Những bí mật của cuộc chiến Iraq

Operation Iraqi Freedom  04-06 For public release CWO2 Craig J. Shell LtCol John R. Mahoney IIMEF (FWD) G-3 IO COMCAM 3401-124 3401-304

Ngọc Trí

“Cách đây 10 năm, cuộc tranh luận về cuộc chiến Iraq đã đến Quốc hội với hình thức một nghị quyết được Nội các Bush cổ súy. Cuộc chiến Iraq làm tiêu tốn nước Mỹ đến 5 ngàn tỉ USD. Nó đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu… Cuộc chiến Iraq chỉ dựa trên những lời dối trá. Hàng ngàn người Mỹ và có lẽ một triệu người Iraq đã hy sinh bởi những lời dối trá này…”

Dân biểu Mỹ Dennis Kucinich đã viết như vậy khi nhìn lại cuộc chiến Iraq, 10 năm sau. Một lần nữa, thử nhìn lại từ bao giờ và như thế nào mà cuộc chiến này đã được dựng lên…

Bắt đầu từ lúc nào?

Từ cuối tháng 12/2001, Nhà Trắng đã lập kế hoạch đánh Iraq, bắt đầu từ các cuộc gặp liên tục giữa Bush và tướng Tommy R. Franks. Kế hoạch càng mở rộng trong suốt năm 2002 khi CIA kết luận rằng, Saddam Hussein không thể lật đổ nếu không bằng biện pháp nắm đấm quân sự. Trước đó, ngày 21/11/2001 (72 ngày sau vụ khủng bố 11/9), Tổng thống Bush đã yêu cầu Bộ trưởng Quốc phòng Donald Rumsfeld lập kịch bản đánh Iraq. Ngày 16/2/2002, ông Bush ký lệnh yêu cầu CIA trợ giúp Lầu Năm Góc.

Vài tháng sau, tháng 7/2002, một nhóm CIA đã bò vào Bắc Iraq, tổ chức công tác do thám, đồng thời huấn luyện 87 người Iraq (mật danh ROCKSTARS – những ngôi sao rock) với nhiệm vụ cung cấp toàn bộ thông tin liên quan tình báo – quốc phòng Iraq, trong đó có một CD-ROM chứa hồ sơ cá nhân thành viên Tổ chức An ninh Iraq (SSO).

Hè 2002, ông Bush chuẩn y 700 triệu USD cho công tác chuẩn bị chiến trường vùng Vịnh, trong đó việc nâng cấp phi trường, căn cứ, đường ống dẫn nguyên liệu và đổ đầy kho đạn dược. Lấy từ ngân sách được Quốc hội chuẩn y cho Afghanistan, Nhà Trắng đã âm thầm qua mặt Quốc hội trong kế hoạch Iraq. Cũng trong hè 2002, xung đột giữa Ngoại trưởng Colin Powell và Phó tổng thống Dick Cheney bắt đầu căng thẳng.

Trong khi Powell đòi đưa vấn đề ra Liên Hiệp Quốc (LHQ), ông Cheney lại cho rằng việc này chỉ tổ phí thời giờ. Đồng minh Powell là Brent Scowcroft, nguyên cố vấn an ninh quốc gia thời Bush-cha.

bush

Tổng thống Bush (giữa) cùng các cộng sự

Trên chính trường thế giới, Nhà Trắng nhận được tín hiệu ủng hộ đầu tiên từ Thủ tướng Anh Tony Blair (trong cuộc gặp Tổng thống Bush tại Trại David vào tháng 9/2002). Chỗ này xin mở ngoặc. Theo tác giả David Rose viết trên tờ The Observer (4/4/2004), Tổng thống Bush đã yêu cầu ông Tony Blair ủng hộ việc lật đổ Saddam Hussein trong bữa tiệc tại Nhà Trắng vào 9 ngày sau vụ 11-9 (chi tiết cuộc bàn luận bí mật này được đăng trong bài viết 25.000 từ trên nguyệt san Vanity Fair số tháng 5/2004). Trong thời gian ông Bush gặp ông Blair nói trên, cố vấn chính sách đối ngoại Thủ tướng Anh, David Manning, cũng có cuộc gặp bà Condoleezza Rice.

Cuối năm 2002, ông Bush bắt đầu hết kiên nhẫn trước tiến trình thanh sát vũ khí của Hans Blix. Không lâu sau ngày đầu năm 2003, ông Bush nói với cố vấn an ninh quốc gia Condoleezza Rice rằng: “Chúng ta sẽ không thắng (trong chiến dịch ngoại giao). Thời gian không bên cạnh chúng ta. Có lẽ chúng ta buộc phải đi đến giải pháp chiến tranh”.

10 ngày sau, ông Bush thông báo quyết định của mình cho cố vấn Tổng thống Karl Rove rồi sau đó là ông Cheney, Powell, Rumsfeld và cả Đại sứ Arập Xêút Bandar bin Sultan. Ngày 11/1/2003, ông Cheney mời ông Bandar bin Sultan đến văn phòng riêng tại chái Tây (Nhà Trắng). Cuộc họp có sự tham gia của Rumsfeld và tướng Richard B. Myers (Chủ tịch Tổng tham mưu trưởng Liên quân Hoa Kỳ).

Trên bàn ông Cheney, ông Myers trải tấm bản đồ to ghi “TOP SECRET NOFORN” (Tuyệt mật – Không dành cho người nước ngoài). Tiếp đó, ông Myers trình bày phần thứ nhất của kế hoạch chiến tranh, trong đó có chiến dịch oanh tạc dữ dội suốt nhiều ngày và mục tiêu chủ yếu là các sư đoàn Vệ binh cộng hòa Iraq cũng như Bộ Tư lệnh quân đội Saddam Hussein. Cuộc chiến trên bộ sẽ tiếp theo, với lực lượng bộ binh Mỹ kéo vào Iraq từ Kuwait, phối hợp mặt trận phía bắc từ Thổ Nhĩ Kỳ (nếu nước này cho phép).

Ngoài ra, còn có kế hoạch triển khai lực lượng đặc nhiệm cũng như tình báo bán vũ trang, đột nhập tất cả địa điểm mà Saddam có thể phóng tên lửa hoặc máy bay vào Arập Xêút, Jordan hoặc Israel. Đặc nhiệm còn có nhiệm vụ phát 300 triệu USD cho các thủ lĩnh sắc tộc địa phương, thủ lĩnh tôn giáo và sĩ quan cấp cao quân đội Saddam.

“Một khi chúng tôi bắt đầu, Saddam sẽ bị nướng chín”!

Lính đặc nhiệm sẽ xuất phát từ biên giới Iraq – Arập Xêút và do vậy nhất thiết phải có sự trợ giúp che chắn từ Chính phủ Arập Xêút. Bandar bin Sultan cho biết Arập Xêút có thể che giấu sự xuất hiện của lính đặc nhiệm Mỹ bằng cách đóng cửa một sân bay dân sự tại Al Jawf ở sa mạc phía bắc, tung liên tục các trực thăng dọc biên giới để nghi binh làm như tuần tra rồi lẳng lặng rút lui.

Trong thời gian đó, đặc nhiệm Mỹ có thể lập căn cứ dã chiến mà không gây chú ý. Nhìn chằm chằm vào tấm bản đồ tuyệt mật, Bandar bin Sultan (nguyên là phi công chiến đấu) hỏi vài câu liên quan chiến dịch oanh tạc. Liệu có thể đưa một tấm bản đồ tương tự về Arập Xêút cho Thái tử Abdullah? – Bandar bin Sultan hỏi

. “Điều này vượt quá quyền hạn của tôi” – Myers trả lời. “Chúng tôi sẽ trao tất cả thông tin mà ông cần” – Rumsfeld châm vào. “Phần tấm bản đồ” – Rumsfeld nói thêm – “Tôi sẽ không đưa ông. Tuy nhiên, ông có thể ghi chú nếu ông muốn”. “Liệu Saddam Hussein có cơ hội sống sót qua chiến dịch quân sự này?” – Bandar bin Sultan hỏi. Cả hai ông Rumsfeld và Myers đều không trả lời. Đến lúc đó, Cheney mới lên tiếng: “Hoàng tử Bandar, một khi chúng tôi bắt đầu, Saddam sẽ bị nướng chín”.

 Colin Powell

Ngày 5/2/2003, Ngoại trưởng Mỹ Colin Powell khẳng định trước LHQ rằng Iraq có vũ khí hóa học

Trở ra từ Nhà Trắng, trong xe hơi, Bandar bin Sultan vội phác họa lại các chi tiết trên bản đồ. Khi về đến nhà, ông xem ngay tấm bản đồ khu vực được CIA cung cấp trước đó. Hôm sau, Chủ nhật, bà Condoleezza Rice điện, mời Bandar bin Sultan đến Nhà Trắng vào thứ Hai, 13/1/2003.

Trong buổi gặp, ông Bush cho biết mình đã xem xét các ý kiến tư vấn về phản ứng cộng đồng Hồi giáo một khi chiến sự nổ ra. Trong cùng ngày, ông Bush triệu Powell vào Nhà Trắng và thông báo quyết định tấn công Iraq. “Ngài có chắc không?” – Powell hỏi, nhấn mạnh thêm rằng Mỹ nên lường trước hậu quả. Một lần nữa, vẫn khẳng định, hàm ý rằng đây không phải là buổi thảo luận mà là thông báo quyết định. Chẳng còn gì có thể thay đổi.

Ông Powell cũng biết rằng mình đã không được mời tham gia kế hoạch tấn công Iraq ngay từ đầu và chỉ được thông báo chiếu lệ (buổi gặp Powell kéo dài vỏn vẹn 12 phút). Trước khi gặp Tổng thống Ba Lan Aleksander Kwasniewski vào hôm sau, 14/1/2003, phản ứng mất kiên nhẫn của ông Bush về vấn đề Iraq càng lộ rõ hơn. 10 ngày trước, Tổng thống Bush còn nói Saddam Hussein “vẫn còn đủ thời gian”. Tuy nhiên, sáng 14/1/2003, Bush đã nóng nảy phát biểu rằng “thời gian không còn nhiều cho Saddam Hussein”.

Cuộc họp giữa Tổng thống Bush và Tổng thống Aleksander Kwasniewski thật ra cũng là chiến dịch vận động Ba Lan ủng hộ Mỹ. Trong phiên bàn luận, ông Aleksander Kwasniewski đề nghị tiến hành phân phát lương thực cho dân Iraq song song chiến dịch quân sự. Và như ông Powell, ông Aleksander ông Kwasniewski cũng hỏi về hậu quả của cuộc chiến. Tuy nhiên, với ông Bush, vấn đề bây giờ không là tính toán hậu quả mà là tìm kiếm đồng minh càng nhiều càng tốt cho chiến dịch quân sự. Ít nhất đó cũng là sự thể hiện “ủng hộ quốc tế” trên mặt trận ngoại giao.

“Bằng chứng”

Ngày 5/2/2003, (cựu) Ngoại trưởng Colin Powell Mỹ báo cáo tại LHQ về bằng chứng liên quan vũ khí giết người hàng loạt của Iraq và trước đó (22/1/2003) là bộ hồ sơ 33 trang “Apparatus of lies: Saddam’s disinformation and propaganda, 1990-2003” phát hành từ Văn phòng Viễn thông toàn cầu thuộc Nhà Trắng. Tất cả đều mang cùng nội dung (tiết lộ những “bí mật” Iraq về khả năng sản xuất vũ khí đe dọa hòa bình thế giới) và đều cùng mục đích (gây hoang mang công chúng về nguy cơ khủng bố xảy ra bất cứ lúc nào).

Vài tuần trước khi tấn công Iraq, thanh sát viên vũ khí LHQ đã tiếp cận một trong những địa điểm tình nghi nhất Iraq: Abu Ghreib, ngoại ô Baghdad, nơi từng bị bom Mỹ phá hủy ngày 23/1/1991. Iraq cho biết Abu Ghreib là nhà máy sữa, như thông tin từ phóng viên CNN Peter Arnett, nhưng Mỹ vẫn tin rằng nơi này từng là “ổ” sản xuất vũ khí sinh học. Cần nhắc lại, trong cuộc chiến 1991, vài giờ sau vụ không kích (23/1/1991), tướng Colin Powell tường trình tương tự trong cuộc họp báo và tiếp đó nó được nhắc lại từ phát ngôn viên Nhà trắng Marlin Fitzwater.

Saddam Husein

Saddam Husein bị hành quyết

Trong khi đó, phóng sự Peter Arnett quay cánh cổng nhà máy với tấm biển to “Nhà máy sữa trẻ em” (bằng tiếng Arập và tiếng Anh) cùng hàng chữ tương tự trên lưng áo công nhân. Tháng 8/1990, Peter Arnett đã có mặt ở Abu Ghreib. Lầu Năm Góc cho biết Abu Ghreib được bảo vệ nghiêm nhặt như pháo đài bởi lực lượng quân sự Iraq cùng hàng rào thép gai vây quanh. Tuy nhiên, Peter Arnett chỉ thấy một nhân viên bảo vệ ở cổng và bên trong toàn sữa bột. “Đó là những gì tôi thấy tận mắt. Nó (nhà máy) trông vô tội như chúng ta có thể chứng kiến”.

Nhà Trắng bị sốc. Một ngày sau phóng sự Peter Arnett, phát ngôn viên Nhà Trắng Marlin Fitzwater nói: “Tất cả những gì Peter Arnett trình bày đều được Chính phủ Iraq kiểm duyệt và chuẩn y. Thông tin này sai, làm tổn thương Chính phủ (Mỹ) và là trò ma mãnh của Saddam Hussein”. Nói cách khác, Baghdad vẫn lừa thế giới.

Và như thế, thông điệp “Baghdad lừa gạt thế giới” xuất hiện nhiều lần trong vụ khủng hoảng vùng Vịnh “tập hai”, từ Thông điệp liên bang (28/1/2003) của Tổng thống George W. Bush đến các thông cáo báo chí hằng ngày. Chiến dịch tấn công Iraq “từ bên trong ý thức hệ” đã tiến hành từ cuối năm 2002. Đối tượng bị tấn công không hạn chế và thành phần chính là giới trí thức và quân sự Iraq. Một trong những mặt trận là e-mail.

Hàng chục ngàn người Iraq đã nhận e-mail chủ đề “Thông tin quan trọng”, nội dung yêu cầu người Iraq “bảo vệ gia đình”, nếu không, họ sẽ “đối mặt những hậu quả cá nhân nghiêm trọng”. E-mail cũng khuyên tướng sĩ Iraq làm hỏng tất cả vũ khí giết người hàng loạt hoặc ít nhất bất tuân thượng cấp trong việc sử dụng. Cùng lúc, máy bay Mỹ và Anh thả truyền đơn, kêu gọi binh lính Iraq bỏ súng, “quy hàng chính nghĩa”…

Ngày 2/2/2002, Giám đốc CIA George J. Tenet gặp Phó tổng thống Dick Cheney – theo yêu cầu Cheney – để trình bày kế hoạch tình báo tại Iraq.

Nhiều tháng sau vụ khủng bố 11/9, với Tenet, vấn đề chống khủng bố quan trọng hơn Iraq nhiều lần. Tuy nhiên, một trong những viên chức CIA cấp cao – chỉ huy nhóm chiến dịch Iraq (IOG), mang mật danh Saul – đã không nghĩ như vậy. Thuộc Ban Cận Đông trong CIA, nơi chuyên xử lý những điệp vụ khó khăn tại các nước “nguy hiểm”, IOG được mệnh danh là “ngôi nhà đồ chơi hỏng”, gồm các viên chức CIA nổi tiếng lì lợm hoặc nhân viên lâu năm sắp về vườn.

Sau khi được bổ nhiệm chức chỉ huy vào tháng 8/2001, Saul bắt đầu phác thảo xem CIA có thể làm gì tại Iraq…

Thành Baghdad được CIA mua với giá bao nhiêu?

Gulf_War

 Sinh ra tại một thị trấn nhỏ ở Cuba, Saul 43 tuổi từng làm việc cho CIA trong nhiều năm với đủ vỏ bọc nhạy cảm. Bố Saul là một trong những điệp viên nếm mùi thất bại chiến dịch Vịnh Con Heo năm 1961 khi 1.200 tay súng Cuba lưu vong bị CIA bỏ rơi ngoài bãi biển Cuba.

Tường trình với Cheney, Saul cho biết, CIA không thể đảo chính Saddam Hussein. Từng đi lên quyền lực bằng đảo chính, Saddam có quá nhiều kinh nghiệm đối phó. Ngoài ra, người Kurd, Shiite cũng như đám cựu sĩ quan quân đội Iraq đều biết rõ lịch sử “đem con bỏ chợ” của CIA; cho nên, điều cần làm đầu tiên là phải lấy lại lòng tin.

Với chuẩn y của George J. Tenet, Saul cùng Phó giám đốc CIA John E. McLaughlin và James L. Pavitt (Phó giám đốc chịu trách nhiệm các chiến dịch đặc biệt) dựng chi tiết kế hoạch tình báo phối hợp quân đội mà Bush ký vào ngày 16/2/2002. Ngân sách cho chiến dịch là 200 triệu USD, tiến hành trong 2 năm. Không ai trong Quốc hội được thông báo về chiến dịch, trừ hai chủ tịch Ủy ban Tình báo Thượng và Hạ viện (sau nhiều tranh luận, ngân sách bị rút xuống còn 189 triệu USD).

1_Iraq

Ngày 4/4/2003, Mỹ chiếm sân bay quốc tế Saddam và chỉ 5 ngày sau, Baghdad sụp đổ

 

Tháng 3/2002, Tenet bí mật gặp hai nhân vật quan trọng: Massoud Barzani và Jalal Talabani (thủ lĩnh hai nhóm lớn thuộc cộng đồng người Kurd, Bắc Iraq). Tenet có một thông điệp quan trọng: Lần này, Mỹ hoàn toàn nghiêm túc rằng tình báo lẫn quân đội Mỹ đang chuẩn bị đến vùng vịnh, một giai đoạn mới bắt đầu…

Tiếp đó, Tenet đưa ra mồi nhử: hàng triệu đôla đang sẵn trong tay. Nếu viên chức Bộ Quốc phòng hoặc Bộ Ngoại giao trả tiền cho chiến dịch lật đổ một chính phủ, điều này là phạm luật. Tuy nhiên, việc đó lại được xem “hợp pháp” khi CIA đứng ra thực hiện.

Saul biết rằng, sẽ chẳng được tích sự gì nếu CIA lởn vởn ngoài biên giới Iraq. Cần phải thâm nhập vào bên trong. Saul bắt đầu tuyển mộ tình nguyện viên. Một trong những người như vậy là Tim, nguyên lính đặc nhiệm SEAL nói rành tiếng Arập từng làm việc nhiều năm tại Trung Đông.

Tim được phân công dẫn hai toán CIA bán vũ trang vào Bắc Iraq, với chỉ thị: Cần thâm nhập vào quân đội Saddam, vào lực lượng tình báo, vào hàng ngũ vệ binh cộng hòa, rằng mạng lưới người dân tộc phải được mua chuộc làm việc cho Mỹ để trở thành các nhóm bán vũ trang chịu trách nhiệm phá rối và gián điệp, tạo quan hệ tốt với người Kurd, xem thử có thể huấn luyện họ để tấn công quân đội Saddam tại phía bắc được không…

Tháng 7/2002, Tim và nhóm CIA thực hiện chuyến hành trình dài 10 tiếng từ Thổ Nhĩ Kỳ vào Iraq, trên những chiếc Land Cruiser, Jeep và xe tải. Tiếp đó, họ lập căn cứ tại Sulaymaniyah (vùng núi Bắc Iraq thuộc kiểm soát người Kurd). Tháng 10, họ trở lại, mang theo hàng chục triệu đôla (giấy 100USD). Không lâu sau, trò mua chuộc bắt đầu có dấu hiệu tốt.

Một sĩ quan thuộc tổ chức an ninh đặc biệt (SSO) của Saddam Hussein đã cung cấp một CD-ROM chứa hồ sơ 6.000 nhân viên SSO với đầy đủ thông tin liên quan cá nhân và ảnh. Ngoài ra, Tim còn tuyển mộ nhóm siêu mật DB/ROCKSTARS (DB là mật danh chỉ Iraq). Với 100 điện thoại vệ tinh mang theo, Tim phát cho 87 tay ROCKSTARS tại Umm Qasr và Mosul. Mạng lưới thông tin gián điệp bắt đầu hình thành.

Baghdad được bán với giá 50.000USD

Al-jaburi (tên được đổi) là một trong những kẻ bán đứng Baghdad cho CIA. Ở độ tuổi 40, Al-jaburi phục vụ tổ chức an ninh đặc biệt (SSO) gần một thập niên. Cuối thập niên 80 của thế kỷ trước, ông bị sa thải khỏi SSO sau khi Saddam Hussein buộc tội nhóm thị tộc Al-jaburi dựng âm mưu đảo chính. Năm 1999, Al-jaburi trốn sang Jordan, gia nhập tổ chức chính trị đối lập Hòa hợp quốc dân Iraq (INA), nơi từ lâu có quan hệ với tình báo Mỹ.

Theo Ibrahim Janabi – thành viên INA làm việc trực tiếp với CIA tại Amman (Jordan), Mỹ bắt đầu dựng kịch bản mua chuộc tướng tá quân đội Iraq và sĩ quan an ninh thân cận Saddam Hussein từ tháng 10/2002 (5 tháng trước khi chiến dịch quân sự bắt đầu). Qua giới thiệu của Ibrahim Janabi, Al-jaburi được CIA giao một vai đặc biệt trong kịch bản. Buổi gặp đầu tiên với CIA được thực hiện trong một tiệm cà phê ở Amman vào ngày 18/10/2002.

Với máy kiểm tra nói dối, Al-jaburi bị CIA thẩm vấn liên tục nhiều ngày, trong đó có câu hỏi rằng, liệu ông tự nguyện hợp tác với Mỹ hay bị ép buộc và rằng ông sẽ hành xử như thế nào nếu anh, em mình cầm súng ở hàng ngũ Iraq. “Tôi giết nó!” – Al-jaburi trả lời. Ngày 22/11/2003, Al-jaburi ký hợp đồng làm việc, với mức lương 3.000USD/tháng và được đưa trước 9.000USD. 2 ngày sau, Al-jaburi đáp máy bay từ Jordan đến Washington.

2_Iraq

Ngày 5/11/2006, Saddam Hussein bị kết án tử hình bằng treo cổ và vụ xử tử diễn ra ngày 30/12/2006

Tiếp đó, nhóm Al-jaburi (13 thành viên, gồm người Iraq và Lebanon) được đưa từ Washington DC đến nơi hẻo lánh nào đó tại Texas. Trong hai tháng, họ được huấn luyện với 20 hướng dẫn viên, với các bài tập thể lực, cách thu thập thông tin tình báo, lập báo cáo, phương pháp theo dõi và rình mò… Sau đó, nhóm Al-jaburi được đưa đến căn cứ Hải quân Mỹ, học về chất nổ, cách đánh phá xe cơ giới, xe tăng, ống dẫn dầu, cột điện cao thế và đường hỏa xa…

Tháng 2/2003, Al-jaburi được đưa đến Kuwait, ở chung vài nhân viên CIA trong một biệt thự. Al-jaburi được cung cấp 50.000USD, máy định vị toàn cầu (GPS), điện thoại vệ tinh và căn cước Iraq giả cho thấy quá trình phục vụ quân đội Iraq. Ngày 11/3/2003, Al-jaburi đột nhập biên giới Iraq với hỗ trợ của tình báo Kuwait. Khoản tiền mặt 50.000USD mang theo được Al-jaburi dùng mua chuộc sĩ quan Iraq.

Người đầu tiên Al-jaburi móc nối là Ahmed (tên được đổi) – sĩ quan SSO làm việc trong khu dinh thự tổng thống (Saddam Hussein). “Tôi kể mọi thứ, rằng tôi đưa tên anh ta vào danh sách CIA… Tiếp đó, tôi trao 5.000USD”. Ahmed đớp mồi và tiết lộ toàn bộ vị trí trọng yếu của lực lượng Vệ binh cộng hòa chốt bên trong cũng như ngoại ô Baghdad.

Ahmed nói thêm rằng, Vệ binh cộng hòa được lệnh sẽ rút vào nội thành cố thủ, một khi Baghdad bị vây. Ngoài ra, Ahmed cũng chỉ rõ vị trí các ụ súng hạng nặng và dàn tên lửa dựng quanh Baghdad. Để do thám các địa điểm mà Ahmed cung cấp, Al-jaburi tìm gặp người bạn cũ A. Mashadani, Thiếu tá Cơ quan Tình báo Iraq (Mukhabarat), người đã bán đứng chế độ Saddam Hussein từ vài năm trước, khi bí mật gia nhập INA.

Trong 2 năm, A. Mashadani lén tiếp cận nhiều tài liệu siêu mật Mukhabarat và tuồn cho CIA thông qua Al-jaburi, trong đó có thông tin liên quan hệ thống tên lửa Iraq và kế hoạch di binh. Dùng chiếc xe riêng của Mukhabarat, A. Mashadani và Al-jaburi khảo sát địa hình và đánh dấu vào thiết bị GPS cầm tay. Vào giờ hẹn sẵn, Al-jaburi dùng điện thoại vệ tinh liên lạc CIA và báo cáo lại tất cả thông tin mình biết được.

Một trong những sứ mạng quan trọng của Al-jaburi là điều tra phi trường quốc tế Saddam. Al-jaburi có người bạn làm việc tại đây: Mahmoud, Chỉ huy trưởng Tiểu đoàn III thuộc SSO, chịu trách nhiệm an ninh phi trường. Al-jaburi đề nghị Mahmoud hợp tác với khoản mua chuộc 15.000USD. Chạng vạng ngày 23/3/2003 (3 ngày sau khi chiến sự bắt đầu), viên chỉ huy trưởng an ninh phi trường Mahmoud lái xe chở Al-jaburi (vận quân phục) và A. Mashadani (mang sắc phục Mukhabarat) vào bên trong phi trường.

Trong chiếc xe SSO, 3 người chạy ngang dọc đường băng, đánh dấu, lập bản đồ tất cả boong-ke cũng như tòa nhà, đếm từng binh lính bảo vệ sân bay và số vũ khí. Theo hướng dẫn CIA, 3 người thực hiện công tác trên 3 lần trong 3 đêm để bảo đảm tất cả chi tiết đều ăn khớp và chính xác. Đến lúc đó, nhóm sĩ quan tham mưu chiến dịch quân sự Mỹ mới nắm chi tiết toàn cảnh phi trường, biết từng ngóc ngách, từ chốt phòng thủ nào được xem yếu nhất đến vị trí nào được xem an toàn nhất để trực thăng Mỹ hạ cánh…

Ngày 26/3/2003, Al-jaburi về thăm gia đình gần Tikrit. Hôm sau, khi người anh, em ruột (kỹ sư làm việc tại Nhà máy Lọc dầu Bayji) được triệu tập khẩn cấp vào nhà máy để dọn cất tài liệu trước khi quân đội Mỹ đến, Al-jaburi quyết định đi theo. Tuy nhiên, đó là cái bẫy.

Chiếc xe Al-jaburi bất ngờ bị an ninh Iraq chặn và vây kín. Một thân nhân đã tiết lộ vỏ bọc Al-jaburi. Được đưa đến nhà tù nổi tiếng ghê rợn Abu Ghraib, Al-jaburi biết chắc mình sẽ bị giết. Bị trùm đầu, Al-jaburi bị trói tay treo móc trên trần rồi bị quất bằng dây điện và dùi cui… Cùng lúc, A. Mashadani cũng được cấp trên thông báo chuẩn bị nhận một nhiệm vụ đặc biệt.

Tại trụ sở thuộc Mukhabarat, A. Mashadani bất ngờ đối diện sĩ quan Mukhabarat, với súng lăm lăm chĩa vào mặt mình. Trong 6 tiếng, A. Mashadani bị tra tấn và bị thẩm cung về chương trình hành động với Al-jaburi. Vài ngày sau, Al-jaburi và A. Mashadani tiếp tục bị tra tấn. Một lần, an ninh Iraq đưa mẹ và vợ Al-jaburi vào trại giam nhằm uy hiếp tinh thần. Qua vách buồng giam, Al-jaburi nghe tiếng rên la của vợ và mẹ…

Vài ngày sau, cục diện chiến trường thay đổi và A. Mashadani và Al-jaburi được đưa đến Fallujah và sau đó Ramadi. Ngày 11/4/2003, khi tên lính canh cuối cùng tại trại giam Ramadi bỏ chạy, cư dân địa phương xông vào tù giải thoát A. Mashadani lẫn Al-jaburi. Vẫy cờ trắng, hai người nói với lính Mỹ rằng họ làm việc cho CIA. A. Mashadani lẫn Al-jaburi được đưa đến sân bay Baghdad, nơi nhân viên CIA chờ sẵn…

Nguồn : petrotimes.vn

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s