Các Cuộc Chiến Tranh Vĩ Đại Nhất trong Lịch Sử (Bài 3)

 JOSEPH CUMMINS

Trần Quang Nghĩa dịch

4 CUỘC XÂM LƯỢC CỦA NGƯỜI MAN RỢ 376-553

HÀNG LOẠT CUỘC DI CƯ VÀ XÂM NHẬP CỦA NGƯỜI ĐỨC VÀ TRUNG Á VÀO TÂY ÂU, LIÊN TỤC LÀM XÓI MÒN ĐẾ CHẾ LA MÃ LIÊN TỤC

TỔNG QUAN: NHỮNG ĐỢT SÓNG MAN DI LIÊN TIẾP CUỐI CÙNG SẼ PHÁ HỦY ĐẾ CHẾ LA MÃ MỘT THỜI HÙNG MẠNH

Vào thời kỳ đỉnh cao của mình vào thế kỷ thứ hai và thứ ba sau Công nguyên, Đế chế La Mã đã kiểm soát 120 triệu người và mở rộng đến sông Rhine và sông Danube ở phía bắc, Anh ở phía tây bắc, Tây Ban Nha ở phía tây, Bắc Phi ở phía nam và Tiểu Á (ngày nay là Thổ Nhĩ Kỳ) ở phía đông. Đế chế này lớn đến mức vào năm 285 sau Công nguyên, Hoàng đế Diocletian đã chia nó thành hai phần để dễ cai trị hơn: Đế chế phía Tây, đóng đô ở La Mã và Đế chế phía Đông, có thủ đô ở Constantinople.

Người La Mã đã làm những việc vô cùng hữu ích cho nền văn minh: trải nhựa 50.000 dặm (80.000 km) đường, xây dựng các cống dẫn nước để cung cấp nước cho các thành phố và tất nhiên, đã biến đổi kiến ​​trúc, luật pháp, ngôn ngữ và thậm chí cả lịch cho những công dân tương lai của thế giới. Nhưng, theo quan điểm của một công dân đế chế, đóng góp quan trọng nhất của họ là an ninh. Bên ngoài ranh giới của vương quốc La Mã, đặc biệt là về phía bắc và phía đông, là một thế giới bí ẩn, chưa được thuần hóa, nơi sinh sống của những người bị họ gọi là man rợ (barbarian: từ tiếng Latin bearded có nghĩa là “có râu”). Pax Romanica (Nền Thái bình La Mã) đã ngăn chặn những thế lực đen tối này.

Chiến đấu dọc theo rìa của đế chế, người La Mã đã chinh phục và đồng hóa được nhiều dân tộc man rợ. Nhưng đến cuối thế kỷ thứ tư sau Công nguyên, Đế chế Tây phương bắt đầu suy yếu. Không có cuộc chinh phục mới nào để lấp đầy kho bạc, nền kinh tế suy thoái và quân đội ngày càng phụ thuộc vào lính đánh thuê.

Và rồi người Hung Nô đến. Những người du mục từ Trung Á có nguồn gốc chính xác không rõ ràng, những con người phi thường này lần đầu tiên xuất hiện ở phía bắc Biển Đen vào khoảng năm 360 sau Công nguyên, tràn về phía đông và phía nam. Họ là những chiến binh chuyên nghiệp, nổi tiếng hung hãn. Ở Đông Âu, họ đã đụng độ với người Goth phía đông, hay người Ostrogoth – ostro có nguồn gốc từ tiếng Đức có nghĩa là “phía đông” – những người vào thời điểm đó có lẽ là bộ tộc man rợ ổn định nhất. Người Ostrogoth có một vị vua duy nhất, một tôn giáo Cơ đốc, một chữ viết, và một nền văn hóa nông nghiệp, và lãnh thổ của họ bao phủ một khu vực rộng lớn giữa sông Dnieper và sông Don và biển Đen và biển Baltic. Sự xuất hiện của người Hung vào năm 376 sau Công nguyên đã buộc người Ostrogoth phải tìm nơi ẩn náu bên trong Đế chế Đông La Mã, dẫn đến chiến tranh với La Mã. Trong trận chiến Adrianople vào ngày 9 tháng 8 năm 378, kỵ binh Goth đã đánh bại bộ binh La Mã một cách thuyết phục, giết chết hai phần ba lực lượng phía đông và Hoàng đế La Mã phương Đông, Valens, và gây ra làn sóng chấn động khắp đế chế.

Người kế nhiệm Valens, Theodosius I, đã ký hòa ước với người Ostrogoth vào năm 382, ​​nhượng lại Thrace, hay miền bắc Hy Lạp, và Balkan cho họ. Tuy nhiên, vào năm 401, một thủ lĩnh người Goth mới, Alaric, đã nổi lên ở phía tây và lãnh đạo người Goth phía tây, hay người Visigoth, trong một cuộc xâm lược Ý. Ông đã bị tướng La Mã Stilicho đẩy lùi ở miền bắc Ý nhưng đã quay trở lại vào năm 408, hành quân đến kinh thành La Mã và cướp phá thành phố.  Lần đầu tiên sau 700 năm, thành phố này mới bị tấn công dữ dội như vậy. Tuy nhiên, Alaric sau đó đã qua đời vì bệnh tật, và người Visigoth tạm thời định cư ở Provence.

Vào cuối năm 406, một nhóm man di khác, người Vandal, một bộ tộc Đức cổ đại đã bị người Hung đẩy về phía tây, đã xâm lược Gaul (Pháp ngày nay) cùng với hai bộ tộc Đức khác, người Alan và người Sueve. Bị các bộ tộc địa phương, đặc biệt là người Frank (người Pháp ngày nay), đẩy lùi, người Vandal tiến về Iberia, chinh phục toàn bộ bán đảo vào năm 428 sau Công nguyên. Tuy nhiên, sau khi liên tục giao tranh với người Visigoth tiến vào Tây Ban Nha từ phía bắc, người Vandal lại di cư đến Bắc Phi.

Trong khi đó, người Hung đã phình to thành một thế lực to lớn và hung hãn ngay trước cửa Đế chế phía Đông. Được chỉ huy bởi vị tướng lôi cuốn Attila, họ xuất hiện dọc theo sông Danube vào năm 440, tiêu diệt một lực lượng La Mã bên ngoài Constantinople và buộc hoàng đế Theodosius II phải cống nạp nặng nề. Năm 449, sau khi đã khai thác hết của cải có thể từ Đế chế phía Đông, họ hành quân qua Trung Âu và vào Gaul. Tại đây, người Hung đã bị đánh bại trong trận chiến Đồng bằng Catalaunian vào năm 451 bởi một đội quân gồm người La Mã và người Goth dưới quyền tướng La Mã Flavius ​​Aetius. Nhưng Attila đã trở lại Ý vào năm sau, tàn phá phía bắc bán đảo và hẳn sẽ cướp phá La Mã nếu quân lính của ông không phải gánh chịu một trận dịch. Ông qua đời vào năm sau, sau đó thế lực Hung Nô dần bốc hơi.

Người Vandal, đã chinh phục toàn bộ Bắc Phi cũng như Corsica, Sardinia và Sicily, đã đi thuyền đến La Mã vào năm 455 và cướp phá thành phố trong hai tuần, gây ra thiệt hại to lớn và đổ máu, trước khi rút lui. Vào năm sau, người Visigoth đã chinh phục Bán đảo Iberia, nơi họ sẽ nắm giữ trong 200 năm, cho đến khi lực lượng Hồi giáo đến. Năm 476, hoàng đế La Mã cuối cùng, Romulus Augustus bị phế truất bởi Odoacer man rợ, đứng lên nắm quyền kiểm soát Đế chế La Mã phương Tây, nhưng sau đó đã bị Theodoric, vua Ostrogoth lật đổ.

Đế chế phương Tây đã đi đến hồi kết, mặc dù Đế chế phương Đông (còn được gọi là Đế chế Byzantine) dưới thời Justinian đã tiêu diệt Đế chế Vandal ở Bắc Phi vào năm 533 và vào năm 535 đã đánh đuổi người Ostrogoth ra khỏi Ý. Thành phố La Mã vẫn tiếp tục được Đế chế Byzantine cai trị từ xa, nhưng người Lombard và các bộ lạc khác đã cùng nhau chia cắt phần còn lại của Ý.

NGƯỜI MAN RỢ XUNG ĐỘT NGƯỜI MAN RỢ – NGƯỜI GOTH ĐẨY LÙI NGƯỜI HUNG NÔ

Trận chiến đồng bằng Catalaunian, 451

Đội quân Hung đang tiến đến để lại phía sau những chứng tích hoang tàn. Và người ta truyền tai nhau những mô tả đáng sợ về đám giặc này và thủ lĩnh của họ, Attila: gã đàn ông da ngăm đen, đầy sẹo, cưỡi ngựa nhanh nhẹn và dường như lao xuống từ hư không để giết chóc và cướp bóc. Khi lực lượng Hung đang tiến đến gần, trong khi con dân của mình, người Alan, run rẩy sau những bức tường thành phố Orléans, và chỉ có một lực lượng hỗ trợ nhỏ của La Mã bảo vệ, Sangiban không thấy có lựa chọn nào khác ngoài việc đầu hàng. Với đội quân Hung ở trong tầm mắt, ông cử người của mình mở cánh cổng lớn của thành phố và chuẩn bị cầu xin lòng thương xót.

Nhưng Sangiban đã không tính đến sự có mặt của Flavius ​​Aetius, vị chỉ huy quân sự xảo quyệt của La Mã và là nhà lãnh đạo tài giỏi nhất mà đế chế sở hữu. Đến từ hư không với một lực lượng hỗn tạp gồm một đội quân La Mã, quân trợ chiến người xứ Gallic và, đáng kinh ngạc nhất, các nhóm man rợ đối địch, ông đã đến vừa kịp lúc để ngăn Sangiban mở cổng thành. Và sau đó, ông đã gửi kỵ binh của mình hò hét xông vào quân Hung Nô.

Bị bất ngờ, quân Hung Nô vốn quá tự tin vào chiến thắng đã bị đẩy lui trong hỗn loạn, và nhiều tên đã bị tàn sát một cách không thương tiếc.

Cuộc tiến quân của Attila về phía tây từ căn cứ của người Hung ở Đế chế phía Đông đã được thúc đẩy bởi lời kêu gọi giúp đỡ từ em gái của Hoàng đế Tây La Mã Valentinian, Honoria. Để đáp lại, Attila quyết định tiến về La Mã và giành lấy Honoria. Nhưng để thu thập chiến lợi phẩm nhằm tài trợ cho chiến dịch của mình, ông và lực lượng khoảng 40.000 người Hung, Ostrogoth và Burgundy của mình trước tiên phải cắt một tuyến đường qua tây bắc châu Âu, tàn sát và cướp bóc khi họ đi qua.

Trong khi đó, một lực lượng La Mã dưới quyền Flavius ​​Aetius đã di chuyển về phía bắc từ Ý đến Gaul để đối phó với mối đe dọa này. Đã từng sống với người Hung và biết cách họ chiến đấu, Flavius ​​chắc chắn là ứng viên giỏi nhất có thể ngăn chặn đà tấn công của Attila. Nhưng ông cần nhiều người hơn lực lượng phụ trợ tương đối nhỏ và một số ít lính lê dương hiện có. Khi đến Gaul, ông đã ra sực tranh thủ sự hỗ trợ của người Visigoth do Theodoric I, con trai của Alaric, lãnh đạo. Những người Goth này đã được phép định cư ở Gaul và về mặt lý thuyết, đáng lẽ phải là chư hầu của La Mã. Nhưng, nhận thức được rằng Đế chế La Mã phương Tây khi đó đang suy yếu, Theodoric ban đầu đã phản đối ý tưởng này cho đến khi Aetius thuyết phục ông rằng người Hung của Attila rồi sẽ quay ra hủy diệt người Goth cũng như bất kỳ người La Mã nào.

Vì vậy, rất điển hình cho thời kỳ này, La Mã đã chuẩn bị chiến đấu với bọn man rợ trong một trận chiến mà lực lượng của cả hai bên hầu như chỉ gồm toàn người man rợ. Vào tháng 6 năm 451, hai lực lượng này đã đụng độ nhau trong một trận đánh quyết định gần Orléans.

Điềm báo nghiệt ngã

Buộc Sangiban và người Alan miễn cưỡng gia nhập, Aetius và Theodoric truy kích quân Hung khi họ rút lui đến một khu vực địa hình thấp gần Châlons-en-Champagne ngày nay. Trong khi nhiều chỉ huy sẽ bằng lòng để quân Hung rút đi, Aetius lại hành động hung hăng, quyết tâm ghim chặt lực lượng đối phương.

Attila tập hợp lực lượng của mình tại một vùng đất trống rộng lớn được gọi là Đồng bằng Catalaunian, nơi gần như hoàn toàn bằng phẳng ngoại trừ một ngọn đồi gần sườn trái của Attila. Rõ ràng, Attila nghĩ rằng kỵ binh của mình sẽ có khả năng cơ động tốt hơn ở đây và giành được ưu thế.

Quá trình của đế chế: Sự hủy diệt

Sơn dầu, 1836, của Thomas Cole, tưởng tượng về sự sụp đổ của nền văn minh cổ điển,  lấy cảm hứng từ sự kiện người Vandal cướp phá thành La Mã năm 455.

Tuy nhiên, theo một số nhà biên niên sử, Attila lo lắng về trận chiến sắp xảy ra. Khi quân lính của ông ổn định vị trí vào sáng ngày 20 tháng 6, ông đã gọi các nhà bói toán và yêu cầu họ hiến tế động vật. Các nhà bói toán báo trước thảm họa cho người Hung, mặc dù cũng nói rằng một trong những thủ lĩnh của kẻ thù sẽ bị giết. Hy vọng vào cái chết của Aetius – kẻ thù đáng gờm nhất của mình – Attila đã ra lệnh cho quân lính của mình bắt đầu trận chiến.

Một cuộc đụng độ dữ dội của kỵ binh

Aetius đã bố trí những đội quân tốt nhất của mình ở phía bên trái và đội quân yếu nhất, người Alan, ở trung tâm. Chính vào đám binh lính Alan mà quân Hung, do Attila chỉ huy, đã tấn công, bắn tên như mưa và hét lên những tiếng kêu chiến đấu. Khi một đám mây bụi xoáy, gào thét tiến đến gần trên đồng bằng nóng bỏng, người Alan hoảng sợ toan bỏ chạy nhưng bị người Visigoth và các lực lượng La Mã khác bắt giữ nguyên hàng ngũ. Quân Attila đâm sầm vào trung tâm của đội hình với lực lượng mạnh đến nỗi người Alan bị hất văng về phía sau.

Nhưng trong lúc đó, người Visigoth, bên phải đội hình La Mã, đã nắm được thế chủ động bằng cách chiếm được, sau một trận chiến dữ dội, vùng đất cao chiến lược ở sườn trái của quân Hung. Sau đó, họ quần thảo với người Ostrogoth đã đi cùng người Hung trong một trận đánh sống còn. Nếu người Ostrogoth có thể đẩy người Visigoth ra khỏi chiến trường, Attila gần như chắc chắn sẽ giành chiến thắng. Nhưng Theodoric đã tập hợp lực lượng của mình hết lần này đến lần khác, dẫn quân mình vào sâu trong hàng ngũ người Ostrogoth, vung kiếm loang loáng điên cuồng quanh đầu.

Sau đó, thảm họa tiềm tàng đã xảy ra: Theodoric bị hất khỏi ngựa và bị giẫm chết giữa hàng ngàn móng guốc dồn dập. Trong một khoảnh khắc, trận chiến đã ở thế cân bằng, nhưng sau đó con trai của Theodoric là Thorismund đã nắm quyền kiểm soát và, với cơn thịnh nộ bùng lên, tấn công người Ostrogoth, khiến họ vỡ trận và bỏ chạy về phía sau.

Quân Hung đã thâm nhập sâu vào trung tâm của các tuyến quân La Mã đến mức họ để lộ chỗ hở cho các lực lượng Aetius phản công. Gần như bị bao vây, họ cố gắng chiến đấu để quay trở lại doanh trại của mình, nơi, như thường lệ, được bao quanh bởi một vòng xe ngựa. Nhưng những người Visigoth giận dữ đã lao vào giữa họ, giết chết hàng ngàn người. Cuối cùng, dưới sự che chở của bóng tối, Attila đã đến được nơi an toàn với vòng xe ngựa của mình và, trong lúc này, ông có thể thở phào nhẹ nhõm. Nhưng ông chắc chắn rằng vào buổi sáng, kẻ thù sẽ tràn vào để kết liễu ông.

Ngày hôm sau, mặt trời mọc chiếu rọi một cảnh tượng sát sinh khủng khiếp, với hàng ngàn xác chết  bầy hầy trên khắp đồng bằng – những người chứng kiến ​​cho biết thi thể những người chết được xếp chồng lên nhau cao 6 bộ (1,8 m), và người ta không thể đi bộ qua cánh đồng ở bất cứ đâu mà chân không giẫm lên xác chết. Bây giờ, quân La Mã đang tiến đến đoàn xe ngựa của quân Hung để giết chóc. Những chiến binh mình còn vấy máu từ trận chiến hôm trước, mệt mỏi và tức giận, và có lẽ cũng sợ hãi, vì dồn kẻ thù vào chân tường, họ biết rằng chúng sẵn sàng chiến đấu đến chết.

Bên trong doanh trại, Attila lớn tiếng thề với vệ sĩ của mình rằng ông sẽ tự tử để không bị bắt sống. Tự trang bị cho mình thanh kiếm và cánh cung yêu thích, ông ra lệnh “chất một giàn thiêu bằng yên ngựa” để ông có thể tự thiêu nếu cần thiết.

Nhưng điều đó không hề còn cần thiết. Mặc dù Thorismund, sau khi tìm thấy thi thể của cha mình dưới một đống xác chết, chỉ muốn tấn công và tàn sát người Hung để rửa hận, Aetius – luôn là một chính trị gia – chợt nhận ra rằng một đạo quân Goth hùng mạnh và thắng thế ở Gaul, nếu không có mối đe dọa của người Hung, có thể là mối họa thực sự đối với Đế chế La Mã. Vì vậy, ông quyết định để Attila đi. Vấn đề duy nhất là làm sao thuyết phục được một Thorismund đang căm thù và đau buồn chấp nhận được điều này.

Với sự tinh tế đặc trưng, ​​Aetius nhanh chóng đưa ra câu trả lời. Ông thuyết phục Thorismund rằng anh cần phải trở về nhà và ngay lập tức giành lấy ngai vàng Visigoth cho mình, kẻo đám anh em mình âm mưu cướp ngai vàng khỏi tay anh khi họ nghe tin phụ thân qua đời. Thorismund liền bị thuyết phục và rút lui.

ATTILA dẫn đạo quân Hung Nô vào trận chiến ở đồng bằng CATALAUNIA.

Không tin vào mắt mình,  Attila chứng kiến lực lượng La Mã dần dần biến mất khỏi vòng vây xe ngựa. Khi con đường sống mở ra cho ông và binh sĩ, Attila lúc đầu nghĩ rằng đó là một cái bẫy, nhưng cuối cùng ông đã nhổ trại và quay trở lại phía đông sông Rhine. Và ở đó, ông chờ đợi thêm một năm nữa, và một cơ hội khác để giành lại Honoria và Đế chế phương Tây.

Một vị cứu tinh tiềm năng?

Gần đây, một số nhà sử học đã lập luận rằng trận chiến ở Đồng bằng Catalaunian không xứng đáng được coi là trận chiến then chốt trong cuộc xâm lược của người man rợ, vì xét cho cùng, nó chỉ trì hoãn sự sụp đổ của đế chế thêm khoảng 25 năm nữa. Nhưng trận chiến vẫn quan trọng vì một số lý do. Trước hết, đây là lần đầu tiên một lực lượng kết hợp của người La Mã và người Goth đánh bại được Attila, điều này cho những người khác thấy rằng rốt cuộc ông ta chỉ là một người phàm. Thứ hai, đây hóa ra là chiến thắng cuối cùng của các lực lượng Đế chế La Mã phương Tây.

Hơn nữa, một kết quả khác tại chiến trường Châlons-en-Champagne có thể có tác động mạnh mẽ hơn nhiều đến lịch sử phương Tây sau này chứ không chỉ là sự suy tàn nhanh chóng hơn của La Mã. Nếu Attila chiến thắng và giết chết Aetius và Theodoric, ông ta sẽ có thể tiến về phía nam qua Ý đến La Mã theo ý mình và rất có thể, sẽ tự phong mình trở thành Hoàng đế phương Tây. Và sau đó, thay vì chết vào năm sau trong doanh trại của mình, có khả năng Attila có thể vượt qua cách tiếp cận cướp bóc và đột kích thông thường của mình và thực sự cai trị đế chế của mình, khi đó gần như chắc chắn sẽ không rơi vào tay những làn sóng man rợ tiếp theo như người Vandal, những kẻ sẽ sớm cướp phá La Mã. Liệu Attila, một người man rợ, có thể cứu La Mã khỏi những kẻ man rợ khác không?

ATTILA: KẺ MAN RỢ ĐÃ NGHÊNH NGANG CHIẾN THẮNG NGƯỜI LA MÃ

Vào khoảng năm 420, một điều trước đây đã kìm hãm người Hung – họ là những nhóm du mục lỏng lẻo, mỗi nhóm có một thủ lĩnh riêng – đã thay đổi, họ thống nhất và một triều đại Hung bắt đầu xuất hiện. Đầu tiên, nó được cai trị bởi một thủ lĩnh tên là Oktar, sau đó được kế vị bởi em trai của mình, Rugila, rồi tiếp sau cái chết của Rugila, hai anh em tên là Attila và Bleda cùng cai trị. Sau khi Bleda bị ám sát (được cho là do chính tay Attila, vào năm 445), Attila trở thành người đứng đầu không thể tranh cãi của lực lượng Hung Nô hùng mạnh và sớm nổi lên như một trong những nhân vật đáng gờm nhất trong lịch sử.

Có đủ các lời kể của nhân chứng về Attila để cho chúng ta biết đôi nét về tính cách của ông. Sử gia La Mã Profuturus Frigeridus mô tả ông là “có chiều cao trung bình và vẻ ngoài nam tính, một người cưỡi ngựa rất thành thạo và một cung thủ xuất chúng”. Sử gia Gothic Jordanes thì không tử tế bằng, nhưng có lẽ gần với sự thật hơn, khi mô tả Attila là người khá thấp và béo, phong trần và vênh váo. Hầu hết các nguồn đều đồng ý rằng ông có khẩu vị đơn giản, uống bia từ một chiếc bát gỗ thay vì một chiếc cốc vàng, và ông sẵn sàng tiếp đón lịch sự những kẻ có địa vị thấp kém hơn đến cầu xin ông. Cho dù tính giản dị rõ ràng này có phải là một vỏ bọc hay không, thì Attila gần như chắc chắn đã sống cả cuộc đời mình vì quyền lực, mà trong thế giới của người Hung, quyền lực này thuộc về nhà vua, người có thể cung cấp cho những tay chân mình những chiến lợi phẩm. Và Attila đã có thể làm được điều đó một cách xuất sắc.

Ví dụ, khi Hoàng đế Đông La Mã Theodosius II không nộp cống nạp hàng năm đúng hạn vào năm 440, Attila lại tấn công ông ta vào năm 441 và lấy đi hàng ngàn xe ngựa chiến lợi phẩm và hàng dài nô lệ vào thảo nguyên Trung Á rộng lớn. Và vào năm 449, để tìm kiếm sự giàu có và quyền lực lớn hơn, Attila quyết định tấn công Đế chế La Mã phương Tây, mặc dù cho đến lúc đó ông vẫn có mối quan hệ tương đối thân thiện với người cai trị của đế chế này, Valentinian III.

Giống như các đế chế khác, vương quốc Hung, được thể hiện trên bản đồ vào khoảng năm 450, nhanh chóng tan biến sau cái chết của thủ lĩnh Attila

Cái cớ để ông hành động như vậy là Honoria, em gái của Valentinian. Cô đã bị anh trai mình, người mà cô căm ghét, ép buộc phải đính hôn với một thượng nghị sĩ La Mã. Để đáp lại, Honoria đầy mạnh mẽ đã gửi cho Attila một lá thư yêu cầu ông ta hãy đến cứu cô và đính kèm theo thư là chiếc nhẫn đính hôn của cô ấy. Honoria chỉ muốn nói rằng đây là một dấu hiệu cho thấy bức thư là thật, nhưng Attila đã chọn cách coi đó như một lời cầu hôn. Mặc dù Valentinian đã cố gắng giải thích rằng đây không phải là trường hợp, Attila tuyên bố rằng mình chấp nhận lời đề nghị và sẽ đến La Mã để cưới Honoria và nhận của hồi môn: một nửa Đế chế phương Tây.

Như sự kiện này đã chỉ ra, Attila là một bậc thầy cơ hội. Rõ ràng ông cũng là bậc thầy về tuyên truyền. Khi, vào khoảng thời gian này, một trong những người chăn gia súc của ông tìm thấy một thanh kiếm gỉ sét, Attila tuyên bố đó là thanh kiếm của Thần Chiến tranh Hung Nô, trước đó đã bị mất, và việc phát hiện ra nó đã khiến ông trở thành người cai trị thế giới. Chẳng bao lâu sau, ông bắt đầu tự gọi mình là “Tai họa của Chúa”.

LỰC LƯỢNG HẢI QUÂN ĐÁNG NGẠC NHIÊN CỦA NHỮNG KẺ MAN RỢ TỆ HẠI NHẤT TRONG LỊCH SỬ

Mặc dù tên của họ đồng nghĩa với sự hủy diệt vô nghĩa [Từ “Vandal” ta có từ “vandal”, có nghĩa là “kẻ phá hoại”) và họ không để lại di sản nào có tầm quan trọng lâu dài, nhưng người Vandal ít nhất cũng khẳng định sự khác biệt là lực lượng man rợ duy nhất sở hữu một lực lượng hải quân. Hơn nữa, họ đã tạo ra một đế chế, trong một thời gian ngắn, thậm chí còn vượt qua cả La Mã.

Có nguồn gốc từ vùng Jutland (nay là Đan Mạch), và di chuyển đây đó, người Vandal, giống như những người tị nạn khác tránh giặc Hung Nô, là một bộ tộc yếu đuối và đói khát chỉ tìm kiếm nơi trú ẩn ở Gaul. Nhưng khi họ chiến đấu theo cách của mình qua Pháp và vào Tây Ban Nha, đánh đuổi các bộ tộc khác như người Sueve, Alan và Frank trên đường đi, họ trở nên giàu có hơn, mạnh mẽ hơn và rõ ràng là tự tin hơn.

Tuy nhiên, vào năm 428, khi họ đến được đáy Bán đảo Iberia (Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha ngày nay), họ thấy mình bị bao vây bởi người Visigoth đông đảo hơn nhiều, muốn chiếm lấy Tây Ban Nha cho riêng mình. Lãnh đạo Vandal Gaiseric là một trong những thủ lĩnh man rợ vĩ đại nhất thời bấy giờ, mặc dù ông ít được chú ý hơn Alaric hay Attila – đã nhìn qua Eo biển Gibraltar đến bờ biển Châu Phi, chỉ cách đó 7 dặm (11 km), và đưa ra một quyết định quan trọng. Ông ra lệnh đóng một hạm đội thuyền để đưa người của mình, hiện có khoảng 80.000 người, đến Châu Phi. Không ai biết người Vandal xoay sở ra kỹ năng để làm điều này như thế nào, có lẽ họ học nghề từ những thợ đóng tàu địa phương bị bắt, nhưng vào năm 429, họ đã tự mình vượt qua eo biển đến vùng lân cận Ceuta hiện nay, trên bờ biển Morocco.

Gaiseric, người sẽ tiếp tục trị vì trong 40 năm, đã hành quân qua Bắc Phi, chinh phục vùng đất màu mỡ và giàu có này vào năm 442. Ông đã mở rộng lực lượng hải quân của mình để bao gồm nhiều thuyền chiến và cử chúng đi chiếm các đảo Sardinia, Corsica và Balearics, nơi ông biến chúng thành căn cứ hải quân. Không có lực lượng hải quân nào đủ mạnh để ngăn cản ông, Gaiseric đã sử dụng hạm đội của mình để gây hỗn loạn ở Địa Trung Hải, chiếm giữ tàu thuyền và tấn công các thành phố ven biển của Sicily.

Năm 455, ông đưa lực lượng hải quân đến Ý, nơi ông cướp phá La Mã và bắt cóc Hoàng hậu Eudoxia cùng hai người con gái của bà, Eudocia và Placidia. Eudocia bị ép trở thành vợ của Hunneric, con trai của Gaiseric, nhưng mẹ và em gái của bà cuối cùng đã được La Mã chuộc về.

Vương quốc Vandal ở Bắc Phi đã bị Hoàng đế Justinian hủy diệt vào năm 533. Người Vandal, vốn chưa bao giờ phát triển vượt ra ngoài một xã hội chiến binh, đã biến mất khỏi lịch sử.

LA MÃ THỰC SỰ SỤP ĐỔ HAY DẦN DẦN MẤT ĐI?

Một cuộc tranh luận đang diễn ra giữa các nhà sử học là liệu Đế chế La Mã phương Tây có thực sự sụp đổ, đột ngột và thảm khốc, trước những kẻ man rợ xâm lược hay đã hòa nhập dần dần với các nền văn hóa mới đến, trở thành sự pha trộn của nhiều ảnh hưởng. Quan điểm đầu tiên cho rằng những kẻ man rợ đã tiêu diệt người La Mã cùng với phần lớn nền văn minh phương Tây của họ, đẩy nhanh đến Thời kỳ Đen tối đã được nhà sử học thế kỷ XVIII Edward Gibbon đưa ra trong kiệt tác nổi tiếng của ông, Lịch sử Suy tàn và Sụp đổ của Đế chế La Mã. Kể từ đó, một số nhà sử học đã đặt câu hỏi về luận điểm của ông, mô tả giai đoạn này là một trong những giai đoạn chuyển đổi văn hóa dần dần.

Cuộc tranh luận hẳn sẽ tiếp tục, nhưng điều chắc chắn đúng là một hậu quả rất thực tế của cuộc xâm lược của người man rợ là sự phá hủy nhiều kiến ​​thức cổ điển (Hy Lạp và La Mã), cũng như sự suy yếu của nhiều nền kinh tế và sự suy giảm nhanh chóng dân số Tây Âu. Không hẳn là “sự biến đổi dần dần”.

5 Những cuộc chinh phục của người Hồi giáo 632-732

CHIẾN DỊCH BÀNH TRƯỚNG KÉO DÀI THẾ KỶ ĐƯỢC THỰC HIỆN BỞI CÁC LỰC LƯỢNG Ả RẬP NHẰM XIỂN DƯƠNG ĐỨC TIN MỚI CỦA HỒI GIÁO

TỔNG QUAN: TRUYỀN BÁ LỜI DẠY CỦA ALLAH, MỘT QUYỀN LỰC MỚI BƯỚC VÀO THẾ GIỚI

Các cuộc chinh phạt của người Hồi giáo bắt nguồn từ một người đàn ông, Nhà tiên tri Muhammad. Được truyền cảm hứng từ một loạt các mặc khải thiêng liêng, Muhammad bắt đầu xiển dương một tôn giáo mới mang tính cách mạng, Hồi giáo, bắt đầu từ năm 610. Dần dần, tín ngưỡng phổ quát, độc thần và bình đẳng này lan rộng khắp Bán đảo Ả Rập rộng lớn, làm biến đổi hiện trạng xã hội và chính trị trong các bộ lạc Bedouin hiếu chiến, vốn theo truyền thống đa thần của sa mạc và các thương gia chạy theo vật chất, cạnh tranh địa vị xã hội tại các trung tâm thương mại. Hồi giáo đã thống nhất người Ả Rập ở mọi đẳng cấp và tín ngưỡng, và tại thời điểm Muhammad qua đời vào năm 632, nó đã tạo ra một lực lượng tôn giáo và chính trị gắn kết trên khắp Ả Rập.

Dưới quyền của nhân vật kế nhiệm được Muhammad chỉ định, hay khalip, Abu Bakr, người Ả Rập Hồi giáo tìm cách mở rộng nhà nước Hồi giáo. Một phần là vì lý do tôn giáo, để truyền bá lời dạy của Muhammad; nhưng nó cũng được cổ vũ bởi nhận thấy được Đế chế Byzantine, khi đó cai trị phần lớn Trung Đông, đang trên đà suy yếu và bởi mong muốn hướng năng lượng hiếu chiến của các bộ lạc Ả Rập ra bên ngoài nhằm duy trì sự thống nhất nội bộ.

Năm 633, một đội quân Hồi giáo do chỉ huy quân sự Khalid ibn al-Walid thống lĩnh đã bắt đầu một cuộc chiến chống lại Đế chế Byzantine, đầu tiên là tấn công vào các lực lượng thuộc Hoàng đế Heraclitus ở nơi hiện là Israel và phía tây Jordan. Năm 634, Abu Bakr qua đời và được kế vị bởi ‘Umar I, người đã mở rộng các cuộc đột kích này thành một cuộc tấn công toàn diện. Người Ả Rập đã chiếm Damascus ở miền nam Syria và đánh bại quân đội Byzantine trong trận chiến kéo dài sáu ngày trên sông Yarmuk vào năm 636.

Năm 637, lực lượng của ‘Umar I tiến vào Lưỡng Hà và tiêu diệt thành công một lực lượng lớn của nhà Sasania (Tân Đế quốc Ba Tư) trong trận al-Qadisiyah. Năm sau, họ chinh phục Jerusalem. Chiến thắng trong trận Nahavand năm 641 đã mang lại quyền kiểm soát miền trung Ba Tư, và phần còn lại của Ba Tư nằm dưới sự thống trị của người Hồi giáo vào năm 651.

Sau cái chết của Khalid vào năm 642, một chỉ huy Hồi giáo mới, Amr ibn el-Ass đã chiếm thành phố Alexandria từ tay người Byzantine gần như đã bị đánh bại hoàn toàn và trong vòng một năm, người Hồi giáo đã kiểm soát toàn bộ Ai Cập. Sau đó, họ tiến xa hơn vào Đế quốc Byzantine, chiếm đảo Síp và Armenia của Byzantine vào năm 653, nhưng đã thất bại vào năm 669 trong nỗ lực đầu tiên trong một loạt các nỗ lực không thành công nhằm chiếm thủ đô Constantinople của Byzantine.

Sau khi bị cầm chân bởi sức kháng cự mạnh mẽ bất ngờ của Kahina, Nữ hoàng Berber, ở Bắc Phi, lực lượng Hồi giáo dưới quyền Tariq ibn Ziyad đã vượt qua Eo biển Gibraltar và đánh bại thủ lĩnh Visigoth, Vua Roderick, vào năm 711. Sau đó, lực lượng của Tariq tiến dần về phía bắc, chinh phục toàn bộ Bán đảo Iberia vào năm 718 và đẩy dồn những người Visigoth còn lại vào tỉnh Asturias ở phía tây bắc nhiều núi.

Năm 718, quân Hồi giáo vượt qua dãy núi Pyrenees, xâm lược Aquitaine và miền nam nước Pháp và chiếm thành phố Narbonne. Đến năm 730, một lực lượng lớn hơn đã tiến xa về phía bắc đến tận Poitiers, ở miền trung tây nước Pháp. Tại đó họ bị quân Frank dưới quyền Charles Martel đánh bại vào năm 732.

Sau đó, sự thống trị của Hồi giáo ở Bán đảo Iberia (Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha ngày nay) đã bị suy yếu do cuộc đấu tranh giành quyền lực giữa triều đại Umayyad cầm quyền và một triều đại đối địch, Abbasid, những người này cuối cùng đã giành được quyền kiểm soát vào năm 750. Mặc dù một nhà lãnh đạo Umayyad là ‘Abd ar-Rahman đã thành lập một quốc gia riêng biệt, tập trung tại thành phố Córdoba (thuộc Tây Ban Nha ngày nay) vào năm 756, nhưng xung đột lẻ tẻ giữa người Hồi giáo và người Cơ đốc giáo ở Bán đảo Iberia cuối cùng đã dẫn đến sự kiện Reconquista, hay việc tái chinh phục khu vực này bởi các lực lượng Cơ đốc giáo.

Lực lượng Hồi giáo dưới quyền TARIK IBN ZIYAD đã vượt qua eo biển GIBRALTAR vào năm 711 và đánh bại người GOTH và vua RODERICK trong trận chiến GUADALETE, như được thể hiện trong bức tranh sơn dầu thế kỷ 19 của họa sĩ  Tây Ban Nha SALVADOR MARTINEZ CUBELLS.

Trận chiến POITIERS (1837), do CHARLES AUGUSTE STEUBEN vẽ, miêu tả người Frank chiến đấu dưới một cây thánh giá của người CELT có tính biểu tượng cao, như những chiến binh bảo vệ đạo Cơ đốc.

TRẬN CHIẾN ĐẨY LÙI LÀN SÓNG HỒI GIÁO

Trận Poitiers (Tours), 732

Theo hầu hết các lời kể, trận chiến diễn ra vào một buổi sáng thứ bảy lạnh giá của tháng 10, năm 732, điều này càng làm tăng thêm tính biểu tượng của cuộc chạm trán gây tranh cãi này, vì trong khi người Frank mặc áo lông thú ấm áp, thì các chiến binh Hồi giáo Ả Rập và Berber mặc quần áo nhẹ phù hợp hơn với đồng bằng Tây Ban Nha hoặc sa mạc Bắc Phi và Ả Rập. Run rẩy, họ nhìn chằm chằm lên những cánh đồng dốc vào đội hình phalanx được trang bị vũ khí hạng nặng của các hiệp sĩ người Frank đang chờ đợi họ trong bộ áo da thú hoặc áo giáp vảy, giáo và kiếm lấp lánh.

Chiến trường của những chiến binh này nằm đâu đó giữa các thị trấn Poitiers và Tours ngày nay ở phía tây nam nước Pháp, và do đó cuộc đụng độ sau đó được biết đến với cả hai tên là trận Poitiers và trận Tours. Trong nhiều thế kỷ, cuộc giao tranh này đã đạt được vị thế là một trong những trận chiến vĩ đại và mang tính quyết định nhất trong lịch sử phương Tây. Người ta nói rằng tại đây, làn sóng tiến công phi thường của các lực lượng Hồi giáo, bắt đầu đúng một thế kỷ trước, cuối cùng đã bị chặn lại, và châu Âu đã được giải cứu khỏi sự thống trị của Hồi giáo.

Nhưng các nhà sử học gần đây đã đặt câu hỏi về điều này, đưa ra giả thuyết rằng, thay vì một cuộc xâm lược toàn diện, cuộc xâm lược của người Hồi giáo vào nước Pháp chỉ đơn thuần là một razzia tức cuộc đột kích quy mô lớn, đã bị bỏ dỡ giữa chừng sau khi gặp sức kháng cự kịch liệt đầu tiên của người Frank. Dù sự thật là gì, biểu tượng của Poitiers, mặc dù hơi quá đáng, vẫn có ý nghĩa quan trọng. Người Ả Rập chưa bao giờ xâm nhập sâu vào nước Pháp sâu hơn Poitiers. Và trong biên niên sử chính của Cơ đốc giáo mà chúng ta có về trận chiến, một từ được sử dụng lần đầu tiên để mô tả lực lượng Frank: Europenses “người châu Âu”.

Những cuộc tấn công đầu tiên của người Hồi giáo vào nơi sau này trở thành nước Pháp bắt đầu vào năm 718, ngay sau khi lực lượng Hồi giáo đã khuất phục Bán đảo Iberia, với các cuộc tấn công vào vùng đất giàu có Aquitaine ở phía tây nam. Đối thủ chính của họ ở đây là Công tước Eudo người Frank, sau một số trận đánh, bắt đầu để mất đất vào tay người Ả Rập. Thử một cách tiếp cận khác, ông tìm cách khai thác mối hiềm khích lâu đời giữa người Berber và người Ả Rập bằng cách gả con gái mình cho một tù trưởng Berber bất mãn.

Để trả đũa, vào mùa hè năm 732, vị tướng Hồi giáo ‘Abd ar-Rahman (không nên nhầm lẫn với vị thủ lĩnh Umayyad sau này có cùng tên) đã chỉ huy một cuộc đột kích lớn vào Aquitaine. Ước tính về quy mô lực lượng của ông ta rất khó có thể đưa ra, nhưng dao động từ 60.000 đến 80.000 kỵ binh.

Điều này khiến Công tước Eudo không còn nơi nào để cầu cứu ngoài đối thủ lớn của mình, Charles Martel, người mà những nỗ lực chinh phục Aquitaine của ông đã bị Eudo kháng cự dữ dội. Nhận ra cơ hội để mở rộng ảnh hưởng của mình, Martel đã tập hợp một lực lượng khoảng 30.000 người Frank (cùng với một số người Burgundy) và tiến thẳng vào con đường mà người Hồi giáo đang tiến tới.

Martel tập hợp quân đội của mình thành một hình vuông trên con đường giữa Poitiers và Tours. Lực lượng Hồi giáo, gặp ít hoặc không gặp phải sự kháng cự nào, đã cử những nhóm nhỏ hơn đi đột kích để lấy chiến lợi phẩm và nô lệ – một dấu hiệu nữa cho thấy đây là lực lượng cướp bóc chứ không phải là đội quân xâm lược. Nhưng lực lượng chính, do ‘Abd ar-Rahman chỉ huy, đã sớm chạm trán với quân đội của Martel. Bị bất ngờ, ‘Abd ar-Rahman dừng lại, cử sứ giả đi truy tìm và triệu tập binh sĩ còn lại, rồi bắt đầu nghiên cứu kẻ thù của mình.

Đứng vững

PTrong một tuần, ‘Abd ar-Rahman và Charles Martel đã đánh giá lẫn nhau, cử các đội trinh sát, đánh lừa, theo dõi nhau chặt chẽ. Người Frank đã dàn trải dọc theo một mặt trận tương đối hẹp trên đỉnh đồi, với rừng cây ở cả hai bên. Đó là một vị trí gần như hoàn hảo, với rừng cây bảo vệ chống lại các cuộc tấn công bên sườn và độ dốc lớn có thể làm chậm bất kỳ cuộc tấn công nào của kỵ binh.

‘Abd ar-Rahman là một vị tướng dày dạn kinh nghiệm, và có lẽ ông đã do dự khi tấn công vào một vị trí được lựa chọn kỹ lưỡng như vậy; mặt khác, lực lượng của ông đông hơn hẳn lực lượng của Martel, và ông hẳn đã có được sự tự tin từ một chuỗi chiến thắng gần đây, không bị gián đoạn khi ông hành quân qua những chiến thắng ở Aquitaine khiến xe ngựa và trại lính của ông đầy ắp chiến lợi phẩm. Ông sẽ không quay đầu lại.

Vào sáng thứ Bảy đó, khi mặt trời mọc trên những cánh đồng lạnh lẽo và sương mù, những người Hồi giáo cầu nguyện với Mecca rồi nhảy lên ngựa. Họ lao tới từ khoảng cách hơn nửa dặm (0,8 km), cho mình thời gian để tăng tốc, hét lên những tiếng kêu chiến đấu với Allah và đánh trống và chũm chọe. Họ tiếp tục hét lên với sự cuồng nhiệt hoang dã khi họ tràn về phía phòng tuyến của kẻ thù.

Martel biết rằng kỵ binh Frank có thể dễ dàng bị áp đảo bởi kiểu tấn công này, vì vậy ông đã cho quân lính của mình tạo thành một hình vuông bọc thép, bắt chước đội hình chiến đấu La Mã cổ đại [đội hình phalanx], giáo và kiếm hướng ra ngoài, khiên đan vào nhau. Với tiếng vó ngựa như sấm và tiếng kiếm và giáo va chạm dữ dội, quân Hồi giáo đã lao vào hàng ngũ quân Frank. Và, thật đáng kinh ngạc, họ đã bị phá vỡ bởi những mũi kiếm, giáo và rìu chiến của quân Frank, không một mũi nào xuyên qua được. Từng đợt tấn công liên tiếp đã đánh vào hàng ngũ, nhưng vẫn không bị phá vỡ, quân Frank, như một biên niên sử gia Hồi giáo đã viết, đứng đó như một “bức tường băng”. Đây là một trong số ít lần trong lịch sử mà bộ binh có thể chống lại một đợt tấn công ồ ạt của kỵ binh như vậy.

Một số người nói rằng trận chiến chỉ kéo dài một ngày, người khác cho là hai ngày, người khác nữa bảo là lên đến bảy ngày. Những ước tính thấp hơn có nhiều khả năng là đúng, nhưng không ai biết chắc chắn. Điều được biết chắc chắn là ‘Abd ar-Rahman đã bị giết trong một cuộc tấn công dữ dội vào các phòng tuyến của người Frank, một số người nói ông ta tìm cách xông tới Charles Martel định đánh bại đối thủ trong trận đấu tay đôi – và quân Hồi giáo, mất đi thủ lĩnh của họ, đã rút lui về trại.

Đêm đó trên chiến trường, quân Franks giữ vững vị trí  trong cái lạnh giá, lắng nghe bất kỳ dấu hiệu tấn công nào, và vào buổi sáng, họ đứng dậy, mệt mỏi, sẵn sàng đối mặt với cuộc tấn công dữ dội như dự kiến. Nhưng khu rừng và cánh đồng xung quanh họ chìm đắm trong một chốn im lìm kỳ lạ. Không có cuộc tấn công nào xảy ra. Thận trọng, Martel cử các trinh sát đi tìm kiếm quanh khu vực kẻ thù đóng quân, dự cảm một cuộc tấn công của người Ả Rập ngay khi ông  lơi lỏng hàng ngũ. Nhưng vẫn không có cuộc xung phong nào xảy ra, và đội trinh sát không tìm thấy lực lượng Ả Rập nào. Dần dần, quân Frank nhận ra rằng toàn bộ quân đội Ả Rập đã biến mất trong đêm, lấy đi chiến lợi phẩm nhưng để lại phía sau những chiếc lều màu sắc rực rỡ không giúp ích gì cho binh lính khỏi thời tiết giá lạnh phương bắc.

Martel đã giành được một chiến thắng quan trọng. Liệu đó có phải là chiến thắng ngăn chặn lực lượng Hồi giáo tràn vào Tây Âu hay không, hoặc liệu có phải, và điều này có nhiều khả năng hơn, bước tiến của người Ả Rập đã bắt đầu chậm lại và mất đà, chúng ta không thể chắc chắn. Nhưng chắc chắn người châu Âu đã lấy đó làm động lực và coi đó là một chiến thắng vĩ đại chống lại kẻ thù mới và nguy hiểm nhất này.

CHARLES MARTEL: NHÀ LÃNH ĐẠO ĐÃ THỐNG NHẤT NGƯỜI FRANK

Người Frank là một bộ tộc Đức đã vượt sông Rhine và định cư tại tỉnh Gaul trước đây của La Mã vào thế kỷ thứ năm, trước khi lan rộng ra để thống trị khu vực. Vào cuối thế kỷ thứ bảy, triều đại cai trị của người Frank, nhà Merovingian, đã bị suy yếu do các cuộc xung đột nội bộ. Khoảng trống quyền lực do đó được lấp đầy bởi các nhà quản trị trước đây do người Merovingian bổ nhiệm và được gọi là Thị trưởng Cung điện. Một người như vậy là Pippin xứ Herstal, đã cai trị hiệu quả các vương quốc Frank thay mặt cho một loạt các vị vua bù nhìn.

Ngoài vợ và con, Pippin còn có một con trai ngoài giá thú, Charles Martel, sinh vào khoảng năm 688. Khi Pippin qua đời vào năm 714, một cuộc đấu tranh giành quyền lực nổ ra giữa những người con của ông. Bất chấp những nỗ lực hết mình của vợ Pippin là Plectrude và các cháu của bà, Martel – tên nghĩa là “Charles Búa Tạ” – đã chiến thắng và trở thành Thị trưởng Cung điện, người cai trị Frank, vào năm 719.

Martel cao lớn và đẹp trai với cá tính vô cùng mạnh mẽ. Mặc dù các nhà sử học đã miêu tả ông là vị cứu tinh của Cơ đốc giáo, nhưng thực tế ông là một chiến binh hung dữ, không ngại tống vào tù bất kỳ ai – kể cả các giáo sĩ – cản đường ông. Cuối cùng, ông đã chinh phục một vương quốc bao phủ phần lớn nước Pháp ngày nay, miền tây nước Đức và Hà Lan.

Lý do chính khiến Martel đồng ý giúp Công tước Eudo người Frank xứ Aquitaine chống lại lực lượng Hồi giáo tại Poitiers vào năm 732 là vì lợi ích cá nhân. Martel đã đột kích vùng đất của Eudo từ những năm 720, tìm cách mở rộng lãnh thổ của mình về phía nam, và liên minh này là cơ hội để đột phá.

Poitiers là một chiến thắng vĩ đại, nhưng danh tiếng quân sự của Martel không chỉ dựa trên trận chiến đó. Ông là một chiến lược gia lỗi lạc, người tiên phong trong việc sử dụng đòn tấn công kết hợp của kỵ binh hạng nặng, thiết lập một hệ thống nghĩa vụ quân sự tạo nên một đội quân thường trực đầu tiên ở Tây Âu kể từ thời La Mã, và cũng là người khởi đầu cho chế độ phong kiến, bằng cách ban thưởng cho những người ủng hộ ông những vùng đất mà giáo hội Cơ đốc đã ban cho ông, và tạo ra một hệ thống phân cấp gồm các nam tước, bá tước và công tước, tất cả đều trung thành với ông.

Sau khi củng cố đế chế của mình thông qua nhiều trận chiến sau trận Poitiers, Martel qua đời vào năm 641, nhưng dòng dõi Carolingian (bắt nguồn từ tên Charles) sẽ tiếp tục sống với con trai ông là Pippin III và cháu trai là Charlemagne, Hoàng đế La Mã Thần thánh đầu tiên.

Bản đồ mô tả sự phát triển của quyền lực Frank dưới sự chinh phạt của Charles Martel 481-814

SỨ GIẢ CỦA CHÚA ĐÃ TẠO RA TÔN GIÁO MỚI HỒI GIÁO

Nhà tiên tri đáng kinh ngạc đã sáng lập ra đức tin Hồi giáo – một tôn giáo mà tín đồ hiện nay lên tới hơn một tỷ người trên toàn thế giới – sinh ra vào khoảng năm 570 trong bộ tộc Quraysh ở Mecca, một trung tâm thương mại quan trọng ở phía tây Bán đảo Ả Rập. Một đứa trẻ mồ côi, tên Muhammad có nghĩa là “đáng ca ngợi” đã được chú Abu Talib, người đứng đầu bộ tộc Hashimite mà Muhammad thuộc về, nhận nuôi và dạy cách trao đổi và bán hàng hóa tại khu chợ sầm uất ở Mecca.

Khi còn là một thương gia trẻ tuổi, Muhammad đã đi cùng chú của mình trong ít nhất một chuyến đi theo đoàn đến Syria và sớm bắt đầu dẫn dắt các chuyến giao thương đường dài của riêng mình. Khi được 25 tuổi, ông vào làm việc cho một góa phụ giàu có tên là Khadija, hơn ông 10 tuổi. Ông sau đó kết hôn với bà  . và có sáu người con – hai bé trai chết lưu và bốn bé gái còn sống. Muhammad có xu hướng tâm linh, hay chiêm nghiệm, thường tự rút lui vào vùng hoang dã gần Mecca để cầu nguyện và mặc định. Có thể ông đã có dịp trò chuyện với những người Do Thái và Cơ đốc – cả hai đều có mặt ở Ả Rập vào thời điểm đó – về nguồn gốc chung của các tôn giáo này.

Vào năm 610, Muhammad đã có một trải nghiệm huyền bí khiến ông bị chấn động về mặt tinh thần và thể chất. Ông được Thiên thần Gabriel viếng thăm, người đã nói với ông trong lời khuyên đầu tiên tạo nên Kinh Koran rằng “Hãy đọc: nhân danh Chúa sáng tạo của ngươi, Đấng đã tạo ra con người từ cục máu đông.” Những thông điệp tiếp tục trong năm năm tiếp theo, và Muhammad sớm tìm cách truyền đạt chúng cho những người khác, rao giảng công khai và thu hút được vài chục người tin theo.

Tôn giáo mới mà Muhammad khởi xướng gọi là Hồi giáo, từ một từ tiếng Ả Rập có nghĩa là “quy phục” hoặc “đầu hàng”, yêu cầu những tín đồ, bất kể bộ tộc hay gia tộc nào, phải sống một cuộc đời danh dự và ngoan đạo và là anh em trong mọi giao dịch. Thông điệp này đe dọa đến thế lực của giới kiểm soát Mecca, và cuối cùng Muhammad và nhóm người theo ông (được gọi là các Sahaba) đã bị đuổi khỏi thành phố, đến sống tại Medina. Tại đó, Muhammad đã tranh thủ được sự ủng hộ của các bộ lạc Bedouin địa phương, sau đó lực lượng ông quay trở lại tấn công Mecca, cuối cùng giành được quyền kiểm soát thành phố vào năm 630 và sau đó là phần lớn Bán đảo Ả Rập vào năm 632. Vào năm đó, ông qua đời vì nguyên nhân tự nhiên; nhưng thông điệp của ông đã bắt đầu lan truyền khắp thế giới.

Bình luận về bài viết này