Jerusalem: Những thăng trầm lịch sử – Phần 5

jerusalem

Simon Sebag Montefiore

 Trần Quang Nghĩa dịch

PHẦN 4

HỒI GIÁO

Vinh hiển thay Người đã cho tôi tớ Người bay đêm từ nơi thờ phụng linh thiêng đến nơi thờ phụng xa nhất.

Koran,17.1

Tông đồ của Allah, đồng hành cùng Gabriel, được đưa đến Jerusalem nơi ông gặp được Abraham và Moses và những Tiên tri khác.

Ibn Ishaq, Sirat Rasul Allah

Một nhà cai trị không được xem là kha-lip trừ khi ông ta trị vì đồng thời Đền Thánh [Mecca] và Đền Jerusalem

Sibani, Fadail

Một ngày ở Jerusalem bằng 1,000 ngày, một tháng bằng 1,000 tháng, và một năm bằng 1,000 năm. Chết tại đó như chết ở khu vực đầu tiên của thiên đường.

Kaab al-Ahbar, Fadail

Phạm một tội lỗi ở Jerusalem bằng phạm 1,000 tội và làm một việc tốt ở đó bằng làm 1,000 việc tốt.

Khalid bin Madan al-Kalai, Fadail

Allah, đáng vinh hạnh thay, nói về Jerusalem. Ngươi là Vườn Eden của ta, miền đất linh thiêng và được chọn của ta.

Kaab al-Ahbar, Fadail

Ôi Jerusalem, ta sẽ gởi đến ngươi tôi tớ Abd al-Malik của ta để xây dựng lại ngươi và tô điểm cho ngươi. 

Kaab al-Ahbar, Fadail

CHƯƠNG 17

NGƯỜI Ả RẬP CHINH PHỤC 630–660

 MUHAMMAD: CHUYẾN DẠ HÀNH

Cha của Muhammad mất trước khi ông ra đời và mẹ ông mất  khi ông đúng 6 tuổi. Nhưng ông được người chú nuôi dưỡng, mang theo ông trên những chuyến đi buôn đến Bosra và Syria. Ở đó ông được một thầy tu dạy về Cơ đốc giáo, học các kinh thánh Do Thái và Cơ đốc, thành ra tôn kính Jerusalem như một trong những nơi linh thiêng cao quí nhất. Vào tuổi nhị tuần, một góa phụ giàu có tên là Khadija, lớn tuổi hơn ông nhiều, thuê ông quản lý công việc buôn bán đường xa và sau đó kết hôn với ông. Họ sống ở Mecca, ngôi nhà của Kaaba và tảng đá đen của nó, điện thờ một vị thần đa thần giáo. Thành phố phát đạt nhờ các khách hành hương đến chiêm bái và buôn bán đường dài. Muhammad là một thành viên của bộ tộc Quraysh, phần nhiều là những nhà buôn hàng đầu và người bảo vệ điện thờ, nhưng dòng họ Hashemite của ông không phải là dòng họ mạnh trong bộ tộc.

Muhammad, được mô tả là đẹp trai với tóc và râu quăn, có tính thân thiện chinh phục mọi người – người ta nói rằng khi ông bắt tay với ai đó ông không bao giờ thả lỏng tay trước – và đồng thời một sức thu hút mạnh mẽ. Ông được ngưỡng mộ vì tính chính trực và thông minh – như một chiến binh của ông sau đó xác nhận, ‘Ông là người tốt nhất trong số chúng tôi’ – và người được biết dưới danh hiệu al-Amin, người Đáng Tin Cậy.

Như với Moses, David hoặc Jesus, giờ chúng ta không thể khám phá được bản chất cá tính đã làm nên những thành tựu của ông, nhưng như họ, ông xuất hiện tại một thời điểm cần đến mình. Trong thời kỳ Jahiliya, Thời Vô Minh, trước sự kiện khải thị của ông, ‘không có ai nghèo khó hơn chúng tôi,’ một chiến binh của ông đã viết lại sau đó. ‘Đạo chúng tôi là giết chóc lẫn nhau và cướp bóc. Trong số chúng tôi có những người phải chôn sống con gái mình vì không muốn chúng ăn bớt lương thực của gia đình. Rồi Thượng Đế gởi đến cho chúng tôi một con người tài giỏi.’

Bên ngoài Mecca là Hang Hira nơi  Muhammad thích tới ngồi trầm tư. Vào năm 610, theo truyền thuyết, Tổng Thiên sứ Gabriel đến thăm ông tại đó và trao cho ông khải thị đầu tiên từ Thượng Đế độc nhất, người đã chọn ông để làm Sứ giả và nhà Tiên tri của mình. Khi nhà Tiên tri nhận được khải thị của Thượng Đế, mặt ông được cho là bừng đỏ, và ông ngã xuống lặng im, thân thể nằm như chết trên mặt đất, mồ hôi đổ đầm đìa xuống gương mặt; ông nghe những âm thanh vù vù và thấy những khải tượng bao trùm lấy người mình – và rồi ông sẽ thuật lại những khải thị đầy tính thi ca của mình. Thoạt đầu sự kiện này làm ông hoang mang, nhưng Khadija tin tưởng vào sứ mang của chồng mình và ông bắt đầu giảng đạo.

Trong xã hội xô bồ và đề cao tính chiến đấu này nơi mọi thiếu niên và đàn ông đều mang vũ khí, truyền thống văn chương không được viết ra mà chỉ là những thi ca truyền khẩu ca tụng những kỳ tích của những chiến binh danh dự, những người tình nóng bỏng, những tay thợ săn không biết sợ là gì. Nhà Tiên Tri phải sử dụng truyền thống thi ca này: 114 sura – chương – lúc đầu được đọc kể trước khi được biên tập thành Kinh Koran, ‘Lời Thuật’, một tuyển tập những vầng thơ tạo nhã, khi bí hiểm thiêng liêng, khi chỉ dẫn rõ ràng, có lúc xung khắc gây bối rối.

Muhammad là một người có tầm nhìn gây cảm hứng giảng về sự quy phục – Islam (đạo Hồi) – đến một Đấng Thượng Đế độc nhất để được sự cứu rỗi hoàn toàn, về những giá trị của sự bình đẳng và công lý, và hạnh sống thuần khiết , với những nghi thức và qui tắc dễ học cho cuộc sống và cái chết. Ông chào đón những người cải đạo. Ông tôn kính Kinh thánh, và xem David và Solomon, Moses và Jesus là những nhà tiên tri, nhưng ông thay thế những khải thị có trước bằng những khải thị mới của mình.

Quan trọng cho số phận của Jerusalem, nhà Tiên Tri nhấn mạnh ngày Khải Huyền sẽ đến mà ông gọi là Ngày Phán Xét, Ngày Cuối Cùng hoặc chỉ là Giờ Khắc, và tính cấp bách này thúc đẩy sự năng động của  Hồi giáo thuở ban đầu. ‘Chỉ có Thượng Đế mới biết về điều đó,’ Kinh Koran dạy, ‘nhưng điều gì sẽ khiến bạn nhận ra Giờ Khắc đang đến gần?’ Tất cả kinh thánh của Do Thái giáo và Cơ đốc giáo đều nhấn mạnh rằng sự kiện này chỉ có thể xảy ra ở Jerusalem.

Một đêm, tín đồ của ông tin  rằng, khi ông ngủ cạnh Kaaba, Muhammad trải qua một khải tượng. Tổng Thiên sứ Gabriel đánh thức ông dậy và hai người cùng nhau làm một chuyến dạ hành cưỡi lên lưng con Buraq, một chiến mã có cánh với bộ mặt người, bay đến ‘Nơi Linh Thiêng Xa Nhất’ không tên. Tại đó  Muhammad gặp ‘các tổ phụ’ của mình (Adam và Abraham) và các ‘huynh’ mình Moses, Joseph và Jesus, trước khi bước lên bậc thang lên thiên đường. Không như Jesus, ông chỉ tự cho mình là Sứ giả hoặc Tông đồ của Thượng Đế, không khoa trương thần thông nào. Đúng ra, Isra – Dạ Hành – và Mitaj – Thăng Thiên – là những thi thố nhiệm mầu duy nhất của ông.

Jerusalem và Đền Thờ thực sự chưa hề được đề cập đến trong Koran nhưng người Hồi giáo bổng tin rằng Nơi Thiêng liêng Xa Nhất chính là Núi Đền.

1

Cuộc chinh phục Ả Rập: Minh họa này của Nizami thể hiện bài thơ của Khamza cho thấy cuộc Dạ Hành của Muhammad (Isra) đến Jerusalem, cưỡi trên lưng Buraq có bộ mặt người, sau đó là cuộc Thăng Thiên của ông (Miraj) để đàm đạo với Jesus, Moses và Abraham.

Khi vợ và chú ông qua đời, Muhammad gánh chịu nỗi bất mãn mà những gia đình giàu có hơn, vốn cuộc sống lệ thuộc vào tảng đá Kabba đổ lên đầu ông. Những cư dân Mecca muốn giết ông. Nhưng ông được tiếp cận một nhóm người từ Yathrib, một ốc đảo cọ và chà là về phía bắc do những bộ tộc Do Thái thành lập, cũng là nơi tụ họp của nông dân và thợ thủ công theo đa thần giáo. Họ nhờ ông đến giảng hòa cho các dòng họ có mối thù truyền kiếp. Ông và nhóm đệ tử nòng cốt khởi hành trên chuyến Di Dân – Hijra – đến Yathrib, sau này trở thành Madinat un-Nabi, thành phố của Tiên Tri – Medina. Tại đó ông xáp nhập những tín đồ đầu tiên của mình, nhóm Di Dân, với những người mới theo, nhóm Trợ Giúp, và các đồng minh Do Thái của ông, thành một cộng đồng mới, Umma. Đó là năm 622, năm bắt đầu của lịch Hồi.

Muhammad là một người có kỹ năng hòa giải và kết hợp những ý tưởng. Giờ ở Medina, với các dòng họ Do Thái ở đó, ông tạo ra thánh đường Hồi giáo đầu tiên, công nhận Đền Thờ Do Thái là qibla (phương hướng cầu nguyện) đầu tiên. Ông cầu nguyện vào lúc mặt trời xuống chiều thứ sáu – ngày Sabbath của Do Thái – nhịn ăn vào Ngày Chuộc Lỗi, cấm ăn thịt heo và thực hiện phép cắt bì. Tính độc nhất của đấng Thượng Đế của Muhammad bác bỏ tính Ba Ngôi của Cơ đốc giáo nhưng những nghi thức khác – nằm úp sấp trên thảm cầu nguyện – vay mượn từ các tu viên Cơ đốc; lễ chay Ramadan giống lễ Tro. Nhưng đạo Hồi có nhiều nét riêng của nó.

Muhammad sáng lập một nhà nước nhỏ với luật lệ riêng, nhưng ông gặp sự chống đối từ Medina và quê nhà Mecca. Nhà nước mới của ông cần tự bảo vệ và chinh phục: jihad – thánh chiến – là công cuộc làm chủ bản thân và thánh chiến chinh phục. Kinh Koran không chỉ xiển dương sự tiêu diệt những kẻ bội giáo mà còn khoan dung nếu họ chịu qui phục. Điều này là xác đáng vì các bộ tộc Do Thái chống đối các khải thị và sự kiểm soát của Muhammad. Từ đó ông chuyển hướng cầu nguyện đến Mecca và bác bỏ đường lối Do Thái: Thượng Đế đã hủy diệt Đền Thờ Do Thái vì người Do Thái đã phạm tội vì thế ‘họ không đi theo hướng cầu nguyện của  ngươi là Jerusalem’.

Khi lên đường chiến đấu giành lại Mecca, ông sợ người Do Thái sẽ làm phản ở Medina nên ông trục xuất họ và tàn sát một dòng họ để làm gương: 700 đàn ông bị chặt đầu, còn phụ nữ và trẻ con bị bắt làm nô lệ. Năm 630, Muhammad cuối cùng chiếm được Mecca, bành trướng đạo độc thần lên khắp Ả Rập bằng cưỡng bách cải đạo. Các chiến binh của Muhammad càng trở nên hiếu chiến hơn khi họ nỗ lực sống công chính để chuẩn bị cho Ngày Phán Xét Cuối Cùng. Giờ đây, đã chinh phục Ả Rập, họ chạm trán với các đế chế tội lỗi ở trước mặt. Những chiến binh đầu tiên, nhóm Di Dân và Trợ Giúp, tạo thành đội tùy tùng của ông – nhưng ông cũng chào đón những cựu thù và những kẻ cơ hội có tài cũng với lòng nhiệt thành không kém. Trong khi đó truyền thống Hồi giáo thuật lại đời tư của ông: ông có nhiều vợ – Aisha, con gái của đồng minh Abu Bakr của ông là người được ông sủng ái – và tiếp nhận nhiều hầu thiếp, trong đó có các kiều nữ Do Thái và Cơ đốc giáo; và ông có con, quan trọng hơn hết là cô con gái tên Fatima.

Năm 632,  Muhammad, khoảng 62 tuổi, mất và được kế vị bởi cha vợ của ông là Abu Bakr, người được tôn làm Amir al-Muminin, Chỉ huy các Tín hữu. * Lãnh thổ của Muhammad lung lay sau khi ông qua đời, nhưng Abu Bale xoay sở vỗ yên được . Rồi ông quay về đế chế Byzantine và Ba Tư, mà người Hồi giáo coi như hết thời, đầy tội lỗi và bại hoại. Vị Chỉ huy phái những toán chiến binh cưỡi trên lưng lạc đà cướp phá Iraq và Palestine.

* Những người kế tục Muhammad sử dụng tước vị Chỉ huy các Tín hữu . Sau đó Nguyên Thủ Nhà Nước được biết dưới danh hiệu Khalifat Rasul Allah – Người Kế Tục Sứ Giả của Thượng Đế – hoặc kha-lip. Abu Bakr có thể đã dùng tước vị này nhưng không có chứng cứ là nó được sử dụng một lần nữa 70 năm sau trong thời cai trị của Abd al-Malik. Sau đó nó được áp dụng ngược thời gian: bốn nhà cai trị đầu tiên giờ được biết dưới danh hiệu Các Kha-lip Công chính. 

KHALID IBN WALID: THANH GƯƠM HỒI GIÁO

Đâu đó gần Gaza, ‘xảy ra một trận đánh giữa quân La Mã và đạo quân du mục của Muhammad và quân La Mã thua chạy’, Trưởng Lão Thomas viết. Ông là một sử gia độc lập đầu tiên người Cơ đốc trong năm 640 đề cập đến vị Tiên Tri. * Hoàng đế Heraclius, vẫn còn ở Syria, chuẩn bị đập tan đạo quân Ả Rập này đang yêu cầu Abu Bakr viện binh. Ông này liền cử vị tướng xuất sắc nhất của mình, Khalid bin Walid, đang cướp phá Iraq. Cưỡi ngựa băng qua sa mạc không nước sáu ngày liền, Khalid đến Palestine vừa đúng lúc.

* Lịch sử buổi đầu của Hồi giáo, trong đó có việc Jerusalem đầu hàng, là bí ẩn và gây tranh cãi. Những sử gia Hồi giáo ưu việt viết sau đó một hay hai thế kỷ và ở xa Jerusalem lẫn Mecca: Ibn Ishaq, nhà viết tiểu sử đầu tiên về Muhammad, viết ở Baghdad, chết năm 770; al-Tabari, al-Baladhuri và al-Yaqubi tất cả đều sống vào cuối thế kỷ 9 ở Ba Tư hoặc Iraq.

Khalid là một quí tộc ở Mecca đã chiến đấu chống Muhammad nhưng cuối cùng ông cải đạo, nhà Tiên Tri chào đón vị chỉ huy năng động này và gọi ông là Thanh Gươm Hồi Giáo. Khalid là loại tướng quân ngang tàng ít quan tâm đến các mệnh lệnh từ những chủ nhân chính trị của mình. Loạt sự kiện tiếp theo không có gì rõ ràng, chỉ biết ông tiếp tay với các chỉ huy quân sự Ả Rập khác, nắm quyền tư lệnh và sau đó đánh bại một phân đội Byzantine ở phía tây-nam Jerusalem trước khi ào ạt tiến đánh Damascus. Xa về phía nam ở Mecca, Abu Bakr mất và được Omar, một trong những người cải đạo đầu tiên và người tin cẩn nhất của nhà Tiên Tri, lên kế vị. Vị Chỉ huy các Tín hữu mới không tin cậy Khalid, vì ông này đang thâu tóm của cải, và một huyền thoại. Ông cho gọi ông này về Mecca, và bảo, ‘Này Khalid, hãy lấy của cải ngươi ra khỏi cái mông của chúng tôi.’

Heraclius phái một đạo quân ra ngăn chặn quân Ả Rập. Omar bổ nhiệm một chỉ huy mới, Abu Ubayda, và Khalid trở lại quân đoàn làm phó cho ông ta. Sau nhiều tháng đột kích, người Ả Rập cuối cùng dụ được quân Byzantine đến đánh nhau với mình giữa những khe vực hiểm trở trên sông Yarmuk giữa Jordan, Syria và Israeli Golan ngày nay. ‘Đây là một trong những trận đánh của Thượng Đế,’ Khalid bảo với quân sĩ mình – và vào ngày 20/8/636, Thượng Đế giáng một cơn bão bụi làm mù mắt những bình sĩ Cơ đốc khiến họ kinh hoảng và tháo chạy tán loạn và rơi xuống bờ vực của sông Yarmuk. Khalid cắt đứt đường rút lui của địch, quân Cơ đốc quá kiệt sức đến nỗi người Ả Rập thấy họ nằm dài trên đất trùm kín áo choàng sẵn sàng đợi chết. Thậm chí em trai của Hoàng đế cũng tử trận và chính Heraclius cũng không bao giờ hồi phục sau cuộc thảm bại này, một trong những trận đánh quyết định của lịch sử, đánh mất Syria và Palestine. Nền cai trị Byzantine, vốn đã yếu đi sau chiến tranh với Ba Tư, dường như đã sụp đổ và không rõ có phải cuộc chinh phục của người Ả Rập không chỉ là một loạt những trận cướp phá thắng lợi. Cuộc chinh phục thực sự khốc liệt này là một thành tựu đáng kinh ngạc khi những đạo quân nhỏ các chiến binh Ả Rập cưỡi lạc đà, một số chỉ có 1,000 quân, đã đập tan các quân đoàn Đông La Mã. Nhưng vị Chỉ huy các Tín hữu không nghỉ ngơi; ông phái một đạo quân tiến về bắc để chinh phục Ba Tư và Ba Tư thất thủ.

Ở Palestine, một mình Jerusalem cầm cự dưới sự chỉ huy của Giáo trưởng Sophronius, một nhà trí thức Hy Lạp. Ông khó có thể tin là tai họa đã giáng xuống những người Cơ đốc. Giảng trong Nhà Thờ Mộ Thánh, ông vạch trần những tội lỗi của tín đồ Cơ đốc và sự tàn bạo của người Ả Rập mà ông gọi là Saracen: ‘Từ đâu xuất phát những cuộc chiến chống lại chúng ta? Từ đâu những cuộc xâm lăng man rợ này sinh sôi? Bọn Saracen vô thần nhớp nhúa này đã chiếm Bethlehem. Bọn Saracen đã trỗi dậy chống chúng ta với một sức mạnh của dã thú vì tội lỗi chúng ta. Chúng ta hãy răn sửa mình.’

Nhưng điều đó đã quá muộn. Quân Ả Rập cùng hướng về thành phố mà họ gọi là Ilya (tên La Mã là Aelia). Người đầu tiên trong số chỉ huy vây hãm Jerusalem là  Amr ibn al-As, vị tướng thuộc quí tộc Mecca xuất sắc nhất chỉ sau Khalid. Amr, như những nhà lãnh đạo Ả Rập khác, hiểu rất rõ vùng đất này: ông thậm chí còn sở hữu đất đai ở gần đó và đã thăm viếng Jerusalem khi còn trẻ. Nhưng đây không chỉ là việc tìm kiếm chiến lợi phẩm.

‘Giờ khắc đã đến gần,’ Kinh Koran dạy. Tính cuồng tín hùng hăng của những Tín hữu thuở đầu được đốt cháy bởi niềm tin của họ vào Ngày Phán Xét. Kinh Koran không nói rõ điều này nhưng họ biết từ các nhà tiên tri Do Thái- Cơ đốc rằng nó phải xảy ra ở Jerusalem. Nếu Giờ Khắc đến với họ thì họ cần Jerusalem.

Khalid và các tướng lãnh khác bắt tay với Amr bao quanh tường thành nhưng các quân đoàn Ả Rập ắt hẳn quá nhỏ để có thể tràn vào thành phố và hình như không có đánh nhau nhiều. Sophronius thẳng thừng từ khước đầu hàng nếu không có sự bảo đảm khoan dung từ chính vị Chỉ huy các Tín hữu. Amr đề nghị giải quyết vấn đề này bằng cách mạo danh Khalid là vị Chỉ huy nhưng có người nhận ra ông vì thế Omar phải đích thân từ Mecca xuống Jerusalem.

Vị Chỉ huy thanh sát lực lượng còn lại của quân đội Ả Rập tại Jabiya ở Golan và ắt hẳn người Jerusalem đã gặp ông ở đó để thỏa thuận việc đầu hàng. Các người Cơ đốc Nhất Thể, chiếm đa số ở Palestine, căm thù người Byzantine và dường như những Tín hữu Hồi giáo buổi đầu sung sướng cho phép các anh em độc thần được thờ phụng tự do.* Theo Kinh Koran, Omar giao cho Jerusalem một Giao ước Đầu hàng hứa hẹn sẽ khoan dung tôn giáo cho tín đồ Cơ đốc đổi lại họ phải nộp thuế quy phục. Sau khi việc này được thỏa thuận, Omar lên đường đến Jerusalem, một đại nhân trong bộ y phục vá víu và rách rưới cưỡi lừa , theo sau chỉ có một người hầu.

* Những người Hồi giáo đầu tiên tự xưng mình là ‘Tín hữu’ – từ này xuất hiện 1,000 lần trong Koran trong khi từ ‘Người Hồi giáo’ xuất hiện chỉ 75 lần – và như chúng ta sẽ nhìn thấy ở Jerusalem, họ chắc chắn chưa tỏ ra căm thù với anh em độc thần của mình, Cơ đốc hay Do Thái. Giáo sư Fred M. Donner, một học giả uy tín về Hồi giáo buổi đầu, đi xa hơn: ‘Không có lý do để tin rằng’, ông viết, ‘các Tín hữu xem mình là tín ngưỡng mới hoặc riêng biệt. Một số Tin hữu buổi đầu là người Cơ đốc hoặc Do Thái.’ !

OMAR CÔNG CHÍNH: ĐỀN THỜ LẤY LẠI ĐƯỢC

Khi nhìn thấy Jerusalem từ Núi Scopus, Omar ra lệnh cho muezzin của mình loan báo lễ cầu nguyện. Sau khi cầu nguyện, ông vận sắc phục trắng của khách hành hương, cưỡi lên lưng lạc đà và đi đến gặp Sophronius. Các giáo sĩ Byzantine theo thứ bậc nghênh đón nhà chinh phục, trang phục đính ngọc đá của họ tương phản với y phục giản dị thuần khiết của ông. Omar, vị Chỉ huy các Tín hữu to con, thời trẻ từng là một võ sĩ đấu vật, là một nhà khổ hạnh cứng rắn luôn mang theo bên mình một cây roi. Người ta kháo nhau rằng khi Muhammad bước vào phòng, đàn bà trẻ con vẫn tiếp tục cười nói, nhưng khi họ nhìn thấy Omar mọi người đều im bặt. Chính ông là người đầu tiên kết tập Kinh Koran, tạo ra lịch Hồi giáo và nhiều luật Hồi giáo. Ông áp đặt những luật lệ hà khắc cho phụ nữ hơn cả nhà Tiên Tri. Khi còn trai ông say rượu, Omar phạt anh 80 roi khiến anh mất mạng.

Sophronius trình cho Omar chùm chìa khóa của Thành phố Thánh. Khi giáo trưởng trông thấy Omar và đám Ả Rập rách rưới cưỡi lạc đà và ngựa, ông lẩm bẩm đây đúng là ‘nỗi gớm ghiếc của sự tàn phá’. Hầu hết họ là người của bộ tộc Hea hoặc Yemen; họ hành quân nhẹ và nhanh, phủ áo choàng và đội khăn xếp, sống bằng  ilhiz ( lông lạc đà xay nhuyễn trộn với máu rồi nấu lên). Thật khác xa với kỵ binh áo giáp nặng của Ba Tư và Byzantine, chỉ có chỉ huy mới được mặc áo giáp khoen sắt và đội mũ sắt. Phần còn lại ‘cưỡi những con ngựa lùn mập rậm lông, các thanh gươm sáng bóng nhưng đựng trong bao gươm tồi tàn’. Họ mang cung và giáo  buộc bằng gân lạc đà, và khiên đỏ bằng da bò trông giống ‘một ổ bánh mì đỏ dày’. Họ yêu quí những thanh gươm to bản, những sayf của họ, đặt tên cho chúng và hát lên những bài thơ về chúng.

Tự hào về vẻ luộm thuộm của mình, họ kết ‘bốn lọn tóc’ đứng lên trông như ‘sừng dê’. Khi họ bắt gặp những tấm thảm của bọn nhà giàu, họ phóng ngựa đến và cắt chúng ra từng miếng để làm túi đựng giáo, hưởng thụ chiến lợi phẩm – người hay vật dụng – như bất kỳ bọn chinh phục nào. ‘Thình lình, tôi cảm nhận được hình dáng con người trốn dưới vải che,’ một người trong bọn họ viết lại. ‘Tôi giật phắt vải che và biết tôi tìm được gì không? Một phụ nữ như một con linh dương, tỏa sáng như mặt trời. Tôi đem cô ta và quần áo cô ta về nộp như chiến lợi phẩm và kèm theo đơn yêu cầu xin được chia cô gái cho mình. Tôi lấy cô làm hầu thiếp.’ Quân đội Ả Rập không có lợi thế về kỹ thuật, nhưng họ hùng mạnh nhờ khí thế cuồng tín.

Sophronius, theo tư liệu Hồi giáo, được viết sau đó khá lâu, hộ tống Chỉ huy Saracen đến Mộ Thánh, hi vọng vị khách quí của mình sẽ khâm phục hoặc thậm chí ngã theo tín ngưỡng thiêng liêng hoàn hảo của Cơ đốc giáo. Khi tên muezzin của Omar loan báo cho binh sĩ đến giờ cầu nguyện, Sophronius mời vị Chỉ huy cầu nguyện ở đó, nhưng ông đã từ chối, cảnh giác rằng việc này sẽ biến nó thành nơi tôn thờ của đạo Hồi. Omar biết rằng Muhammad vốn tôn kính David và Solomon. ‘Hãy dẫn ta đến điện thờ David,’ ông ra lệnh cho Sophronius. Ông và các chiến binh của mình đi vào Núi Đền, ắt hẳn qua Cổng Tiên Tri ở phía nam, và thấy nó bị ô nhiễm vì ‘một đống phân mà người Cơ đốc đã đặt ở đấy nhằm xúc phạm người Do Thái.’

Omar yêu cầu xem Nơi Chí Thánh. Một giáo sĩ Do Thái đã cải đạo, Kaab al-Ahbar, trả lời rằng, nếu Chỉ huy bảo tồn ‘tường thành’ (có lẽ chỉ đến những tàn tích tường thành Herod cuối cùng, bao gồm Bức Tường Phía Tây), ‘tôi sẽ tiết lộ với ông ta đống đổ nát của Đền Thờ ở đâu.’ Kaab chỉ cho Omar tảng đá nền móng của Đền Thờ, tảng đá mà người Ả Rập gọi là Sakhra.

Được binh lính hỗ trợ, Omar bắt đầu dọn dẹp những gạch vụn để tạo thành nơi cầu nguyện. Kaab đề nghị ông đặt nơi cầu nguyện về phía bắc của đá nền móng ‘như thế ngài sẽ được hai qibla (hướng cầu nguyện) một của Moses và một của Muhammad.’ Omar được cho là đã trả lời Kaab, ‘Như thế là ngươi còn nghiêng về phía Do Thái,’ và ông quyết định đặt nhà cầu nguyện đầu tiên của mình ở phía nam tảng đá, gần đúng với vị trí của Thánh đường Hồi giáo al-Aqsa ngày nay. Omar đã đi theo ước muốn của Muhammad là qua mặt đạo Cơ đốc để phục hồi và kết nạp nơi thánh tích cổ xưa này, khiến cho người Hồi giáo trở thành người kế thừa hợp pháp của thánh tính Jerusalem và như vậy tỏ ra khôn ngoan hơn người Cơ đốc.

Những câu chuyện về Omar ở Jerusalem có niên đại từ hơn một thế kỷ về sau khi Hồi giáo đã chính thức hoá những nghi thức theo những cách rất khác biệt với những nghi thức Cơ đốc và Do Thái. Vậy mà câu chuyện về Kaab và những người Do Thái khác, mà sau này tạo nên truyền thống văn học Hồi giáo ofIsrailiyyat, phần nhiều viết về sự vĩ đại của Jerusalem, chứng tỏ nhiều người Do Thái và có thể cả người Cơ đốc đều gia nhập đạo Hồi. Chúng ta sẽ không bao giờ hiểu chính xác những gì xảy ra trong những thập niên đầu tiên đó nhưng những cách sắp xếp khả thoải mái ở Jerusalem và nơi khác ngụ ý là có thể có một khối lượng đáng kinh ngạc những pha trộn và chia sẻ giữa các Dân tộc của Kinh thánh.

Các nhà chinh phục Hồi giáo lúc đầu sung sướng vì chia sẻ điện thờ với người Cơ đốc. Ở Damascus, họ chia sẻ Nhà Thờ St John nhiều năm liền. Ở Jerusalem, cũng có những ghi chép về sự chia sẻ các nhà thờ. Nhà thờ Cathisma bên ngoài thành phố thực sự có trang bị một hốc cầu nguyện Hồi giáo. Trái với truyền thuyết về Omar, hình như những người Hồi buổi đầu đầu tiên cầu nguyện bên trong hay bên cạnh Nhà Thờ Mộ Thánh trước khi tiến hành những sắp xếp trên Núi Đền.

Người Do Thái cũng hoan nghênh người Ả Rập sau nhiều thế kỷ bị chế độ Byzantine áp bức. Người ta nói rằng người Do Thái, cũng như người Cơ đốc, cưỡi ngựa trong hàng ngũ quân đội Hồi giáo. Mối quan tâm của Omar về Núi Đền dễ hiểu đã dấy lên niềm hi vọng Do Thái, vì vị Chỉ huy các Tín hữu không chỉ mời người Do Thái duy trì Núi Đền mà còn cho phép họ cầu nguyện ở đó chung với người Hồi. Một giám mục người Armenia thạo tin tên Sebeos, thuật lại, 30 năm sau đó, rằng ‘người Do Thái có kế hoạch xây dựng Đền Thờ Solomon và, định vị Nơi Chí Thánh, họ xây dựng (Đền Thờ) không có bệ’ – và nói thêm là thống đốc đầu tiên của Jerusalem thời Omar là người Do Thái. Omar chắc chắn có mời nhà lãnh đạo của cộng đồng Hồi giáo xứ Tiberias, Gaon, và 70 gia đình Do Thái trở về Jerusalem nơi họ định cư trong vùng phía nam của Núi Đền. *

* Văn bản truyền thống về Giao ước hoặc Hiệp ước giữa Omar và người Cơ đốc tuyên bố rằng Omar đồng ý đuổi người Do Thái ra khỏi Jerusalem. Đây là lối suy nghĩ thể hiện ước muốn của người Cơ đốc hoặc là một sự bịa đặt sau này vì chúng ta biết rằng Omar nghênh đón người Do Thái trở lại Jerusalem, rằng ông và những kha-lip buổi đầu cho phép người Do Thái thờ cúng trên Núi Đền và rằng người Do Thái sẽ không bỏ đi chừng nào mà Hồi giáo còn nắm  quyền. Người Armenia đã là một cộng đồng Cơ đốc lớn ở Jerusalem có giám mục riêng (sau này là giáo trưởng). Họ thiết lập những mối liên hệ thân cận với người Hồi và công nhận Giao ước riêng của mình. Suốt 1,500 năm sau, người Do Thái và Cơ đốc vẫn còn là những dhimmi, người của Giao ước, được khoan dung nhưng thấp kém, thỉnh thoảng được để yên, có khi bị bức hại một cách tàn nhẫn.

 Jerusalem vẫn còn nghèo khổ và dịch bệnh hoành hành sau những vụ cướp phá của quân Ba Tư và người Cơ đốc vẫn còn là đa số áp đảo nhiều năm liền. Omar cũng định cư người Ả Rập ở đây, nhất là người Quraysh lịch lãm hơn thích sống ở Palestine và Syria, mà họ gọi là Bilad al-Shams. Một số tín đồ thân cận nhất của Nhà Tiên Tri, được biết dưới tên Nhóm Đồng hành, đến Jerusalem và được chôn cất trong nghĩa trang Hồi đầu tiên ngay bên ngoài Cổng Vàng, sẵn sàng cho Ngày Phán Xét. Hai Gia tộc Jerusalem tiếng tăm, đóng một vai trò nổi bật trong câu chuyện này ngay tận thế kỷ 21, thuộc dòng dõi những những nhà vọng tộc Ả Rập sớm nhất này.

Ở Jerusalem, Omar được tháp tùng không chỉ bởi các tướng quân Khalid và Amr của ông mà còn bởi một chàng trai trẻ ham vui nhưng có năng lực thật khác một trời một vực với vị Chỉ huy cầm roi da. Muawiya ibn Abi Sufyan là con trai của Abu Sufyan, nhà quí tộc Mecca đã cầm đầu lực lượng chống lại  Muhammad. Mẹ của Muawiya từng ăn gan của Hamza, chú Nhà Tiên Tri sau Trận Uhuh. Khi Mecca đầu hàng người Hồi, Muhammad bổ nhiệm Muawiya làm thư ký của mình và cưới chị gái ông. Sau khi Muhammad mất, Omar chỉ định Muawiya làm thống đốc Syria. Chỉ huy ban cho ông một lời khen ngợi bất ngờ: Muawiya, òng nói, là ‘Caesar của người Ả Rập’.

 CHƯƠNG 18

 DÒNG DÕI UMAYYADS: ĐỀN THỜ ĐƯỢC PHUC HỒI 660–750

MUAWIYA: CAESAR CỦA Ả RẬP

Muawiya cai trị Jerusalem 40 năm, trước tiên với vai trò thống đốc Syria và sau đó là nhà chuyên chế của đế chế Ả Rập rộng lớn bành trướng về phía đông và phía tây với tốc độ đáng kinh ngạc. Nhưng giữa tất cả những thành tựu này, một cuộc nội chiến về việc kế nghiệp gắn như tàn phá Hồi giáo và tạo ra rạn nứt còn gây chia rẽ đến tận ngày nay.

Năm 644, Omar bị ám sát và người kế vị là Othman, một người anh em họ với Muawiya. Sau hơn 10 năm, Othman bị nhân dân căm ghét vì thói gia đình trị. Rồi ông cũng bị ám sát và người em họ của Nhà Tiên Tri, Ali, cũng là người kết hôn với con gái ông Fatima, được chọn làm người Chỉ huy các Tin hữu. Muawiya yêu cầu Ali trừng phạt bọn sát nhân – nhưng vị Chỉ huy mới từ chối. Muawiya sợ sẽ mất lãnh thổ của mình ở Syria. Ông đánh thắng cuộc nội chiến diễn ra sau đó, Ali bị giết chết ở Iraq, và thế là kết thúc thời trị vì của người cuối cùng trong nhóm gọi là các Kha-lip Công chính.

Vào tháng 7 661, các nhà có máu mặt thuộc đế chế Ả Rập họp nhau trên Núi Đền ở Jerusalem để tôn vinh Muawiya làm Chỉ huy các Tín hữu và thề trung thành theo truyền thống Ả Rập – bayah (Một cái bắt tay coi như một khế ước sẽ chịu tuân phục). Sau đó người Chỉ huy mới thăm Mộ Thánh và Lăng mộ Trinh nữ Mary, không với tư cách một khách hành hương mà chỉ để chứng tỏ sự tiếp nối của các tôn giáo và vai trò hoàng đế của ông với tư cách người bảo hộ của những thánh địa. Ông cai trị từ Damascus, nhưng ông yêu quí Jerusalem đến nỗi in trên đồng tiền của ông ‘Iliya Filastin’ – Aelia Palestina. Ông cũng tính lập nó làm kính đô và điều chắc chắn là ông thường cư ngụ ở đây tại một trong những cung điện xa hoa của mình ngay phía nam Đền Thờ mà có thể chính ông đã xây dựng. Muawiya vay mượn các truyền thống Do Thái về Núi Đền dễ tuyên bố Jerusalem là ‘vùng đất tề tựu và phục sinh vào Ngày Phán Xét’, và ông nói thêm, ‘Khu vực giữa hai bức tường của thánh đường này thân thiết với Thượng Đế hơn bất cứ vùng nào khác trên trái đất.’ 

Các tác giả Cơ đốc ca tụng  sự trị vì của ông là công minh, hoà bình và khoan thứ; người Do Thái gọi ông là ‘người yêu quí của Israel’. Quân đội của ông có mặt người Cơ đốc; đúng ra ông kết dính mối đồng minh với các bộ tộc Ả Rập theo đạo Cơ đốc bằng cách cưới Maysun, con gái tộc trưởng của họ, và cô được phép vẫn giữ đạo mình. Hơn nữa, ông cai trị qua Mansur ibn Sanjun (tiếng Ả Rập của từ Sergius), một bộ máy hành chính Cơ đốc kế thừa từ Heraclius. Muawiya đã lớn lên bên cạnh những người Do Thái ở Ả Rập, và người ta  kể rằng khi có phái đoàn nào của họ đến thăm viếng ông việc đầu tiên ông hỏi là trong đoàn có ai biết nấu món haris khoái khẩu mà ông từng thưởng thức ở quê nhà. Muawiya cho định cư nhiều người Do Thái hơn ở Jerusalem, cho phép họ cầu nguyện ở đó tại địa điểm Nơi Chí Thánh, vết tích của một cây đàn menorah của người Do Thái trên Núi Đền, có niên đại từ thế kỷ 7, có thể mình chứng cho điều ấy.

Muawiya ắt hẳn là người sáng lập thực sự của Núi Đền Hồi giáo như ngày nay. Chính ông là người thực sự xây dựng thánh đường Hồi giáo đầu tiên tại đó. Ông làm bằng phẳng đá của Pháo đài Antonia cổ, mở rộng diện tích và bổ sung một lục giác lộ thiên, Mái Vòm Dây Xích: không ai biết để dùng vào việc gì nhưng vì nó ở ngay chính giữa Núi Đền, nó có thể đánh dấu điểm trung tâm của thế giới. Muawiya, một người đương đại viết, ‘đẽo Núi Moriah và làm nó bằng phẳng để xây dựng một thánh đường ở đó ngay trên tảng đá thánh’. Khi một giám mục xứ Gaul (Pháp ngày nay) tên Arculf đến thăm Jerusalem, ông thấy rằng ‘tại nơi trước kia là Đền Thờ, giờ đây người Saracen lui tới một ngôi nhà cầu nguyện hình thuôn ráp lại với nhau bằng những tấm vách ngăn thẳng đứng và những thanh xà to lớn bắc qua một số tàn tích đổ nát, được cho là có thể chứa được 3,000 người.’ Nó ít khi được nhận ra là một thánh đường nhưng ắt hẳn toạ lạc tại nơi al-Aqsa đứng ngày nay.

Muawiya là hiện thân của hilm, sự khôn ngoan và nhẫn nại của tộc trưởng Ả Rập: ‘Tôi không sử dụng đến gươm khi phạt roi là đủ, không sử dụng đến roi khi lưỡi tôi là đủ. Và cho dù chỉ có một cọng tóc trói buộc tôi với các anh em, tôi cũng không để nó đứt. Khi họ căng, tôi giãn, nếu họ giãn tôi căng.’ Đây gần như là đúc kết thuật trị nước và Muawiya, người sáng lập vương triều Ả Rập và vị vua đầu tiên của triều đại Umayyad, là một kiểu mẫu toàn bích từ lâu bị phớt lờ về cách thức quyền lực tuyệt đối được thực thi mà không phải lâm vào cảnh thối nát chắc chắn. Ông mở rộng lãnh địa của mình đến tận đông Ba Tư, Trung Á và bắc Phi và ông chiếm Cyprus và Rhodes, biến người Ả Rập thành một cường quốc trên biển với lực lượng hải quân mới. Ông phát động những trận tấn công hàng năm vào Constantinople, và trong một dịp vây hãm trên bộ và biển trong ba năm.

Vậy mà Muawiya không hề đánh mất khả năng tự cười cợt mình, một phẩm chất cực hiếm trong các chính trị gia, nói chi đến nhà chinh phục. Ông càng ngày càng to béo (có lẽ đây là lý do ông trở thành quân vương Ả Rập đầu tiên ngồi dựa trên ngai vàng thay vì ngồi thẳng lưng trên đệm. Ông trêu chọc một nhà quí tộc béo phì khác: ‘Tôi thích có một nữ nô tì có cặp đùi như ngài.’

‘Và một cái mông như của hoàng thượng, vị Chỉ huy các Tín hữu,’ ông già kia đáp lại.

‘Quá công bình,’ Muawiya cười to. ‘Nếu người khởi đầu một một việc gì đó, ngươi phải gánh chịu hậu quả của nó.’ Ông không bao giờ thôi tự hào về khả năng tình dục huyền thoại của mình nhưng thậm chí về chuyện đó ông cũng có thể đùa cợt được: ông đang hành lạc với một hầu thiếp Khurasani trong chốn khuê phòng thì được trình lên một cô gái khác và ông chiếm đoạt ngay mà không lấy gì làm nhọc mệt. Khi cô ta đi khỏi, ông quay lại với hầu thiếp Khurasani, tự hào về sức mạnh như sư tử của mình: ‘Tiếng Ba Tư “sư tử” gọi là gì?’ ông hỏi nàng.

‘Kaftar,’ nàng trả lời.

‘Ta là một kafta,’ vị chỉ huy huênh hoang với các cận thần cho đến khi có người  hỏi ông  biết kaftar có nghĩa gì không.

‘Sư tử?’

‘Không, một linh cẩu què!’

‘Giỏi lắm,’ Muawiya cười khúc khích, ‘con nhỏ Khurasani đó biết cách trả thù ta.’

Khi ông mất ở tuổi bát tuần, người kế vị ông Yazid, một gã trác táng đi đâu cũng dắt theo con khỉ cưng, được tôn làm Chỉ huy trên Núi Đền nhưng sớm đương đầu với hai cuộc bạo loạn ở Ả Rập và Iraq, khởi đầu nội chiến thứ hai của Hồi giáo. Kẻ thù chế nhạo ông: ‘Yazid rượu chè, Yazid gái gú, Yazid chim chó, Yazid khỉ khẹt, Yazid hũ chìm.’

Cháu ngoại của Nhà Tiên Tri là Hussein nổi dậy để trả thù cho cái chết của cha mình Ali, nhưng bị chặt đầu tại Karbala ở Iraq, cái chết của ông tạo ra sự rạn nứt giữa đa số là Sunni và người Shia, ‘đảng của Ali’.*

Nhưng vào năm 683 Yazid chết yểu, và quân đội Syria triệu hồi thân nhân Marwan lớn tuổi mưu trí của ông lên làm Chỉ huy. Khi Marwan chết vào tháng 4 năm 685, con trai ông Abd al-Malik được tôn làm Chỉ huy ở Damascus và Jerusalem. Nhưng đế chế của ông mong manh: Mecca, Iraq và Ba Tư bị các phe nổi loạn kiểm soát. Vậy mà chính Abd al-Malik là người đã gắn cho Jerusalem theo Hồi giáo viên ngọc quí trên vương miện của cô nàng.

* Iran vẫn còn theo thần quyền người Shiite (người Hồi theo phái Shia). Người Shiite chiếm đa số ở Iraq và thiểu số lớn ở Lebanon.

ABD AL-MALIK: VÒM ĐÁ

Abd al-Malik không chịu được những kẻ xuẩn ngốc. Khi một nịnh thần ca tụng ông, ông tạt ngang, ‘Đừng nịnh bợ ta. Ta biết mình rõ hơn nhà ngươi.’ Dựa theo hình khắc trên đồng tiền rất hiếm có của ông, ông trông nghiêm khắc, mảnh dẻ và mũi quặp. Tóc quăn xoả ngang vai, và ông mặc áo choàng dài có thêu với một thanh gươm vắt vào dây nịt (hình dưới). Và đây là một người tình hoàng gia khác cũng thích suy gẫm về tình dục: ‘Ai muốn lấy một nữ nô lệ mua vui thì hãy chọn một cô xứ Berber; muốn sinh con, lấy một cô Ba Tư; muốn một người giúp việc nhà, lấy một cô Byzantine.’ Abd al-Malik lớn lên trong một môi trường gai góc. Lúc 16, ông đã chỉ huy một đạo quân đánh lại người Byzantine; ông đã chứng kiến anh họ mình, Othman người Chỉ huy các Tín hữu, bị sát hại; và chín chắn thành một quân vương thần thánh không hề sợ bẩn tay. Ông bắt đầu bằng việc tái chính phục Iraq và Iran. Khi bắt được một thủ lĩnh phiến quân, ông tra tấn y công khai trước mặt dân chúng Damascus, cột cổ y bằng sợi dây bạc và lôi đi chung quanh như lôi một con chó trước khi ‘ngồi xổm lên ngực y, phanh thây, ném thủ cấp cho thủ hạ.’

2

Kha-lip Abd al-Malik (hình trên trong một đồng tiền Hồi cuối cùng có khắc hình người) là người định hình thực sự cho Hồi giáo và một chính khách có tầm nhìn – nhưng người ta kháo rằng hơi thở ông độc hại đến nỗi có thể giết được ruồi.

Mecca hiện giờ vẫn còn quá tầm tay ông, nhưng ông sở hữu Jerusalem, nơi ông tôn kính không kém Muawiya. Abd al-Malik hình dung một đế chế Hồi giáo thống nhất khi ra khỏi cuộc nội chiến thứ hai, với Bilad al-Shams- Syria- Palestine – là trung tâm: ông dự kiến một xa lộ nối Jerusalem với Damascus. Muawiya đã lên kế hoạch xây dựng bên trên Tảng Đá: giờ Abd al-Malik bỏ ra số tiền bằng số thu nhập bảy năm của Ai Cập để xây dựng Vòm Đá.

Thiết kế đơn giản một cách tinh tế: một mái vòm, đường kính 65 bộ được nâng đỡ bởi một bệ hình ống, tất cả đặt trên những bức tường bát giác. Vẻ đẹp, sức mạnh và nét giản dị của Vòm cũng sánh ngang với tính bí ẩn của nó: chúng ta không biết chính xác tại sao Abd al-Malik xây dựng nó – ông không hề tiết lộ. Nó thực sự không giống một thánh đường mà là một điện thờ. Hình dạng bát giác của nó trông giống điện thờ các thánh tử đạo Cơ đốc, đúng ra mái vòm của nó khiến liên tưởng đến mái vòm của Mộ Thánh và Hagia Sofia ở Constantinople nhưng những lối đi vòng cung thiết kế để đi vòng quanh khiến nhớ đến Đá Kaaba ở Mecca.

Tảng Đá là địa điểm thiên đường của Adam, bệ thờ của Abraham, nơi David và Solomon vẽ thiết kế Đền Thờ sau đó được Muhammad đến thăm trong cuộc Dạ Hành của ông.  Abd al-Malik đang tái dựng Đền Thờ Do Thái cho một khải thị thực sự của Thượng Đế, đạo Hồi.

Tòa nhà không có trục trung tâm nhưng được bao quanh ba lần – đầu tiên là bức tường ngoài cùng, tiếp theo là đường có mái vòm bát giác và rồi ngay bên dưới mái vòm, tắm trong ánh mặt trời, đường có mái vòm đi quanh chính Tảng Đá:  như muốn tuyên bố rằng nơi này chính là trung tâm của thế giới. Mái vòm chính là bầu trời, kết nối với Thượng Đế bằng kiến trúc của con người.

Mái vòm bằng vàng và những trang trí xum xuê và chất đá trắng lấp lánh tuyên bố đây là Vườn Địa Đàng mới, và là địa điểm cho Sự Phán Xét Cuối Cùng khi Abd al-Malik và triều đại Umayyad của ông, sẽ giao nộp vương quốc của họ cho Thượng Đế vào Giờ Khắc của Ngày Cuối Cùng. Sự phong phú của hình ảnh – trang sức, cây cối, hoa quả và vương miện – khiến nó thành một tòa nhà vui vẻ cho dù không phải là khách Hồi giáo – óc tưởng tượng và cộng với tính dục lạc của Eden thêm vào vẻ lộng lẫy của David và Solomon.

34

Vòm Đá của Abd al-Malik khẳng định tình ưu việt của đạo Hồi và đế chế Umayyad của ông, thách thức đạo Cơ đốc, vượt xa Nhà Thờ Mộ Thánh và đề cao người Hồi chính là người kế vị người Do Thái bằng cách xây dựng Vòm Đá trên Tảng Đá nền móng của Đền Thờ Do Thái.

Thông điệp của Vòm do đó cũng mang tính đế chế: vì ông không chiếm lại được Mecca từ tay bọn phản loạn, nên ông dùng Vòm Đá để tuyên bố sự vĩ đại và trường tồn của triều đại mình cho toàn thế giới Hồi giáo biết – và có thể, nếu ông không lấy lại được Kaaba, ông có thể chọn nơi đây làm Mecca mới của mình. Mái vòm bằng vàng phóng chiếu sự hiển hách của ông như một hoàng đế Hồi giáo. Nhưng nó có một cử tọa rộng lớn hơn: như Hagia Sofia của Justinian ở Constantinople đã vượt qua Solomon, Abd al-Malik đang vượt qua Justinian, và Constantine Đại Đế nữa. Mỉa may thay, những tranh khảm ắt hẳn là tác phẩm của các nghệ nhân Byzantine, được Justinian II cho vị Chỉ huy mượn trong khoảng thời gian hoà binh hiếm hoi giữa các đế chế.

Sau khi nó được hoàn thành vào năm 691/2, Jerusalem không bao giờ giống như thế lần nữa: Tầm nhìn đáng kinh ngạc của Abd al-Malik nắm bắt đường chân trời của Jerusalem cho người Hồi bằng cách xây dựng trên ngọn núi khống chế thành phố mà người Byzantine khinh thị. Về vật lý, Vòm Đá thống trị Jerusalem và làm lu mờ Nhà Thờ Mộ Thánh – và đó là mục đích của Abd al-Malik. Đến tận thế kỷ 21, người Hồi còn chế giễu gọi Nhà Thờ Mộ Thánh, thay vì bằng tên Ả Rập là Kayamah, lại gọi  trại là Kumamah – Đống Phân. Vòng quanh tòa nhà, ông đặt bảng khắc chữ dài 800 bộ bài bác ý tưởng về tính thánh của Jesus, nhắc nhở trực tiếp về mối liên hệ mật thiết giữa hai niềm tin của những người độc thần: họ chia sẻ nhiều thứ trừ thuyết Tam Ngôi. Những chữ khắc thật tuyệt vời vì chúng là những gì ta biết đầu tiên về văn bản Koran mà Abd al-Malik đang kết tập thành hình thái cuối cùng. *

* ‘Hỡi Dân tộc của Kinh thánh đừng vượt qua giới hạn của tôn giáo mình và đừng nói điều gì về Thượng Đế trừ ra sự thật,’ bảng chữ khắc quanh Vòm Đá viết. ‘Thật ra Đấng Cứu Thế Jesus con trai của Mary chỉ là một sứ giả của Thượng Đế vì thế hãy tin tưởng Thượng Đế và sứ giả của người và đừng nói “ba”… Thượng Đế không phải nhìn nhận một người con.’  Lời này hình như là công kích vào giáo điều Ba Ngôi hơn là vào toàn bộ đạo Cơ đốc. .. Về phần người Do Thái, việc tế lễ hai tuần một lần ở đó tưởng nhớ đến Đền Thờ Do Thái một cách mạnh mẽ: ‘Vào mỗi thứ ba và thứ năm, họ sử dụng nghệ tây và chuẩn bị xạ hương, diên hương và gỗ đàn hương được ướp hương hoa hồng. Sau đó những người tế lễ (Do Thái và Cơ đốc) ăn và bước vào nhà tắm để thanh tẩy. Họ đi đến kho quần áo và bước ra trong y phục mới xanh và đỏ với băng quấn đầu và dây lưng. Rồi họ đi đến Tảng Đá và xúc dầu thánh.’  Như học giả Andreas Kaplony viết, đây là ‘một nghi thức tế lễ Hồi giáo, tế lễ cho Đền Thờ theo kiểu mà người Hồi nghĩ là phải như vậy. Nơi tóm lại, đây là Đền Thờ trước đây được xây dựng lại, Kinh Koran là Kinh Torah mới và người Hồi là dân tộc đích thực của Israel.’

Người Do Thái ít quan trọng về mặt đế chế nhưng quan trọng hơn về mặt thần học. Vòm Đá được bảo quản bởi 300 nô lệ da đen và 20 nhân viên Do Thái và 10 Cơ đốc. Người Do Thái không thể nhìn Vòm Đá mà không cầm lòng hi vọng: đây có phải là Đền Thờ mới của mình? Họ còn được phép cầu nguyện ở đó và nhà Umayyad còn sáng tạo ra một phiên bản Hồi giáo của những nghi thức Đền Thờ như thanh tẩy, xức dầu thánh và đi vòng quanh tảng đá.

Vòm Đá có một mãnh lực vượt quá tất cả điều này: nó xếp ở vị trí như một trong những tuyệt tác nghệ thuật kiến trúc vượt thời gian; sự rực rỡ của nó là tiêu điểm của mọi cặp mắt bất cứ người nhìn đứng ở đâu trong Jerusalem. Nó lấp lánh như một lâu đài thần bí vươn ra khỏi không gian quang đãng và thanh thoát và ngay lập tức trở thành một thánh đường lộ thiên bề thế, thánh hóa tất cả khoảng không gian chung quanh nó. Núi Đền thình lình trở thành – và vẫn còn là – một nơi để giải trí và thư giãn. Đúng là Vòm Đá tạo ra một thiên đường trên mặt đất kết hợp sự tĩnh lặng và tham dục của thế giới này với sự thiêng liêng của kiếp sau, và đó chính là tài nghệ của người kiến tạo ra nó. Thậm chí trong những năm đầu tiên sau khi hoàn thành, theo lời Ibn Asakir, không có gì lạc thú hơn là ăn một trái chuối dưới bóng râm của Vòm Đá’. Nó xếp hạng cùng với các Đền Thờ của Solomon và Herod là một trong những công trình tôn giáo thành công nhất từng được xây 6 và, trong thế kỷ 21, nó đã trở thành biểu tượng du lịch thế tục tối hậu, điện thờ của Hồi giáo trỗi dậy và vật tổ của chủ nghĩa dân tộc Palestine: ngày nay nó vẫn còn là biểu tượng của Jerusalem.

Ngay sau khi Vòm Đá xây dựng xong, quân Abd al-Malik chiếm lại được Mecca và tiếp tục cuộc thánh chiến để mở rộng vương quốc của Thượng Đế chống lại người Byzantine. Ông bành trướng đế chế khổng lồ này về phía tây băng qua bắc Phi và về phía đông vào tận Sind (Pakistan ngày nay). Nhưng trong lãnh địa của mình, ông cần thống nhất Ngôi Nhà Hồi giáo như một tôn giáo độc nhất dựa trên Muhammad, được thể hiện trong cặp tín điều giờ đây xuất hiện trong nhiều bảng chữ khắc: ‘Không có Thượng Đế ngoài Thượng Đế, và Muhammad là tông đồ của Thượng Đế.’ Các lời dạy của Nhà Tiên Tri – hadith – được tập họp và bản in đầy đủ Kinh Koran của Abd al-Malik trở thành nguồn lực vô địch của tính hợp pháp và thiêng liêng. Các nghi thức càng ngày càng được xác định nghiêm ngặt; các ảnh khắc bị cấm tuyệt – ông ngưng đúc tiền đồng có in chân dung mình.

Abd al-Malik giờ tự xưng là  Khalifat Allah, Phó Thượng Đế, và từ giờ trở đi các nhà cai trị Hồi giáo được gọi là kha-lip. Các phiên bản chính thức về tiểu sử sớm nhất  của Muhammad và Công cuộc Chinh phục Hồi giáo loại trừ người Cơ đốc và Do Thái ra khỏi đạo Hồi. Việc quản trị hành chính đều được Ả Rập hóa. Như Contantine,

Abd al-Malik tin tưởng vào một đế chế phổ quát của một nền chuyên chính, một Thượng Đế, và hơn ai khác chính ông là người giám sát sự tiến hóa của cộng đồng Muhammad thành đạo Hồi ngày nay.

WALID: KHẢI HUYỀN VÀ XA HOA

Jerusalem có một điện thờ trong Vòm Đá nhưng chưa phải là một thánh đường hoàng gia, vì thế  Abd al-Malik và con trai Walid, người kế vị ông, sau đó xây dựng Thánh đường al-Aqsa, thánh đường của Jerusalem dành cho tín đồ bình dân đến cầu nguyện vào thứ sáu, tại biên giới phía nam của Núi Đền. Các Kha-lip, như Herod,  xem Núi Đền như là tâm điểm của Jerusalem. Lần đầu tiên kể từ 70 SCN, họ xây dựng một Cầu Lớn mới băng qua thung lũng cho khách hành hương đi vào Núi Đền từ phía tây, qua Cung Vòm Wilson, ngày nay là Cổng Dây Xích. Để đi vào từ hướng nam, họ tạo ra các Cổng Kép có mái vòm, khớp với Cổng Vàng về phong cách và vẻ đẹp.*

* Lúc nào cũng vậy ở Jerusalem, vật liệu xây dựng được mượn từ nơi khác, vì thế các thanh xà gỗ của Aqsa được lấy từ một địa điểm Cơ đốc, vẫn còn được đánh dấu bằng chữ Hy Lạp với tên của Giáo trưởng thế kỷ thứ 6 (hiện giờ nằm trong Bảo tàng Rockefeller và Haram). Cổng Đôi và Ba ở hướng nam, khớp với Cổng Vàng ở hướng đông, tất cả giờ đây đã khép kín, là cổng đẹp nhất ở Jerusalem, xây dựng nhờ đá từ các công trình cũ của Herod và La Mã.

 Đây là thời khắc sôi nổi ở Jerusalem. Trong khoảng thời gian một ít năm, các kha-lip đã biến Núi Đền thành một điện thờ Hồi giáo thiêng liêng và biến Jerusalem thành một thành phố hoàng gia Umayyad và điều này một lần nữa tháo xiềng cho cuộc cạnh tranh lây nhiễm giữa các điện thờ và những câu chuyện đặc trưng của Jerusalem thậm chí đến tận ngày nay. Người Cơ đốc lấy cắp nhiều huyền thoại Do Thái và dần dần cho vào ngôi điện thờ trung tâm là Mộ Thánh. Nhưng giờ đây sự vươn lên của Vòm Đá và  al-Aqsa lại xáo trộn những huyền thoại cũ thêm một lần nữa: một dấu chân trên Tảng Đá trước đây từng được chỉ cho khách hành hương Cơ đốc nói là dấu chân của Jesus thì giờ đây trở thành dấu chân của Muhammad. Người Umayyad bao phủ Núi Đền với những mái vòm mới tất cả đều liên kết với truyền thống Kinh thánh từ Adam và Abraham qua David và Solomon đến Jesus. Kịch bản về Ngày Phán Xét Cuối Cùng của họ xảy ra trên Núi Đền, khu Tảng Đá Kaaba sẽ đến Jerusalem. * Và không chỉ có Núi Đền: người Hồi đâm ra tôn kính bất cứ thứ gì liên quan đến David, mà giờ đây họ coi Thành lũy, người Cơ đốc gọi là Tháp David, là David’s Mihrab (hốc cầu nguyện của David): họ không phải là người cuối cùng lầm lẫn cái vĩ đại của Herod cho là của David. Nhà Umayyad không nghĩ chỉ xây dựng cho Thượng Đế mà còn cho chính mình.

* ‘Mỗi linh hồn đều nếm trải cái chết và bạn sẽ chỉ được trả đầy đủ vào Ngày Phục Sinh,’ Kinh Koran dạy. Người Hồi tạo ra một khu vực địa lý của Khải Huyền chung quanh Jerusalem. Lực lượng xấu ác sẽ bị tiêu diệt trước Cổng Vàng. Mahdi – Người Được Chọn – chết khi Hòm Giao ước được đặt trước ông ta. Thấy Hòm Giao ước, người Do Thái liền cải sang đạo Hồi. Kaaba của Mecca sẽ đến Jerusalem với tất cả những ai đã từng hành hương đến Mecca. Thiên đường hạ xuống Núi Đền và Địa ngục xuất hiện ở Thung lũng Hinnom. Những người tụ tập bên ngoài Cổng Vàng trên Bình Nguyên – al-Sahira. Israfil Tổng Thiên sứ của Tử Thần (một trong các cổng của Vòm Đá có tên đó) thổi một hồi kèn: những người chết (đặc biệt những người được chôn cất sát Cổng Vàng) sẽ được phục sinh và bước qua Cổng Vàng, cửa chính đến Ngày Cuối Cùng (với hai Cổng Thương Xót và An Năn có mái vòm), để được phán xét dưới Vòm Dây Xích. 

Những kha-lip này là những người yêu lạc thú và có văn hóa: đây là đỉnh cao của đế chế Ả Rập – thậm chí Tây Ban Nha giờ cũng thuộc họ – và mặc dù Damascus là kinh đô của họ, họ trải nhiều thời gian ở Jerusalem. Ngay phía nam Núi Đền, Walid I và con trai ông xây dựng một phức hợp cung điện, không được biết cho đến khi được khai quật vào cuối thập niên 1960: chúng cao ba bốn tầng chung quanh những sân vườn mát mẻ và các kha-lip thậm chí có cả một lối đi hoàng gia đặc biệt vào tận al-Aqsa qua một cây cầu trên mái cung điện. Những tàn tích phát giác không cho biết gì nhiều hơn là kích cỡ của cung điện, nhưng các cung điện sa mạc còn sót lại của họ cho thấy họ ắt hẳn đã sống ở đấy xa hoa như thế nào

Cung điện sa mạc xa hoa nhất tiếng Ả Rập là qasr còn sót lại ở Amra, thuộc Jordan ngày nay, nơi các kha-lip thư giãn trong những khu vực và nhà tắm riêng tư với nền khảm hình và hoạ tiết mô tả những cảnh săn bắn, những phụ nữ khỏa thân hay ăn mặc hở hang, những vận động viên, thần ái tình, thần dê và một con gấu thổi sáo. Walid I xuất hiện trong những bích họa Sáu Vua đầy màu sắc cho thấy những ông vua bị nhà Umayyad đánh bại như các hoàng đế Constantinople và Trung Quốc. Những bức tranh phong cách Hy Lạp suy đồi này dường như rõ ràng không có tính Hồi giáo, nhưng, như dòng họ Herod, có thể họ sống với bộ mặt khác ở nơi công cộng. Walid I kết thúc tình trạng chia sẻ với người Cơ đốc ở Damascus, xây dựng Thánh đường Umayyad ở đó, và ngôn ngữ hành chính giờ chuyển từ Hy Lạp sang tiếng Ả Rập. Vậy mà Jerusalem vẫn thuộc Cơ đốc một cách áp đảo. Người Hồi và Cơ đốc qua lại tự do: cả hai đều mừng lễ Dâng Hiến của Nhà Thờ Mộ Thánh vào tháng chín, thu hút một lượng lớn đến Jerusalem, đường phố đầy lạc đà và ngựa, lừa và bò. Các khách hành hương Cơ đốc, giờ thuộc Armenia và Georgia nhiều hơn Hy Lạp, hiếm khi chú ý những địa điểm Hồi giáo, trong khi người Do Thái ít khi đề cập đến người Cơ đốc. Dần dần những du khách càng ngày càng có khuynh hướng  phiến diện và bớt muốn tìm hiểu những gì không phải thuộc tôn giáo mình.

Năm 715, em của Walid, Suleiman, được tôn vinh trên Núi Đền: ‘Chưa từng ai nhìn thấy cảnh tấn phong vị tân Kha-lip trọng thể đến như thế. An toạ dưới một trong những mái vòm trang trí bục nền, ông tiếp một cử tọa trên một biển thảm và gối với của cải chất đống chung quanh mình để phân phát cho binh sĩ.

Suleiman, người tiến hành cuộc tấn công Ả Rập đại qui mô cuối cùng vào Constantinople (và suýt chiếm được nó), ôm ấp kế hoạch sống ở Jerusalem và phong nó làm kinh đô và mang về đó của cải khổng lồ và một dân số đáng kể’. Ông thành lập thành phố Ramala như một trung tâm hành chính, nhưng chết trước khi có thể dời về đó.

Người Do Thái, nhiều người từ Iran và Iraq, định cư trong Thành phố Thánh, sống với nhau ở phía nam Núi Đền, giữ được đặc quyền cầu nguyện trên Núi Đền. Nhưng vào khoảng năm 720, sau gần như một thế kỷ tự do cầu nguyện ở đó, vị Kha-lip mới Omar II, một người, thật bất thường vào thời kỳ triều đại suy tàn này, khổ hạnh bám chặt vào chính thống Hồi giáo, ngăn cấm người Do Thái thờ cúng – và sự ngăn cấm này sẽ tiếp tục cho đến suốt thời trị vì còn lại của đạo Hồi. Người Do Thái bắt đầu cầu nguyện quanh bốn bức tường của Núi Đền và trong một nhà thờ Do Thái ngầm gọi là ha-Meara – Hang động – tại Cổng Warren, gần như bên dưới Núi Đền gần Nơi Chí Thánh.

Trong khi các kha-lip Umayyad hưởng thụ cung điện kiểu Hy Lạp và nữ vũ công, đế chế lần đầu tiên tiến đến giới hạn. Các lực lượng Hồi giáo ở Tây Ban Nha đã thăm dò nước Pháp, nhưng vào năm 732, một quí tộc Pháp, Charles, Thị trưởng Palace của các nhà vua Merovingian, đánh bại một cuộc đột kích của quân Hồi tại thành Tours. Được nghênh đón như một Maccabee, ông trở thành  Charles Martel – Búa Tạ.

Sử gia Ả Rập Ibn Khaldun viết, ‘Các triều đại có khoảng đời tự nhiên giống như con người’ và giờ đây những người Umayyad trần tục, suy đồi đã đến thời điểm kết thúc của họ. Trong một ngôi làng ở phía đông Jordan những hậu duệ của Abbas, chú của Nhà Tiên Tri, sinh sống. Họ từ lâu bí mật chống đối cách cai trị theo chủ nghĩa khoái lạc của nhà Umayyad, hoàn toàn không dính líu gì đến Muhammad. ‘Khổ cho Nhà Umayyad,’ lãnh tụ Abu al-Abbas của họ tuyên bố, ‘chúng thích phù du hơn vĩnh cửu; tội ác ám ảnh chúng; chúng chiếm đoạt những phụ nữ cấm kỵ.’ Nổi bất mãn lan tràn nhanh chóng. Thậm chí các bộ tộc của vùng đất trung tâm Syria trung kiên cũng nổi dậy – ngay cả Jerusalem. Vị kha-lip cuối cùng phải tràn vào thành phố và san bằng các tường thành của nó. Một trận động đất chấn động Jerusalem gây thiệt hại cho al-Aqsa và các cung điện như thể Thượng Đế đã nổi giận với nhà Umayyad. Người Cơ đốc và Do Thái ước mơ đây là Ngày Khải Huyền. Người Hồi cũng vậy, và mối đe doạ thực sự cho triều đại Umayyad xuất phát từ một nơi rất xa ở phương đông.

Năm 748, ở Khorasan, ngày nay thuộc đông Iran và Aghanistan, một người thần bí đầy thu hút có tên Abu Muslim chủ trương một đạo Hồi khắt khe hơn và được cai trị bởi một người thuộc dòng dõi Muhammad. Những người Hồi giáo mới ở vùng biên giới gia nhập đạo quân thuần khiết của ông, ăn mặc toàn màu đen và hành quân dưới những ngọn cờ đen và nghênh đón vị imam mới đến, người đi trước vị Mahdi, * để cứu chuộc đạo Hồi.

Abu Muslim dẫn đạo quân chiến thắng của mình về hướng tây nhưng chần chừ không biết phải ủng hộ dòng Ali hay dòng  Abbas – và cũng vẫn còn nhiều ông hoàng quanh quẩn. Nhưng chính Abu al-Abbas là người đánh bại vị cai trị cuối cùng nhà Umayyad và giải quyết luôn vấn đề này theo cách ông xứng đáng được gán biệt danh của mình.

* Imam là lãnh tụ một giáo đường hay một cộng đồng nhưng theo phái Shia, imam có thể là những lãnh đạo tinh thần, được Thượng Đế chọn lựa và được ban quyền năng bất khả ô nhiễm.  Những người Shiite theo giáo phái Thập Nhị ở Iran tin vào 12 imam đầu tiên thuộc dòng dõi con rể của Muhammad là Ali và Fatima và rằng Imam thứ 12 được ‘bí ẩn hóa’ – được Thượng Đế che giấu – và sẽ trở lại với vai trò là vị Madhi, bậc cứu thế tiên tri Được Chọn trong Ngày Phán Xét. Cộng hòa Hồi giáo Iran được thành lập bởi Giáo chủ Ayatollah Khomeini dựa trên kỳ vọng ngàn năm này: chỉ có nền cai trị bằng tăng lữ cho đến khi vị Imam trở lại.

  

CHƯƠNG 19

NHÀ ABBASID: CÁC ÔNG CHỦ Ở XA 750–969

 KHA-LIP SAFFAH: TÊN ĐỒ TỂ

Abu al-Abbas xưng mình là kha-lip và mời các thành viên Umayyad dự tiệc để trình bày những ý định hòa giải của mình. Ngay giữa bữa tiệc, các bồi bàn rút ra chày vồ và dao gươm và làm thịt toàn bộ gia đình, ném các thi thể vào nồi cừu hầm. Tên Đồ Tể chết sớm sau đó nhưng em trai ông Mansur, Người Chiến Thắng, tàn sát có hệ thống gia đình Alid và sau đó thủ tiêu Abu Muslim đầy quyền lực. Nhân viên làm dầu thơm cho ông,  Jamra, sau đó bảo Mansur có giữ chìa khóa của một căn phòng  bí mật chỉ được mở sau khi ông mất. Tại đây con trai ông sau đó tìm thấy một căn phòng có mái vòm chứa đầy những thi thể, mỗi thi thể đều được ghi nhãn tỉ mỉ, của những thành viên Ali từ người già cho đến trẻ con mà Mansur đã giết, tất cả đều được bảo quản trong không khí khô nóng.

Dẻo dai với nước da nâu dày dạn nắng gió và mái tóc nhuộm màu nghệ tây, Mansur là vị thái tổ đích thực của triều đại Abbasid cai trị trong nhiều thế kỷ, nhưng căn cứ quyền lực của ông là ở phía đông: ông dời kinh đô  về Thành phố Hình tròn mới của ông, Baghdad.

Ngay sau khi nắm quyền, Mansur viếng thăm Jerusalem. Tại đó ông tu bổ lại Thánh đường Aqsa bị hư hại, nhưng trang trải phí tổn bằng cách nấu chảy những cánh cửa vàng và bạc trong Vòm Đá của Abd al-Malik. Những người kế vị ông không ai buồn lui tới Jerusalem. Ngay khi thành phố lu mờ dần trong thế giới Hồi giáo,  thì một hoàng đế tây phương làm sống lại sức lôi cuốn của Jerusalem đối với người Cơ đốc.

HOÀNG ĐẾ VÀ KHA-LIP: CHARLEMAGNE VÀ  HAROUN AL-RASHID

Vào ngày Giáng Sinh 800, Charles Đại Đế, được biết dưới tên Charlemagne, Vua của người Pháp, người cai trị hầu hết nước Pháp, Đức và Ý ngày nay, được giáo hoàng La Mã đội vương miện phong làm hoàng đế La Mã. Nghi lễ này đánh dấu sự tin cẩn mới vào các giáo hoàng và Cơ đốc giáo có cơ sở Latinh tây phương sẽ trở thành Thiên chúa giáo; và sự khác biệt lớn dần của họ với Chính thống giáo Constantinople nói tiếng Hy Lạp. Charlemagne là vị vua chiến binh không khoan nhượng luôn chặt chém để thu tóm quyền lực, vậy mà ông cũng say mê lịch sử, và sùng đạo không kém say mê tham vọng: ông thấy mình chính là người thừa kế sứ mạng của Constantine và Justinian để trở thành hoàng đế La Mã thần thánh toàn diện, và như Vua David đương đại – và cả hai khát vọng này dẫn đến Thành phố Thánh. Thế là vào sáng sớm cũng ngày Giáng Sinh đó, người ta nói rằng một phái đoàn do Giáo trưởng Jerusalem phái đến đã trình lên ông chùm chìa khóa của Mộ Thánh. La Mã và Jerusalem trong cùng một ngày quả là kỳ tích.

Động thái này không phải là giao nộp quyền sở hữu vì giáo trưởng chịu sự quản lý của người cai trị Jerusalem, Kha-lip Haroun al-Rashid. Việc trị vì của vị kha-lip này, được thuật lại trong Một Nghìn Một Đêm Lẻ, là đỉnh cao của đế chế Abbasid. Charlemagne  và kha-lip đã trao đổi các sứ đoàn trong ba năm qua: Haroun ắt hẳn muốn đùn đẩy cho người Pháp việc chống lại kẻ thù của mình ở Constantinople để mình ở thế ngư ông hưởng lợi và mặt khác những người Cơ đốc ở Jerusalem cũng cần sự giúp đỡ của  Charlemagne.

Kha-lip gởi tặng Charlemagne một con voi và một đồng hồ nước, một thiết bị tinh vi phô trương sự hơn hẳn của người Hồi – mà một số người Cơ đốc có đầu óc mụ mẫm cho đây là cái bẫy phù thủy quỷ quái. Hai hoàng đế không ký một hiệp ước chính thức nào, nhưng tài sản người Cơ đốc ở Jerusalem được liệt kê và bảo vệ, trong khi Charlemagne phải trả thuế thân cho các người Cơ đốc thành phố – 850 dinar. Bù lại Haroun cho phép ông thành lập khu Cơ đốc quanh Mộ Thánh, với một nhà tu kín, thư viện và nhà tập thể cho khách hành hương, được điều hành bởi 150 thầy tu và 17 nữ tu. ‘Người Cơ đốc và đa thần giáo’, một khách hành hương ghi nhận, ‘chung sống với nhau hòa bình.’ Việc quảng đại này làm phát sinh chuyện Charlemagne đã bí mật ghé thăm Jerusalem, biến ông thành người thừa kế Heraclius, và đóng vai vị Hoàng đế Cuối cùng trong truyền thuyết thần bí mà thời cai trị của ông sẽ báo trước Ngày Tận Thế. Điều này được nhiều người tin tưởng, đặc biệt trong thời kỳ Thập Tự Chinh, nhưng thật ra Charlemagne chưa hề đến thăm Jerusalem bao giờ.

Khi Harpin mất, cuộc nội chiến giữa các con trai ông kết thúc với phần thắng nghiêng về Maamun. Vị kha-lip mới là một sinh viên khoa học nhiệt thành, thành lập học viện văn-khoa nổi tiếng, Ngôi Nhà Thông Thái, ủy thác vẽ bản đồ thế giới  và ra lệnh các nhà hiền triết của mình tính toán chu vi của địa cầu.* Năm 831, đến Syria để tổ chức một chiến dịch chống Constantinople, Maamun ắt hẳn có đến thăm Jerusalem, tại đó ông xây dựng những cổng mới trên Núi Đền, nhưng ông xóa tên Abd al-Malik trong Vòm Đá để đề cao sự ưu việt của dòng họ Abbasid và thay thế bằng tên mình. Ông chẳng những lấy đi tên của al-Malik mà còn cưỡm vàng của ông ta từ Mái Vòm khiến chỉ còn trơ màu chì xám trong hơn một ngàn năm. Lớp vàng trở lại vào thập niên 1960 – nhưng tên Abd al-Malik không trở lại và những vết tích của Maamun vẫn còn ở đó đến ngày nay.

* Nhà Abbasid, đặc biệt là Maamun, đều đặn yêu cầu gửi đến văn bản những tác phẩm cổ điển của Hy Lạp từ Byzantine, giữ lại cho hậu thế Plato, Aristotle, Hippocrates, Galen, Euclid và Ptolemy xứ Alexandria. Người Ả Rập triển khai một bộ từ vựng hoàn toàn mới về khoa học đã đi vào ngôn ngữ Anh: alcohol, alembic, alchemy, algebra, almanac  chỉ là vài trong nhiều danh từ được vay mượn như thế. Danh mục nổi tiếng của Al-Nadim cho thấy họ cũng cho ra 6,000 đầu sách mới. Giấy giờ đây đã thay thế giấy da cuộn: trong một trận đánh quyết định của lịch sử, quân Abbasid đánh tan cuộc xâm lăng của các hoàng đế nhà Tống Trung Hoa, bảo đảm cho Trung Đông còn là nước Hồi giáo chứ không phải chư hầu của Trung Quốc và cũng nhờ đó nắm bắt được bí quyết làm giấy của người Hoa.

 Trò tráo trở này không ngăn cản sự trượt dốc của quyền lực Abbasid. Chỉ hai năm sau, một thủ lĩnh nông dân nổi dậy được cả ba tôn giáo nghênh đón tại Jerusalem cho đến khi, vào năm 841, y cướp bóc thành phố khiến nhiều cư dân phải bỏ trốn. Mộ Thánh chỉ được cứu khi giao trưởng đưa hối lộ. Nhưng các kha-lip Ả Rập đã mất quyền kiểm soát. Năm 877, Ahmed ibn Tulun, con trai của một nô lệ Thổ Nhĩ Kỳ đã trở thành người cai trị Ai Cập dưới sự bảo hộ trên danh nghĩa của vị kha-lip, chiếm lại Jerusalem.

KAFUR: HOẠN QUAN XỨC NƯỚC HOA

Ibn Tulun là một trong những người Thổ sẽ dần dần thay thế người Ả Rập nắm quyền lực trong đế chế Hồi giáo. Người kế vị Maamun là Mustasim đã bắt đầu tuyển mộ những thanh niên nô lệ – họ được biết dưới tên ghulam, kẻ sai vặt – trong số những cung thủ phi ngựa Thổ mới cải đạo Hồi ở vùng Trung Á. Những chiến binh có mặt mũi Á châu này sẽ trở thành đội cận vệ đầu tiên của kha-lip, rồi thủ hạ uy lực của kha-lip.

Sau khi con trai thừa kế của Ibn Tulun bị ám sát bởi hoạn quan của ông, một thủ hạ Thổ Muhammad ibn Tughj, được biết dưới tước hiệu ông hoàng vùng Trung Á – Ikhshid – nổi lên cai trị Ai Cập và Jerusalem. Sự bất ổn chính trị càng làm căng thẳng sự tranh chấp tôn giáo. Năm 935, tòa nhà phụ của Mộ Thánh bị cưỡng bách cải biến thành một thánh đường Hồi giáo. Ba năm sau, người Hồi tấn công người Cơ đốc đang hành lễ Cọ, cướp bóc và làm hư hại Nhà Thờ. Người Do Thái bây giờ tách ra làm hai nhánh: người Rabbanite truyền thống cầm đầu bởi những học giả-quan tòa được biết dưới tên gaon, sống theo Kinh Talmud truyền khẩu, và người Karaite, một giáo phái mới chối bỏ bất kỳ giáo luật nào trừ Kinh Torah và tin tưởng vào một sự trở về với Zion.  Những nhà cai trị Thổ này ưu ái người Karaite, và như để làm phức tạp thêm vấn đề cũng xuất hiện một cộng đồng mới người Khazar * với giáo đường riêng trong khu Do Thái. Khi vị Ikhshid Thổ mất năm 946, thọ 64 tuổi, ông được chôn cất ở Jerusalem và quyền lực truyền cho vị hoạn quan da đen mà biệt hiệu của ông xuất phát từ việc ông thích nước hoa và trang điểm.

* Người Khazar – dân du mục Thổ theo Shaman giáo, cai trị vùng thảo nguyên từ Hắc Hải đến Trung Á – lập thành nhà nước Do Thái cuối cùng trước khi sáng lập Israel.  Năm 805, các vua của họ cải sang đạo Do Thái, đặt những tên như Manasseh và Aaron. Khi tác giả Jerusalem Muqaddasi đi qua Khazaria ông nhận xét ngắn gọn, ‘Cừu, mật ong và người Do Thái tồn tại ở đó với số lượng lớn.’ Khoảng thập niên 960, đế chế Do Thái này đang trong thời kỳ suy thoái. Tuy nhiên, các tác giả từ Arthur Koestler đến Shlomo Sand gần đây đã tuyên bố rằng phần lớn dân Do Thái Âu châu thực sự là hậu duệ của những bộ tộc Thổ này. Nếu đúng như thế, điều này sẽ phá hỏng ý nghĩa của chủ nghĩa phục quốc Do Thái. Nhưng di truyền học hiện đại bác bỏ lý thuyết này: hai cuộc khảo sát gần đây nhất  chỉ ra rằng người Do Thái hiện đại, cả Sephardic và Ashkenazi, có khoảng 70 phần trăm xuất xứ từ các gen Trung Đông cách đây 3,000 năm và khoảng 30 phần trăm gen khối châu Âu.

 Abul-Misk Kafur, người sẽ cai trị Ai Cập, Palestine và Syria trong hơn 20 năm, là một nô lệ Ethiopia được vị Ikhshid mua khi còn là một đứa trẻ. Biến dạng, béo phì và bốc mùi, y phải xịt quá nhiều xạ hương trắng và long não đen lên người đến nỗi chủ nhân y đặt tên lại cho y. Y được cất nhắc sau khi một vài con thú lạ vùng xa gởi tặng vị Ikhshid đến nơi. Trong khi tất cả bọn tôi tớ đều chạy ùa ra xem, thì duy chỉ có anh chàng Phi châu không rời mắt khỏi chủ nhân, đợi lệnh dù là nhỏ nhất. Vị Ikhshid chỉ định y làm thầy dạy các con trai mình, tiếp theo là chỉ huy những đạo quân chinh phục Palestine và Syria, và cuối cùng nhiếp chính với tước vị Chủ nhân. Khi đã nắm được quyền lực, ngài hoạn quan trau dồi đạo giáo, phục hồi các bức tường ở Núi Đền, và bảo trợ các công trình nghệ thuật. Tuy nhiên, về phía bắc, người Byzantine đã vực dậy nhờ một loạt các hoàng đế chiến binh nổi bật. Họ cướp phá về phía nam hướng đến Syria, đe doạ chiếm lấy Jerusalem, làm dấy lên những cuộc bạo loạn chống Cơ đốc. Năm 966, thống đốc của Kafur bắt đầu bóp nghẹt người Cơ đốc, yêu sách Giáo trưởng John phải nộp tiền cao hơn khiến ông này phải cầu cứu lên Kafur. Nhưng khi John bị bắt vì tội liên lạc với Constantinople, thống đốc, được người Do Thái (vốn căm ghét Byzantine) ủng hộ, tấn công vào Mộ Thánh và thiêu sống giáo trưởng tại cọc.

Ở Cairo, vị hoạn quan thơm nức giờ đang bệnh nặng. Sau cái chết của vị Ikhshid cuối cùng,  Kafur bước lên ngôi báu một cách đường hoàng. Vị vua Hồi đầu tiên sinh ra là người nô lệ – hoặc nói  một hoạn quan cũng được – sử dụng một bộ trưởng Do Thái, người sẽ trở thành bộ óc cho cuộc cách mạng Hồi giáo và cho một đế chế mới phủ lên Jerusalem.

CHƯƠNG 20

NHÀ FATIMID: KHOAN DUNG VÀ ĐIÊN DẠI 969–1099

IBN KILLIS: TỂ TƯỚNG DO THÁI VA CUỘC CHINH PHỤC CỦA NHÀ FATIMID

Con trai của một nhà buôn Do Thái từ Baghdad, Yaqub ben Yusuf, được biết dưới tên Ibn Killis, đã trải qua một sự nghiệp lên voi xuống chó, từ tên lang băm phá sản ở Syria đến cố vấn tài chính cho Kafur ở Ai Cập. ‘Nếu ngươi là người đạo Hồi,’ Kafur nói, ‘ngươi đã là người thích hợp làm tể tướng.’ Ibn Killis hiểu được gợi ý và cải đạo, nhưng hoạn quan đã mất, được chôn cất ở Jerusalem, còn Ibn Killis thì bị cầm tù. Hối lộ để ra tù, ông bí mật đi về tây đến vương quốc người Shiite ở Tunisia ngày nay được cai trị bởi nhà Fatimid. Ngài Ibn Killis giảo hoạt cải sang đạo Shia và khuyên Kha-lip Muizz rằng thời cơ đã chín mùi để chiếm Ai Cập. Vào tháng 6 969, tướng Jawhar al-Siqilli của Muizz chinh phục Ai Cập rồi tiến về bắc để chiếm Jerusalem.

PALTIEL VÀ NHÀ FATIMIDS: CÁC HOÀNG THÂN-BÁC SĨ DO THÁI VÀ CÁC BẬC IMAM SỐNG

Các hoàng đế cứu thế Fatimids, chủ nhân mới của Jerusalem, không giống như bất kỳ triều đại Hồi giáo nào khác vì họ không chỉ xưng mình là kha-lip, mà cũng là những vị vua thánh, các bậc Imam sống, gần như lơ lửng giữa người và  trời. Các vị khách đến triều đình họ được dẫn qua những hoa viên để rửa mắt bằng những xa hoa cực kỳ trước khi đến trước ngai vàng phủ màn vàng, tại đó họ quì mọp sát đất và trướng được kéo lên để lộ ra bậc Imam sống trong hoàng bào bằng vàng. Giáo phái họ bí mật, tín ngưỡng họ thần bí, có tính cứu chuộc và bí truyền, và việc trỗi dậy nắm quyền lực của họ cũng bí  ẩn, lén lút và đầy chất phiêu luu. Năm 899, một nhà buôn giàu có ở Syria, Ubayd Allah, tự xưng là bậc Imam sống, hậu duệ trực tiếp của Ali và Fatima, con gái của Muhammad, qua Imam Ismail, từ đó họ được biết dưới tên Ismaili Shiite. Các đặc vụ của ông, gọi là dawa, tỏa khắp miền đông, chinh phục Yemen và cải đạo một số bộ tộc Berber ở Tunisia; nhưng người  Abbasid tìm cách sát hại ông, thế là ông biến mất. Vài năm sau, ông hay người nào khác mạo danh tái xuất ở Tunisia dưới vai trò al-Mahdi, người Được Chọn, thành lập vương triều và bắt đầu chính phục một đế chế mới với một sứ mạng thiêng liêng: lật đổ bọn Abbasid  ở Baghdad và cứu chuộc thế giới. Năm 973, Kha-lip Muizz, giờ là nhà cai trị những lãnh thổ bắc Phi, Sicily, Ai Cập, Palestine và Syria, chuyển đến kinh đô mới al-Qahira al-Muizziyya – cuộc Chinh phục của Muzz – ngày nay là Cairo.

Người kế vị của ông, Aziz, bổ nhiệm cố vấn của họ, Ibn Killis, làm tể tướng của đế chế mà ông cai trị cho đến khi qua đời gần 20 năm sau. Ngoài số tài sản khổng lồ – ông sở hữu 8,000 nữ nô lệ, ông là một học giả tranh luận tôn giáo với các giáo sĩ Do Thái và Cơ đốc và sự nghiệp của ông hiện thân sự khoan dung của nhà Fatimid., vốn là thành viên của giáo phái, đối với người Do Thái và Cơ đốc có thể được cảm nhận ngay lập tức ở Jerusalem.

Người Do Thái ở Jerusalem chia rẽ, nghèo khó và tuyệt vọng, trong khi anh em ở Ai Cập của họ phất lên dưới thời Fatimid. Họ bắt đầu cung ứng bác sĩ cho các kha-lip ở Cairo: đây không chỉ là những ngự y. Họ thiên về thương gia-học giả sớm trở thành những quan triều có ảnh hưởng và thường được bổ nhiệm lãnh đạo Do Thái của đế chế Fatimid, một chức vị được biết dưới tên nagid, hoàng thân. Một người Do Thái có xuất thân bí ẩn tên là Paltiel ắt hẳn là người đầu tiên trong số những hoàng thân-quan triều-bác sĩ này. Được Jawhar, nhà chinh phục Jerusalem dòng Fatimid bảo hộ, ông ngay lập tức can thiệp để giúp đỡ người Do Thái trong Thành phố Thánh.

Sau nhiều năm bị triều đại Abbasid bỏ bê và được bảo trợ thất thường bởi các nhà cai trị Thổ, Jerusalem sút giảm vị thế  và bất ổn. Những cuộc chiến liên miên giữa các kha-lip Cairo và Baghdad làm nản lòng các khách hành hương; các cuộc đột kích của Bedouin thỉnh thoảng tràn qua thành phố trong những giai đoạn ngắn; và vào năm 974, Hoàng đế Byzantine năng động John Tzimiskes đánh chiếm Damascus và phi ngựa vào Galilee, ‘hứa hẹn sẽ giải phóng Mộ Thánh của Chúa Christ   chúng ta khỏi sự nô dịch của người Hồi.’ Ông đến rất gần; Jerusalem chờ đợi, nhưng ông không bao giờ tới nơi.

Các Fatimid cổ vũ những chuyến hành hương của đồng bào mình Ismailis và Shiites đến Thánh đường Hồi giáo ở Jerusalem nhưng những cuộc chiến chống Baghdad đã cắt đứt thành phố khỏi những khách hành hương Sunni. Chính sự cô lập của Jerusalem phần nào khiến nó càng thiêng liêng hơn: các tác giả Hồi giờ đây biên tập nhiều tuyển tập phổ biến về những giá trị của Jerusalem – Fadail – và họ đặt cho nàng nhiều tên mới: nàng vẫn còn là Ilya Bayt al-Maqdis, Ngôi Nhà Thánh, nhưng giờ nàng cũng trở thành al-Balat, Cung điện. Vậy mà người hành hương Cơ đốc đang càng ngày giàu và đông hơn người Hồi cai trị – người Frank (Pháp bây giờ) giong buồm từ châu Âu và những đoàn xe ngựa giàu sang đến đây mỗi mùa Phục Sinh từ Ai Cập.

Người Do Thái cũng hướng về những đấng cứu thế của họ ở Cairo nơi đó Paltiel hiện giờ thuyết phục vị Kha-lip trợ cấp cho vị gaon nghèo khó và Học viện Jerusalem. Họ tranh thủ quyền cho người Do Thái ở đó mua một giáo đường Hồi giáo trên Núi Olives, và tụ tập gần bên Cột trụ Abolsom và cũng được cầu nguyện ở Cổng Vàng tại bức tường phía đông của Núi Đền. Vào những dịp lễ hội người Do Thái được phép đi vòng quanh Đền Thờ cũ 7 lần nhưng giáo đường chính của họ vẫn là ‘áng thờ bên trong của điện thờ tại bức tường phía tây’: Hang động. Người Do Thái ít khi được khoan dung dưới thời Abbasid nhưng giờ đây, nghèo như thế, nhưng giờ họ có nhiều tự do hơn trong hai thế kỷ đã qua. Buồn thay, người Rabbanite và Karaite, vốn được Fatimid đặc biệt ưu ái, những giáo phái anh em, tổ chức hành lễ riêng biệt trên Núi Olives dẫn đến xô xát và chẳng mấy chốc những học giả xác xơ này quay ra đánh nhau trong những giáo đường Do Thái xiêu vẹo bụi bặm và những hang động ngầm thiêng liêng ở Jerusalem. Và sự tự do của họ chỉ làm trầm trọng thêm nổi bực dọc của người Hồi.

Khi Paltiel mất vào năm 1011, con trai ông mang thi hài cha đến chôn cất ở Jerusalem nhưng đoàn đưa tang giàu có bị bọn côn đồ Hồi tấn công. Thậm chí sau thời Paltiel, người Do Thái ở Cairo gởi những đoàn xe mang theo tiền để tài trợ cho Học viện và một giáo phái thần bí có tên Người Khóc Than cho Zion luôn cầu nguyện cho sự phục hồi Israel, in effect, religious Zionists. Nhưng sự hỗ trợ không bao giờ đủ: ‘thành phố goá bụa, mồ côi, hoang vắng và nghèo khó với một ít học giả,’ một người Jerusalem Do Thái viết trong một bức thư xin tài trợ. ‘Cuộc sống ở đây cực kỳ kham khổ, thực phẩm khan hiếm. Hãy giúp đỡ chúng tôi, hãy cứu chúng tôi, hãy cứu chuộc chúng tôi.’ Giờ người Do Thái là ‘một cộng đồng đáng thương, bị khuấy nhiễu liên miên.’

Vậy mà người Hồi Sunni càng ngày càng bị tai tiếng bởi những kẻ ngoại đạo được tự do và lộng hành quá trớn. ‘Khắp nơi, người Cơ đốc và Do Thái đều trên cơ,’ phóng viên du lịch Muqaddasi cằn nhằn.

MUQADDASI: NGƯỜI JERUSALEM

‘Suốt năm ròng, không bao giờ đường phố của nó vắng bóng người lạ.’ Khoảng 985, tại đỉnh cao của triều đại Fatimid, Muhammad ibn Ahmed Shams al-Din al-Muqaddasi đã về nhà là thành phố mà ông gọi là  al-Quds, Chốn Thánh .* Giờ trong tuổi tứ tuần, ông đã đi đây đi đó trong 20 năm, ‘tìm kiếm kiến thức’ qua du lịch vốn là một phần trong quá trình rèn luyện của mỗi bác học Hồi giáo, kết hợp lòng mộ đạo và quan sát khoa học được thực hành trong Ngôi Nhà Thông Thái. Trong tuyệt tác của mình  Sự Phân Chia An Lành Nhất cho Kiến Thức Vùng Miền, ông thể hiện sự tò mò không kềm chế được và một cảm thức phiêu lưu:

Không có sự kiện gì người du lịch gánh chịu mà tôi không góp phần chia sẻ trừ ra việc xin xỏ và phạm tội lỗi ghê tởm. Có lúc tôi mộ đạo, có lúc tôi đã ăn những lương thực không thuần khiết. Tôi đã suýt bị chết đuối, đoàn xe của tôi từng bị mai phục trên đường. Tôi đã tiếp chuyện với các nhà vua và bộ trưởng, đồng hành với những tên phóng đãng, từng bị kết tội gián điệp, bị bỏ tù, tôi đã ăn cháo yến mạch với những nhà thần bí, đã uống nước canh với các thầy tu và bánh ngọt với các thủy thủ. Tôi đã chứng kiến các cuộc chiến trên chiến thuyền chống lại quân La Mã (Byzantine) và rung chuông nhà thờ ban đêm. Tôi đã vận triều phục vinh dự của vua và nhiều lần nghèo kiết xác. Tôi từng sở hữu nô lệ và đội bình nước trên đầu. Vinh quang và vinh dự tôi đã nhận được nhiều biết bao. Vậy mà hơn một lần tôi đã là mục tiêu của âm mưu sát hại.

Dù ở bất cứ đâu, không có gì làm lu mờ niềm kiêu hãnh của ông dành cho Jerusalem:

Một ngày nọ, tôi ngồi hội đồng thẩm phán ở Basra [ở Iraq]. Ai Cập (Cairo) được đề cập đến. Người ta hỏi tôi: thành phố nào cao quí hơn? Tôi nói: ‘Thành phố của chúng tôi.’ Họ hỏi, Thành phố nào ngọt ngào hơn? ‘Thành phố của chúng tôi.’ Họ hỏi: Thành phố nào tốt hơn? ‘Thành phố của chúng tôi.’ Thành phố nào giàu có hơn? ‘Thành phố của chúng tôi.’ Hội đồng ngạc nhiên vì câu trả lời này. Họ nói, ‘Anh là con người hợm hĩnh. Anh đã tuyên bố những điều chúng tôi không thể chấp nhận được. Anh như người sở hữu một con lạc đà trong chuyến haj (chuyến hành hương đến Mecca mà người Hồi giáo phái đi đến đó ít nhất một lần trong đời).

 Tuy vậy ông thành thật về những khiếm khuyết của Jerusalem: ông nhìn nhận rằng ‘người nhu mì thì bị quấy nhiễu và kẻ giàu có thì bị ganh ghét. Không ở đâu bạn tìm thấy phòng tắm bẩn thỉu hơn ở Thành phố Thánh, và không ở đâu phí sử dụng phòng tắm cao hơn.’ Nhưng Jerusalem sản sinh loại nho, chuối và hạt thông  tốt nhất; đó là thành phố có nhiều muezzin báo giờ các tin đồ đi cầu nguyện – và không có nhà thổ. ‘Không nơi nào ở Jerusalem mà bạn không thể kiếm được nước hoặc không nghe lời báo cầu nguyện.’

Muqaddasi mô tả những nơi thiêng liêng trên Núi Đền dâng cúng cho Mary, Jacob và vị thánh thần bí, Khidr.* Al-Aqsa ‘thậm chí còn đẹp hơn’ Nhà Thờ Mộ Thánh còn Vòm Đá thì không có đối thủ: ‘Lúc bình minh khi ánh sáng đầu tiên của mặt trời chạm vào Mái Vòm và bệ trụ bắt được tia nắng, công trình này là một cảnh tượng tuyệt diệu và trong toàn cõi Hồi giáo tôi chưa nhìn thấy cảnh tượng nào đẹp như thế, ở những nơi khác cũng vậy.’

Muqaddasi cũng nhận thức được rằng mình sống trong hai Jerusalem – Jerusalem thực và Jerusalem trên trời – và đây là địa điểm diễn tiến cuộc Khải Huyền: ‘Bộ nó không phải là thành phố hợp nhất những lợi điểm của Thế giới Hiện tiền với những lợi điểm của Thế giới Kiếp Sau hay sao? Bộ nó không phải là sahira – bình nguyên – nơi trang trọng bước vào Ngày Phán Xét nơi Cuộc Đại Quần Tụ và Bổ Nhiệm sẽ xảy ra hay sao? Đúng là Mecca và Medina có ưu thế của chúng nhưng vào Ngày Phán Xét, chúng sẽ hội tụ về Jerusalem và tính ưu việt của tất cả chúng sẽ được hợp nhất ở đây.’

* Khidr là vị thánh mê hoặc nhất trong các thánh Hồi giáo, liên quan mật thiết với Jerusalem nơi người ta cho rằng ông đã đến để hành lễ Ramadan. Khidr Người Xanh Lá là một người lạ thần bí, trẻ trung vĩnh viễn nhưng có chòm râu bạc, được thuật lại trong Kinh Koran (18.65) như là người dẫn đường cho Moses.  Nhưng ông cũng được nhận diện là Elijah của Do Thái và Thánh George của Cơ đốc, một sĩ quan La Mã bị Hoàng đế Diocletian hành hình. Điện thờ ông ở Beyt Kala gần Bethlehem vẫn còn được người Do Thái, Hồi và Cơ đốc tôn thờ.

 Vậy mà Muqaddasi còn phàn nàn về việc thiếu vắng người Sunni và sự tự tin ồn ào của người Do Thái và Cơ đốc: ‘các học giả thì ít mà bọn Cơ đốc thì nhiều và xử sự thô lỗ nơi công cộng.’ Suy cho cùng triều đại Fatimid là những người Hồi giáo có tính bè phái và địa phương thậm chí còn tham gia các lễ hội của người Cơ đốc.  Nhưng tình hình sắp sửa rẻ qua một bước ngoặt khủng khiếp: tại thời điểm Muqaddasi mất ở tuổi 50 vào năm 1000, một đứa trẻ lên kế vị ngôi vua của bậc Imam Sống, người sẽ tìm cách tiêu diệt Jerusalem của Do Thái và Cơ đốc.

HAKIM: BẠO CHÚA CALIGULA CỦA Ả RẬP

Khi Kha-lip Aziz nằm hấp hối, ông hôn đứa con trai và rồi bảo nó đi chơi. Ngay sau đó ông qua đời, và không ai có thể tìm thấy bậc Imam Sống 11 tuổi. Sau một phen tìm kiếm điên cuồng, người ta phát hiện em một cách không ngờ ở trên chóp một cây sung dâu. ‘Xuống đây mau, cậu nhỏ của tôi,’ một quan triều năn nỉ. ‘Cầu xin Thượng Đế phù hộ cậu và mọi người chúng tôi.’

Các quan triều mặc lễ phục tụ tập dưới gốc cây. ‘Ta leo xuống,’ vị kha-lip mới, Hakim, nhớ lại, và triều thần ‘đặt trên đầu ta khăn xếp đính ngọc quí, hôn mặt đất trước mặt ta, và tâu: “Xin nghênh đón Vị Chỉ huy các Tín hữu, với lòng thương xót và sự phù hộ của Thượng Đế.” Sau đó họ dẫn ta ra ngoài trong bộ hoàng phục đó và trình diễn ta trước muôn dân. Họ cúi xuống hôn mặt đất trước bước chân ta và chào đón ta với tước vị Kha-lip.’

Là con trai của một người mẹ theo Cơ đốc giáo mà các anh em của bà đều là giáo trưởng, Hakim lớn lên trở thành một thanh niên vai rộng, cặp mắt xanh lơ lấm tấm vàng. Lúc đầu, được các bộ trưởng khuyên lơn, ông theo đuổi sứ mạng Ismaili của gia đình mình, khoan thứ người Do Thái và Cơ đốc. Ông say mê thi ca và thành lập Ngôi Nhà Thông Thái riêng của mình ở Cairo để nghiên cứu về thiên văn và triết học. Ông tự hào vì phép khổ hạnh của mình, từ bỏ khăn xếp kim cương để thay bằng khăn dân dã, và ông thậm chí buôn chuyện cười với cư dân Cairo nghèo khó trên đường phố. Nhưng khi ông đã thực sự nắm trọn quyền hành, chẳng bao lâu có những biểu hiện cho thấy gã chuyên chế thần bí này tâm thần không quân bình. Ông ra lệnh giết tất cả lũ chó ở Ai Cập, sau đó là bọn mèo. Ông ngăn cấm ăn nho, cải xoong và cá da trơn. Ông ngủ ban ngày và thức ban đêm, ra lệnh mọi cư dân Cairo phải theo giờ giấc kỳ cục của mình.

Năm 1004, ông bắt đầu ra lệnh bắt giam và hành hình người Cơ đốc, đóng cửa nhà thờ ở Jerusalem và chuyển thành thánh đường Hồi giáo. Ông cấm hành lễ Phục Sinh và uống rượu vang, một biện pháp nhắm vào người Cơ đốc và Do Thái. Ông ra lệnh mọi người Do Thái phải mang vòng cổ có đeo hình bò bằng gỗ để nhắc nhở họ về vụ Bê Vàng, * và chuông nhỏ để cảnh giác cho người Hồi biết là họ đang đến gần. Người Cơ đốc phải mang thập tự sắt. Người Do Thái bị buộc phải lựa chọn giữa việc cải đạo và việc rời bỏ xứ sở. Các giáo đường Do Thái bị tàn phá ở Ai Cập và Jerusalem. Nhưng chính một nghi thức Cơ đốc đang trở nên phổ biến khiến lôi kéo sự chú ý của Hakim vào Jerusalem. Mỗi khách hành hương Cơ đốc dự lễ Phục Sinh từ phương Tây và phương Đông tới đều đổ vào Jerusalem để cử hành phép mầu Phục Sinh của thành phố: Sự Hạ giới của Lửa Thánh.

* Trong Xuất Hành 32 người Hebrew (Do Thái cổ đại) trốn thoát khỏi Ai Cập yêu cầu Aaron, em trai của thủ lĩnh họ là Moses, đúc một con bê vàng để thờ trong thời gian vắng mặt của Moses lên Núi Sinai để gặp Thượng Đế. Khi xuống núi mang theo phiến đá khắc Điều Răn của Chúa và nhìn thấy dân chúng quay ra thờ cúng bê vàng, Moses nổi giận đập vỡ phiến đá (biểu tượng cho sự phá vỡ giao ước với Chúa Trời) và ra lệnh nấu chảy bê vàng, nghiền thành bột, rồi trộn với nước, bắt mọi người đều phải uống. Đó là thứ thách để loại ra những kẻ phản đạo (sau đó chết trong một trận dịch) với người theo đạo (vẫn còn sống).

 Vào Thứ Bảy Thánh, một ngày sau ngày Thứ Sáu Tốt Lành, hàng ngàn người Cơ đốc trải qua đêm trong Nhà Thờ Mộ Thánh nơi Nhà Mộ được niêm phong và mọi đèn đóm đều dập tắt cho đến khi, giữa cảnh tượng đầy xúc động, vị giáo trưởng bước vào Nhà Mộ trong bóng tối. Sau một khoảng thời gian dài ngóng đợi ớn xương sống, một tia lửa dường như từ trên cao đi xuống, một ngọn lửa chập chờn, ánh sáng lóe lên và vị trưởng giáo bước ra với cây đèn được đốt sáng một cách bí ẩn. Ngọn lửa thánh này sau đó được phân phát từ cây nến này qua cây nến khác giữa đám đông bị gạt gẫm la hét và nhảy cỡn lên vì niềm hân hoan ngu ngốc. Người Cơ đốc coi nghi thức tương đối mới mẻ này, được một khách hành hương đề cập đến đầu tiên vào năm 870, là một sự khẳng định thần thánh về Sự Phục Sinh của Jesus. Những người Hồi tin đây chỉ là trò sơn đông mãi võ kiểu chợ phiên với thủ đoạn lừa gạt – bôi dây treo đèn bằng dầu nhựa cây. ‘Những trò gớm ghiếc này’, một cư dân Jerusalem đạo Hồi viết, ‘khiến người ta phải  rùng mình ghê tởm.’

Khi Hakim nghe tin này và nhận xét mức độ giàu có của đoàn xe Cơ đốc khởi hành đi Jerusalem, ông ra lệnh đốt Khu Do Thái ở Cairo – và hủy diệt hoàn toàn Nhà Thờ Mộ Thánh. Vào tháng 9 1009, thủ hạ của ông xóa sạch Nhà Thờ ‘từng tảng đá một’ , ‘san bằng nó hoàn toàn trừ những bộ phận không thể phá hủy’ và bắt đầu đánh sập các giáo đường và nhà thờ của thành phố. Người Do Thái và Cơ đốc phải giả vờ cải sang đạo Hồi.

Những trò cười của vị kha-lip thuyết phục một số Ismailis rằng ‘Hakim chứa hiện thân của Thượng Đế trong người ông’. Trong cơn điên cuồng của những khải thị thần thánh của mình Hakim không cổ vũ cho giáo phái mới này, và bắt đầu bức hại người Hồi; ông bãi bỏ Ramadan và khủng bố người Shiite cũng như Sunni. Ông càng ngày bị người Hồi căm ghét đến nỗi ông cần có sự hậu thuẫn của người Cơ đốc và Do Thái ở Cairo, nên ông lại cho phép họ xây dựng  nhà thờ và giáo đường. *

 *  Không phải mọi giáo đường Do Thái đều bị hủy diệt. Giáo đường Do Thái ở Fustat, Cairo Cổ, chứa một trong những nguồn sử liệu chủ yếu của thời Trung Cổ: Cairo Geniza. Trong hơn 900 năm, Cairo Geniza không bị dọn sạch, bảo quản 100,000 tờ giấy mô tả cuộc sống người Do Thái ở Ai Cập, mối liên hệ của nó với Jerusalem, và vùng Địa Trung Hải về mọi lãnh vực, được niêm phong và bị quên lãng cho đến năm 1874 khi một học giả ở Jerusalem đầu tiên thâm nhập nó. Trong thập niên 1890, những văn kiện Geniza bất đầu xuất hiện, được các học giả Anh, Mỹ và Nga mua lại, nhưng chỉ đến năm 1896 hai mệnh phụ lập dị người Scotland mới trình cho Giáo sư Solomon Schechter một số tư liệu Geniza. Ông nhận ra ngay văn bản chữ Hebrew cổ nhất của Sách Huấn Ca của Ben Sira. Schechter tập họp kho lưu trữ vô giá này, nhờ đó S. D. Goitein soạn ra được tác phẩm  Xã hội Địa Trung Hải gồm 6 cuốn.

Lúc này, vị kha-lip tâm thần này lang thang như hôn mê qua các đường phố Cairo, thường được các bác sĩ cho liều thuốc khá nặng. Hakim thanh trừng triều thần, ra lệnh giết cả thầy dạy, thẩm phán, nhà thơ, người nấu ăn và anh em họ của mình, và cắt cụt bàn tay các nữ nô lệ, thường chính ông tự tay đóng vai đồ tể.

HAKIM: NGƯỜI BIẾN MẤT

Cuối cùng, vào nửa đêm trong tháng hai 1021, vị kha-lip mất trí, chỉ mới 36 tuổi, cưỡi lừa ra khỏi Cairo vào vùng đồi và biến mất một cách quá bí mật đến nỗi những người trung thành với ông tin rằng ‘Hakim không từ đàn bà  sinh ra và bất tử’. Vì con lừa ông cưỡi và một số quần áo rách rưới đẫm máu tìm được, ông ắt hẳn đã bị người chị sát hại để sắp xếp cho con trai nhỏ Zahir của mình lên kế vị. Những kẻ trung thành với Hakim bị binh lính Fatimid tàn sát, nhưng một số ít tẩu thoát được và thành lập một giáo phái mới đến ngày nay vẫn còn hoạt động là Druze xứ Lebanon.

Những vết sẹo do cơn điên khùng của Hakim gây ra không hề lành lặn ở Jerusalem: Nhà Thờ Constantine không hề được được tái tạo đầy đủ như xưa. Như thể Hakim chưa đủ ác, một trận động đất vào năm 1033 tàn phá thành phố, làm sụp đổ các tường thành Byzantine và cung điện Umayyad; Nhà Thờ Aqsa cũ của Umayyad sụp đổ thành đống đổ nát ; Hang động Do Thái bị hư hại.

Kha-lip Zahir, vốn tôn kính Jerusalem, phục hồi sự khoan dung của các tiên vương, hứa hẹn bảo hộ cho cả hai giáo phái Do Thái, và trên Núi Đền ông xây dựng lại al-Aqsa, bảng chữ khắc trên cổng vòm khải hoàn trang trí tinh tế của nó liên kết ông, Jerusalem của ông và chuyến Dạ Hành của đấng Tiên Tri, mặc dù thánh đường của ông nhỏ hơn nhiều thánh đường gốc. Ông xây lại tường thành, nhưng bao quanh một thành phố nhỏ hơn, xấp xỉ như ta thấy ngày nay, để Núi Zion và các cung điện Umayyad bị tàn phá ra bên ngoài.

Zahir và người kế vị chào đón sự hỗ trợ của Byzantine nhằm tài trợ việc tái thiết Nhà Thờ. Hoàng đế Constantine IX Monomachus tạo ra một Mộ Thánh mới, hoàn tất vào năm 1048, với lối vào giờ hướng về phía nam: ‘một tòa nhà rộng mênh mông có khả năng chứa đến 8,000 người, được kiến tạo một cách khéo léo bằng đá màu được trang trí bằng tranh đắp nổi dát vàng của thợ Byzantine,’ một khách hành hương Ba Tư Nasir-i-Khusrau viết. Nhưng nó nhỏ hơn nhiều so với vương cung thánh đường Byzantine. Người Do Thái không bao giờ có thể xoay sở để tái thiết tất cả giáo đường bị tàn phá của họ, cho dù tể tướng quyền uy Do Thái ở Cairo, Tustari, * hậu thuẫn cho cộng đồng Do Thái.

Đây là thời kỳ các bộ trưởng Do Thái làm việc cho vương quyền Hồi giáo. Ở Ai Cập, dòng dõi mậu dịch của một gia đình người Karaite Ba Tư, Abu Saad al-Tustari, trở thành nhà cung cấp đồ xa xỉ cho Zahir, trong đó có một nữ nô lệ da đen. Sau khi vị kha-lip mất vào năm 1036, cô ta trở thành Walida, mẹ của Kha-lip Mustansir, với Tustari  là quyền lực phía sau ngai vàng. Ông gom góp một khối tài sản khổng lồ, có lần tặng cho Walida một con thuyền và chiếc lều bạc trị giá 130,000 dirham. Ông không hề cải sang đạo Hồi. Thi sĩ Rida ibn Thawb viết: ‘Hỡi dân chúng Ai Cập, tôi có lời khuyên tốt dành cho bạn / Hãy biến thành người Do Thái, vì chính Thiên đường cũng hóa thành của Do Thái.’ Năm 1048, Tustari bị toán quân Thổ mưu sát, được vị Goan của Jerusalem vô cùng tiếc thương. Trong khi đó vị tể tướng của xứ Granada theo đạo Hồi ở Tây Ban Nha là một người bảo trợ khác của Jerusalem: Samuel ibn Nagrela, ‘Ông Hoàng’, một bác sĩ thông thái, thi sĩ, học giả kinh Talmud, có lẽ là người Do Thái duy nhất chỉ huy quân Hồi khi xáp chiến. Con trai ông lên kế vị nhưng bị mưu sát vào năm 1066 trong một cuộc tàn sát người Do Thái ở Granada.

Những hành động bức hại của Hakim dường như tạo cảm hứng cho một nhiệt tình tươi mới đối với Jerusalem – giờ là thành phố hành hương nhộn nhịp với 20,000 khách. ‘Từ các vùng đất ở Hy Lạp và những vùng đất khác,’ Nasir nhận xét, ‘người Cơ đốc và Do Thái lũ lượt về Jerusalem với số lượng lớn.’ 20,000 dân Hồi tụ tập hàng năm trên Núi Đền thay vì hành hương đến Mecca. Còn khách hành hương Do Thái đến từ Pháp và Ý.

Chính sự thay đổi trong giáo quốc Cơ đốc đã giúp biến Jerusalem thành quá hấp dẫn đối với người Frank từ phía tây, Hy Lạp từ phía đông. Đạo Cơ đốc của người Latinh dưới triều các giáo hoàng Thiên chúa La Mã và người Hy Lạp Chính thống giáo dưới triều đại các hoàng đế và giáo trưởng ở Constantinople giờ đã khác biệt rõ rệt. Họ không chỉ cầu nguyện theo những ngôn ngữ khác nhau và bêu riếu nhau về những giáo điều thần học uyên áo. Chính thống giáo, với những biểu tượng và tính trình diễn chi ly, càng thêm thần bí và nhiệt huyết; đạo Thiên chúa, với quan niệm về tội lỗi nguyên thủy, tin tưởng vào một sự phân cách lớn hơn giữa người và Thượng Đế. Vào ngày 16/7/1054, ngay giữa buổi lễ ở Hagia Sofia, một đại diện Giáo hoàng rút phép thông công Giáo trưởng Byzantine. Đáp lại ông này nổi giận rút phép thông công giáo hoàng. Sự Rạn Nứt Lớn này, vẫn còn chia rẽ giáo triều Cơ đốc, cổ vũ sự tranh chấp Jerusalem giữa đông và tây.

Hoàng đế Byzantine Constantine X Doukas tài trợ cho Khu Cơ đốc thực sự đầu tiên quanh Nhà Thờ. Đúng ra có quá nhiều khách hành hương và thợ thủ công Byzantine ở Jerusalem đến nỗi Nasir nghe có tiếng thì thầm bí mật rằng Hoàng đế Constantinople đang cải trang đến Jerusalem. Nhưng cũng có nhiều khách hành hương Tây phương – người Hồi giáo đều gọi tắt cả là ‘Frank’ theo tên dân tộc của Charlemagne, mặc dù họ thực ra là từ mọi nơi trên châu Âu – đến nỗi các nhà buôn Amalfitan xây cất nhà trọ và tu viện để chứa họ. Nhiều người tin tưởng rằng việc hành hương sẽ cứu chuộc được tội lỗi của mình và ngay từ 1001, Fulk the Black, Bá tước vùng Anjou và là người thành lập triều đại Angevin sau này sẽ cai trị nước Anh, đi hành hương sau khi đã thiêu sống bà vợ trong áo cưới vì đã phát hiện bà ngoại tình với một gã chăn  lợn. Ông đến Jerusalem ba lần. Sau đó, gã bạo dâm Earl Sweyn Godwinson, em vua Harold nước Anh, đi chân đất đến Jerusalem vì đã hiếp dâm Nữ Tu viện trưởng còn trinh Edwiga, trong khi Robert, quận công Normandy, cha của  William the Conqueror, bỏ hoang  công quốc để đến cầu nguyện tại Mộ Thánh. Nhưng tất cả ba người họ đều mất mạng trên đường: thần chết không bao giờ xa con đường hành hương.

Người Fatimid, bị đe đọa bởi những âm mưu triều đình, thậm chí phải chật vật mới gìn giữ được Palestine, nói gì đến Jerusalem, và bọn cướp cứ rình rập khách hành hương. Cái chết xảy ra quá thường đến nỗi người Armenia tạo ra một danh hiệu –mahdesi – dành cho những khách hành hương chết trên đường.

Năm 1064, một đoàn xe gồm 7,000 khách hành hương giàu có người Đức và Hà Lan do Arnold Giám mục xứ Bamberg dẫn đầu, tiến gần đến thành phố thì bị các bộ tộc Bedouin đột kích ngay bên ngoài tường thành. Một số khách hành hương vội  nuốt vàng của mình để không bị cướp, nhưng rồi bị chúng mổ bụng lấy ra. 5,000 khách hành hương bị tàn sát. Cho dù đến giờ Thành phố Thánh đã thuộc Hồi giáo trong bốn thế kỷ, những trò tàn bạo như thế bỗng đặt Nhà Thờ Mộ Thánh dưới tình trạng hiểm nghèo.

Năm 1071, tay cự phách mới của miền đông, Alp Arslan – Hùng Sư – đánh bại và bắt được hoàng đế Byzantine tại Manzikert.* Alp Arslan là thủ lĩnh của người Seljuk, những kỵ mã Turkoman đã đến để chinh phục kha-lip ở Baghdad và đã được nhận một tước hiệu mới là sultan (vua Thổ) – có nghĩa là ‘quyền lực’. Giờ thì Hùng Sư, chinh phục một đế chế từ Kashgar đến Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay, phái vị tướng của mình Atsiz ibn Awak al-Khwarazmi, phi ngựa về nam – về hướng một Jerusalem đang khiếp đảm.

* Khi hoàng đế tù binh được giải trước mặt người chiến thắng Alp Arslan, mà bộ râu của ông quá dài đến nỗi ông phải vắt qua vai, hỏi, ‘Nhà ngươi sẽ làm gì nếu ta bị giải trước mặt nhà ngươi như một tù binh?’ ‘Có lẽ ta sẽ giết ngươi, hoặc đem ngươi trưng ra giữa đường phố Constantinople,’  Romanos IV Diogenes trả lời. ‘Cách trừng phạt của ta nặng hơn nhiều.’ Alp Arslan nói. ‘Ta sẽ tha thứ ngươi và cho ngươi tự do.’ Nhưng chính Hùng Sư cũng không tồn tại lâu. Khi ông phát hiện một sát thủ tiến đến, ông vẫy tay ra hiệu các vệ sĩ giạt ra để ông phô diễn tài bắn cung của mình. Nhưng ông trượt chân, và tên sát thủ đâm ông. Hấp hối, ông dặn dò đứa con kế vị Malik Shah, ‘Hãy nhớ những bài học đã học, và đừng cho phép thói kiêu căng của con lấn át cả lý trí của mình.’ Lăng mộ ông ở Merv có ghi dòng chữ chua chát: ‘Hỡi những ai đã lên đến đỉnh cao tận trời như Alp Arslan, coi chừng!  Ông ấy giờ cũng đã nằm dưới ba tấc đất’.

  

ATSIZ: VỤ CƯỚP PHÁ THÚ VẬT

Vị Gaon và nhiều người Do Thái, vốn được đối xử  tử tế dưới triều vua Fatimid, chạy khỏi Jerusalem đến căn cứ Tyre của Fatimid. Atsiz hạ trại bên ngoài tường thành mới nhưng, là người Hồi dòng Sunni mộ đạo, ông tuyên bố mình sẽ không làm hại đến Jerusalem. ‘Đó là nơi thiêng liêng của Thượng Đế,’ ông nhấn mạnh. ‘Ta sẽ không đánh nhau với nó.’ Vậy mà, vào tháng 6 năm 1073, ông vây hãm cho Jerusalem chết đói đến phải đầu hàng. Rồi ông hướng về nam đến Ai Cập, tại đó ông bị đánh bại. Việc này cổ vũ người Jerusalem nổi loạn. Họ bao vây người Turkoman (và hậu cung của Atsiz) trong Thành lũy.

Atsiz trở lại và khi ông sẵn sàng tấn công, các cung nữ của ông bỏ ra ngoài Thành lũy và mở cổng cho ông. Lũ quân Trung Á của ông giết 3,000 người Hồi, thậm chí những người đã ẩn trốn trong thánh đường. Chỉ những người nấp trên Núi Đền mới toàn mạng. ‘Chúng cướp bóc và tàn sát và hãm hiếp và cướp phá các nhà kho; chúng là bọn người tàn ác và kỳ lạ, nai nịt với vải vóc đầy màu sắc, đội mũ sắt đen và đỏ, mang cung giáo và bao tên đầy ắp,’ một thi sĩ Do Thái có dịp gặp bọn người của Atsiz ở Ai Cập. Atsiz và các kỵ mã của ông cướp phá Jerusalem: ‘Họ đốt rụi bắp đã thu hoạch, đốn ngã cây ăn trái và dẫm nát vườn nho, đào mộ và vứt bỏ xương cốt. Chúng không giống con người, chúng giống dã thú.’

Đế chế của Hùng Sư ngay lập tức tan rã khi thân nhân và các tướng lĩnh của ông chia nhau lập thái ấp riêng của mình. Atsiz bị mưu sát và Jerusalem rơi vào tay một chỉ huy Thổ khác, Ortuq bin Aksab. Vừa đến nơi, ông bắn một mũi tên vào mái vòm của Mộ Thánh để chứng tỏ mình là chủ nhân mới. Vậy mà ông cho thấy mình khoan dung đáng kinh ngạc, thậm chí bổ nhiệm một người Cơ đốc Jacobite làm thống đốc, và ông mời các học giả Sunni trở lại Jerusalem.

Các con trai của Ortuq là Suqman và Il-Ghazi thừa kế Jerusalem. Năm 1093 ‘ai đó nổi lên chống thống đốc’, Ibn al-Arabi, một học giả Tây Ban Nha, viết, ‘và y cố thủ trong Tháp David. Thống đốc cố tấn công y sử dụng các cung thủ.’  Trong khi các binh lính Turkoman đánh nhau cận chiến qua đường phố, ‘không ai buồn để ý. Không khu chợ nào đóng cửa, không nhà khổ hạnh nào rời chỗ của mình trong Thánh đường al-Aqsa; không cuộc tranh luận nào hoãn lại.’ Nhưng những trò tàn bạo của Hakim, việc đánh bại hoàng đế Byzantine, việc Jerusalem thất thủ vào tay bọn Turkoman và việc tàn sát khách hành hương chấn động giáo quốc Cơ đốc: việc hành hương đang lâm nguy.

Năm 1098, tể tướng Ai Cập ngạc nhiên khi biết rằng một đạo quân hùng mạnh người Âu châu Cơ đốc đang tiến vào Đất Thánh. Ông ngờ rằng họ chỉ là bọn lính đánh thuê Byzantine, vì thế ông tính cắt cho họ một miếng nhỏ trong đế chế Seljuk: người Cơ đốc có thể lấy Syria; ông sẽ được lại Palestine. Nhưng khi ông khám phá ra rằng mục tiêu của họ là Jerusalem, tể tướng vây hãm thành phố trong 40 ngày với 40 máy bắn đá cho đến khi hai con trai của Ortug phải chuồn đến Iraq. Bổ nhiệm một trong các tướng lĩnh của mình làm thống đốc Jerusalem với các quân đồn trú Ả Rập và Sudan, vị tể tướng trở lại Cairo. Thương thảo với người Frank tiếp tục cho đến mùa hè 1099 – phái đoàn Cơ đốc ăn mừng lễ Phục Sinh ở Mộ Thánh.

Thời khắc xâm lược của người Frank thật thuận lợi: người Ả Rập đã đánh mất đế chế của mình vào tay người Seljuk. Vinh quang của Kha-lip Abbasid giờ chỉ là ký ức xa vời. Thế giới Hồi giáo đã phân mảnh thành những thái ấp nhỏ hiềm khích nhau do các ông vua con cai trị và bị khống chế bởi các tướng lĩnh Thổ Nhĩ Kỳ – amir – và nhiếp chính được biết dưới tên atabeg. Thậm chí khi các đạo quân Cơ đốc tiến về nam, một ông hoàng con Seljuk còn tấn công Jerusalem nhưng bị đẩy lui. Trong khi đó thành phố Antioch đã rơi vào tay người Frank, đang tiến dọc theo bờ biển. Vào ngày 3/6/1099, quân Frank chiếm Ramla và khép chặt vòng vây Jerusalem. Hàng ngàn người Hồi và Do Thái ẩn nấp bên trong tường thành của Thành phố Thánh. Vào buổi sáng thứ ba ngày 7/6, các hiệp sĩ người Frank đến lăng mộ của Nani (nhà Tiên Tri) Samuel, cách Jerusalem bốn dặm. Đã đi một hành trình dài từ tây châu Âu, giờ họ từ Montjoie – Núi Vui Sướng- nhìn xuống Thành phố Vua của các vì Vua. Khi đêm xuống, họ hạ trại quanh Jerusalem.


Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s