Quan hệ Việt – Trung trong kỷ nguyên Trung Quốc trỗi dậy: Quyền lực, phản kháng và xung đột trên biển (Phần 1)

ZZZ_071816_south_china_sea_2016_07_18_16_37_15

Robert S. Ros

JOURNAL OF CONTEMPORARY CHINA 12/2020

Người dịch Nguyễn tuấn Anh

Về tác giả

Robert S. Ross là Giáo sư Khoa học Chính trị tại Đại học Boston, và Phó Hiệu trưởng, Trung tâm Nghiên cứu Trung Quốc Fairbank, Đại học Harvard. Nghiên cứu của ông tập trung vào chính sách an ninh của Trung Quốc và an ninh Đông Á, bao gồm cả sự trỗi dậy của Trung Quốc và việc Trung Quốc sử dụng vũ lực. Các ấn phẩm gần đây của ông bao gồm Điều chỉnh Chiến lược và Sự trỗi dậy của Trung Quốc: Quyền lực và Chính trị ở Đông Á.

***

Trong thế kỷ XXI, Trung Quốc và Việt Nam đã trải qua căng thẳng ngày càng tăng về tranh chấp chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ở Biển Đông và các tranh chấp liên quan đến việc phân định ranh giới vùng đặc quyền kinh tế (EEZ).1 Nhưng, đối với Trung Quốc, xung đột Trung-Việt không chỉ là tranh chấp chủ quyền và quyền lợi kinh tế. Đó là cuộc đấu giữa một cường quốc và nước láng giềng nhỏ hơn về nhu cầu không gian ảnh hưởng liền kề – một khu vực biên giới không có ảnh hưởng chính trị và chiến lược của một cường quốc khác. Kể từ năm 1949, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa luôn yêu cầu lãnh đạo Việt Nam từ chối hợp tác chiến lược với các cường quốc ngoài khu vực, bao gồm cả Mỹ và Liên Xô. Tuy nhiên, đối với Việt Nam, sự hiện diện lù lù của Trung Quốc ở biên giới phía bắc đặt ra một mối đe dọa hiện hữu khiến Việt Nam phải tìm kiếm sự hỗ trợ của các cường quốc ngoài khu vực cho sự độc lập về an ninh và chính sách đối ngoại của mình.2

Xung đột lợi ích Việt-Trung này đã góp phần làm gia tăng căng thẳng và chiến tranh, đồng thời làm giảm hợp tác kinh tế và chính trị. Nhưng những lợi thế chiến lược mà Trung Quốc có được đối với cả Việt Nam và các cường quốc ngoài khu vực lục địa Đông Á cuối cùng đã buộc Hà Nội phải đáp ứng các lợi ích của Trung Quốc. Những lợi thế này, bao gồm ưu thế lực lượng mặt đất ở biên giới Việt-Trung đã tăng lên cùng với sự trỗi dậy của Trung Quốc. Nhưng giờ đây Trung Quốc không chỉ có được sức ép to lớn hơn đối với Việt Nam ở biên giới đất liền mà ưu thế của hải quân Trung Quốc ở vùng duyên hải Việt Nam đã hạn chế khả năng của Việt Nam có sự hỗ trợ bảo vệ từ bên ngoài để chống lại các yêu cầu của Trung Quốc.3

Tuy nhiên, đằng sau sự đáp ứng của Việt Nam là chủ nghĩa dân tộc bền bỉ chống Trung Quốc, phản ánh thái độ thù địch phổ biến trước những thách thức lâu dài của Trung Quốc đối với nền độc lập Việt Nam.4 Chủ nghĩa dân tộc này hạn chế sự hợp tác Việt- Trung và tạo ra áp lực liên tục chống lại quyền lực của Trung Quốc, đặc biệt liên quan đến các tranh chấp lãnh thổ, lãnh hải.5

Cách tiếp cận lợi ích quốc gia của bài viết này về sự hợp tác và xung đột Việt- Trung khác với phương pháp học thuật của David Kang, Kang phân tích mức độ liên quan đương thời đối với hợp tác Trung-Việt, của các quy tắc chung của kỷ nguyên Trung Quốc và Việt Nam liên quan đến tính hợp pháp của trật tự phân cấp khu vực dưới sự lãnh đạo của Trung Quốc.6 Nó cũng khác với phương pháp của Brantly Womack về sự bất đối xứng Việt- Trung khi nhấn mạnh vai trò của các biện pháp tu từ và biểu tượng của Việt Nam đối với ‘địa vị’ của Trung Quốc trong việc trấn an Trung Quốc về việc Việt Nam sẽ đáp ứng lâu dài với lợi ích của Trung Quốc và tạo điều kiện cho một mối quan hệ hợp tác ổn định và “chín muồi”.7 Tương tự, nó thách thức cách tiếp cận theo xu hướng xây dựng của Christina Lai, nhấn mạnh tầm quan trọng của lời lẽ ngoại giao tích cực trong việc tạo dựng một mối quan hệ hợp tác Việt- Trung có tính xây dựng.8

Phần đầu tiên của bài viết này xem xét ngắn gọn sự ưu tiên (primacy) của các động lực lợi ích quốc gia và sự tìm kiếm an ninh biên giới của Trung Quốc trong quan hệ Việt-Trung trong Chiến tranh Lạnh và từ khi Chiến tranh Lạnh kết thúc đến năm 2010. Từ năm 1949, Trung Quốc đã tìm kiếm không gian ảnh hưởng ở Đông Dương. Phần thứ hai của bài viết nghiên cứu giai đoạn 2010 – 2014. Nó xem xét các bài viết của các học giả Trung Quốc, các nhà phân tích chính phủ và các nhà báo chính sách đối ngoại để thiết lập quan điểm đại bá quyền của Trung Quốc trong quan hệ Việt- Trung cùng với các tranh chấp trên biển và sự phản đối của Trung Quốc, bao gồm cả ngoại giao hàng hải cưỡng bức trong năm 2014, đối với nỗ lực của Việt Nam nhằm đảm bảo hợp tác an ninh với Mỹ. Nó cũng xem xét vai trò của chủ nghĩa dân tộc trong hoạch định chính sách của Việt Nam. Phần thứ ba của bài viết nghiên cứu quan hệ Việt- Trung sau năm 2014, khi Việt Nam một lần nữa hợp tác với các cường quốc bên ngoài và thách thức các yêu sách chủ quyền của Trung Quốc và các lợi ích an ninh của nước này ở Đông Dương. Tuy nhiên, trong giai đoạn này, sự trỗi dậy không ngừng của Trung Quốc đã góp phần khiến Trung Quốc tự tin hơn trong việc quản lý các thách thức của Việt Nam, đồng thời giảm căng thẳng và mở rộng hợp tác kinh tế và chính trị. Khi Trung Quốc tin chắc vào việc Việt Nam đáp ứng các lợi ích an ninh của Trung Quốc, thì những thách thức của Việt Nam đối với yêu sách chủ quyền và kinh tế của Trung Quốc có ý nghĩa chính sách đối ngoại thứ yếu. Phần kết luận xem xét ngắn gọn triển vọng hợp tác Việt-Trung trong thế kỷ XXI và khả năng tái diễn các đợt gia tăng căng thẳng.

Quan hệ Việt-Trung: 1949-2010

Sau năm 1949, Trung Quốc bắt đầu thiết lập an ninh với các đường biên giới của mình. Sự can thiệp của Trung Quốc vào Chiến tranh Triều Tiên và hỗ trợ quân sự cho lực lượng kháng chiến Việt Nam chống lại người Pháp phản ánh nỗ lực thiết lập an ninh biên giới. Vào năm 1954, lần đầu tiên Trung Quốc có biên giới an toàn kể từ Chiến tranh Nha phiến. Không chỉ vì Trung Quốc, trợ giúp ngoại giao và quân sự cho Việt Minh, đã góp phần vào việc đánh bại Pháp và buộc Mỹ rút khỏi [bắc] Việt Nam, mà còn vì Liên Xô đảm bảo với Trung Quốc rằng họ sẽ không tham gia vào các vấn đề Đông Á. Khi thành viên Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc Lưu Thiếu Kỳ đến thăm Mat-xcơ-va vào mùa hè năm 1949, Joseph Stalin nói với ông rằng Trung Quốc có trách nhiệm hỗ trợ cách mạng và chống lại chủ nghĩa đế quốc Mỹ ở châu Á.9 Từ năm 1949 đến giữa những năm 1960, Liên Xô chỉ triển khai lực lượng quân đội ở vùng Viễn Đông của mình.10

Sự tập trung của Trung Quốc vào an ninh biên giới của họ đã được phản ánh tại Hội nghị Geneva 1954. Thay vì thúc đẩy việc thống nhất Việt Nam, Trung Quốc ủng hộ một thỏa thuận có thể ngăn chặn sự leo thang các cuộc không chiến của Mỹ đến gần biên giới Trung Quốc và cấm các lực lượng nước ngoài đóng quân ở Đông Dương. Một khi Mỹ đồng ý rút các lực lượng quân sự khỏi Việt Nam sau chiến tranh, Bắc Kinh đã gây sức ép buộc lãnh đạo cộng sản Việt Nam chấp nhận một nước Việt Nam bị chia cắt.11 Nằm trong phạm vi ảnh hưởng của Trung Quốc và do đó không có hỗ trợ từ một cường quốc khác để có thể chống lại các yêu cầu của Trung Quốc, Bắc Việt đã phải đáp ứng lợi ích của Trung Quốc. Và trong suốt những năm 1950, Bắc Kinh khuyên Hà Nội nên tập trung vào phát triển kinh tế hơn là thống nhất. Vào đầu những năm 1960, khi chính phủ miền Nam Việt Nam gây thiệt hại nặng nề cho những người cộng sản miền Nam Việt Nam, Trung Quốc tiếp tục cố vấn nên kiềm chế và không cung cấp hỗ trợ quân sự cho Hà Nội.

Nhưng khi Quân đội Mỹ phối hợp với miền Nam Việt Nam trấn áp cuộc nổi dậy của cộng sản và triển khai lực lượng quân sự ở miền Nam Việt Nam, họ đã thách thức an ninh của Trung Quốc ở Đông Dương. Trung Quốc sau đó đã thay đổi chính sách về nổi dậy vũ trang ở miền Nam Việt Nam. Vào tháng 8 năm 1962, lần đầu tiên kể từ sau chiến tranh chống Pháp của Việt Nam, Trung Quốc đã viện trợ quân sự cho miền Bắc Việt Nam và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam.12

Khi Chiến tranh Việt Nam leo thang và một chiến thắng của Bắc Việt dường như có thể xảy ra, lãnh đạo Trung Quốc lo ngại rằng Liên Xô sẽ thay thế ảnh hưởng của Trung Quốc ở Hà Nội và thay thế Mỹ ở Việt Nam như một thách thức đối với an ninh Trung Quốc. Lo ngại mối đe dọa về sự hiện diện của Liên Xô tại một nước Việt Nam thống nhất và Liên Xô bao vây Trung Quốc, vì thế khi chiến tranh tiếp tục, Bắc Kinh gây áp lực buộc Hà Nội tiến hành chiến tranh du kích và dựa vào khả năng tự lực, thay vì tiến hành chiến tranh quy ước (positional warfare) đòi hỏi sự phụ thuộc nhiều hơn vào sự trợ giúp của Liên Xô và có nguy cơ leo thang các hoạt động quân sự của Mỹ đến gần biên giới Trung Quốc.13 Bắt đầu từ năm 1965, các nhà lãnh đạo Trung Quốc thường xuyên cảnh báo Bắc Việt rằng nếu họ quay sang Matxcova để được hỗ trợ quân sự, Trung Quốc sẽ trả đũa. Từ năm 1966 đến năm 1970, ngoại trừ trong cuộc tấn công Tết Mậu Thân 1968, phản ánh nhu cầu cấp bách về hỗ trợ quân sự ngay lập tức của Bắc Việt, Trung Quốc đã giảm viện trợ quân sự cho Bắc Việt.14

Sau khi Việt Nam thống nhất vào năm 1975, khi ảnh hưởng quân sự và kinh tế của Liên Xô ở Hà Nội gia tăng, Trung Quốc đã áp dụng các biện pháp leo thang gây áp lực đối với Việt Nam nhằm hạn chế sự hợp tác với Liên Xô, tăng cường hợp tác quốc phòng Trung Quốc-Campuchia và dung túng sự hiếu chiến của Campuchia ở biên giới Campuchia – Việt Nam. Năm 1978, khi Việt Nam lên kế hoạch chiếm Campuchia với sự hỗ trợ của đồng minh Liên Xô, Trung Quốc cảnh báo rằng họ sẽ trả đũa quân sự ở biên giới Trung-Việt.15

Vào tháng 12 năm 1978, Việt Nam tấn công Campuchia.16 Trung Quốc sau đó tiến hành một cuộc chiến tranh tiêu hao cường độ thấp kéo dài 10 năm ở biên giới Trung-Việt và hỗ trợ nổi dậy chống Việt Nam ở Campuchia.17 Trung Quốc quyết tâm buộc Hà Nội chấm dứt hợp tác an ninh với Liên Xô, rút khỏi Campuchia, và đồng ý ngầm với yêu cầu của Trung Quốc rằng không có thế lực nước ngoài nào thách thức an ninh Trung Quốc ở ngoại vi của nó.

Khi Việt Nam mất sự ủng hộ của Liên Xô vào cuối Chiến tranh Lạnh, Trung Quốc trở thành cường quốc duy nhất ở Đông Dương và Việt Nam đáp ứng (accommodated) các lợi ích của Trung Quốc. Năm 1989, Việt Nam mở cuộc đàm phán với Trung Quốc và Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) để chấm dứt việc chiếm đóng Campuchia và bắt đầu rút lực lượng khỏi Campuchia. Trong các năm 1989–1990, các nhà ngoại giao cao cấp của Việt Nam đã ba lần đến Bắc Kinh, tìm cách giải quyết xung đột. Năm 1991, Hà Nội đồng ý một Thỏa thuận Chính trị Toàn diện, theo đó Việt Nam rút khỏi Campuchia, giải tán chính phủ Hun Sen do Việt Nam dựng lên, đưa đồng minh của Trung Quốc là Hoàng tử Sihanouk làm nguyên thủ quốc gia và các cuộc bầu cử do Liên Hợp Quốc quản lý.18

Vừa lòng với việc Việt Nam đáp ứng lợi ích của Trung Quốc, Bắc Kinh khôi phục quan hệ hợp tác Trung-Việt. Năm 1991, Bức Kinh đã đón tiếp Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Đỗ Mười và Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Võ Văn Kiệt. Cuối năm đó, lãnh đạo Trung Quốc và Việt Nam tuyên bố bình thường hóa quan hệ và ký Hiệp định Thương mại và các Hiệp định biên giới.

Trong 20 năm tiếp theo, Trung Quốc và Việt Nam có quan hệ hợp tác. Sau các cuộc khảo sát chung về khu vực biên giới trên bộ, năm 1999 Trung Quốc và Việt Nam đã ký một hiệp định biên giới dựa trên hòa ước Pháp – Thanh năm 1885. Năm 2000, Trung Quốc và Việt Nam đã ký hai hiệp định liên quan đến Vịnh Bắc Bộ phân định lãnh hải và EEZ và đã thiết lập các quy định để quản lý các hoạt động đánh bắt cá.

Mặc dù quan hệ được cải thiện nhưng Trung Quốc và Việt Nam vẫn chưa giải quyết được tranh chấp chủ quyền trên biển. Vào năm 1974, Trung Quốc đã đánh đuổi các lực lượng Nam Việt Nam khỏi quần đảo Hoàng Sa và vào năm 1988, họ đã đánh đuổi lực lượng Việt Nam khỏi một số đảo thuộc quần đảo Trường Sa. Hà Nội, đầu tiên bận tâm đến việc tiến hành cuộc chiến tranh chống lại miền Nam Việt Nam và sau đó chống lại việc tái liên kết Trung-Xô và sự thống trị đang nổi lên của Trung Quốc ở Đông Dương, đành chấp nhận việc Trung Quốc sử dụng vũ lực chiếm đóng các đảo mà Việt Nam tuyên bố chủ quyền.19

Nhưng từ năm 1991 đến năm 2009, Việt Nam đã mở rộng sự hiện diện của mình trên các khu vực mà Trung Quốc tuyên bố chủ quyền ở quần đảo Trường Sa.20 PetroVietnam Việt Nam đã ký 99 hợp đồng với các công ty năng lượng nước ngoài để thăm dò dầu khí trong vùng biển EEZ mà Trung Quốc cũng tuyên bố chủ quyền.21 Trung Quốc 18 lần phản đối tới Bộ Ngoại giao Việt Nam về các hợp đồng này.22 Cũng có sự cố giữa tàu cá Việt Nam và tàu Cảnh sát biển Trung Quốc ở Vịnh Bắc Bộ và gần quần đảo Hoàng Sa, với thương vong của phía Việt Nam. Từ năm 2005 đến năm 2010, Trung Quốc đã bắt giữ hơn 63 tàu đánh cá của Việt Nam và bắt giữ hơn 725 ngư dân.23

Tuy nhiên, ngoại trừ cuộc đụng độ hải quân ngắn ngủi vào năm 1994,24 các tranh chấp về chủ quyền và EEZ đã không làm gián đoạn hợp tác Trung-Việt. Ngược lại, trong bối cảnh Trung Quốc hài lòng với các xu hướng chiến lược ở Đông Dương, Việt Nam và Trung Quốc đã phát triển các cơ chế song phương chính thức sâu rộng để tăng cường hợp tác và quản lý tranh chấp. Hơn nữa, từ năm 2000 đến năm 2010, thương mại hai chiều đã tăng hơn 1.400%, từ 1,95 tỷ USD lên 27,6 tỷ USD. Xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc tăng từ 1,5 tỷ USD lên 7,5 tỷ USD. Các công ty Trung Quốc cũng đầu tư đáng kể vào các dự án cơ sở hạ tầng của Việt Nam và Việt Nam là mục tiêu đầu tư kỹ thuật lớn nhất của Trung Quốc ở Đông Nam Á. Trong khoảng thời gian từ 2005 đến 2009, số dự án đầu tư của Trung Quốc vào Việt Nam đã tăng gần 400%. Các khoản vay ưu đãi của Trung Quốc cũng cấp vốn vào các dự án cơ sở hạ tầng và công nghiệp lớn của Việt Nam.25 Đường qua biên giới Trung-Việt, ggaanf đây vốn chỉ là tuyến đường cho các đơn vị Trung Quốc xâm lược Việt Nam, đã trở thành tuyến thương mại Trung-Việt.

Sau năm 1991, Hà Nội không hợp tác với một thế lực nước ngoài để thách thức chính quyền của Trung Quốc ở Đông Dương; Phạm vi ảnh hưởng của Trung Quốc thời hậu Chiến tranh Lạnh đã được đảm bảo. Và đối với Trung Quốc, các tranh chấp chủ quyền quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa thiếu ý nghĩa chiến lược và kinh tế vật chất. Việt Nam đã thách thức các tuyên bố chủ quyền trên biển của Trung Quốc, nhưng dù sao thì Trung Quốc cũng hoan nghênh sự phát triển của quan hệ hợp tác kinh tế và chính trị Trung-Việt sâu rộng.

SỰ TRỖI DẬY CỦA TRUNG QUỐC VÀ QUAN HỆ VIỆT-TRUNG 2010-2014

Bắt đầu từ năm 2010, lần thứ ba kể từ năm 1949, Trung Quốc tham gia vào cuộc cạnh tranh cường quốc ngày càng quyết liệt ở Đông Á. Mỹ tập trung vào sự trỗi dậy và chủ nghĩa tích cực*1 ngày càng tăng của Trung Quốc ở Đông Á và chính sách ngoại giao thách thức của Trung Quốc. Một phần trong nỗ lực của Mỹ là tiếp cận với một Việt Nam sẵn sàng xem xét và chấp nhận các đề xuất và ý tưởng mới để phát triển hợp tác an ninh Việt – Mỹ. Một lần nữa, Trung Quốc lại chống lại sự hợp tác của Việt Nam với một cường quốc ngoài khu vực.

Chính sách đương đại của Trung Quốc đối với Việt Nam phản ánh chính sách lớn hơn của nước này đối với Mỹ và sự can dự của Mỹ trong các tranh chấp Biển Đông. Đối với Trung Quốc, tầm quan trọng của các tranh chấp chỉ là thứ yếu so với tác động của việc Mỹ can thiệp vào các tranh chấp để kiềm chế sự trỗi dậy của Trung Quốc, cũng giống như lợi ích của Hà Nội trong việc thống nhất Việt Nam trong những năm 1950 và 1960 chỉ là thứ yếu so với lợi ích của Trung Quốc trong việc loại trừ sự hiện diện của đối thủ chiến lược khỏi Đông Dương. Có nguồn năng lượng tối thiểu trong vùng lân cận của các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa.26 Và các đảo này không có ý nghĩa quân sự lớn. Là những vật thể bất động, bất kỳ công trình phòng thủ nào trên quần đảo đều là những mục tiêu dễ bị tấn công trong thời chiến. Tranh chấp chủ quyền Trung-Việt kéo dài phản ánh các yêu sách lịch sử lâu đời về chủ quyền cũng như sự kết hợp giữa chủ nghĩa dân tộc và chính sách cứng rắn.27

Nhưng như một vấn đề an ninh, Trung Quốc chống lại sự can thiệp của Mỹ vào các tranh chấp chủ quyền và EEZ để phản đối chính sách ngoại giao của Trung Quốc và họ khăng khăng rằng các bên tranh chấp khác không được hợp tác với chính sách của Mỹ để đối phó với Trung Quốc. Kể từ khi Obama xoay trục sang Đông Á năm 2010, các nhà phân tích, học giả và nhà báo chính sách đối ngoại của chính phủ Trung Quốc lập luận rằng Mỹ can thiệp vào các tranh chấp để ‘thách thức’ quan hệ của Trung Quốc với các nước ASEAN. Quốc tế hóa chính là “Mỹ hóa.” Mỹ tạo ra xung đột khu vực và “la lên: sói”*2 về các ý định của Trung Quốc nhằm ngăn chặn sự hợp tác của Trung Quốc với các nước láng giềng và đối đầu với Trung Quốc bằng “áp lực chưa từng có.”28 Mỹ ngụy tạo “bầu không khí và ảo giác về căng thẳng an ninh trên biển như một cái cớ để can thiệp” vào các tranh chấp.29 Mỹ tạo ra “sự nghi ngờ” để  các nước láng giềng “xa lánh” Trung Quốc và tạo ra một “cái nêm” giữa họ và Trung Quốc để kéo họ lại gần Mỹ.30

Do đó, Trung Quốc phản đối các bên tranh chấp khác, trong đó có Việt Nam, “quốc tế hóa” các tranh chấp. Đặc biệt, Trung Quốc yêu cầu các bên không dựa vào sự hỗ trợ của Mỹ và hợp tác với các cường quốc bên ngoài để thăm dò hoặc khoan dầu ở các vùng biển tranh chấp. Thay vào đó, họ nên thực hiện thăm dò chung với Trung Quốc hoặc không thực hiện bất kỳ hoạt động thăm dò nào. Trong những năm trước đây, khi Pháp, Mỹ, và sau đó là Liên Xô thiết lập sự hiện diện quân sự ở Đông Dương, Trung Quốc dựa vào vũ lực để khôi phục an ninh biên giới thì đến năm 2010 việc Trung Quốc sử dụng vũ lực không còn cần thiết nữa.31 Sự trỗi dậy của Trung Quốc và sự hiện đại hóa của PLA đã củng cố ưu thế quân sự của Trung Quốc trên biên giới đất liền Trung-Việt và vùng biển ngoại vi của Việt Nam, vì thế trong thế kỷ XXI, Trung Quốc có thể dựa vào ngoại giao cưỡng bức và đe dọa leo thang để ép buộc Việt Nam chống lại các lời đề nghị của Mỹ và để đáp ứng với an ninh của Trung Quốc. Như một nhà phân tích của chính phủ Trung Quốc giải thích, Trung Quốc có thể sử dụng nhiều ‘biện pháp’ để kéo Việt Nam ‘lại gần Trung Quốc’ và ‘đánh chìm hoàn toàn công cụ của Mỹ để kiềm chế Trung Quốc’. Trung Quốc có ‘nhiều con bài’ và họ có thể sử dụng ‘sức mạnh thông minh’ để chống lại Việt Nam.32

Hợp tác Việt- Mỹ và quốc tế hóa các Tranh chấp Chủ quyền

Bước ngoặt trong chính sách của Mỹ đối với Việt Nam là chính quyền Obama ‘xoay trục’ sang châu Á, phản ứng của Mỹ đối với ‘ngoại giao quyết đoán’ của Trung Quốc. Vào tháng 3 năm 2009, tàu Trung Quốc đã quấy rối tàu USS Impeccable hoạt động trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Trung Quốc. Vào tháng 12, Trung Quốc đã tham dự vào các hoạt động ngoại giao gây tranh cãi với Mỹ tại Hội nghị về Biến đổi Khí hậu của Liên hợp quốc. Sau thông báo tháng 1 năm 2010 về việc Mỹ bán vũ khí cho Đài Loan, lần đầu tiên Trung Quốc đình chỉ các cuộc đối thoại ngoại giao Mỹ-Trung và công bố các biện pháp trừng phạt đối với các tập đoàn Mỹ tham gia hợp tác quốc phòng với Đài Loan. Vào tháng 3, Trung Quốc dường như đứng về phía Bình Nhưỡng sau khi Triều Tiên đánh chìm tàu hải quân Choenan của Hàn Quốc và vào tháng 7, nước này đã lớn tiếng phản đối các cuộc tập trận hải quân của Mỹ-Hàn trên vùng biển quốc tế ở Hoàng Hải. Vào tháng 9, họ đã trả đũa việc Nhật bắt giữ một thuyền trưởng tàu đánh cá Trung Quốc sau khi chiếc thuyền này đâm tàu Cảnh sát biển Nhật trong vùng biển tranh chấp. Chính sách ngoại giao quyết đoán của Trung Quốc cũng được thể hiện vào tháng 11 và tháng 12, khi các nhà ngoại giao của Trung Quốc chống lại Na Uy và Trung Quốc áp đặt các biện pháp trừng phạt kinh tế đối với Na Uy sau khi Ủy ban Giải Nobel trao giải Nobel Hòa bình cho nhà hoạt động dân chủ Lưu Hiểu Ba.

Chính quyền Obama, phản ứng với hoạt động tích cực của Trung Quốc, đã tìm đến Việt Nam. Vào tháng 7 và tháng 10 năm 2010, Ngoại trưởng Hillary Clinton đã đến thăm Hà Nội và kêu gọi thiết lập quan hệ đối tác chiến lược Mỹ-Việt. Tháng 10 năm 2010, Bộ trưởng Quốc phòng Robert Gates thăm Việt Nam.33 Vào tháng 12, Hải quân Mỹ đã tổ chức cuộc diễn tập đầu tiên với Hải quân Việt Nam và sau đó họ bắt đầu các cuộc diễn tập hàng năm với Hải quân Việt Nam. Năm 2010, tàu sân bay USS George Washington đã tiếp đón một đoàn đại biểu quân sự – dân sự Việt Nam khi hoạt động ở vùng biển tranh chấp và tàu khu trục USS John S. McCain đã đến thăm Đà Nẵng. Vào năm 2012, Bộ trưởng Quốc phòng Leon Panetta đã đến thăm Vịnh Cam Ranh và tuyên bố rằng ‘Sự tiếp cận của các tàu hải quân Mỹ’ tới Vịnh Cam Ranh ‘là một thành phần quan trọng của mối quan hệ này và chúng tôi nhận thấy một tiềm năng to lớn.’34 Khi Mỹ phát triển hợp tác quốc phòng với Việt Nam, nước này cũng thay đổi chính sách đối với các tranh chấp ở Biển Đông. Các chính quyền trước đây chỉ khẳng định lợi ích của Mỹ đối với tự do hàng hải và giải quyết hòa bình các tranh chấp. Nhưng vào tháng 7 năm 2010 tại Hà Nội và sau đó vào tháng 11 năm 2011 tại Philippines, Ngoại trưởng Clinton đã kêu gọi các cuộc đàm phán ‘hợp tác’ và ‘đa phương’ giữa các bên tranh chấp, ủng hộ quan điểm của ASEAN rằng cần có các cuộc đàm phán đa phương để giải quyết các tranh chấp, đối lập với Trung Quốc ưu tiên cho các cuộc đàm phán song phương với từng bên tranh chấp.35 Mỹ cũng tuyên bố thách thức lập trường của Trung Quốc, rằng thẩm quyền lịch sử đối với một vùng lãnh thổ không góp phần vào tuyên bố chủ quyền. Như vậy, Mỹ đã ‘phát huy hết vai trò của mình trong việc hướng dẫn và khuyến khích’ Việt Nam thách thức các lợi ích của Trung Quốc.36 Các nhà phân tích Trung Quốc đánh giá những diễn biến này, bao gồm cả ‘chuyến thăm lịch sử’ của Clinton tới Hà Nội, là những bước đầu tiên trong hợp tác Việt – Mỹ chống lại sự trỗi dậy của Trung Quốc và ‘mối đe dọa từ Trung Quốc’. Đối với Trung Quốc, mục đích của Việt Nam rất rõ ràng – ‘trong những năm gần đây, Việt Nam đã không tiếc bất kỳ nỗ lực nào để lôi kéo các cường quốc ngoài khu vực vào cuộc xung đột Biển Đông.’38 Việt Nam hợp tác với Mỹ để gửi một ‘tín hiệu rõ ràng’ đến Trung Quốc39 và Việt Nam ‘bắt tay’ với Mỹ để thách thức sức mạnh của Trung Quốc và để ‘cân bằng’ với Trung Quốc.40 Mối quan tâm chung giữa Mỹ và Việt Nam là ‘ngăn cản và kiềm chế các lợi ích củaTrung Quốc’ thúc đẩy Việt Nam cải thiện quan hệ với Mỹ như một ‘con bài mặc cả’ chống lại quyền lực của Trung Quốc.41 Việt Nam ‘hỗ trợ’ việc ‘tái cân bằng’ của chính quyền Obama để đối phó với ‘mối đe dọa Trung Quốc.42 Các nhà quan sát Trung Quốc cho rằng Việt Nam phát triển hợp tác quốc phòng và mua bán vũ khí với Mỹ không chỉ để tăng cường năng lực của mình mà còn góp phần vào nỗ lực ‘quốc tế hóa’ tranh chấp và kéo Mỹ vào cuộc xung đột Trung-Việt nhằm kiềm chế ‘Trung Quốc.43 Do đó, Trung Quốc giải thích việc chính quyền Trump chuyển giao cho Việt Nam sáu tàu tuần tra không chỉ là sự hỗ trợ cho Việt Nam chống lại Trung Quốc, mà còn là một phần trong chính sách của Mỹ phản đối vai trò ngày càng tăng của Trung Quốc trong khu vực.44

Đối với các nhà quan sát Trung Quốc, ảnh hưởng của chính sách của Mỹ đã gây ra hậu quả. Mặc dù Việt Nam ‘rõ ràng yếu hơn Trung Quốc’, nhưng vì Mỹ lên tiếng ủng hộ Việt Nam vào ‘thời điểm quan trọng’, nên Việt Nam ‘dám liên tục gia tăng’ các hành động khiêu khích, ‘không sợ Trung Quốc trả đũa mạnh mẽ.’45 Đối với Trung Quốc, Việt Nam nằm trong chiến lược toàn khu vực của Mỹ nhằm chống lại sự trỗi dậy của Trung Quốc. Chính quyền Obama đã thúc đẩy hợp tác với Việt Nam ‘như một phần của chiến lược “tái cân bằng châu Á-Thái Bình Dương,” để Việt Nam quốc tế hóa tranh chấp lãnh thổ góp phần vào việc ‘ngăn chặn’ Trung Quốc của Mỹ.46 Việt Nam cũng là một nhân tố quan trọng trong chiến lược Ấn Độ – Thái Bình Dương của Mỹ. Mỹ ‘lợi dụng Việt Nam cho các nhu cầu riêng của mình’ và họ ‘rất nỗ lực ràng buộc Việt Nam’ vào ‘những việc mà Mỹ có thể lợi dụng ’. Mỹ cố gắng biến Việt Nam trở thành ‘hình mẫu’ cho ‘hiệu ứng thể hiện’*3 ảnh hưởng của Mỹ trong khu vực nhằm gây ‘áp lực chiến lược lớn’ lên Trung Quốc.47 Do đó, Mỹ đã sử dụng tranh chấp Biển Đông Trung-Việt để ‘gieo rắc mối bất hòa giữa’ Trung Quốc và ‘các nước liên quan trên Bán đảo Đông Dương’ nhằm ‘kiềm chế’ Trung Quốc; Mỹ đã cải thiện quan hệ với Việt Nam để ‘ngăn cản và cân bằng với Trung Quốc.’48

Cuộc đối đầu với Hải Dương 981 và ngoại giao cưỡng bức của Trung Quốc

Khi Việt Nam hợp tác với Mỹ và thách thức các tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc, Trung Quốc đã đẩy lùi và thách thức an ninh của Việt Nam. Trong năm 2011 và 2012, khi tàu Việt Nam thực hiện khảo sát địa chấn tại vùng biển tranh chấp ở Biển Đông thì tàu Trung Quốc cắt cáp của tàu Việt Nam. Năm 2011, tình hình đặc biệt căng thẳng, với chính sách ngoại giao thù địch của Trung Quốc và những người theo chủ nghĩa dân tộc đòi trừng phạt Việt Nam.49 Vào ngày 20 tháng 3 năm 2013, các tàu tuần tra của Trung Quốc đã đối đầu với một tàu đánh cá của Việt Nam gần quần đảo Hoàng Sa đang tranh chấp. Hai tàu Trung Quốc bắn pháo sáng vào một tàu đánh cá của Việt Nam, gây ra hỏa hoạn thiêu rụi cabin của tàu này.50 Sau đó, vào cuối tháng 4 năm 2013, chính quyền địa phương Hải Nam đã tổ chức du lịch đến quần đảo Hoàng Sa. ‘Khách du lịch’ bao gồm 200 quan chức cấp tỉnh. Việt Nam không coi du thuyền là du lịch, ‘mà là một cái gì đó giống chủ nghĩa đế quốc hơn.’51

Căng thẳng Trung-Việt ít được Trung Quốc quan tâm lo lắng, nhưng với Việt Nam, căng thẳng gia tăng kéo theo nguy cơ leo thang và đụng độ hải quân với nước láng giềng mạnh hơn. Nhưng sau đó, vào tháng 5 năm 2014, khả năng về xung đột vũ trang đã tăng lên đáng kể. Đầu năm 2014, các cuộc đàm phán Trung-Việt nhằm thay thế thỏa thuận ký năm 2005 đã hết hạn về thăm dò chung ở các vùng biển tranh chấp đã kết thúc không thành công.52 Trung Quốc sau đó đã đưa giàn khoan dầu Hải Dương 981 của họ vào EEZ Việt Nam tuyên bố chủ quyền. Đây là lần đầu tiên Trung Quốc khoan dầu ở Biển Đông kể từ năm 1994 và họ thách thức các yêu sách lãnh hải của Việt Nam.53

Khi căng thẳng leo thang, Hà Nội đã cử 29 tàu đến bao vây và làm gián đoạn hoạt động khoan của Hải Dương 981. Trung Quốc đã cử tàu của mình đến khu vực này và ngay sau đó tàu Trung Quốc đã va chạm với tàu Hải quân Việt Nam. Tàu Trung Quốc phun vòi rồng vào các tàu Việt Nam và một tàu đánh cá Việt Nam bị chìm sau khi va chạm với tàu Trung Quốc.54 Đồng thời, các cuộc biểu tình chống Trung Quốc của những người theo chủ nghĩa dân tộc đã nổ ra khắp Việt Nam. 1.000 người biểu tình tập trung tại một nhà máy thép của Đài Loan ở tỉnh Hà Tĩnh. Ít nhất 21 người Trung Quốc chết và hơn 100 người Trung Quốc bị thương. Người biểu tình đã gây thiệt hại cho hàng trăm doanh nghiệp do Trung Quốc làm chủ tại Việt Nam. Tại Thành phố Hồ Chí Minh, một phụ nữ tự thiêu để phản đối Trung Quốc.55 Những người biểu tình tập trung tại Đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội và Lãnh sự quán Trung Quốc tại Thành phố Hồ Chí Minh. Hơn 4.000 người Trung Quốc đã rời khỏi Việt Nam, trong đó có khoảng 3.000 người Trung Quốc chạy qua biên giới Trung-Việt. Trung Quốc cử tàu đến Việt Nam để sơ tán hơn 1.000 người Trung Quốc.56


Chú thích của người dịch

*1. Activism: (triết) chính sách hoặc hành động sử dụng chiến dịch vận động mạnh mẽ để mang lại thay đổi chính trị hoặc xã hội.

*2. ”Cried: Wolf” xuất phát từ truyện ngụ ngôn Aesop “Cậu bé la: sói”. Ý nói la lên về sự nguy hiểm khi thực sự là không có mối nguy hiểm nào.

*3. Demonstration effect = Hiệu ứng thể hiện là hiệu ứng tác động lên hành vi của một người do quan sát hành động của những người khác và hậu quả của họ. Thuật ngữ này đặc biệt được sử dụng trong khoa học chính trị và xã hội học để mô tả thực tế là sự phát triển ở một nơi này thường sẽ có tác động như một chất xúc tác ở một nơi khác.

aa

Chú thích

  1. Bởi vì bài viết này đề cập đến xung đột chính trị Trung-Việt, nó không nhằm đánh giá các yêu sách tranh chấp pháp lý của Trung Quốc và Việt Nam ở Biển Đông.
  2. Để thảo luận về nhận thức của Việt Nam về mối đe dọa của sự trỗi dậy của Trung Quốc, xem Do Thanh Hai, ‘Riding the Chinese Tide,’ Pacific Review, vol. 31, No. 2 (2018). Về tầm quan trọng của đường biên giới chung đối với an ninh và ngoại giao Việt Nam, xem Carlyle A. Thayer, ‘The Tyranny of Geography: Vietnamese Strategies to Constrain China in the South China Sea,’ Contemporary Southeast Asia, vol. 33, no. 3 (December 2011).
  3. Sự phát triển của sức mạnh hàng hải Trung Quốc trong thời kỳ này, xem, ví dụ Eric Heginbotham, et. al., The US-China Military Scorecard: Forces, Geography, and the Evolving Balance of Power, 1996–2017, (Santa Monica: RAND Corporation, 2015), http://

http://www.rand.org/content/dam/rand/pubs/research_reports/RR300/RR392/RAND_RR392.pdf; Robert S. Ross, ‘The Changing East Asian Balance of Power and the Regional Security Order,’ in Robert S. Ross, Oystein Tunsjo, and Wang Dong, eds., US-China Foreign Relations: Power Transition and its Implications for Europe and Asia (New York: Routledge, 2020).

  1. Về nguồn gốc ban đầu của chủ nghĩa dân tộc chống Trung Quốc của Việt Nam, Alexander Barton Woodside, Vietnam and the Chinese Model: A Comparative Study of Vietnamese and Chinese Government in the First Half of the Nineteenth Century, (Cambridge: Harvard University Press, 1971), pp. 2, 20–21 Joseph Buttinger, The Smaller Dragon: A Political History of Vietnam (New York: Praeger. 1958), 105–09; Brantly Womack, China and Vietnam: The Politics of Asymmetry (New York: Cambridge University Press, 2006).
  2. Đối với một cuộc thảo luận các phát hiện về chủ nghĩa dân tộc chống Trung Quốc phổ biến đương thời liên quan đến tranh chấp lãnh thổ, xem Benedict J. Tria Kerkvliet, Speaking Out in Vietnam: Public Political Criticism in a Communist Party-Ruled Nation (Ithaca: Cornell University Press, 2019, chapter 3. Về một phân tích của Trung Quốc về tầm quan trọng của chủ nghĩa dân tộc trong chính sách của Việt Nam đối với tranh chấp biển, xem Zhang Cheng, ‘Yuenan zai Nanhai Youqi Jinquan Huodong de Xin Dongxiang ji Zhongguo de Yingdui’ (The New Trend in Vietnam’s infringement on oil and gas rights and China’s response), Bianjie yu Haiyang Yanjiu (Boundary and ocean studies), vol. 5, no. 1 (January 2020), pp. 114–115.
  3. David Kang, East Asia Before the West: Five Centuries of Trade and Tribute (New York: Columbia University Press, 2010), chapter 8. For a challenge to this perspective, see Kosal Path, ‘The Duality of Vietnam’s Deference and Resistance to China,’ Diplomacy & Statecraft, vol. 29, no. 3 (2018).
  4. Womack, China and Vietnam, chapter 10.
  5. Christina Lai, ‘A Coercive Brotherhood: Sino-Vietnamese Relations from the 1990s to 2018,’ in Journal of Contemporary China, vol. 29, No. 123 (May 2020).
  6. Chen Jian, China’s Road to the Korean War: The Making of the Sino-American Confrontation (New York: Columbia University Press. 1994), pp. 74–75.
  7. Paul F. Langer, ‘Soviet Military Power in Asia,’ in Donald S. Zagoria, ed., Soviet Policy in Asia (New Haven: Yale University Press, 1982); Harry Gelman, ‘The Soviet Far East Military Buildup: Motives and Prospects,’ in Richard H. Solomon and Masataka Kosaka, eds., The Soviet Far East Military Buildup: Nuclear Dilemmas and Asian Security (Dover, MA: Auburn House, 1986); Harry Gelman, The Soviet Far East Buildup and Soviet Risk-Taking Against China (Santa Monica: RAND, 1982).
  8. Zhai, China and the Vietnam Wars, chapter 4.
  9. Yin Chengzhi, ‘China’s Military Assistance to North Vietnam Revisited.’ Journal of American-East Asian Relations, vol. 26, No. 3 (2019), pp. 226–256.
  10. Li, Danhui and Yafeng Xia, Mao and the Sino-Soviet Split, 1959–1973 (New York: Lexington Books, 2018), pp. 132–143; Nicholas Khoo, Sino-Soviet Rivalry and the Termination of the Sino-Vietnamese Alliance (New York. Columbia University Press, 2010), chapter 3.
  11. Li and Xia, Mao and the Sino-Soviet Split, 1959–1973.
  12. Zhang Xiaoming, Deng Xiaoping’s Long War: The Military Conflict between China and Vietnam, 1979–1991 (Chapel Hill: University of North Carolina Press, 2015); Robert S. Ross, The Indochina Tangle: China’s Vietnam Policy, 1975–1979 (New York: Columbia University Press, 1988), chapters 7 and 8.
  13. Về vai trò của chủ nghĩa dân tộc Việt Nam trong chiến tranh Trung-Việt, xem Alexander Woodside, ‘Nationalism and Poverty in the Breakdown of Sino-Vietnamese Relations,’ Pacific Affairs, vol. 52, no. 3 (1979), pp. 381–409.
  14. Zhang Xiaoming, ‘China’s 1979 War with Vietnam: A Reassessment,’ China Quarterly, no. 184 (2005).
  15. Richard H. Solomon and Stanley Karnow, Exiting Indochina: U.S. Leadership of the Cambodia Settlement & Normalization with Vietnam (Washington, D.C.: United States Institute of Peace, 2000); Robert S. Ross, ‘China and the Cambodian Peace Process: The Value of Coercive Diplomacy,’ Asian Survey, vol. 31, no. 12 (December 1991).

19 Về việc sử dụng vũ lực của Trung Quốc năm 1974 và 1988, xem M. Taylor Fravel, Strong Borders, Secure Nation: Cooperation and Conflict in China’s  Territorial Disputes (Princeton: Princeton University Press, 2008), pp. 280–296.

20.Alexander L Vuving, ‘South China Sea: Who Occupies What in the Spratlys?,’ Diplomat, 6 May 2016, https://thediplomat.com/

2016/05/south-china-sea-who-claims-what-in-the-spratlys/.

  1. Hong Hiep Le, Living Next to the Giant The Political Economy of Vietnam’s Relations with China under Doi Moi (Singapore: ISEAS, 2016), pp. 137–38.
  2. Do, ‘Riding the Chinese Tide,’ p. 214.
  3. Le, Living Next to the Giant, pp. 140–142.
  4. Philip Shenon, ‘China Sends Warships to Vietnam Oil Site,’ New York Times, 21/7/94, p. 17.
  5. Le, Living Next to the Giant, pp. 90–92, 95, 100–108, 112–114, 166–168.
  6. U.S. Energy Information Agency, U.S. Department of Energy, ‘Contested Areas of South China Sea Likely Have Few Conventional Oil and Gas Resources,’ https://www.eia.gov/analysis/studies/worldshalegas/.
  7. Về vai trò của chủ nghĩa dân tộc trong tranh chấp biển, xem Kosal Path, ‘The Sino-Vietnamese Dispute over Territorial Claims, 1974–1978: Vietnamese Nationalism and its Consequences,’ International Journal of Asian Affairs vol. 8, no. 2 (2011); Hannah Cotillion, ‘Territorial Disputes and Nationalism: A Comparative Case Study of China and Vietnam,’ Journal of Current Southeast Asian Affairs, vol. 36, no. 1 (2017); Kerkvliet, Speaking Out in Vietnam.
  8. Li Xiaoguang, ‘Yatai Diyuan Zhanlue Geju Yanbian–Cong Aobama Fang Ri dao Zhong Mei Zhanlue yu Jingji Duihua’ (The evolution of the Asia-Pacific geo-strategic structure-from Obama’s visit to Japan to the China-U.S. strategic dialogue), Zhanlue yu Guanli (Strategy and management), nos. 9–10 (2014), p. 134.
  9. Zhang Haiwen, ‘Nanhai Zhengduan Bianhua Qushi Pinggu’ (Evaluation of the evolving trend in the South China Sea disputes), in National Defense University Institute of Strategy, ed., Guoji Zhanlue Xingshi yu Zhongguo Guojia Anquan (The international strategic situation and Chinese national security) (Beijing: Junshi Kexue Chubanshe, 2013), pp. 108, 123.
  10. Pei Yuanying, ‘Meiguo Duiwai Zhanlue Zhongdian Dong yi Zonghengtan’ (A brief discussion of the shift to the East of the focus of U.S. foreign policy), in Zhang Deguang, ed., Dongdang Chixu Fusu Jiannan (Continued turmoil, renewed difficulty) (Beijing: Shijie Zhishi Chubanshe, 2013), p. 178; Yin Chengde, ‘Meiguo Zhanlue Zhongxin Dong yi ji qi dui Zhongguo de Yingxiang’ (The Shift in the US strategic focus to the East and its influence on China), in Zhang, ed., Dongdang Chixu Fusu Jiannan, p. 189; He Zhigong and An Xiaoping, ‘Nanhai Zhengduan zhong de Meiguo Yinsu ji qi Yingxiang’ (The American factor and its influence in the South China Sea dispute). Dangdai Yatai (Contemporary Asia-Pacific), no. 1 (2010), 132–145, 140; He Sheng, ‘Yuegong “Shier Da” yu Yuenan de Zhanlue Zouxiang’ (The strategic direction of the 12th National Congress of the Communist Party of Vietnam), Xiandai Guoji Guanxi (Contemporary international relations), no. 2 (2016), p. 22.
  11. Về tầm quan trọng của sự hiện diện của Trung Quốc trên biên giới đất liền đối với chính sách của Việt Nam, xem Thayer, ‘The Tyranny of Geography.’ For an early discussion of PLA ground force modernization, Susan M. Puska, ‘Rough But Ready Force Projection: An Assessment of Recent PLA Training,’ in Andrew J. Scobel and Larry M. Wortzel, eds., China’s Growing Military Power: Perspectives on Security, Ballistic Missiles, and Conventional Capabilities (Carlisle, PA: Strategic Studies Institute, U.S. Army War College, 2002), pp. 223, 244–245. On the PAVN, see, for example, Wendell Minnick, ‘Vietnam Pushes Modernization as China Challenge Grows,’ Defense News, 30 August 2015, https://www.defensenews.com/naval/2015/08/30/vietnam-pushes-modernization-as-china-challenge-grows/.
  12. Wang Yueling, ‘Meiguo Chongfan Yatai yu Woguo Zhoubian de Haiyang Zhengduan Wenti’ (U.S. return to the Asia-Pacific an the maritime disputes on China’s periphery), in Ba Zhongtan, ed., Meiguo Zhanlue Tiaozheng yu Zhongguo Guojia Anquan (The adjustment of American strategy and Chinese national security) (Beijing: Shishi Chubanshe, 2013), pp. 179.
  13. Secretary of State Clinton’s 30 October 2010, remarks in Hanoi, http://www.state.gov/secretary/rm/2010/10/150189.htm.
  14. https://archive.defense.gov/transcripts/transcript.aspx?transcriptid = 505.
  15. See Secretary of State Clinton’s 23 July 2010, press availability in Hanoi, http://www.state.gov/secretary/rm/2010/07/145095.

htm; Marc Landler, ‘Offering to Aid Talks, U.S. Challenges China on Disputed Islands,’ New York Times, 23 July 2010, at www. nytimes.com/2010/07/24/world/asia/24diplo.html; interviews with Clinton administration official.

  1. Zhao Weihua, ‘Yuenan Nanhai Zhengce Tiaozheng: Yanbian yu Shizhi’ (Vietnam’s South China Sea policy adjustment: Evolution and substance), Dongnan Ya Yanjiu (Southeast Asian studies), no. 1 (2019), pp. 21–22.
  2. Pei, ‘Meiguo Duiwai Zhanlue Zhongdian Dong yi Zonghengtan,’ p. 178.
  3. Cheng Hanping, ‘’Yintai Zhanlue’ Shiyu xia Mei Yue Weirao Nanhai Wenti de Zhanlue Hudong: Lujing, Mubiao yu Yingxiang’

(U.S.-Vietnam strategic interactions around the South China Sea issue in light of the Indo-Pacific strategy: Path, objective and influence), Yatai Anquan yu Nanhai Yanjiu (Asia-Pacific security and South China Sea studies), no. 2 (2019), p. 77.

  1. Yang Yaoyuan and Yang Chao, ‘21 Shiji Iilai Yuenan dui Mei “Huoban Guanxi” Zhengce Pingxi: Neihan, Yuanqi, Tezheng ji Yingxiang’ (Comments on Vietnam’s policy of ‘partnership relations’ toward the United States since the 21 century: Meaning, origins, features, and influence), Dangdai Yatai, no. 5 (2016), p. 145; Li Dalu, “Nanhai Zhengduan zhong Yue, Ma, Yinni Sanguo dui Hua Zhiheng Zhanlue de Chayi Fenxi” (Analysis of the shortcomings of the three countries Vietnam. Malaysia and Indonesia balancing strategy toward China in the South China Sea dispute), Dangdai Yatai, no. 2 (2017), p. 46.
  2. He, ‘Yuegong, “Shier Da” yu Yuenan de Zhanlue Zouxiang,’ p. 22; Yue Ping, ‘Yuenan Daguo Pingheng Waijiao Chengxian Xin Tedian’ (The Vietnamese balancing diplomacy between big powers presents new features), Shijie Zhishi (World knowledge), no. 13 (2017), p. 34.
  3. He and An, ‘Nanhai Zhengduan zhong de Meiguo Yinsu ji qi Yingxiang,’ p. 141.
  4. Yue Ping, ‘Shei Shi Yuenan Fan Hua Youxing de Muhou Tuishou’ (Who is the pushing hand behind the Vietnamese anti-China protests), Shijie Zhishi, no. 13 (2018), p. 29.
  5. Liu Lin, ‘Yue Nan: Jiaqiang Junli, Hushi Nanhai’ (Vietnam: Strengthening military power, tiger’s eye on the South China Sea), Shijie Zhishi, no. 15 (2011), p. 39.
  6. Yue, ‘Shei Shi Yuenan Fan Hua Youxing de Muhou Tuishou,’ p. 26.
  7. Cong Yong, ‘‘Nanhai ‘981􀀀 Zuanjing Pingtai Chongtu Zheshe de Yuenan Nanhai Zhengce’’ (Vietnam’s South China Sea policy as reflected in the South China Sea “981’􀀀 drilling platform conflict), Dangdai Yatai, no. 1, (2016), p. 137.
  8. Pan Jine and Zhou Zengliang, ‘Yuenan Nengfou Wanzhuan ZhongMei ‘Pingheng Shu’ (Can Vietnam manipulate China -US ‘balancing’), Shijie Zhishi, no. 23 (2017), p. 31.
  9. Song Xiaosen and Yu Xiangdong, ‘Yuenan dui Meiguo Yin Tai Zhanlue de Renshi yu Yingdui: Yi Rongru Guoji Zhanlue wei Zhongxin’ (Vietnam’s understanding and response to the U.S. Indo-Pacific strategy: Taking international integration as the center), Nanyang Wenti Yanjiu (Southeast Asian affairs), no. 2, 2020, pp. 120.
  10. Li Wei and Luo Yifu, ‘Zhongguo Zhoubian Waijiao zhong de Lanmei Hezuo Jizhi Fenxi’ (Analysis of the wave of cooperative mechanisms in China’s periphery diplomacy), Xiandai Guoji Guanxi, no. 5 (2019), pp. 17–25, 24; Wu Xinbo, ‘Meiguo de Yatai Zhanlue’ (U.S. Asia-Pacific strategy), in Zhou Fangyin, ed., Daguo de Yatai Zhanlue (The Asia-Pacific Strategies of the Great Powers) (Beijing: Shehui Kexue Wenxian Chubanshe, 2013), p. 28; Cong, ‘Nanhai ‘981􀀀,’ p. 137.
  11. Edward Wong, ‘China Navy Reaches Far, Unsettling the Region,’ New York Times, 14 June 2012, at http://www.nytimes.com/ 2011/06/15/world/asia/15china.html?_r=0; Jane Perlez, ‘Dispute Flares over Energy in South China Sea,’ New York Times, 4 December 2012, http://www.nytimes.com/2012/12/05/world/asia/china-vietnam-and-india-fight-over-energy-exploration-in-south-china-sea.html; M. Taylor Fravel, ‘China’s Strategy in the South China Sea,’ Contemporary Southeast Asia, vol. 33, no. 3 (2011). See Kerkvliet, Speaking Out in Vietnam, pp. 66–73, for an on-the-ground perspective on the protests.
  12. China acknowledged that its vessels had fired, but they called them ‘warning shots.’ See Wu Dengfeng, ‘Suowei “Zhongguo Haijun Jianting Qiangji Yue Yuchuan” Yīshi Chun Shu Niezao’ (The so-called ‘Chinese naval vessels fired on Vietnamese fishing boats’ is pure fabrication), Xinhua, March 26, http://news.xinhuanet.com/mil/2013-03/26/c_124506582.htm; The Vietnamese Foreign Ministry Statement is at http://www.mofa.gov.vn/en/tt_baochi/pbnfn/ns130326202046/view.
  13. Didi Kirsten Tatlow, ‘Chinese Cruise to Disputed Paracel Islands Angers Vietnam,’ New York Times, 3 May 2013, at https://cn.

nytimes.com/china/20130503/c03islands/en-us/.

  1. ‘China, Vietnam Launch Consultations on Sea-Related Joint Development,’ Xinhua News Agency, January 9, 2014, http://news.xinhuanet.com/english/china/2014-01/09/c_133032429.htm. On the 2005 agreement, see ‘Oil Companies of China, the Philippines and Vietnam Signed Agreement on South China Sea Cooperation,’ Embassy of the People’s Republic of China in the Republic of the Philippines, 5 March 2005, http://ph.china-embassy.org/eng/zt/nhwt/t187333.htm.
  2. ‘China, Vietnam Launch Consultations on Sea-Related Joint Development,’ Xinhua News Agency, 9 January 2014, http://news.xinhuanet.com/english/china/2014-1/09/c_133032429.htm.

54.‘Tensions Rise in South China Sea as Vietnamese Boats Come Under Attack,’ Guardian, 7 May 2014, https://www.theguardian.com/world/2014/may/07/chinese-vietnamese-vessels-clash-south-china-sea; ‘Vietnam boat sinks after collision with Chinese vessel,’ BBC, 27 May 2014, https://www.bbc.com/news/world-asia-27583564.

  1. ‘At least 21 Dead in Vietnam Anti-China Protests over Oil Rig,’ Guardian, 15 May 2014, https://www.theguardian.com/world/2014/may/15/vietnam-anti-china-protests-oil-rig-dead-injured; ‘Vietnamese woman dies in self-immolation protest against China,’Guardian, 23 May 2014, https://www.theguardian.com/world/2014/may/23/vietnamese-woman-dies-self-immolation-protest-china.
  2. Kate Hodal, ‘China Evacuates 3,000 Nationals from Vietnam as Conflict Simmer,’ Guardian, 17 May 2014, https://www.theguardian.com/world/2014/may/18/china-evacuates-nationals-vietnam; ‘Chinese Flee Vietnam as Hanoi Counts Cost of Riots,’ Guardian, 19 May 2014, https://www.theguardian.com/world/2014/may/19/chinese-flee-vietnam-hanoi-riots.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s