Việt Nam thiên sử bi hùng 1945-1975- Bài 6

Max Hastings

Trần Quang Nghĩa dịch

CHƯƠNG 6 :  MỘT ĐOẠN ĐƯỜNG VỚI JFK

 

1 ‘Họ Sắp Sửa Mất Nước Nếu … ‘

Khi Dwight D. Eisenhower trình bày vắn tắt cho người kế vị mình là John F. Kennedy về các vấn đề mà ông sẽ đối mặt khi lên nắm quyền tổng thống, đó không phải là Việt Nam  – ông không nói gì về Việt Nam  – mà là nước Lào lân cận gợi lên tiếng kêu đinh tai từ con ngựa chiến cũ. Eisenhower nói rằng mình đã được Bộ Ngoại giao cảnh báo rằng  Lào là ‘một quốc gia của những người đồng tính’, khiến Kennedy khá kinh ngạc. Đây là miếng domino đầu tiên, vị tổng thống sắp ra đi xác nhận, đối với Đông Nam Á, mà sự đánh mất nó có thể đe dọa nước Thái Lan láng giềng. Đây sẽ đến một phép thử quyết tâm của vị tổng tư lệnh mới, một nghi thức chuyển đổi. Một quan điểm như thế dường như kỳ lạ trong con mắt hậu thế, nhưng vào thời điểm đó có vẻ là thực. Lào, Lào, Lào, từng được biết là ‘đất nước triệu voi ‘, xuất hiện là đầu đề trên báo chí khắp thế giới  như là nơi đụng độ giữa lực lượng cộng sản và chống cộng.  Vào năm 1960 tờ New York Times dành gấp ba diện tích cho đất nước nhỏ xíu này, một vùng hoang dã với số dân ít ỏi và rất nghèo nàn hơn cho Việt Nam.

Dân Lào, đúng ra một tập hợp các sắc tộc, đã làm bối rối thế giới bên ngoài khi có vẻ cười khúc khích qua suốt thế kỷ biến động chính trị, đói kém, nội chiến và các thảm kịch do nước ngoài nuôi dưỡng. Họ thích hội hè và nói đùa tiếu lâm, nhất là tại lễ hội pháo hoa mùa xuân lúc mọi người tự làm pháo hoa cho mình, một số rất lớn,  và phóng chúng gây nguy hiểm cho sinh mạng và tài sản. Vào cuối thập niên 1950 người Mỹ bắt đầu ném tiền vào Lào, và Pháp nhượng nền độc lập cho Lào vào tháng 10 1953, và từ đó được cho là trở thành tâm điểm cho Trung Quốc và Việt Nam can thiệp. Một phóng viên tờ Wall Street Journal đến thăm Lào mô tả giới lãnh đạo là ‘lặn hụp khoái trá vào tiền viện trợ của Mỹ’, ô tô khủng và tủ lạnh, trong khi phần còn lại của xứ sở sống với lợi tức trung bình hàng năm là 150 đô la. CIA bắt đầu quan tâm,  ít nhất không phải vì các sĩ quan của nó như Texan Bill Lair, vốn giờ nổi tiếng ở đó, đâm yêu biên cương mới này. Đồng nghiệp của Lair Robert Amory về sau nói rằng nhiều nhân viên của Cục nhìn nhận Lào là ‘một nơi tuyệt vời để xảy ra chiến tranh’. Bên ngoài  thủ đô Vientiane, bạn có thể làm gần như bất cứ điều gì bạn thích – về chuyện đó, có thể đánh bất cứ ai bạn chọn và trồng loại cần sa nào bạn muốn  – mà không lo có ai đó kiếm chuyện. 

Chính phủ Lào, nếu không muốn nói là một nhóm huyên náo các tên thống trị và tướng lĩnh bản xứ, duy trì một nền cai trị bấp bênh cho đến năm 1960 một cuộc nội chiến bùng nổ giữa các phe phái, và đánh nhau xảy ra trên đường phố Vientiane. Dựa vào căn cứ ít ỏi, người Mỹ tin chắc cộng sản đang lăm le chiếm quyền. Điều không cần bàn cãi là bọn Đỏ long nhong khắp xứ, cả Pathet Lào bản xứ và một số bộ đội Miền Bắc. Bill Lair đạt được điều được coi là cú ngoạn mục khi thỏa thuận được với thủ lĩnh người Hmong địa phương

Vang Pao. Để đổi lấy tiền mặt và vũ khí, tên chúa tể này sẽ phát động cuộc chiến du kích chống người cộng sản.

Hoa Kỳ ban đầu đầu tư cho y và đồng bọn y từ 5 triệu đô  tăng đến 11 triệu đô trong năm 1962, rồi đến 500 triệu vào cuối thập niên, với Vang Pao nắm quyền chỉ huy 20,000 chiến binh và gặt hái được một số thắng lợi chiến trường đáng kể, cũng.như hốt khá tiền bạc trong hoạt động buôn lậu ma túy. Khoảng 700 nhân viên CIA được triển khai,  hầu hết tham gia vào các hoạt động bán quân sự,  chuyển thực phẩm và vũ khí đến các người bộ tộc và gia đình họ, nhảy cóc chỗ này chỗ kia giữa các ngọn núi, ăn mặc đồ jean và đi máy bay

Pilatus Porter STOL, thi thoảng cũng tham gia đánh nhau. Xứ sở xoàng xĩnh này đạt được tiếng tăm kỳ lạ trên lịch trình của cả Đông và Tây. Mao Trạch Đông hỏi Lê Duẩn, ‘Lào lớn cỡ nào?’ Ông trả lời: gần 80,000 dặm vuông,  với dân số 2 triệu người. ‘Trời,’ Mao kêu lên, ‘họ có quá nhiều đất mà lại quá ít người. Vân Nam cũng khoảng diện tích đó nhưng có đến 40 triệu.  Nếu chúng tôi có thể gửi đến đó sống 15 hoặc 20 triệu người, bộ không phải là một  ý tốt hay sao?’

Người Ba Lan và Ấn Độ trong Ủy ban Kiểm soát Quốc tế thấy khôn ngoan nên tránh nhìn những phi cơ vận tải của Xô viết đáp xuống phi trường Gia Lâm ở Hà Nội, giao vật dụng quân sự cho Lào. Chính quyền Bảo thủ Anh bị Washington thúc ép yểm trợ cho cuộc phản công của Mỹ,

và tại cuộc họp thượng đỉnh vào tháng ba 1961 với Kennedy,  thủ tướng Harold Macmillan miễn cưỡng hứa hẹn một động thái quân sự nào đó nếu chính quyền

Vientiane sụp đổ. Khi quân Pathet Lào chuyển quân gần biên giới phía tây của Lào vào năm sau, để đáp ứng một phi đội Hunters của RAF (không lực Hoàng gia Anh) được triển khai ở  Thái Lan láng giềng.  Đó là câu chuyện bình thường: Người Anh rất muốn tránh một dấn thân mới, nhưng đành phải riu ríu chiều theo mong muốn của người Mỹ. Là một khóa sinh sĩ quan West Point, Mike Eiland thấy mình tham gia các bài thực tập trong một xứ tưởng tượng có tên Soal  – chữ Laos viết ngược – và ở Washington Tham mưu Trưởng Liên quân tán thành việc tung vào bộ binh. Vào tháng 5 1961, tuy nhiên, Tổng thống Kennedy tuyên bố rằng ông thích củng cố các hoạt động ngầm, mà ông cho là rất lãng mạn. Tốt hơn nữa là mọi thế lực ngoại bang ngưng gây rối tại Cánh đồng Chum của Lào.  Hoàng thân Norodom Sihanouk có tính thất thường, người cai trị xứ Cao Miên láng giềng, đề xuất một hội nghị quốc tế,  đứa con hoang của Hiệp định 1954, để  ‘trung lập hóa Lào. Với các mức độ miễn cưỡng khác nhau,  tất cả các bên quan tâm đều ký tên. Sau hơn một năm đàm phán trong đó Averell Harriman là người vận động chính, vào tháng 7 1962 Hiệp định Geneva mới được ký bởi Mỹ, Nga, Trung Quốc,  và hai miền  Việt Nam, cho nền trung lập của Lào.

Giới lãnh đạo Hà Nội xem sự dàn xếp này chẳng ra gì, chỉ như một chiếc lá sung mà Moscow chìa ra che đậy các hoạt động quân sự của nó. Bộ đội Miền Bắc tiếp tục đi lại tự do xuyên qua Lào, cho dù sự hiện diện của họ luôn bị từ chối.  Những người hay chỉ trích trong CIA gọi Đường Mòn Hồ Chí Minh là ‘Xa lộ Tưởng Niệm Averell Harriman’, bởi vì vị cựu ngoại trưởng ngoại giao đã không có được biện pháp bảo vệ chống lại sự vi phạm Hiệp định có hệ thống của cộng sản. Cho mục đích của câu chuyện này là câu chuyện về Việt Nam, điều quan trọng là sau đó Souvanna Phouma cai trị ở  Vientiane,  thậm chí còn lệ thuộc sâu xa hơn với Hoa Kỳ.  Ở nơi khác trên khắp đất nước hoang dã và rối rắm của ông, một cuộc chiến rời rạc và không được nhìn nhận gầm thét trong đó vài trăm ngàn nạn nhân ngã xuống vì sự ngoan cố của Hà Nội muốn sử dụng Lào như một mạng lưới cửa sông gồm những lộ trình tiếp tế được bảo vệ vào Cao Miên và Miền Nam; và vì người Mỹ muốn ngăn chặn họ làm thế, mà không muốn tỏ ra khinh thường tình trạng Trung Lập Hóa quá lộ liễu.

Hầu như ngay từ ngày nhậm chức, Giáo sư kinh tế MIT Walt Rostow, một nhà phân tích mục tiêu đánh bom ở Thế Chiến II giờ chuyển sang làm tùy viên phụ tá đặc biệt cho an ninh quốc gia và trong một vài tháng làm giám đốc kế hoạch chính sách tại Bộ Ngoại giao,  thúc giục chính quy chuyển trọng tâm từ Lào sang Việt Nam.  Chính tổng thống chẳng bao lâu cũng thấy Việt Nam có vẻ là một nơi tốt hơn để đánh bại cộng sản: đối mặt với hoạt động du kích leo thang, phải làm nhiều hơn để chống đỡ Diệm.  An ninh trong vùng đồng bằng Cửu Long đã trở nên quá mỏng manh đến nỗi đồ tiếp tế y tế chỉ có thể phân phối đến các bệnh viện dân sự bằng máy bay và trực thăng của CIA, giữa các ngôi làng bỏ hoang và ruộng đồng không ai cày cấy. Vào tháng 5 1961 Phó tổng thống Lyndon Johnson đến thăm Việt Nam,  cam kết tiếp tục sự ủng hộ của Mỹ và gọi Diệm là ‘Winston Churchill của châu Á’. David Halberstam sau này viết về chuyến thăm này: ‘Ông ta đã đưa ra lời hứa hẹn của chúng ta. Nó không chỉ là cam kết sâu đậm hơn của chính quyền Kennedy và ràng buộc Washington vững chắc hơn với vấn nạn Sài Gòn, leo thang ngôn từ, mà còn lời cam kết của chính con người Lyndon Johnson. Đối với ông,  lời hứa hẹn của một người đàn ông là rất quan trọng. 

Vào tháng 10 Ed Lansdale viết cho chỉ huy Nhảy dù Thế Chiến II Tướng Maxwell Taylor, cố vấn quân sự riêng của Kennedy cho đến khi được  bổ nhiệm làm chủ tịch các Tham mưu trưởng Liên quân vào năm sau: ‘Người Việt vốn là một dân tộc có năng lực và năng động.  Nhưng giờ họ dường như không còn là chính mình. Họ sắp sửa đánh mất đất nước mình nếu không có tia lửa nào đó làm họ bốc cháy để tiến lên chiến thắng cuộc chiến này. Tia lửa đó có thể là đặt người Mỹ vào đúng chỗ trong chính quyền Miền Nam để cung cấp sự hướng đạo hoạt động. … Công việc này đòi hỏi người Mỹ phải có tài năng và lòng trắc ẩn.’

Vì vậy Lansdale khuyến cáo đáp ứng cho các vấn đề của người Việt là gửi thêm quân Mỹ, và trong suốt 34 tháng trong nhiệm kỳ tổng thống Kennedy, đó là điều đã được tiến hành. Vào tháng 5 1961, 400 lính Mũ Nồi Xanh được phái đến, và một ít tháng sau là 40 trực thăng Quân đội Hoa Kỳ, cùng với 400 phi công và thợ bảo trì, và bộ phận cố vấn ngày càng tăng mạnh, phục vụ bên cạnh QĐVNCH đến cấp độ tiểu đoàn, và vào giữa năm 1962 nâng tổng số lên 8,000. Ngày 8/2/1962 MACV – Bộ Chỉ huy Viện trợ Quân sự tại Việt Nam  – được thành lập, mà Hà Nội lý giải rất đúng đắn là Kennedy quyết tâm nâng lên tiền cá cược. Vào tháng 11 1963 sẽ có đến 16,000 người Mỹ trên trận địa: binh lính, thủy thủ và nhân viên phi hành; kỹ thuật viên và phi công; nhân viên nghe lén điện tử và nhà nông học; phân tích viên xã hội hàn lâm và bọn cao bồi thuộc lực lượng đặc biệt; các tên gián điệp và chuyên viên điện toán đủ mọi sắc thái. 

Viện trợ Mỹ đang hoạt động ở mức 400 triệu đô mỗi năm, với khí tài và xe cộ quân sự được chở đến với số lượng chưa từng có. Vào tháng 4 1962 chính quyền Diệm lao vào chương trình ‘ấp chiến lược’, thay thế khu trù mật trước đây, được thiết kế để tách nông dân khỏi du kích quân bằng cách tái định cư họ bên trong hàng rào kẽm gai – với cái giá phải rời mồ mả tổ tiên mà đối với dân quê Việt Nam là điều thiêng liêng.  Một báo cáo của Tập đoàn RAND điều tra về mức độ chấp nhận của chính sách, nhưng tại Ngũ Giác Đài Thiếu tướng Thủy quân Lục chiến Victor ‘Brute’ Krulak đập bàn và xác quyết rằng xứ sở của ông sẽ ‘bắt buộc nông dân làm những gì cần thiết để chương trình thành công’. Ấp chiến lược đạt được thành công chiến thuật có ý nghĩa, khiến cuộc sống của Việt Cộng gay go hơn, nhưng cái giá về mặt xã hội và chính trị quá cao. Tay Đông Dương già Howard Simpson chứng kiến cảnh ‘một nhóm nông dân rầu rĩ,  luộm thuộm bị lùa khỏi các túp lều tranh của minh để tái định cư. Một ông lão trên trán có vết thương chống cự quyết liệt, và lắp bắp bằng tiếng Pháp với đoàn quay phim TV đang ghi hình, ‘Không đúng! Chúng bắt chúng tôi dời đi. Chúng tôi không muốn dời đi. Bảo với họ. Như vậy là không đúng!’ Khi nhân viên an ninh xô lão nông ra chỗ khác ông lão gào lên thảm thiết, ‘Người Mỹ không biết điều.  Bảo người Mỹ chúng tôi không muốn đi!’

Tại hội thảo chiến lược ngày 23/7/1962 tại Honolulu,  Tướng Paul Harkins bảo cử tọa gồm các chính trị gia và tướng lĩnh cao cấp dẫn đầu là bộ trưởng quốc phòng Robert McNamara: ‘Trong tháng 4, 434 cuộc hành quân trên bộ được tiến hành … tăng lên 441 trong tháng 5. Hơn 1,000 chuyến bay xuất kích trong tháng 6 … Tổng thống Diệm đã chỉ rõ rằng ông dự định binh sĩ sẽ hành quân nhiều hơn và tuần tra lâu hơn … Không nghi ngờ gì chúng ta đang là bên thắng trận.’ Hỏi về ước tính thời hạn,  Harkins nói ông nghĩ thắng lợi đối với MTDTGP có thể đạt được khoảng cuối năm 1963. McNamara ghi chú cẩn thận,  nói, ‘Chúng ta hãy đón nhận điều tồi tệ nhất  và hoạch định kế hoạch theo đó,’ mà ngài bộ trưởng quốc phòng lý giải là thời điểm đánh bại Việt Cộng là cuối năm 1965.

Trong những năm Kennedy đó, nhiều nhân vật sẽ đóng vai của mình trong suốt cuộc chiến của Mỹ, một số nổi tiếng  và số khác không được thế, tụ tập chung quanh sân khấu và bắt đầu học thuộc lời thoại của mình. Vào năm 1961 Dương Vân Mai rời Sài Gòn qua Mỹ du học. Cô bị nước Mỹ mê hoặc nhưng đồng thời cũng bối rối trước nạn kỳ thị ở các tiểu bang miền Nam, cảm thấy nghi ngại không biết phải sử dụng phòng tắm Da Trắng hay Da Màu. Rồi cô gặp David Elliott, người sau này sẽ trở thành chồng cô và phân nửa kia của một quan hệ đối tác đáng chú ý đã dành gần như hai quãng đời cho việc nghiên cứu dân tộc Việt Nam. Là một người gốc Boston, anh đã theo học Yale trước khi phục vụ cho đơn vị đánh chặn vô tuyến của Quân đội Mỹ tại Tân Sơn Nhất. Sau đó anh trải qua một năm với tình báo  MACV trước khi gia nhập RAND, tại đó anh lao vào một chương trình nghiên cứu lâu dài trong vùng châu thổ.  Tại sao Việt Nam? Elliott nói: ‘Đây là nơi nó đang xảy ra, mặt trận ác liệt nhất trong Chiến tranh Lạnh. Tôi được xếp cho một chỗ ngồi tốt để nhìn lịch sử diễn tiến.’

Những người theo chủ nghĩa lý tưởng cũng như những người tìm cảm giác mạnh xông vào khói bụi nồng nặc của khói xăng dầu, mùi gia vị, tiếng còi xe inh ỏi, hơi nóng ngột ngạt. Một số đi dạo trên đường phố Tự Do và trố mắt nhìn cảnh vật  – hoặc, đúng hơn, nhìn gái – là bọn trai trẻ sáng sủa hăng hái biến đổi thế giới, đến đây để chăm sóc nhiệt tình cho người Việt. 

Frank Scotton, sinh năm 1938, lớn lên ở Massachusetts, ‘nơi chiến tranh cách mạng chống bọn chiếm đóng ngoại bang áp bức là một phần của văn hoá’; cha anh đã tử trận tại Trận Bulge vào năm 1944. ‘Tôi nghĩ mình sẽ thi hành một hình thức phục vụ nào đó. Trong quá khứ chúng ta từng là những người táy máy tốt ở nước ngoài, đến chỗ này chỗ kia chỉnh sửa. Chúng ta có niềm tin là chúng ta luôn chiến thắng, cho dù bọn Triều Tiên đã mài mòn lý tưởng đó đôi chút.’ Trong suốt thời gian dài ở Việt Nam ông luôn ý thức sâu sắc về di sản của mình, thành tích can trường của gia đình: ‘Tôi không muốn họ cảm thấy rằng mình không xứng đáng.’

Ông tham gia Cục Thông tin Hoa Kỳ hơn là Phòng Ngoại vụ, ‘bởi vì tôi sinh ra là người thực địa’. Ở Washington trước khi bay,  ông gặp ba trung uý Việt Nam trẻ hỏi ông có biết nói tiếng Việt không.  Không, ông đáp, rồi họ bảo tiếng Pháp cũng được. Họ trông có vẻ không được thoải mái. Một người nói, ‘Đó là ngôn ngữ của bọn thực dân.’ Khi ông đến Việt Nam vào năm 1962, ông nhanh chóng nhận ra không biết đối thoại với người bản xứ là điều bất lợi cho hầu hết đồng bào ông: ‘Họ thậm chí không biết phát âm địa danh. Tôi cũng ý thức được sức nặng của lịch sử mà chúng tôi đang tranh đấu với nó. Trong vòng vài tuần,  tôi đủ khôn ngoan để nhận ra rằng Diệm không phải là “Winston Churchill của châu Á”.’

Scotton trở thành một sinh viên nhiệt tình của đất nước, đi đây đó không sợ hãi và đúng ra là bất cẩn qua ruộng đồng và rừng rậm, giám sát một cuộc điều tra cho sứ quán Mỹ về tình cảm của nhân dân tại những xóm ấp hẻo lánh. Là một trong một nhóm nhỏ người Mỹ dâng hiến cho chính nghĩa,  ông nói, ‘Tôi luôn tìm kiếm những người đồng chí hướng. Có sự chia rẻ giữa những người thực sự quan tâm và những người thờ ơ.’ Những người trẻ Sài Gòn mới quen biết ông chẳng bao lâu bắt đầu nói Scotton kỳ quá và nhiều người Mỹ cũng thấy như vậy: nhân viên sứ quán gọi ông ‘đứa lai căng chưa đánh dấu’.

Việt Nam tước đoạt ông cuộc hôn nhân: vợ ông Katherine làm hết sức để sinh sống trong một ngôi nhà ở Qui Nhơn, tổ chức các lớp dạy tiếng Anh. Tuy nhiên,  sau vài tháng bà về Mỹ, và họ ly dị. Sau đó ông tạo dựng một loạt các quan hệ địa phương thân thiết. 

Doug Ramsey cũng đến Việt Nam vào năm 1962, chân ướt chân ráo từ trường ngoại ngữ, và được cắt đặt công việc lưu hành các ấn phẩm của USIA (Phòng Thông Tin Hoa Kỳ) trong vài tháng tại một văn phòng ở Đà Lạt: ‘Tôi cảm thấy mỉa mai khi phân phát một tạp chí có tên “Thế Giới Tự Do” làm lợi cho chế độ độc tài của Diệm.’ Dân chúng địa phương rất dè dặt phát biểu ý kiến về bất cứ điều gì với một người nước ngoài trừ khi hoặc đến khi họ quen thân với y, nhưng Ramsey nhanh chóng quả quyết rằng Diệm không phải là nhà lãnh đạo đáng tin cậy và bền vững, và từ đó phát sinh một nhiệt tình đối với ‘Lực lượng Thứ ba” nào đó còn lẩn khuất. ‘Tôi thấy hứng thú trong việc Frank Scotton đang làm, – ra sức xây dựng từ đáy lên.’ Ông ngày càng hóa ra tin rằng một hay hai thập niên bị cộng sản thống trị tốt hơn ‘sự khờ dại của chính sách chúng ta’, một cuộc chiến không bao giờ chấm dứt.

Sự thống trị một khu vực nào đó của mỗi bên ‘tại nhiều  vùng không vươn xa hơn tầm bắn chết người của súng AK-47 hoặc M-14’. Ramsey công khai thừa nhận mình ít hốt hoảng vì khủng bố của VC hơn là ”pháo và không kích bừa bãi của Mỹ và chế độ Sài Gòn ‘. Ở tận vùng đồng bằng Cửu Long, vừa nhìn thoáng qua là ông nhận ra ngay hạn chế của các lực lượng chính quyền,  khi chỉ vừa nghe tin đồn cộng sản sắp tấn công là đơn vị QĐVNCH tại địa phương bỏ chạy.

Bob Destatte là một trong số 16 đứa trẻ trong một gia đình Thiên Chúa giáo gồm các công nhân nghèo nhưng làm lụng cật lực ở Ohio. Anh bỏ ngang một khóa dạy cao đẳng để vào quân đội: ‘Tôi muốn mở rộng tầm mắt ra khỏi thị trấn nhỏ bé của mình.’ Anh tình nguyện vào Cục An ninh Quân đội vì một người bạn lính bảo anh cơ quan chắc chắn phái anh ra nước ngoài,  và anh trở thành chuyên viên đánh chặn mã morse. Vào năm 1961 anh được đưa tới Sài Gòn. Trên máy bay tiến vào, anh chờ đợi một điều gì đó,  anh nói, ‘giống như những tên trong Terry và Bọn Cướp Biển – lén lút ẩn núp trong bóng tối’. Nhưng từ lúc ngồi phía sau một quân xa anh thoáng nhìn hai  cô gái đầu tiên trong tà áo dài, anh chợt nghĩ khác: quá khác, thật ra, đến nỗi chỉ trong vòng vài tháng và ở tuổi 22 anh kết hôn với Nguyễn Thị Ánh. Anh gặp cô khi một chàng trai Việt cùng đơn vị với anh, vào thời gian đó đóng chốt trong hai toa xe tại phi trường Tân Sơn Nhất, mời anh đến dùng cơm tối với gia đình. Anh thích bà mẹ ngay từ lần đầu gặp mặt, và cô em gái của chàng trai dạy anh cách dùng đũa. ‘Tôi cho là mình gặp tình yêu sét đánh.’ Họ lấy nhau trong một nghi lễ gia đình,  nhưng thông đồng với sĩ quan của mình chỉ cử hành hôn lễ chính thức ngay trước khi anh quay về Mỹ vào năm 1963, vì các lễ cưới tại địa phương sẽ buộc anh phải hồi hương lập tức. Không giống nhiều cuộc hôn nhân kiểu đó, hôn nhân của

Destattes được dài lâu.

Bob Kelly, một cố vấn chiến tranh tâm lý  làm việc với người Miền Nam tại tỉnh Quảng Ngãi, tổ chức các cuộc mít tinh thân chính quyền. Lần đầu tiên không mấy thành công. Dân địa phương được lùa như lùa súc vật  đến tham dự, rồi để mặc ngồi dưới nắng không nước nôi. Cao trào của buổi lễ là chiếc C-47 bay thấp trên đầu,  phát đi những lời tuyên truyền của chính phủ. Máy bay đến sớm, và từ độ cao một ngàn bộ tiếng phát thanh inh ỏi nhận chìm bài diễn văn của ngài tỉnh trưởng trên mặt đất. Rồi phát thanh viên trên máy bay rống lên: ‘Thưa ngài tỉnh trưởng, ngài nói xong chưa?’ Việc này khiến các viên chức địa phương nổi đóa và mất mặt. Chưa hết, khi máy bay bắt đầu rải truyền đơn, bó truyền đơn không bung ra trong không trung,  mà rơi thẳng xuống như bom. Người Mỹ tham dự một phen cười nghiêng ngả, một số ra cả nước mắt giữa những lộn xộn náo loạn. Họ không biết rằng thật là bậy bạ khi mọi người nhìn thấy họ đang đạo diễn một cuộc mít tinh chính trị cho người Miền Nam. 

William Colby, sinh năm 1920, sống thuở nhỏ ở Trung Quốc,  rồi theo học Princeton.  Vào 1944-45  ông phục vụ một vài tháng với OSS (tình báo Mỹ) tại nước Pháp và Na Uy bị Đức chiếm đóng, mà ông cảm thấy thật là một trải nghiệm cực kì lãng mạn, rồi trải một ít năm chán ngắt làm việc cho hãng luật  ‘Wild Bill’ Donovan. Khoảng thời gian tốt đẹp hơn bắt đầu vào năm 1950 khi ông gia nhập CIA,  ‘một băng nhóm huynh đệ’. Ông thực tập tại Thụy Điển và Ý, rồi đến năm 1959 được cử đến Sài Gòn. Ông đi khắp xứ, và xác định rằng việc ngăn chặn người cộng sản là mục tiêu hiện thực duy nhất. Ông không đồng ý khi Max Taylor và Walt Rostow đề xuất gia tăng mạnh mẽ lực lượng cố vấn Mỹ: Việt Nam ‘thực sự không chỉ là vấn đề quân sự’. Vào tháng 7 1960 Colby trở thành trưởng phòng CIA tại Việt Nam,  và chủ trì hàng loạt các nỗ lực thất bại để xâm nhập các nhóm bán quân sự vào Miền Bắc,  và để tiến hành các hoạt động phản khủng bố chống lại VC. Như nhiều người Mỹ, ông nắm được một ít sợi chỉ trong mớ bòng bong Việt Nam,  nhưng chưa bao giờ có đủ để xúc tiến các chính sách mạch lạc.

Al Gray, sinh năm 1928 con trai một trưởng tàu hỏa ở New Jersey, trở thành một Thủy quân Lục chiến chính quy: ‘Chúng tôi là những gã chịu chơi.’ Ông trở thành một hạ sĩ quan,  rồi vào năm 1952 được phong sĩ quan và phục vụ trong công tác quan sát tiền tiêu vào giai đoạn cuối chiến tranh Triều Tiên.  Sau đó ông vào ngành tình báo tín hiệu  và hoạt động đặc biệt, giám sát Bắc Triều Tiên,  Nga, biên giới Thái-Miến. Năm 1960 Đại uý Gray được phái đến Sài Gòn, thích người Miền Nam,  và ngưỡng mộ Diệm: ‘Tôi nghĩ ông ta đi đúng đường.’ Là một bán gián điệp ông ăn mặc như thường dân, thường trong vai một hành khách đi Air America. Ông trải 10 năm tiếp theo làm việc trên diện tiếp xúc giữa Thủy quân Lục chiến và cơ quan tình báo: ‘Tôi cảm thấy những gì chúng tôi đang làm sẽ cứu sống mạng người một ngày nào đó.’ Tất nhiên cả bọn họ đều có những cuộc phiêu lưu, tất nhiên, là thứ phần đông ai cũng tìm kiếm.

Dù Frank Scotton là một thường dân, anh ham mê dong rủi miền quê, thường một mình nhưng có vũ trang, tìm kiếm hành động cũng như kiến thức. Thói quen này có khi dẫn anh đến những tình huống không ngờ tới đối với nhân viên cục thông tin. Một buổi sáng trong một chuyến lang thang tại Cao nguyên Trung phần,  ông trông thấy tiến đến một người vắt súng: ‘Tôi ắt sẽ thở phào nếu y không nhìn thấy tôi và chỉ đơn giản đi qua. Nhưng y đã rút súng chĩa về phía trước và nâng lên trong khi vẫn nhìn tôi ngạc nhiên không kém tôi. Nhưng tôi lên đạn và mở chốt an toàn nhanh hơn. Chúng tôi ở quá gần thành ra tôi không thể bắn hụt. Nhắm mục tiêu đơn giản như lấy ngón tay chỉ. Nếu có gì đó cần phải làm, bảo đảm phải làm ngay. Tôi bắn vài phát. Tôi không cảm thấy mình có tội, mà chỉ cảm thấy hối tiếc là hai người lạ gặp nhau tại chân đồi và một người mất mạng.’

Vào một dịp khác Scotton đang đi với một người thượng trẻ hướng dẫn. Khi ánh sáng hoàng hôn nhạt dần, họ nhìn thấy hai người vũ trang vô ý lẩn thẩn đi về phía họ.  Anh bạn đồng hành với người Mỹ phóng về phía trước kết liễu tên du kích phía sau bằng một nhát dao đâm vào lưng. Khi tên đi trước quay lại và nâng súng trường lên, Scotton bắn y vài phát. Người thượng kéo xác nạn nhân của mình đến giao lộ của đường mòn và đặt xác ngồi thẳng nhìn vào hướng từ đó y đã đi tới. Scotton hỏi người bạn đồng hành biết nói một ít tiếng Pháp, tại sao anh làm vậy. Người Thượng nhún vai,  ‘C’est la guerre psychologique!’ (Đây là chiến tranh tâm lý!)

Trong suốt những năm dưới thời Kennedy  cuộc tranh luận kéo dài ở Washington về viêc liệu người Mỹ có nên đi xa hơn việc hoạt động cố vấn và hậu thuẫn hay không – bắt đầu triển khai các đơn vị chiến đấu. Tướng Maxwell Taylor thuộc số những người, trước khi công khai rút lui khi biết được một chút, chủ trương tăng thêm quân: ‘Miền Nam không phải là nơi quá khó khăn hoặc khó chịu để hành quân  … Miền Bắc tuyệt đối dễ tổn thương trước việc oanh tạc quy ước … Không cần phải sợ một cuộc tấn công ồ ạt biển người cộng sản vào Miền Nam và các nhà nước lân cận, đặc biệt nếu không lực của chúng ta được phép thẳng tay.’ Là một quân nhân, Taylor nhìn xung đột chỉ là một vấn đề quân sự. Ông đề xuất gửi ít nhất 8,000 nhân viên hậu cần. Ngoại trưởng Dean Rusk và bộ trưởng quốc phòng Robert McNamara  không đồng ý: không người nào nghĩ rằng một cam kết nhỏ sẽ thành tựu đủ để biện minh cho chi phí chính trị. Ngũ Giác Đài tính toán rằng để tiễn được cộng sản Miền Nam,  phải cần đến 205,000 binh lính Mỹ . Một số nhà ngoại giao tháp tùng Taylor trong chuyến thăm Việt Nam không chỉ chống đối đề xuất thêm quân của vị tướng,  nhưng cho rằng chế độ Diệm không bền vững. Các ký ức về trải nghiệm Thế Chiến II vẫn còn treo lơ lửng trên việc hoạch định chiến lược. Bài học tiên phong của nó dường như là sử dụng sức mạnh khống chế là không thể cưỡng lại được. Greg Daddis đã viết: ‘Lỗi lầm chung duy nhất của phần đông sĩ quan và các viên chức dân sự cao cấp… là tin rằng sức mạnh quân sự, được xác định bao quát, có thể thành tựu những mục tiêu chính trị trong các nhà nước hậu thuộc địa. 

Sở hữu sức mạnh vũ khí có thể trở nên băng hoại: nó làm những người nắm quyền lực chính trị ngứa ngáy muốn sử dụng nó trong thực tiễn.  Các chính quyền Washington liên tiếp đã bị cám dỗ vì họ có thể sẵn sàng ra lệnh triển khai quân đội,  và trông thấy việc này nhanh chóng được thi hành. Tung ra lực lượng vũ trang,  nhất là không lực, để theo đuổi một mục tiêu thì dễ hơn vật lộn với các phức tạp của việc giao kết văn hoá và xã hội với một dân tộc xa lạ.

Vào năm 1961 và thật ra sau đó, tồn tại trong những  người làm chính sách một tình trạng vô cảm về tác động mà sự hiện diện quân sự của Tây phương tạo ra. Nhiều điều phũ phàng có thể nói không sai về những gì các chiến binh cộng sản đã làm cho Việt Nam,  nhưng dấu chân họ trên mặt đất thì nhẹ như lông hồng so sánh với dấu giày bốt của binh lính Mỹ. Ngay sự hiện diện của người Tây phương sung túc, có vũ trang hay không,  mặc quân phục hay không, không thể không tạo ra một ảnh hưởng nhiễm độc cho một xã hội Á châu nghèo khó và phần đông là nông nghiệp. Như các người Mỹ cao cấp khác được cử đến Sài Gòn,  Bill Colby của CIA chấp nhận một phong cách nội địa tương xứng với thống đốc thuộc địa,  chiếm một biệt thự với số giá nhân gồm 6 người. Những sĩ quan Mỹ thấy để một người Việt  đánh giày và dọn đẹp nhà cửa cho mình là điều tự nhiên không thắc mắc. 

Ngược lại, một trong những phẩm chất được nhận thấy của kẻ địch là họ sở hữu quá ít trừ súng ống. Một lần nữa và một lần nữa,  người ta lại nghe các nông dân nói rằng, xấu gì thì xấu, người cộng sản không làm giàu. Của cải và công nghệ Tây phương không phải phát sinh đố kỵ trong dân nghèo Việt Nam, mà chỉ tạo ra khoảng cách, khiến họ lánh xa các vị khách ngoại quốc quá sang cả, đến nỗi không có số lượng các cuộc viếng thăm nào của MEDCAP (chương trình y tế dân sự), chích ngừa,  viện trợ thực phẩm, máy cày, động cơ chân vịt,  gạo ‘thần kỳ’ có thể làm dịu bớt. Viện trợ vật chất không bao giờ bảo đảm được lòng biết ơn mà người trao tặng mong đợi. Trẻ em đến thăm sở thú Sài Gòn thường so sánh vượn người với người Mỹ vì cả hai đều có các cánh tay dài  lông lá. Một số người Việt lớn tuổi không thoải mái  với binh lính da đen, gợi lại các ký ức về các đơn vị thực dân Pháp tàn bạo vô song. Bọn hoài nghi cay độc, cũng như các tên tuyên truyền cộng sản quả quyết rằng Washington chỉ chở đến Đông Dương những hàng hoá bị người Mỹ vứt bỏ.

Một sĩ quan QĐVNCH viết: ‘Không ông lớn nào tiên liệu hoặc dạy cho viên đại uý (Mỹ) trẻ thích ứng với hoàn cảnh và môi trường văn hoá của chúng tôi. Anh ta chuyên bày ra những mánh khóe nực cười để điều khiển các đối tác Việt Nam và nắm quyền kiểm soát tiểu đoàn như thể nó là món đồ chơi của anh ta.’ Sau một năm,  trước khi trở về Mỹ, người cố vấn Mỹ bảo với người đối tác của mình anh bây giờ mới bắt đầu hiểu rõ cuộc chiến, và ân hận trước đây mình đã quá hồ đồ. Nhưng rồi anh ta đã lên máy bay, và một cố vấn khác đến, và chu trình tiếp tục quay trở lại.  ‘Đó là câu chuyện về các cố vấn.  Người Mỹ có thiện chí, nhưng họ không nhẫn nại.’ Một khóa sinh sĩ quan Việt Nam kể về loại va chạm văn hoá mà một người Mỹ có thể mắc phải: tại trường Võ bị Đà Lạt,  một đại uý Mỹ đập   lên mũ sắt của một khóa sinh bằng cây gậy giảng bài, để đánh thức anh ta đang ngủ gật. Cử chỉ này thiếu điều gây ra một cơn bạo động do một cơn nổi giận tập thể mà nó gây ra cho người Việt, đối với họ cho dù một cú đấm ra dấu cũng là dấu hiệu khinh bỉ mang tính thực dân. Vụ đụng độ này cuối cùng được  giải quyết êm thấm bởi vị chỉ huy trường, Đại tá Nguyễn Văn Thiệu,  sau này là tổng thống Miền Nam. 

Vậy mà đại đa số trong ba triệu người Mỹ từng phục vụ tại đất nước này ra đi mà không nắm giữ mối quan hệ nào với dân bản địa có ý nghĩa hơn là sự kèn cựa giá cả về quan hệ tình dục. Điều không tránh khỏi là các lực lượng Mỹ nên sử dụng  đến các tiện ích thay thế khi phục vụ ở một xứ sở xa xôi  – như mọi quân đội nước ngoài trong các hoàn cảnh như thế. Thậm chí các thông tín viên về cuộc chiến cũng mặc nhiên được đặc quyền nhận được nơi ẩn náu trong chốn hỗn loạn để viết bản tin nhanh thường là chỉ trích gay gắt các lỗi lầm của quân đội Mỹ. Nhưng cái kiểu mà hầu hết các thập tự quân của Kennedy sống xa cách với dân Việt,  trừ những khi điều hành bạo lực, là một công thức cho sự xa cách.

Robert Kennedy, với tư cách bộ trưởng bộ tư pháp hiện diện tại các buổi hoạch định quyết sách Đông Dương,  cho rằng ‘một đáp trả quân sự là điều thất bại trong việc chống nổi dậy … Bắc Kỳ nỗ lực nào coi thường cơ sở cải cách xã hội, và cứ mãi mê với thiết bị và kỹ thuật và lực lượng,  chắc chắn sẽ thất bại và không nên được hậu thuẫn.’

Lyndon Johnson báo cáo sau chuyến đi năm 1961 của ông đến Việt Nam về tầm quan trọng của  ‘các định chế chính trị có trách nhiệm  … Phải tiến hành một trận tấn công đồng thời, quyết liệt và tích hợp vào các  căn bệnh kinh tế, xã hội và các bệnh khác của nhân dân Việt Nam. Quyền lãnh đạo và sáng kiến trong cuộc tấn công này phải ở trong tay các lãnh đạo Việt Nam.’

Roger Hilsman thuộc Bộ Ngoại giao góp ý rằng cuộc nổi dậy ‘không phải là một trận chiến,  đó là một cuộc đấu tranh chính trị mang khía cạnh quân sự’. Nhận thức đúng đắn như thế đáng lẽ đã dẫn các nhà hoạch định quyết sách đến một kết luận phũ phàng: trừ khi một nền tảng chính trị tồn tại, nỗ lực quân sự không thôi là vô ích. Người Việt không ấn tượng với các chương trình và hệ thống: họ phán xét mọi thứ bằng con người, và phần đông đều ghê tởm với bè đảng của gia đình Diệm  – sự bạo ngược, bất tài và kỳ thị tôn giáo. Thậm chí người Mỹ bối rối trước sự kiện trong khi dân chủ là câu thân chú luôn được nhắc đến như nhân tố cung cấp nền tảng đạo lý cho việc xiển dương lý tưởng chống cộng,  thì Washington lại chường mặt chống lại bất kì kết quả nào xác định bởi việc đầu phiếu. 

Vậy mà một số nhân vật có ảnh hưởng tiếp tục lập luận rằng những khiếm khuyết của chế độ không thành vấn để. Colby của CIA không quan tâm đến việc Diệm đang cai trị bằng một chế độ độc tài, miễn là nó chạy việc. Sau này ông viết: ‘Nhiệm vụ ở Miền Nam đòi hỏi phải có lãnh đạo cứng rắn, và lòng tận tụy đầy quyết tâm của Diệm dường như thích hợp hơn tình trạng lộn xộn và do dự có thể xảy đến nếu áp dụng chính xác quá đáng học thuyết Mỹ về nguyên tắc phân quyền. 

 Colby hình thành mối quan hệ công tác thân thiện với với Ngô Đình Nhu  – đúng ra, các đồng nghiệp trong CIA kinh ngạc về nhiệt tình của ông dành cho nhân vật ghê gớm này.

Khi tình huống thay thế Diệm trở thành đề tài bàn luận trong Cục, Colby có ý kiến quái đản là chọn ông em Nhu.

Ngày 17/4/1961 cuộc xâm chiếm Vịnh Con Heo của nhóm Cuba  lưu vong do CIA hậu thuẫn xảy ra không tới bốn tháng trong nhiệm kỳ Kennedy,  và phủ bóng lên tất cả các quyết sách sau đó. Cũng như việc dựng Bức Tường Berlin vào tháng 8, và lời châm chọc của Khrushchev rằng Việt Nam là phòng thí nghiệm của Xô viết cho các cuộc chiến giải phóng dân tộc. Lúc đó không ai ngờ rằng phương Tây sẽ thắng trong Chiến tranh Lạnh. Không người Mỹ nào nghe

 Khrushchev bảo với Anatoly Dobrynin, người mà vào năm 1962 trở thành đại sứ Xô viết mới tại Washington, rằng ông không được quên rằng một cuộc đối đầu vũ trang với Hoa Kỳ là miễn nghĩ bàn, và do đó ưu tiên hàng đầu của ông là làm sao để chống lại điều đó: ‘Đừng kiếm chuyện.’ Thế giới sống trong một bầu không khí lo sợ hạt nhân, và người cộng sản đặt ra một thách thức lịch sử. Trong các tình huống như thế thật khó cho một nhà lãnh đạo quốc gia và các cố vấn của họ suy nghĩ và hành động thích hợp và khôn ngoan. Ngày nay, thật dễ để quên rằng phía bên kia cũng sai lầm thường như và thậm chí tàn nhẫn hơn các Cường quốc Tây phương – chẳng hạn ở Hungary, Cuba, Berlin, Ba Lan.

Kennedy và các thập tự chinh của ông bỗng thấy mình giao tranh trên quy mô toàn cầu với người cộng sản.  Tổng thống nói về các cuộc nổi dậy như cuộc nổi dậy mà MTDTGP dựng nên: ‘Không ai có thể nói các cuộc nổi dậy này là cuộc chiến tranh giải phóng … Đây là những quốc gia tự do.’ Điều này nửa đúng, đúng hơn một số nhà tự do chủ nghĩa nhận ra lúc đó và từ đó  – nhưng cũng nửa sai, bởi vì dù chính quyền cai trị Miền Bắc có xấu xa, chính quyền cai trị ở Miền Nam ít áp bức hơn, và đỡ khổ hơn chỉ bởi vì dân chúng Diệm không bị đói kém.

2 Chế Độ Quân Chủ của Mc Namara

Một khía cạnh bấtn thường của việc ra quyết sách ở Washington giữa những năm 1961 và 1975 là rằng người Việt ít khi nếu không muốn nói là được phép tham gia vào việc đó.

Các cơ quan hành pháp liên tiếp phớt lờ bất kì đòi hỏi nào của cư dân sống trong vùng chiến trường có được một tiếng nói trong việc quyết định số phận của họ: công việc đều được thực thi trong một tổ kén của tính chất Mỹ. Frederick ‘Fritz’ Nolting, đại sứ 1961–63 tại Sài Gòn,  có lần nhắc nhở bộ trưởng quốc phòng Robert McNamara rằng ‘khó mà lắp một động cơ Ford vào một chiếc xe bò Việt Nam’. Bộ trưởng công khai thừa nhận  – nhưng vẫn tiếp tục  làm chuyện ấy.

Khi McNamara thăm Việt Nam với Max Taylor, một nhân chứng người Việt viết rằng hầu hết câu hỏi của vị bộ trưởng hướng về  các cố vấn hiện diện,  hơn là tới những người đánh trận: một số (sĩ quan Mỹ) trông như các sinh viên nghịch ngợm đứng trước vị hiệu trưởng nghiêm khắc. .. Trong một lần trao đổi gây lúng túng cho một sĩ quan tình báo Việt Nam và phía đối tác Mỹ của anh,   McNamara hỏi có bao nhiêu mật vụ của ta đang làm việc trong hàng ngũ địch.’ Câu trả lời là không có người nào, và vẫn đúng như vậy cho đến cuối cuộc chiến. CIA không xoay sở được một sơ đồ thông tin vô tuyến của giới lãnh đạo cộng sản cho mãi đến 1969.

Như các cố vấn quân sự ở trận địa, chính quyền cũng nhận được nhiều lời khuyên từ các guru ở Mỹ. Chiến tranh Lạnh đẻ ra vô số các nhóm chuyên viên cố vấn, có nhiệm vụ cung cấp các nghiên cứu công nghệ và trụ đỡ trí tuệ cho chiến lược,  trên hết là giải trừ hạt nhân. Cục Dự án Nghiên cứu Tiên tiến DARPA ra đời năm 1958 theo sau cú sốc gây ra bởi việc Liên Xô phóng thành công Sputnik, thai nghén một loạt các kỹ thuật chống nổi dậy,  gần như tất cả đều chứng tỏ là không tưởng, và cũng là cha đẻ của  chương trình làm trụi lá bằng chất hoá học vốn triển khai Chất  Da Cam. Cơ quan RAND có căn cứ tại Santa Monica là một cơ quan phi lợi nhuận nhận được nhiều tài trợ từ không lực. Nó sử dụng những người thông minh, nhưng cho thấy khuynh hướng đi theo các chính sách đã được bên trả tiền chủ trương. Không có gì lạ McNamara là một người nhiệt tình ủng hộ công việc của nó, vì phần lớn đều phản ảnh sự phân tích hệ thống mà ông ưng ý. Khi Giáo sư Anh

Michael Howard đến thăm Santa Monica, ông rất ấn tượng trước năng lực trí tuệ tại chỗ, nhưng sau đó băn khoăn cho rằng RAND ‘dường như là một tu viện nương náu các nhà thần học thông minh, hoàn toàn xa cách với các vấn đề thực tiễn của thế giới  … Những thành viên RAND dường như đang rơi vào một lỗi lầm khi  cho rằng mọi thứ liên hệ đến chiến tranh đều có thể định lượng.’ Howard đặc biệt hết hồn khi nghe họ tranh luận hăng hái xem nhanh cỡ nào thì thành phố Los Angeles mới có thể có người sinh sống trở lại sau một trận chiến hạt nhân.

Với sự xuất hiện của Jack Kennedy, các xếp của RAND nhận ra rằng chống nổi dậy đang trở thành việc làm ăn lớn, và vào năm 1961 họ cử sứ đoàn đầu tiên của họ đến Sài Gòn. Trong những năm sau đó, tập đoàn đóng một vai trò cố vấn có ý nghĩa. Hầu như không ai trong số các bộ não của nó thắc mắc lý do tại sao Hoa Kỳ phải tham chiến: đốt cháy bởi ngọn lửa nhiệt tình sứ mạng họ chỉ ra sức  tìm cách nào để đất nước họ có thể thắng cuộc chiến này tốt nhất. Phân tích viên Alex George nói: ‘Ở RAND không có những người chủ hòa.’ Trong những năm đầu thập niên 1960 hầu hết các nghiên cứu đều tiến hành ở Santa Monica, bởi vì it nhân viên muốn di dời đến Sài Gòn.

Nói cho công bình với chính quyền Kennedy,  vào những ngày đó một số các lãnh tụ Đông Nam Á, nhất là Lý Quang Diệu của  Singapore, chia sẻ hoặc công khai chia sẻ sự tin tưởng là việc  cộng sản đánh bại Việt Nam là nguy ngập cho sự ổn định trong khu vực. Một số đồng minh chủ chốt cũng thế. Chính quyền Anh xem vị thế của Mỹ ở Đông Dương là bấp bênh, nhưng bộ trưởng ngoại giao Lord Home lưu ý, ‘Tôi hy vọng người Mỹ có thể giữ được.’ Dù cho Anh dè dặt thế nào về cuộc chiến, giờ thì uy tín của phương Tây đã được đặt cược,  dường như phải thắng. Thủ tướng Mã Lai Tunku Abdul Rahman thúc giục Sir Robert Thompson, người đã đóng một vai trò quan trọng trong việc đạo diễn trận thắng lợi trước cuộc nổi dậy cộng sản của xứ sở ông, ‘Ngài phải đi tới Việt Nam để giúp chống giữ tiền tuyến của tôi.’

Một số người Mỹ được cổ vũ từ những thành tựu của người Anh trong việc quét sạch du kích dân tộc, mặc dù các sĩ quan Anh không tiết lộ những phương pháp tàn bạo được sử dụng để đạt được các thành quả này. Dù họ xử sự ít độc ác hơn người Pháp trong cuộc chiến thuộc địa, nhưng phương thức của họ ở

Mã Lai, Kenya, Cyprus, Aden cũng đáng buồn nôn.

Chính quyền London áy náy và đôi khi thấy có tội về vị thế đồng chủ tích trong Hiệp định Geneva ban đầu của mình, và do đó mất tính thần trước con số lên cao các cố vấn Mỹ được phái đến Việt Nam, vi phạm điều khoản. Vào năm 1961 đại sứ Anh đề nghị người Mỹ có thể an toàn với số cố vấn lên tới 100 người,  chỉ để được thông báo một cách dứt khoát là có đến 8,000 cố vấn đang đến Miền Nam. Thủ tướng Harold Macmillan, trung thành như bao giờ,  đồng ý sẽ giữ kín chuyện này, và bày tỏ sự nhẹ nhõm khi không thấy có chương trình đem lực lượng tác chiến đến. Tuy nhiên,  nhân viên ông thúc giục Hoa Kỳ nên kín đáo về việc tăng quân, và vì vậy phải nuốt giận vào tháng 12 khi Washington cho biết mình đã quyết định không để một vài mệnh đề trong Hiệp định Geneva trói buộc mình thêm nữa. 

Người Anh tiếp tục dao động về mức độ can thiệp bên cạnh người Mỹ. Họ duy trì một quan điểm có tính sở hữu về Đông Nam Á; tin rằng mình hiểu về sự phản nổi dậy; khao khát sự thảm bại của người cộng sản. Vào năm 1962 họ chống đối đề nghị mở cuộc hội thảo về việc trung lập hóa Việt Nam, như Lào, bởi vì vị thế Diệm hình như quá yếu. Harry Hohler, đại diện Anh tại Sài Gòn, viết theo hướng diều hâu: ‘Bất kì giải pháp nào về Việt Nam không đưa đến việc đè bẹp hoặc xóa bỏ Việt Cộng chỉ đơn giản trao Miền Nam cho Cộng sản,’ một kết quả ông xem sẽ là ‘thảm họa đối với lợi ích và đầu tư của Anh tại Đông Nam Á và tác hại nghiêm trọng đối với triển vọng ngăn chặn làn sóng Cộng sản của Thế giới Tự do’.

Tuy vậy  người Anh không thích cách người Mỹ quản lý vấn đề Miền Nam,  và bối rối trước sự bất hoà giữa CIA, Bộ Ngoại giao,  Quân đội Mỹ, và các đại sứ liên tiếp.  Trong khi đó, người Mỹ cũng bất bình trước sự can thiệp vào mảnh đất của họ – Ed Lansdale, đặc biệt, mất kiên nhẫn trước sự cố vấn của một lô thầy dùi thuộc nhóm kẻ thua cuộc thực dân cũ. Như Ngũ Giác Đài, ông coi thường một đề xuất mà Bộ Ngoại giao ưng ý, là mời Quân đội Anh gửi người huấn luyện. Thay vào đó đại sứ Nolting bảo với bên đối tác Anh rằng Tổng thống Diệm chỉ yêu cầu được Robert Thompson cố vấn về các biện pháp cảnh sát và tổ chức. Vào thời điểm đó, với một chính quyền Tory (đảng Bảo thủ) nắm quyền  tại Westminster và Kennedy tại Nhà Trắng, nếu người Mỹ đã yêu cầu các huấn luyện viên quân sự họ sẽ chắc chắn đã nhận được, và điều này có thể là không quan trọng lúc đầu nhưng về sau sẽ có tác dụng lớn lao. Nhưng nỗ lực  chiến tranh chỉ đã chọn

Thompson. Kinh nghiệm của ông, cùng với cố vấn của một phái đoàn Anh nhỏ, gây một hiệu quả có ý nghĩa: CIA nhìn nhận sự quan trọng cho việc thu nhập tin tình báo của một  Ngành Đặc biệt trong cảnh sát,  mà họ khuyên người Việt sao chép. Ngược lại, tuy đôi lúc Thompson được mời đến nói chuyện ở Washington và Sài Gòn,  ông ít gây ra ảnh hưởng đối với các biện pháp lớn.

Mùa đông 1962 gợn lên một chút lạc quan ngắn ngủi trong số các người Mỹ cho rằng chế độ đang trở nên tiến bộ hơn. Người Úc đồng ý mở một trường dạy nghệ thuật chiến tranh rừng rậm. Học giả nổi tiếng Denis Warner giải thích lý do của việc này cho các đồng bào mình: ‘Tại sao Úc can thiệp vào chiến tranh Việt Nam? Một phần vì chúng ta nghĩ rằng thắng lợi của cộng sản ở đó sẽ đe dọa đến phần còn lại của Đông Nam Á và gây hiểm nghèo cho an ninh chúng ta và một phần do nhu cầu cầu thuyết phục người Mỹ rằng chúng ta không phải là cọp giấy … Đó là một hình thức che đậy sự bảo hiểm trọn đời.’ Phí bảo hiểm tăng tốc: năm 1969 số người Úc phục vụ tại Việt Nam lên đến 8 772 người,  trong đó có 500 người chết. Trong khi các cố vấn chiến lược Washington đến rồi đi, một người trọng tài ở lì đó 7 năm liên tục. Nhân vật vốn sẽ đóng vai trò trong việc tạo ra thảm kịch Việt Nam của Mỹ chỉ đứng thứ hai sau Lyndon Johnson là thuộc số những hiệp sĩ không mấy hứa hẹn của triều đình Camelot (ý chỉ bộ sậu của Kennedy. Robert McNamara 44 tuổi khi vào năm 1961 ông lần đầu tiên bước vào văn phòng Ngũ Giác Đài đồ sộ, 3E 880. Ông dường như không hề trẻ và tắc trách: các người thời lưu trong bộ máy hành pháp thì thầm chế giễu rằng ông thực tập nhảy điệu Twist trước gương, đề phòng gặp lúng túng khi có dịp khiêu vũ ở Nhà Trắng. Ngôi sao trước đây của Trường Doanh Nghiệp Harvard và ông chủ cự phách của tập đoàn Ford Motors đã đi lên từ một xuất thân khiêm nhường ở California nhờ bộ óc xuất chúng và làm việc không ngừng nghĩ.  Ông nhận công việc quốc phòng bởi vì ông bị thu hút không thể cưỡng lại cơ hội được thể hiện quyền lực. Bên ngoài gia đình, ông là người lạnh lùng hiếm khi được cho là người có đạo đức: vào năm 1961 ông chủ trương điều hư cấu về cái gọi là ‘khoảng hở tên lửa’ chiến lược (tức cho rằng Nga vượt xa người Mỹ một khoảng cách về vũ khí tên lửa chiến lược), và công kích vô căn cứ và không xấu hổ người tiền nhiệm của mình Thomas Gates.

Văn phòng McNamara trở thành một phòng dynamo: cho việc chương trình hóa tăng cường tên lửa; mở rộng quân đội để đáp ứng với khủng hoảng Berlin; xúc tiến hệ thống vũ khí mới.  Trong bi kịch Cuba tháng 10 1962, chính McNamara là người  nghĩ ra việc phong tỏa của Hải quân Mỹ. Ông dường như không còn thiếu tự tin, và chủ trương một quyết định tốt cũng nên là một quyết định nhanh. Nỗi ám ảnh của ông về quyền kiểm soát khiến ông hay phàn nàn về những phát ngôn thiếu kiềm chế: ông gây chiến với những kẻ rò rỉ thông tin quân sự, và muốn coi mình là tiếng nói công luận duy nhất của lực lượng vũ trang Hoa Kỳ.

McNamara bảo với Thượng viện vào tháng 9 1961: ‘Trong lịch sử không có xu hướng nào song hành với xu hướng của chủ nghĩa đế quốc Cộng sản Xô viết nhằm thuộc địa hóa thế giới … (Không tên độc tài) nào tổ chức chặt chẽ như thế,  sở hữu nhiều công cụ hủy diệt như thế.’ Ông không ngại nói dối thẳng thừng về chính nghĩa chống lại mối đe dọa của Xô viết  – một thói quen cuối cùng hủy hoại tiếng tăm ông.

Tường trình trước Quốc hội, ông kể vanh vách các số liệu được ca tụng như chứng cứ về năng lực nhớ phi thường của mình: Trung tướng Fred Weyand, tuy nhiên, nhận xét rằng nhiều số liệu của ngài bộ trưởng là sai bét. Mặc dù là một chiến binh tận tụy của Chiến tranh Lạnh,  trong năm đầu tiên ở chính quyền ông chống đối chi tiền cho cuộc chiến Việt Nam: ‘Chúng ta gần như chắc chắn ngày càng lún sâu vào một cuộc chiến không có kết thúc.’ Ngược lại,  nếu Hoa Kỳ tung một đạo quân lớn, ‘cuộc chiến có thể kéo dài và Hà Nội và Bắc Kinh có thể công khai can thiệp  … Thành công sẽ tuỳ thuộc vào các nhân tố mà nhiều trong số đó nằm ngoài sự kiểm soát của chúng ta – nhất là hành vi của chính Diệm.’

Nhưng rồi McNamara đổi ý. Vào tháng 5 1962 ông đến thăm lần đầu tiên Việt Nam. 

Paul Harkins, một người chém gió chỉ huy MACV, người chủ trì chuyến đi. Vị tướng được trao một danh sách các câu hỏi sắp tới của bộ trưởng quốc phòng, để ông ta có thời gian chuẩn bị câu trả lời,  dựa trên các số thống kê mà McNamara yêu thích. Harkins xác nhận rằng viện trợ của người Mỹ đang củng cố sức mạnh cho chế độ Diệm chống lại cuộc nổi dậy cộng sản, mặc dù thậm chí khi vị bộ trưởng đang nghe báo cáo tại Bình Dương,  thì một đoàn xe QĐVNCH gần đó bị tấn công, 5 người bị giết. Trong khi ông đi kinh lý căn cứ phía bắc ở Đà Nẵng,  thì Việt Cộng cho nổ tung một tàu hỏa chở quân cách đó 9 dặm, giết chết 27 người và làm bị thương 30 người.  McNamara bảo với phóng viên UPI trẻ

Neil Sheehan, ‘Mỗi đo lường định lượng chúng ta có cho thấy chúng ta đang thắng.’ Ông ta không nhận thức được rằng ‘các đo lường định lượng’ được Harkins kéo từ trên trời xuống. Về Harkins, Sheehan sau này viết: ‘Ông buộc mình tin tưởng những gì ông ta muốn tin tưởng và bác bỏ những gì ông ta muốn bác bỏ. ‘

 Những người ngưỡng mộ McNamara tôn trọng thái độ cách biệt của ông coi đó là phản ánh tính vô tư và liêm chính: ông thậm chí được nắn gân cốt để đứng liên danh với Kennedy trong cuộc bầu cử tổng thống 1964. Hanson Baldwin, nhà bình luận quân sự được kính trọng, viết một bài trong tờ

Saturday Evening Post có đầu đề ‘Nền Quân Chủ McNamara’, mô tả bộ máy quốc phòng mới.  Những kẻ thù của vị bộ trưởng, nhiều người trong số đó là quân nhân, phàn nàn tính ngạo mạn của ông.  Ông bộc lộ một niềm tin thiếu cơ sở là mình hiểu rõ quân đội.

Tuy vậy, giữa những năm 1961 và 1967, McNamara có ảnh hưởng lên chính sách về Việt Nam hơn bất kì đồng bào nào của mình trừ các đời tổng thống kế tiếp. 

Điều chính yếu mà những người Mỹ nào thực sự hiểu về Việt Nam hiểu là họ hiểu ít ỏi biết bao. Cố vấn quân sự Gordon Sullivan đã tình nguyện, sợ chiến tranh sẽ qua đi trước khi anh có dịp đến với nó. Chàng trung uý 25 tuổi từ  Massachusetts đáp xuống Miền Nam sau một khóa học tiếng Việt 6 tuần. Anh tìm thấy Sài Gòn ‘thơ mộng, đúng là một thị trấn ngái ngủ trên sông: không màn lưới chắn bom, ban nhạc Philippin rầm rập bên kia đường Tự Do.  Thật không dễ dàng để làm một cố vấn trong những ngày đó: tôi có một chiếc đài, nhưng đầu bên kia đài không có gì’ – từ đầu đến cuối cuộc chiến, người Việt chủ yếu đề cao các cố vấn Mỹ ở năng lực kêu gọi pháo binh yểm trợ không khich tuyệt với qua máy bộ đàm. 

3 Lê Duẩn Nâng Cao Tiền Cược

Trong thời gian 1961-62 chính quyền Miền Bắc tâch xa Liên Xô,  hướng gần hơn với Bắc Kinh, vậy mà không bên nào cổ vũ Hà Nội leo thang. Phe Cộng sản cảm thấy đã mắc kẹt đủ vụ lộn xộn ở  các nơi khác – Cuba,  Berlin,  Albania,  Congo. Những khó khăn nội bộ của Miền Bắc vẫn còn: dân số tăng lên nửa triệu người một năm,  nhưng sản lượng gạo mỗi đầu người đã giảm. Trung Quốc đang nhập một số lượng gạo đáng kể và hai phần ba sản lượng than từ Miền Bắc để đổi lại số tiền mặt trả lại nhỏ giọt. Số nông dân đói ăn lên thành phố kiếm sống, nhưng ở đó cũng ít việc để làm: nguyên vật liệu thiếu thốn khiến nhiều hãng xưởng chỉ hoạt động cầm chừng. 

Từ tháng 5 1961 khẩu phần thịt ở Miền Bắc rớt xuống chỉ còn vỏn vẹn bốn ao-xơ một tuần mỗi người. Mùa hè đó những người phản kháng nạn đói phóng hỏa các kho thóc giữa  các cuộc xô xát với binh lính, và vào tháng 8 đốt rụi một nhà máy xe đạp. Một quả bom phát nổ ở thành phố Đông Anh. Có một vụ nổi dậy của quân đội địa phương,  và trong hai trường hợp các bộ tộc Hmong tấn công đoàn xe quân đội. Miền Nam và các cố vấn Mỹ cổ vũ các hành động như thể, và tiến hành một chiến dịch liều lĩnh dùng biệt kích thọc vào Miền Bắc những không thành công.

Tuy nhiên, tình trạng bất đồng trong dân chúng của Hồ Chí Minh đều là tự phát vì đói và bị trấn áp hiệu quả. Vào tháng 10 1961 nhà ngoại giao Pháp báo cáo rằng dân chúng đã cam chịu ‘sự nhẫn nhục thụ động’. Dương Vân Mai nói về người Miền Bắc: ‘Dân chúng mù tịt thông tin đến độ khó tin. Họ như thể ngồi ở đáy giếng, chỉ trông thấy một khoảng trời. Người cộng sản có quá nhiều cơ chế để kiểm soát.’

Lê Duẩn hiện giờ khống chế việc hoạch định quyết sách,  như ông sẽ tiếp tục làm trong một phần tư thế kỷ sau đó, mặc dù thế giới không biết điều này. Trong bộ phim sử thi Hollywood El Cid, thi hài của vị anh hùng trung cổ Tây Ban Nha mang cùng tên với tựa phim được gắn chặt lên yên ngựa cầm đầu quân đội mình xông ra chiến trường và đi đến thắng lợi cuối cùng.  Có điều gì đó cũng giống như Hồ Chí Minh. Ông luôn sợ hãi Việt Nam sẽ trở thành một Triều Tiên mới,  một chiến trường tan hoang trên đó Mỹ và Trung Quốc lại quật nhau để xưng bá. Khi sức khoẻ ông sụt giảm và các đồng chí trẻ hơn nắm lấy thế chủ động,  ông từ bỏ quyền thống soái, và thậm chí từ bỏ ảnh hưởng đến việc gây chiến. Nhưng ông vẫn duy trì là một bù nhìn cần thiết, tranh thủ được sự kính trọng trên thế giới. Hồ và thủ tướng Phạm Văn Đồng vẫn tiếp tục là gương mặt đại diện cho giới lãnh đạo Miền Bắc,  trong khi Lê Duẩn gần như là vô hình. Còn Giáp, vốn dựa vào Moscow,  trở thành mục tiêu ác cảm của các đồng chí luôn phàn nàn về bộ sậu phình to của ông  và tính háo danh. Có người gọi ông là  ‘một kẻ khoác lác và phô trương’. Trưởng hậu cần trước đây của lực lượng vũ trang tại Điện Biên Phủ không ưa vị chỉ huy cũ của mình,  và thường phàn nàn với Hồ.  Một tướng lĩnh cao cấp và bộ trưởng nội các khác, đồng thời là em của Lê Đức Thọ, ví người cựu quân nhân lừng lẫy này như cái thùng cũ, hay kêu. ‘Thùng càng rỗng, càng kêu to.’ Lê Duẩn thể hiện tài năng và tính kiên nhẫn trong việc điều hòa các mối quan hệ với Xô viết và Trung Quốc. Ông thích trích dẫn một câu tục ngữ Việt Nam có nội dung tương tự như tục ngữ Anh ‘Khi ở La Mã, hãy làm những gì La Mã làm’: ‘Đi với Phật mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy.’ Ông và phe đảng ông cho người Nga không đáng tin cậy và yếu đuối, không phải chỉ vì né tránh trước tiên trong vụ khủng hoảng tên lửa ở Cuba. Trong số những người cứng cỏi đó tính thần Spartan  – chịu đựng gian khó để theo đuổi một mục đích cao cả  – lấn át lên tất cả. Lê Duẩn thường than vãn phải nhiều lần đến Bắc Kinh để khẩn cầu, phải chịu đựng sự khinh rẻ. Một người hầu cận ông kể rằng trong chuyến đi 1961 Chu Ân Lai nói thách,  ‘Tại sao người ông cứ muốn tiến hành đấu tranh vũ trang ở Miền Nam? … Nếu chiến tranh mở rộng ra Miền Bắc,  tôi nói trước với ông là Trung Quốc sẽ không gửi quân giúp các ông đánh với bọn Mỹ đâu … Các ông tự mình lo liệu, và phải lãnh mọi hậu quả. ‘

Lê Duẩn đôi khi gọi Mao là ‘tên khốn đó’, và khi chủ tịch của Trung Quốc có lần to tiếng khoác lác trước một phái đoàn Hà Nội về việc tung Quân đội Nhân dân Giải phóng xuống giải phóng Miền Nam, ông ta đánh thức nỗi sợ ăn sâu trong gan ruột của mọi người Việt về bản chất đế quốc của người láng giềng nhiều ân oán lịch sử này. Dù Lê Duẩn nghiêng theo Trung Quốc,  ông cũng cấm phê phán trực tiếp Liên Xô,  vì Hà Nội cần đến các vũ khí tính vi và nhà máy hạt nhân. Ông thường đưa ra các nhận xét mỉa mai về tính bỏn xẻn của viện trợ Trung Quốc, bày tỏ sự tin tưởng rằng Bắc Kinh xem cách mạng Việt Nam như  ‘một món tiền mặc cả trong đàm phán với Hoa Kỳ ‘.

Vào năm 1961-62 người Miền Bắc nhìn thấy mối nguy trong việc đẩy một tổng thống Hoa Kỳ mới đi quá xa: mặc dù họ gia tăng việc can thiệp Miền Nam, họ vẫn tỏ ra lo lắng tránh khiêu khích người Mỹ gởi quân tham chiến. Họ phân vân liệu có nên bước vào đàm phán và thúc giục các đồng chí Miền Nam thông qua Trung ương Cục Miền Nam tập trung vào đấu tranh chính trị.  Trong một trong các ‘Thư vào Nam’ của Lê Duẩn, đề ngày 7 tháng 2  196, ông nhìn nhận,  ‘Chúng ta yếu hơn kẻ địch.’ Điều quan trọng, ông nói,  là nhấn mạnh tính tự trị của MTDTGP, và không cho phép nó được dán nhãn hiệu là công cụ của Hà Nội. Đó là một nghịch lý của thời kỳ này khi mà Hà Nội ban cho các đồng chí Miền Nam rất ít hậu thuẫn họ đang cần đến,  thì trên vũ đài quốc tế ngôn từ các lãnh đạo Miền Bắc trở nên hiếu chiến hơn: Lê Duẩn có khuynh hướng xác lập giấy chứng thư là người cầm cờ cho phong trào cách mạng thế giới. Tiếng gào thét của ông khiến Ấn Độ,  chỉ liệt kê một,  bất bình,  và không còn coi Miền Bắc là một thập tự quân bạn bè chống lại sự áp bức của bọn đế quốc, mà thay vào đó là mối đe dọa cho ổn định khu vực 

Năm 1962, Hà Nội cuối cùng cho phép một số lớn các Việt Minh tập kết ra bắc vào năm 1954 trở về Miền Nam, nơi một lần nữa thành viên Đảng Cộng Sản lại trỗi dậy. Mọi nơi đều là người của MTDTGP nắm quyền, các cán bộ của mặt trận ra sức làm thay đổi các tập quán nhiều thế kỷ. Các chương trình học thách thức thuyết số mệnh an bày của người Việt  – sự lệ thuộc của phụ nữ. Khi có đám cưới, bí thư xã thường đóng vai các ông mai. Tại trường tiểu học, các em phải giải những bài toán như ‘Có 50 lính ngụy đang đóng trong đồn địch. Quân ta tấn công, giết được 20 tên. Hỏi còn bao nhiêu tên địch? Đôi khi có người dám lên tiếng hỏi khi nào Mặt Trận hoặc Đảng cung cấp thuốc trừ sâu, cho vay, máy bơm, máy kéo, và cố vấn về việc phối giống như chế độ Sài Gòn từng làm. Cán bộ bảo đảm với nông dân những việc tốt đẹp này sẽ được Miền Bắc ban xuống ngay khi cách mạng thành công. 

Cho đến 1963 nguồn  vũ khí chủ yếu của Việt Cộng đều là vũ khí chiếm được của lực lượng chính quyền: đến cuối 1961 ước tính chỉ có 23,000 vũ khí sử dụng được lọt vào tay du kích quân. 

Tuy nhiên, hoạt động ám sát không cần nhiều hỏa lực.  Giữa những năm 1957 và 1960 một ước tính đáng tin cậy cho biết 1,700 viên chức xã và tỉnh bị sát hại. Trong năm 1961 con số này tăng lên đến 1,300. Cũng có những nạn nhân có chức vị cao, như một đại tá Miền Nam – sĩ quan liên lạc cao cấp của Sài Gòn với ICC (Ủy ban Kiểm soát Quốc tế) – bị bắt cóc và tra tấn đến chết). Các vụ sát hại lên đến 2,000 vào năm 1963, rồi xuống còn 500, bởi vì cộng sản đã thủ tiêu hầu hết các kẻ thù địa phương có thể vớ tới được.  Các viên chức và điền chủ sống sót được nhờ chọn giải pháp an toàn không bị hại, gây bất lợi cho chính quyền Sài Gòn, là sống tách biệt với giới nông dân, về cư ngụ tại quận lỵ và thành phố. MTDTGP tịch thu đất đai những điền chủ bỏ chạy, cấp lại cho người theo cách mạng, khiến họ càng tin tưởng vào sự thành công của mặt trận.

Trong suốt cuộc chiến binh lính Mỹ khi thì sử dụng tiếng lóng ‘dink’ (bọn ngốc) khi thì ‘gook’ (bọn củ sâm, dùng trong chiến tranh Triều Tiên trước đây) để chỉ kẻ thù nguyên thủy, và tin tưởng quá đáng vào kỹ năng và sức chịu đựng siêu phàm của mình.

Hành động dã man vẫn là vũ khí chính của cộng sản. Việt Cộng có lần đi vào một ngôi làng ở Cai Lậy, tố cáo 20 cư dân nam nữ  là gián điệp chính quyền,  chặt đầu họ rồi ném thủ cấp ra đường,  mỗi đầu đính kèm một tờ giấy là bản án, liệt kê tội trạng của họ. Ở nơi khác một trưởng làng bị trói vào cọc và mổ bụng trước mặt dân làng tụ họp; bà vợ đang mang bầu cũng bị mổ bụng, con cái họ bị chặt đầu. Những hành động tàn khốc như thế được dàn dựng tinh vi để răn đe các nông dân rằng cái giá kháng cự lại cách mạng còn tệ hơn cái chết bình thường. 

Tính tàn nhẫn không chỉ có ở một bên, tất nhiên. Doug Ramsey điều hành một cuộc khảo sát tại tỉnh Long An, và tìm thấy rằng khoảng từ một phần tư đến phân nửa đã mất bà con do các hoạt động của lực lượng mật vụ Sài Gòn. Trong thời gian 1962-63, binh lính quốc gia giết 150 cư dân chỉ trong một ngôi làng đơn lẻ trong vùng đồng bằng Cửu Long. Trong số này  có khoảng 60 có dính líu đến MTDTGP, nhưng số còn lại thì không. Trong số hàng ngàn tù nhân chính trị bị gìam giữ trong các điều kiện khủng khiếp, một số trong một khu vực ở sở thú Sài Gòn, có quá nhiều người vô tội. Không có tiến trình xét xử hợp pháp nào cả.

Mặc dù các vùng đô thị vẫn nằm dưới quyền kiểm soát vững chắc của chính quyền,  ở vùng nông thôn cuộc chiến chống du kích như chiếc bập bênh, quyền kiểm soát làng mạc và vùng lãnh thổ thường sang tay. Sài Gòn có được một kho vũ khí và trang bị mới, và đôi khi sử dụng chúng một cách hiệu quả. Vào cuối tháng 8 1962, được một người chiêu hồi dẫn đường,  binh lính Miền Nam xâm nhập một căn cứ huấn luyện của MTDTGP tại Mỹ Phước Tây, giết được 150 cán bộ và du kích đang học tập; những người sống sót trốn chạy về làng.

Trực thăng Mỹ làm gia tăng một cách ngoạn mục tính cơ động chiến thuật của  QĐVNCH, nhờ thế họ xông vào các vùng nông thôn mà nhiều năm trời người cộng sản đã giữ vững quyền kiểm soát chưa hề bị thách thức. Nhưng năng lực và ý chí không phải là một thứ: nhiều đơn vị Miền Nam không chịu đi tuần tra vì sợ bị phục kích và nao núng trước những trận đánh ác liệt. Năm 1963 Việt Cộng bắt đầu nhận được khối lượng lớn vũ khí từ Miền Bắc chở vào thường bằng đường biển, bao gồm súng không giật và súng cối, thường đổ vào đồng bằng Cửu Long.  

Ở thành phố,  các cán bộ ra sức chuẩn bị vận động quần chúng làm một cuộc tổng nổi dậy. Trẻ em thường được sử dụng để ném lựu đạn vào các quán cà phê hoặc chợ búa. Tình báo chính quyền vẫn còn nghèo nàn, trong khi đặc vụ cộng sản rất tinh vi trong việc che giấu thân phận. Là một giao liên VC, Trương Mealy 10 tuổi  thỉnh thoảng được cử vào thị trấn để gặp một nhân vật có mật danh trong một tiệm ăn, nắm chặt nửa tấm giấy bạc để liên lạc với người có nửa tấm còn lại.

Nhịp độ cuộc chiến đang tăng tốc: sau hai năm trong đó động lực của cuộc đấu tranh vũ trang chủ yếu đến từ căm thù người Miền Nam đối với chính quyền Sài Gòn.  Ảnh hưởng và tài nguyên của Hà Nội đang dần trở nên rõ ràng hơn.  Các lãnh đạo Miền Bắc ngửi thấy mùi thịt thối rữa, mùi phân huỷ vào giai đoạn cuối, thoảng ra bay đến nông thôn từ dinh tổng thống ở Sài Gòn. Họ đã trở nên hết kiên nhẫn muốn nhanh tay sắp xếp hậu sự cho chế độ Diệm. Những người có máu mặt ở Washington cũng vậy.

Các lãnh đạo, từ trái qua: Dean Rusk,  Kennedy,  McNamara

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s