Chiến tranh 1979 và yếu tố Liên Xô trợ giúp Việt Nam

nhatbook-China’s-1979-War-with-Vietnam-Xiaoming-Zhang

Е.В. Кобелев

Người dịch: Nguyễn Tuấn Anh

Bài báo Chiến tranh 1979 và yếu tố giúp đỡ của Liên Xô được dịch từ tiếng Nga trong cuốn “NGHIÊN CỨU VIỆT NAM NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN THIẾT – 2019: Quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc sau chiến tranh biên giới năm 1979.” Do VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC NGA. Tổ chức Ngân sách Nhà nước Liên bang. Viện Nghiên cứu Viễn Đông. Trung tâm Nghiên cứu Việt Nam và ASEAN ấn hành năm 1999 nhân kỷ niệm 40 năm chiến tranh Việt – Trung 1979. Nguyên văn tiếng Nga trang 75 ВОЙНА 1979 г. И ФАКТОР СОВЕТСКОЙ ПОМОЩИ СРВ.

Trong những năm 1970-1980, tác giả của bài này làm việc trong Vụ Quốc tế của Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô, chịu trách nhiệm về quan hệ của Liên Xô với Việt Nam, Lào và Kampuchia. Và, tất nhiên, [tác giả] đã liên tục theo dõi sự phát triển của tình hình Việt Nam và mâu thuẫn ngày càng gia tăng giữa Việt Nam và Trung Quốc.

Trong thời kỳ Mỹ xâm lược Việt Nam, Trung Quốc mặc dù từ chối hành động thống nhất cùng với Liên Xô ủng hộ Việt Nam, nhưng vẫn đơn phương liên tục cung cấp sự trợ giúp có thể và duy trì quan hệ bình thường với Liên Xô. Tuy nhiên, sau khi Việt Nam thống nhất, quan hệ với Trung Quốc – tưởng chừng như bất ngờ nhưng thực tế lại khá hợp lý – trở nên đối đầu gay gắt trên hai phương diện địa chính trị và địa chiến lược có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với cả hai bên: 1) xung đột không thể hòa giải về lợi ích đảng-nhà nước của hai nước ở Campuchia và khu vực xung quanh; 2) Cuộc đấu tranh để xác lập quyền kiểm soát đối với hai quần đảo lớn nhất ở Biển Đông là Hoàng Sa và Trường Sa. Ở nước láng giềng Campuchea, chế độ Pol Pot-Ieng Sari lên nắm quyền vào tháng 4 năm 1975, ngay từ những ngày đầu tiên đã bắt đầu theo đuổi chính sách diệt chủng tội ác chống lại chính người dân của mình. Theo nhiều nguồn khác nhau, trong những năm của chế độ Pol Pot ở Campuchia, có từ 2 đến 3 triệu người chết. Chính sách đối ngoại của chế độ Pol Pot được đặc trưng bởi chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa bài ngoại. Đồng thời, kẻ thù chính được cho là nước láng giềng Việt Nam, đất nước đã luôn giúp đỡ và hỗ trợ nhân dân Campuchia trong cuộc đấu tranh chính nghĩa của họ. Hơn nữa, “Đảng Cộng sản” của Pol Pot là một bộ phận của Đảng Cộng sản Đông Dương trước đây. Tại Đại hội lần thứ hai vào năm 1951, đảng này đã quyết định chia thành ba đảng độc lập Việt Nam, Lào và Campuchia. Như đã nêu trong một trong những văn kiện của Đảng Campuchia đầu những năm 1980, “mặc dù Đảng Cộng sản Đông Dương chia thành ba đảng nhưng tất cả đều tiếp tục giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc đấu tranh. Đặc biệt là đảng cộng sản Việt Nam là mạnh nhất, hùng mạnh nhất. Những người cộng sản Việt Nam đã giúp đỡ phát triển các cuộc cách mạng Campuchia và Lào”.1

Bất chấp nhiều nỗ lực của Hà Nội để giải quyết các vấn đề tranh chấp thông qua đàm phán, sự thù địch của chế độ Pol Pot Campuchia ngày một gia tăng. Tháng 12 năm 1977, chế độ Pol Pot tuyên bố cắt đứt quan hệ ngoại giao với CHXHCN Việt Nam. Đến giữa năm 1978, quân Pol Pot tập trung 19 sư đoàn bộ binh (trong tổng số 23 sư đoàn của Campuchia) ở khu vực biên giới với Việt Nam.2

Đương nhiên, quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc bắt đầu xấu đi rõ rệt, và Trung Quốc đã hỗ trợ rộng rãi về quân sự và chính trị cho chế độ Pol Pot. Song song với việc này, vào đầu năm 1978, một xung đột khác nảy sinh trong quan hệ Việt – Trung liên quan đến Hoa Kiều – công dân Việt Nam mang quốc tịch Trung Quốc. Trước tình hình căng thẳng ngày càng gia tăng trong quan hệ Việt – Trung, Hoa kiều bắt đầu di tản hàng loạt về Trung Quốc.

Việt Nam bất ngờ rơi vào tình thế vô cùng nguy hiểm về quân sự – chính trị, khi mối đe dọa đối với an ninh của đất nước mỗi ngày một lớn từ hai hướng – Tây Nam và Bắc. Trong tình hình đó, với nỗ lực củng cố vị thế quân sự và chính trị, ban lãnh đạo Việt Nam quyết định thực hiện hai chính sách đối ngoại lớn. Trước hết, Việt Nam nộp đơn lên Hội đồng tương trợ kinh tế (SEV) đề nghị gia nhập tổ chức này vào tháng 6 năm 1978, (đề nghị này đã được nhất trí thông qua tại kỳ họp tiếp theo của CMEA), do đó chính thức hóa về mặt pháp lý Việt Nam thành viên trong “cộng đồng xã hội chủ nghĩa.”

Thậm chí hành động thứ hai của Hà Nội còn có ý nghĩa hơn, khiến giới quan sát quốc tế khá bất ngờ và Bắc Kinh rất khó chịu đó là: ngày 3/11/1978, tại Mátxcơva, trong chuyến thăm chính thức của đoàn đại biểu Đảng và Chính phủ Việt Nam do Lê Duẩn và Phạm Văn Đồng làm Trưởng đoàn, Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác được ký kết giữa Liên Xô và Việt Nam là văn kiện chung đầu tiên thuộc loại này trong lịch sử lâu dài của quan hệ Việt-Xô. Điều đáng chú ý là trong khoảng thời gian 2-3 năm trước đó, Matxcơva đã nhiều lần đề nghị Hà Nội ký một hiệp định như vậy, nhưng những đề nghị này đều không được hồi đáp.

Điều khoản sau trong hiệp định đã thu hút sự chú ý đặc biệt của giới quan sát: “Các Bên ký kết sẽ tham vấn với nhau về tất cả các vấn đề quốc tế quan trọng ảnh hưởng đến lợi ích của cả hai nước. Trong trường hợp một trong các Bên trở thành đối tượng của một cuộc tấn công hoặc đe dọa tấn công, các Bên ký kết sẽ ngay lập tức bắt đầu tham vấn lẫn nhau để loại bỏ mối đe dọa đó và thực hiện các biện pháp hiệu quả thích hợp để đảm bảo hòa bình và an ninh quốc gia của hai nước.”3

Hiệp ước có hiệu lực vào ngày 13 tháng 12 năm 1978 và cuối tháng 12, sử dụng “quyền tự vệ hợp pháp”, Quân đội Nhân dân Việt Nam (NAV), phối hợp với lực lượng vũ trang quân đội Mặt trận Thống nhất Cứu quốc Campuchia (EFNSK) mới thành lập đã triển khai các hành động quân sự quy mô lớn trên lãnh thổ Campuchia. Ngày 10 tháng 1 năm 1979, chế độ tội ác Pol Pot sụp đổ và Cộng hòa Nhân dân Campuchia (NRC) tuyên bố thành lập. Tác giả của bài báo này với tư cách là thành viên của phái đoàn Liên Xô đã tới Campuchia hai tháng sau khi thành lập. Ông còn nhớ rõ khi phái đoàn bay đến cảng Kampong Saom (nay là Sihanoukville) bằng trực thăng Sikorsky thì gặp một tướng Việt Nam từng học tại Học viện quân sự ở Leningrad. Ông nói với tác giả rằng về mặt chiến lược, cuộc hành quân giải phóng Campuchia đã được chuẩn bị ở trình độ chuyên môn cao. Cùng lúc, từng phút từng phút, Quân đội Nhân dân Việt Nam huy động bảy cánh quân đổ bộ vào lãnh thổ Campuchia, từ các hướng khác nhau tiến đến Phnôm Penh và chiếm được Phnôm Pênh hai tuần sau đó. Nhưng, thật đáng tiếc, Pol Pot và Ieng Sari đã trốn thoát. Theo vị tướng Việt Nam này, khoảng 200 cố vấn cấp cao của Trung Quốc đã bay cùng với Pol Pot và Ieng Sari trên máy bay, và phía Việt Nam vì cố gắng tránh va chạm với Trung Quốc, đã không bắn rơi chiếc máy bay này.

Ngay sau tuyên bố thành lập NRC, Chủ tịch Trung Quốc Đặng Tiểu Bình đã có chuyến thăm chính thức Hoa Kỳ. Tại đây, Đặng đã trao đổi quan điểm với các nhà chức trách Hoa Kỳ, họ đã đưa ra một gợi ý lộ liễu: một hành động quân sự của Trung Quốc nhằm trừng phạt Việt Nam vì cuộc xâm lược Campuchia sẽ không gây tổn hại cho quan hệ Mỹ-Trung nếu nó có “tính chất phòng thủ”4.

Tuy nhiên, Bắc Kinh hiểu điều này theo cách riêng của họ: khi Đặng Tiểu Bình trở về, Bắc Kinh chính thức tuyên bố rằng các quyền của người gốc Hoa ở Việt Nam đang bị vi phạm khắp nơi, sau đó tuyên bố “phản công tự vệ”.

Như vậy, bất chấp những hành động thận trọng trong mối quan hệ với Trung Quốc, Hà Nội không thể tránh khỏi một cuộc đụng độ, hơn nữa là một cuộc đụng độ quân sự. Để đối phó với hành động quân sự của Việt Nam tại Campuchia, theo tuyên bố nổi tiếng của Đặng Tiểu Bình, nhằm “trừng phạt (dạy)” Việt Nam. Ngày 17 tháng 2 năm 1979, sau 35 phút bắn phá bằng pháo binh, quân đội Trung Quốc (PLA) đã tấn công các thành phố và làng mạc dọc theo toàn bộ 1460 km biên giới Trung – Việt, ở miền Bắc Việt Nam. Tổng số quân xâm lược Trung Quốc là 600.000, hay bảy quân đoàn. Lúc đầu, những kẻ tấn công chỉ phải chống lại một sư đoàn chính quy, một sư đoàn “công nông” của quân đội Việt Nam, các đơn vị biên phòng và lực lượng dân quân. Một phần đáng kể lực lượng vũ trang của Việt Nam (hơn 120 nghìn người) lúc đó đang ở Campuchia. Kết quả là đến cuối ngày 19 tháng 2, quân Trung Quốc đã chiếm được thành phố Lào Cai, ngày 2 tháng 3 – Cao Bằng, ngày 4 tháng 3 – Lạng Sơn, chỉ cách Hà Nội 141 km.

Trước tình hình gay cấn đó, Liên Xô đã hành động đúng với tinh thần và văn bản của Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác đã ký với Việt Nam. Ngày 18 tháng 2, Chính phủ Liên Xô ra tuyên bố yêu cầu “rút ngay quân đội Trung Quốc khỏi lãnh thổ nước CHXHCN Việt Nam” và khẳng định rằng Liên Xô “sẽ thực hiện các nghĩa vụ theo Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác giữa Liên Xô và Việt Nam.”5 Các chuyên gia quân sự Liên Xô có mặt tại Việt Nam ngay lập tức bắt đầu công việc cùng với các chuyên gia Việt Nam. Ngoài ra, nhân sự bổ sung bắt đầu đến từ Liên Xô. Ngày 19 tháng 2 năm 1979, một nhóm gồm 20 cố vấn và chuyên gia trong các binh chủng chiến đấu chủ lực dưới sự lãnh đạo của Tướng quân đội Gennady Obaturov đã đến Hà Nội.

Tướng quân đội G.I. Obaturov đã gặp Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam Văn Tiến Dũng, Tổng Tham mưu trưởng Lê Trọng Tấn và quan trọng nhất là gặp Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương ĐCSVN Lê Duẩn và thuyết phục lãnh đạo Việt Nam bắt đầu chuyển khẩn cấp quân đoàn Việt Nam từ Campuchia đến Lạng Sơn – bằng đường bộ và máy bay An-12 của Liên Xô. Một đơn vị gồm nhiều giàn phóng tên lửa hàng loạt BM-21 Grad, được đề nghị thành lập trên cơ sở nguồn cung cấp từ Liên Xô. Việc vận chuyển hàng hóa chiến lược và quân sự từ Liên Xô đã được thiết lập nhanh chóng và liên tục: hơn 400 xe tăng và xe thiết giáp bộ binh, 400 pháo và súng cối, 50 giàn BM-21 Grad, hơn 100 pháo phòng không, 400 hệ thống phòng không di động, 800 súng phóng lựu chống tăng cầm tay, 20 máy bay chiến đấu, thiết bị kỹ thuật và hàng chục tấn đạn dược.6

Tờ Time vào tháng 3 năm 1979 viết: “Chừng nào quân đội Việt Nam còn cầm cự, thì Liên Xô sẽ tiếp tục cuộc chiến trên mặt trận tuyên truyền. Điều nguy hiểm là nếu Bắc Kinh tiến xa hơn, tấn công Hà Nội và Hải Phòng, hoặc quyết định duy trì sự hiện diện của quân đội trên lãnh thổ Việt Nam, thì Liên Xô, vì không muốn thể hiện sự yếu đuối và thiếu quyết đoán, sẽ tham gia vào một cuộc xung đột … Viễn cảnh nguy hiểm hơn nhiều là Liên Xô có chung đường biên giới dài 4.500 km với Trung Quốc, cùng với đó là 44 sư đoàn Liên Xô hiện đang được triển khai. Quân đội Liên Xô có thể xuất hiện trên vùng đồng bằng tuyết trắng Tân Cương, nhưng mục tiêu nhiều khả năng sẽ là Mãn Châu, trung tâm công nghiệp nặng của Trung Quốc. Các chuyên gia cho rằng các cơ sở hạt nhân của Trung Quốc ở khu vực Lopnor (Лобнор) là một mục tiêu khác của “ngày tận thế” (mục tiêu này có vẻ thích hợp hơn trong mắt quân đội Liên Xô).”7

Liên Xô tuyên bố sẵn sàng can thiệp vào cuộc xung đột. Ngày 2 tháng 3, Tuyên bố thứ hai của Chính phủ Liên Xô được công bố. Bắc Kinh được thông báo rõ ràng rằng nếu quân đội của họ không rời khỏi Việt Nam ngay lập tức, thì họ sẽ phải chiến đấu trên hai mặt trận. Tuyên bố của Liên Xô đã được hỗ trợ bằng sức mạnh thực sự. Các đơn vị tên lửa và các sư đoàn của Liên Xô đóng ở biên giới Xô-Trung đã được đặt trong tình trạng báo động cấp 1. Một tập đoàn 250 nghìn quân với sự hỗ trợ của không quân, bắt đầu tập trung dọc theo biên giới. Nhưng chơi với Trung Quốc, mà thực hiện biện pháp nửa vời và hành động nửa vời, về nguyên tắc là không thể, và trong tình hình hành động xâm lược Việt Nam hiện nay, sẽ dẫn tới ngõ cụt. Matxcơva quyết định hành động, như đã nói, không làm sơ sài và khoan nhượng. Các trung đoàn không quân chiến đấu được chuyển từ lãnh thổ Ukrain và Belarusia đến các sân bay ở Mông Cổ. Và ở đây chúng ta không nói về một tá máy bay từ các đơn vị riêng biệt luôn sẵn sàng với các phi công được đào tạo bài bản nhất, mà là về các trung đoàn không quân đầy đủ quân số trong thành phần chính quy. Việc phục vụ và tiếp liệu cho chúng được thực hiện bởi các đơn vị của năm quân khu. Cùng với các trung đoàn vận tải quân sự hàng không, các đơn vị bảo dưỡng sân bay cũng được triển khai. Vào một số thời điểm, mười trung đoàn không quân tiền phương đã đồng loạt hoạt động trên không. Việc triển khai các đội quân và các đơn vị vũ khí chiến đấu khác cũng có quy mô không kém hơn. Trong điều kiện khí hậu và tự nhiên khó khăn, họ đã thực hiện cuộc hành quân đường dài từ Siberi đến Mông Cổ (hơn 2 nghìn km). Đồng thời, các đội quân được vận chuyển để hội quân bằng đường sắt, đường bộ và đường không. Đặc biệt chỉ trong hai ngày, sư đoàn đổ bộ đường không từ Tula đã được các đơn vị vận tải quân sự hàng không vận chuyển đến khu vực Chita cách đó 5,5 nghìn km bằng các chuyến bay thẳng. [Liên xô] chuẩn bị cho một cuộc chiến tranh có thể xảy ra, đề ra các vấn đề tổ chức phòng thủ, đẩy lùi cuộc xâm lược của kẻ thù, tổ chức và thực hiện các cuộc phản công. Theo lệnh của Tổng tư lệnh Không quân, việc ngụy trang của không quân chiến đấu bắt đầu ở khắp mọi nơi. Sau khi bắt dầu các hoạt động quân sự ở Viễn Đông, để bảo vệ Transsib (Транссиб) khỏi các hành động có thể xảy ra từ phía Trung Quốc, các đoàn tàu bọc thép đã được chế tạo lại (từ ngày 12 tháng 3 đến ngày 26 tháng 3 năm 1979) nhằm gây áp lực chính trị quân sự đối với Trung Quốc liên quan đến hành động gây hấn với Việt Nam. Tại các quân khu biên giới ở Viễn Đông – Liên Xô và trên lãnh thổ Mông Cổ các cuộc diễn tập quân sự được tổ chức. Tổng cộng, hai mươi sư đoàn vũ trang và không quân đã tham gia. Tổng quân số tham gia cuộc tập trận là hơn 200 nghìn người, hơn 2,6 nghìn xe tăng, khoảng 900 máy bay.8 Trên các tàu của Hạm đội Thái Bình Dương có thông báo: “Quân đội Trung Quốc đã bắt đầu các hành động thù địch chống lại Việt Nam bạn bè của chúng ta. Hãy nhớ cuộc xung đột trên đảo Damansky*, chúng ta không thể đảm bảo rằng vũ khí của quân đội Trung Quốc sẽ không hướng tới biên giới của chúng ta. Sự phát triển hơn nữa của các sự kiện tại Việt Nam có thể đòi hỏi sự tham gia của hạm đội tàu chúng ta trong việc hỗ trợ người bạn Việt Nam. Kể từ thời điểm này, các tàu được thông báo sẵn sàng trực chiến”9.

Theo tham tán Đại sứ quán Liên Xô tại CHXHCN Việt Nam năm 1977-1982. A.F. Solodovnikov, phù hợp với điều khoản của Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác, ban lãnh đạo Việt Nam ngay lập tức hướng tới Liên Xô đề nghị giúp đỡ. “Mặc dù phía Liên Xô không có ý định tham gia trực tiếp vào các cuộc chiến,” ông ghi lại trong hồi ký của mình, “29 sư đoàn bộ binh của quân đội Liên Xô – 250 nghìn người với sự hỗ trợ của không quân – đã được triển khai tới biên giới với Mãn Châu. Đó là một loại áp lực chính trị”10. Ngày 4 tháng 3, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Việt Nam ra lời kêu gọi toàn thể chiến sĩ và đồng bào “quét sạch quân thù” khỏi quê hương đất nước, bảo vệ vững chắc biên cương của Tổ quốc. Tại Hà Nội, hưởng ứng lời kêu gọi, hàng nghìn người đã bắt đầu xây dựng hầm tránh bom, đào hào, công sự. Báo “Nhân dân” ra xã luận “Cả nước đánh giặc, toàn dân là chiến sỹ!” Và ngày 5 tháng 3, lúc 10 giờ tối, lệnh tổng động viên được công bố tại Việt Nam. Xác định quy mô huy động, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam dự tính phải trang bị lực lượng lớn hơn so với thời kỳ chống Mỹ. Tất cả nam từ 16 đến 45 tuổi và nữ từ 18 đến 40 tuổi thuộc diện nhập ngũ.

Tất cả những biện pháp quân sự nghiêm túc này, cùng với sự phản đối của cộng đồng quốc tế, bao gồm cả nhân dân Liên Xô, đã sớm buộc ban lãnh đạo CHND Trung Hoa lúc bấy giờ phải ra lệnh đình chỉ cuộc tấn công vào Hà Nội và bắt đầu một cuộc rút quân “có tổ chức và có kế hoạch” khỏi các vùng lãnh thổ Bắc Việt Nam đã bị Trung Quốc chiếm đóng. Như vậy, hành động “trừng phạt” Việt Nam thực sự đã kết thúc trong thất bại.

Theo Bộ Tổng tham mưu Quân đội Nhân dân Việt Nam, thiệt hại của quân Trung Quốc trong thời gian chiến đấu từ ngày 17 tháng 2 đến ngày 18 tháng 3 lên tới 62,5 nghìn người (trong tuần giao tranh đầu tiên, thiệt hại lên tới 16 nghìn người, tính đến ngày 27 tháng 2 – 27 nghìn, đến 5 – 45 nghìn), 3 trung đoàn và 18 tiểu đoàn địch bị tiêu diệt hoàn toàn, phá hủy 550 xe quân sự, trong đó có 280 xe tăng, thiết giáp chở quân, 115 pháo và súng cối.

Kết quả của cuộc chiến, theo số liệu của Trung Quốc, Việt Nam đã mất 10 nghìn người chỉ trong tuần đầu tiên của cuộc chiến. Tổng cộng, theo các nhà nghiên cứu quốc tế, thiệt hại của Việt Nam lên tới khoảng 20 nghìn người chết và bị thương. Tại sáu tỉnh của Việt Nam, 45 nghìn ngôi nhà đã bị phá hủy tại các làng, hơn 600 nghìn mét vuông nhà ở tại các thành phố trực thuộc tỉnh. 350 nghìn người mất nhà cửa. 32 trường dạy nghề và hơn 900 trường học bị phá hủy: 180 nghìn học sinh không thể đến lớp. Tài sản của 428 bệnh viện, trung tâm y tế và nhà thuốc đã bị cướp phá. Vì vậy, chỉ trong bốn quận của Thị xã Lạng Sơn, nơi quân đội Trung Quốc đã chiếm được, hậu quả của cuộc xâm lược là: 24 xí nghiệp, 25 bệnh viện, 72 trường mẫu giáo và nhà trẻ, 30 trường học, 115 km đường cao tốc và 17 km đường sắt, 57 cây cầu, 22 trạm biến áp, 402 nghìn mét vuông nhà ở đã bị phá hủy. Tại các tỉnh bị xâm lược, 164 ngôi làng Việt Nam bị san bằng, 25 hầm mỏ, 55 xí nghiệp công nghiệp trong tổng số 68 xí nghiệp bị tấn công và phá hủy, quân Trung Quốc phá hủy hoặc mang theo 500 phương tiện, 20 vạn trâu, bò và ngựa.11 Nhìn lại lịch sử, những lý do thực sự khách quan dẫn đến cuộc chiến tranh Trung-Việt ngắn ngủi năm 1979 và vai trò, ý nghĩa của viện trợ Liên Xô dành cho Việt Nam trong việc chống lại thành công sự xâm lược của quân đội Trung Quốc. Tổng hợp những điều trên, cần lưu ý rằng cuộc phưu lưu của Bắc Kinh đã khiến, thứ nhất, PLA phải trả giá, theo nhiều nguồn tin khác nhau, mất 62,5 nghìn sĩ quan và binh sĩ, và thứ hai, trong nhiều năm, nó đã làm đen tối quan hệ giữa hai nước xã hội chủ nghĩa láng giềng.

Chỉ 12 năm sau, cả hai bên đã “chín muồi” cho các cuộc đàm phán nghiêm túc về sự cần thiết phải tìm cách bình thường hóa quan hệ song phương. Quá trình này, bất chấp sự mong muốn của cả hai bên nhưng rất khó khăn khi phải vượt qua “đống đổ nát khó có thể vượt qua” một di sản để lại bởi những sự kiện kịch tính cuối những năm 70 – đầu những năm 80 của thế kỷ trước.

Cuối cùng, vào tháng 11 năm 1991, băng bắt đầu tan. Nhận lời mời của phía Trung Quốc, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương ĐCSVN Đỗ Mười và Thủ tướng Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam Võ Văn Kiệt đã đến Bắc Kinh. Thông cáo chung về “bình thường hóa hoàn toàn” quan hệ Việt – Trung, được ký sau cuộc hội đàm, đặc biệt nêu rõ “hai bên nhất trí giải quyết hòa bình các vấn đề biên giới lãnh thổ … giữa hai nước thông qua đàm phán.”12

Giải quyết các vấn đề do chiến tranh để lại

Thực hiện theo tinh thần của thỏa thuận này, vào tháng 10 năm 1993 hai năm sau khi bình thường hóa quan hệ, các bên đã có thể đồng ý ký văn bản chung đầu tiên về các nguyên tắc cơ bản trong việc giải quyết các vấn đề biên giới. Nó xác định cách giải quyết theo từng giai đoạn của các tranh chấp biên giới-lãnh thổ, bao gồm ba nhóm vấn đề có mức độ phức tạp và nghiêm trọng khác nhau:

1) Phân định biên giới đất liền;

2) Phân định Vịnh Bắc Bộ;

3) Tạo điều kiện cho hòa bình và ổn định ở khu vực Biển Đông.

Những thành công đầu tiên đã đạt được trong hai lĩnh vực tương đối “dễ thở” hơn trong các vấn đề xung đột – đó là phân định biên giới trên bộ và phân định ranh giới trên Vịnh Bắc Bộ. Sau cuộc chiến tranh ngắn ngủi tháng 2 và 3 năm 1979, quân Trung Quốc trên một số đoạn biên giới trên bộ Trung-Việt đã “điều chỉnh” có lợi cho Trung Quốc, do đó, nhiệm vụ ưu tiên của phía Việt Nam là khôi phục đường biên giới trên bộ với Trung Quốc như trước khi xảy ra các cuộc chiến hoặc càng gần càng tốt.

Ngày 30/12/1999, CHXHCN Việt Nam và CHND Trung Hoa đã ký một văn kiện có ý nghĩa chiến lược quan trọng đối với quan hệ song phương – Hiệp ước về Biên giới trên bộ giữa hai nước. Trên cơ sở hiệp định này, các công việc thực tế đã bắt đầu làm rõ đường biên giới trên đất liền Việt Nam – Trung Quốc dài 1.460 km, Ủy ban liên hợp phân giới và cắm mốc biên giới đã được thành lập. Ủy ban hàng năm sẽ gặp gỡ luân phiên tại Việt Nam và Trung Quốc.

Cuối cùng, vào ngày 31 tháng 12 năm 2008, một Tuyên bố chung đã được ký kết về hoàn thành việc phân giới cắm mốc trên toàn bộ chiều dài biên giới Việt – Trung. Tại Hà Nội, sự kiện lịch sử này được đánh giá là “biểu hiện sống động của quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt – Trung, góp phần củng cố lòng tin lẫn nhau giữa hai nước, là sự kiện có ý nghĩa chiến lược đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam”13.

Một trong những kết quả kinh tế quan trọng của hiệp định phân định biên giới là việc đưa vào vận hành, hai ngày sau khi ký kết, tuyến đường sắt từ Hà Nội đến thành phố biên giới Nam Ninh của Trung Quốc, tuyến đường này đã không hoạt động trong gần hai thập kỷ.

Nhưng vấn đề nan giải nhất – “tạo điều kiện cho hòa bình và ổn định ở Biển Đông” – không những không được giải quyết, mà ngược lại, trở thành cái gai không thể khắc phục trong quan hệ giữa hai nước, việc này dẫn đến những mâu thuẫn nghiêm trọng. Trong các tuyên bố chung, được hai bên ký kết ở cấp cao nhất vào các năm 1999 và 2000, các bên tuyên bố mong muốn tiếp tục duy trì cơ chế đàm phán hiện nay về các vấn đề trên biển, kiên quyết chủ trương đàm phán hòa bình nhằm tìm ra giải pháp căn bản, lâu dài phù hợp với cả hai bên.14

Tuy nhiên, những thỏa thuận ở cấp cao nhất, được lặp đi lặp lại từ năm này qua năm khác, như một câu thần chú trong các tuyên bố chung của hai bên, nhưng đáng tiếc, liên tục bị phía Trung Quốc vi phạm, mà hầu như năm nào cũng dẫn đến tình trạng xung đột và làm trầm trọng thêm tình hình ở khu vực Biển Đông


 Ghi chú

 1 Мосяков Д.В. Кампучия. Особенности революционного процесса и полпотовский «эксперимент». М.: Наука, 1986. С. 36.

2 Новакова О.В., Цветов П.Ю. История Вьетнама. Часть 2. М.: Изд-во Московского университета, 1995. С. 218.

3 Цит. по: Дружба, проверенная временем. М.: ИПП Куна, 2009. С.110.

4 Военные кампании. URL: http://armedman.ru/voennyie%kampanii (дата обращения: 31.05.2019).

5 Правда. 19.02.1979.

6 Военные компании. URL: http://rmedman.ru/voennyie%kampanii/… (дата обращения: 25.05.2019).

7 Там же.

8 Военные компании. URL: http://rmedman.ru/voennyie%kampanii/… (дата обращения: 25.05.2019).

9 Там же.

10 Солодовников А.Ф. На путях мирного строительства // Это незабываемое слово «Льенсо». М., 2006. С. 302.

11 Китайско%вьетнамская война 1979 года: причины, результаты, последствия. URL: https://vietnamix.ru/istoria/kitajsko%vetnamskaja%vojna.html (дата обращения: 08.06.2019).

12 Nhân Dân. 11.11.1991.

13 Современный Вьетнам. Справочник. М.: ИД «ФОРУМ», 2015. С. 245.

14 Nhân Dân. 28.02.1999.

 

Danh sách tài liệu đã sử dụng

  1. Военные кампании. URL: http://armedman.ru/voennyie%kampanii
  2. Китайско-вьетнамская война 1979 года: причины, результаты, последствия. URL: https://vietnamix.ru/istoria/kitajsko%vetnamskaja%vojna.html
  3. Мосяков Д.В. Кампучия. Особенности революционного процесса и полпотовский «эксперимент». М.: Наука, 1986.
  4. Новакова О.В., Цветов П.Ю. История Вьетнама. Часть 2. М.: Изд-во Московского университета, 1995.
  5. Nhân Dân, 11.11.1991, 28.02.1999.
  6. Правда. 19.02.1979.
  7. Современный Вьетнам. Справочник. М.: ИД «ФОРУМ», 2015.
  8. Солодовников А.Ф. На путях мирного строительства // Это незабываемое слово «Льенсо». М., 2006.
  9. Дружба, проверенная временем. М.: ИПП Куна, 2009.

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC NGA

Tổ chức Ngân sách Nhà nước Liên bang

Viện Nghiên cứu Viễn Đông

Trung tâm Nghiên cứu Việt Nam và ASEAN

  

NGHIÊN CỨU VIỆT NAM NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN THIẾT – 2019:

Quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc sau chiến tranh biên giới năm 1979.

 ВОЙНА 1979 г. И ФАКТОР СОВЕТСКОЙ ПОМОЩИ СРВ             TR. 75

 MATXCƠVA

2019

 

 

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s