Hội Kín : Bên Trong Hội Tam Điểm, Hội Yakuza, Hội Đầu Lâu Cốt và những Tổ Chức Bí Mật tai tiếng nhất thế giới

61GmcS+3ajL._SX342_QL70_ML2_

John Lawrence Reynolds

Trần Quang Nghĩa dịch

GIỚI THIỆU

Bọn Điên, Kẻ Sợ Hãi và những Tên Cuồng Tín

Họ là trong số những hội viên đáng sợ nhất của những hội kín đầu tiên, một nhóm người sống lén lút đều bị các công dân của Đế Chế La Mã vừa sợ vừa thù ghét. Nhiều người đề xuất hãy thẳng tay giết mỗi đàn ông, phụ nữ và trẻ em là thành viên trong nhóm đó. Những người khác khuyên nên thận trọng, vì đã nghe nhiều câu chuyện trả thù đẫm máu của nhóm người này. Một số đâm ra lo lắng không biết hàng xóm của mình có phải là thành viên của nhóm đó hay không, có thể làm nhiễm độc đầu óc bọn trẻ với những ý tưởng nguy hiểm và xúi giục chúng tham gia những hoạt động có tính nổi loạn. Một số bị mê hoặc bởi những trò hề xúc phạm được gán cho tổ chức bí mật này; tính tò mò của họ bị khêu gợi, óc tưởng tượng được xổ lồng, họ tự hỏi: bọn người này có thực sự bại hoại đến như vậy không?

Những câu chuyện được người La Mã truyền tai nhau và vẽ vời gần như quá mức tưởng tượng. Thành viên của nhóm người bí ẩn này, theo lời đồn thổi, ăn thịt người và uống máu người trong những nghi thức tế lễ bí ẩn, và những buổi lễ đẫm máu của họ thường có cả những hài nhi sơ sinh. Họ chủ trương tình dục tập thể giữa các anh chị em, và tham gia các nghi lễ kỳ quái, gặp nhau tại những địa điểm lén lút, tránh liên lạc với giới xã hội danh giá, và tự nhận ra nhau bằng cách xòe ra mật hiệu là  một công cụ tra tấn. 

Trên khắp vùng Địa Trung Hải trong thế kỷ đầu của thiên niên kỷ thứ nhất, nhất là trong cộng đồng La Mã, vốn trân trọng sự cao quí hơn mọi phẩm chất, những câu chuyện này thật là đáng ghê tởm và đầy tính mê hoặc. Các chính trị gia La Mã bắt đầu yêu cầu dẹp bỏ giáo phái này, không cần hỏi hoặc có ngoại lệ. Hầu hết công dân đều đồng ý, và  đám đông bắt đầu tụ tập nơi chợ búa trao đổi những câu chuyện về họ, khẳng định thêm chứng cứ, và tô điểm thêm  những khía cạnh ghê tởm của hành vi hội kín. Một thời gian sau, nghị viện đi đến một đồng thuận: một điều gì đó phải được thi hành để cắt đứt đường dây liên lạc của giáo phái và dừng tay bọn vô lại, bọn biến thái, bọn nổi loạn, bọn . . . Cơ đốc giáo này.

Trong thực tế, nghị viện La Mã không bức xúc nhiều đến các câu chuyện đầy xúc phạm này. Trong khi quần chúng có thể cảm thấy xúc phạm trước những báo cáo về việc ăn thịt người và loạn luân, các chính trị gia ít quan tâm đến công luận. Họ  chỉ quan tâm đến những vấn đề thực tiễn hơn, trong đó có việc người Cơ đốc không chịu tôn thờ hoàng đế La Mã. Ngoài ra, người La Mã vốn khoan dung với sự khác biệt tôn giáo nói chung, nên khi các tín đồ Cơ đốc bắt đầu cải đạo người khác về đạo của mình, thái độ của họ đi ngược với nguyên tắc của người La Mã, nên những hành động quá đáng của họ không thể bị bỏ qua. Đến lúc này thì các lãnh đạo La Mã khuyến khích dựng lên các câu chuyện về các hoạt động xúc xiểm của họ, sử dụng những câu chuyện này như một vũ khí đàn áp phong trào.

Nhưng nghị viện La Mã và những người lãnh đạo khác không tạo ra những câu chuyện về hành vi kỳ quặc của người Cơ đốc. Những chuyện thêm bớt, do óc tưởng tượng của các công dân bình thường thêu dệt nên, dựa vào những thông tin do chính các tin đồ Cơ đốc cung cấp. – những thông tin có khuynh hướng phóng đại và bóp méo đầy ác ý tuôn ra trực tiếp từ hai nhà máy luôn song hành là sự dốt nát và ngờ vực. Hãy xét những manh mối đã gây ra lời đồn ác ý:

TÍNH BÍ ẨN

Người Cơ đốc phải sinh hoạt tôn giáo co cụm lại, không dám nhận người lạ vào dự các nghi lễ của mình nếu không có sự giới thiệu của một thành viên quen biết, và yêu cầu các thành viên mới trải qua một  thử thách trước khi được công nhận. Nhưng có lý do hợp lý cho sự thận trọng này. Sau khi Christ bị đóng đinh, nếu tuyên bố mình là người theo Cơ đốc là ký tên vào án tử. Khi người Cơ đốc bắt đầu giấu giếm những sinh hoạt của mình để được an toàn, bệnh hoang tưởng của dân chúng về các mục tiêu và nghi lễ của họ càng lúc sâu xa hơn và lan truyền nhanh, kích động các thành viên cần phải che giấu thân phận mình nghiêm cẩn hơn, và tính bí ẩn của chúng càng gây hiểu lầm.

ĂN THỊT NGƯỜI

Bộ người Cơ đốc không tiến hành những nghi thức trong đó họ tiêu thụ thịt của một người đàn ông và uống máu của người đó hãy sao? Tất nhiên là có. Đối với tin đồ Cơ đốc, phép bí tích thánh thể tượng trưng cho biểu tượng hiệp đồng với thánh linh. Trong buổi lễ các tín đồ ăn bánh mì và uống rượu nho là ăn thịt và uống máu Chúa Kitô, trong quá trình biến đổi thần linh. 

ĂN THỊT THAI NHI

Thiếu những phương pháp ngừa thai và phá thai hiệu quả, những công dân La Mã nghèo khó bỏ những hài nhi không mong muốn bên ngoài cho nó chết vì đói và lạnh. Đối với người thời nay việc làm này thật đáng ghê tởm, những nó được chấp nhận trong một nền văn hóa mà thêm một miệng ăn không mong muốn thực sự là một gánh nặng rất lớn đối với gia đình. Khi những tin đồ Cơ đốc bắt đầu cứu vớt những hài nhi này về nuôi, rửa tội cho chúng vào tín ngưỡng mình, người La Mã trở nên bối bối không hiểu. Tại sao có người lại muốn nuôi con một người khác chứ? Cái ý tưởng này thách thức tính lô-gic. Vậy thì họ chả đem về nuôi nấng gì đâu. Có khi, với tập tục tiêu thụ máu thịt, người Cơ đốc nhặt những trẻ sơ sinh làm nguồn thực phẩm mới cho các nghi thức ghê gớm của mình chăng. Sự kiện là những đứa trẻ này được chăm sóc và nuôi dưỡng như các con chiên Cơ đốc được xem là không thể tin. Và tất nhiên nó nghe cũng không hấp dẫn bằng.

LOẠN LUÂN VÀ TRUY HOAN TẬP THỂ

Khi báo cáo về chuyện những người Cơ đốc tham gia những buổi Lễ Tình Yêu  bắt đầu lan rộng trong dân chúng La Mã, người ta dễ nghĩ ngay đến khía cạnh “tình yêu” không hoàn toàn có bản chất tinh thần. Một vài tín đồ Ngộ giáo, một hội kín khác, tham gia tình dục nghi lễ và xem tinh khí là thứ nước thiêng, sử dụng nó để thánh hóa vị thế mỗi thành viên. Người Cơ đốc và Ngộ giáo khác biệt sâu xa về tín điều và nghi thức, nhưng thật dễ để tưởng tượng một công dân La Mã trung bình sẽ nhún vai và phê phán, ‘bọn Cơ đốc, Ngộ giáo có gì khác đâu? Cùng một giuộc như nhau thôi.”

Còn yếu tố loạn luân? Nó xuất phát từ tập tục các tin đồ Cơ đốc coi nhau như “Huynh” và “Tỷ Muội” để thể hiện sự quí mến và hỗ trợ. Trong các nền văn hóa khác, anh chị em phải sinh ra trong cùng một gia đình, một sự kiện không tranh cãi, và không  được sử dụng một cách biểu tượng.

MỘT CÔNG CỤ TRA TẤN NHƯ MỘT BIỂU TƯỢNG  NHẬN DẠNG

Trong thời La Mã, thập giá là một công cụ được sử dụng rộng rãi để tra tấn đến chết. Những tội đồ mang trọng tội đều bị đóng đinh lên một thập giá rất lớn bằng gỗ, hai bàn tay giang ra bị đóng đinh vào hai đầu của thanh nằm ngang, hai bàn chân chụm lại bị đóng dính vào thanh dọc, rồi binh sĩ La Mã sẽ dựng đứng thánh giá lên giữa trời, và tội nhân sẽ chịu đau đớn và chảy máu đến chết. Chính Jesus bị đóng đinh, và bên cạnh ngài là tên cướp Barabas cũng bị đóng đinh vào ngày hôm đó. Nhưng vì hôm đó là ngày lễ lớn của người La Mã, nên theo truyền thống sẽ có một người được tha. Nhưng khi được viên chức La Mã hỏi muốn  tha cho ai, dân chúng đều đồng thanh xin tha cho Barabas!!! Đối với người La Mã, không có gì an tâm khi thể hiện một thập giá hay dùng bàn tay bạn để vẽ hình một thập giá lên không, một cử chỉ có thể được lý giải là một hành động đe doạ. Hãy mường tượng một nhóm người sống chui rúc của thời nay dùng hình ảnh dây thòng lọng treo cổ, một đoạn đầu đài, hay một ghế điện làm biểu tượng của họ, và hãy tưởng tượng bạn sẽ phản ứng ra sao.

Người Cơ đốc sùng kính thập giá và sử dụng nó như một mật hiệu để nhận diện nên  hội kín của họ bị hiểu lầm là mang tính đe doạ. Dù có những tiến bộ về công nghệ và giao tiếp, tính tò mò của chúng ta đối với  hội kín vẫn mạnh mẽ và không thay đổi. Khi được kích động bởi  những mô tả méo mó về chúng  trong phim ảnh và tiểu thuyết, niềm tin của chúng ta về sự tồn tại và nguy cơ của chúng có thể sánh ngang hay hơn hơn hẳn tầm nhìn đầy lỗi lầm của người La Mã thuở trước đối với những tín đồ Cơ đốc.

Như ví dụ Cơ đốc chứng tỏ, phản ứng thông thường nhất mà người ngoài nhìn vào hội kín là sự sợ hãi và ngờ vực, sinh ra từ quan niệm cho rằng cái gì tốt thường được khỏe ra, còn cái gì giữ bí mật thường là không thể tốt được.

Các hội kín, theo ý kiến của những người theo thuyết âm mưu, kiểm soát vận mệnh của thế giới. Các lời tuyên chiến,  những đại dịch toàn cầu, việc bầu cử các lãnh đạo quốc gia, và sự hiện diện người ngoài hành tinh trên trái đất được điều phối bởi các hội kín mà quyền lực và mục tiêu của chúng là tràn lan và ác độc như do bất kỳ tên quái quỷ nào mà Hollywood xào nấu ra. Vận mệnh của thế giới được xác định bởi Hội Tam Điểm hoặc Giáo phái Ngộ giáo, Wicca hoặc Druid, Nhóm Bilderberg hoặc Illuminati, Mafia hoặc các thành viên của Đầu Lâu Cốt. Các thảm họa kinh tế ư? Các tài nguyên biến mất ư? Chiến tranh và đói kém ư? Chỉ có những người điên mới tin những chuyện đó xảy ra tự nhiên. Theo  thuyết âm mưu, chúng là kết quả của những hành động có ý thức do các bậc đại sư phụ, các ông trùm ở Sicily, những người trong hội kín Rosicrucian, những hội viên Kabbalah của Do Thái,  hoặc của những giáo phái thần bí ghê gớm nào khác.

 

  1. Hội Kín Assassin

Không có gì đúng, mọi thứ đều được phép

3

  Vào năm  1191 Conrad ở Montferrat đăng cơ làm Vua Jerusalem, được bổ nhiệm vào vị trí này bởi người hùng lừng lẫy của các cuộc Thánh Chiến, Richard Tim Sư Tử. Sau khi dặn dò Conrad cách xây dựng lại lực lượng Cơ đốc, Richard khởi hành trở về Anh.

Conrad, người đã mở chiến dịch chống Henry, Bá tước vùng Champagne, để giành lấy ngôi báu, giờ lên kế hoạch vinh danh quyền cai trị của mình với tư cách Vua Jerusalem bằng cách đánh đuổi người Hồi giáo ra khỏi Đất Thánh mãi mãi, nhằm kiếm được một chỗ đứng thiêng liêng trong lịch sử như một người hùng Cơ đốc, và một chỗ ngồi nơi Thiên đường gần cánh tay phải của Chúa Trời.

Ông có ít thời gian quí báu để làm việc này. Ngay sau khi Richard khởi hành khỏi Đất Thánh, ba thầy tu Cơ đốc bước vào doanh trại của Conrad, cúi đầu và làm dấu thánh với mọi người họ gặp. Những cử chỉ  khuôn phép của họ khiến các cận vệ của Conrad lơi lỏng sự cảnh giác, một sai lầm chết người. Ngay khi các thầy tu đến gần Conrad trong tầm với, họ rút dao găm từ dưới lớp áo choàng và xông lên đâm chém ông ra từng mảnh một cách điêu luyện với tay nghề của một tên đồ tể trước khi cận vệ có thể  can thiệp. Thanh toán xong Conrad, những thanh niên, không phải là thầy tu Cơ đốc mà là những tín đồ Hồi giáo thuần thành, không có cử chỉ nào tỏ ra muốn tẩu thoát. Đầu hàng các tay cận vệ, họ lặng lẽ chịu đựng hình phạt thảm khốc, trước tiên là bị lột da, rồi thiêu sống từ từ cho đến chết.

Sau đó, trong khi than khóc cho cái chết của thủ lĩnh, những bộ hạ của Conrad xầm xì bàn tán về hành vi kỳ quặc của những tên thích khách, nhất là thái độ thụ động sau khi thi hành xong thủ đoạn. Thật là khó hiểu khi họ buông vũ khí và chỉ đơn giản đứng đợi bị bắt trong khi tiếng nấc cuối cùng của nhà vua lịm dần. Thậm chí khi được thông báo hình phạt đang chờ đợi mình, các chàng trai thực sự như sẵn sàng chào đón trải nghiệm khủng khiếp này của cái chết trong tra tấn. Chưa có ai từng chứng kiến một thái độ như vậy trước đây. Không ai lý giải được. Không ai hiểu ý nghĩa của hành vi đó.

Henry, Bá tước vùng Champagne, bỏ chút thời gian suy nghĩ về cung cách của các sát thủ. Cái chết sớm sủa của Conrad có thể là một bi kịch đối với một số người, nhưng đối với Henry lại là một cơ hội. Ngay sau khi xẻng đất cuối cùng được ném lên linh cữu của Conrad, Henry thực hiện hành động chiến lược là cưới bà vợ góa của Conrad, hi vọng sẽ thừa kế tước vị mà ông đã để mất và gây ra cái chết cho chồng bà. Nhưng vì thiếu sự hậu thuẫn trong triều đình Conrad hoặc đơn giản là không gặp may mắn, Henry không thể đội được vương miện của ngôi vua Jerusalem, mà chỉ nhận được chức vụ quản trị yêu cầu ông công cán vài chuyến về phía đông từ Jerusalem vào đất Ba Tư. Trong một chuyến đi, ông may mắn gặp được hang ổ của những tên thích khách Conrad, và chạm đến một trong những hội kín ớn lạnh nhất trong lịch sử.

Việc xảy ra khi Henry và đoàn tùy tùng đi theo một con đường hiểm người đi qua trong vùng núi Alborz hiểm trở, phía bắc Tehran ở Iran ngày nay. Trong những cuộc Thánh Chiến, vùng đất này bị người Hồi dòng Shiite chiếm đóng, cho phép người Cơ đốc đi qua tương đối an toàn. Khi đến gần một pháo đài lớn toạ lạc trên bờ của một con dốc cao, Henry và đám cận vệ được gặp các đại diện của chủ nhân lâu đài, Dai-el-Kebir. Họ tỏ ra cung kính với người lạ và đưa ra lời mời của chủ nhân đến viếng thăm pháo đài và thử lòng hiếu khách của Dai-el-Kebir. Nếu phớt lờ một lời mời như thế sẽ là điều bất kính với chủ nhân. Ngoài ra, pháo đài uy nghi cũng gây hứng thú cho Henry. Được đi một vòng tham quan kiến trúc hấp dẫn và thưởng thức một bữa tiệc thịnh soạn là điều khó cưỡng.

Henry và đoàn tùy tùng theo chân người phục dịch đến cổng lâu đài tận trên cao, tại đó chủ nhân đang chờ đợi và tiếp đón họ với sự thân tình và một hồi kèn. Dai-el-Kebir, một người đàn ông giàu có và đầy quyền lực, hãnh diện và khoái trá giới thiệu pháo đài cho khách, dẫn dắt họ qua những ngôi vườn thênh thang và gợi sự chú ý của họ đến nhiều tháp canh bằng đá vươn cao trên thung lũng đá tảng bên dưới. Tại một điểm, ông khoát tay về hướng một tòa tháp cao nhất, hỏi Henry có ấn tượng trước chiều cao và sự hoành tráng của nó không.

Henry đồng ý đây đúng là một cảnh quan bề thế, dâng cao gần như 100 cubit trên bờ dốc đá cheo leo. Trên đỉnh tháp, hai tên lính canh vận y phục trắng tinh đứng nhìn chăm chăm vào nhất cử nhất động của vị chủ nhân. Henry cũng nhận ra những thanh niên tương tự đứng trên đỉnh các tháp canh khác, người nào cũng mỉm cười và gật đầu chào chủ nhân họ cùng quan khách, tất cả đều biểu lộ niềm vui và mãn nguyện. “Những người này,” Dai-el-Kebir tự hào nói, “vâng lời tôi hơn các thần dân Cơ đốc vâng lời chủ của họ nhiều.”

Các vị khách của ông nghe vậy tỏ ra rất bối rối. Tự nãy giờ họ đâu có bàn gì dính líu đến quân đội hoặc sự phục tùng đâu.

Thấy vẻ ngơ ngác trên gương mặt của Henry, Dai-el-Kebir mỉm cười, nói, “Hãy nhìn đây,” và vẩy cánh tay mình theo một dấu hiệu đã định trước. Ngay lập tức, hai thanh niên trên chóp tháp canh cao nhất buông mình  từ mép tháp và rơi vào khoảng không, tự đập thân thể mình văng ra từng mảnh vào lớp đá bên dưới.

Henry khiếp đảm. Hai thanh niên đang tươi cười và thể chất đang sung mãn, vậy mà vô tư đi vào cõi chết chỉ vì một ý thích bất chợt của chủ nhân mà không một chút do dự.

“Nếu ngài muốn,” Dai-el-Kebir nói, “tôi sẽ ra lệnh tất cả bọn còn lại làm theo. Tất cả bọn trên chóp tháp canh sẽ làm điều tương tự khi tôi ra dấu.”

Henry từ chối rối rít với lời cám ơn, cả người rúng động trước cảnh tượng của sự hi sinh sinh mạng một cách vô nghĩa.

“Có ông hoàng Cơ đốc nào kỳ vọng một sự tuân phục như thế từ thuộc hạ của mình không?” Dai-el-Kebir hỏi.

Bá tước trả lời rằng không người thủ lĩnh Cơ đốc nào mà ông biết có thể thể hiện một quyền lực như thế với thuộc hạ mình. Các chiến binh của ông, cũng như các chiến binh của các thủ lĩnh khác, sẽ xông vào trận mạc, lấy được lòng gan dạ từ tinh thần hiến dâng cho danh dự, bổn phận và trung thành, mong muốn hi sinh vì một điều tốt đẹp cao cả hơn. Họ sẽ liều chết, nếu cần, để bảo vệ mình và danh dự, với hi vọng sẽ thắng lợi và quang vinh. Nhưng không ai hành động chỉ vì niềm vui phù phiếm theo cách hai người trên đã làm, chỉ vì một cái khoát tay của chủ nhân.

“Với những tôi tớ đáng tin cậy,” Dai-el-Kebir nói với thái độ kẻ cả đắc ý, “tôi loại được mọi kẻ thù của tổ chức mình.”

Henry, Bá tước vùng Champagne, đã diện kiến tổ chức đã ám hại người tiền nhiệm của mình và sẽ gieo rắc khủng bố lên những vùng đất từ Ba Tư đến Palestine trong hơn 100 năm. Ông đã gặp Hội kín Assassin.

Assassin không phải là trong số những hội kín ra đời sớm nhất hoặc lớn mạnh nhất và sống lâu nhất. Quyền lực thực sự của họ chỉ kéo dài hơn 100 năm một chút, lụi tàn khi đoàn quân Mông Cổ tràn sang, và đến thế kỷ 14 họ không còn là một lực lượng đáng gờm trong nền chính trị Trung Đông. Nhưng tiếng tăm về thủ đoạn tàn bạo của họ quá lớn lao đến nỗi nhiều quốc gia Âu châu tin rằng các sát thủ Assassin đứng đằng sau những vụ ám sát chính trị cho tận thập niên 1600, và một vài chứng cứ cho thấy các hậu duệ của Assassin vẫn còn hoạt động ở Ấn Độ tận 1850. Di sản của họ kéo dài đến tận ngày nay theo hai lãnh vực có ý nghĩa:

Một là cái tên họ. Trong tiếng Anh, sau đó xuất hiện một từ mới, “assassin”, có nghĩa là tên sát thủ một nhân vật có tiếng tăm, thường là bằng thủ đoạn tàn độc. Hai là những phương thức và động lực của Hội Assassin, được hình thành cách đây gần một ngàn năm, trở thành khuôn mẫu cho nhóm khủng bố hùng mạnh nhất và chết chóc nhất còn hoạt động ngày nay. Những hậu duệ tinh thần của Dai-el-Kebir và những thanh niên tươi cười vận áo choàng trắng vui vẻ ném mình xuống vực đã tạo thành một hội kín nhỏ đang khủng bố toàn cầu. Các thành viên của chúng chạy thoăn thoắt trên các sườn đồi và làng mạc Afghanistan, tụ họp trong các hốc lén lút từ Karachi đến Cologne, và đe đọa siêu cường quốc duy nhất còn lại trên thế giới. Nó được gọi là Al Qaeda.

Assassin hình thành từ một rạn nứt vào thế kỷ 7 giữa người Hồi tách ra thành hai giáo phái, dòng Shiite và dòng Sunni. Không có sự kiện tôn giáo tương tự nào khác, ngay cả sự kiện Kháng Cách Cơ đốc (Cải Cách Tin Lành), làm phát sinh mối hận thù sâu sắc như việc phân chia này sau khi Mohamed qua đời.

Sinh vào năm 570, Mohamed được người Hồi tin là vị sứ giả  cuối cùng của Thượng đế, tiếp sau Adam, Abraham, Moses và Christ. Sự thấu thị và lời răn dạy mà Mohamed nhận được trong một hang động gần Mecca khoảng 610, tạo thành cơ sở của Kinh Koran và thể hiện nền tảng của đạo Hồi. Bị đuổi khỏi Mecca vì rào giảng tín điều của mình, ông chạy đến Yathrib, giờ là Medina (Thành phố của Nhà Tiên tri) vào năm 622, trở về chinh phục Mecca vào năm 630 để vinh danh đạo Hồi. Người Hồi giáo ấn định niên lịch của mình bắt đầu từ ngày Nhà Tiên tri đến Medina. Lúc Mohamed qua đời vào năm 632, đạo Hồi đã truyền bá khắp Ả rập và tận Syria và Ba Tư.

Khi Mohamed đi rồi, các tin đồ của ông phải giải quyết việc ai là người kế vị. Dòng Sunni, lấy tên mình từ cụm từ Ả rập ahl as-sunnah wa-l-ijma (Dân tộc của Sunnah và sự đồng thuận), ngày nay được xem là nhánh chính thống của đạo Hồi. Họ tin rằng quyền hành nên được truyền cho những người cố vấn thân cận nhất và tin cậy nhất của nhà Tiên Tri, tức những kha-líp. Shiite (“Người theo Ali”) nhấn mạnh rằng huyết thống phải được duy trì nghiêm nhặt và đề xuất em họ Ali của Mohamed, cũng là con rể của Mohamed, làm người kế vị.

Không thể phóng đại tác động của sự rạn nứt này trong cộng đồng người Hồi, bởi vì nó vượt quá vấn đề kế vị hợp pháp. Hai dòng bất đồng nhau về nhiều tập tục văn hóa và xã hội, bao gồm ngày và ý nghĩa của các  lễ thiêng, tính hợp pháp của các hôn nhân nhất thời, và cách sử dụng việc hòa giải tôn giáo để thoát khỏi bức hại và cái chết (Dòng Shiite chấp nhận nó, Sunni thì xem nó là sự bội giáo).

Các cuộc chiến trong thời Kháng Cách của Cơ đốc giáo chỉ là những vụ đột kích lẻ tẻ nếu so với những trận đánh giữa hai dòng Shiite và Sunni – những trận đánh thường kết thúc với thảm bại của người Shiite, vốn lúc nào quân số cũng bị áp đảo gấp 10 lần. Không lâu sau cái chết của Ali, cháu nội ông Husayn và mọi thành viên của gia đình đều bị tàn sát tàn nhẫn bởi nhà Umayyad, một phái chống đối. Tất cả người Hồi giáo đều kinh khiếp trước sự kiện này, sự kiện khiến củng cố thêm sự rạn nứt giữa Shiite và Sunni; nó cũng gieo mầm cho người Shiite một ý thức về bi kịch và sự bức hại, thêm màu sắc cho các tín điều và gợi lên tâm trạng u sầu của họ đến tận ngày nay. Người Shiite thấy mình như những con chó ghẻ, một thiểu số bị áp bức muốn hi sinh nếu cần để khẳng định mình. Và, như những sự kiện ngày nay đã minh chứng, họ thường làm điều ấy.

Trong thời kỳ dẫn đến các cuộc Thánh Chiến, cá nhân người Shiite sống giữa lòng người Sunni, liều chết nếu bị phát hiện. Bắt buộc phải sống một cách lén lút để sống còn, họ trở nên khéo léo trong việc giữ gìn bí mật và yêu cầu các thành viên phải hoàn toàn tuân thủ những chỉ thị của thủ lĩnh. Theo thời gian, người Shiite lập thành các phe phái, ở rải rác khắp vùng Trung Đông, để xiển dương những tín điều của mình và bảo vệ những tín đồ, và trong khi sự khác biệt giữa các phe phái bên ngoài nôm có vẻ tầm thường vụn vặt, nhưng lại đốt lên cao mối hận thù và ngờ vực giúp làm hội kín Assassin sinh sôi.

Chẳng hạn, để chuẩn bị cầu nguyện, các nghi lễ thanh tẩy phải được tiến hành. Người Shiite chấp nhận chùi bàn chân với bàn tay ướt là đủ, nhưng người Sunni thì khăng khăng cần phải rửa sạch hoàn toàn. Trong tư thế đứng cầu nguyện,người Shiite tin rằng bàn tay phải giữ thẳng xuống; còn người Sunni (trừ nhóm Maliki là ngoại lệ) đòi bàn tay phải nắm lại. Chuyện nhỏ? Không đâu đối với người Hồi. Hai chuyện này và một tá chuyện khác đến nay vẫn còn tranh cãi; trong thế giới Hồi giáo cách đây một ngàn năm, chúng đã dẫn đến mối hận thù thường được giải quyết bằng những trận đánh chết người, một sự kiện cần được hiểu để đánh giá đúng bằng cách nào hội Assassin phát triển và duy trì đặc điểm khốc liệt của họ.

Vào khoảng 1000, một nhóm Ismaili ở Cairo thành lập Học viện và bắt đầu chiêu mộ các học viên với lời hứa hẹn sẽ dạy cho họ những kỹ năng bí truyền khiến các tín đồ có thể thực thi những sứ mạng thiêng liêng vì Đấng Allah. Phong trào được biết dưới tên Trường phái Ismaili, và các thầy dạy trong Học Viện nhận lệnh trực tiếp từ nhà cai trị Ai Cập, Kha-líp Fatimite, một hậu duệ trực tiếp của Mohamed.

Nhiều ngành học ở Học Viện do các quan triều đình của kha-líp đề xướng, kể cả tổng tư lệnh quân đội và các bộ trưởng cũng tham gia. Để bảo đảm thành công của Học Viện, vị kha-líp trang bị một bộ sưu tập các dụng cụ khoa học tiên tiến và hàng năm tài trợ đến 100,000 đồng vàng. Trong thời kỳ đầu, viện đón tiếp cả nam lẫn nữ vào học, mặc dù học riêng biệt.

Cùng với cơ hội được học tập, các học viên của Học Viện được hứa hẹn những người đạt đến những trình độ cao nhất sẽ được hưởng  những đặc quyền như các thầy dạy. Trong một nền văn hóa mà viên chức nhà nước và thầy dạy thuộc chung một tầng lớp, cơ hội này quả là hấp dẫn đối với những người trẻ hăng hái muốn tiến thân để thoát khỏi địa vị thấp hèn, và cái viễn ảnh được học vừa được thăng tiến số phận vừa có thể giáng trả đích đáng bọn cựu thù Sunni  là điều phấn khích đặc biệt cho những chàng trai trẻ có cái đầu nóng.

Dù kha-líp ôm ấp bất kỳ mục tiêu gì cho Học Viện thì nó cũng không thể hoàn thành chúng một cách trực tiếp. Tuy nhiên, sự tác động của nó vang dội đến ngày nay, và cấu trúc và cơ cấu tiên phong của nó trở thành kiểu mẫu được sử dụng, với vài cải tiến nhỏ, bởi nhiều hội kín khác qua hàng thế kỷ.

Các tổ chức chính quyền và tập đoàn lớn theo truyền thống đều tổ chức theo cấu hình hình tháp, với một cá nhân đứng trên đỉnh chóp. Ngay bên dưới là một nhóm nhỏ gắn kết các cố vấn – như nội các trong một chính quyền dân chủ, hoặc một ban giám đốc trong một tập đoàn. Từ đỉnh đi xuống, theo các thứ bậc quyền hành giảm dần, là các lớp hành chính mở rộng xuống tận đáy  của hình tháp, tạo bởi những nhân viên tầm thường nhất và lương thấp nhất. Phương thức thông thường nhằm kiểm soát và tích lũy quyền lực này vẫn còn được ưa chuộng và hiểu rõ đối với chúng ta ngày nay. Nó không phải là phương thức duy nhất để kiến tạo một tổ chức, và trong trường hợp các hội kín nó còn xa mới thích hợp.

Thay vì hình tháp, nhiều hội kín và giáo phái có khuynh hướng tổ chức theo tâm chấn gồm một chuỗi những đường tròn đồng tâm, với quyền lực tối cao nằm đâu đó trong trục tâm. Các tổ chức theo đường tròn không được hiểu rõ hoặc xâm nhập dễ dàng như những cấu trúc hình tháp vì cơ chế nội bộ của chúng vẫn được giấu kín. Hơn nữa, số đường tròn có thể thay đổi, nghĩa là người ngoài không hề biết mình đứng gần trung tâm quyền lực đến mức nào. Từ đáy hình tháp, bạn có thể nhìn thấy đỉnh, nhưng từ bất kỳ điểm nào bên trong tổ chức theo đường tròn bạn không hề đo lường chính xác khoảng cách của bạn đến quyền hành tối cao. Với cách này, tổ chức theo đường tròn giấu kín và bảo vệ được các trung tâm của chúng hiệu quả hơn các cấu trúc hình tháp.

Cấu hình đường tròn của Học Viện  bắt đầu bằng giai đoạn khảo sát gọi là Hội đồng Tri Thức, được thiết kế để loại bỏ những ứng viên thiếu năng lực và chuyên cần.

Những học viên qua được vòng Hội đồng Tri Thức sẽ bước vào thủ tục khai tâm chín giai đoạn được xây dựng trên cấu trúc đường tròn đặc trưng. Tiến trình khai tâm này biểu thị một phương thức cổ điển để đạt được sự trung thành đến chính nghĩa của nhóm và xây dựng một nền tảng tuân phục không thắc mắc.

Trong giai đoạn khai tâm đầu tiên, những học viên bị cắm vào đầu óc nổi hoài nghi về các giá trị và khái niệm họ đã được dạy phải tôn trọng trong cuộc sống trước đây của họ. Áp dụng những phép loại suy sai lầm, các ông thầy bắt đầu dỡ bỏ toàn bộ hệ thống tín điều của họ và bất kỳ ai không thể loại bỏ các tin điều và giá trị  của mình sẽ bị loại ra. Những ai chấp nhận lời giảng dạy – cần thiết là làm đầu óc mình trống rỗng – sẽ được các thầy dạy nhiệt liệt khen ngợi. Ngày nay, chúng ta gọi phương pháp này là tẩy não. Giờ không vướng mắc bất kỳ hệ thống giá trị nào, các học viên bắt buộc phải  trông cậy vào người thầy như nguồn kiến thức và  phương tiện để vận dụng nó. Những học viên chuyên cần nhất sẽ tuyên thệ lòng trung thành mù quáng với các chủ nhân, đưa họ bước lên bậc thứ hai.

Các học viên đến được bậc 2 được thông báo là 7 imam (bậc đại sư) vĩ đại biểu thị cho kiến thức và sự minh triết được nhà tiên tri Mohammed truyền lại, sẽ đích thân truyền đạt kiến thức này cho các sư phụ. Các sư phụ sẽ truyền dẫn sự minh triết của ngài đến các học viên qua nguồn linh cảm thiêng liêng trực tiếp từ Đấng Tiên Tri. Với sự tỉnh thức này, các học viên đi qua bậc thứ hai một cách nhiệt thành.

Trong bậc khai tâm thứ ba, tên của 7 imam được bật mí, cùng với 7 lời chú để triệu hồi họ nhờ họ hỗ trợ và bảo vệ.

Sự mặc khải tiếp tục qua bậc thứ 4, khi các sư phụ bổ sung tên của Thất Hiền Thần Bí, các đấng Chế Luật, cùng với những pháp thuật đặc trưng được gán cho mỗi vị. Tên của các Đấng Chế Luật là Adam, Noah, Abraham, Moses, Jesus, Mohamed và Ismaili, và họ có 7 người phụ tá thần bí: Seth, Shem, Ishmael, Aaron, Simon, Ali và Mohamed, con của Ismaili. Những bài học tiếp theo sẽ tiết lộ những cái tên khác, bao gồm tên của 12 giáo tổ dưới trướng 7 đấng tiên tri, cùng với những phận sự và pháp thuật của họ. Cuối cùng, các học viên  được cho biết sự tồn tại của một nhân vật  ủy quyền bí ẩn được biết dưới tên Chúa tể Thời gian, chỉ phán dạy qua trung gian của vị kha-líp.

Những học viên có đủ khả năng buớc đến bậc 5 của cuộc khai tâm, nơi đó họ thụ đắc khả năng ảnh hưởng người khác qua năng lực tập trung. Các tài liệu cho thấy đây chính là một hình thức thiền định sâu, trong đó các học viên được yêu cầu lập lại, trong những khoảng thời gian tưởng như vô tận, một từ duy nhất: ak-zabt-i. Thiền định có thể là một phương tiện hiệu quả để thư giãn vì nó phong tỏa tiến trình tư duy. Kéo dài kỹ thuật đủ lâu và đủ sâu sẽ gây tổn hại một cách trầm trọng đến khả năng suy nghĩ độc lập của đối tượng, đó là mục đích của bậc 5.

Bậc thứ 6 gồm sự chỉ dẫn về những lập luận phân tích và hủy diệt, chính xác là kỹ thuật được các sư phụ sử dụng để loại trừ các học viên ở bậc 1. Đỗ đạt kỳ thi này các sinh viên sẽ bước qua bậc thứ 7, nơi họ được giảng dạy là toàn thế nhân loại và mọi sinh vật đều là một, kể cả những quyền lực dương và âm. Các học viên có thể sử dụng quyền lực của mình để sáng tạo hoặc hủy diệt, những quyền lực chỉ có thể có được từ Chúa Tể Thời Gian thần bí.

Giờ họ sẵn sàng để chấp nhận những lời giáo huấn ở bậc thứ 8 và 9 thậm chí mặc dù, đối với mắt chúng ta, những lời giáo huấn có vẻ như xung khắc với những giá trị tâm linh đã tạo động lực cho phong trào ngay lúc đầu.

Đến bậc thứ 8 đòi hỏi các học viên nhận ra rằng tất cả tôn giáo và triết lý đều là trò gian lận; lực lượng chủ yếu trên mặt đất là ý chí và lòng tận tụy của cá nhân; và cá nhân có thể đạt được sự viên mãn đích thực chỉ qua sự phục vụ cho các imam. Điều này chuẩn bị cho học viên bước vào bậc thứ 9, dạy họ rằng không có gì gọi là tín điều; tất cả việc hệ trọng trong cuộc sống chính là hành động, được thực thi theo đáp ứng của huấn thị từ người lãnh tụ, người duy nhất sở hữu những lý do để phán ra những mệnh lệnh này.

Trong suốt những cấp độ huấn luyện, bài học của 9 bậc có thể được tóm tắt trong một tuyên bố đơn lẻ: Không Có Gì là Đúng, Mọi Thứ Đều Được Phép.

Học Viện tạo ra một tổ chức hợp bởi những thành viên khao khát thực hiện bất kỳ sứ mệnh nào được các thủ lĩnh họ giao phó. Thành tựu ý nghĩa nhất của Học Viện là việc đánh chiếm được Baghdad vào năm 1058 do một học viên tốt nghiệp từ Học Viện thực hiện. Y tự xưng là vua Hồi và cho đúc tiền nhân danh vị kha-líp Ai Cập. Không có thành tựu nào khác do một học viên của Học Viện có thể so sánh được với kỳ công này, nhưng vinh quang này cũng ngắn ngủi như mệnh số của học viên tốt nghiệp. Chẳng bao lâu y bị giết bởi người Thổ, vốn đã thề rằng bất kỳ ai liên hệ với Học Viện đều phải trả giá bằng mạng sống của mình. Cùng với những sự kiện khác, trong đó có sự sụt giảm về tinh thần và hậu thuẫn tài chính từ những hậu duệ của vị khalip, các hoạt động của hội kín dần lụi tàn cho đến 1123 thì đóng cửa vĩnh viễn.

Sự kết liễu của Học Viện có thể đã kết thúc tiến trình huấn luyện chính thức của phong trào, nhưng nó không kết thúc hội kín, mà những thành viên của nó vẫn còn hoạt động ngầm trong nhiều năm, mỗi người tự kể lại cho các con cháu mình nghe về những chiến tích của mình. Một trong số những người lắng nghe với sự thán phục là một người nổi bật có tên Hasan, con trai của Sabbah, có gia đình khởi nguồn từ Khorasan, vùng đất mênh mông phía đông Iran giáp với Afghanistan. Sabbath là một chính trị gia lỗi lạc và một trí thức uyên bác, hậu duệ của  thành viên Học Viện đã đạt được đẳng bậc 9 của Học thuyết Ismaili, và truyền lại một ít kiến thức cho con trai mình.

Khi con trẻ, Hasan chịu sự dạy dỗ của Imam Muwafiq, người chỉ tuyển chọn huấn luyện cho những học viên hứa hẹn nhất và dạy họ những bí kíp đạt được mãnh lực phi thường. Chắc phải có điều gì đó trong kỹ thuật huấn luyện của vị Imam vì trong số những bạn đồng học của Hasan tại trường có thi sĩ và nhà thiên văn lỗi lạc Omar Khayyam và một thanh niên xuất sắc tên là Nizam-al-Mulk, người tiến thân để trở thành thủ tướng Ba Tư. Trong khi học tập với vị Imam, ba chàng trai trẻ này đồng giao ước là ai nắm được quyền lực đầu tiên sẽ hỗ trợ hai người còn lại.

Asabah2

Hasan Sabbah, người sáng lập Assassin, tiến hành một kỹ thuật khủng bố đến nay vẫn còn hiệu quả.

Nizam giữ lời hứa. Sau khi đạt được quyền hành của một vị thủ tướng, ông kiếm được một quỹ trợ cấp cho Khayyam, nhờ đó nhà thơ có thể sống thoải mái trong vùng Nishapur thân yêu của ông, nơi đó tập thơ Rubaiyat nổi tiếng ra đời. Còn với người bạn Hasan, Nizam kiếm cho ông chức vụ bộ trưởng trong triều đình nhà vua.

Hasan chứng tỏ là một nhà quản trị tài ba, chiếm được ân sủng và tin cậy của nhà vua, được giao  nhiệm vụ quản lý tài sản của chế độ. Nhưng lòng tin cậy của nhà vua đã đặt nhầm chỗ. Hoặc là Hasan tham ô ngay từ đầu hoặc số châu báu lấp lánh khiến ông biến chất,  Hasan biển thủ một số lượng đồ sộ tài sản của vương quốc. Chuồn đi ngay trước mũi các cận vệ của nhà vua, Hasan trốn thoát đến Cairo, nhớ lại câu chuyện của cha mình về Học Viện, nơi ông tin là mình có thể  an toàn tránh được sự trừng phạt. Tại đó ông gặp được một nhóm các người Ismaili đã từng là hạt nhân còn lại của hội kín xưa. Họ đã chờ đợi hàng bao thế hệ cho một cơ hội và một thủ lĩnh để phục hồi quyền lực của nó. Người đó chính là Hasan. 

Lôi cuốn, mưu mô, nhẫn tâm và thông minh, Hasan thu nhận một số đệ tử, thuyết phục họ là mình sở đắc một số pháp thuật do chính đấng Tiên Tri truyền thụ. Lòng sùng kính của họ đối với ông càng mạnh lên, khi trong một lần vượt biển đến Phi châu, Hasan và tùy tùng gặp một cơn bão dữ dội ập đến. Ngay lập tức những đợt sóng dâng cao sừng sững phía trên con tàu nhỏ, sét chớp loé, sấm nổ vang trời, và gió mạnh đe đọa sẽ đập con tàu vào ghềnh đá nếu sóng biển chưa kịp nuốt chửng nó và hành khách.

Mọi người trên boong đều kinh hoàng, và bắt đầu kêu gào và cầu nguyện, trừ Hasan vẫn bình tĩnh như không có chuyện gì xảy ra. Khi được hỏi làm thế nào ông có thể giữ bình thản đến như vậy khi đối diện với cái chết chắc chắn, Hasan mỉm cười trả lời, “Allah của tôi đã hứa là không có tai họa nào giáng xuống đầu tôi.”

Và đúng như vậy. Bão tố liền lắng dịu, và các đệ tử của Hasan nhìn ông với lòng kính sợ càng lớn hơn. Trở lại Cairo, câu chuyện về khí phách kiên cường của Hasan được nhắc đi nhắc lại nhiều lần. Hasan là người được ân sủng và được bảo vệ khỏi những tai ương, một người có thể chữa lành, một người để đi theo. Chính Hasan vun vén câu chuyện với sự chăm chút và nhẫn nại của một người nông dân mong đợi một mùa thu hoạch vàng.

Trong khi đó, ông tiếp tục hấp thu những kỹ thuật huấn luyện được Học Viện sử dụng, nhận ra rằng quyền lực có được nhờ tinh luyện các phương pháp của Học Viện có thể vận dụng trong một hoàn cảnh khác, với những mục tiêu khác. Sau một vài tháng Hasan, được các người hậu thuẫn tin cậy nhất tháp tùng, trở lại quê quán mình. Ông đã tìm thấy vận mệnh của chính mình. Đầu tư tài sản mà ông ăn cắp của nhà vua, và áp dụng các phương thức tẩy não của Học Viện, ông sẽ kiến tạo một hội kín sát thủ núp dưới một bình phong lừa dối ngoạn mục.

Kế hoạch của Hasan dựa vào việc xây dựng lòng tin cậy và trung thành của nhóm hạt nhân đệ tử bằng cách áp dụng những phương thức tiên phong của Học Viện. Sau khi đến vùng núi Alborz, ông đến thăm một pháo đài đồ sộ nằm trong bóng đổ của những đỉnh núi cao ở phía bắc và tây của thành phố Qazvin Iran ngày nay. Địa hình ở đây cực kỳ hiểm trở, với Núi lửa Damavand vươn cao gần 6,000 mét, tạo thành một tường thành che chắn thiên nhiên giữa Biển Caspian và vùng đồng bằng trải dài thoai thoải của trung tâm Iran. Đã nhiều năm, người Shiite trốn chạy sự bức hại của người Sunni đã đến Alborz để được an toàn. Tehran, thủ đô, chỉ cách đó 100 cây số, nhưng cho đến tận ngày nay vùng này vẫn còn hẻo lánh.

Vắt qua mỏm núi gồ ghề gần nửa cây số và trong một vài nơi chỉ rộng vài mét, từ xa pháo đài trông như một vách đá thiên nhiên, trắng đến loá mắt trong ánh nắng chiều, xanh xám trong ánh hoàng hôn, và đỏ như máu lúc bình minh. Tiến đến gần công trình, khách nhàn du bắt gặp một con dốc sỏi đá rất dốc làm nản lòng bất cứ ai muốn đến bức tường thẳng đứng của pháo đài. Đúng ra, pháo đài chỉ có thể xâm nhập qua một cầu thang xoắn ốc rất dốc thiết kế để một cung thủ duy nhất cũng có thể bảo vệ được những kẻ tấn công vào đỉnh pháo đài.

Hasan giám sát địa hình và làm quen với các lính phòng vệ của lâu đài có cảm tình với người Shiite cực đoan. Với sự giúp đỡ của họ, Hasan tiếp cận được pháo đài và diện kiến chủ nhân, yêu cầu y giao lại pháo đài cho mình. Đổi lại y nhận được một số tiền hợp lý, y đồng ý và ra di, giao toàn quyền pháo đài cho Hassan mà ông không cần tuốt gươm. Ông đặt tên lại cho pháo đài là Alamut, nghĩa là Tổ Đại Bàng, và bắt đầu biến nó thành trung tâm huấn luyện và điều hành “công ty” sát thủ.

2

Tàn tích của căn cứ gốc của Assassin, Alamut, ở bắc Iran. Có thời, hơn 20 pháo đài như thế nằm rải rác trong khung cảnh.

Bước tiếp theo của Hasan là biến đổi góc xó xỉnh của thung lũng thành một khu vườn tường cao bao bọc khuất tầm mắt lâu đài. Đổi chiều dòng suối chảy qua vườn, ông cho xây dựng nhiều đài phun nước và bố trí những thiếu nữ đẹp như tiên ở đó. Theo Siret-al-Hakem (Hồi Ký Hakem), Hasan xây dựng một tòa nhà mát cao bốn tầng. Trên mỗi mặt tòa nhà là các cửa sổ được trang hoàng lộng lẫy liên kết bằng bốn mái vòm trên đó dát những vì sao bằng vàng và bạc. Ông thuê 20 nô lệ,10 nam và 10 nữ từ vùng sông Nile, và chưa đến tuổi dậy thì. Ông mặc cho họ lụa là, gấm vóc, và đeo cho họ vòng vàng nhẫn bạc. . .

Ông chia vườn ra làm bốn khu. Khu thứ nhất trồng đào, táo, nho, sê-ri. . . Khu thứ hai trồng cam, chanh, ô liu, mận . . . Khu thứ ba trồng dưa leo, dưa hấu, rau củ. . . Khu thứ tư là vườn hồng, lài, me, thủy tiên, violet, li . . .

3

Phong cảnh nhìn từ Alamut.

Marco Polo đi qua vùng đó vài năm sau đó, và mô tả phong cảnh chi tiết như sau:

Trong thung lũng xinh đẹp là một khu vườn xa hoa xum xuê hoa trái đủ loại trên đời. Những cung điện đủ cỡ và đủ hình dáng được dựng lên tại những khu vực khác nhau, trang trí bằng những đồ chế tác bằng vàng, những bức họa và  đồ đạc bằng lụa quí. Những dòng suối rượu và mật ong tuôn tràn khắp nơi. Để vào khu vườn chỉ có một lối đi bí mật dẫn từ pháo đài lâu đài bên ngoài.

Cư dân trong chốn này là những cô gái xinh đẹp, mỹ miều, ca hay, múa đẹp, chơi đàn điêu luyện, và nhất là thiện nghệ trong những trò chơi lạc thú và ngón nghề mây mưa. Ăn vận những y phục sang trọng, họ giỡn hớt, cợt nhã với nhau trong khu vườn và chốn phòng the.

Mục tiêu của ông trùm là đây: Mohammed đã hứa hẹn ai tuân phục ý chí của ông sẽ hưởng được những lạc thú trên Thiên đường vĩnh cửu. Ở Thiên đường, mọi loại thú vui xác thịt đều có thể được tìm thấy, kể cả cặp kè với những cô gái đẹp nõn nà, chiều chuộng. Ông trùm, tuyên bố mình là hậu duệ của Mohamed và do đó cũng là một nhà tiên tri, có quyền năng nhận vào Thiên đường những ai mà ông ưu ái, trong đó có những người hi sinh mạng sống của mình để hoàn thành mệnh lệnh của ông.

Với thiên đường trên trần thế mà ông tạo ra, Hasan lôi cuốn những chàng trai trẻ tuổi từ 12 đến 20 đến với tổ chức Alamut, chọn những người ông tin là có khả năng trở thành sát thủ chuyên nghiệp. Ông cũng mua những đứa trẻ cha mẹ không muốn nuôi, để nuôi dưỡng chúng với một mục đích đã xác định như nuôi một con ngựa đua. Cùng với hứa hẹn thăng tiến các học viên ưu tú, Hasan bổ sung động lực lôi cuốn hơn cho các chàng trai  là mô tả lập đi lập lại những lạc thú của Thiên đường. Một khi óc tò mò của họ đủ cồn cào, Hasan tiết lộ với họ là mình có pháp thuật đưa họ đến với Thiên đường trong một thời gian ngắn để họ có thể nếm thử lạc thú mà không sợ bị thiệt thòi nếu chết trước.

4

Marco Polo mô tả chính xác sự kiểm sát ớn lạnh mà Hasan áp đặt lên các đệ tử Hồi giáo trẻ tuổi của ông.

Những ai có vẻ tin tưởng câu chuyện của ông sẽ bị đánh thuốc ha-sit (một loại cần sa) và những loại ma túy khác khiến họ chìm vào giấc ngủ sâu như bị đánh thuốc mê. Sau đó họ được mang đi qua một lối bí mật đến khu nhà mát trong khu vườn bí mật. Tại đó, sau khi các thị vệ đã rút đi, các vệ nữ, theo lệnh của Hasan, sẽ vỗ nước dấm vào mặt các chàng trai cho họ tỉnh cơn say thuốc. Các thanh niên được các cô cho biết là mình đã vào được Thiên đường, một khái niệm mà trong điều kiện say thuốc, nghe có thể tin được. Với trái cây và rượu thừa thãi, họ nằm dài trên nệm gối phủ sa-tanh lộng lẫy, êm mát, trong khi các tiên nữ thỏa mãn – và chắc chắn làm vượt mức – mọi khao khát thanh xuân của họ. Các trinh nữ sẽ rót vào tai các chàng đang mê mẩn như rót mật những lời sau: Chúng em chỉ đợi chờ chàng chết,  vì nơi này được dành sẵn cho chàng. Đây chỉ là một khu trong vô số khu của Thiên đường, và chúng em là tiên nữ ở Thiên đường. Nếu chàng chết rồi, chàng sẽ ở bên chúng em mãi mãi. Nhưng hiện giờ chàng chỉ đang nằm mơ, và sẽ sớm tỉnh dậy.

Sau một ngày sống trong cõi mộng, những chàng trai sẽ bị đánh thuốc lần nữa để bất tỉnh và được đưa về pháo đài, nơi họ được phép tỉnh lại từ từ.

Khi được Hasan hoặc các thủ lĩnh khác hỏi họ đã ở đâu, họ sẽ trả lời, “Ở Thiên đường, nhờ ân sủng của ngài.” Rồi, được sự cổ vũ của bề trên, họ sẽ mô tả trải nghiệm trong từng chi tiết cho người khác nghe. Những thèm muốn của những ai ngấu nghiến câu chuyện chứa đầy chất testoron này về các vệ nữ nõn nà dâng hiến và rượu mật tràn trề như suối, ắt hẳn nom rất ngoan mục.

“Chúng tôi có lời bảo đảm của Đấng Tiên Tri,” Hasan và các người kế tục ông sau này hứa hẹn với các thanh niên, “rằng ai bảo vệ chủ nhân của mình sẽ thừa hưởng vĩnh viễn Thiên đường, và nếu các ngươi chứng tỏ mình tuân phục với mệnh lệnh của ta, phần số hạnh phúc đó là thuộc về các ngươi” Những người dễ tin nhất khó có thể đợi chết lâu thêm được.

Đây chính là những chàng trai, giả dạng làm thầy tu Cơ đốc, đến ám sát Conrad và cam chịu bị tra tấn khủng khiếp trong im lặng sau khi đứng yên cho bắt. Họ cũng là những lính canh đã gieo mình từ chóp tháp theo lệnh chủ để minh chứng cho sự tuân phục không lùi bước của mình. Và họ là những người đầu tiên được biết dưới tên hashshashin hay assassin, công cụ phục thù và thanh toán chính trị khắp vùng Trung Đông.

Một ít sử gia thắc mắc tại sao con người ở thế kỷ 12 có thể quá dễ tin đến thế, cho rằng câu chuyện trên chỉ là giai thoại hoặc nhiều nhất chỉ là tài liệu giả mạo. Để đáp lại, những người khác ghi nhận rằng đây là những thanh niên nhạy cảm và chỉ đến những lời kể của Henry, và Marco Polo như là chứng cứ cho rằng thủ đoạn lừa mị của Hasan thực sự có tác dụng. Từ quan điểm ngày nay, những sự kiện gần đây gợi ý rằng không chỉ những kỹ thuật của Hasan thành công, mà chúng còn tiếp tục phát huy hiệu quả trên cơ sở thường xuyên, gần như thường nhật. Trên đường phố Baghdad, Beirut và Tel Aviv những nam thanh niên trẻ và, gần đây những phụ nữ trẻ thực hiện những hoạt động khủng bố bằng cách xem mình là quả bom người, nhiều ngườ trong số họi tin rằng mình sẽ lập tức được bốc lên Thiên đường. Biết được điều này, chúng ta ít ngờ vực tính xác thực của những câu chuyện về Hasan và những thuộc hạ cuồng tín của ông ta. Những chàng thanh niên trẻ Hồi giáo cách đây một ngàn năm hiếm khi được gặp những phụ nữ hơ hớ bên ngoài gia đình. Một buổi tối với một vệ nữ ăn mặc hở hang gợi tình mời gọi y vào khoái lạc nhục dục sẽ tạo ra một tác động bùng nổ nơi một thiếu niên dậy thì, và tác động càng mạnh lên dưới tác dụng của ma túy.

Những thủ thuật của Hasan trong quá trình đào tạo ra những cỗ máy giết người hiệu quả còn có những giai thoại khác, một trong số đó được mô tả trong tác phẩm cổ đại Nghệ Thuật Lừa Đảo của AbdelRahman ở Damascus. Hasan củng cố quyền lực của mình đối với các đệ tử trung thành bằng cách đào một hố sâu và hẹp trên nền các căn phòng của mình, vừa vặn một người đứng. Ông bắt một thanh niên đứng dưới hố, chỉ có cái đầu là nhô lên khỏi mức sàn phòng. Y là người cả pháo đài đều biết mặt. Rồi, sau khi lấp đất kín vào hố chỉ còn thấy đầu chàng thanh niên xấu số ló khỏi mặt đất, Hasan cho tròng quanh cổ y hai đĩa tròn hình bán nguyệt có khoét lỗ ở giữa, ráp lại thành một đĩa tròn, trông như một thủ cấp nằm trên đĩa đặt trên mặt đất. Để trông sống động hơn, máu tươi được đổ tràn trên đĩa, hoàn tất trò giả mạo một cái đầu bị chặt đứt.

Các tân binh mới được tuyển mộ vào tổ chức, có thể đã bị say thuốc, được dẫn vào phòng, và trước sự chứng kiến của họ, “thủ cấp” tâm sự rằng  sau khi thực thi chỉ thị của chủ nhân, mình đã hi sinh và hưởng được một chỗ trên Thiên đường. Trong khi các đồng nghiệp há hốc lắng nghe, chàng thanh niên mô tả những lạc thú y đang tận hưởng ở đó – rượu và hoa trái vô tận, cung điện nguy nga, và trinh nữ mỹ miều gợi tình.

“Các người đã trông thấy thủ cấp của một chiến binh đã chết sau khi thi hành mệnh lệnh của ta,” Hasan bảo với các khán giả trợn tròn đôi mắt không chút ngờ vực. “Hắn là người mà tất cả các người đều biết. Ta muốn hắn nói lại từ chính miệng mình những khoái lạc mà lính hồn của hắn đang hưởng thụ ngay lúc này. Hãy tiến lên và hoàn thành mệnh lệnh của ta.” Đây là một trò khá thuyết phục, thậm chí còn đáng tin hơn nữa khi, đợi cho các tân binh đã đi ra rồi, Hasan cho chặt phăng cái đầu nhiều chuyện kia – ắt hẳn trước sự thảng thốt của chủ nhân chiếc đầu – và treo lên hàng rào pháo đài cho mọi người nhìn thấy. “Kìa, người đồng môn trước đây của mình”, những chiến binh của Hasan tự nhủ, “đang tận hưởng những lạc thú ở Thiên đường, trong khi mình vẫn còn trên mặt đất. Đến lúc nào mình mới nối gót được bạn ấy đây?”

Hội Assassin không công khai kén chọn nạn nhân của mình. Trong thời Thập Tự Chinh, họ ủng hộ bất kỳ phe nào thích hợp với mục đích của họ trong khi vẫn duy trì mối thù truyền kiếp với Sunni. Có ít nhất một lần họ phối hợp lực lượng với Hiệp sĩ Đền Thánh, kẻ thù của Saladin và lực lượng Hồi giáo phòng thủ thành Jerusalem. Và nhờ tính phí giết mướn rất cao, nhất là nếu nạn nhân là những người nổi tiếng, nên hội kín Assassin thu được một lợi tức đáng kể sau nhiều năm hoạt động.

Khi triều đại khủng bố dâng lên cao điểm, chỉ cần có tin đồn một cá nhân nào đó đã xúc phạm với Hasan hoặc đã được chọn là án tử là đủ cho đối tượng phải nhanh chân cao chạy xa bay. Nhưng ít người thoát được luỡi hái của tử thần.

Ngoài việc biết chắc là chết là việc không biết chết lúc nào và ở đâu. Vị thủ tướng của vua Hồi, Nizam-alMulk, bị cắt ra từng mảnh bởi một thích khách Assassin hóa trang làm một thầy tu Hồi trong khi  đi kiệu đến hậu cung. Tâm trí Nizam đang mải mê hướng về những thú vui nhục dục sắp được hưởng thì một lưỡi dao găm đã xuyên thấu ngực ông. Vị atabeg ở Hims (một chức vụ tương đương với tể tướng), được cảnh báo rằng mình đã được chọn làm mục tiêu cho sát thủ Assassin, ông luôn cắt một đội cận vệ túc trực bên cạnh. Khi ông bước vào đền thờ cầu nguyện, bọn cận vệ lơ là việc canh phòng, vì ai dám xúc phạm đấng Allah nếu ra tay tại một thời khắc và nơi chốn linh thiêng như thế? Trong nháy mắt, vị atabeg bị đám sát thủ Assassin vây quanh, chém ông ra từng mảnh. Khi một người Cơ đốc, Hầu tước Corrado di Montefeltro, được tử thần gọi tên, ông bị hai tên Assassin giả làm thầy tu tấn công ngay cả khi hầu tước đang dự tiệc chiêu đãi của Giám mục thành Tyre. Chúng chỉ làm ông bị thương thì một tên đã bị cận vệ giết chết. Tên còn lại trốn thoát được và ẩn mình trong nhà nguyện. Y biết rằng hầu tước thế nào cũng vào nhà nguyện để tạ ơn Chúa Trời đã cứu mạng mình. Ông ta làm thế thật, và ngay khi hầu tước vừa quì gối cầu nguyện, tên sát thủ thứ hai từ phía sau bệ thờ  xông tới kết thúc công việc trước khi bị đám cận vệ ban ơn đưa y vào Thiên đường mong ước.

Tùy theo lợi ích, Assassin chọn giải pháp hù dọa thay vì hạ thủ. Sau khi Assassin đã cho con trai của Nizam-al-Mulk đi chầu trời bằng dao găm, người cha tuyên bố mình sẽ dẫn một đạo quân hùng hậu chưa từng thấy đến Alamut hỏi tội Assassin. Một buổi tối, khi hạ trại trong tầm mắt của pháo đài dưới chân đồi Alborz, Nizam-al-Mulk đi nghỉ, lấy sức ngày mai sẽ cùng ba quân tiến công tiêu diệt bọn Assassin, quét sạch không còn một mống sống sót trên mặt đất. Khi ông tỉnh dậy vào sáng hôm sau, ông bắt gặp một dao găm cắm phập vào mặt đất ngay trên đầu ông ngập đến cán, lưỡi dao xuyên thủng một lời nhắn cảnh cáo không có gì ngoài trận tàn sát đang đợi ông và binh lính.

Không có  bộ hạ nào của ông có thể cắt nghĩa được bằng cách nào chiếc dao găm đã được cắm vào đấy. Không thấy bóng người nào bén mảng đến lều ông. Chắc phải là ma quỉ hay thần linh? Dù là ai, thì Nizam-al-Mulk cũng quyết định đình hoãn cuộc tấn công, dặn dò binh sĩ tránh xa vùng đó trong tương lai, và để cho bọn Hasan tự do hành động trên khắp thế giới Hồi giáo.

Khi quyền lực và tài sản gia tăng, Hasan lấy thêm và gia cố thêm nhiều pháo đài trên vùng cheo leo hiểm trở của Alborz. Và khi năm tháng trôi qua, Hasan và các hậu duệ của ông, kể cả Dai-el-Kebir, nhận được một danh hiệu nghe rất thân thương là Lão gia Trên Núi.

Người ta khiếp sợ Assassin không chỉ vì thủ đoạn tàn độc của họ mà còn vì không dự đoán được hành tung của họ, gần như không thể nào ngăn cản được cuộc tấn công một khi lệnh đã ban ra. Hasan và những người kế vị khởi phát và hoàn thiện một chiến lược gọi là “nằm vùng”, theo đó sát thủ tận tụy được phái đến những cộng đồng cách hàng trăm dặm và được chỉ thị sống trà trộn trong dân chúng cho đến khi có lệnh ra tay. Những tên nằm vùng này có khi đợi nhiều năm cho đến khi được trung tâm bắt liên lạc. Lúc này, họ có thể tiếp cận nạn nhân mà không gây ra chút ngờ vực về nhân thân hoặc mưu tính của mình.

Hội Assassin, dưới sự điều hành của Hasan và các người kế tục, khủng bố vùng Trung Đông tận thế kỷ 13. Con trai của Hasan và những đệ tử trung thành nắm quyền lãnh đạo sau cái chết của vị thủ lĩnh sáng lập, và ít nhất ba thế hệ hậu duệ tiếp nối sự nghiệp của ông. Nhưng ngay cả Assassin cũng không địch nổi sự tàn bạo của người Mông Cổ.

Cháu nội của Hasan là người đầu tiên cắt đứt với truyền thống sát thủ. Khi ông lên được chức Imam vào năm 1210, Hasan iii làm một việc không ai ngờ đến là cải sang dòng Sunni, phục hồi lề luật Hồi giáo và thậm chí mời các thầy tu Sunni đến  thăm Alamut. Sự cải đạo rõ ràng  liên quan đến thần học không nhiều bằng đến tình hình thực tế và việc sống còn: những đoàn quân Mông, mà tính bạo ngược truyền thuyết của họ thậm chí bọn Asassin còn chấn động, bắt đầu tràn qua thảo nguyên vào đất Ba Tư. Đối mặt với kẻ thù chung, cả người Shiite lẫn người Sunni gác qua một bên sự khác biệt để tiến hành cuộc phòng thủ chung.

Ý thức thận trọng của Hanson iii, không may cho các đệ tử của ông, không được truyền đến con trai mình, Muhammad iii, cũng được gọi là Aladdin (Đỉnh cao Đức Tin). Muhammad trở về dòng tín ngưỡng Shiite và vượt trội các thủ lĩnh trước đây của Assassin về tính tàn bạo, đến độ hầu hết các sử gia cho rằng y điên. Y khắt khe đến mức các thuộc hạ đều nhanh chóng qui thuận về con trai y là Khushah, đang nỗ lực thương thảo hòa hoãn với người Mông giờ đang xâm nhập sâu vào vào vùng núi.

Nhưng đã quá muộn. Vào giữa thế kỷ 13, thủ lĩnh Mông Cổ Hulagu Khan bắt đầu tấn công có phương pháp mỗi căn cứ trên vùng núi của nhóm Assassin. Sử dụng mưu mẹo, thủ đoạn dã man với quân số và vũ khí áp đảo, quân Mông chiếm đóng lần lượt pháo đài này đến pháo đài khác, tàn sát cư dân và hủy diệt Thiên đường trên Mặt đất đã được kiến tạo công phu.

Bọn Assassin quá kiên cường, quá cuồng tín, và quá đông để có thể bị tiêu diệt hoàn toàn, cho dù quân Mông tràn qua vùng này như một cơn sóng thần của trận tàn sát. Một số xoay sở trốn được qua Ấn Độ, nơi họ được biết dưới tên Khoja (người cải đạo danh dự) và tiếp tục nghề cũ với qui mô nhỏ. Những tàn dư của giáo phái được biết vẫn còn hoạt động ở Iraq, Iran và Syria, nhưng họ không hơn những nhóm manh mún những người Shiite hung hăng. 

Những người theo gương cực đoan nhất của đồng bọn Hasan  được biết dưới tên fidayeen. Cái tên được tiếp tục gán cho những tên cuồng tín Hồi giáo chiến đấu với những kẻ thù của Đấng Tiên Tri, hoặc là những người phương Tây ngoại đạo hoặc người Hồi đi sai đường lối. Đối với hầu hết bọn họ, kể cả những tên không tặc trẻ cuồng tín lái những máy bay Mỹ đâm vào Trung tâm Thương Mại vào ngày 11/9/2001, động lực vẫn là lời hứa hẹn sẽ được bất tử trong chốn Thiên đường, một động lực thậm chí vẫn có tác dụng cho dù không có kiểu “xem thử trước” của Hasan.

Cũng chiến thuật ém người vào trong một cộng đồng có chứa mục tiêu như “những tên nằm vùng”, cũng lời hứa phần thưởng trên Thiên đường đều là những chiến thuật quen thuộc với ai từng biết qua tổ chức Al Qaeda.

Thủ lĩnh của chúng Osama bin Laden là một người Sunni, không phải Shiite, mặc dù những phần tử cực đoan từ cả hai phe đều đoàn kết chống lại thế giới Tây phương. Và trong khi Assassin chiêu dụ những nam thanh niên trẻ với phần thưởng gái rượu ở Thiên đường, gần đây những phe Hồi giáo hung hăng nhất còn thành công trong việc chiêu dụ các cô gái trẻ để thi hành những nhiệm vụ tương tự, không biết sẽ nhận được phần thưởng nào của đấng Allah ở chốn Thiên đường. Rõ ràng bin Laden lấy cảm hứng từ tổ chức Assassin. Nếu trên Thiên đường Hasan, Lão gia trên Núi, mà có gặp Osama bin Laden, Lão gia trong Hang động, thì hai người ắt hẳn sẽ tay bắt mặt mừng như anh em ruột thịt.


(còn tiếp)

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s