Những nền văn minh: Thiên đường trên Trần thế

1

Ảnh “El Capitan”, Ansel Adams, Mỹ

Lê Quỳnh Ba biên tập

Nền văn minh gắn liền với phong cảnh. Phong cảnh giúp định hình nên con người chúng ta và nơi ta sống. Nhưng không phải lúc nào tranh phong cảnh cũng mô tả thế giới như nó vốn có, mà thường thể hiện cái nhìn về những thứ ta muốn. Hình ảnh về 1 xã hội thông thường không chịu tác động của thế giới đang thay đổi trong mắt. Chúng có thể tượng trưng cho các giá trị chung của chúng ta. Đôi khi giúp ta thoáng nhìn thấy những thứ siêu nhiên.

1 Hình chụp của Ansel Adams, Mỹ. Thêm yêu đất Mỹ.

Một trong những bức tranh phong cảnh tuyệt vời nhất được chụp ở California mùa Xuân năm 1927. Một nhiếp ảnh gia trẻ tuổi kiêm nhà leo núi sành sỏi đi sâu vào công viên Yosemite (Yosemite National Park, USA) đầy tuyết phủ. Nhưng chuyến đi của ông không như kế hoạch, khi ánh nắng dần tắt, ông chỉ còn lại 2 chiếc đĩa thủy tinh. Trong lúc căng thẳng, ông đã chụp được 1 trong những tuyệt tác vĩ đại nhất về ảnh nghệ thuật của Mỹ hay ảnh phong cảnh: “Monolith, The Face of  Haft Dome, 1927” (Đá nguyên khối, Bề mặt của vòm núi bán nguyệt). Ansel Adams đã chụp được cảnh ngọn núi lớn dưới ánh sáng rực rỡ, nó có thể thay đổi cách nghĩ của người Mỹ về đất nước mình.

Simon Schama, Nhà Sử Nghệ thuật: “Khi Ansel Adams đến đây, ngọn núi hiện ra và ông như thể phải lòng luôn. Quan trọng hơn là ông không chỉ trở thành nhiếp ảnh gia của Yosemite mà còn là nghệ sĩ lớn ở đó, tu sĩ của ngôi đền tảng đá, ánh sáng và dòng nước, 3 thứ mà ông tạo ra trong bức tranh phong cảnh treo nơi bàn thờ. Vì thật là như vậy, là 1 nước Mỹ tạo ra sự oai nghiêm, chói lọi, vượt lên cả tòa nhà chọc trời cao nhất và mạnh mẽ hơn cả tập đoàn kinh tế oai hùng nhất. Ông muốn Yosemite thuộc về tất cả mọi người. Vì đây là vùng đất của chúng ta”. “Đây là đất của bạn, là đất của tôi, từ Cali đến New York, từ những cánh rừng tới những con vịnh. Mảnh đất này sinh ra là để thuộc về tôi và bạn…”. Tới những năm 1950 các bức ảnh của Ansel Adams đã trở thành hình ảnh tiêu biểu về miền Tây nước Mỹ.

2. Tranh “Tung sơn Tiêu tự”, Lý Thanh, Trung Hoa: Trung Hoa an bình

2

Hình: Tranh vẽ “Tung sơn Tiêu tự” của Lý Thanh, TK 10th

Nhưng những bức ảnh phong cảnh đẹp như tranh của ông chỉ là phiên bản mới nhất của hình thức nghệ thuật ra đời từ 1.000 năm trước ở Trung Hoa. Vào TK 10, Trung Hoa bị phân chia thành nhiều chiến quốc tranh giành quyền thống trị. Do các đội quân đốt phá làng mạc nhà cửa nên vùng thôn quê chẳng còn trật tự gì nữa. Thế nên, chẳng có gì lạ khi giai đoạn chiến tranh tàn phá này lại thôi thúc các nghệ sĩ vẽ ra những khung cảnh yên bình. Bức tranh “Tung sơn Tiêu tự” của Lý Thanh (A Solitary Temple Amid Clearing Peaks, TK 10th, Li Cheng). Khi triều đại Nhà Tống tái thiết lập trật tự vào năm 960, họ tìm đến nghệ thuật mới này để khẳng định các giá trị của mình. Simon Schama, Nhà Sử Nghệ thuật: “Tôi đang xem 1 thông điệp phản ánh sự thay đổi sâu sắc thuộc về tri giác của con người. Vì vào thời Nhà Tống ở Trung Hoa, nghệ thuật vẽ tranh phong cảnh bằng bút lông và mực mới trở thành dấu hiệu thực sự về nền văn minh cả với người vẽ tranh và người sở hữu những cuộn tranh quý giá này. Bức tranh vẽ ngôi đền đơn độc giữa những ngọn núi ra đời trong giai đoạn này. Đây là bức tranh của 1 trong những nghệ sĩ vĩ đại đầu tiên về tranh phong cảnh, Lý Thanh.

Jay Xu, Bảo tàng Nghệ thuật châu Á ở San Francisco: “Nghệ thuật vẽ tranh phong cảnh ở Trung Quốc thực sự thăng hoa vào TK 11. Trước đó, hội họa tất nhiên cũng có các yếu tố phong cảnh, nhưng chúng không được coi là 1 đề tài. Tôi cho rằng lý do liên quan nhiều đến Triết học”. Dưới đôi tay của Lý Thành, nghệ thuật tranh phong cảnh không mô tả thế giới tự nhiên mà  là 1 kiểu tư tưởng chính thống, thúc đẩy trật tự. Simon Schama, Nhà Sử Nghệ thuật: “Ông là nghệ sĩ tài hoa về hoạt động của con người. Từ người đàn ông đang cưỡi trên lưng ngựa, tới người đang dùng bữa hay có thể là những chiếc bánh bao được hấp trong căn bếp phía sau. Đây là thế giới của chúng ta, đây là nơi ta sống”. Nhưng điều khiến tranh Lý Thành trở thành tuyệt tác, chính là nó vượt ra khỏi giáo điều của hoàng tộc. Khi từ từ ngước mắt lên phía trên, những câu hỏi mà ta đặt ra cũng trở nên phức tạp hơn. Lý Thành đã thay đổi sắc độ của mực vẽ, nó nhạt hơn, tinh tế hơn và tao nhã hơn. Nó cho thấy độ sâu, nhưng là chiều sâu trong phản ứng chúng ta, cũng như chiều sâu của cảnh vật, của cái gì là tự nhiên, cái gì vượt qua vẻ bề ngoài, điều gì đã lay chuyển vũ trụ, và như thế nào sự tác động giữa dòng nước chảy và bề mặt cứng của đá bị bào mòn lại khiến ta thấy hài hòa và cho ta cái cảm xúc mà người Trung Hoa  nào cũng muốn, bình yên và hạnh phúc. Tranh của Lý Thành miêu tả vũ trụ như 1 khoảng không hài hòa, trong đó vạn vật và con người dù nhỏ bé đến đâu đều có 1 vai trò nhất định. Jay Xu, Bảo tàng Nghệ thuật châu Á ở San Francisco: “Người Trung Hoa có niềm tin căn bản là năng lượng của tự nhiên tồn tại dưới dạng KHÍ. Nguồn năng lượng vô hình này tuần hoàn quanh thế giới tạo ra và hình thành nên các dạng sống của tự nhiên. Tự nhiên thể hiện bản thân trong thiên đường nằm bên trên chúng ta cũng như trên Trái đất dưới dạng núi rừng, cây cối”. Thế nên, tự nhiên luôn đóng vai trò vô cùng quan trọng trong cuộc sống của người Trung Hoa.

3 . Tranh cuộn, Trung Hoa: tranh phong cảnh thể hiện nho nhã, văn minh.

Tới cuối thế kỷ 11, nghệ thuật vẽ tranh phong cảnh đã có chổ đứng vững chắc trong thời Nhà Tống của Trung Hoa. Các trường Mỹ thuật được thành lập và người ta viết sách về triết học và cách vẽ tranh phong cảnh. Người Trung Hoa rất nho nhã, và sự nho nhã đó thể hiện bằng biết vẽ. Khi châu Âu chìm trong thời kỳ Tăm tối và nền văn minh ở Trung Mỹ dần sụp đổ, người Trung Hoa đang giao thương  bằng tiền giấy và dùng thuốc súng. Thậm chí những người muốn làm quan phải thể hiện tài năng nghệ thuật và vượt qua kỳ thi viết thư pháp, mới được phục vụ triều đình. Từ đó, nảy sinh 1 kiểu vẽ tranh phong cảnh gần gũi hơn, gọi là Tranh cuộn.

 Colin Mac Kenzie, Bảo tàng Nghệ thuật Nelson Atkins: “Đây là 1 bức tranh cuộn, đây là 1 trong những báu vật quý giá nhất của chúng tôi, nó minh họa 1 trong những bài thơ nổi tiếng nhất trong lịch sử văn hóa Trung Hoa do nhà thơ Tô Thức (1037 – 110) hay còn gọi là Tô Đông Pha sáng tác (Minh họa bài thơ “The Second Prose Poem on the Red cliff”, Hậu Xích Bích Phú). Cách vẽ chân dung rất độc đáo. Tô Thức theo trường phái phục hưng, ông nấu ăn rất giỏi, vốn là 1 đầu bếp, ông đã sáng tạo ra rất nhiều món ăn. Ông ấy đang cầm rượu và cá, họ sẽ ăn bữa tối ở Xích Bích”. Jay Xu, Bảo tàng Nghệ thuật châu Á ở San Francisco: “Phải ngắm tranh cuộn tỉ mỉ, trong khung cảnh riêng tư, kiểu như với vài người bạn. Ta chỉ mở tranh cuộn bằng khoảng cách giữa 2 tay. Mở 1 bên rồi tới bên kia, làm vậy ta sẽ tiến dần qua không gian và thời gian. Có thể nói điều này như bạn đang xem 1 bộ phim vậy ”. Họa sĩ này tên là Kiều Trung Thường (Qiao Zongcheng, khoảng 960-1127). Đây là bức tranh duy nhất được biết tới của ông. Những đường nét trên thân cây rất đẹp, chúng rất chân thực và tinh tế, những chiếc lá nhọn rất tự nhiên. Và ta sẽ đi qua sông Dương Tử, những con sóng trên sông được vẽ vô cùng tinh tế. Nghệ thuật vẽ tranh phong cảnh đã đánh dấu việc Trung Hoa vươn lên 1 trong những nền văn minh vĩ đại nhất trên thế giới.

3

Hình: Một phần tranh cuộn “Minh họa bài thơ Hậu Xích Bích Phú của Tô Thức”, khoảng TK 11, người trong tranh vẽ là Tô Thức.

Hậu Xích Bích Phú (Tô Thức)

Ngày mười rằm tháng mười năm ấy
Từ Tuyết Đường đứng dậy ra đi
Lâm Cao thẳng lối đường về
Khách theo qua giốc Hoàng Nê hai người.
Sương tuyết xuống lá tơi bời rụng
Dưới bóng người trên bóng trăng cao
Đoái trông phong cảnh vui sao
Vừa đi vừa hát nghêu ngao mấy bài.
Than thở có khách chơi rượu hiếm
Biết lấy gì chuốc chén vui chung
Rượu mà có, nhắm cũng không
Đêm nay gió mát trăng trong cũng hoài.
Khách rằng: “Lúc vừa rồi nhắc vó
Được cá vào vây nhỏ miệng to
Tùng Giang tựa giống cá lô
Biết sao tìm được một vò rượu đây.”
Liền quay lại giãi bầy cùng vợ
Vợ thưa rằng: “Nhà có rượu tăm
Rượu này cất đã lâu năm
Dành cho thầy lúc bất thần mua vui.”
Rượu với cá tức thời tay xách
Lại theo dòng Xích Bích cùng đi

Sông reo cách bến xưa kia
Núi cao, trăng nhỏ, nước chìa đá ra.
Kể ngày tháng nào xa chi mấy
Mà non sông đã thấy khác nhiều
Ta liền vén áo trèo leo
Với non, vạch cỏ, vờn beo, cưỡi rồng.
Vin tổ cắt, nhòm cung Thuỷ tế
Khách chậm chân không thể theo cùng
Kêu lên một tiếng hãi hùng
Cỏ cây vang động núi sông ồn ào.
Ta cũng thấy nao nao ghê rợn
Lòng chập chờn không muốn ngồi dai
Xuống thuyền theo nước sông trôi
Nhởn nhơ một lá chèo bơi đi về.
Nửa đêm lúc bốn bề im phắc
Bỗng miền đông chim hạc bay ra
Cánh xoè tựa bánh xe hoa
Xiêm đen áo trắng lướt qua nhẹ nhàng.
Vút đâu tiếng kêu vang vọng xuống
Vượt thuyền ta theo hướng tây đi
Đêm khuya khách trở ra về

Ta vào trong trướng say mê giấc vàng.
Thấy Đạo sĩ xênh sang khăn áo
Đến Lâm Cao bèn dạo qua chơi
Chào ta Đạo sĩ ngỏ lời:
“Cuộc chơi Xích Bích có vui chăng là?”
Hỏi tên họ khách đà lúng túng
Ô là ta biết đúng ngươi rồi:
“Lúc đêm bay vút ngang trời
Qua thuyền ta chẳng ngươi thời còn ai.”
Đạo sĩ mỉm miệng cười không nói
Ta giật mình cũng vội tỉnh ra
Đứng lên mở cửa trông qua
Tuyệt mù nào thấy người đà ở đâu.

 

4. Lahore, Pakistan, Tranh thảm thể hiện Vườn Ba tư, Thiên đường.

4

Hình: Vườn Shalamar, Lahore, Pakistan, (1641 – 2015 – nay).

Tiến xa hơn về phía Tây tới thế giới Hồi giáo, phong cảnh cũng được khắc họa theo cách lý tưởng hóa, nhưng ở đây cái người ta phản ánh là thống trị thế giới tự nhiên. Để tránh nắng nóng và bụi bặm ban ngày, các tín đồ sẽ lên kế hoạch xây dựng những thiên đường trên mặt đất. Jamal Elias, Đại học Pennsylvania: “Việc coi thiên đường như khu vườn là khái niệm in sâu trong Đạo Hồi, vì vậy kinh Coran đã nói thiên đường là khu vườn trên sườn núi, với những túp lều mà người ta có thể ngồi trong đó, xung quanh đầy hoa và cây ăn trái. Kinh Coran đã nói thiên đường gần với nước chảy bên dưới. Ở Ba tư nhưng khu vườn theo đạo Hồi như vậy được gọi là Paridaiza, nghĩa là tả khu vườn kín, nguồn gốc của từ thiên đường trong tiếng Anh (paradise). Ngoài việc xây dựng các khu vườn, những nhà lãnh đạo Hồi giáo như người Mughal còn xây cả các cung điện và các giáo đường được trang trí bằng hình ảnh cây cối, núi đồi và thảm thực vật tươi tốt.

Nhưng cảnh quan được thể hiện phong phú và tao nhã nhất trong 1 hình thức tồn tại lâu đời hơn thế. Maya Jasanoff, Đại học Harvard: “Thiết kế nhà vườn là họa tiết được thực hành và phát triển bởi người Ba tư, người Mughal ở Bắc Ấn Độ, hình ảnh khu vườn được dệt trên tấm thảm, như 1 cách đưa hình tượng thiên nhiên vào nghệ thuật trang trí.

Nghề dệt thảm được cho là bắt nguồn từ Trung Á hơn 2.000 năm trước, nhưng chính nền văn hóa Hồi giáo đã biến nó thành 1 hình thái nghệ thuật. Mọi chi tiết trên thảm đều thuộc về thế giới Hồi giáo. Shahid Hassan Sheik, nhà sản xuất thảm: “Và trong các mẫy thảm đều có kiểu vườn trăm hoa đua nở. Không thể nói đây là thảm trãi sàn mà là 1 bức tranh trên sàn nhà”. Một tác phẩm có thể dùng trong cuộc sống. Bạn có thể ngủ, đi lại, ngồi trên đó. Có thể nói nó kết hợp nghệ thuật với nghề thủ công. Các tấm thảm hiện diện và được dệt khắp nơi. Từ những túp lều dân du mục Beduin tới cung điện của người Sa, Ba tư. Chúng vừa là đồ trang trí xa hoa vừa giúp chống lại cái lạnh trong đêm sa mạc. Trong văn hóa Hồi giáo những tấm thảm không chỉ giúp cuộc sống thoải mái hơn mà còn là biểu tượng của nền văn minh.

Những người thợ dệt thảm là các nhà thiết kế, họ tạo ra những thiết kế của riêng mình, họ có cách thể hiện riêng. Việc này có thể mất 2 tháng hoặc 2 năm. Shahid Hassan Sheik, nhà sản xuất thảm: “Người xem có thể hình dung họ đã tốn bao nhiêu thời gian, cùng cảm nhận và sự gắn bó với từng tấm thảm”. Vì vậy mỗi tấm thảm đều ẩn chứa 1 câu chuyện. Bổn phận của chúng tôi là muốn những di sản nghệ thuật này được lưu truyền cho thế hệ sau.

5. Tangier, Maroc. Tưởng tượng về thiên đường tốt đẹp.

Rất nhiều truyền thống Hồi giáo không chấp nhận khắc họa hình ảnh con người trong nghệ thuật, những người thợ sáng tạo ra cảnh quan với những màu sắc tươi sáng và hoa văn phức tạp, thậm chí ngày nay ta vẫn có thể thấy dấu ấn của các bộ lạc và tộc người khác nhau trong cách họ sử dụng màu nhuộm và kiểu hoa văn. Abdelmajid Rais El Fenni, Nhà sưu tập thảm: “Trong văn hóa Hồi giáo hoa văn rất quan trọng, vì đó là cách thể hiện bản thân, vì chúng tôi không được phép làm 1 số việc. Chúng tôi không được vẽ người, có thể thấy họa tiết về nước, bầu trời, hoa lá, cây cối, các hình khối, đường nét. Nhưng bạn có thể cảm nhận nó ẩn chứa 1 thông điệp. Luôn có 1 con mắt nhỏ ở đâu đó để dõi theo bảo vệ, thay 1 câu nói cảm ơn. Đôi khi trong hình thêu, tôi nhìn cả đầu 1 chú chim, chỉ là cái đầu nhỏ thôi không phải cả người nó. Có thể thấy họa tiết cũng có ý nghĩa giống như 1 bức tranh vậy. Mỗi tấm thảm được dệt ra đều là duy nhất, đó là cảm hứng ngay tại thời điểm đó. Nhưng cuộc sống là 1 khuôn mẫu, đôi khi ta quên mất điều đó, nhưng luôn là thế. Thời hoàng kim thảm là vào TK 17 khi các tấm thảm được trang trí nhiều họa tiết và mô típ, thậm chỉ cả động vật, trở thành những khu vườn thiên đường có thể mang đi được.

Giống như những ngọn núi trong tranh thủy mặc của Trung Hoa, những hình ảnh này không nhằm phản ảnh thế giới tự nhiên, mà thể hiện những gì ta trân trọng nhất trong đó. Jamal Elias, Đại học Pennsylvania: “Tất nhiên, tấm thảm không phải là bức tranh mô tả chính xác những có trong thế giới tự nhiên mà tượng trưng cho ta nghĩ là những gì đẹp nhất. Tương tự như vậy, có người nghĩ nó không phải tấm bản đồ của thiên đường hoặc kiếp sau hay 1 thế giới khác mà tượng trưng cho những gì ta coi là tốt đẹp nhất trên thiên đường”.

Dù cả đạo Hồi và đạo Thiên Chúa đều tin vào câu chuyện Adam, Eva và vườn Địa Đàng, nhưng nhiều tín đồ Cơ đốc vẫn hoài nghi về những khu vườn. Tranh của Lucas Cranach the Elder, Adam và Eva, 1538. Chính Adam đã cắn quả táo và Eva phạm phải tội lỗi đầu tiên. Nhưng chủ nghĩa nhân đạo thời kỳ Phục hưng lại có cái nhìn khác về con rắn cám dỗ.

 

6 .Veneto, nước Ý. Dinh thự Barbaro. Thiên đường trần thế.

 Đây là biệt thự Barbaro, nó được xây theo kiểu kết hợp hoàn hảo giữa trang trại, tu viện, phòng trưng bày tranh và tiệm làm tóc. Một nơi mà các tư tưởng văn hóa về thời kỳ Phục hưng và sự phức tạp có thể đáp ứng các thú vui trần tục nhất của con ngừơi. Một công trình hài hòa, diễm lệ và thoải mái, nơi mùa hè có thể kéo dài mãi mãi. Jonathal Jones, Nhà Sử và phê bình Hội họa: “Leona de Vinci đã viết rất hay: Một trong những giá trị hội họa là nó có thể phô bày vẽ đẹp của tự nhiên và có lẽ người tình của bạn trong tự nhiên ngay giữa mùa Đông. Khi mùa Đông tới, bạn chỉ ở trong nhà, nhưng bạn có thể nhớ tới các đồng cỏ và các chuyến dã ngoại thú vị trong mùa hè  khi ngắm nhìn bức tranh về nó”. Nếu mở rộng điều đó thành lý thuyết về nghệ thuật phong cảnh, có thể nói phương thức biểu đạt ham muốn hòa mình vào thiên nhiên đầu tiên của con người là tạo ra thế giới của những kẻ thoát tục.

5

Tranh tường trong Dinh thự Barbaro, nước Ý, Paulo Veronese vẽ khoảng 1560.

Người xây dựng biệt thự nghỉ dưỡng này là Daniele Barbaro,1 quan chức Venice, với vốn kiến thức về thiên văn, văn học, âm nhạc và toán học, Daniele đã cùng người bạn kiêm kiến trúc sư Andrea Palladio sống ở Rome, nghiên cứu về kiến trúc và nghệ thuật cổ điển cổ đại. Năm 1549, ông thừa hưởng 1 căn biệt thự vùng quê và 2 người họ bắt đầu dự án kéo dài 12 năm, biến nó thành căn nhà mơ ước của chủ nghĩa Phục hưng. Để trang trí cho biệt thự họ đã mời 1 trong những họ sĩ vĩ đại nhất nước Ý, Paulo Veronese. Simon Schama, Nhà Sử Nghệ thuật: “Căn biệt thự này đặc biệt ở cảm giác tinh nghịch. Daniele Barbaro là 1 học giả uyên thâm, tất nhiên Andrea Palladio cũng vậy. Họ đã đọc hết các sách về quang học, luật phối cảnh, thật ra còn viết vài cuốn. Daniele đã dịch tác phẩm cổ điển nổi tiếng về kiến trúc. Sự ám ảnh về các quang ảnh, sự haì hòa về toán học đã tạo ra kiểu tiếp cận như thuật toán học về căn nhà hoàn hảo, nó đã biến những bức họa của Paulo Veronese thành niềm vui.

Các hành tinh và các vị thần vui đùa trên trần nhà và nó là những gì ta có. Ở giữa là 1 phụ nữ da trắng bí ẩn. Các vị thần của sự sung túc và của cuộc sống gia đình. Tất cả đều được vẽ bằng sự thảnh thơi, thầm kín. Đó là kiến trúc của thật và giả, bạn nghĩ đây là điển tích rồi bỗng nhiên nhìn thấy 1 con vẹt. Mới đầu bạn nhìn thấy một người phụ nữ mặc trang phục lộng lẫy của thế kỷ 16, kiểu như bộ đồ đi chơi cuối tuần. Bên cạnh là bà vú có vẻ đang bận bịu công việc, vô cùng cứng nhắc. Bạn chợt nghĩ, chờ chút, họ không phải những vị thần. Ở đây có gì đó rất đặc biệt, đó là sự kết hợp giữa cái chết và sự trường tồn, giữa thực tế và ảo ảnh, điều đó thể hiện xuyên suốt ở mọi thứ trong biệt thự. Những ô cửa sổ thật và giả. Căn biệt thự trở thành căn nhà vui chơi vô cùng thú vị”.

Dinh thự Barbaro lấy ý tưởng phổ biến thời Trung cổ về khu vườn là tội lỗi và thay đổi ngược lại. Biến khung cảnh dành cho sự thông thái và hóm hỉnh. Điều làm nên nét độc đáo của dinh thự Barbaro thời đó là họ không vẽ các vị thần trên trần, mà là người thường, gia đình Barbaro và những người bạn bị đưa vào khung cảnh được thần thoại hóa. Bên ngoài những bãi cỏ được cắt tỉa hoàn hảo của biệt thự, thời kỳ giữa TK 15 chìm trong dịch bệnh và nổi loạn, mùa màng thất bát và các cuộc nổi dậy của tá điền. Trong thực tế các khung cảnh thơ mộng mà các bức tranh hài ở biệt thự Barbaro là thế giới tưởng tượng của kẻ thoát ly thực tại. Tranh phong cảnh muốn phản ánh cuộc sống của dân thường phải quay lưng lại với thế giới thanh bình tưởng tượng của những quý tộc đam mê lạc thú.

 

7 . Barvaria, Đức. Tranh phong cảnh mong tránh xung đột phe phái tôn giáo gay gắt ở nước Đức đang chia cắt

6

Hình: Phong cảnh và Tiều phu, Albrecht Altdorfer, 1522

Ở phía Bắc 1 kiểu xây dựng thế giới khác đang hình thành và những khu rừng tối tăm triền miên ở Đức sẽ góp phần ươm mầm cho 1 quốc gia.

Jonathal Jones, Nhà Sử và phê bình Hội họa: “Tranh phong cảnh có liên hệ mật thiết với sự ra đời của tinh thần dân tộc. Đơn giản là các quốc gia theo lẽ tự nhiên là những nơi khác biệt về địa lý, chúng có điều kiện phong cảnh địa lý khác nhau. Vì vậy nghệ thuật tượng trưng cho cảm nhận về nơi đó. Khi các nghệ sĩ Đức khám phá ra chủ nghĩa Phục hưng và các kỹ thuật đó họ bắt đầu vẽ chân dung 1 thế giới hoàn toàn khác”.  Tranh “The Stigmatisation of St Francis” 1507. Albrecht Altdorfer đã dành cả đời để vẽ tranh về tôn giáo . Nhưng dần dần lớp cây bụi nắm quyền kiểm soát tới khi Albrecht Altdorfer  tạo 1 câu chuyện về thế giới tự nhiên. Simon Schama, Nhà Sử Nghệ thuật: “Có vẻ hơi quá khi nói bức tranh nhỏ bé, sơ sài này sẽ tạo ra 1 cuộc cách mạng về nghệ thuật, nhưng sự thật là vậy. Vì đây là 1 trong bức tranh phong cảnh đúng nghĩa đầu tiên, tức là câu chuyện xoay quanh thiên nhiên. Có cảm giác bức tranh được ai đó vẽ rất nhanh và chớp nhoáng. Mọi suy nghĩ của người họa sĩ đều được chuyền thẳng ra tay. Albrecht Altdorfer  đang vẽ vào thời kỳ mà nước Đức đang bị chia cắt thành hàng chục xứ. Nhiều nứơc nhỏ gây chiến với nhau và xung đột giữa những người Cơ đốc và chống đối ngày càng gay gắt, nhưng cũng trong thời gian này rất nhiều người nói tiếng Đức họ có chung lịch sử và cá tính. Altdorfer  đang lâm vào tình thế khó khăn, ông sống trong 1 thị trấn Cơ đốc đang bắt đầu bùng nổ cái gọi là Cải cách Kháng nghị, không những cuộc cải cách đang bắt đầu mà Altdorfer còn theo đạo Cơ đốc kiêm người tổ chức các nghi lễ Cơ đốc. Nhưng cuộc cải cách lại nhằm vào các bức tranh và sự sùng bái thần tượng. Thông qua bức tranh này ông gần  như bỏ qua vấn đề xung đột phe phái tôn giáo gay gắt, bằng cách ám chỉ điều gì đó thuộc về tôn giáo. Nó không chỉ gợi nhớ về tấm thân của Chúa trên cây Thánh giá, với đôi tay bị kéo ra và đóng đinh vào gỗ. Thật ra đây là bức tranh ẩn chứa thông điệp tôn giáo. Họ vẽ tranh phong cảnh nhưng nó truyền cảm hứng. Và Altdorfer có linh cảm người ta sẽ cần bức tranh này, nó có thể mang đi được chứ không nằm yên trong nhà thờ như bức họa bàn thờ nó không dính lên tường như tranh bích họa. Bạn có thể sở hữu, mang nó đi khắp nơi. Một hình thức nghệ thuật mới đã ra đời ở đây và Altdorfer biết rất rõ điều này.

Đầu thế kỷ 16, cách mạng về công nghệ in và Altdorfer là người ứng dụng rất sớm. Rất nhiều bản khắc kẽm và khắc gỗ sẽ mở rộng đối tượng nghệ thuật, những người theo đạo Cơ đốc hoặc người Phản Kháng có thể mua được. Tranh của Altdorfer muốn đoạn kết có hậu của quốc gia bị phân chia thông qua sức mạnh của phong cảnh.

Sau thế chiến II, nước Đức lại bị chia cắt và Bức tường Berlin là biểu tượng cho sự chia cắt đó. “Một trong những tác phẩm đời thường nhất hồi cuối TK 20 là Bức tường Berlin. Thử nghĩ mà xem, bức tường đó chạy ngang qua 1 quốc gia từng là thống nhất và nhằm mục đích chia cắt nó. Người ta đã làm gì với bức tường đó. Họ biến nó thành 1 tác phẩm nghệ thuật công cộng. Người ta mang bình xịt sơn và phủ lên đó đủ loại tranh ảnh và các câu khẩu hiệu. Đó là tấm phông nền sống động, không ngừng thay đổi dành cho việc thể hiện chính trị và thẩm mỹ. Bức tường được xây để chia cắt con người nhưng nó lại trở thành nơi đối thoại và bày tỏ thẩm mỹ.

 

8 .Pieter Bruegel the Elder, Hà Lan. Khung cảnh sống bao la và vị trí nhỏ bé của con người.

Một họa sĩ khác chịu tác động của quê hương ngày càng chia cắt là học giả người Hà Lan là Pieter Bruegel the Elder. (Tranh “Những thợ săn trong tuyết” , 1565). Nhưng thay vì phân chia người dân ở những tiểu quốc thấp kém thành phe chống đối và phe Cơ đốc. Simon Schama, Nhà Sử Nghệ thuật: “Tranh phong cảnh của Bruegel tìm kiếm sự thống nhất về điều kiện sống của con người. Là người hay đi nhiều nơi, ông đã từng thực hiện hành trình dài qua dãy Anpơ đến Ý. Trong bức tranh “Những thợ săn trong tuyết” này, Bruegel kết hợp hình ảnh dãy Anpơ với 1 ngôi làng ở Hà Lan nơi cao nhất nên phong cảnh đa dạng. Hình ảnh này xuất hiện trong vô số thiệp Giáng sinh, nhưng khi quan sát kỹ hơn, bức tranh này không chỉ nói về niềm vui trong dịp Giáng sinh. Những thợ săn này hầu như không gặp thuận lợi gì. Một con cáo gầy còm bị treo trên sào của họ. Còn lũ chó chật vật nhấc chân lên lớp tuyết dày và mệt mỏi như các chủ nhân của chúng.

7

Hình: Tranh “Những thợ săn trong tuyết” , Pieter Bruegel the Elder vẽ 1565.

Bruegel đã vẽ những bức tranh xúc tích nhìn thoáng qua không hề thấy mệt mỏi . Vào 1 mùa Đông dài và mệt mỏi nhất mà không ai có thể quên nổi ở Hà Lan. Hãy nghĩ 1 chút về Bruegel, cách khiến ta nhìn vào những bức tranh này. Một mặt chúng ta thấy rất nhiều chi tiết, nhìn đâu ta cũng thấy các chi tiết về hoạt động, làm việc và chơi đùa. Những người lướt trên mặt băng. Mắt chúng ta như chuyển từ 1 ngôi làng trên núi tới 1 nơi khác hẳn, 1 ngọn núi đóng băng, hay cửa sông bị cơn bão quét qua, tới mặt biển rộng. Nhưng cũng có những lúc cách sắp xếp bố cục đơn thuần của Bruegel, khiến mọi thứ kết hợp với nhau trong 1khung cảnh vô cùng rộng lớn (Tranh Ngày Ảm đạm). Nó khiến ta dừng lại, trầm ngâm, thưởng ngoạn. Và nếu chúng ta may mắn nhìn thấy những bức tranh tuyệt vời này, ta dường như hiểu ra tất cả. Điều kiện sống của con người và vị trí nhỏ bé của chúng ta ở trong đó.

Song những nỗ lực của Bruegel nhằm nhấn mạnh mối quan hệ ràng buột không ngăn nổi làn sóng chiến tranh. Năm 1569, thành phố Antwerp quê hương ông rơi vào tay đội quân chinh phạt Tây Ban Nha. Tòa án dị giáo tiến vào. Các quốc gia vùng thấp bị chia tách khi phe chống đối ở phía Bắc nổi dậy, và sau 1 cuộc chiến kéo dài nhiều thế hệ, nước Cộng Hòa Hà Lan ra đời.

9 .Beemster, Hà Lan. Nhờ cối xay gió khai hoang hồ tạo môi trường sống.

 Vào TK 17 ở Hà Lan nghệ thuật và tranh phong cảnh tập trung vun đắp tinh thần dân tộc. Ở đây họ không nói nhiều về việc xâm chiếm mà là khai hoang ở biển. Simon Schama, Nhà Sử Nghệ thuật: “Sở dĩ người Hà Lan rất chú trọng vào khung cảnh này là vì họ phụ trách khai khẩn rất nhiều vùng đất đó. Có 1 câu nói như thế này: “Chúa kiến tạo ra thế giới, nhưng người Hà Lan xây dựng đất nước của mình.”. Và điều này đúng khi họ đổi mới nghệ thuật vẽ tranh phong cảnh. Vùng này có tên là Beemster, 1 vùng biển nội địa của Jan-nô-zê rộng hơn 80.000 ha, đã được biến thành đồng cở tốt tươi trong khoảng thời gian từ năm 1607 – 1612, khi Hà Lan đang có chiến tranh. Người ta khai hoang cùng với 43 chiếc cối xay gió bơm nước ra ngoài. Đây là công cuộc vô cùng táo bạo. Hơn 80.000 ha được biến thành đồng cỏ tốt tươi, từ đó phục vụ các thành phố không ngừng mở rộng. Đó không chỉ là địa hình đất đai mà còn là quê hương nơi họ sinh ra, đó là Vùng đất thấp, theo tiếng Hà Lan nghĩa Nertherland.

8

Hình: Tranh Cối xay gió ở Wijk bij Duurstede, Jacob van Ruisdael vẽ 1670

Khi nước Cộng Hòa Hà Lan phát triển, ngành hội họa của họ cũng lớn mạnh theo. Trong bức tranh nổi tiếng này Jacob van Ruisdael đã biến biểu tượng của Hà Lan thành 1 người hùng theo đúng nghĩa của nó. Ruisdael có tài khai thác những hình ảnh thân thiết và quen thuộc, và không gì gần gũi bằng chiếc cối xay gió. Phóng đại hết mức để nó trở thành thứ gì đó lớn lao, anh hùng, mang ý nghĩa về mặt anh hùng với ai nhìn thấy nó. Ruisdael là 1 nhà biên kịch về phong cảnh, còn đây là sân khấu lớn. Những cái bóng lớn bao trùm lên cảnh vật, những người phụ nữ đội mũ che kín mặt đang vội vã về nhà và rồi tôi nghĩ tới ngày tháng. Bức tranh này được vẽ vào 1670, đó là thời điểm người dân Hà Lan cảm thấy lo lắng và căng thẳng khi đang đơn độc giữa châu Âu. Những thế lực bên ngoài ghen tỵ với sự giàu có của bạn và âm mưu chống lại bạn. Đó chính là Anh và Pháp, đó là 2 năm sau khi bức tranh hoàn thành, Hà Lan gần như bị nhấn chìm dưới 2 quốc gia thù địch này. Chẳng phải vô tình khi 2 cánh quạt của cối xay tạo thành cây Thánh giá của Chúa Giêsu và nghệ thuật thật che dấu lòng mộ đạo. Hãy nhìn lên bầu trời đi, trên trời có 1 khoảng trống chính là sự cộng hưởng thị giác của chữ thập đó, và ánh sáng của Chúa Trời đang chiếu xuống, để cứu người Hà Lan thoát khỏi thời khắc nguy hiểm. Nếu là người Hà Lan, chắc hẳn bạn nhớ câu nói: “Cối xay gió chỉ cần có gió để xoay cánh quạt, còn con người cần hơi thở của Chúa để hành động”. Vấn đề là đừng bao giờ quên lời dạy của Chúa, bạn có giao kèo với Chúa, bạn là người Hiện đại được người lựa chọn. Hãy nhớ tới điều đó khi nhìn cối xay gió. Giống như người Trung Hoa trước kia, các nghệ sĩ châu Âu như Altdorfer và Van Ruisdael đã làm những thay đổi xã hội lớn.

 

10. John Constable, Anh. Chủ nghĩa Lãng mạn. Tranh thôn dã chống đô thị hóa.

9

Hình: Tranh “The Hay Wain”, John Constable, 1821.

Điều này đã tác động đến những người Anh như John Constable. Việc kết hợp tính tò mò về khoa học với quan điểm ngày càng gay gắt về xã hội công nghiệp đang đô thị hóa quá nhanh của họ. Phong trào này được gọi là chủ nghĩa Lãng mạn. “ Nghệ thuật vẽ tranh phong cảnh đã khẳng định được chổ đứng, nhất là ở Anh. Khi quốc gia này đang thay đổi rất nhiều nhờ công nghiệp hóa. Khi mọi người vẽ phong cảnh trong kỷ nguyên Công nghiệp hóa, họ cũng nói tới đồng quê, nơi thôn dã, những nơi không bị ảnh hưởng không gian mới đang được dựng nên, mang đậm chất đô thị bận rộn, bẩn thỉu và công nghiệp”.

 

11. Josep Malop William Turner. Các cuộc chinh phạt tàn phá văn minh và bị báo ứng.

10

Hình: “Lâu đài Raby, của Bá tước Darlington”, Josep M W Turner 1817.

Josep Malop William Turner người cùng thời với Constable đã sử dụng những môi trường tự nhiên đặc thù này để nói về các cuộc đấu tranh mang đầy ngụ ý. Ông coi cảnh vật là hình ảnh ẩn dụ thể hiện nền văn minh châu Âu bị tàn phá bởi các cuộc chinh phạt của Napoleon, Hannibal, nơi mà các cá nhân được miêu tả nằm dưới sự kiểm soát thế lực đang bành trướng. Những hình ảnh tạo cảm giác kinh hoàng như thế này, được cho là khơi gợi cái gọi là sự hùng vĩ. Kevin Avery, sưu tập săn ảnh: “Sự hùng vĩ chỉ là sự trãi nghiệm, đó là đặc điểm của tự nhiên, khiến ta thấy lo lắng sợ hãi, phấn khích nhưng ở đây xã hội ngày càng đô thị hóa như vậy, gây cảm giác phấn khích như trong phim kinh dị”. Cảm giác của Turner về các thế lực to lớn định đoạt số phận con người, cuối cùng cũng theo chân các họa sĩ khác sinh ra ở Anh, vượt qua Đại Tây dương, trong đó có Thomas Cole.

12. Thomas Cole. Tranh hoang dã Mỹ, Trường phái Sông Hudson.

Kevin Avery, sưu tập săn ảnh: “Bàn tới nghệ thuật tranh phong cảnh nước Mỹ lúc đó thì chưa ai thực sự vẽ nước Mỹ hoang dã và Cole đã dùng ngôn ngữ hình ảnh để thực hiện điều đó. Ông không phải chuyên gia sành sỏi nhất thế giới, nhưng có thể nói phong cách của ông có gì đó thô ráp, không tự nhiên ăn khớp với sự hùng vĩ trên mấy bức tranh. Những thân cây bị nổ tung ở cận cảnh. Đó là kiểu sắp đặt cố ý, nhưng chúng gợi lên cảm giác về sự hoang dã. Cảnh 1 cái đèo trên núi có tên “Hẻm núi trắng” của Thomas vẽ 1839”. Thành công dễ dàng từ các tác phẩm của Cole đã khuyến khích các nghệ sĩ 1 trường phái, Trường phái Sông Hudson. (Frederic Edwin Church). Giáo phái Edwin được bảo hộ của ông theo đuổi sự hùng vĩ của nước Mỹ trong những bức tranh hoành tráng về các kỳ quan thiên nhiên vĩ đại của châu lục.

11

Hình: Tranh “Trong số dãy núi Nevada, California”. Albert Bierstadt, 1868.

Maya Jasanoff, Đại học Harvard: “Cách tiếp cận tranh phong cảnh người Mỹ chịu tác động của 1 vài tính cách đặc thù, một trong số đó là đẳng cấp thấp kém hơn và ganh đua với châu Âu rằng người Mỹ TK 18 và và đầu TK19 là những người em nghèo hèn, họ nằm ngoài rìa xã hội châu Âu, nơi người ta được dạy rằng Rome là trung tâm của nghệ thuật. Những phong cảnh đẹp nhất, các dãy núi cao nhất đều nằm ở Thụy Sĩ. (Alfred Thompson Bricher, “Buổi sáng, Cape Ann” 1875”). Còn người Mỹ đang đứng trên rìa 1 châu lục rộng lớn và họ bắt đầu kéo nhau đi qua miền Tây. Họ muốn thể hiện, chờ chút, chúng tôi cũng có những dãy núi cao, những con vật to lớn mà chúng tôi có thể ăn mừng giống như các anh nhưng theo bản sắc của mình. Tôi cho rằng chính bản sắc thấp kém đó càng khiến người Mỹ dấy lên tự hào về phong cảnh nước mình”.

Trường phái Sông Hudson đã tiến xa về phía Bắc đã tiên phong trong việc đã sử dụng kỹ thuật gọi là Trường phái Ánh sáng, nó sử dụng các hiệu ứng ánh sáng và nét cọ ẩn hiện để tạo ra những bức tranh được cho là chi tiết đến mức 1 số người cho cả ống nhòm xem kịch để chiêm ngưỡng tác phẩm của họ. Dù vào thời đó có rất ít nghệ sĩ công khai thừa nhận, song kiểu chi tiết này có được nhờ rất nhiều vào nhiếp ảnh đời đầu. Nhờ có nhiếp ảnh mà khát khao ghi lại vi mô và sự hùng vĩ tự nhiên mới phát triển.

13. Nhiếp ảnh gia Ansel Adams, nhà bảo vệ môi trường.

Và có 1 địa danh đưa ta lại câu chuyện Yosemite bắt đầu từ những năm 1920, Ansel Adams đi tiên phong trong cách tiếp cận cho nhiếp ảnh không đơn thuần là quá trình cơ học mà là nghệ thuật đích thực. Bức ảnh “Hẻm núi Chelly”, của Ansel Adams chụp 1942 cho thấy phương pháp khác của ông là lập lại hình ảnh ông hình dung được, rồi phán đoán thời điểm có thể nhìn thấy ánh sáng và đối diện rực rỡ nhất, sau đó bấm nút và chụp lại hình ảnh đó. Năm 1960 đúng năm John Kenedy trở thành tổng thống, Ansel Adams xuất bản 1 cuốn sách để kêu gọi 1 mặt trận mới đó là cuốn “Trái đất nước Mỹ” nó lập tức được bán rất chạy. Simon Schama, Nhà Sử Nghệ thuật, Đại học Columbia: “Các bức ảnh của Ansel Adams ngày càng trở nên giáo điều và những bài học bằng hình ảnh này rất rực rỡ, bí ẩn và hấp dẫn. Chúng là lời khẳng định thống thiết về việc lòng nhân đạo có thể thực hiện khi đối mặt với thiên nhiên như thế nào. Ông trở nên người sáng lập Hội Bảo vệ môi trường và thường xuyên bỏ máy ảnh xuống, thậm chí rời khỏi dãy núi Yosemite mà ông yêu quý để đi thuyết phục các tổng thống về quan điểm của mình. Nhưng trong suốt quá trình này ông vẫn kiên định với niềm tin rằng sứ mệnh của ông là thể hiện bằng hình ảnh sợi dây mong manh kết nối số phận con người với vận mệnh của Trái đất”. Ảnh “Dãy Tetons và sông Rắn” của Ansel Adams chụp 1942, một số người cho rằng đây là lúc nhiếp ảnh gia trở thành nhà tiên tri. Năm 1977, khi các tàu không gian được phóng mang theo chiếc đĩa vàng chứa hình ảnh, âm thanh của Trái đất và những cư dân của nó, các bức ảnh của Ansel Adams cũng nằm trong số đó, Bức “Núi Vua Clarence” của Ansel Adams, 1927.

Richard Misrach, Nhiếp ảnh gia: “Ansel Adams rất quan trọng, ông đã đưa phong trào bảo vệ môi trường gần đến với mọi người, bằng cách chụp các bức hình đẹp, tiêu biểu và đầy lãng mạn về miền Tây nước Mỹ. Điều này cần thiết trong thời khắc lịch sử đó và cho tới tận bây giờ. Những việc ông làm vẫn rất quan trọng”. Richard Misrach, được xem là 1 trong nghệ sĩ tranh phong cảnh đương đại hàng đầu của Mỹ. Richard Misrach: “Thế hệ chúng tôi muốn đưa cuộc tranh này đi xa hơn 1 chút, kiểu như chúng ta biết thiên nhiên hoang dã là như thế nào, nó thật đẹp, nhưng giờ thì không còn nữa”. Chúng ta rất yêu các công viên tự nhiên, ta để du khách tới đó, xây dựng đầy bãi đổ xe, cắm trại và không còn khái niệm thiên nhiên hoang dã nguyên sơ nữa. Richard Misrach: “Đã đến lúc thế hệ chúng tôi nhìn nhận và rút ra đây chính là những gì đang xảy ra. Chúng tôi cần xem xét điều đó”. Richard lựa chọn những đề tài, những cảnh quan mà con người không nhận ra, bỏ mặc bị lạm dụng, các bãi đổ xe hay tro bụi, tuyết, cơn bão Katrina, Núi Catskill.

Richard: “Nhiều năm qua tôi đã chụp 1 loạt ảnh mà tôi gọi các chương, mục cũ như nơi hạ cánh tàu vũ trụ, các khu vực thử nghiệm nguyên tử, các khu vực đánh bom, lũ lụt, hỏa hoạn do con người gây ra. Mọi bức ảnh của tôi từng nói mối xung đột giữa thế giới tự nhiên và thế giới văn minh”. Dù vẫn duy trì 1 phong cách, nhưng Richard luôn tận dụng cải tiến về công nghệ và trên hết là màu sắc. “Vào thời của Ansel màu sắc bị coi là thất bại, hồi đó ảnh màu không có sắc thái và sự tinh tế thực sự ăn khớp với thế giới thực nên nhờ chụp ảnh đen trắng bạn có thể tạo ra những sắc điệu tuyệt đẹp mang tính trừu tượng, nhưng hồi đó được coi là chủ nghĩa hiện thực. Giờ đây khi có nhiều chất liệu màu sắc phức tạp hơn, ta có thể chụp ảnh thế giới theo  nhiều sắc điệu. Ảnh đen trắng trông trừu tượng và không còn thực tế nữa. Giống như Trường phái sông Hudson và Ansel Adams trước đó, cách vận dụng thuyết hiện thực  và tỉ lệ của Richard là 1 phần trong cái mà ông theo đuổi được gọi là sự uy nghi hơn của mọi vật.

 Bức “Thung lũng thiên đường” của tác giả Richard Misrach, chụp 1995. Richard Misrach: “Một trong những điều làm tôi thích thú khi làm việc trong sa mạc của Mỹ là nó như sự trãi nghiệm về sự sống trong đó tôi nhận thức rõ về sự tồn tại của mình trên Trái Đất giống như tôi bay lơ lửng trên hành tinh nhìn xuống và thấy con người tí hon. Chính là tôi đấy. Tôi vô cùng mãn nguyện khi ở trong sa mạc rộng lớn với cái nóng và ánh sáng đó là giá trị trong các tác phẩm của tôi. Đôi khi chúng được gọi là sự uy nghiêm của vũ trụ”.

14. Những ảnh chụp vũ trụ:

Một trong những ví dụ đầu tiên về hành tinh trở thành phong cảnh là bức ảnh về tàu Apolo chụp tháng 12, 1972, có tên là “Viên bi xanh”. Mười ba năm sau khi tàu không gian chở bức ảnh của Ansel Adams vào nơi bí ẩn và đi được hơn 6,4 tỉ km, nó đã chụp được 1 bức ảnh thần bí khác về Trái đất. Ở rìa của hệ Mặt Trời tàu đã chụp bức hình này theo yêu cầu của nhà Thiên văn học Carl Sagan, trông nó như 1 chấm nhỏ bằng 1 điểm ảnh. Carl Sagan: “Trong bức ảnh màu này ta thấy nó có màu xanh dương nhạt. Đó là nơi ta sống trên chấm màu xanh dương. Bức ảnh được gọi là “Chấm xanh dương nhạt”.

Ngày nay chúng ta đã có cái nhìn hoàn toàn mới về tương lai của nghệ thuật tranh phong cảnh. Jonathal Jones, Nhà Sử và phê bình Hội họa: “Một số bức tranh phong cảnh thú vị nhất trong TK 21 được chụp ngoài không gian, đó là hình ảnh vũ trụ mà Turner hay các họa sĩ  Trường phái sông Hudson nhận ra được”. Thật ra các nhà khoa học NASA phải kết hợp nhiều thông tin kỹ thuật số mới tạo ra những hình ảnh màu sắc tuyệt đẹp. Jonathal Jones, Nhà Sử và phê bình Hội họa: “Vấn đề là họ chịu tác động của nghệ thuật khi tạo ra những hành động đó nhưng người ta có thể và đã tranh luận rằng các nhà khoa học của NASA chịu ảnh hưởng của nghệ thuật trong lúc tạo ra những bức ảnh tuyệt vời về tinh vân hay đám mây khói sáng lấp lánh trong vũ trụ. Họ chịu tác động nghệ thuật lãng mạn của Trường phái sông Hudson, sự kỳ vĩ của vũ trụ là điều tồn tại trong nghệ thuật hiện đại. Nó có thể là âm hưởng của những gì Ansel Adams hướng tới khi ông viết: “Chúng ta đều tiến tới rìa của sự bất tử và đôi khi thấy viễn cảnh qua tấm màn ảo ảnh”./.


Nguồn:

 

 

One thought on “Những nền văn minh: Thiên đường trên Trần thế

  1. * Rất cám ơn Nhóm Nghiên Cứu Lịch Sử.*

    *Rất bất ngờ và thật vui mừng được thấy đất nước nhỏ bé,* *nơi tôi đang sinh sống, cũng đươc Nhóm Nghiên Cứu Lịch Sử chiếu cố* *trong phần *9 .Beemster, Hà Lan. Nhờ cối xay gió khai hoang hồ tạo môi trường sống.

    * Tác giả Lê Quỳnh Ba đã phát họa một cách chính xác đức tính* *người Hòa Lan và môi trường sống của họ.*

    *Việt Nam mình nằm giửa Ấn – Hoa có điểm giống Hòa Lan nằm giửa* *Anh – Pháp, nhưng tư duy và đời sống cách biệt xa thẳm!*

    *Nguyên Ngôn*

    Vào Th 4, 9 thg 10, 2019 vào lúc 05:18 Nghiên Cứu Lịch Sử đã viết:

    > nghiencuulichsu posted: ” Lê Quỳnh Ba biên tập Nền văn minh gắn liền với > phong cảnh. Phong cảnh giúp định hình nên con người chúng ta và nơi ta > sống. Nhưng không phải lúc nào tranh phong cảnh cũng mô tả thế giới như nó > vốn có, mà thường thể hiện cái nhìn về những thứ ta muốn. Hì” >

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s