Lâu đài trên cát

Redsvn-Vi-tuyen-17-18.jpg

Vũ Ngự Chiêu

Từ ngày 7/3/1975, khi Văn Tiến Dũng bắt đầu cô lập Ban Mê Thuột, tới ngày 30/4/1975, khi Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng, vừa chẵn 55 ngày.

Thật khó ngờ chỉ trong vòng 55 ngày và 55 đêm mà đạo quân hơn một triệu người–có hơn phần tư thế kỷ kinh nghiệm tác chiến, với những vũ khí khá hiện đại như Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa [VNCH]–bị sụp đổ hoàn toàn. Cảnh tượng “bỏ của chạy lấy người”suốt tháng 3/1975 của các đơn vị Nam quân khiến đó đây vang lên chỉ trích nặng nề như “hèn nhát,” “tồi dở” v.. v… (1)

Sự thảm bại ấy, thực ra, chỉ là đoạn kết bi phẫn ngắn ngủi khó tránh của một cuộc chiến kéo dài đã hơn 30 năm. Những hình ảnh điên loạn mà ống kính các phóng viên quốc tế thu nhận được chẳng khác cảnh vỡ đê trước con nước lũ, hay sự sụp đổ của một tòa lâu đài dựng trên bãi cát, khi nước triều dâng lên. 

evacuation2

Có rất nhiều nguyên nhân đưa đến thảm kịch 55 ngày và 55 đêm suốt mùa Xuân Ất Mão (1975) ấy.

Trên bình diện quốc tế, 20 năm hiện hữu của VNCH là hai thập niên của “chiến tranh ủy thác” [proxy wars]. Từ năm 1945-1949, cuộc chiến tranh giành độc lập của dân Việt khỏi họa đô hộ Pháp đã bị quốc tế hóa thành một chiến trường nóng, đầy xương máu, khói lửa, trong một cuộc chiến tranh lạnh toàn cầu, giữa hai khối Tư Bản và Cộng Sản (1947-1991). Chế độ Quốc Gia Việt Nam [QGVN] (1949-1955) với Quốc trưởng Bảo Đại, và rồi VNCH (1955-1975)–giống như chế độ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa [VNDCCH] (1945-1976) ở miền Bắc–là những kết quả và/hoặc sáng chế của các ngoại cường trong cuộc sửa đổi bản đồ chính trị thế giới. Bên cạnh chủ đích chiến đấu để sống còn của những người chống hoặc không Cộng Sản, VNCH trở thành một tiền đồn của “thế giới tự do” dưới sự lãnh đạo và tài trợ của Liên bang Mỹ–”kho súng” của nền dân chủ. Phía VNDCCH, với tấm bình phong Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam [MTDT/GPMN] từ tháng 12/1960–một dụng cụ chính trị do Hà Nội khai sinh và nuôi dưỡng–thì giữ vai tiền đồn của tiền đồn khối “Chủ Nghĩa Xã Hội” do Liên Sô Nga và Trung Cộng tranh nhau cầm đầu. Tính cách ủy thác lên cao điểm năm 1965, khi chính phủ Johnson đưa quân chiến đấu vào Nam Việt Nam và oanh tạc miền Bắc. Liên Sô Nga và Trung Cộng–với những dụng tâm riêng–miễn cưỡng đổ viện trợ vào miền Bắc cho Hà Nội có khả năng đương đầu với Mỹ.

Trong khuôn khổ cuộc chiến ủy thác ấy, vai trò quyết định là các siêu cường. Phía Mỹ, từ năm 1968–nếu không phải sớm hơn–đã duyệt xét lại chính sách Việt Nam và đi đến quyết định giải kết.

Có nhiều nguyên do. Trước hết là kinh tế. Vào giữa thập niên 1960, sự phong phú, giàu có sau Đệ Nhị Thế Chiến (1939-1945) đã trở thành dĩ vãng. Chiến phí ở Việt Nam tạo nên những lỗ hổng khổng lồ cho công quĩ chính phủ Liên Bang. Chỉ một thiểu số đại tư bản Mỹ cùng những quốc gia thứ ba như Nhật, Nam Hàn, Sư Tử Thành [Singapore], Thái Lan, Philippines, Malaysia, Indonesia, v.. v… hưởng lợi. Cảm nhận chung của giới chính trị Mỹ–kể cả Richard M. Nixon lẫn Henry A. Kissinger–là nước Mỹ bắt đầu suy thoái, cần thay đổi chiến lược trong một thế giới mới. Mỹ không thể tiếp tục làm nhà từ thiện toàn cầu, cung cấp viện trợ rộng rãi cho các “thân chủ đồng minh,” mà phải thắt lưng, buộc bụng và lựa chọn kỹ càng hơn. Khuynh hướng cắt giảm viện trợ kinh tế và hạn chế ngân quĩ quốc phòng trở thành một nhu cầu hơn thuần hậu quả của chủ thuyết “tự cô lập mới” [neo-isolationism].(2)

Tại Á Châu, Trung Đông, Phi Châu và vùng Mỹ Latin (tức Trung và Nam Mỹ) nhiều quốc gia mới được khai sinh, thay đổi hẳn cuộc diện chính trị thế giới cũng như thế cân bằng quyền lực do hai siêu cường Mỹ-Nga thống trị. Thực tế này cho phép nghĩ đến một thí nghiệm “đa cực” [multipolarity] thay vì “lưỡng cực” [bipolarity] đang trở thành lỗi thời. (3)

Trong khi đó, khối Cộng Sản bắt đầu rạn nứt dài theo sự khác biệt trong việc ứng dụng chủ thuyết Marxist-Leninism (“xét lại” v/s “giáo điều”)–dù trên thực chất là sự tranh chấp quyền lợi và lãnh thổ trong bối cảnh “cuộc cách mạng văn hóa,” cùng sự tranh giành quyền lực giữa hai phe “Tứ Nhân Bang” và “cải cách” do Đặng Tiểu Bình cầm đầu tại Trung Nam Hải.(4)

Về phương diện chính trị, phong trào phản chiến ngày một lan tràn. Mặc dầu tổng số lính Mỹ tử trận suốt 8 năm tham chiến không bằng số người chết vì tai nạn lưu thông hàng năm trên nước Mỹ, màn ảnh truyền hình đã mang vào hàng chục triệu phòng khách Mỹ mỗi sáng, mỗi tối những hình ảnh ghê rợn của chiến tranh. Cuộc sống cô lập, xa rời thế giới của dân chúng Mỹ bị xáo trộn, đưa đến những phân hóa khó tránh. Các cơ quan tuyên truyền tinh vi của Cộng sản cũng tìm đủ cách khai thác. Bởi thế, phong trào phản chiến bùng lên, đưa bạo lực và rối loạn vào các khuôn viên Đại học–nơi giới sinh viên luôn bị ám ảnh của lệnh nhập ngũ. Phong trào đòi nhân quyền cho dân da đen của Mục sư Martin Luther King cũng rải rắc bạo lực trên đường phố các thị xã lớn. (5)

Về phương diện quân sự, viễn ảnh chiến thắng ngoài tầm tay. Vì thế chiến lược hoàn cầu cũng như khu vực, người Mỹ tự trói mình trong cuộc chiến tranh giới hạn để duy trì hai nước Việt Nam. Nỗ lực của người Mỹ chỉ có thể đạt được với hai điều kiện–xây dựng một chế độ vững mạnh ở miền Nam; và, đập nát tham vọng nhất thống đất nước của Hà Nội. Nhưng, vì nhiều lý do, cả hai mục đích trên đều không đạt được. Đảng Lao Động (Cộng Sản) Việt Nam [LĐVN] lì lợm tiếp tục cuộc chiến, bất kể sự thiệt hại nặng nề về nhân mạng và vật chất, hay cắt đất cắt lãnh hải cho Trung Cộng để xin viện trợ. Trong khi đó, VNCH như đứa trẻ bệnh hoạn từ thuở sơ sinh, ngày càng tùy thuộc vào viện trợ Mỹ, không thể đứng vững hai chân. Phương cách duy nhất là triệt thoái. Vấn đề chỉ còn là cách nào.

Trên bình diện quốc tế, các nước Tây Âu cực lực chống đối sự can thiệp của Mỹ vào Việt Nam. Charles de Gaulle (1890-1970)–người đáng lẽ phải bị truy tố ra truớc Tòa án Hình sự Quốc tế vì đã châm ngòi cuộc chiến Đông Dương từ năm 1944-1945 với ảo vọng tìm lại cho đế quốc Pháp vinh quang của thời tiền chiến, khi thế giới còn nỗ lực biện minh cho chính sách thực dân như một sứ mệnh khai hoá(6)–không ngừng kêu gọi trung lập hoá miền Nam và yêu cầu Mỹ rút quân.

Bri-tên, một đồng minh ruột thịt của Mỹ, hạt nhân của chủ nghĩa Anglo-Saxonism, cũng miễn cưỡng trong việc ủng hộ sự tham chiến của Mỹ; và trên thực tế, từ năm 1965, đóng góp không nhỏ trong nỗ lực tìm giải pháp chính trị. Ngay Vatican–tử thù của chủ thuyết Marxist-Leninism, nguồn yểm trợ tinh thần và nhân vật lực bản xứ cho chiến lược hoàn cầu chống Cộng từ cuối thập niên 1920–cũng “cầu nguyện cho hoà bình.” (7)

Trong khi đó, biến loạn lan tràn tới Trung Đông–kho “vàng đen” của thế giới; nguồn gốc của nhiều biến động vào cuối thế kỷ XX–nơi Mỹ có một đồng minh tí hon, nhưng được sự ủng hộ nhiệt thành của các cộng đồng Jews [Do Thái] giàu có và chi phối giới truyền thông cũng như các khuôn viên Đại học Mỹ nói riêng, và Tây phương nói chung. Ngay tại châu Mỹ, các phong trào vũ trang tả phái cũng nổi lên ở một số quốc gia thân Mỹ.

Chính phủ Richard M. Nixon (1969-1974) là chính phủ Mỹ đầu tiên phải trực diện điều mệnh danh là “hội chứng Việt Nam” [the Vietnam Syndrome]–tức sự miễn cưỡng của dân Mỹ trong việc thủ diễn một vai trò chủ động trên thế giới. Nixon cùng các cộng sự viên muốn giải kết, triệt thoái khỏi Việt Nam, nhưng vẫn hy vọng đạt được hòa bình trong thế mạnh. Đây là bước xuống thang đáng kể so với hy vọng “chiến thắng” của John F. Kennedy hay Lyndon B. Johnson. Nó dựa trên thực tế mới của thế giới, nhưng vẫn hy vọng duy trì được uy tín [credibility] của Mỹ.( 8)

Để thực hiện chính sách giải kết, Nixon–bên cạnh những nỗ lực ngoại giao chân vạc Mỹ-Nga-Trung Cộng–phát động kế hoạch Việt-Nam-hóa chiến tranh. Ý niệm căn bản chẳng có gì lạ, chỉ là bước phải có tiếp theo những gì đã thực hiện từ năm 1950-1951: Jean de Lattre de Tassigny khai sinh ra Quân Đội QGVN–rồi, cố vấn Mỹ huấn luyện và tái tổ chức–và, cuối cùng, Westmoreland rồi Abrams cận đại hóa nó.( 9)

Phi cơ, tàu biển, tăng pháo được chở tới Nam Việt Nam cùng hàng tỉ Mỹ kim quân trang, quân dụng, đạn dược. Sĩ quan, Hạ sĩ quan và binh sĩ được đào tạo tại miền Nam, hay gửi sang Okinawa, Philippines, Malaya, hay Mỹ tu nghiệp. Trên lý thuyết, với hơn triệu tay súng thuộc đủ các quân binh chủng, và cảnh sát, an ninh, Quân lực VNCH phải đủ sức cầm cự ít nữa cũng 5, 10 năm sau ngày Mỹ “rút lui trong danh dự.”

Thực tế, đạo quân khổng lồ này hoàn toàn lệ thuộc vào viện trợ Mỹ, đạn dược, xăng nhớt Mỹ–và, ngay cả kỹ thuật tác chiến Mỹ. Mặc dù sau 30 năm chiến tranh Quân lực VNCH đã có một số cán bộ trung cấp cừ khôi, khả năng Nam quân tùy thuộc vào tiếp vận và hỏa lực yểm trợ. Đáng sợ hơn nữa–và đó là mầm mống của đại họa–VNCH không có lãnh đạo. Người được Mỹ đưa lên cầm quyền năm 1967 và ra sức bảo vệ ở Hội Nghị Paris, chỉ là một loại đánh thuê không hơn, không kém–giống như cái khởi đầu binh nghiệp thông ngôn Pháp chưa xa. Chính sách, từ lớn xuống bé, đều do Tòa Đại sứ, cơ quan MACV và, sau này, cơ quan DAO, hoặc USAID soạn thảo, đôn đốc thực hiện. Đại sứ Ellsworth Bunker và rồi Graham Martin chẳng là gì khác hơn những “Toàn quyền” một thời chưa xa–dù VNCH không ngừng tự xưng là Đồng Minh của Mỹ.

Để chính sách giải kết có được cái vẻ ngoài “danh dự,” ngày 27/1/1973, Mỹ và “ba phe” lâm chiến tại Việt Nam–qua những cuộc mật đàm giữa Kissinger và Lê Đức Thọ, với sự tiếp tay của Nga và Trung Cộng–chính thức ký hai văn bản Hiệp ước chấm dứt chiến tranh và vãn hồi hòa bình Paris. Năm tháng sau, khi những cuộc bắn giết để “bảo vệ hoà bình” ngày một gia tăng, Mỹ và Hà Nội lại ra thêm hai tuyên cáo La Celle St. Cloud. Những cuộc thảo luận song phương giữa những người điếc vẫn tiếp diễn ở Sài Gòn và Paris cho tới năm 1975. Về phần Mỹ, ít nữa với cách suy nghĩ của Kissinger, và những người phản chiến, vậy đã đủ. Sự triệt thoái của Mỹ rất êm thấm. Một số tù binh Mỹ được trao trả. Bạch Cung không còn phải bận tâm vì những cuộc biểu tình phản đối chiến tranh nữa. Chế độ Thiệu-Hương-Khiêm vẫn tại chức ngày người lính Mỹ và tù binh Mỹ cuối cùng rời Việt Nam. Cá nhân Kissinger còn được Hàn Lâm Viện Sweden [Thụy Điển] trao tặng nửa giải thưởng Nobel Hòa Bình, và vào cuối tháng 8/1973, được Nixon mời làm Bộ Trưởng Ngoại Giao–một thành đạt hiếm người tị nạn thực hiện được trong lịch sử Mỹ. Dù trên thực tế Kissinger và chủ thuyết Nixon chỉ giúp Nam Việt Nam không bị bỏ rơi đột ngột như một củ khoai nóng, bất chấp hậu quả, nhưng giai đoạn khởi đầu của đoạn kết đã điểm. Mỹ không thắng, không đạt được mục tiêu mong muốn, nhưng cũng chẳng hề bại trận.

Nhưng cái giá mà người Việt phải trả–Bắc cũng như Nam–quá đắt. Hơn 40 năm tuổi đảng, vào tù ra khám hay ăn bờ, ngủ bụi hàng chục năm, những Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng, Lê Đức Thọ, Phạm Hùng v.. v… khó thể khoanh tay nhìn miền Nam, miếng mồi ngon đầy quyến rũ. Nên dù Oat-shinh-tân đưa ra món lợi viện trợ tái thiết hậu chiến lên tới 3.25 tỉ Mỹ Kim, và Mat-scơ-va cũng như Bắc Kinh không ngừng khuyên răn nên nghỉ ngơi, đình chiến ít năm, từ tháng 7/1973, Lê Duẩn vẫn khua chiêng, gõ trống cho “bạo lực cách mạng,” quyết dùng họng súng để nhất thống hai miền. Phần Thiệu cũng biết ngày tàn đã điểm. Hệ thống kinh doanh hoạt động mạnh mẽ hơn, vơ vét lần cuối. Để che dấu việc làm bất chính của vợ chồng, họ hàng, phe đảng mình, Thiệu cho lệnh văn công lập đi lập lại “lập trường nhất định bốn không” của “Nguyễn Tổng Thống”–những lời dối trá trơ trẽn. Chỉ có đám đông thầm lặng–những nông dân, công nhân, công chức và quân nhân thấp cổ, bé họng, mà cuộc sống chẳng khác gì cảnh huống những người đứng giữa giòng nước luôn luôn ngập đến cổ, chỉ một đợt sóng gợn nho nhỏ đủ sặc sụa nếu chưa chết đuối–vẫn phải nai lưng chịu đựng hậu quả của tham vọng các tập đoàn cai thầu bản xứ. Tóm lại, chiến thắng quân sự của CSBV ngày 30/4/1975 là hậu quả dĩ nhiên sau khi Mỹ đã tìm được “hoà bình trong danh dự.”

Về phương diện quân sự, quân đội Mỹ có thể truy diệt quân CSBV tại bất cứ nơi nào các cấp chỉ huy muốn. Với vũ khí tối tân, hỏa lực hùng hậu–nếu tin được Hà Nội–Mỹ khiến 300,000 bộ đội CSBV mất tích, và khoảng 1 triệu người chết hoặc thương tật. Tuy nhiên, đạo quân viễn chinh Mỹ khó thể mang lại chiến thắng trong một thời gan ngắn. Và dư luận Mỹ không có sự kiên nhẫn ấy.

Cuộc chiến Việt Nam, nếu VNCH muốn có hy vọng chiến thắng–song song với sự tiếp tay của Liên Bang Mỹ–phải được phát động trên bốn mặt trận cơ bản chính trị, kinh tế, văn hóa-xã hội, và quân sự. 

Về phương diện chính trị, mẫu số chung của VNCH là chống Cộng. Nhưng chống Cộng chỉ là lập trường và chính sách, chưa bao giờ được hỗ trợ bằng một học thuyết có đủ chiều sâu triết lý. Không ít người hùng hổ la hét đòi chống Cộng, dù họ chẳng biết Cộng Sản là gì. Giống như những con bò tót lao mình về phía mà bất cứ ai gọi là Cộng Sản. (Chính sách thông tin và giáo dục nhồi sọ tại miền Nam là một lý do). Hơn nữa, “Cộng Sản” ở Việt Nam thực ra chưa là Cộng Sản chính danh–nó là một niềm tin vào bình đẳng kinh tế và xã hội, lồng khung trong cuộc chiến chống thực dân Pháp và tinh thần bài ngoại. Lãnh đạo tổ chức Cộng Sản đa số thuộc giới tiểu trí thức xuất thân tiểu tư sản, phú nông hoặc quan lại cấp thấp bản xứ. Nếu xét kỹ lý lịch ba đời các lãnh đạo và cán bộ Cộng Sản trung cấp trở lên, tất cả đều lôi thôi, có vấn đề. Cha Hồ Chí Minh, tức Phó bảng Nguyễn Sanh Huy, làm tri huyện Bình Khê (Bình Định, năm 1908-1909), trước khi bị cách chức, tống giam vì “nghiện rượu và tàn ác với dân chúng.” Cha Phạm Văn Đồng làm quan tại Huế, và gửi Đồng ra Hà Nội học trường Bưởi, chờ ngày thi Tú Tài. Võ [Nguyên] Giáp, thuộc gia đình “phú nông,” vừa dạy học, làm báo, vừa ghi danh học trường Luật. Đặng Xuân Khu, cha thuộc thành phần phú nông, bị trục xuất khỏi trường Cao Đẳng thương mại sau khi tham dự những cuộc bãi khóa xin ân xá cho Phan Bội Châu, làm quốc tang cho Phan Châu Trinh, và rồi gia nhập Đảng CSĐD năm 1929. (10)

Đa số những người yêu nước chân chính bị đặt vào thế tấn thoái lưỡng nan–không thể sống chung với những kẻ chẳng cần dấu diếm ý định bắt họ phải ngừng hiện hữu, và thẳng tay tàn sát, cướp đoạt công lao đánh Pháp giành độc lập cùng tài sản ruộng vườn của họ; nhưng phía bên này, phe ta, nhá nhem đủ loại bóng tối và sức ly tâm. Chiêu bài “quốc gia” mà người Pháp, và rồi “quốc gia thực sự” người Mỹ lo xây dựng, bảo vệ chỉ có hình thức. Chế độ QGVN của Bảo Đại (1949-1955) không có được sự độc lập và chủ quyền tối thiết. Mãi tới giữa năm 1953, khi đại đa số quốc dân Pháp đã đòi hỏi chấm dứt cuộc chiến tranh đắt giá, Paris mới cho phép “kiện toàn” nền độc lập của QGVN, và phải tới ngày 4/6/1954, Hiệp ước Kiện toàn Độc lập mới được ký tắt giữa Thủ tướng Joseph Daniel và Bửu Lộc, để thay thế Hiệp ước Elysée (8/3/1949) và Pau (1950). Đây là nỗi khổ tâm và bối rối cho rất nhiều người không Cộng Sản. Họ chẳng có lựa chọn nào khác hơn là cố gắng vun đắp cho chế độ, chống lại chiến thắng của Cộng Sản, trong khả năng hạn hẹp của mình, với hy vọng ngày càng biến thành ảo vọng là chế độ sẽ cải thiện, hiệu lực hơn. Nhưng những cá nhân và tổ chức yêu nước chân chính bị loại sang bên lề lịch sử, với những danh hiệu như trùm chăn, hay kinh niên bất mãn. Từ năm 1946, phất cao ngọn cờ chống Cộng tại các dinh thự, công viên, nhà hát lớn nhỏ là thành phần cựu công chức, quan lại, quân nhân của thực dân Pháp, với những chồng hồ sơ bảo đảm sự trung thành của họ với mẫu quốc, cùng những kẻ thời cơ và hủ Tây.

Thêm vào đó là những tổ chức tôn giáo–do chỉ thị từ ngoài nước như Ki-tô giáo từ cuối thập niên 1920, hoặc do hận thù cá nhân như Hòa Hảo sau cái chết của Giáo chủ Huỳnh Phú Sổ (1919-1947), hay do nhiều lý do cá biệt như Cao Đài. Nhiều tăng sĩ Phật giáo như Hòa thượng Tố Liên, Tâm Châu, Quảng Độ, v.. v… từng là nạn nhân của “bạo lực cách mạng”–tức những hành vi chôn sống, cắt cổ mổ bụng, khoét mắt, cắt lưỡi man rợ những người không theo Cộng Sản, cùng các nhà tu hành. Chiêu bài sính dụng nhất cho các nhóm này là lấy niềm tin tôn giáo (tín ngưỡng) chống lại chủ thuyết vô thần. Từ một mắt nhìn nào đó, lập trường này có căn bản vững chắc và khả năng thuyết phục. Karl Marx và đệ tử công khai ví tôn giáo như thuốc phiện; và ngay chính Hồ Chí Minh đã tuyên bố tại Mat-scơ-va năm 1923-1924 là tại Việt Nam vừa có thuốc phiện thực sự, vừa có Ki-tô giáo (thuốc phiện tinh thần), cùng với tư bản và thực dân đóng góp vào việc “câu rút” giới nông dân nghèo khổ.(11)

Yếu tố niềm tin tôn giáo này thủ diễn vai trò quan trọng trong cuộc chiến Việt Nam; và hầu như chẳng ai dám giải thích cho họ rằng Cộng Sản tự nó cũng là một thứ học thuyết mang tính cách tôn giáo–nhưng khuyết điểm và sự ham hố của Marx là hứa hẹn một thiên đường trong tương lai trên mặt đất, một điều bất khả, và cũng chẳng ai dám đoan chắc chuyện gì đã xảy ra ở cái gọi là cộng đồng xã hội nguyên thủy mà Marx dùng làm tiền đề. Tôn giáo thì khôn ngoan hơn, rao giảng về tương lai ở cõi chết, một điều không ai có thể tri nghiệm để cổ võ hay bài bác. (12)

Hiệp ước Geneva 20-21/7/1954–qui định hai vùng tập trung với vĩ tuyến 17 làm ranh giới ngưng bắn trong vòng 2 năm–đánh dấu một khúc quanh mới của cuộc chiến. Người Mỹ sử dụng Ngô Đình Diệm (1897-1963) để xây dựng miền Nam Việt Nam thành một tiền đồn chống Cộng hầu “bao vây, ngăn chặn” [containment] sự bành trướng của chủ thuyết Cộng Sản xuống Đông Nam Á, vựa lúa, kho dầu hỏa cùng các tài nguyên thiên nhiên khác như thiếc, kẽm, cao-su v.. v… cần thiết cho các nước kỹ-nghệ-hoá ở phương Tây. Từ ngày 7/7/1955, sau khi đã nhất thống miền Nam qua việc đánh dẹp ba sứ quân Bình Xuyên, Cao Đài, Hòa Hảo cùng các đảng phái, Diệm biến chống Cộng thành ý thức hệ và quốc sách của miền Nam. Ngô Đình Nhu, với sự tiếp tay của vài linh mục Ki-tô, đưa ra thuyết “Nhân Vị”–một thứ chow mein, gồm những mảnh vụn của thuyết “personalisme” của Emmanuel Mounier, đạo đức học Ki-tô giáo, Khổng giáo, và nhất là tàn tích “phong trào cách mạng quốc gia” dưới thời Toàn quyền Jean Decoux (1940-1945).

Qua thời Đệ Nhị Cộng Hòa (1967-1975), vẫn chưa có lý thuyết gia nhà nước nào xuất hiện, nên đôi người lục lọi mớ cổ thi Trung Hoa để tìm cho truyền thống dân tộc một lớp son triết lý “vơ vào,” kiểu Khổng học hay Nho giáo vốn là của người Việt. Có người còn luẩn quẩn, lạc đường với những câu trừu tượng “một mà trăm, trăm mà một” của bộ sách bói toán mang tên Kinh Dịch. Niềm tin phổ biến nhất, là phong thủy, tử vi, tướng số. Tướng cầm quân xuất trận phải nhờ “chiêm tinh gia” khuyên bảo giờ tốt, giờ xấu, hay hướng xuất quân. Bàn ghế, cửa sổ, cửa ra vào ở các văn phòng các cấp chỉ huy phải đặt đúng hướng “địa lý”.

Người Mỹ và giai tầng cầm quyền chỉ chú tâm vào thực dụng–tức săn đuổi, truy đánh các đơn vị Cộng Sản, nâng cao hiệu lực và tinh thần đạo quân sấp sỉ một triệu người, cùng nỗ lực bình định nông thôn. Để có lý do duy trì đạo quân khổng lồ trên, người Mỹ rao giảng về chế độ dân chủ, tự do kiểu tư sản. Nam Việt Nam lại có Quốc Hội, Hội Đồng tỉnh và thị xã, hội đồng xã, thôn, Giám sát viện. Hành pháp trung ương thì có Tổng thống, Phó Tổng thống, Thủ tướng, v.. v… Nhưng sau cái hình thức dân chủ vàng mã phân quyền giữa lập pháp, hành pháp và tư pháp, Thiệu khẳng định–”Hành pháp và lập pháp phải là một.”

Nên chẳng có gì ngạc nhiên khi ngày 1-2/10/1967, Chuẩn tướng Nguyễn Ngọc Loan cho 2 biệt đoàn Cảnh Sát Dã Chiến bao vây Quốc Hội thảo luận việc phê chuẩn kết quả cuộc bầu cử Tổng thống 3/9/1967, “chuẩn bị hốt trọn ổ;” hay, lực lượng an ninh khiêng bắt một Dân biểu, cựu tỉnh trưởng khỏi Quốc Hội như một con vật bị bệnh truyền nhiễm. Đa số Nghị sĩ, Dân biểu biến thành “gia nô” của chính quyền. Phần đệ tam quyền, tức Tư pháp, trở thành công cụ, nha trảo của hành pháp từ lâu. Pháp đình và mọi thứ luật, kể cả bản Hiến pháp được Johnson phê chuẩn trước khi ban hành ngày 1/4/1967, chỉ được sử dụng để trừng trị những ai chống đối chế độ, hay người nghèo khổ. Những tội phạm chiến tranh như Đặng Sỹ, Nguyễn Mâu, Dương Văn Hiếu, Nguyễn Thiện Dzai được giảm án và phóng thích vì nhu cầu chính trị–trước áp lực Ki-tô giáo–mà không dựa theo một căn bản pháp lý nào. Tóm lại, người ta sử dụng độc tài giáo phiệt, rồi quân phiệt chống lại độc tài Cộng Sản–dùng dịch tả chống dịch hạch. (Tướng Edward Lansdale từng đưa ra nhận xét: “Từ khởi thủy, muốn tạo ra một chế độ quân phiệt, cách nào trách nó không dân chủ!“)

Ngay đến sinh viên dự bị Triết học và Chính trị học cũng hiểu rằng sức mạnh căn bản của Cộng sản là tổ chức. Lenin từng nói: “Tôi có ba bảo bối: Tổ chức-tổ chức-và tổ chức.” Dĩ nhiên, để chống Cộng, VNCH cũng có nhiều tổ chức. Nhưng căn bản nhất vẫn là hai cơ quan tuyên truyền và an ninh-cảnh sát. Dưới sự bảo trợ và huấn luyện của chuyên viên Mỹ, dưới thời Đệ nhị Cộng Hòa, hai cơ quan trên tiến bộ đáng kể so với thời Ngô Đình Diệm. Mặc dù cán bộ Cần Lao-Nhân Vị được khai phục, nhưng hệ thống công an, mật vụ nới rộng cho những thành phần xã hội khác. Người Mỹ tận dụng được một số hồi chính viên vào mặt trận đấu tranh chính trị. Hàng ngàn cán bộ chiêu hồi vô danh trong các toán bình định nông thôn (PRU) và chiến dịch Phượng Hoàng (Phoenix) do cơ quan CIA chỉ huy một thời làm bừng lên chút sinh khí trong mặt trận đấu tranh chính trị.

Sự cải thiện các phương tiện thông tin–đặc biệt là truyền thanh và rồi truyền hình–cũng đóng góp vào quốc sách chống Cộng. Những chương trình Dạ Lan của Đài Phát thanh Quân đội hay Thẩm Thúy Hằng của Đài Sài Gòn–dù không thể so sánh với các đài Mẹ Việt Nam, Gươm Thiêng Cứu Quốc v.. v… do cơ quan Thông tin Mỹ điều khiển–quyến rũ hàng triệu thính giả. Các toán văn nghệ lưu động của Cục Chính Huấn cũng mang lại nhiều niềm vui cho các binh sĩ tiền đồn và đặc biệt là cấp chỉ huy hào hoa. Nhưng đó chỉ là một vài cánh én, không đủ mang đến mùa Xuân. Đại bộ phận đấu tranh chính trị thường nặng về hình thức, và chịu ảnh hưởng nặng nề của guồng máy thư lại cùng tình cảm cá nhân. Bởi vậy, trên giấy tờ, việc tổ chức khá chi li, kỹ càng, nhưng thực tế chỉ là những bộ xương khô.

Về nhân sự, càng nhiều vấn nạn. Ở thượng tầng, không có một nhân vật nào đủ tài đức thu phục nhân tâm. Trong hai năm 1954-1955, người ta đã tưởng Ngô Đình Diệm có thể là một đáp số. Nhưng chỉ sau ít năm cầm quyền, “Winston Churchill của Đông Nam Á Châu” bộc lộ dần bản chất–Diệm chỉ có thể là một Tuần vũ tốt hay thanh liêm, chưa đủ tài đức cầm quyền một nước, đặc biệt là một tiền đồn thế giới tự do. Trong khi thói quen quan lại Ki-tô thuộc địa khiến anh em Diệm bắt báo chí ngoại quốc phải gọi mình là “Ngô tổng thống” hay “Ngô cố vấn,” và cơ quan tuyên truyền trong nước tung hô “muôn năm,”xưng tụng như “cứu tinh,”“ngựa” [horses] mà Mỹ nhiều hơn một lần cứu xét việc thay thế. Diệm lại chỉ tin tưởng và trọng dụng những người đồng đạo và cùng quê miền Trung, nhất là Huế và Quảng Bình.văn thư, tài liệu chính thức Mỹ cho thấy Diệm chỉ như một thứ

Những người thay thế Diệm, dù trẻ trung hơn, càng yếu kém hơn nữa. Tất cả đều lên nắm quyền theo sự yêu thích của các Đại sứ hay những nhân vật quyền thế Mỹ; nhưng không có được cái uy thế cá nhân của Diệm. Đại sứ Taylor từng gọi nhóm “Young Turks” (Thiệu, Kỳ, Thi, Cang) vào Tòa Đại sứ, mắng nhiếc thậm tệ về hung tính ưa đảo chính, đi ngược lại những lời dặn dò của Taylor là cần ổn định chính trị bằng mọi giá. Tổng thống Johnson muốn Taylor có được “our boy” để điều khiển guồng máy chính quyền hầu như không hiện hữu trong giai đoạn 1963-1967. Trong khi Kỳ thích tạo hình ảnh một cậu chăn bò Trung cổ Mỹ–với hai súng Colt bá ngà trễ xuống ngang hông, ham đàn bà, cò bạc, rượu, và sử dụng bạo lực–Thiệu cũng thích gái và quyền lực, nhưng ưa nói chuyện tiếu lâm và thâm trầm, trí trá hơn. Hành động không gửi đại diện tới hội nghị Paris trước ngày bầu cử Tổng thống năm 1968 để lấy bớt gió của liên danh Humphrey chỉ là một trong những yếu tố khiến Thứ trưởng Ngoại Giao Bill Bundy gọi Thiệu-Kỳ là “cặn bã” [bottom of the barrel, absolutely the bottom of the barrel.]. Kissinger, người tận dụng mọi nỗ lực để duy trì chế độ Thiệu sau ngày ký Hiệp ước Paris 1973, thường gọi Thiệu là “son of a bitch.” (13) Nhận xét của một chuyên viên Pháp, về tương lai miền Nam Việt Nam vào giữa thập niên 1950, quả đã được chứng thực bằng giòng lịch sử–người có khả năng lãnh đạo một miền Nam Việt Nam chống Cộng “hoặc đã chết, đang còn ở tuổi ấu thơ, hay chưa sinh ra đời.” Cao Văn Viên–một trong những người tích cực đóng góp vào sự yếu đuối chính trị cũng như quân sự của miền Nam–cũng phải thú nhận sự trống vắng lãnh đạo này.

Những nhân vật phụ diễn trên sân khấu chính trị miền Nam cũng đều là tai nạn của lịch sử. Họ được đưa đẩy vào trung tâm quyền lực–một thứ quyền lực giới hạn, dưới sự kiểm soát của viên chức Mỹ–chỉ do thời cơ đưa đẩy, dài theo tiến trình duy trì một đạo quân chống Cộng cho tới năm 1973. Bởi thế, khó thấy một “chính khách” có những lời lẽ lịch sự về đối thủ hay người đương thời của mình. Vì lập trường của Mỹ ở thời điểm này là “chống Cộng, chống trung lập,” các lãnh tụ tìm đủ cách gán ép hai thứ mũ trên cho đồng đội hoặc người đương thời. Khi muốn loại bỏ Tướng Nguyễn Chánh Thi, chẳng hạn, Nguyễn Cao Kỳ mật báo với Đại sứ Lodge là Thi “thân Cộng,” “trung lập.” Vì Thi nổi tiếng trong sạch, Kỳ tố cáo Thi có tinh thần sứ quân, muốn tách biệt Vùng I Chiến thuật khỏi chính phủ trung ương. Ngày 1/4/1966, khi Trung tướng Phạm Xuân Chiểu cùng Đại tá Phạm Văn Liễu ra Huế, đưa thư riêng của Kỳ, Thi đã vò nát, ném xuống đất, không thèm nghe hay biết những gì về “tên lừa thày phản bội.” Trần Thiện Khiêm mật báo với Chánh sở CIA Sài Gòn Peer de Silva rằng Nguyễn Khánh đã trở thành cực kỳ hoài nghi, nhìn đâu cũng thấy phản trắc và âm mưu đảo chính. Nguyễn Khánh bịa đặt ra chiếc cặp da có 1 triệu Mỹ Kim của Ngô Đình Diệm mà “Big” Minh dấu đi sau ngày 2/11/1963. Trần Văn Hương, Trần Văn Đỗ, Nguyễn Tôn Hoàn, Phan Huy Quát cũng chẳng có bao lăm tiết tháo. Hương ngợi ca Nixon như“cứu tinh của miền Nam Việt Nam,” trong khi gọi những lãnh tụ Phật Giáo như Trí Quang và Thiện Minh là “những tên trọc đầu và trò khỉ do chúng bầy ra.” Ở lúc chợ chiều của miền Nam, Hương còn bám lấy những bè lục bình “hợp hiến,” làm Tổng thống cho bằng được một tuần. Rồi trả quyền cho Quốc Hội, để Dương Văn Minh và Vũ Văn Mẫu thực thi việc chẳng đặng đừng–đầu hàng không điều kiện. (14) Phan Huy Quát xin Mỹ đi xa hơn vị trí một cố vấn, thủ diễn vai trò người anh lớn, hướng dẫn em dại. Nhưng những tội phạm chính trong bi kịch cuối cùng của miền Nam–tức Thiệu, Khiêm, Viên, Kỳ–ung dung chạy ra hải ngoại với những tài sản khổng lồ. Phần Trần Văn Đôn–một tình báo viên chuyên nghiệp của Mỹ và Pháp từ năm 1945–còn nuôi tham vọng Thủ tướng/Tổng thống, với chủ mới là Giscard d’Estaing. Nhào nặn và tô vẽ cho họ thành “lãnh tụ” miền Nam là trò chơi tàn nhẫn của những người quản lý cuộc chiến.

 

Trong khi đó, những thế lực ly tâm tiếp tục xé nát cấu trúc xã hội. Ki-tô giáo quyết duy trì ưu quyền bằng mọi giá–chống đối Phật Giáo ở bất cứ cơ hội và hoàn cảnh nào–đôi khi “không cần trả tiền,” như Nguyễn Bảo Trị cam đoan với nhân viên Mỹ. “Trí thức” Ki-tô không mệt mỏi trong nỗ lực hoài Ngô, tìm đủ mánh khoé bẻ cong lịch sử để hạ nhục những người đã góp công lật đổ và trừng trị tội bội phản, cùng những hình tội theo công pháp quốc tế như diệt chủng [genocide] và tội ác chiến tranh [war crimes], hay vi phạm nhân quyền [crimes against humanity crimes against Human rights] của anh em Diệm-Nhu. Tinh thần kỳ thị chủng tộc giữa người Kinh và người Thượng, giữa người Việt và người “Miên” [Khmer], tinh thần địa phương, sự cách biệt giữa dân và quân sự. Đó là chưa nói đến tính thời cơ, vụ lợi, quốc sỉ tham nhũng và hối mại quyền thế rất tự nhiên, sinh sôi nảy nở đan rễ hàng ngàn năm trong những xã hội mà điều kiện kinh tế quá nghèo nàn. Thêm nữa, không thể không đề cập hiện tượng ác tính bệnh hoạn của một thiểu số người có chức, có quyền hay cá nhân phục vụ trong ngành an ninh hay cảnh sát. Việc Chuẩn tướng Loan hạ sát Phạm Ngọc Thảo tại Cục ANQĐ, cho người ám sát Thượng tọa Thiện Minh ngày 1/6/1966, hay bắn chết một sĩ quan đặc công CSBV, khi hai tay tù binh bị trói về phía sau trước chùa Ấn Quang trong dịp Mậu Thân 1968, tự nó giải thích tại sao Chỉ huy trưởng Cảnh sát Thừa Thiên đủ ác tâm sử dụng một gái mãi dâm bị bệnh phong tình để lấy khẩu cung một cán bộ quân báo CS nằm vùng.(15) Và nhiều nữa. 

Bởi thế, chế độ Thiệu–mà có người gọi là “Diệm mà không có Diệm”–vẫn tiếp tục biến chứng của một bệnh nhân ung thư máu. Thiệu-Khiêm-Viên chỉ ngày đêm lo củng cố uy quyền và lợi nhuận bản thân cùng họ hàng, thân thuộc. Phe đảng trở thành phương châm cai trị, với tham nhũng làm sức nối kết. Cả guồng máy chống Cộng ở miền Nam chẳng khác gì một thứ siêu thị–người ta mua bán bất cứ thứ gì có thể sinh lợi, từ chức tước tới tấm giấy hoãn dịch. Từ hồ sơ mật an ninh quốc phòng tới đạn dược, thuốc men, phế vật chiến tranh, từ đầu đường, góc phố tới pháp đình, nha sở, dinh thự.

Cái khôn khéo của Thiệu là biết đổi chác. Thiệu chỉ chú ý tới và thu thuế từ những chức vụ Tỉnh trưởng hay Tư lệnh Sư đoàn trở lên. Còn lại, giao cho các thuộc hạ thân tín hay “đồng minh” như Thủ tướng Khiêm, hay Tổng Tham Mưu trưởng Viên, v.. v… Nhờ loại sức mạnh kiểu tội-ác-có-tổ-chức này, Thiệu nắm vững được quân đội, hoặc đúng hơn, cấp chỉ huy quân đội, xương sống của chế độ miền Nam. Vì hầu hết thanh niên đều ở trong binh ngũ–do hiệu lực của lệnh tổng động viên 1968–nắm được quân đội là có sức mạnh. Đối với các đảng phái, giáo phái v.. v… Thiệu sử dụng đúng nguyên tắc mà cố vấn thân cận của Thiệu–Vũ Ngọc Nhạ, trưởng lưới cán bộ tình báo chiến lược A. 22 của Cộng sản ở Sài Gòn–khuyên bảo: lấy lợi nhuận, danh vọng mà mua chuộc lòng người.

Lãnh đạo ấy, nếu muốn gọi thế, là thứ lãnh đạo bệnh hoạn. Cuộc đấu tranh chính trị với Cộng sản trở thành việc làm vô vọng của những đứa trẻ xây lâu đài trên bãi cát. Bao kế hoạch diệt Cộng do người Mỹ đề nghị và trợ cấp–từ xây dựng tới bình định và phát triển nông thôn–đều chỉ có hình thức, và đôi khi đưa tới những kết quả trái ngược hẳn với mong ước lúc đầu. Nội tuyến Cộng sản xâm nhập mọi cơ cấu chính quyền–ngay sát nách Thiệu, và ngay trong Dinh Độc Lập, nói chi những tổ chức công nhân, sinh viên v.. v… (16)

Đã có lúc, người ta tự hỏi phải chăng chính Thiệu là cán bộ tình báo chiến lược của Cộng sản? (Cũng như ít ai ngờ, trong hai năm 1962-1963, hai “phiến Cộng” nguy hiểm nhất miền Nam nằm tại Dinh Gia Long, tức Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu–nên Đại sứ Lodge và Tổng thống Kennedy đã phải loại trừ) (17).

Về phương diện kinh tế, VNCH hoàn toàn lệ thuộc vào ngoại viện; và nguồn ngoại viện quan trọng nhất là Mỹ. Hai kế hoạch kinh tế được quảng cáo nhiều nhất gồm có việc lấy giống lúa mới “Thần Nông” và chương trình “Người Cày Có Ruộng” (của Cao Văn Thân). Thực ra, cả hai kế hoạch trên, giống như bất cứ kế hoạch nào ở miền Nam, đều do cố vấn Mỹ soạn thảo và chi tiền. Hơn nữa, cả hai kế hoạch đều có nhược điểm. Giống lúa mới Thần Nông cần phân bón–phải nhập cảng. “Người Cày Có Ruộng” cũng chỉ đủ mục đích tuyên truyền–chủ điền không sử dụng tiền bán ruộng đất “từ trời rơi xuống” để đầu tư vào nền kỹ nghệ phôi thai, hoặc chỉ đầu tư tượng trưng trong nước. Nhờ hệ thống tham nhũng, họ chuyển phần lớn tiền bán ruộng cho chính phủ ra ngoại quốc. Số vốn để phát triển kỹ nghệ nhẹ trong nước không đạt tiêu chuẩn. Số ruộng phát cho người cày không đủ, chỉ có tính cách tượng trưng. Thêm vào đó, chiến tranh vẫn tiếp diễn. Vùng “oanh kích tự do” [Free Fire Zones] ngày một loang rộng. Diện tích ruộng đất bị bỏ hoang ngày một tăng. Có ruộng, nhưng thiếu người cày vì số dân trực tiếp sản xuất ở nông thôn giảm xuống. Chỉ còn lại nền kinh tế tiêu thụ–và, cách nào đó, một nền công nghiệp nhẹ mới chập chững–ở các đô thị, đặc biệt là Sài Gòn. Tuy nhiên, đại đa số các công ty do người Việt gốc Hoa làm chủ; hoặc, chỉ là đại diện các đại công ty của Mỹ, Nhật, Pháp v.. v… Sinh hoạt sản xuất, do nhu cầu thực tế và tình trạng chiến tranh, bị hạn hẹp. Mục đích chính của các công ty chỉ nhằm thu vét càng nhiều càng tốt số ngoại tệ Mỹ kim hàng năm của Mỹ lọt vào tới Việt Nam.

Trên nền tảng ký sinh vào ngoại viện ấy, mặt trận kinh tế còn một mục tiêu chiến lược khác: ngăn chặn lúa gạo, thuốc men, hàng tiêu dùng lọt vào vùng Cộng sản kiểm soát. Những nỗ lực này đều thất bại. Màng lưới tham nhũng quá tinh vi; và hễ có tiền là mua được tất cả. Thực tế, ngay đến Tư lệnh Quân khu, Sư đoàn, Tỉnh trưởng v.. v… cũng đứng ra bảo trợ cho việc buôn lậu với mật khu Cộng sản. Được dư luận biết đến nhiều nhất có vụ lính ma, lính kiểng của Nguyễn Vĩnh Nghi, Tư lệnh Quân đoàn IV, hay đoàn xe buôn lậu có Quân Cảnh hộ tống do các mệnh phụ phu nhân–thường được gọi là “Mặt Trời Cái”–bảo trợ. Đó là chưa kể đường dây buôn lậu nha phiến, ngoại tệ và phế vật chiến tranh do Thiệu, Khiêm và tay chân, họ hàng Kỳ cầm đầu.

Đáng sợ hơn cả là cuộc khủng hoảng kinh tế 1973-1974. Từ năm 1965, nhờ các dịch vụ cho đạo quân viễn chinh Mỹ, nền kinh tế ở các đô thị khá sung túc. Gần 200,000 công nhân được thuê mướn trong các công ty Mỹ. Những món hàng P.X. bày bán từ gần kho Mỹ tới trung tâm Sài Gòn, rác rưởi Mỹ và kỹ nghệ giải trí cho lính Mỹ cũng giúp khoảng vài triệu người có công ăn, việc làm hoặc thu nhập một số lợi tức ở ngoài ngân sách hàng năm của chính phủ. Nền kinh tế tư, hãy tạm gọi thế, được phát triển. Nhưng từ năm 1971, trên dấu chân hồi hương của lính Đồng Minh, số người thất nghiệp ngày một gia tăng, đạt chỉ số 15% vào năm 1973.(18)

Sự cắt giảm viện trợ kinh tế càng khiến nguồn lợi tức ngoại nhập ngày một thấp. Việc nhập cảng hàng ngoại quốc giảm 40% trong giai đoạn 1971-1973. Thêm vào đó là việc tăng giá thị trường quốc tế các nguyên liệu và nông phẩm như dầu hỏa, phân bón, sắt thép, tơ dệt v.. v… Các đô thị bắt buộc phải đối diện với khả năng kinh tế quán tính của chúng. Nhờ cần kiệm, một số người tạo được đôi chút vốn liếng, tiếp tục buôn bán. Nhưng mãi lực của dân chúng giảm hẳn. Đồng thời, nạn lạm phát gia tăng, lên tới 68% vào năm 1973.

Cuộc Tổng tấn công 1972 của CSBV cũng tạo nên những hậu qủa trầm trọng. Ngoài thiệt hại khổng lồ về tài sản, nhà cửa, ruộng vườn của dân chúng–lên tới hàng tỉ Mỹ kim–còn có khoảng 5,000 cây số (3,108 dặm) quốc lộ và tỉnh lộ bị hư hại, 200 cây cầu lớn, 500 trường, 500 trạm y tế xã cần tu bổ tức khắc.

Từ cuối năm 1973, khủng hoảng kinh tế lan tràn. Không còn cảnh quân nhân bắn vợ vì ngoại tình với Mỹ, hay tự tử vì vợ con cuốn gói theo bạn Đồng Minh về nước–nhưng nhiều thảm kịch còn não lòng hơn xuất hiện. Có những cô gái vị thành niên đã phải bán thân kiếm tiền giúp gia đình, vì đồng lương công chức, quân nhân không đủ chi dụng. Những quân đoàn ăn mày, gái điếm, gái bia ôm, ước lượng vào khoảng 300,000 nhân số, nghễu nghện trên đường phố.

Cơ khổ nhất vẫn là đám đông thấp cổ bé họng. Tốc độ lạm phát khiến đồng lương hàng tháng–bị mất giá trị đích thực khoảng 35% từ tháng 3/1972 tới tháng 2/1974–không đủ sống hai tuần lễ. Làm gì để có miếng ăn trong thời gian còn lại? Chẳng cần thông minh cũng suy đoán được đủ thứ hành vi, tệ nạn ngoài lễ giáo, mực thước bình thường của xã hội.

Hậu quả của cuộc khủng hoảng kinh tế này gây xáo trộn trong mọi giai tầng, đưa đến sự sụp đổ chung của khả năng chống Cộng tại miền Nam.

Về phương diện văn hóa-xã hội, hiện tượng suy thoái cũng khởi từ cuối thập niên 1950.

Phần lãnh thổ phía Nam vĩ tuyến 17 mà người Mỹ muốn xây dựng thành một quốc gia chống Cộng là một xã hội đa nguyên. Mặc dù dân số khoảng 14 triệu người, nhưng những sắc dân thiểu số trên cao nguyên miền Trung lên tới gần 7 triệu. Tại miền Nam, có tới trên 2 triệu người Việt gốc Hoa và 400,000 người Việt gốc Khmer. Người Việt thuần túy, như thế, chỉ khoảng 4 triệu, kể cả 800,000 dân di cư từ miền Bắc. Trong số này, đường ranh phân chia địa phương (Nam, Trung, Bắc) và tôn giáo (Cao Đài, Hòa Hảo, Ki-tô, Phật) – do chính sách chia để trị của Pháp – còn rất sâu đậm. Mặc dù trong 2 năm 1955-1956, Ngô Đình Diệm đã nhất thống miền Nam bằng võ lực, đường ranh địa phương và tôn giáo ngày thêm sâu rộng. Chủ trương dùng giáo dân Ki-tô làm xương sống của chế độ do Mỹ đề xướng(19) – và được tam đầu chế Diệm-Thục-Nhu hăng hái thi hành – đưa Ki-tô giáo lên hàng “công giáo” – chỉ dưới quốc đạo một bậc. (20)

Trong quân đội, ngày 7/7/1956, thành lập Nha Tuyên úy, nhưng chỉ có 40 Tuyên úy Ki-tô và Tin Lành, được cử đi thực tập tại Đà Lạt và Thủ Đức, hoặc Mỹ. 20 nhà thờ dành cho quân đội. Giám mục Trương Cao Đại làm Giám đốc (1956-1958); sau, GM Lê Hữu Từ (1958-1960) thay. (21)

Về giáo dục, toàn quốc chỉ có hai đại học công lập, nhưng có một đại học Ki-tô tư ở Đà Lạt, được trợ cấp đặc biệt bằng công quĩ và tài sản tịch thu của Bảy Viễn. Giới linh mục và sư huynh Ki-tô thống trị các học hiệu, từ Đại học tới bậc trung học, nhất là về bộ môn “Triết.” Mật vụ văn hóa tràn ngập, nổi danh nhất có Bùi Văn Bảo, Lê Tôn Nghiêm, Nguyễn Văn Trung, Trần Văn Hiến Minh, Nguyễn Đăng Ngọc, v..v… (22) Đại đa số dân chúng, vốn chỉ theo đạo thờ cúng ông bà, đạo Phật, hay các tôn giáo khác – không những ngày đêm bị xúc phạm khi nghe Diệm kết thúc mỗi bài diễn văn bằng câu “Xin ơn trên hãy phò hộ cho chúng ta; chẳng khác gì ở miền Bắc, và toàn cõi Việt Nam hiện nay, người ta không thể không dị ứng với khẩu hiệu:“Yêu nước là yêu chủ nghĩa xã hội.”

Thông thường, trong một xã hội văn minh, thế quyền [state] và thần quyền [religion] tách biệt nhau. Nhưng tại Nam Việt Nam, cả thế quyền và thần quyền tập trung trong tay họ Ngô–Diệm, Nhu và Cẩn độc quyền cai trị và diệt Cộng hoặc móc nối Cộng sản, trong khi Thục thống trị Giáo hội Ki-tô. Bởi thế, những mảnh vụn văn hoá-xã hội Tây phương – với nền tảng thần và thế quyền Ki-tô giáo kiểu “tân” [neo] trung cổ(23) – được cấy trồng thêm trước sự đối kháng ngày một mãnh liệt trong mọi tầng lớp quốc dân.

Vì giáo dân Ki-tô chiếm chưa đầy 10% dân số, độc quyền sinh hoạt văn hoá-xã hội của giới trí thức Ki-tô từ cuối thế kỷ XIX tới giữa thế kỷ XX ngày một bị thách thức. Dấu hiệu chống đối và thách thức đầu tiên là sự thăng tiến của Đảng CSĐD. Quan trọng hơn, số trí thức không Ki-tô liên tục gia tăng trong lãnh thổ VNCH, sau khi những biện pháp hạn chế học vấn do người Pháp áp đặt bị loại bỏ. Việc chống đối, mỉa mai dự luật Gia Đình của Trần thị Lệ Xuân năm 1957 (tức Luật 1/59) hay Phong Trào Phụ Nữ Liên Đới (20/5/1958) chỉ là những gợn sóng nhỏ đầu tiên.

Cuộc tranh đấu đòi bình quyền tôn giáo trong mùa Phật đản 2,507 (8/5/1963) và cái chết bi thảm của anh em họ Ngô, cùng việc Thục bị trục xuất khỏi Giáo hội Vatican, tiếp nối bằng chính sách hòa hoãn với Cộng sản của Giáo hoàng Paul VI (1963-1978), đánh dấu nửa đường đi xuống của nền văn hoá Ki-tô tân Trung cổ. Mặc dù trong những năm cuối cùng của Đệ nhị Cộng Hòa, khối Ki-tô nỗ lực trở lại sân khấu chính trị, nền sinh hoạt văn hoá tân Trung Cổ không thể lội ngược dòng nước lũ suy thoái.

Vì tình trạng chiến tranh, giai cấp quân phiệt thống trị. Quân nhân được bổ vào chức vụ hành chính tới cấp quận để tiện việc chỉ huy các lực lượng quân sự, Cảnh sát. Nhưng đa số giai cấp quân phiệt VNCH – hãy tạm gọi thế – chỉ biết điều động phi cơ oanh tạc, pháo binh tác xạ, hay chĩa họng súng về phía người thù đao binh mà bóp cò. Phần đông yếu kém về phương diện chính trị, kinh tế cũng như văn hóa. Qua hệ thống tham nhũng, phe đảng – và trong khuôn khổ gọi là “kỷ luật quân đội” – họ chưa xứng tay đối nghịch với cán bộ hành chính và chính trị Cộng Sản. (24) Những phụ tá dân sự của họ – từng tốt nghiệp Học viện Quốc Gia Hành Chánh – thường chỉ dùng kiến thức chuyên môn để hợp thức hóa những việc làm phi pháp.

Không thể phủ nhận tài năng và thiện chí của một số người, dù chẳng được bao lăm sau sự gạn lọc của “công ty.” Đại đa số, khi được đưa vào giai tầng “lãnh đạo và chỉ huy” đều chăm lo thu lại vốn đầu tư, tức tiền bỏ ra mua chức vụ, và kiếm thêm số tiền lời cần thiết. Từ đó phát sinh ra hiện tượng “làm láo báo cáo hay.” Đó là chưa nói đến tệ nạn lính kiểng, lính ma v.. v… khiến nội tuyến Cộng sản đột nhập vào mọi cơ cấu chính quyền. Albert Phạm Ngọc Thảo, Vũ Ngọc Nhạ, Huỳnh Văn Trọng hay Phạm Xuân Ẩn, đầu mối đưa tin của các ký giả “tiến bộ” Mỹ – khiến không ít người đỏ mặt ngượng ngùng khi lá bài lật ngửa sau 1975. Hoặc “Mười Lễ” Nguyễn Văn Hướng, cố vấn chính trị của Thiệu năm 1967. Viên Thượng sĩ có nhiệm vụ nhật tu bản đồ tình hình quân sự mỗi ngày tại Dinh Độc Lập.

Sự xuất hiện của lực lượng mà Lodge gọi là “Baby Turks” từ năm 1966 – những người thực sự nắm binh quyền, từ cấp đại đội tới tiểu đoàn, lữ đoàn – là một hiện tượng hầu như chưa hề được nhắc đến trong các nghiên cứu nghiêm túc và đầy đủ về Việt Nam.

Nhưng tưởng cần nhấn mạnh, giai cấp quân phiệt miền Nam không có được điểm mạnh của quân phiệt Germany [Đức] hay Nhật (dù Nguyễn Cao Kỳ ngưỡng mộ nhất Hitler và mong miền Nam có 4 hay 5 Hitler). Quân phiệt miền Nam còn có bạn đồng hành thân thiết là hệ thống “cửa hậu,” và nhiều khi bị hệ thống cửa hậu lấn át. Có những sĩ quan cấp Úy, cấp Tá ngồi bổ củi, nấu bếp, sửa xe trong tư dinh ông lớn. Có những “kép trẻ” của các bà lớn – hoặc nhờ giọng ca, tiếng hát, hoặc những thủ thuật nào đó – sống như những ông hoàng. Và, dĩ nhiên, cũng không thiếu người tự hào tuyên bố, “Làm bé ông lớn, hơn làm lớn ông bé.” Dưới triều Ngô Đình Diệm, Lệ Xuân nổi danh với những lời đồn hàng ngày tắm bằng sữa tươi, nhúng tay vào những vụ khai thác lâm sản bất hợp pháp, đốt nhà dân lao động để bán vật liệu tái xây cất, v.. v… – nhưng không có bằng chứng hiển nhiên nào. Vợ Thiệu, Khiêm, Viên v.. v… lộng hành tệ hại hơn. Việc mua bán chức tước đều nằm trong tay những nhân vật mà có nhà báo gọi là“giặc cái” này. Rất nhiều cấp chỉ huy tài năng – như Chuẩn tướng Trần Quốc Lịch hay Đại tá [Nguyễn?] Bá Thìn tự Long – đã bị biến chất, thân bại danh liệt chỉ vì hệ thống “cửa hậu.”

Sau giai cấp quân phiệt có giới lãnh đạo tôn giáo. Trong những năm cuối của VNCH, các giáo xứ Ki-tô đã chiếm lại uy thế cũ. Theo tài liệu Cộng sản, chính Hồng Y Spellman cùng Vũ Ngọc Nhạ – một cán bộ tình báo chiến lược len lỏi vào Ki-tô giáo từ giữa thập niên 1950 – móc nối cho Thiệu lên cầm quyền ở miền Nam.(25) Nhờ vậy, Thiệu được sự ủng hộ của một số lãnh tụ Ki-tô, và, đổi lại cho họ hưởng nhiều ân huệ. Từ tháng 9/1969, Thiệu còn tăng cường thêm uy quyền sau khi liên kết với Khiêm, không những chỉ gốc Cần Lao, mà còn được tình báo Mỹ bao bọc.

Với các tổ chức Phật giáo, Cao Đài, Hòa Hảo v.. v… Thiệu cũng theo đúng chính sách “trao đổi, mua bán.” Cao Đài và Hòa Hảo được duy trì những cơ cấu quân sự riêng; và được dành cho một số ghế Nghị sĩ hay Dân biểu. Phần Phật giáo, từ sau cuộc biến động miền Trung năm 1966, uy thế xuống dốc. Thiệu và các cố vấn Mỹ thực hiện chính sách bàn tay sắt bọc nhung, phân hóa Phật Giáo thành từng nhóm nhỏ, đối nghịch nhau–tiêu biểu nhất là khối “Ấn Quang” của nhóm miền Nam, “Việt Nam Quốc Tự” của nhóm Thượng tọa Tâm Châu, hay Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam (thành lập cuối năm 1964 với sự nâng đỡ của Trần Văn Hương). Rồi, nhân dịp Tổng công kích-Tổng khởi nghĩa của Cộng Sản Tết Mậu Thân 1968, Thiệu ra tay “bảo vệ an ninh” những lãnh tụ Phật giáo tranh đấu. Năm 1969, sau khi thất bại trong mưu toan ám sát Thích Thiện Minh, Thủ tướng Hương bắt giữ Thiện Minh rồi làm hai án khổ sai để cảnh cáo. Người được giao trách nhiệm theo dõi và trừng trị “bọn phản loạn Phật Giáo” này là Trung tá Nguyễn Mâu–cựu đảng viên Cần Lao, từng ra tay thanh trừng Phật Giáo Huế trong giai đoạn 21/8-31/10/1963. (26)

Mặc dù trong cuộc tranh cử 1970, liên danh Vũ Văn Mẫu của Phật giáo về đầu, nhưng vẫn chỉ là thiểu số trong Thượng viện mà 60% là đại biểu Ki-tô. Tại Hạ Viện, số dân biểu Phật Giáo đông hơn, nhưng xét theo tỉ lệ, Ki-tô giáo vẫn ưu thắng.

Do cường độ chiến tranh, tưởng nên ghi nhận, thế lực các tổ chức tôn giáo bị giới hạn. Giai cấp quân phiệt thống trị. Sự ưu thắng của mũi súng này bộc lộ rõ rệt qua những cuộc đàn áp đẫm máu trong năm 1965-1967, và nhất là mùa thu 1974 và đầu năm 1975, khi Thiệu thẳng tay đàn áp các phong trào tranh đấu của mọi giai tầng xã hội. Tổng đoàn Bảo An của Hòa Hảo bị giải tán. Thiệu cũng chẳng chút nương tình với lực lượng Ki-tô Tân Chí Linh hay Phong Trào Chống Tham Nhũng của Linh mục Trần Hữu Thanh trong cơn hấp hối của miền Nam.

Phần những giai tầng khác đều bị xáo trộn vì chiến tranh. Đại đa số nông dân vẫn tiếp tục cầy cấy ruộng đồng, trong vùng bóng tối nhá nhem của bạo lực, giữa cảnh một cổ hai tròng–cướp đêm là Việt Cộng, cướp ngày là Cộng Hòa. Số nạn nhân bỏ ruộng vườn, nhà cửa kéo về đô thị ngày một đông. Hậu quả tất nhiên là dân cư các thị xã, thị trấn ngày một gia tăng. Khối lượng thị dân “mới” này cung cấp cho Sài Gòn và các tỉnh lỵ, thị xã những quân đoàn ăn mày, gái điếm và tệ đoan xã hội. (Và, dĩ nhiên, một số không nhỏ “cơ sở” nằm vùng với những nhiệm vụ nào đó, giống như những cơ sở bí mật ở hải ngoại hiện nay)

Vì nhu cầu chiến tranh, vai trò các trí thức và công chức lu mờ dần. Phần đông đều bị động viên, và chỉ một thiểu số được biệt phái về nhiệm sở cũ. Trước ám ảnh của chết chóc, tàn phá–trong vùng trời bạo lực làm chủ tể–giới trí thức, công chức là giai tầng bị khủng hoảng nhất. Là sức sáng tạo và tiến bộ của bất cứ quốc gia nào không bị guồng máy quân phiệt hay “chuyên chính vô sản” chi phối, giới trí thức, công chức Nam Việt Nam bị ghẻ lạnh, bạc đãi cùng độ. Trước họng súng kẻ thù, và do nhu cầu ngu dân để phục vụ chiến tranh, giới quân phiệt–dưới sự che chở của các viên chức Mỹ–tìm đủ cách phá bỏ vị thế cần thiết của giới trí thức trong xã hội. Bởi thế, đó đây xuất hiện những hiện tượng trái tai, gai mắt như trò hành hung thày, báo chí nhục mạ giới giáo sư Đại học bằng những ngôn ngữ thô tục, đầu đường xó chợ, hay hàng cá, hàng thịt. Và cũng không thiếu giáo chức nổi danh bí mật hoạt động cho cơ quan tình báo, mật vụ.

Cuộc nổi dậy ở miền Trung trong mùa Xuân 1966 đánh dấu sự lụn tàn của giới trí thức, theo nửa đường đi xuống của phe Phật Giáo quá khích.(27) 

Năm năm cuối cùng của Nam Việt Nam cũng là những năm chuyển biến của nền văn hóa chiến tranh, hãy tạm gọi thế. Có nhiều hình thái và bản sắc là hai khuynh hướng chính: sống vộibi quan, yếm thế. Khuynh hướng sống vội chủ trương vui hưởng hiện tại, làm giàu bằng mọi cách, hưởng thụ mọi lạc thú, trong khả năng. Người ta yêu cuồng, sống vội, trên những dấu cát lún, và dưới lớp sơn bản xứ của nền văn hóa Ki-tô/vật bản Pháp-Mỹ để lại. Khuynh hướng bi quan, yếm thế bộc lộ qua những hành vi và tác phẩm phản chiến, chống đối tệ nạn phe đảng, tham nhũng một cách tiêu cực, hoặc ngông nghênh, điên cuồng, coi trời bằng nửa con mắt. Sự thành danh của Trịnh Công Sơn là một thí dụ. Khuynh hướng “chống Cộng” của những hồi chính viên hay “dinh tê” mất dần hiệu lực.

Tầng lớp quân phiệt cai trị–vì không đủ kiến thức để phân tích (kiểu Mỹ “đã mắc câu” [hooked] ở Việt Nam, chẳng bao giờ bỏ cuộc) và cũng có quá nhiều việc tư riêng để lo lắng (như cách nào chuyển ngân ra ngoại quốc hay cho con cháu du học)–hầu như chẳng mấy quan tâm đến khía cạnh văn hóa. Dựa trên sức mạnh họng súng ngày một yếu ớt của Thiệu, một số cựu sinh viên từ Mỹ về muốn lợi dụng bạo lực để cải tổ, hướng sinh hoạt văn hóa vào mục tiêu suy tôn cá nhân Thiệu. Việc làm hồ đồ này khiến sự thù ghét của mọi tầng lớp dân chúng với Hoàng Đức Nhã, Bí thư của Thiệu, cũng hằn học không kém các mưu toan bôi nhọ Nhã của Tòa Đại sứ Mỹ hoặc Cộng sản (vì một lý do khác).

Giống như thời Pháp thuộc, giai đoạn 1954-1975 còn xuất hiện ba giai tầng xã hội quen mặt: thông ngôn Mỹ, bồi Mỹ me Mỹ. Mặc dù cần thêm những nghiên cứu nghiêm túc về ba giai tầng xã hội mới, nhưng một chi tiết nhỏ trong các báo cáo của Lodge phản ánh vai trò tai mắt của họ: Lodge đã trích dẫn ý kiến của bếp, bồi và tài xế của mình như “dư luận dân chúng” về cuộc “cách mạng” 1/11/1963 hay cuộc “chỉnh lý” của Raymond Khánh ngày 30/1/1964.

Trên mặt trận quân sự–mặt trận có tính cách quyết định–như đã trình bày chi tiết ở những chương trên, VNCH mất dần ưu thế từ năm 1974. Sự suy sụp này có nhiều nguyên do.

Yếu tố quan trọng, và quyết định, là việc Mỹ giảm viện trợ. Được huấn luyện theo lối đánh giặc kiểu Mỹ–tận dụng hỏa lực phi pháo và khả năng vận chuyển nhanh, tiếp liệu dồi dào–Nam quân khó thể trở lại lối “đánh giặc nhà nghèo.” Tiềm năng chiến đấu giảm sút. Vào mùa Thu 1974, dấu hiệu bại trận đã biểu lộ.

Yếu tố khác chẳng kém quan trọng là lãnh đạo, chỉ huy. Tổng Tư lệnh Nam quân gần trọn binh nghiệp chỉ biết huấn luyện khóa sinh sĩ quan hay tân binh. Được nắm chỉ huy cấp Sư đoàn thì không vì tài điều binh mà chỉ với nhiệm vụ chính trị–bảo vệ lãnh tụ tối cao của Đảng Cần Lao ở Sài Gòn. Tất cả thành tích để thăng chức, tăng quyền của Thiệu đều do đảo chính, không một lần đặc cách mặt trận. Nhưng Thiệu lại tập trung hết quyền bính trong tay, biến Bộ Tổng Tham Mưu thành một cơ cấu thư lại, không hơn, không kém.

Đã hẳn, 30 năm chiến tranh liên tục đã đào tạo cho VNCH nhiều cấp chỉ huy kinh nghiệm, có khả năng từ cấp Trung đoàn trở xuống. Nhưng qua màn lọc của hệ thống phe đảng và tham nhũng, những cấp chỉ huy tài ba nhất thường chết trẻ hay bị phế tật. Một số Tướng tá tài năng, tâm huyết nhưng không, hoặc chưa có thế lực chính trị. Nếu những ngày cuối năm 1974, hay đầu năm 1975, Tướng Trưởng cùng các Tư lệnh Dù, TQLC, SĐ 1, 2, 3, 5 v.. v… có dũng tâm lật đổ Thiệu, mọi việc có thể đã khác. Cảnh tượng đau khổ, nhục nhã của Mùa Xuân Kinh Hoàng ở Cao nguyên hay Huế, Quảng Ngãi, Đà Nẵng là cái giá mà Trưởng, Hinh, Lưỡng, Lân v.. v… phải trả cho sự ngần ngại, thận trọng quá mức.

Nền móng của quân đội, dĩ nhiên, vẫn là binh sĩ cùng cán bộ cấp nhỏ. Không thể phủ nhận được một điều là từ năm 1970-1973, những người lính VNCH thuộc hàng thiện chiến trên thế giới. Phải chứng kiến tận mắt lính VNCH lâm trận mới hiểu được khả năng của họ. Tuy nhiên, Hiệp định Paris 1973 bắt đầu mang lại cho họ một dấu hỏi lớn: Tại sao đang đánh bỗng đầu hàng, nhìn nhận sự hiện diện của chính phủ LTMN và quân đội “giải phóng miền Nam?” Mỹ đã bỏ rơi chăng? Nếu vậy, lấy gì để chiến đấu? Có người cho rằng sớm, muộn hòa bình cũng tới, sẽ có giải pháp chính trị. Tại sao mình phải chết ở giờ cuối của trận chiến? Vợ mình thành góa phụ, con mình, trẻ mồ côi–Đồng lương tử tuất của mình sẽ bị cắt xén–Cha, mẹ mình không người phụng dưỡng–Ruộng, đất mình người khác cày xới, trồng trọt.

Cuộc khủng hoảng kinh tế 1973-1974, đồng thời với mức gia tăng cường độ các mặt trận “bảo vệ đình chiến,” gọt mỏng dần ý chí chiến đấu của đa số binh sĩ. Ngoại trừ vài đơn vị ưu tú, khả năng Nam quân nói chung suy giảm rõ rệt. Có đơn vị tự ý rút lui khi pháo địch vừa nã vào đồn, bót, hay mới chỉ gây áp lực. Nghe tiếng máy cày trong đêm, có toán tiền đồn báo cáo tăng địch xuất hiện. Dịch phá hoại thân thể để được giải ngũ, hay đào ngũ về sống chui rúc ở các xóm lao động, tụ tập thành băng đảng trộm cướp lan tràn. (28)

Những người còn ở lại chiến đấu thì ngày thêm bất mãn. Thượng cấp của họ chỉ biết thu góp vốn riêng, ăn bớt, ăn xén tiền trợ cấp hành quân; cắt giảm quân trang, quân dụng bán ra chợ trời. Không, pháo yểm trợ hay phương tiện chuyển quân ngày một eo hẹp. Quần áo, giày dép rách rưới không có để hoán đổi. Ngay đến số lựu đạn cần thiết để cận chiến cũng không đủ. Địch quân thì mỗi ngày một mạnh hơn. Nhiều người lính VNCH đã chiến đấu đến phút cuối đời, nhưng uất hận khó tan–Họ chỉ là những con chốt qua sông, trước những xe, pháo, mã hùng hậu của đối thủ. Thảm kịch của 250 chiến sĩ Biệt Kích Dù ở Phước Long–những người lính Địa Phương quân đơn độc, đói khát trên núi Bà Đen–các chiến sĩ mũ nâu Tiểu Đoàn 34 trên đường 7-B–Hay những chiến sĩ Nhảy Dù từ M’Prack (Phượng Hoàng) xuống Phan Rang, từ Xuân Lộc về Ngã Tư Bảy Hiền, trại Hoàng Hoa Thám v.. v… bi tráng đến não lòng.

Đó là chưa nói đến sự thiển cận về chiến lược và biện pháp an ninh đề phòng đảo chính của Thiệu. Hai đại đơn vị Tổng trừ bị Nhảy Dù và TQLC phải hành quân thường trực ở Vùng I, giảm thiểu sức mạnh lưu động. Ở những ngày Xuân 1975, Thiệu còn xé nát hai đơn vị này qua “chiến lược đầu bé, đít to,” di tản chiến thuật Vùng II và Vùng I. Những người sống sót được gửi lên đèo M’Prack và phi trường Phan Rang cho chủ lực CSBV thanh toán hoặc bắt làm tù binh.

Sự sụp đổ của miền Nam, dĩ nhiên, còn do sự thờ ơ của đám đông. Mặc dù cơ quan tuyên truyền của VNCH lúc nào cũng rêu rao về chính nghĩa chống Cộng của 14, 15, 17 triệu dân chúng miền Nam, từ năm 1973–và trước đó nữa–chế độ Thiệu chỉ có thể kiểm soát được khoảng từ 20 tới 30 phần trăm dân số. Phần còn lại, như loài lục bình nổi trôi theo những đợt sóng càn quét, tảo thanh. Là những nông dân hai sương, một nắng, họ chẳng ước mơ gì hơn được sống yên ổn, cầy sâu, cuốc bẫm kiếm miếng cơm, manh áo. Họ không ưa gì bọn Việt Cộng “láo khoét”–và, cũng chẳng có thiện cảm với “Cọng Hòa,” mà sự xuất hiện thường mang theo bom đạn, chết chóc, thương tật, tàn phá hoặc tù đày. Một cổ, hai tròng–họ muốn chấm dứt chiến tranh càng sớm càng tốt. Chẳng thể trách họ: Sự chống đối chế độ CSVN của nông dân các tỉnh miền Nam vào cuối năm 1988 hay đầu thế kỷ XXI cho thấy, và chứng thực nhận xét, rằng nông dân chỉ phản kháng khi quyền lợi đích thực bị va chạm. Với họ, Cộng Sản hay Tư Bản, Độc Tài hay Tự Do là những từ ngữ xa vời, khó hiểu, chẳng thiết thực bằng bát cơm khi đói, ly nước khi khát, hoặc những nhu cầu văn hóa truyền thống. Bản năng sinh tồn có hàng ngàn năm lịch sử này đã từng khiến Marx lúc trẻ xếp loại giới nông dân là “bị khoai của cách mạng vô sản.” (Nhưng có vẻ phi-Marxistkhi thấy “Cộng Sản” đã chỉ thành công ở những xứ nông nghiệp như Nga, Trung Hoa, Đại Hàn hay Việt Nam)

Ngay trong số 20-30 phần trăm dân chúng trong vùng VNCH kiểm soát cũng chia làm nhiều khuynh hướng dị biệt. Nhờ sự tiếp xúc với những mảnh vụn văn minh vật bản, và những quầng sóng ngoại vi của cuộc cách mạng kỹ thuật-truyền thông–qua sự du nhập của máy truyền thanh, truyền hình, tủ lạnh, máy lạnh v.. v… –họ nghiêng về phía tự do tư sản. Nhưng dù oán ghét Cộng sản, họ cũng chẳng ủng hộ Thiệu-Hương-Khiêm và phe đảng. Để đối lại câu nói của Thiệu như “Đừng nghe những gì Cộng sản nói, hãy nhìn những gì Cộng sản làm,” người ta chỉ thay thế chữ “Cộng sản” bằng “Thiệu” hay “Tám”. Ngay các cháu nhỏ, mới bốn năm tuổi, cũng biết thêm vào khẩu hiệu “không nhường một tấc đất cho Cộng sản” bằng một câu nghe khiến thấm thía chua xót–“Vì một tấc đất quá ít!”

Với những người Cộng sản, cuộc sụp đổ của VNCH trong vòng 55 ngày đêm là một chiến thắng lớn. Sau 45 năm ngày thành lập, Đảng Cộng Sản Đông Dương đã chiếm được trọn vẹn miền Nam, nhất thống đất nước. Chiến thắng ấy còn ngọt ngào hơn nữa khi chỉ 10 năm trước, Liên Bang Mỹ, một đại cường quốc, đã đưa hơn nửa triệu quân vào bảo vệ VNCH.

Nhưng chiến thắng của Đảng CSĐD không “vĩ đại” như cơ quan tuyên truyền Cộng Sản ra công tô vẽ, kể cả việc dàn cảnh cho xe tăng húc nghiêng cánh cổng Dinh Độc Lập xông vào nội viên. Về phương diện quân sự, CSBV chỉ thuộc cường quốc hạng ba. Người Mỹ đã quyết định tìm một giải pháp chính trị vì cảnh đổ nát của làng mạc, thị trấn Việt Nam khiến động lòng trắc ẩn dư luận thế giới cũng như quốc dân Mỹ, hơn vì “sức mạnh quân sự” của CSBV–thứ sức mạnh tùy thuộc vào viện trợ của khối Cộng sản, và việc đẩy đưa những thanh niên vô tội ra trước họng súng đối thủ. “Sức mạnh” của CSBV, so với hơn 500,000 quân nhân Mỹ, chỉ là những hình ảnh các bà già, phụ nữ khóc lóc thảm thương, chắp tay vái lạy tứ phương cầu xin được tha thứ; hay hình ảnh những trẻ thơ trần truồng la khóc, kinh hoàng chạy trốn lửa đạn, thi thể gãy nát đẫm máu được các ống kính truyền hình cố tình đưa vào các phòng khách hay phòng ngủ của thế giới Tây phương. Ngay về phương diện chính trị, cũng chẳng hề có chiến thắng cho Việt Nam. Thời đại chúng ta đã vượt qua ranh giới quốc gia và lục địa. Những khuôn thước ý thức hệ đã rạn vỡ. Vấn đề đặt ra là mặt trận kinh tế, kỹ thuật. Chính nghĩa một chế độ không nằm ở học thuyết này, chủ nghĩa nọ–mà ở hạnh phúc và sự no ấm của dân chúng, cùng trình độ khoa học kỹ thuật trong nước. Người Mỹ đã bỏ rơi Nam Việt Nam vì nhiều lý do khác hơn sự hùng mạnh hay “chính nghĩa” của Hà Nội.

Quyết định chiếm VNCH bằng võ lực của Hà Nội đã trắng trợn vi phạm hai Hiệp định Paris 1973 và hai bản tuyên cáo của La Celle St. Cloud vào tháng 6/1973. Sự vi phạm này khiến Mỹ–không phải là chẳng dự liệu trước, hoặc không chờ đợi việc làm của Hà Nội–có lý do rất chính đáng để hủy bỏ lời hứa viện trợ tái thiết, đồng thời theo đuổi chính sách không nhìn nhậnphong tỏa kinh tế suốt hai thập niên kế tiếp.

Nước “anh em chủ nghĩa xã hội” ở phương Bắc–chỗ nương tựa của CSVN từ thập niên 1920–cũng không thể khoanh tay nhìn thái độ “vô ơn” của Hà Nội. Không những chỉ mỉa mai giới lãnh đạo Hà Nội là bốn ông sư giữ chùa đòi oản chuối cúng lễ, từ năm 1977-1978, Bắc Kinh đưa đẩy Hà Nội vào thế sa lầy ở Kampuchea–một bãi lầy khiến hơn 10 năm sau mới có cơ hội vượt thoát. Đó là chưa nói đến những lò lửa Trường Sa, Hoàng Sa âm ỉ ngoài khơi mà Bắc Kinh tự nhận thuộc lãnh thổ Trung Hoa. Lê Duẩn, Trường Chinh, hay Phạm Hùng đều chết khó nhắm mắt khi nhận chân ra sự thực: tinh thần quốc tế vô sản khó thể vượt thắng tinh thần bá quyền nước lớn. Những lời nhục mạ Mao Trạch Đông hay Đặng Tiểu Bình trong thập niên 1980 trơ phơi sự xưng tụng, nịnh bợ lố bịch ít thập niên trước, và bẽn lẽn, ngượng ngùng từ ngày nối lại bang giao năm 1991.

Chiến thắng của CS cũng đưa đến sự vỡ mộng của dân chúng đối với “cách mạng” và “bộ đội giải phóng.” Trong hai năm 1975-1976, thế giới bắt đầu thấy rõ sự thực: Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam hay Chính Phủ Lâm Thời Cách Mạng chỉ là công cụ của Hà Nội để nhuộm đỏ miền Nam. Ngay đến những cán bộ “giải phóng” gốc Nam cũng phải bất mãn, ngấm ngầm chống đối thái độ “kẻ chinh phục” của cán bộ miền Bắc. Tổ chức Cựu Cán Bộ Kháng Chiến của Trần Văn Giàu, Trần Văn Trà và Nguyễn Hộ ở miền Nam, hay những hồi ký chống Đảng của các cán bộ về hưu như Nguyễn Văn Trấn, Trần Độ, và các tác phẩm văn chương đối kháng của Dương Thu Hương, Phùng Gia Lộc, v.. v… chỉ là những thí dụ. Dư luận thế giới cũng chưa hẳn ngu dốt đến độ không biết trò bịp bợm của Hà Nội. Nhưng thế giới có những lý do riêng để quay mặt làm ngơ hay vỗ tay hoan hô những màn ảo thuật ngoại giao và chính trị của Hà Nội cùng những văn công phụ diễn như Nguyễn Hữu Thọ, Nguyễn Thị Bình, Phạm Văn Ba, v.. v…

Đáng sợ hơn cả là sự biến chất của ngay các cán bộ trung kiên nhất. Cuộc sống vật chất tương đối cao ở miền Nam (so với miền Bắc) khiến các “anh hùng giải phóng” từ núi rừng, mật khu về thành ngỡ ngàng. Bao lời tuyên truyền về sự đói khổ của miền Nam trước năm 1975 đều phơi bày rõ bản chất dối trá kiểu Maoist hay Stalinist của lãnh đạo CS. Chỉ một chiến dịch đánh tư sản mại bản tại Sài Gòn-Chợ Lớn đã mang về cho các cán bộ 19 tỉ đồng. Ngân khố miền Nam cũng còn nguyên vẹn 16 tấn vàng dự trữ mà Nguyễn Tiến Hưng không thể tháo chạy ra ngoại quốc. Đó là chưa kể những kho tàng xăng nhớt, quân nhu, quân cụ. Hiện tượng mà CS sính dùng là “tiêu cực” lan tràn khắp nơi. “Đạo đức cách mạng” trở thành tiếng cười dài mỉa mai. Niềm tin tưởng của dân chúng vào cán bộ, hay Đảng và Nhà Nước ngày một phai nhạt. Những dự đoán về sự quét dọn sạch sẽ các hủ tục tham nhũng, hối mại quyền thế một khi người Cộng Sản chiến thắng của những ngòi bút tả phái Tây phương–kể cả những học giả thuộc trường phái “fastfoods” [thực phẩm ăn liền]–trơ phơi ra sự sai lầm, hoang tưởng. Tham nhũng không chỉ do một vài cá nhân, mà cả tập đoàn. Không chỉ bòn rút máu xương dân chúng cơ hàn, mà bòn hút cả viện trợ tái thiết quốc tế. Những lời than phiền, phản kháng của nhiều cán bộ về hưu cao cấp–như Thượng tướng Chu Huy Mân (1915-2006) bên thềm Đại hội X Đảng CSVN–cho thấy Đảng là nguồn gốc mọi tệ hại.

Thêm một lần, trong lịch sử nhân loại, chủ thuyết Marxist-Leninism đã bộc lộ sự ham hố, lỗi lầm của nó–chủ thuyết này chỉ “đẹp” khi người Cộng sản chưa lên nắm chính quyền. Nó cũng không tưởng và thuần lý một cách ngây thơ và đẫm máu như bất cứ một học thuyết chính trị nào trước đó. Đây có lẽ là sự thảm bại lớn lao nhất của Đảng Cộng Sản Việt Nam nói riêng, và khối Cộng Sản Quốc Tế nói chung. 

Để kết thúc tập sơ thảo này, một câu hỏi không thể không đặt ra: Tại sao Hà Nội không tạm thời duy trì hai “nước” Việt Nam? Giải pháp này, theo nhiều chuyên viên, có lợi cho cả hai miền Bắc-Nam. Mỗi phần đất nước sẽ có cơ hội phát triển theo hai trào lưu hiện đại của thế giới. Và, rồi, sẽ có một ngày–như trường hợp Germany–đất nước, dân tộc Việt sẽ thống nhất trong tinh thần đoàn kết dân tộc, dân chủ, phù hợp với đặc tính đa nguyên của lịch sử xã hội và văn hóa Việt Nam.

Không dễ để tìm ra đáp án, vì tài liệu mật liên quan đến vai trò điện Krem-li trong chiến dịch tổng tấn công 1975[-1976] vẫn chưa được bạch hóa. Nhưng có thể suy đoán rằng Liên Sô đóng góp phần nào trong quyết định này. Mở rộng ảnh hưởng xuống Đông Nam Á vẫn là giấc mơ, đã lâu, của Liên Sô. Hơn nữa, cần tìm lợi tức để Hà Nội trả nợ Nga. Những kho dầu thô mới phát hiện ở thềm lục địa Nam Việt Nam có thể khiến Krem-li đi một nước cờ chiếm tiên cơ với Bắc Kinh. Dù Mao đang có trong tay tờ giấy thế nợ của Phạm Văn Đồng ngày 14/9/1958–tự nguyện nhìn nhận biên giới liên lũy đàn hồi do Bắc Kinh mới công bố–chỉ có Nga mới đủ kỹ thuật khai thác các mỏ dầu của Việt Nam, hay kỹ thuật chế biến hải sản.

Những thành viên của Bộ Chính Trị Đảng CSVN, dĩ nhiên, cũng có lý do riêng để quyết chiếm miền Nam bằng võ lực. Năm 1945-1946, khi bị ép buộc phải rời bỏ Sài Gòn và đô thị miền Nam vào bưng biền, Lê Duẩn, Phạm Hùng, Trần Văn Trà v.. v… đều mơ ước một ngày trở lại vinh quang, ở phương vị người chinh phục. Cuộc tập kết ra Bắc năm 1954-1955, với ảo vọng trở lại sau 2 năm, cũng bị phũ phàng dập tắt. 16 năm “đi B”, với hàng triệu tử sĩ, thương phế binh và người mất tích, cùng sự tàn phá khủng khiếp của thành thị, ruộng đồng, rừng núi, khó thể gọi ngắn. Sự suy yếu của VNCH trong hai năm 1974-1975 mở ra cho họ cơ hội bằng vàng để thực hiện ước mơ bấy lâu. 

Tinh thần “hủ Mác-Lênin” cũng đóng một vai trò quan trọng. Tin tưởng vào giáo điều Mác-Lênin từ những năm cuối thập niên 1920 hay trong thập niên 1930–với những tài liệu tuyên truyền kiểu “Nhời hô của Hội lao nông quốc tế,” khiến gợi nhớ những tài liệu cao rao đạo Ki-tô của các thày kẻ giảng vào cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, và do phản ứng trước những nghịch cảnh xã hội vừa phong kiến vừa thực dân mà các cấp lãnh đạo CSVN đã khôn lớn lên, rồi được tôi đúc thêm qua những năm tù đầy khổ sở, nhục nhã, và nhiều thập niên nằm gai, nếm mật ở chiến trường–những Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Lê Đức Thọ, v.. v… khó thể nhận hiểu được rằng vào năm 1975 thế giới đã đổi thay: chế độ thực dân cũ đã bị khai tử–nhân loại đã bước vào kỷ nguyên kỹ thuật và không gian–chủ thuyết Mác-Lênin lung lay từ gốc rễ, thất bại đã ươm mầm từ “thành đồng vĩ đại” là Liên Sô qua tới Đông Âu, Trung Cộng v.. v… Bởi thế, họ vẫn cao giọng cách mạng là tấn công, không tấn công là thất bại, rồi rêu rao “quá độ lên Chủ Nghĩa Xã Hội,” thiết lập một lâu đài vàng mã trên giải đất đã bị tàn phá hơn 30 năm vì đủ loại bom, đạn, chất nổ, thuốc hóa học v.. v… Lại còn tham tâm thiết lập một “khối liên minh Việt-Kampuchea-Lào,” đóng vai “tiểu bá” ở Đông Nam Á. Kết quả cay đắng là chính sách phong tỏa kinh tế suốt 20 năm của Mỹ, cùng những “bài học luật kẻ mạnh” của Đặng Tiểu Bình. Và những tội ác chiến tranh như xua đuổi người Việt gốc Hoa cùng những thành phần mệnh danh là phản động khỏi Việt Nam bằng đường biển, khích động sự phẫn nộ của dư luận thế giới.

Sự hủ lậu, thiếu sáng tạo của những người kiêu căng, tự sắc phong làm “đỉnh cao trí tuệ” này có lẽ là một đặc tính của người Việt–tương tự như căn bệnh “hủ Nho”“hủ Tây” ở những thập niên đầu của thế kỷ XX. của triều Nguyễn ở thế kỷ XIX, hay

Để giải thích hiện tượng “hủ”–hay cực kỳ bảo thủ này–có thể đề cập đến yếu tố “nông nghiệp” của sinh hoạt kinh tế Việt Nam. Nhưng cũng chưa hoàn toàn đúng. Tại sao Thái Lan, hay Nhật Bản, cũng là những nước nông nghiệp, đã có can đảm uyển chuyển, đổi mới? Cũng có thể đề cập đến cái gọi là “thủy chung như nhất” hay quan niệm “ngọc vỡ hơn ngói lành” của truyền thống Khổng học. Nhưng Nhật Bản chẳng từng chịu ảnh hưởng nặng nề của Khổng giáo đó sao? Đặc tính cực kỳ bảo thủ–và, một cách nào đó, cuồng tín kiểu Trung Cổ–là do sự thiếu kém và yếu ớt của giai cấp trí thức, chuyên viên mới, với trình độ hiểu biết hiện đại.

Quan trọng hơn nữa, Việt Nam chưa có được một nền quốc học chân chính. Từ thời Bắc thuộc tới cuối thập kỷ 1920, cái học “thánh hiền” chỉ là mảnh vụn từ chương của nền quốc học Trung Hoa. Những Trạng Nguyên, Bảng Nhãn, Thám Hoa về thực học có lẽ thua kém cả những học sinh Ban Tú Tài hiện nay. Chỉ cần đọc qua những bài “luận” của các Tiến Sĩ, Phó Bảng năm 1910 đủ thấy kiến thức lịch sử, địa lý thế giới, hay khoa học của họ sơ sài, non kém đến mức nào. Nhưng “Khổng học” vẫn được nhà Nguyễn, nhất là từ triều Minh Mạng (1820-1841) trở đi, chọn làm quốc giáo vì nó bao quanh ông vua một thứ “thần quyền” được biết như “thiên mệnh.” Sự bế tắc của dòng lịch sử Việt Nam từ triều Minh Mạng còn có thêm một yếu tố khác: sự tranh chấp quyền lực với giòng trưởng, con cháu Hoàng Tử Cảnh, người đã được Giám mục Pigneau de Béhaine [Bá Đa Lộc] “rửa tội.” Chính sách ngược đãi giáo dân Ki-tô, tôn sùng “thánh hiền” Trung Hoa của Minh Mạng đã khiến lịch sử Việt quay ngược nửa vòng 180 độ–cơ hội tự mở cửa bước vào vận hội mới của đất nước biến thành cuộc hành trình về dĩ vãng, và nô lệ ngoại bang.

Tinh thần “hủ nho” lên cao độ dưới triều Tự Đức (1848-1883). Giữa lúc nhân loại bước những bước dài vào kỷ nguyên kỹ thuật, nhà vua tập trung hết nghị lực vào việc soạn thảo bộ Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, vui vầy xướng họa với các văn nhân, thi xã, vãi vàng bạc khen thưởng một lời ca, tiếng hát hay bộ điệu của diễn viên hát bội, hoặc truy tìm thuốc tiên để có giọt máu nối ngôi. Trong khi đó, giặc giã nổi lên khắp nơi, kể cả danh sĩ Cao Bá Quát (1809-1855)–một tay văn chương quán thế, nhưng chỉ sau chuyến đi đày qua tô giới Sư Tử Thành (Singapore) năm 1845 đã phải cảm khái đặt bút viết, “Giật mình khi ở xó nhà, văn chương chữ nghĩa khéo là trò chơi.”

Cuộc xâm chiếm và đô hộ của người Pháp từ năm 1858 tới 1945 mang lại cho Việt Nam nhiều biến đổi. Tinh thần “hủ nho” tàn lụn dần. Nhưng lại thêm một cái “hủ” mới mà Phó Bảng Phan Châu Trinh gọi là “hủ Tây.” Thay vì trích dẫn Tử viết, Tử vân, giới “trí thức” bắt đầu trích dẫn những Ronsard, Lamartine, Voltaire, Rousseau v. v… hay “đấng Tạo Vật.” Một người hầu cận Giám mục Nam Đàng Ngoài lộng ngôn là nắm hết mọi túi khôn nhân loại–từ thiên văn tới địa lý, quặng mỏ–nhưng chỉ bày ra được những mưu kế chọc giận Pháp sớm thôn tính toàn vương quốc. Jean Baptiste Trương Vĩnh “Key” (Ký) viết ra những tài liệu giảng dạy về sử đầu Ngô, mình Sở, khởi đầu bằng năm thứ 1 Tây lịch, khi Jesus Christ được truyền tụng ra đời. Cái tinh thần “hủ Tây” này–được tiếp tục đại diện bằng nhóm quan lại, đốc phủ sứ hay con cháu những Bà Phó Đoan và cô Tư Hồng v.. v…– giúp người Pháp củng cố được nền đô hộ. Tư bản và các viên chức ngành thuộc địa của Pháp ra sức “khai hóa” tài nguyên thiên nhiên và nhân lực Việt Nam để làm giàu cho “mẫu quốc.”

Nhưng, tưởng cần nhấn mạnh, ngay từ ngày người Pháp xâm chiếm miền Nam, nhiều phong trào kháng chiến đã nổi lên giành độc lập. Những tên tuổi như Thiên Hộ Dương, Thủ khoa Huân, Trương Định, đi vào lịch sử với những nét vàng son chói lọi. Rồi đến các phong trào Cần Vương, Văn Thân của những Phan Đình Phùng, Tán Thuật, Nguyễn Duy Hiệu, v.. v…. để ủng hộ chuyến xuất giá của ấu vương Hàm Nghi (1884-1885), hay trừng trị lực lượng hợp tác/đánh thuê cho Pháp. Khi các phong trào nho sĩ chống Pháp trên tàn lụn dần vào cuối thế kỷ XIX, tại Việt Nam bắt đầu xuất hiện những tổ chức ái quốc mới. Hầu hết lãnh tụ của những tổ chức này đều trốn ra hải ngoại. Tôn Thất Thuyết (Lê Thuyết) và Nguyễn Thiện Thuật ở Hoa Nam. Phan Bội Châu và Cường Để ở Nhật. Tuy nhiên, mãi tới thập niên 1920 trở đi, các tổ chức kháng Pháp mới được hình thành và phát triển trong nước. Đáng kể nhất có Việt Nam Quốc Dân Đảng, Đảng Cộng Sản Đông Dương, và giáo phái Cao Đài. Dù cùng một mẫu số chung chống Pháp, chống bọn “hủ Tây” phục vụ Pháp, những tổ chức trên luôn nghi kị, và tìm cách hãm hại lẫn nhau.

Nhờ Quốc Tế Cộng Sản trợ cấp và huấn luyện thành những “cán bộ cách mạng chuyên nghiệp” [agitprop], phe Cộng sản có thực lực hơn cả. Trong khi đó, dù đông đảo về nhân số, các phe phái chống Pháp không Cộng sản bị yếu kém đủ mọi phương diện–từ tổ chức tới nhân sự, từ chủ thuyết tới tài vật lực. Đó là chưa nói đến sự ganh ghét, đố kị, tạo cơ hội cho nhân viên tình báo Pháp hoặc cán bộ chiến lược Cộng sản đột nhập để phá hoại.

Nhưng những người Cộng sản–giống như những “Hồ nhân” thời Sĩ Nhiếp, phe đảng Lý Phật Tử thời Lý Nam Đế, hoặc các thiền sư đời nhà Đinh, những hủ nho của thời Hậu Lê và nhà Nguyễn, hay những hủ Tây như “cha” Lục (Trần Xuân Triêm), Trần Bá Lộc, Petrus Key, Ngô Đình Khả, Nguyễn Thân, Nguyễn Hữu Bài, Lê Hoan, v.. v… vào hạ bán thế kỷ XIX–cũng mắc phải căn bệnh cuồng tín–cuồng tín vô thần, hay, “hủ Marxist-Leninism.”

Họ tự sắc phong cho mình cái sử mệnh truyền giáo, phất cao ngọn cờ “chuyên chính vô sản” ở Đông Dương; tuyên chiến với đủ loại “ma túy” tôn giáo khác. Ai thuận theo thì sống; ai chống lại thì diệt. Sự hủ lậu này biến thành ác tính qua 5 đợt gọi là “cải cách ruộng đất” từ 1952 tới 1956–nhằm tiêu diệt hệ thống tư hữu phong kiến–với những tòa án nhân dân, đấu tố mà chữ nghĩa khó thể mô tả. Nạn nhân bị đấu tố đầu tiên là Nguyễn Thị Năm, tức bà Cát Hanh [Thành] Long, một phụ nữ đã đóng góp hăng say cho “cách mạng” và “kháng chiến”–kể cả việc cưu mang những lãnh tụ Cộng Sản. Rồi đến phong tràochỉnh cán, chỉnh quân trong ba năm 1953-1955, để tiêu diệt và loại bỏ hàng chục ngàn người không Cộng Sản từng dày công hãn mã trong 8 năm chống Pháp.

Dù dữ kiện lịch sử thường ít khi lập lại giống hệt nhau, từ năm 1960, Hà Nội lại tung ra chiêu bài “mặt trận thống nhất” [united front] đã áp dụng ngày nào để đánh chiếm miền Nam–tức khai sinh ra tổ chức “ma” Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam cùng quân đội thường được biết như “Việt Cộng.” Mặc dù cả Mat-scơ-va và Bắc Kinh đều muốn tạm thời duy trì hai thực thể chính trị Bắc và Nam vĩ tuyến 17, Lê Duẩn cùng phe hiếu chiến quyết tâm tiến công đến cùng. Một mặt, khai thác mâu thuẫn giữa Mat-scơ-va và Bắc Kinh để xin quân và kinh viện tối đa, đến độ vài viên chức Bắc Kinh phải mỉa mai nhóm Lê Duẩn-Lê Đức Thọ-Phạm Văn Đồng-Võ Nguyên Giáp “thấy ai có sữa dư cho bú đều gọi là mẹ” hay đặt tên cho Lê Thanh Nghị là “tên ăn mày.” Mặt khác, khoét sâu sự mâu thuẫn giữa các cường quốc Tây phương, đặc biệt là Pháp, và Mỹ; và giữa các phe nhóm trong nội bộ Mỹ–hầu khai thác tinh thần phản chiến, đòi Mỹ rút quân, ngưng yểm trợ VNCH. Đại đa số dân chúng cả hai miền Nam-Bắc chìm đắm trong đói khổ, chết chóc, thương tật, giữa cảnh trên búa dưới đe–một bên là “bạo lực cách mạng,” và một bên là bạo lực “dân chủ, tự do.”

Bởi thế, dù đã ở thời điểm 1975, khi Liên Sô đang thương thảo với Mỹ về một Hiệp ước giới hạn vũ khí nguyên tử; khi Bắc Kinh và Oat-shinh-tân bắt đầu hoà hoãn với nhau–Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Lê Đức Thọ, v.. v… vẫn quyết thực hiện cho bằng được cuồng vọng “quá độ lên Chủ Nghĩa Xã Hội” mà không cần trải qua “khâu tư sản.” Một mặt lừa dối bóc lột tận cùng xương tủy nhân dân miền Bắc. Mặt khác, quyết tâm đánh chiếm miền Nam, biến tài nguyên nhân vật lực của hai miền Bắc-Nam thành công cụ xây đắp tân đế quốc Liên Sô và Trung Cộng–trong một “ảo giác tự do, độc lập.”( 29) 

Cuộc sụp đổ của VNCH ngày 30/4/1975 khiến Lê Duẩn không cần che dấu bạo lực cách mạng nữa, loại bỏ dần Chính phủ Lâm Thời Miền Nam Việt Nam cùng hai tổ chức ngoại vi MT/DT GPMN và Liên Minh các lực lượng dân tộc dân chủ và hòa bình (tức Mặt Trận II, thành lập từ năm 1968). Trong men say chiến thắng, Hà Nội còn ngạo mạn đốt sách vở miền Nam, hạ ngục hàng trăm ngàn quân nhân, công chức miền Nam, đưa đến cảnh sụp đổ, ly tán của hàng triệu gia đình. Trục xuất hàng trăm ngàn người Việt gốc Hoa khỏi đất nước, để thu đoạt tài sản và tránh họa“nạn kiều,” khiến rúng động lương tâm nhân loại.

Trong khi đó, phần do lệnh cấm vận kinh tế của Liên bang Mỹ, phần do thiếu khả năng quản trị và thiết kế, và hậu quả của những kế hoạch tiêu thổ kháng chiến, “đánh cho thật mạnh, phá nát hậu cứ” của VNCH từ chiến dịch Tổng Công Kích-Tổng Khởi Nghĩa Mậu Thân 1968–phần vì sự tàn phá của bom đạn, thuốc khai quang mà Ngô Đình Diệm thúc dục chính phủ Kennedy thực hiện từ năm 1962–tình trạng kinh tế trong nước suy sụp thảm hại. Việt Nam trở thành một trong ba nước nghèo nhất thế giới. Các tệ nạn xã hội lan tràn. Đất nước ngày một thêm sa lún, ngô khoai chẳng có mà ăn, nói chi cơm gạo. Từ cán bộ hạng trung xuống dân đen đều chịu cảnh bo bo … độn gạo; trong khi đại diện chế độ mệt mỏi, ngượng ngùng bẽ bàng ngửa tay xin viện trợ tứ phương. Năm 1985, chính Bí thư Sài Gòn–người trở thành Tổng Bí thư khoá VI, 1986-1991–phải than lên rằng lần đầu tiên trong lịch sử, dân Sài Gòn phải ăn độn! (30) 

Mọi biện pháp đưa ra trong Đại Hội thứ V tổ chức vào tháng 3/1982 để chỉnh đốn hàng ngũ cầm quyền, cũng như đổi thay chiến lược phát triển kinh tế đều thất bại. Việt Nam phải trở lại với chính sách tài chính thời 1946-1949, tức Lê Văn Hiến ra công in tiền không bảo chứng–hay bảo chứng bằng “nguồn sản vật của dân chúng”–để phát lương cho công nhân, viên chức.

Không đầy 10 năm sau chiến thắng Xuân 1975, Việt Nam bị phũ phàng đặt trả lại vị thế đích thực–một quốc gia có nền kinh tế của tiền bán thế kỷ XIX, với nhu cầu tiêu thụ của thế kỷ XX. Không kém phũ phàng, số tiền vay nợ để “cách mạng” lên tới hàng chục tỉ Mỹ Kim, bao nhiêu dầu thô và hải sản phải bán lúa non hàng thập niên vẫn chưa đủ trả nợ. 55 ngày và 55 đêm “đại thắng” phải trả giá bằng hơn 20 năm ác mộng trong cảnh huống “bầy thợ săn già nua và đàn hươu đói lả trên cánh đồng cỏ cháy.”Và, từ vị thế “chiến thắng,” suy sụp xuống vị thế “đại bại”–bại ngay với khối quốc dân cả hai miền Nam và Bắc.

Bi thảm hơn nữa, tham vọng “tiểu bá” Đông Dương–hay thiết lập khối liên minh ba nước Việt-Lào-Kampuchea–đưa đến việc xâm lăng, chiếm đóng Kampuchea, rồi dẫn đến những “bài học” của Đặng Tiểu Bình từ ngày 17/2 tới 19/3/1979, và kéo dài đến năm 1991. (31) Dư luận thế giới bắt đầu quay lưng lại với Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, tảng lờ những lời tố cáo của Hà Nội và Mat-scơ-va về kế hoạch bá quyền nước lớn của Bắc Kinh tại vùng Đông Nam Á. 

Áp lực thế giới chỉ giảm xuống sau cái chết của Lê Duẩn ngày 10/7/1986, đưa Trường Chinh lên chức Tổng Bí thư lần thứ ba, và nhất là Đại Hội thứ VI (12/1986) mệnh danh là Đại hội Đổi Mới. Tại Đại hội này, Nguyễn Văn Linh (1914-1997) được cử làm Tổng Bí thư. Nhóm miền Nam như Phạm Hùng, Võ Văn Kiệt (Phan Văn Hòa, 1922-2008), v.. v… lên cầm quyền, thực hiện một số cải cách kinh tế, chính trị, và giải quyết vấn đề người thuyền. Về quân sự, năm 1989, rút quân khỏi Kampuchea. Nhờ vậy, liên hệ quốc tế ngày một cải thiện. Nhưng khủng hoảng kinh tế vẫn sâu dày. Quốc nạn tham nhũng tràn lan. Hàng ngũ lãnh đạo cũng có sự phân hóa về lý luận: Không ít người thực lòng yêu nước muốn theo kinh nghiệm Đông Âu và Nga, giải tán Đảng CSVN. Nhưng phe bảo thủ cuối cùng chiến thắng. Việt Nam không có những khuôn mặt nổi bật và xuất sắc như Mikhail Gorbachev, Tổng Bí thư cuối cùng của Đảng Cộng Sản Liên Sô. Nên năm 2004, Nguyễn Phú Trọng từng cáo buộc lãnh đạo chủ chốt của Đảng Cộng Sản Nga mị dân, xóa bỏ điều VI Hiến Pháp; phi Đảng hóa, phi chính trị hóa quân đội, công an, mật vụ, và khẳng định Việt Nam phải duy trì vai trò “đảng cầm quyền.” (32)

Sự sụp đổ của khối QTCS và sự ngừng hiện hữu của Liên Sô trong thời khoảng 1989-1991 mở ra cho Việt Nam một chân trời mới. Sau hội nghị quốc tế năm 1991 về Kampuchea, chính phủ George Bush (1989-1993) của Mỹ bắt đầu nới lỏng kế hoạch cấm vận. Bắc Kinh cũng hòa hoãn hơn. Đảng CSVN dựa theo “lý luận Đặng Tiểu Bình”–tức kinh nghiệm Hán hóa chủ nghĩa Marxism-Leninism lần thứ hai–bắt đầu mở cửa, thực hiện kinh tế thị trường, “theo định hướng xã hội chủ nghĩa và tư tưởng Hồ Chí Minh.”Năm 1995, chính phủ Bill Clinton (1993-2001) bãi bỏ lệnh cấm vận, rồi công nhận Việt Nam và cho hưởng tình trạng thương mại bình thường [NTR], với điều kiện phải cải thiện nhân quyền.

Tuy nhiên, ảnh hưởng Bắc Kinh ngày một nặng nề. Hàng tiêu dùng Trung Hoa tràn ngập Việt Nam, và bắt đầu có những cuộc hội thảo “trao đổi kinh nghiệm đổi mới” giữa hai nuớc “vừa là láng giềng, vừa là anh em.” Cuối năm 1997, tại Hội nghị thứ 4 (khóa VII), Đỗ Mười từ chức Tổng Bí thư cho Lê Khả Phiêu lên thay. Phan Văn Khải cũng thay Võ Văn Kiệt làm Thủ tướng. Bộ Chính trị thêm một số khuôn mặt mới. Nhưng việc ký Hiệp ước biên giới đất liền và biển với Trung Hoa năm 1999 và 2000 gây bất mãn trầm trọng tại quốc nội cũng như quốc ngoại. Lê Khả Phiêu (1997-2001) bị mất chức; Chủ tịch Quốc Hội là Nông Đức Mạnh thay. Nhưng Mạnh, trên thực chất, chỉ có hư vị.

Từ năm 2001, kinh tế Việt Nam có những tiến bộ đáng kể. Đã có nỗ lực cải cách luật pháp, chuẩn bị cho việc gia nhập Tổ chức Thương mại Quốc tế [WTO], cũng như các cấu trúc hạ đẳng cho một chế độ pháp trị.

Tuy nhiên, Việt Nam vẫn còn đối diện nhiều khó khăn: chưa thu hút được vốn đầu tư ngoại quốc, kế hoạch công nghiệp hóa vào năm 2020 khó đạt chỉ tiêu; kinh tế trên cơ bản vẫn còn là nền kinh tế sản xuất tài nguyên thô, dịch vụ và kỹ nghệ nhẹ (hàng tiêu dùng), tình trạng nghèo khổ chung của đám đông, nạn thất nghiệp và/hoặc làm việc không đúng khả năng, khoảng cách biệt ngày càng lớn giữa đô thị và nông thôn cùng vùng rừng núi, khiến gợi nhớ đến những tệ đoan xã hội ở Trung Cộng trong những thập niên 1950-1960.

Kế hoạch cải cách luật pháp cũng nặng về hình thức hơn thực chất. Đại đa số dân chúng không tin rằng họ được hưởng công lý. Luật sư đoàn quá mỏng, và chưa được thủ diễn vị thế đích thực như một phần tử của hệ thống luật pháp. Ý định sẽ đào tạo thêm 20,000 luật sư vào năm 2020 khó đạt mục tiêu.

Vấn đề tư tưởng và lý luận cũng chưa giải quyết xong–khoảng cách biệt quá lớn giữa giai tầng cai trị và bị trị, guồng máy nhà nước nặng nề, chằng chéo, chưa thấy một ánh hy vọng sẽ thăng hoa hay tan biến đi như Marx ảo vọng. Hội nghị về lý luận Văn hóa-Thông tin-Nghệ thuật vào đầu tháng 3/2006, do Nguyễn Khoa Điềm chủ tọa, phản ánh sự khủng hoảng của lý luận Marxist hiện nay. Cũng có dấu hiệu cho thấy BCT có thể sử dụng lực lượng Đoàn Thanh niên Cộng Sản để thực hiện kế hoạch chỉnh đốn vai trò lãnh đạo của Đảng CSVN. Trong khi đó phe đổi mới ngày một mạnh. Nhân dịp thăm dò ý kiến dư luận về Dư thảo Báo cáo chính trị từ ngày 3/2 tới 3/3/2006 (mô phỏng theo kinh nghiệm cuối khóa VI), nhiều người đòi dân chủ hóa, như hủy bỏ điều 4 Hiến Pháp 1992, tức điều khoản dành cho Đảng CS độc quyền cai trị. Có người còn đòi bỏ lý luận Marxist-Leninism. Trong số những người chống đối có cả cựu Thủ tướng Võ Văn Kiệt, Giáo sư Hoàng Minh Chính, v.. v… Ngày 6/4/2006, 116 người vận động dân chủ ký tuyên cáo yêu cầu Đại hội X thực thi dân chủ, đa đảng và tự do cơ bản đã qui định trong Hiến Pháp. 

Quốc nạn tham nhũng càng khiến tình hình phức tạp hơn. Tiêu biểu nhất là vụ tham ô “PMU 18.” Phó Chủ nhiệm văn phòng Phủ Thủ tướng, và một số viên chức cao cấp trong ngành công an, tư pháp cũng bị dính líu, theo lối giứt giây, động rừng. (Người hiểu rõ nội tình Việt Nam tự hỏi nếu loại trừ hết cán bộ tham nhũng, lấy ai ra làm việc?) BCT phải tuyên bố Đại hội X sẽ chỉ cử hành với “tính cách nội bộ.”

Tham nhũng, thực ra, là một phản ứng tiêu cực hiển lộ và mạnh mẽ nhất với giáo điều “diệt tư hữu” của thuyết Marx. Vì con người còn là con người chăng khi không còn tư hữu? Ngay đến các nhà tu đạo hạnh–lập lời nguyện hiến dâng tâm thân mình cho tiếng gọi của Đấng Tối Cao–cũng đang khiến bao giáo phận ở Mỹ tuyên bố phá sản vì tiền bồi thường cho hành động lợi dụng chức vụ và quyền thế để xâm phạm tình dục, v.. v… (Xin đừng vội kết luận đây là hiện tượng đặc thù Mỹ. Thực ra, chỉ có nước Mỹ mới đủ can đảm đưa ra ánh sáng “tội tổ tông” trên. Tại những quốc gia khác, kể cả Việt Nam, người ta nỗ lực che đậy, dấu giếm những tội ác của loài sâu của bông hoa tôn giáo này. Trong chuyến viếng thăm Mỹ đầu tiên từ 15 tới 20/4/2008, Gíáo hoàng Benedict XVI phải công khai xin lỗi và bày tỏ lòng ân hận.) (33)

Thật tự nhiên và dễ hiểu là một cán bộ Cộng Sản tinh tuyền khó thể thoát khỏi sự cám dỗ của quyền chức và lợi nhuận, rất tư hữu, do độc quyền cai trị và lãnh đạo gây nên. Thực trạng xã hội-kinh tế nội địa nói chung cũng tạo nên môi trường dung dưỡng và phát triển quốc sỉ tham nhũng.

Hiện nay, Việt Nam tiếp tục kế hoạch “kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa” theo kiểu Việt Nam (Marxist-Leninism, tư tưởng Hồ Chí Minh); thực hiện một số sửa đổi điều lệ và tổ chức Đảng. Điều này có nghĩa chẳng đổi mới gì. Dù biện pháp này an toàn nhất, nhưng cũng tạo nên vô vàn khó khăn trước mắt. Trước hết, Marxist-Leninism là thuyết Nga hóa chủ nghĩa Marxist, ra đời vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, và đã bị quốc dân Nga đào thải. Tư tưởng HCM, trong ánh sáng khoa học lịch sử, là luật kẻ yếu, uốn cong mà không gãy, chỉ hợp với giai đoạn đấu tranh giành độc lập hơn xây dựng và phát triển kinh tế.

Hơn nữa, uy tín HCM đã bị khai thác cho những mục tiêu giai đoạn của những người cầm quyền, hơn thực tâm tôn trọng tư tưởng HCM. Chỉ một nguyện vọng nhỏ nhoi của HCM thôi–tức được hỏa táng để phát động nền văn hóa hỏa táng ở Việt Nam–đã bị tảng lờ. (Xem Di chúc HCM, ấn bản năm 2001 của BCHTƯĐ) Chẳng mấy ai còn nhắc đến Bản thỉnh nguyện năm 1919 của Nguyễn Ái Quốc và nhóm người Việt yêu nước, đòi hỏi những quyền tự do cơ bản như tự do tư tưởng, ngôn luận, v.. v….

Những cuộc cải cách điền địa tại Việt Nam, theo kiểu mẫu Mao Trạch Đông hay Đặng Tiểu Bình, chẳng cách mạng gì hơn chế độ quân chủ Bonapartes ba bốn thế kỷ trước. Việc trả lại quyền tư hữu đất đai (sổ đỏ) hay khuyến khích tiểu thương, “cho phép đảng viên làm kinh tế”, v.. v…– dưới chiêu bài kinh tế thị trường–là những biện pháp kinh tế tư sản, hay tiểu tư sản, ngược hẳn với mục tiêu chiến lược “công hữu.” Trong khi đó, áp lực khối Ki-tô ngày một gia tăng. Sự “hợp tác” của Ki-tô với bất cứ chính quyền nào luôn luôn vụ lợi, có tính cách giai đoạn. Không kém nhức đầu, các hạn chế về quyền tự do cơ bản cá nhân–với lý do nào đi nữa–tự chúng cũng sẽ khiến trệch đường định hướng xã hội chủ nghĩa: vì tinh thần cơ bản để xây dựng xã hội chủ nghĩa, là tự do diễn đạt ý kiến và tư tưởng để đóng góp vào việc thực hiện một nền dân chủ tuyệt đối. Trong khi đó nhà nước ngày một nặng nề, chồng chéo, chẳng thấy một ánh hy vọng nào sẽ tự thăng hoa như Marx ảo vọng. Ngắn và gọn, bao nhiêu thế hệ người Việt nữa sẽ bị phí phạm trong những cuộc phiêu lưu vô định hướng, từ một xã hội nông nghiệp, phong kiến, thuộc địa đã chết, tới một xã hội mới chưa đủ khả năng chào đời?

Viễn ảnh tối tăm nhất là nếu chui vào đường hầm Hán hóa chủ nghĩa Marxist lần thứ hai, chẳng hy vọng có lối ra trong một tương lai gần.

Quốc dân Việt sẽ có tiếng nói cuối cùng–chấp nhận là người thua cuộc–hay sẽ âm thầm, nhưng vô cùng can đảm, kiên cường, liên lũy tranh đấu cho nhân và dân quyền cơ bản và một tương lai tốt đẹp hơn.

Đáp án của câu hỏi “Tương lai Việt Nam sẽ về đâu?” tùy thuộc ở quyết tâm của người Việt trong nỗ lực giải quyết cấp bách tinh thần hủ Mác-Lênin cùng tàn dư của mọi hình thái văn hoá thực dân-phong kiến, tức hủ Tây, còn sót lại.

 

Chính Đạo

St. Paul, 4/8/1989-Houston, 4/8/2008

Phụ chú:

 

1. Năm 1975, khi so sánh việc sụp đổ của VNCH với chính phủ Tưởng Giới Thạch năm 1947-1949, một sử gia Canada đưa ra câu hỏi: Tại sao cả hai quân lực hàng triệu người có thể tan rã nhanh đến thế? Không dễ tìm được đáp án ở thời điểm đó. Tuy nhiên, khó thể trút mọi tội lỗi cho “Đồng Minh tháo chạy.”

2. Foreign Relations of the United States [FRUS], 1969-1976, I:TL 82, 46,

3. FRUS, 1969-1976, I:TL 2 [Nixon], 4 [Kissinger 1968] & 41 [a study by the NSC staff].)

4. Theo một tác giả Nga, hiềm khích Nga-Hoa xảy ra từ khi Bắc Kinh xúi dục Nga Sô đương đầu với Mỹ bằng vũ khí nguyên tử qua sự kiện Mã Tổ trong mùa Hè và mùa Thu 1958. S. Yurkov, Asia in Peking’s Plans (Moscow: Politizdat Publishers, 1981) [X. G. Iu-Rơ-Côp, Châu Á trong các kế hoạch của Bắc Kinh (Hà Nội: NXB Sự Thật, 1984)], tr. 168-169 [trong Tủ sách “Chủ Nghĩa Mao–Một Nguy Cơ Với Loài Người] Yurkov trích dãn lời cáo buộc của Hà Nội là Mao Trạch Đông và phe nhóm ưa “Tọa sơn quan hổ đấu” [ngồi trên núi xem hổ đánh nhau]. (Yurkov, 1984:169; Sách Trắng 1979:24) Mao, Đặng và Hoa Quốc Phong: chiến tranh không thể tránh được. Năm 1979, Hoa sửa lại “nhưng có thể trì hoãn được.” [Yurkov, 1984:170-171]

5. Đầu thập niên 1990, khi bị chất vấn về vấn đề tù binh (POWs) và quân nhân mất tích (MIAs) tại Quốc Hội, cựu Ngoại trưởng Kissinger đã hằn học nói về ảnh hưởng của các phong trào chống chiến tranh này. Phần King, sau khi bị ám sát ngày 4/4/1968 tại Memphis, Tennessee, được tôn sùng như anh hùng đấu tranh cho nhân quyền.

6. Vũ Ngự Chiêu, “Social and Cultural Change in Vietnam Between 1940 and 1946;” Part III: “Brutality of World Politics;” Ph.D. dissertation, University of Wisconsin, 1984.

7. Xem Chính Đạo, Tôn Giáo & Chính Trị: Phật Giáo, 1963-1967 (Houston: Văn Hoá, 1994, 1997), chương VIII. Một trong những nạn nhân của sự thay đổi này có lẽ là cá nhân Ngô Đình Thục–Thục đã phẫn chí, khiến bị tuyệt thông (ex-communicated), trục xuất khỏi Giáo hội Vatican. Trong khi đó, Linh mục Nguyễn Văn Thuận vẫn tin rằng hai anh em Diệm-Nhu cùng những người thân tín …. chưa chết.

8. FRUS, 1969-1972, I:TL 4, 39, 41, 71, 84, 85, 86, 87, 101, 104

9. Lưu ý rằng các vũ khí trao cho quân đội miền Nam hay Bắc quân sử dụng phần lớn là đồ thừa của Đệ nhị thế chiến. Mãi tới năm 1968, Mỹ mới trang bị cho QLVNCH súng cá nhân XM 16. Từ năm 1969, Không quân mới có trực thăng HU-1B, khu trục A-37; và Hải quân được tăng cường. Bắc Kinh cũng chỉ cung cấp cho MTGPMN vũ khí hạng nhẹ, thặng dư của Thế chiến thứ II; STVQHVN-TQ, 1979:47.

10. Xem thêm chi tiết trong Chính Đạo, “Đại Hội X Đảng Cộng Sản Việt Nam;” Hợp Lưu (Fountain Valley, CA), số

11. Xem Chính Đạo, Hồ Chí Minh: Con Người & Huyền Thoại; tập I:1892-1924, tái bản, có bổ sung (Houston: Văn Hoá, 1997).

12. Giáo hoàng John Paul II đã có can đảm bác bỏ hai đối cực Thiên đường (cõi thánh)/ Địa ngục (hồ lửa, hay sao chổi), cho đó chỉ là “state of mind” (tâm cảnh); Houston Chronicle, 8/18/1999. Đây là sự tiến hóa quan trọng của Giáo hội Vatican, hay chỉ ý kiến của một John Paul II? Năm 2008, tân Giáo hoàng Benedict XVI chỉ mới công khai xin lỗi và bày tỏ lòng ân hận trước hiện tượng dâm ô đồng tính trong các giáo đường Ki-tô Vatican, nhưng chưa có giáo chỉ nào về thiên đường và địa ngục.

13. Robert McNamara, In Retrospect, tr. 186. Một tài liệu do chúng tôi khám phá năm 1995 cho biết Thiệu đã tham gia hoạt động chính trị từ 1954. Ngày 5/11/1954, Thiếu tá Thiệu đã là Ủy viên Nghiên cứu của Việt Quốc Dân Xã tại Huế (Đệ Nhị Quân Khu), một cánh tay địa phương của Đảng Con Ó do Trung tá Trần Đình Lan thành lập để ủng hộ Tướng Nguyễn Văn Hinh trong cuộc tranh giành quyền lực với Thủ tướng Diệm. Cùng trong tổ chức này có Trần Thiện Khiêm (Tổng thư ký), Hoàng Xuân Lãm, Trần Văn Trung, Nguyễn Văn Mạnh, v.. v..– những cộng tác viên mật thiết của Thiệu từ năm 1965 tới ngày miền Nam sụp đổ. Nhưng từ năm 1955, ảnh hưởng Pháp tàn lụn ở Việt Nam. Uy thế Đại Việt cũng xuống dốc sau biến loạn chiến khu Ba Lòng và Phú Yên/Khánh Hòa (3/1955). Đảng Con Ó trở thành lỗi thời từ ngày 1/7/1955, nếu không phải sớm hơn, khi Hinh phải trở lại Pháp ngày 19/11/1954. Thiệu dấu kín tông tích “Con Ó” Việt Quốc Dân Xã, sử dụng chiêu bài “công giáo” của họ nhà vợ. Vì thế Thiệu được cử chỉ huy trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt, trước khi nắm Tư lệnh Sư đoàn 1 ở Huế, rồi Sư đoàn 5 ở Biên Hòa. Đồng thời, thăng tiến dần trong Quân ủy Trung ương của Đảng Cần Lao. Liên hệ giữa Thiệu và Albert Phạm Ngọc Thảo, một gián điệp tình báo chiến lược của miền Bắc, cũng ngày một chặt chẽ.

14. Cựu Đại tá Phạm Văn Liễu từng đề nghị Hương tự tử để giữ tròn khí tiết, nhưng Hương, dĩ nhiên, không nghe theo.

15. Hoàng Kim Loan, hoặc thân nhân, có thể truy tố cựu sĩ quan này ra trước tòa Liên bang Mỹ. Yếu tố thời hiệu 10 năm đã qua, nhưng chỉ gần đây (2007) đương sự mới công bố tội ác của mình, nên ít nhất có thể đòi bồi thường về dân sự. Một văn phòng luật sư tốt có thể khiến tội nhân hình sự quốc tế này mất quyền công dân Mỹ (vì đương sự tự thú nhận).

16. Nổi danh nhất có Vũ Ngọc Nhạ, Phạm Ngọc Thảo, Phạm Xuân Ẩn, Huỳnh Văn Trọng, Đặng Trần Đức (Ba Quốc).

17. Xem Chính Đạo, “Phiến Cộng trong Dinh Gia Long;” Cuộc Thánh Chiến Chống Cộng (Houston: Văn Hoá, 2004). Bài này đã được cập nhật hóa trên hopluu.net, Phụ Bản đặc biệt (2007) Xem thêm Ellen Hammer, A Death in November; William Colby, Lost Victory, tr. 102-103; Robert S. McNamara, In Retrospect, tr. 56.

18. Những con số dùng cho phần nói về kinh tế này dựa theo U.S. House of Representatives, Committee on Foreign Affairs,Vietnam–A Changing Crucible, Report of a Study Mission to South Vietnam, persuant to H. Res.267, 93rd Congress, 2d Session, May 1974 (Washington, DC: GPO, 1974), pp. 8-9. Xem thêm báo cáo định kỳ của Đại sứ Bunker từ 1967 tới 1973.

19. Ngày 17/6/1954, Dulles gửi công điện cho phái đoàn Mỹ ở Geneva, lưu ý Pháp [Chauvel] về điều kiện di tản quân Pháp, và giáo dân Ki-tô Việt; The Pentagon Papers (Gravel), I:531 [Doc. 190]) Ngày 18/7 và rồi 21/7/1954, tại Hội nghị Geneva, Ngoại trưởng Đỗ cũng nêu lên vấn đề hai giáo phận Bùi Chu-Phát Diệm; SHAT (Vincennes), 10H 246. Về vai trò Ki-tô giáo trong cuộc xâm lăng và “bảo hộ” của Pháp, xem Vũ Ngự Chiêu, Các vua cuối nhà Nguyễn, 1883-1945, 3 tập (Houston: Văn Hóa, 1999-2000); Cao Huy Thuần, Les missionnaires et la politique coloniale francaise au Vietnam (1857-1914) (New Haven: Yale Center for International & Asia Studies, 1990); Patrick J. N. Tuck, French Catholic Missionaries and the Politics of Imperialism in Vietnam, 1857-1914: A Documentary Survey. (London: Liverpool Univ. Press, 1987).

20. Dụ số 10 ngày 6/8/1950 do Bảo Đại ký từ Vichy vẫn ghi Ki-tô giáo là Thiên Chúa Giáo hay Gia tô. Điều thứ 44 ghi: “Chế độ đặc biệt cho các hội truyền giáo Thiên chúa Gia tô, và các Hoa kiều lý sự hội sẽ ấn định sau;” Công Báo Việt Nam [CBVN],III:3 [19/8/1950]:434-437. Bản dịch Anh ngữ Dụ số 10 ngày 6/8/1950 cùng hai tu chính ngày 19/12/1952 và 3/4/1954 trích in trong phần phụ bản XV của United Nations General Assembly [UNGA], Doc. A/5630, 7/12/1963:86-89.

21. Etudes vietnamiennes, No. 53 (1978), tr. 108.

22. Phiếu trình số 077QP/CTTL/CTĐB/K ngày 21/2/1964; Đại tá Nguyễn Văn Chuân, Giám đốc Nha Kỹ Thuật Chiến Tranh Tâm Ly, gửi CT/HĐQNCM; TTLTTƯ II (TP/HCM), Phủ Thủ Tướng [PhThT], Hồ sơ [HS] 29383.

23. Đại sứ Lodge nhận xét rằng Diệm mang quan điểm Trung Cổ về độc tài gia đình trị, và họ Ngô là những kẻ dối trá và tội phạm [liars and criminals]; FRUS, 1961-1963, IV:143, 67. Cố vấn An Ninh Quốc Gia McGeorge Bundy ví những hành động cuối triều Ngô như “cơn điên cuồng tập thể của một gia đình cai trị chưa từng thấy từ thời các Nga Hoàng” [This was the first time the world had been faced with collective madness in a ruling family since the day of the tsars”] Ibid., IV:175. Xem thêm báo cáo của Đại sứ Pháp Lalouette ngày 10/3/1962 & 30/8/1962; AMAE (Paris), CLV, SN, d. 14 & 46; lược dịch Việt ngữ trong Chính Đạo,Việt Nam Niên Biểu, I-C: 1955-1963, 2000:248-250, 259-261.

24. Hoàng Đức Ninh, em họ Thiệu, là trường hợp tiêu biểu nhất. Khi Ninh giữ chức tỉnh trưởng Bạc Liêu, Cố vấn John Paul Vann của Quân đoàn IV nhận xét nếu có thể móc đất Bạc Liêu bán cho Việt Cộng, Ninh cũng không từ. Thiệu bèn đưa Ninh lên nắm Biệt khu 44 (sát Kampuchea), Ninh dùng cả trực thăng đưa thanh niên trốn lính hay đào ngũ qua Kampuchea. Sau vụ tai tiếng vợ Ninh đánh ghen đào cải lương Bạch Tuyết ở Sài Gòn, Ninh được đưa qua Tây Germany làm tùy viên quân sự. Em trai Ninh, Hoàng Đức Nhã, làm cố vấn đặc biệt cho Thiệu, rồi nắm Bộ Dân vận, Chiêu Hồi. Theo tình báo Mỹ, tháng 4/1975, Nhã biến dạng cùng 5 tấn vàng ở Singapore, trong nhiệm vụ dàn xếp cho Thiệu di tản. Xem thêm về sự tham nhũng và thiếu khả năng của giới quân phiệt trong Clarke, 1988:358, 453, 486-489; Vien, Leadership, 1983:213.

25. Xem Hữu Mai, Ông Cố Vấn, 3 tập (Hà Nội: 1987-1989). Nhân vật “Năm Sang” trong cuốn Ông Cố Vấn tức cấp chỉ huy trực tiếp của Vũ Ngọc Nhạ, là Trương Văn Sang, cựu Bí thư Sài Gòn.

26. Mâu từng tập trung “bọn tăng ni phản loạn” vào các trại giáo huấn, và những người “tốt nghiệp” phải ký tên vào kiến nghị nhớ ơn Tổng thống, hứa tuyệt đối trung thành với chế độ. Xem chi tiết trong Chính Đạo, “Mùa Phật Đản đẫm máu;” Hopluu.net,Phụ bản đặc biệt tháng 5/2008.

27. Cho tới nay, biến cố 1966 chưa được nghiên cứu tường tận, dầy phủ những cảm nhận sắt máu hận thù, hay bi phẫn.

28. Xem Nguyên Vũ, Sau Bảy Năm Ở Lính (Sài Gòn: Đại Ngã, 1970).

29. Mãi tới năm 1982, Trường Chinh–người được coi như thân Bắc Kinh–mới lên án tư tưởng Mao Trạch Đông là “phi vô sản, phản động,” “chống chủ nghĩa Mac-Lênin,” “chống CNXH,”“chủ nghĩa bành trướng và chủ nghĩa bá quyền đại Hán tộc, sô vanh nước lớn, dân tộc tư sản mang đậm màu sắc phong kiến,” “đã rất xảo quyệt sử dụng Việt Nam như một con bài để vươn lên địa vị cường quốc . . ., kiềm chế và gây áp lực khi viện trợ cho Việt Nam, tìm mọi cách khống chế Việt Nam, kéo Việt Nam vào quĩ đạo để họ nắm Việt Nam, từ đó nắm cả Đông Dương và tràn xuống Đông Nam Châu Á. . . . họ đã giữ cho Việt Nam không thắng, không bại, bị chia cắt lâu dài, làm nước đệm giữa Trung quốc và chủ nghĩa đế quốc, không bao giờ mạnh lên được và luôn luôn lệ thuộc vào họ.” Trường Chinh, “Nhân Dân Việt Nam kiên quyết đánh bại mọi mưu mô xâm lược của chủ nghĩa bành trướng và chủ nghĩa bá quyền Trung Quốc;” “Xã luận” Tạp chí Cộng Sản [TCCS], 3/1982, trích đăng trong Chống chủ nghĩa bành trướng bá quyền Trung Quốc (Hà Nội: 1982), tr. 35.

30. Nguyễn Văn Linh, Thành phố Hồ Chí Minh 10 năm (Sài Gòn: 1985), tr. 92-93.

31. Ngày Thứ Bảy, 17/2/1979, đúng ngày Phạm Văn Đồng ký Hiệp ước Hợp Tác và Hữu Nghị với Kampuchea, Hồng quân TC xâm lăng Việt Nam để trả đũa việc VN xâm phạm biên giới. Dương Đắc Chí [Yang Dezhi], Tư lệnh Quân khu Côn Minh; dưới sự chỉ huy của Xu Shiyou [Hứa Thế Hữu], Tư lệnh Quảng Châu, thân cận của Đặng Tiểu Bình. Zhang Dingfa, Tư lệnh Không quân, đích thân chỉ huy không lực. Quân số TC lên tới 200,000 (5 quân đoàn, khoảng 15-16 Sư đoàn chính qui), 1 đơn vị Dù, khoảng 700 phi cơ đủ loại. Một tài liệu CSVN ghi là hơn 600,000 quân TC xâm lược; Chống chủ nghĩa bành trướng bá quyền Trung Quốc,: 1982:25 [“Xã luận” của TCCS, 5/1979], 35 [“Xã luận” TCCS, 3/1982]. Trong 30 ngày chiến tranh, từ 17/2 tới 19/3/1979, CSVN đã “loại khỏi vòng chiến đấu 62,500 tên Trung quốc xâm lược, tiêu diệt và đánh thiệt hại 3 trung đoàn, 18 tiểu đoàn, bắn cháy và phá hủy 200 xe tăng và xe bọc thép, 270 xe vận tải, phá hủy 115 khẩu pháo và súng cối hạng nặng, thu nhiều vũ khí và đồ dùng quân sự, bắt nhiều tên Trung quốc xâm lược.” Ibid., 1982:20 [ “Xã luận” TCCS, 4/1979]

32. Nguyễn Phú Trọng, “Xây Dựng Đảng Cầm Quyền: Một số kinh nghiệm từ thực tiễn đổi mới ở Việt Nam;” Hội thảo lý luận giữa Đảng CSViệt Nam và Đảng CSTQ: Xây Dựng Đảng Cầm Quyền, Kinh nghiệm của Việt Nam, Kinh nghiệm của TQ (Hà Nội: NXB CTQG, 2004), tr. 18, 21.

33. “Highlights of Pope Benedict’s US visit;” AP, 5/4/2008.

bandovn1975.jpg

Nguồn bài đăng

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s