Omar Khayyam — Thành tựu lâu dài của nhà thông thái đồng thời là nhà thơ người Ba Tư

Jason Ho

Omar Khayyam là một nhà thông thái người Ba Tư sống vào khoảng cuối thế kỷ 11 đầu thế kỷ 12 Công Nguyên. Suốt thời đại của mình, Omar đã là một học giả danh tiếng. Ông được biết đến nhờ các công trình nghiên cứu về toán học, thiên văn học, và triết học. Ngày nay, ông còn được nhớ đến như là một nhà thơ vĩ đại. Đó là do công trình dịch thuật tác phẩm “Rubaiyat” (tiếng Việt có nghĩa là “Thơ tứ tuyệt”) của ông sang tiếng Anh vào thế kỷ 19.

Omar Khayyam sanh vào ngày 18 tháng 5 năm 1048 Công Nguyên, tại Nishapur, thủ phủ bang Khorasan, miền Tây Bắc của Iran ngày nay. Tên đầy đủ của ông là Ghiyath al-Din Abul Fateh Omar Ibn Ibrahim Khayyam. Người ta tin rằng ông sanh trưởng trong gia đình một nghệ nhân. Từ “Khayyam” trong tên của ông có nghĩa là “thợ làm lều”, dấu hiệu của lãnh vực mà cha của ông tham gia. Nhiều tài liệu khác cho rằng cha của ông là một thầy lang. Dù sao thì, ông cũng được nuôi dưỡng trong một môi trường giáo dục tốt.

Theo nhiều cảo bản, Omar được dạy dỗ bởi Bahmamyar, người học trò nổi tiếng của Ibn Sina (chính là Avicena nổi tiếng). Theo nhiều tài liệu khác, Omar trải qua thời niên thiếu ở làng Balhi, nơi ông được Sheik Muhammad Mansuri (“Sheik” trong tiếng Ả Rập có nghĩa là một lãnh tụ), một học giả nổi bật thời bấy giờ, dạy dỗ. Sau đó, ông quay trở lại Nishapur, tiếp tục được dạy dỗ bởi một học giả lỗi lạc khác, Imam Mowaffak.

CÂU CHUYỆN HUYỀN THOẠI VỀ “NGÔI SAO MỚI NỔI” CỦA OMAR KHAYYAM Ở ISFAHAN

Câu chuyện thú vị này được Edward FitzGerald (thi sĩ nổi tiếng của Anh, người có công chuyển tập thơ “Rubaiyat” của Omar sang ngôn ngữ Anh) giới thiệu trong phần Lời nói đầu của bản dịch tập thơ “Rubaiyat”. Theo bản dịch này, vào lúc mà Omar được nhận làm học trò của Imam Mowaffak, vị học giả này đã nhận 2 học trò khác là Nizam al-Muk và Hassan-i-Sabah. Trong khi dưới sự dạy dỗ của Imam Mowaffak, cả ba trở thành bạn tốt của nhau, và cùng nhau lập lời thề rằng, sau này nếu một trong ba người trở nên nổi tiếng, thì người đó sẽ phải chia sẻ vinh quang giàu có đến hai người còn lại.

Vài năm sau, Nizam trở thành một “vizier” (tể tướng) dưới triều đại Seljuq (vương triều Hồi giáo dòng Sunni ở Ba Tư-Thổ Nhĩ Kỳ). Khi Omar và Hassan nghe được tin, họ lên đường tìm đến Nizam để thực hiện lời hứa năm xưa. Nizam giữ lời và hỏi các bạn của mình muốn điều gì. Hassan yêu cầu có được một vị trí trong triều đình, và được toại nguyện khi Nizam tâu điều này lên vị Sultan. Tuy nhiên, Hassan là một người tham vọng cùng cực, luôn muốn được leo cao bằng bất cứ giá nào. Hắn có âm mưu muốn thay thế Nizam để làm “vizier”. Nhưng âm mưu chưa kịp thực hiện đã bị phơi bày, hắn bị thất sủng và trục xuất khỏi cung điện. Sau khi biến mất một thời gian, Hassan xuất hiện trở lại với tư cách là người sáng lập ra tổ chức khét tiếng Hashshashin. Còn Nizam thì bị số phận sắp đặt trở thành nạn nhân dưới lưỡi dao của bọn sát thủ Hashshashin.

Omar, không giống như Hassan, ông không đòi hỏi chức vụ gì trong triều đình hết. Thay vào đó, ông nói, “Lợi ích lớn nhất mà anh có thể trao cho tôi là hãy cho tôi được sống dưới bóng tài sản của anh, để lan truyền lợi ích của khoa học, và cầu nguyện cho anh được trường thọ và thạnh vượng”. Nizam nhận ra được người bạn cũ này thật sự hiểu ý của mình, nên không ép Omar phục vụ triều đình. Thay vào đó, ông trao cho Omar một khoản tiền trợ cấp hằng năm vào khoảng 1200 mithkals vàng (mithkal là một đơn vị đo cân nặng được sử dụng tại Trung Đông để cân vàng và saffron, 1 mithkal tương đương 4,6 g) từ ngân khố của thành Nishapur. Điều này cho phép Omar theo đuổi con đường học vấn tại Nishapur trong suốt quãng đời còn lại.

Tính xác thực của câu chuyện này vẫn còn đang có nhiều nghi vấn, dựa trên việc Nizam lớn hơn Omar gần 30 tuổi. Với điều này thì họ khó có thể học chung một thầy. Tuy nhiên, bức chân dung về một Omar “học giả” thì khá chánh xác. Suốt thời đại của ông, Omar trở nên nổi tiếng vì khả năng học tập của mình. Ví dụ như, danh tiếng của Omar như là một học giả truyền đến tai của vị Sultan vương triều Seljuq, Malik Shah I. Vì thế nên vào năm 1073 Công Nguyên, ông được mời đến Isfahan (một thành phố thuộc trung tâm Iran ngày nay), và được yêu cầu giám sát việc xây dựng một đài thiên văn tại đây. Công trình đó được hoàn thành vào năm sau. Omar làm việc tại Isfahan như là một học giả thiên văn học gần 20 năm. Trong thời gian, Omar đóng vai trò quan trong việc cải cách lại lịch Ba Tư của vương triều Seljuq.

Công trình của Omar và các nhà thiên văn học khác tại Isfahan cho ra kết quả là áp dụng hệ thống lịch Jalali như là lịch chánh thức của vương triều Seljuq từ năm 1079 Công Nguyên. Không giống như âm dương lịch Hồi giáo hay còn gọi là lịch Hijri, lịch Jalali chỉ có mỗi dương lịch. Lịch này chánh xác đến nỗi chỉ cho sai số 1 ngày trong mỗi 5000 năm. Nếu đem ra so sánh, thì dương lịch Gregorian chúng ta xài hiện nay cho ra sai số 1 ngày mỗi 3330 năm. Tuy nhiên, vinh quang của Đài Thiên Văn Isfahan không tồn tại được lâu. Năm 1092, Malik Shah từ trần, trong một vụ giống như là đầu độc. Chỉ một tháng trước đó, tể tướng của ông cũng bị ám sát. Kết quả là, Omar và các nhà thiên văn học khác bị mất người bảo trợ, Đài thiên văn cũng bị đóng cửa sau đó, đồng thời lịch Jalali cũng bị bãi bỏ. Tuy nhiên, nhiều biến thể của loại lịch này vẫn được sử dụng ở Iran và Afghanistan ngày nay.

Omar không những là một học giả thiên văn học xuất sắc mà ông còn ghi dấu ấn trên mảnh đất toán học màu mỡ. Vào năm 1070, ông hoàn thành một khái niệm toán học mới gọi là Quy ước về Chứng minh các Phương trình Đại số (Treaties on the Demonstration of Problems of Algebra). Đây là một công trình có sức ảnh hưởng cao, bằng chứng thực tế là các nguyên tắc đại số chứa đựng trong công trình này đều được du nhập vào thế giới phương Tây. Hơn nữa, Omar còn nghiên cứu về mảng hệ số nhị thức, đặt nền móng cho khái niệm Tam giác Pascal* (Pascal’s Triangle) mà chúng ta biết ngày nay.

*Tam giác Pascal là một mảng tam giác các hệ số nhị thức, được đặt theo tên nhà toán học người Pháp là Blaise Pascal. Trong Tam giác Pascal, mỗi số là tổng của 2 số nằm trên nó.

Năm 1077, Omar hoàn thành một công trình nghiên cứu lớn khác, là “Giải thích sự Khác nhau trong các Định đề của Tiên đề Euclid” (Explanations of the Difficulties in the Postulates in Euclid’s Elements). Người ta cho rằng lúc đầu Omar chỉ định chứng minh định đề hai đường thẳng song song (còn gọi là Định đề thứ V của Euclid). Thay vào đó, ông hoàn thành việc chứng minh các thuộc tính trong Hình học phi Euclid, do đó đóng góp vào, mặc dù là tình cờ, việc phát triển nhánh này của toán học. Công trình này ngày nay được biết đến như là Tứ giác Khayyam-Saccheri (Khayyam-Saccheri quadrilateral). Đây là một tứ giác có 2 cạnh bằng nhau vuông góc với mặt đáy. Mặc dù Omar là nhà toán học đầu tiên đưa ra hình tứ giác này, nhưng hoàn thành ý tưởng lại là do linh mục kiêm nhà toán học người Ý Giovanni Gerolamo Saccheri vào thế kỷ 18.

OMAR KHAYYAM LÀ MỘT TRONG NHỮNG NHÀ THƠ LỚN CỦA BA TƯ

Mặc dù Omar được xem như là một học giả nổi tiếng trong suốt thời đại của ông và ở quê nhà, nhưng từ nửa cuối thế kỷ 19, ông càng được biết đến nhiều hơn bởi cộng đồng nói tiếng Anh, như là một nhà thơ. Các học giả ngày nay không đồng ý với ý tưởng Omar là một nhà thơ. Nhiều người còn nghi ngờ việc Omar biết viết thơ, trong khi họ chỉ ra rằng các học giả Hồi giáo thời đại của Omar học đòi làm thơ chỉ để mua vui. Nhiều người vẫn giữ nguyên ý kiến rằng Omar có thật sự viết được vài bài thơ, vào khoảng 150 bài tứ tuyệt Rubaiyat, trong khi số còn lại là do các nhà thơ khác viết nhưng đề tên ông. Ý tưởng các nhà thơ khác quy kết các tác phẩm của họ dưới tên ông không phải là không thể xảy ra, dựa vào danh tiếng và uy tín của ông.

Người ta chỉ ra rằng người thời Omar ít chú ý đến các bài thơ của ông, cho dù ông có viết. Dường như phải qua 2 thế kỷ sau cái chết của ông thì mới bắt đầu xuất hiện vài bài tứ tuyệt đề tên ông. Tuy nhiên, các bài thơ này không được đánh giá cao. Chúng được sử dụng chủ yếu làm các trích dẫn để tranh cãi một số quan điểm của Omar. Các bài thơ của Omar chỉ thực sự biết đến rộng rãi vào thế kỷ 19 nhờ vào bản chuyển ngữ từ tiếng Ba Tư sang tiếng Anh của nhà thơ người Anh là Edward FitzGerald.

OMAR KHAYYAM VÀ TÁC PHẨM “RUBAIYAT CỦA OMAR KHAYYAM” CỦA FITZGERALD NĂM 1859

Năm 1859, FitzGerald xuất bản tác phẩm “Rubaiyat của Omar Khayyam”. Đây không hẳn là bản dịch nguyên gốc, mà giống với tập hợp bản dịch các bài thơ của Omar hơn. Bằng cách thêm vào gia vị là chủ nghĩa lãng mạn thế kỷ 19, FitzGerald chắc chắn đã bóp méo ít nhiều nguyên bản.

Vào thời điểm mới xuất bản, tập thơ chỉ gây chú ý trong một cộng đồng nhỏ. Tuy nhiên, sau nhiều thập niên trôi qua, tập thơ “Rubaiyat” thật sự gây được ngạc nhiên lớn. Nhiều salon văn thơ tinh hoa được thành lập ở London, gọi là Câu lạc bộ Omar Khayyam (vẫn còn hoạt động đến ngày nay). Thêm nữa, tác phẩm còn gợi cảm hứng cho các nghệ sĩ tiền Raphael (là một trào lưu nghệ thuật xuất hiện tại Anh và Châu Âu vào thế kỷ 19, các nghệ sĩ thuộc trào lưu này chủ yếu thiên về Chủ nghĩa Hiện Thực). Ví dụ như, một trong số họ là William Moris, đã viết tới hai bản thảo để giải thích về tập thơ “Rubaiyat”.

Trong tất cả các phiên bản, bản dịch của FitzGerald vẫn là bản được sử dụng nhiều nhất cho tới ngày nay. Hơn nữa, nhờ bản dịch này mà các bài thơ Ba Tư được lan truyền khắp thế giới phương Tây. Chủ đề chung của các bài thơ trong tập thơ chính là ca ngợi cuộc sống tươi đẹp. Tuy nhiên, cùng lúc đó, họ phát hiện ra nhiều vấn đề về tôn giáo cũng như chánh trị trong thời đại của Omar được ông lồng vào trong các bài thơ. Dù sao thì, các bài thơ của Omar vẫn trường tồn với thời gian, cũng như các chủ đề cộng hưởng với con người xuyên suốt thời gian và không gian. Một trong những bài thơ nổi tiếng nhất trong tập thơ “Rubaiyat” là Bài tứ tuyệt thứ XI, mà có nội dung như sau,

“Ở đây dưới tán cây bóng lá

Với bánh, rượu, thơ ca — và em

Hát bên anh, dù là sa mạc

Với anh cũng vẫn hóa thiên đường”

“Here with a Loaf of Bread beneath the Bough,

A Flask of Wine, a Book of Verse—and Thou

Beside me singing in the Wilderness—

And Wilderness is Paradise enow.”

FitzGerald cũng đã sắp xếp lại các bài tứ tuyệt thành một trình tự mạch lạc, tựa như lời đối đáp của một vài học giả. Đó là do mỗi bài thơ của Omar như là một lời tự sự, cho dù ông thay đổi chủ đề rất nhiều lần. Hơn nữa, không có bằng chứng nào đề cập đến việc nhà thơ muốn các tác phẩm của ông được đọc theo một trình tự nhất định. Sự sắp xếp của FitzGerald, tuy nhiên, đã chuyển các bài thơ ngắn của Omar thành một lời suy ngẫm về các vấn đề triết học sâu sắc. Các bài tứ tuyệt sau Bài tứ tuyệt thứ XI, chẳng hạn như Bài tứ tuyệt thứ XII, có nội dung như sau,

“Ai đó nghĩ: ‘Ngọt ngào trần thế’

Còn ai: ‘Hạnh phúc trên thiên đường’!

Với ta, tiền bạc và quên hết

Khác gì, tiếng trống cõi xa xăm!”

“How sweet is mortal Sovranty”—think some:

Others—“How blest the Paradise to come!”

Ah, take the Cash in hand and waive the Rest;

Oh, the brave Music of a distant Drum!”

Đối với vài học giả, những bài tứ tuyệt này không chỉ nêu ra hình ảnh của một Omar “nhà thơ”, mà còn là một Omar “triết gia”. Nhiều chủ đề triết học được tìm thấy trong các bài tứ tuyệt này, bao gồm cõi vô thường cùng hành trình đi tìm lẽ sống, thuyết định mệnh và tự do ý chí, cay đắng và công lý. Bên cạnh đó, Omar còn viết một số luận thuyết về triết học, bao gồm “Về Tồn tại và Nhu cầu” (On Being and Necessity), “Kiến thức về Nguyên tắc Tồn tại Phổ quát” (On the Knowledge of the Universal Principles of Existence), “Về Nhu cầu của Mâu thuẫn trên Thế gian, Chủ nghĩa Quyết tâm và Tồn tại” (On the Necessity of Contradiction in the World, Determinism and Subsistence). Tuy nhiên, cần được nhấn mạnh rằng Omar được biết tới như là một nhà khoa học và nhà thơ hơn là một triết gia.

OMAR LÚC CUỐI ĐỜI VÀ CÁCH MÀ ÔNG ĐƯỢC BIẾT ĐẾN NGÀY NAY

Năm 1092, khi Nizam và Malik Shah đã chết, Omar cũng bị thất sủng trong triều. Sau đó, ông hành hương về thánh địa Mecca. Tuy nhiên, câu chuyện về cuộc đời sau đó của ông bị lu mờ đi nhiều. Có tài liệu cho rằng ông đã thăm viếng Baghdad trong khi hành hương về Mecca. Sau cuộc hành hương, Omar nghỉ huu tại quê nhà Nishapur, và sống ẩn dật ở đây. Có tài liệu khác cho rằng Omar vẫn còn hoạt động như là một học giả, du hành qua nhiều thành thị khác nhau trong khu vực để tìm kiếm các thư viện và các phép tính toán thiên văn học. Cuối cùng, ông trở về Nishapur, do suy giảm sức khỏe. Vẫn còn tài liệu khác thì cho rằng Omar vẫn tiếp tục được nhận sự bảo trợ từ hoàng gia, lần này là từ Ahmad Sanjar, lãnh chúa Khorasan, và từ năm 1118 trở đi, là vị Sultan của vương triều Seljuq. Omar được mời vào phục vụ cho triều đình, sau đó xin nghỉ hưu vì lý do sức khỏe. Thú vị là chúng ta biết rất ít về đời sống cá nhân của Omar. Người ta cho rằng ông có một người vợ, cùng với một người con trai và một người con gái.

Omar Khayyam qua đời vào ngày 4 tháng 12 năm 1131 Công Nguyên. Hiện nay ông vẫn còn được tưởng nhớ tại quê nhà cũng như thế giới phương Tây. Trong khi các thành tựu khoa học của ông nổi tiếng trước đây, thì hiện nay chúng bị lu mờ bởi các bài thơ của ông. Iran ngày nay coi ông như là một anh hùng quốc gia. Điều này thể hiện rõ trong việc tái xây dựng lại Khu lăng mộ Omar Khayyam, hoàn thành vào năm 1963. Ngày nay, có rất đông đoàn người hành hương đến đài kỷ niệm bằng đá cẩm thạch trắng trên lăng mộ của ông để tỏ lòng tưởng nhớ đến con người vĩ đại này.


Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s