Quá trình Việt Nam gia nhập Asean

vna_potal_25_nam_ngay_viet_nam_gia_nhap_asean_2871995_–_2872020_khoanh_khac_brunei_1995_-_chao_mung_viet_nam_gia_nhap_ngoi_nha_chung_a_074125075_stand

Trần Thị Nhân Duyên

Ngày 28/7/1995, tại thủ đô Bandar Seri Begawan của Brunei Darussalam, hình ảnh lá cờ Việt Nam bay phất phới trong tiếng Quốc ca hùng tráng đã đánh dấu một trang sử mới đối với nước ta cũng như khu vực Đông Nam Á – Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ bảy của ASEAN. Từ đó, trải qua 25 năm đồng hành và gắn bó, ASEAN và Việt Nam đều có sự thay đổi và chuyển biến mạnh mẽ. Việt Nam, từ một nước có nền kinh tế bao cấp và lạc hậu, đã trở thành một nước có thu nhập trung bình với nền kinh tế thị trường năng động và đang tích cực hội nhập sâu rộng vào khu vực lẫn thế giới ở thời điểm hiện tại. Việc gia nhập vào ASEAN lúc đó là một trong những điểm đột phá đầu tiên để triển khai phương châm đối ngoại “đa phương hóa, đa dạng hóa” mà Ðại hội Ðảng lần thứ VII đã đề ra. Đây là một quyết định sáng suốt, kịp thời và đúng đắn của Ðảng và Nhà nước, đem lại nhiều lợi ích cho đất nước và nhân dân Việt Nam. Tuy nhiên, quá trình Việt Nam gia nhập ASEAN cũng là một chặng đường đầy gian nan; là cả một quá trình phấn đấu trong gần ba thập kỷ; và là những bước thăng trầm trong quan hệ với các quốc gia trong khu vực sau sự kiện 30/4/1975 – một Việt Nam độc lập, tự do, hòa bình, thống nhất ra đời.

  1. Khái quát chung về ASEAN

Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (Association of Southeast Asian Nations – viết tắt là ASEAN) được thành lập vào ngày 8/8/1967 trên cơ sở tuyên bố Bangkok, với năm thành viên đầu tiên là Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Singapore và Philippines. Đây là một liên minh chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội của các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á. Sự ra đời của ASEAN xuất phát từ mục tiêu tập hợp lực lượng chính trị nhằm xây dựng, duy trì hợp tác phát triển kinh tế, chia sẻ thịnh vượng chung và đảm bảo hòa bình, ổn định trong vấn đề an ninh và của nền kinh tế khu vực Đông Nam Á. Sau hơn 50 năm tồn tại và phát triển, ASEAN hiện nay đã trở thành một tổ chức hợp tác khu vực liên Chính phủ bao gồm cả 10 quốc gia Đông Nam Á. Trong đó, năm thành viên gia nhập sau này là Brunei (8/1/1984), Việt Nam (28/7/1995), Lào và Myanmar (23/7/1997), Campuchia (30/4/1999). Đảo quốc Đông Timor là quốc gia cuối cùng ở Đông Nam Á chưa gia nhập ASEAN [11].

Tuyên bố Bangkok (8/8/1967) xác định: “Nhận thức được sự tồn tại của các mối quan tâm lẫn nhau và các vấn đề chung giữa các nước Đông Nam Á và tin tưởng vào sự cần thiết phải tăng cường hơn nữa các mối quan hệ đoàn kết sẵn có trong khu vực; mong muốn xây dựng một nền tảng vững chắc cho hành động chung nhằm thúc đẩy hợp tác khu vực ở Đông Nam Á; các nước Đông Nam Á có trách nhiệm chính trong việc tăng cường ổn định kinh tế và xã hội của khu vực và bảo đảm sự phát triển của đất nước một cách hòa bình và tiến bộ, quyết tâm đảm bảo sự ổn định và an ninh không có sự can thiệp từ bên ngoài dưới bất kỳ hình thức hoặc biểu hiện nào”. Tuyên bố cũng nêu lên tôn chỉ, nguyên tắc và mục đích với sự đồng thuận cùng hợp tác giữa các nước thành viên [12].

            Trong Tuyên bố Bangkok (hay còn gọi là Tuyên bố ASEAN) đã nêu rõ mục tiêu và mục đích của ASEAN như sau: (i)  Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội và phát triển văn hóa trong khu vực trên tinh thần bình đẳng hợp tác nhằm tăng cường cơ sở cho một cộng đồng các nước Đông Nam Á hòa bình và thịnh vượng; (ii) Thúc đẩy hòa bình và ổn định khu vực bằng việc tôn trọng công lý và nguyên tắc luật pháp của các nước trong vùng và hiến chương Liên Hiệp Quốc; (iii) Thúc đẩy việc giúp đỡ lẫn nhau trong các vấn đề cùng quan tâm trên các lĩnh vực văn hóa, xã hội, kinh tế, khoa học kỹ thuật, hành chính; (iv) Giúp đỡ lẫn nhau dưới các hình thức đào tạo và cung cấp các phương tiện nghiên cứu trong các lĩnh vực giáo dục, chuyên môn, kỹ thuật và hành chính; (v)  Cộng tác có hiệu quả hơn, để sử dụng tốt hơn nền nông nghiệp và các ngành công nghiệp của nhau, mở rộng mậu dịch; (vi)  Thúc đẩy việc nghiên cứu về Đông Nam Á; (vii)  Duy trì sự hợp tác chặt chẽ cùng có lợi với các tổ chức quốc tế và khu vực [12].

            Về nguyên tắc hoạt động, các nước ASEAN luôn tuân theo các nguyên tắc chính đã được nêu trong Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á là: (i) Cùng tôn trọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng, toàn vẹn lãnh thổ và bản sắc dân tộc của tất cả các dân tộc; (ii) Quyền của mọi quốc gia được lãnh đạo hoạt động của dân tộc mình, không có sự can thiệp, lật đổ hoặc cưỡng ép của bên ngoài; (iii) Không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau; (iv) Giải quyết bất đồng hoặc tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, thân thiện; (v) Không đe dọa hoặc sử dụng vũ lực; (vi) Hợp tác với nhau một cách có hiệu quả [11].

  1. Quá trình gia nhập ASEAN của Việt Nam

2.1. Nhận thức của Việt Nam về việc gia nhập ASEAN

Sau khi Hiệp định Paris (1973) về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết, sự nghi ngờ và dè dặt là đặc trưng chủ yếu trong quan hệ Việt Nam – ASEAN. Việt Nam trong giai đoạn này dù không có quan hệ với ASEAN nhưng vẫn hợp tác song phương với các thành viên của tổ chức này. Tuy còn nhiều đánh giá khác nhau, nhưng từ năm 1975 đến 1978, quan hệ Việt Nam – ASEAN đã bắt đầu xuất hiện “những bước khởi đầu tốt đẹp”. 

Trên thực tế, những bước phát triển đó lại không dẫn đến sự phát triển về chất trong quan hệ của cả hai. Bên cạnh các yếu tố khách quan về sự chi phối của các nước lớn đối với khu vực; các yếu tố chủ quan về nhận thức của Việt Nam lúc đó về bản chất của tổ chức ASEAN đóng vai trò rất quan trọng trong việc cản trở mối quan hệ này. Trong cách nhìn của Việt Nam về ASEAN lúc đó thực chất đang che dấu bản chất phản cách mạng của mình; “ASEAN là một biến tướng của các hình thức khối quân sự kiểu SEATO do Mỹ cầm đầu, phục vụ quyền lợi của Mỹ, và đề nghị trung lập của ASEAN là không thực chất” [8]. Và Việt Nam bấy giờ cũng chưa có ý định tham gia ASEAN. Bởi sau cuộc chiến với Mỹ, di chứng chiến tranh vẫn còn rất nặng nề. Thêm vào đó, định kiến về một số quốc gia khối ASEAN vẫn còn tồn đọng. Do đó, việc hai bên nói chuyện với nhau là rất khó, nên nếu Việt Nam tham gia vào tổ chức sẽ vấp phải sự phản đối của người dân trong nước. Ngoài ra, bản thân ASEAN lúc đó vẫn còn non trẻ. Kinh tế toàn khối vẫn còn kém phát triển, chưa có gì nổi trội, chưa có hấp dẫn với Việt Nam và cũng không có khả năng hỗ trợ kinh tế Việt Nam sau chiến tranh. Những nhận định về ASEAN như vậy khiến việc đặt ra ý định tham gia hiệp hội rất khó khăn. Cuối năm 1978 – đầu năm 1979, vấn đề Campuchia đã khiến cho mối quan hệ giữa Việt Nam và các nước ASEAN từ lập trường đối thoại chuyển sang đối đầu. Các nước ASEAN thậm chí còn thực thi chính sách cô lập Việt Nam [10]. Tuy nhiên, một mặt ASEAN lo ngại xung đột chính trị của Campuchia có thể gây ra những bất ổn ở khu vực; mặt khác, nhiều nhà lãnh đạo ASEAN đã từng bước nhận thức rõ được kẻ đắc lợi trong khi tình hình Đông Nam Á bất ổn chính là các nước lớn ở ngoài khu vực. Về phía Việt Nam, cũng đã gặp rất nhiều khó khăn trong việc đối phó với cuộc tấn công biên giới Tây Nam, vừa phải đương đầu với những khó khăn về kinh tế trong nước do Mỹ cấm vận. Lúc này các lãnh đạo ASEAN và cả Việt Nam đều nhận ra, đây là lúc các nước Đông Nam Á cần xích lại với nhau, thể hiện tiếng nói của riêng mình, đồng thời tránh sự can thiệp từ bên ngoài. Điều kiện tiên quyết để đạt được mục tiêu này là vấn đề Campuchia cần phải được giải quyết [2].

Năm 1986, Việt Nam tiến hành công cuộc đổi mới. “Tư duy đối thoại mới” hình thành, cách nhìn nhận với ASEAN cũng đã có chuyển biến. Đại hội VI tại Hà Nội xác định “phải tăng cường quan hệ với các nước Đông Nam Á”. Chưa đầy một năm sau, tháng 8/1987, trong cuộc gặp tại thành phố Hồ Chí Minh giữa Việt Nam với Indonesia – đại điện ASEAN, Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch khi đó tuyên bố Việt Nam sẽ rút quân khỏi Campuchia theo hai giai đoạn, chậm nhất là năm 1990 sẽ hoàn thành, đồng thời bày tỏ nguyện vọng muốn gia nhập ASEAN. Sau khi Việt Nam bày tỏ ý định này, các nước trong ASEAN cũng phản ứng rất tích cực. Việt Nam đã rất nhạy bén, nắm bắt cơ hội, tìm cách giành được sự ủng hộ nhiều hơn nữa của các quốc gia thành viên. Đặc biệt là giai đoạn 1991-1994, Nhà nước ta đã tiến hành các hoạt động ngoại giao song phương và thực hiện nhiều chuyến thăm cấp cao đến các quốc gia ASEAN [7].

2.2. Chính sách của Việt Nam về việc gia nhập ASEAN

Ngay sau khi đất nước thống nhất, Đảng ta đã đề xuất chính sách mở cửa ra bên ngoài với mong muốn được đối thoại trực tiếp với các nước Đông Nam Á. Năm 1976, Việt Nam công bố chính sách bốn điểm xác định rõ ràng quan hệ láng giềng hữu nghị đối với các nước Đông Nam Á, chủ yếu là các nước ASEAN, nói lên mong muốn chân thành hữu nghị, hợp tác Đông Nam Á cùng tồn tại hòa bình. Tuyên bố bốn điểm khẳng định: “Tôn trọng độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không xâm lược nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi, cùng tồn tại hòa bình; giải quyết các tranh chấp thông qua thương lượng… Phát triển hợp tác vì sự nghiệp xây dựng đất nước phồn vinh theo điều kiện riêng của mỗi nước vì độc lập dân tộc, hòa bình trung lập thật sự ở Đông Nam Á” [13]. Những quan điểm này đồng thời đáp ứng được mong muốn của ASEAN, thể hiện tinh thần kết nối với các nước láng giềng trong khu vực; do đó, nhận được sự hoan nghênh của các nước ASEAN.

Tuy nhiên, đến năm 1979, do bất đồng quan điểm trong giải quyết vấn đề Campuchia, quan hệ Việt Nam – ASEAN chuyển biến từ “thân thiện hợp tác” sang “căng thẳng, đối đầu”. Vào thời điểm đường lối đối ngoại đổi mới của Đảng đang được triển khai, vấn đề Campuchia chính là trở ngại to lớn cho việc Việt Nam gia nhập ASEAN [7]. Đại hội V của Đảng Cộng sản Việt Nam (3/1982) đã kêu gọi các nước ASEAN hãy cùng các nước Đông Dương đối thoại và thương lượng để giải quyết các trở ngại, xây dựng Đông Nam Á trở thành khu vực hoà bình và ổn định. Ngoài ra, Bộ Chính trị nhấn mạnh ngoài việc tăng cường quan hệ với các nước Lào và Campuchia, mở rộng quan hệ kinh tế với các nước phương Tây và ASEAN là một yêu cầu khách quan. Đối với việc mở rộng quan hệ với ASEAN, Bộ Chính trị cho rằng: “Cần có chính sách toàn diện với Đông Nam Á, trước hết là tăng cường quan hệ hợp tác nhiều mặt với Indonesia, phá vỡ thế bế tắc trong quan hệ với Thái Lan, mở rộng quan hệ hợp tác về kinh tế, khoa học kĩ thuật văn hóa với các nước trong khu vực, giải quyết những vấn đề còn tồn tại giữa ba nước này bằng thương lượng, thúc đẩy việc xây dựng khu vực hòa bình, ổn định, hữu nghị và hợp tác” [7].

Các nước ASEAN bắt đầu quan hệ song phương với Việt Nam và chào đón Việt Nam tham gia vào diễn đàn hợp tác khu vực. Việt Nam cũng bày tỏ mong muốn phát triển quan hệ hữu nghị hợp tác với các nước ASEAN; tháng 1/1989, tại Hội nghị bàn tròn các nhà báo Châu Á – Thái Bình Dương ở thành phố Hồ Chí Minh, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam tuyên bố: Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam sẵn sàng phát triển quan hệ hữu nghị với các nước ASEAN và các nước khác trong khu vực. Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch cũng tuyên bố: “Việt Nam sẵn sàng gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á” [7].

Đại hội VII năm 1991 của Đảng ta một lần nữa khẳng định chính sách đối ngoại của ta ra thế giới với khẩu hiệu: “Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, ổn định và cùng phát triển, tôn trọng chủ quyền, độc lập, toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau”. Với ASEAN, Đảng ta cho rằng: “Đông Nam Á liên quan mật thiết với yêu cầu tạo môi trường thuận lợi quốc tế cho an ninh và phát triển của Việt Nam. Cải thiện và mở rộng quan hệ với từng nước và với cả nhóm nước ASEAN trên cơ sở cùng có lợi, cùng tồn tại hòa bình. Chú ý mở rộng hợp tác về kinh tế, thương mại, khoa học công nghệ trên các lĩnh vực mà ASEAN có trình độ cao, từng bước tham gia hợp tác khu vực với khẩu hiệu biến Đông Nam Á thành khu vực hợp tác và phát triển” [7]. Việt Nam tham gia Hiệp ước Bali, tham gia các diễn đàn đối thoại với ASEAN, tích cực nghiên cứu mở rộng quan hệ với ASEAN trong tương lai. Giải quyết thỏa đáng bằng thương lượng các vấn đề tồn tại vướng mắc giữa Việt Nam với các nước ASEAN. Chủ trương đối ngoại của Đảng được đề ra qua các Đại hội VI, VII và các hội nghị Trung ương khóa VI, VII đã mở ra một thời kỳ mới trong quan hệ đối thoại giữa Việt Nam và các nước ASEAN, chủ trương đó được  Đông Nam Á và quốc tế đánh giá cao, đã thúc đẩy mạnh mẽ tiến trình hội nhập Việt Nam – ASEAN.

Từ những năm 1990, Việt Nam triển khai mạnh mẽ các hoạt động ngoại giao cấp cao song phương với từng nước ASEAN; chủ động tham gia với tư cách quan sát viên. Năm 10/ 1993, Tổng bí thư Đỗ Mười viếng thăm các nước ASEAN và đưa ra lập trường bốn điểm mới đối với ASEAN; trong đó có nói “Việt Nam chủ trương tăng cường hợp tác nhiều mặt với từng nước láng giềng cũng như với ASEAN với tư cách là một tổ chức khu vực, sẵn sàng gia nhập ASEAN vào một thời điểm thích hợp”. Tiếp đó, trong chuyến thăm Indonesia, Chủ tịch nước Lê Đức Anh đã khẳng định rằng Việt Nam đang tích cực chuẩn bị để có thể sớm gia nhập ASEAN. Ngày 28/7/1995, Việt Nam trở thành thành viên chính thức thứ bảy của tổ chức ASEAN, mở ra giai đoạn hội nhập liên kết vì một khu vực hòa bình, thống nhất và phát triển [2].

2.3. Thực tiễn triển khai quá trình gia nhập ASEAN của Việt Nam

Sự kiện lịch sử ngày 30/4/1975 – một nước Việt Nam hoàn toàn độc lập, thống nhất và xây dựng chủ nghĩa xã hội ra đời – đã tác động không nhỏ đến tình hình Đông Nam Á. Vào khoảng thời gian này, ASEAN bắt đầu tính tới chuyện mở rộng và có ý định để các nước Đông Dương tham gia vào tổ chức. Tuy nhiên, vì có nhiều rào cản, tất cả chỉ dừng lại ở mặt ý tưởng. Dẫu vậy, ngoài Indonesia đã có quan hệ ngoại giao từ trước (30/12/1955), các nước ASEAN vẫn tiến hành thiết lập quan hệ ngoại giao song phương với Việt Nam. Năm 1973 đánh dấu mối quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam với Malaysia và Singapore. Sau đó, Philippines và Thái Lan cũng lần lượt thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam vào tháng 7 và tháng 8/1976. Như vậy, tính đến cuối năm 1976, Việt Nam đã có quan hệ với ngoại giao với tất cả các nước thành viên ASEAN [3]. Việc thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam với các nước ASEAN đã tạo nên bầu không khí thân thiện và hoà bình ở khu vực Đông Nam Á, góp phần “hoá giải” những hiềm khích vốn chủ yếu được tạo ra bởi sự cạnh tranh của các nước lớn ngoài khu vực trước đó.

Trong những năm tiếp theo, quan hệ song phương giữa Việt Nam với các nước ASEAN được cải thiện đáng kể. Những bước phát triển song phương thể hiện qua các cuộc viếng thăm các cấp và việc ký kết một số hiệp định hợp tác kinh tế – thương mại,…Trong cuối năm 1977 và đầu năm 1978, Thủ tướng Phạm Văn Đồng và Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Duy Trinh đã sang thăm lần lượt các nước ASEAN nhằm củng cố mối quan hệ hữu nghị, hợp tác với các nước. Việt Nam cũng chủ động thúc đẩy đàm phán về vùng chồng lấn trên biển với Indonesia (11/1977), tích cực với chủ trương thành lập ZOPFAN[1], nhận sự trợ giúp một số quốc gia ASEAN về mặt tài chính, v.v [3]. Tuy nhiên, vấn đề Campuchia nảy sinh vào năm 1978 đã khiến cho quá trình bình thường hóa quan hệ Việt Nam – ASEAN bị đình trệ trong gần 10 năm.

Sang đầu thập niên 1980, thông qua các chuyến thăm cấp cao tới các quốc gia ASEAN và Liên hợp quốc, Việt Nam đã nỗ lực thể hiện thiện chí trong việc tìm kiếm một giải pháp cho vấn đề Campuchia cũng như trở thành láng giềng tốt của các nước Đông Nam Á. Đến nửa sau thập niên này, các hoạt động đối thoại bàn về vấn đề Campuchia giữa hai nhóm nước Đông Dương và ASEAN có sự chuyển biến tích cực. Tại hội nghị tháng 2/1985, Ngoại trưởng các nước ASEAN đã thống nhất việc đối thoại trực tiếp với Đông Dương nhằm giải quyết triệt để vấn đề Campuchia và lập lại hòa bình ổn định khu vực. Đáp lại tín hiệu tích cực này, tháng 8/1985, Việt Nam lần đầu tiên đưa ra tuyên bố công khai trước quốc tế về việc sẽ hoàn thành rút quân khỏi Campuchia trước năm 1990 [2]. Năm 1987, Việt Nam đã mời Bộ trưởng Ngoại giao Indonesia sang thăm nhằm vừa khai thông quan hệ song phương, vừa mở đường cho xu thế đối thoại, hợp tác để giải quyết vấn đề Campuchia cũng như xây dựng khu vực Đông Nam Á hòa bình, ổn định và phát triển. Kết quả của cuộc gặp gỡ này là bản Thông cáo chung Việt Nam – Indonesia vào ngày 29/7/1987, mở đầu quá trình đối thoại nhằm tìm kiếm giải pháp chính trị cho vấn đề Campuchia ở phạm vi rộng hơn. Theo đó, các diễn đàn JIM-1 (7/1988),  JIM-2 (2/1989)[2]; ba vòng đối thoại Hun Sen – Sihanouk (11/1988, 4 và 7/1989, 2/1990); và các diễn đàn Việt – Mỹ, Việt – Thái, Campuchia – Thái đều diễn tiến thành công [2].

Ngày 26/5/1988, Việt Nam tiến hành rút quân xa biên giới giữa Campuchia với Thái Lan và hoàn thành việc rút quân sớm hơn so với dự kiến vào năm 1989. Ngay sau đó, với ý định “biến Đông Dương từ chiến trường thành thị trường”, Thái Lan đã điều chỉnh chính sách theo hướng “cởi mở” hơn trong quan hệ với Việt Nam từ tháng 8/1989. Cũng trong năm này, Philippines ngỏ ý hoan nghênh Việt Nam gia nhập ASEAN và Malaysia cử Phó Thủ tướng sang thăm Việt Nam. Sau đó, Việt Nam lần lượt tuyên bố “sẵn sàng phát triển quan hệ quan hệ hữu nghị với các nước ASEAN và các nước khác trong khu vực” (1/1989) và “sẵn sàng tham gia Hiệp ước Bali” (2/1989) [3].

Sau khi thỏa thuận khung về vấn đề Campuchia đạt được vào ngày 28/8/1990 và Hiệp định Paris về Campuchia được ký kết vào ngày 23/10/1991, giới lãnh đạo Đông Nam Á đã lần lượt tuyên bố Việt Nam không còn là mối đe dọa của họ và ủng hộ việc Việt Nam gia nhập ASEAN. Tháng 11/1990, Tổng thống Indonesia Suharto trở thành vị tổng thống đầu tiên của một nước thành viên ASEAN đến thăm Việt Nam. Từ ngày 24/10 – 1/11/1991, Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã lần lượt thăm hữu nghị chính thức Indonesia, Thái Lan và Singapore. Như vậy, những nỗ lực ngoại giao trên đã làm thay đổi diện mạo quan hệ đối đầu ASEAN – Đông Dương sang hướng hoà dịu, tạo điều kiện cho quá trình đàm phán gia nhập ASEAN của Việt Nam được đẩy nhanh.

Ngày 22/7/1992, tại Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN (AMM) lần thứ 25 ở Manila (Philippines), Việt Nam tham gia Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác Đông Nam Á (TAC) và trở thành quan sát viên của ASEAN. Sự kiện này đã đánh dấu hai nhóm nước ASEAN và Đông Dương chính thức chấp nhận nhau. Tháng 10/1993, với chính sách bốn điểm mới, Việt Nam khẳng định “chủ trương tăng cường hợp tác nhiều mặt với từng nước láng giềng cũng như với ASEAN với tư cách là một tổ chức khu vực, sẵn sàng gia nhập ASEAN vào thời điểm thích hợp” [16]. Tháng 7/1994, Việt Nam được mời tham dự cuộc họp đầu tiên của Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF) và trở thành một trong những thành viên sáng lập của Diễn đàn này [6].

Giai đoạn 1991 – 1994 là giai đoạn mà các hoạt động quan hệ giữa Việt Nam và ASEAN nói chung và với từng nước ASEAN nói riêng được tăng cường đẩy mạnh. Song song với việc chủ động tham gia các chương trình và dự án hợp tác của ASEAN trong năm lĩnh vực[3], Việt Nam cũng tích cực tiến hành các hoạt động ngoại giao song phương và thực hiện nhiều chuyến thăm cấp cao đến các nước trong khu vực Đông Nam Á [14]. Trước các bước tiến triển tốt đẹp trong quan hệ với ASEAN, Việt Nam đẩy nhanh đẩy mạnh công tác xúc tiến cho việc gia nhập tổ chức này. Ngày 17/10/1994, Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm nộp đơn chính thức xin gia nhập ASEAN. Và tại hội nghị AMM lần thứ 27, các nước tuyên bố nhất trí đón nhận Việt Nam là thành viên của ASEAN. Ngày 28/7/1995, tại hội nghị AMM lần thứ 28, Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ bảy của tổ chức ASEAN, khép lại những giai đoạn đầy khó khăn và mở ra giai đoạn hội nhập liên kết vì một khu vực hòa bình, thống nhất và phát triển.

  1. Nhận xét và đánh giá

3.1. Khó khăn trong quá trình gia nhập ASEAN của Việt Nam

Trong tiến trình Việt Nam gia nhập vào ASEAN, mối quan hệ giữa hai bên luôn biến thiên qua nhiều giai đoạn. Trước năm 1991, quan hệ Việt Nam – ASEAN luôn tồn tại tâm lý nghi kỵ và lạnh nhạt, thậm chí, có lúc rất căng thẳng và “đối đấu”. Về phía ASEAN, ngay từ khi hiệp hội này thành lập đã để ngỏ khả năng tham gia của các nước trong khu vực có cùng quan điểm. Tuy nhiên, vào thời điểm đó, phía Việt Nam có thái độ nghi kỵ và thù địch với ASEAN vì cho rằng đây là “trá hình SEATO”, “tay sai của Mỹ và phương Tây” [8]. Trong bối cảnh quan hệ quốc tế được xây dựng dựa trên cơ sở đấu tranh giữa hai hệ tư tưởng đối nghịch và quan hệ giữa các quốc gia xoay quanh “ta – bạn – thù”, việc các nước có ý thức hệ khác nhau cùng tham gia vào một tổ chức là không khả thi. Thậm chí, sự đối đầu tam giác Mỹ – Xô – Trung trong Chiến tranh lạnh và cuộc chiến tranh của Mỹ tại Việt Nam cũng khiến cho Đông Nam Á bị chia rẽ sâu sắc.

            Chỉ sau khi thống nhất đất nước, Việt Nam mới tiến hành điều chỉnh quan hệ với các nước Đông Nam Á và chủ yếu là các nước ASEAN. Dẫu vậy, trong giai đoạn này, Việt Nam khá dè dặt trong quan hệ ngoại giao với ASEAN. Thậm chí, bản thân các nước ASEAN cũng tỏ ra thận trọng khi cân nhắc việc mở rộng thêm thành viên là Việt Nam trong tình hình tổ chức này còn quá non yếu. Vì mặc dù Mỹ đã rút khỏi Đông Dương vào thời điểm đó, nhưng với khoảng trống quyền lực để lại thì việc kết nạp Việt Nam vào ASEAN sẽ đi kèm với mối đe dọa về an ninh. Ngoài ra, khoảng cách kinh tế cũng là một rào cản trong quan hệ Việt Nam – ASEAN. Trong khi các thành viên ban đầu ASEAN đều đã là những nước đi đầu về kinh tế, Việt Nam lúc bấy giờ đang phải nỗ lực khôi phục nền kinh tế bị tàn phá nặng nề sau hai cuộc chiến tranh ở trong bối cảnh bị Mỹ bao vây và cấm vận[4]. Do đó, các nước ASEAN lo ngại việc kết nạp Việt Nam sẽ kìm hãm sự phát triển của khối cũng như gây xáo trộn, mất cân bằng về tính ổn định, hài hoà và kết dính của tổ chức [10].

“Vật cản” lớn nhất trong tiến trình Việt Nam gia nhập vào ASEAN là vấn đề Campuchia. Hành động Việt Nam đưa quân đội vào Campuchia vấp phải phản ứng quyết liệt của quốc tế, bị xem là hành vi “vi phạm lãnh thổ” một quốc gia có chủ quyền và đe dọa hòa bình và an ninh thế giới. Các nước ASEAN cũng cho rằng Việt Nam “xâm lược Campuchia”, gây bất ổn trong khu vực. Từ đó, quan hệ Việt Nam – ASEAN trở nên “nguội lạnh” đột ngột. Sau chuyến ngoại giao con thoi của Đặng Tiểu Bình vào tháng 11/1978, thái độ của các nước ASEAN đối với Việt Nam dần chuyển biến tiêu cực [10]. Các nước ASEAN đều cho rằng cuộc xung đột Việt Nam – Campuchia là nhân tố đe doạ đến hoà bình và an ninh khu vực. Bên cạnh đó, việc Việt Nam “nghiêng” về phía Liên Xô [5] đã khiến các nước ASEAN càng thêm lo ngại “làn sóng cộng sản” lan rộng khắp Đông Nam Á, trong khi tình hình phong trào phong trào cộng sản ở Malaysia, Thái Lan khi đó còn đang rất mạnh [2]. Từ những quan ngại trên, ASEAN đã quyết định “hòa vào dàn đồng ca đòi Việt Nam phải rút quân khỏi Campuchia” [8]. Vì thế, trong những năm 80 của thế kỷ XX, Việt Nam vừa đối mặt với cuộc khủng hoảng kinh tế trong nước vừa rơi vào tình thế bị  “bao vây cấm vận và cô lập” tập thể bởi Hoa Kỳ, Trung Quốc, các quốc gia phương Tây và cả các nước ASEAN [10]. Đây cũng được xem là thời kỳ căng thẳng và đối đầu một cách gay gắt ở Đông Nam Á giữa lực lượng cách mạng Đông Dương với các nước ASEAN – vốn bị chi phối bởi những lợi ích và tính toán của các nước lớn. Mãi cho đến những năm đầu của thập niên 1990, khi thế giới bước vào xu hướng hòa hoãn hai cực, vấn đề Campuchia được giải quyết, quan hệ Việt Nam – ASEAN mới được hàn gắn [5].

3.2. Thuận lợi trong quá trình gia nhập ASEAN của Việt Nam

            Bên cạnh những nốt trầm trong thời gian đầu của quá trình gia nhập vào ASEAN, những nốt thăng ngày càng cất cao sau những năm 1990, thúc đẩy quá trình Việt Nam vào ASEAN một cách nhanh chóng. Một trong nhân tố tiêu biểu tạo nên những nốt thăng này chính là “đường lối đổi mới nói chung và đổi mới trong quan hệ đối ngoại nói riêng của Đảng Cộng sản Việt Nam” [5]. Thực tế, “để hiện thực hóa sự kiện gia nhập ASEAN vào ngày 28-7-1995, Việt Nam đã trải qua những bước phát triển mạnh mẽ trong tư duy đối ngoại, nhờ đó có sự chuyển hướng chiến lược sáng suốt, kịp thời, nhấn mạnh lợi ích cao nhất của đất nước lúc này là tranh thủ điều kiện hòa bình để phát triển” [16]. Nếu không có sự vận dụng linh hoạt và có nguyên tắc đường lối Đổi mới, Việt Nam khó có thể cải thiện quan hệ với các nước trong khu vực cũng như trên phạm vi thế giới. Thậm chí, nếu tiếp tục để ý thức hệ chi phối và sự nghi kỵ dẫn lối, Việt Nam sẽ không thể thoát khỏi thế bao vây và cô lập vào đầu những năm 80, cũng như tình trạng khủng hoảng kinh tế trong nước sau những cuộc chiến tranh liên miên. Quan trọng nhất, lập trường của Việt Nam trong các chính sách đối ngoại qua từng giai đoạn vừa phù hợp với xu thế của thế giới vừa là nguyện vọng chung của nhân dân các nước Đông Nam Á, nên đạt được sự hưởng ứng tích cực từ phía các nước ASEAN [5]. Điều này góp phần lý giải tại sao Việt Nam lại có thể vượt qua những rào cản lớn như vấn đề Campuchia và tiến tới việc hội nhập ASEAN một cách thành công vào năm 1995.

            Ngoài ra, trước xu thế hoà hoãn Đông – Tây và Chiến tranh lạnh gần đi vào hồi kết, ASEAN nhận thức được việc có một khu vực hoà bình và ổn định, cũng như một thị trường lớn để phát triển là điều cần thiết. Đặc biệt, sau khi Liên Xô sụp đổ vào tháng 12/1991, cục diện khu vực Đông Nam Á thay đổi, ASEAN buộc phải tìm hướng đi mới cho mình. Cụ thể, “Trung Quốc đã tận dụng thời điểm này cũng như sợi dây đoàn kết đứt quãng ở Đông Nam Á để nhảy vào và tìm kiếm những lợi ích nhất định” [10]. Do đó, điều quan trọng là phải tạo dựng một tập thể đoàn kết giữa các nước Đông Nam Á để chống lại các mối đe dọa từ bên ngoài thay vì trở thành khu vực bị các nước lớn chi phối như trước. Thậm chí, xây dựng ASEAN trở thành một khu vực trung lập, tự do là điều cần thiết. Đồng thời, với bối cảnh toàn cầu hoá, khu vực hoá và cuộc cách mạng khoa học – công nghệ phát triển mạnh mẽ, khái niệm “ASEAN mở rộng” xuất hiện dày đặc hơn, phản ảnh được tâm thế chuẩn bị “cất cánh” vào thế kỷ 21 của các nước ASEAN. Từ đó, các nước ASEAN nhận thấy rằng việc cô lập Việt Nam là phản tác dụng và việc kết nạp Việt Nam lại có ý nghĩa trong việc thúc đẩy mục tiêu trên [5]. Như vậy, “việc Việt Nam gia nhập ASEAN là sự gặp nhau giữa chủ trương của Việt Nam đối với các nước trong khu vực và yêu cầu của các nước trong khu vực nhìn nhận về vai trò của Việt Nam trong bối cảnh mới của tình hình quốc tế. Nói một cách khác, Việt Nam cần ASEAN và ASEAN cũng cần Việt Nam” [18].

Tóm lại, việc gia nhập vào ASEAN là quyết sách đúng đắn, kịp thời, có ý nghĩa lịch sử và chiến lược quan trọng đối với Việt Nam. Quá trình Việt Nam gia nhập vào ASEAN đã thể hiện được những bước phát triển vược bậc trong nhận thức của Đảng và Nhà nước ta về hội nhập khu vực để làm nền tảng hội nhập quốc tế. Quá trình này tuy trải qua nhiều thăng trầm nhưng đi đến được thành công là nhờ sự nắm bắt đúng thời cơ, dự báo đúng xu thế phát triển, điều chỉnh đúng chính sách đối ngoại và thực thi đúng phương châm đa phương hoá, đa dạng hoá. Có thể nói đây là một thành công lớn, mang ý nghĩa quyết định đối với vận mệnh của đất nước, phá được thế bao vây cấm vận cũng như thúc đẩy quan hệ hữu nghị, hòa bình hợp tác giữa Việt Nam với các nước láng giềng tại Đông Nam Á trên nhiều lĩnh vực. Từ đó, Việt Nam tạo dựng được môi trường quốc tế thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc, song song với việc huy động các nguồn lực để phục vụ cho sự phát triển và nâng cao sức mạnh tổng hợp quốc gia. Sau quá trình gia nhập vào ASEAN, Việt Nam đã chủ động tham gia một loạt các diễn đàn, các tổ chức trong khu vực lẫn quốc tế và đều “gặt hái” được những kết quả tốt đẹp, góp phần nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế.


TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tiếng Việt

[1] Lê Viết Duyên (2017), Quá trình phát triển chính sách đối ngoại của Việt Nam với Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) trong thời kỳ Đổi mới, Luận án Tiến sĩ chuyên ngành Quan hệ quốc tế, Học viện ngoại giao, Hà Nội.
[2] Hoàng Hải Hà (2019), “Vấn đề Campuchia trong quan hệ Việt Nam – ASEAN (1979 – 1995)”, Tạp chí khoa học Trường Đại học Vinh, tập 48, số 1B, tr.5 – 13
[3] TS. Vũ Dương Huân (2002), Ngoại giao Việt Nam hiện đại: Vì sự nghiệp Đổi mới (1975 – 2002), Học viện Ngoại giao, Hà Nội
[4] Vũ Dương Ninh (2002), “Hội nhập Việt Nam – ASEAN tiến trình và hiện trạng (1967 – 2002)”, Tạp chí khoa học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội, số 2, tr. 25 – 33.
[5] Vũ Dương Ninh (2004), Việt Nam – ASEAN: Quan hệ đa phương và song phương, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội
[6] Phạm Quang Minh (2021), Chính sách đối ngoại Đổi mới của Việt Nam (1992 – 2020), Nhà xuất bản Thế Giới, Hà Nội
[7] Nguyễn Thị Quỳnh (2013), Chính sách đối ngoại của Đảng với ASEAN từ năm 1995 đến 2010, Luận văn Thạc sĩ Lịch sử, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
[8] PGS.TS. Nguyễn Vũ Tùng (2019), Giáo trình Tiếp cận chính sách đối ngoại Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật

 

 

Các trang web hỗ trợ

[9] https://baoquocte.vn/viet-nam-gia-nhap-asean-khoi-dau-cua-nhung-khoi-dau-108119.html (truy cập ngày 25/4/2021)
[10] https://vtc.vn/viet-nam-gia-nhap-asean-khi-la-co-do-sao-vang-tung-bay-tren-bau-troi-brunei-ar583883.html (truy cập ngày 26/1/4/2021)
[11] https://www.vietnamplus.vn/qua-trinh-ra-doi-va-phat-trien-cua-hiep-hoi-asean/66409.vnp (truy cập ngày 26/1/4/2021)
[12] https://baclieu.gov.vn/vi/-/mục-tiêu-nguyên-tắc-và-phương-thức-hoạt-động-chính-của-asean (truy cập ngày 26/1/4/2021)
[13] http://phambinhminh.chinhphu.vn/cac-nguon-khac/viet-nam-va-asean-tim-den-nhau-qua-gian-nan-7868.html (truy cập ngày 27/1/4/2021)
[14] https://songoaivu.bacgiang.gov.vn/chi-tiet-tin-tuc/vai-tro-cua-viet-nam-trong-cong-ong-asean (truy cập ngày 28/1/4/2021)
[15] http://baochinhphu.vn/Doi-ngoai/Gia-nhap-ASEAN-Quyet-sach-lich-su-cua-Bo-Chinh-tri/313266.vgp (truy cập ngày 29/1/4/2021)
[16] https://www.tapchicongsan.org.vn/web/guest/tin-binh-luan/viet-nam-asean-hai-muoi-lam-nam-mot-chang-duong (truy cập ngày 29/1/4/2021)
[17] https://vtv.vn/the-gioi/25-nam-viet-nam-gia-nhap-asean-dau-an-doi-ngoai-da-phuong-20200726102445131.htm (truy cập ngày 30/1/4/2021)
[18] https://moc.gov.vn/vn/tin-tuc/1293/57211/ky-niem-50-nam-asean-hinh-thanh-va-phat-trien—50-nam-asean–tien-buoc-vung-vang-vi-mot-tam-nhin–mot-ban-sac–mot-cong-dong-dum-boc-va-se-chia.aspx (truy cập ngày 1/5/4/2021)

[1] Tuyên bố về Khu vực Hòa bình, Tự do và Trung lập (tiếng anh: Zone of Peace, Freedom and Neutrality)

[2] Cuộc gặp không chính thức Jakarta (Jakarta Informal Meeting): gồm 6 nước ASEAN, 3 nước Đông Dương và 3 phái đối lập ở Campuchia tham gia

[3] khoa học-công nghệ, môi trường, y tế, văn hoá-thông tin, và phát triển xã hội

[4] Mỹ tuyên bố cấm vận Việt Nam ngay khi rút khỏi Miền Nam Việt Nam vào ngày 29/03/1973

[5] Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác toàn diện Xô-Việt (1978)

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s