về Vương quốc Jerusalem, ông tấn công Hugh III và gây ra một cuộc nội chiến trong phần còn lại của vương quốc. Năm 1277 Roger của San Severino đã chiếm Acre cho Charles.

Mặc dù các cuộc chém giết lẩn nhau trong hàng ngũ của quân Thập tự chinh đã chứng minh rằng Vương quốc Jerusalem đã suy nhược, nó cũng đã tạo ra cơ hội để lập ra một người chỉ huy duy nhất để kiểm soát các thập tự quân trong số người của Charles. Tuy nhiên, hy vọng này đã tiêu tan khi Venice đề xuất một cuộc thánh chiến mà không phải để chống lại người Mamluk mà để chống lại thành phố Constantinople, nơi mà gần đây Hoàng đế Michael VIII đã tái thành lập Đế quốc Byzantine và đẩy lui được người Venezia. Đức Giáo Hoàng Gregory đã không ủng hộ một cuộc tấn công như vậy, nhưng vào năm 1281 Giáo hoàng Martin IV đã chấp thuận với nó; sau đó cuộc tấn công này đã thất bại và đây cũng là nguyên nhân dẫn đến Sicilia Vespers trong ngày 31 tháng 3 năm 1282, vốn được xúi giục bởi Michael VIII và Charles đã bị buộc phải quay trở về nhà. Đây là chuyến viễn chinh cuối cùng được tiến hành để chống lại người Byzantine ở châu Âu hoặc người Hồi giáo ở vùng Đất Thánh.

Chín năm còn lại cho thấy tham vọng ngày càng gia tăng từ phía người Mamluk, bao gồm cả đòi hỏi về các khoản cống nộp, cũng như các hành động khủng-bốnhằm vào những người hành hương ngày càng gia tăng, tất cả đều đi ngược lại với các điều khoản của thỏa thuận ngưng bắn này. Năm 1289, Sultan Qalawun tập hợp được một đội quân lớn và tiến hành bao vây những phần còn lại của quận quốc Tripoli, cuối cùng ông đã tiến hành bao vây thành phố thủ phủ của nó và chiếm được nó sau một cuộc tấn công đẫm máu. Tuy nhiên cuộc tấn công vào Tripoli là đặc biệt nghiêm trọng đến mức người Mamluk đã bị người Kitô giáo kháng cự một cách cực kỳ dữ dội và Qalawun đã bị mất người con trưởng và cũng là người con tài giỏi nhất của mình trong chiến dịch này. Ông này đợi thêm hai năm nữa để phục hồi lại được sức mạnh của mình.

Năm 1291, một nhóm người hành hương từ Acre đã tiến hành một cuộc tấn công báo thù và giết chết mười chín thương gia Hồi giáo trong một thương đoàn ở Syria. Qalawun yêu cầu họ ( người Kitô giáo ở Acre) phải trả một khoản tiền đền bù bất thường. Khi không nhận được câu trả lời, vị Sultan sử dụng nó như là một lý do để vây hãm thành phố Acre, và cuộc bao vây này đã chấm dứt sự tồn tại của thành bang độc lập cuối cùng của người Kitô giáo ở vùng Đất Thánh. Qalawun đã chết trong cuộc bao vây này, Khalil-người con còn sống sót duy nhất trong gia đình của ông trở thành vị Sultan của người Mamluk. Với việc pháo đài Acre bị thất thủ, vương quốc của người Thập tự chinh không còn tồn tại . và cuối cùng phải chuyển đến đảo Síp. Vị trí cuối cùng của người Kitô giáo còn lại ở trên vùng Đất Thánh là đảo Ruad và nó cũng đã bị thất thủ trong khoảng năm 1302/1303. Cuối cùng thì thời kỳ của các cuộc thập tự chinh vào vùng Đất Thánh đã kết thúc sau 208 năm kể từ ngày Giáo hoàng Urban II ra lời kêu gọi đầu tiên cho các cuộc Thánh chiến.

Advertisements

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s