Hội Kín : Bên Trong Hội Tam Điểm, Hội Yakuza, Hội Đầu Lâu Cốt và những Tổ Chức Bí Mật tai tiếng nhất thế giới- Phần 3

Chương 3

 HỘI TU VIỆN SION- NGƯỜI GIỮ CHÉN THÁNH

1_nrAIK7FjfKURRDZPriuFFA

John Lawrence Reynolds

Trần Quang Nghĩa dịch

 Mọi gia đình đều có những bí mật riêng của mình, và việc giấu kín chúng thường dẫn đến những hê lụy nhiều khi rất đau lòng, và thường là chủ đề của những phim truyền hình nhiều tập. Chắc chắn trong số những bí mật gia đình, bí mật quen thuộc nhất là hôn nhân lén lút (hoặc không có hôn nhân nào cả) đã tạo ra một đứa con mà sự tồn tại của nó không hề được nhận biết. Đó là cơ sở của Hội Tu viện Sion, mà thành viên nhiều vô số, và những fan của nó đều cuồng tín và lịch sử của nó, theo nhiều nhà nghiên cứu tỉnh táo, thì hoặc là trần tục hoặc phi lý.

Này bạn, tính hấp dẫn của câu chuyện này là điều có thể hiểu được. Ai có thể cưỡng lại được một câu chuyện liên quan đến một cái chết giả, một gái điếm hoàn lương và một dòng huyết thống chảy qua những nhân vật lừng lẫy như Leonardo da Vinci, Sir Isaac Newton, Claude Debussy, Jules Verne and Victor Hugo?

Trong một bộ phim ăn khách của Hollywood Indiana Jones, có Harry Ford đóng vai chính, kịch bản sử dụng những nguyên liệu đắt giá như Hiệp sĩ Đền Thánh, Chén Thánh (cái cốc mà Christ đã dùng để uống nước khi bị đóng đinh), bọn Quốc xã và kho tàng chôn giấu, quá dư để làm bùng nổ màn ảnh. Chỉ cần xem phim  này, hội Tu viện Sion có thể khoác lác là mình có thêm hàng ngàn fan ủng hộ sự tồn tại của nó và những ảnh hưởng mà nó tạo ra trên các sự kiện của thế giới 2000 năm qua.

Mặc dù có nhiều tên tuổi lừng lẫy liên hệ với hội Tu viện Sion, thực tế cho thấy câu chuyện xoay quanh ba nhân vật chủ chốt: một cha xứ ở một giáo xứ nghèo cần một lời giải thích cho khối tài sản kết xù bất ngờ của ông; một người Pháp bài Do Thái đang tìm cách hoàn thành những giấc mơ thời chiến của y; và một ông hoàng trung cổ duyên dáng. Không kể Jesus Christ và bà vợ và đứa con của hai người.

Cơ sở của câu chuyện, với nhiều biến thể hơn cả các tác phẩm của Mozart, là thế này:

Mặc dù các tín đồ Cơ đốc tin chắc Mary Magdalene không phải là gái điếm ở Jerusalem mà là người vợ Do Thái trung lưu của Jesus, nhưng việc sống chung của họ không hề được tiết lộ hoặc đi theo luật lệ bình thường. Theo nguồn tư liệu, việc Chúa đóng đinh được dựng giả mạo và ông cùng vợ sau đó chuồn khỏi Jerusalem để khỏi bị giết, hoặc Mary Magdalene trốn thoát một mình từ Palestine sau cái chết của Christ. Cách nào thì bà cũng đến bờ biển Địa Trung Hải của Pháp bằng thuyền, và bà đang có mang. Hơn nữa, sau đó bà sinh hạ một đứa con khỏe mạnh mà những hậu duệ của em, trải qua hai ngàn năm lịch sử, đã ảnh hưởng đến sự phát triển của thế giới đến một mức độ to tát trong khi sự tồn tại của họ được giấu kín khỏi thế gian.

Thật khó tưởng tượng có câu chuyện nào có thể thực sự làm rối tung những giáo điều Cơ đốc hơn câu chuyện cho rằng Mary Magdalene sinh ra một hậu duệ của Chúa Trời cho Christ. Chỉ cần tiền đề này thôi cũng làm sinh sôi hàng tá lời giải thích cho những sự kiện lịch sử, kể cả những sự kiện mà không “giải thích” nào được cho là cần thiết. Chẳng hạn,việc sáng lập và thành tựu ban đầu của Đền Thánh được một số người cho là có dấu vết của các hậu duệ Christ nhánh bên Pháp.

Nhờ đó nguồn cội sức mạnh của Hội Đền Thánh mới nằm ở nước Pháp. Vì thế có lẽ khi biết rõ sự thật về huyết thống của họ, vương triều Pháp mới thẳng tay hủy diệt họ. Được sự đồng loã với một giáo hoàng mới được bầu, vốn ý thức được mối nguy hiểm cho Giáo hội nếu sự thật được phơi bày, nhà vua Pháp trở nên quyết tâm tiêu diệt Hội Đền Thánh. Ông ra tay không phải vì sợ quyền lực của Đền Thánh và tính tham lam, mà do nhu cầu phải thanh lọc Cơ đốc giáo.

Thật ra, một danh sách dài các hậu duệ của Jesus có thể được tìm thấy trên những “văn kiện mật” viết trên giấy da cổ và được cất giữ trong Thư viện Quốc gia ở Paris. Nhiều tên tuổi trong những văn kiện rất mù mờ. Một số được các học giả cho là có liên hệ với giáo phái thần bí, nhất là vào thời trung cổ. Một số ít là những tên tuổi lịch sử hàng đầu: Robert Boyle, Isaac Newton, Victor Hugo, Claude Debussy, Jean Cocteau và tất nhiên Leonardo da Vinci.

Tại sao duy trì gia phả của một dòng dõi bậc nhất trong vòng bí mật suốt 20 thế kỷ, chỉ để bật mí vào cuối thiên niên kỷ thứ hai? Có lẽ để phục hồi triều đại do Mary Magdalene thành lập, một dòng huyết thống vươn đến không chỉ ngai vàng nước Pháp mà còn các ngai vàng của các quốc gia Âu châu khác, tạo ra một phe nhóm quốc tế có chung dòng máu và chung tham vọng kiểm soát tình hình thế giới. Dòng huyết thống này, được biết dưới tên triều đại Merovingian, đã kiểm soát nước Pháp vào khoảng 475, lấp đầy khoảng trống quyền lực tạo ra khi đế chế La Mã sụp đổ và mở rộng ảnh hưởng của nó qua lịch sử kể từ đó.

“Merovingian” được rút ra từ tên Meroveus, cha của Childeric i, người trở thành nhà cai trị đầu tiên không phải người La Mã ở vùng Gaul, giờ là nước Pháp. Từ Meroveus, theo truyền thuyết, có thể lần ngược theo dấu vết tổ tiên  đến tận Joseph ở Arimarhea rồi đến Christ. Hoặc có thể không. Trong khi một số tư liệu tu viện nhận diện ra Meroveus theo kiểu này, sử gia Priscus thì tuyên bố ông ta được một sinh vật biển bí ẩn đẻ ra, giải thích tại sao ông ta có kiến thức bí truyền và những kỹ năng thần bí. Mối quan hệ với sinh vật biển này được xem như chứng cứ rằng (a) Mary Magdalene bước ra từ một con thuyền lên bờ biển nước Pháp, nơi bà sinh ra con trai của Jesus; (b) có một nỗ lực để xoa đi sự kiện lịch sử này bằng cách bao bọc nó bằng một truyền thuyết; (c)  một nỗ lực được thực hiện theo hướng ngược lại, nhận diện tổ tiên của Meroveus là Christ, vì con cá là một biểu tượng của Cơ đốc giáo.

Câu chuyện tiếp tục mờ mịt cho đến 671, khi hoàng thân dòng Merovingian là Dagobert ii cưới Giselle de Razes, con gái của Bá tước Razes và cháu gái của Vua  triều đại Visigoth, do đó kết hợp hai lực lượng hùng mạnh đã từ lâu đánh nhau để giành quyền làm chủ nước Pháp.

Dagobert có vẻ là  một nhà uyên bác vào thời đó. Được dạy dỗ trong một tu viện Ái Nhĩ Lan, ông cưới Mathilde ở York, một bà hoàng người Celtic, và định cư ở Anh. Tại Anh ông làm bạn với Saint Wilfrid, Giám mục York. Sau khi Mathilde mất, nhờ sự môi giới của giám mục, ông kết hôn với Giselle. Dựa vào việc mô tả Giselle là một giai nhân tuyệt sắc, nữ công điêu luyện và có trình độ học tập cao hơn phụ nữ cùng thời, nghe có vẻ một cuộc hôn nhân tổ chức ở thiên đường, hay ít ra tại Languedoc, vùng lãnh thổ Pháp giáp biên giới Địa Trung Hải giữa Marseille và biên giới Tây Ban Nha. Ở đây, trong một nhà nguyện Visigoth cổ để thờ Mary Magdalene, gần thành phố Rhaede, họ làm lễ cưới.

Nhờ những thuận lợi về địa lý, Rhaede tự hào có một dân số hơn 30,000 người vào thời điểm đó. Tọa lạc tại giao lộ những tuyến đường vươn dài băng qua những thung lũng kế cận, với vài suối nước ngọt gần đó, thị trấn có từ thời trước La Mã. Đó là địa điểm tự nhiên để ăn mừng lễ kết hợp hai gia đình quyền thế.

Thoạt đầu mọi thứ đều trôi chảy một cách hợp lý, nhất là đối với một chiến binh Thời Đại Tối Tăm. Dagobert xoay sở để giành giựt được phần lãnh thổ ngày nay là nước Pháp khỏi tay bấu víu của ba anh em muốn chiếm đoạt sau khi cha họ qua đời. Và Giselle thưởng cho ông khi sinh hạ một con trai nối dõi, một thành tựu quan trọng ở thời đó. Trong lúc đó, Dagobert bắt đầu cũng cố quyền lực của mình, khiến cả giáo hội lẫn người bạn cũ Wilfrid nổi giận. Như hầu hết những nhà cai trị thời đó, Dagobert tạo ra kẻ thù, nhiều đến nỗi không mấy ai ngạc nhiên khi ông bị ám toán trong một chuyến đi săn. Và chỉ nhờ may mắn và có thể sự can thiệp của ơn trên mà Giselle và con trai Sigisbert, với sự hộ giá của một nhóm hiệp sĩ trung thành, mới thoát được số phận tương tự. Từ đó trở đi, Sigisbert và những hậu duệ của ông giữ kín huyết thống tránh không cho người khác dòm ngó, đồng thời bí mật ghi lại gia phả để con cháu có thể nhận ra dòng dõi thiêng liêng của mình và đợi thời cơ sử dụng nó để hoàn thành điều gì đó.

Chẳng bao lâu sau đó, Rhaede bắt đầu xuống dốc, không còn là một trung tâm chính. Sau khi bị tàn phá trong các trận chiến với Tây Ban Nha, dân số lại thiệt hại khủng khiếp trong những năm dịch bệnh. Rồi đến những băng cướp Catalan nhiều lần cướp bóc và phóng hỏa, những cư dân còn lại buộc phải bỏ thành phố hoàn toàn. Phần đông chạy vào nội địa, trong khi một số ít kẻ gan lì ở lại, xây dựng lại cộng đồng của họ thành một ngôi làng có tên Rennes-le-Chateau.

Trong lúc đó, một dòng tu được hình thành ở Jerusalem. Được biết dưới tên Đức Bà Núi Zion, dòng tu sau đó chuyển trụ sở về St. Leonard d’Acre ở Palestine, và sau đó dời về Sicily. Nó hoạt động ở đó một thời gian trước khi bị các thầy tu dòng Jesuit sáp nhập vào năm 1617, lịch sử của nó có thể được kiểm tra dễ dàng từ văn kiện xác thực của Giáo hội. Mọi thứ chúng ta biết về nó có vẻ như để chứng thực là Tu viện Sion này hoạt động như hàng tá những tu viện tương tự vào thời kỳ đó. Là một trung tâm để trầm tư và cứu rỗi, nó giao lưu với cộng đồng quanh nó, đóng vai trò có tính phong kiến-trung cổ của một cột trụ xã hội, sự ẩn cư đầy hứng khởi và một suối nguồn văn hóa. Không có gì gợi ý là nó kết nối với những tên âm mưu, chứa chấp Hiệp sĩ Đền Thánh có mưu tính trả thù chống Giáo hội, hoặc nuôi dưỡng tài nguyên nhân lực thuộc phả hệ  Merovingian dành cho ngày sau. Vai trò duy nhất của nó trong lịch sử chỉ là cung cấp một cái tên cho một hội nhận là đã tồn tại 2000 năm gây được  ảnh hưởng và bị đe doạ.

Chương tiếp theo của câu chuyện bắt đầu vào năm 1885 khi một cha xứ Thiên chúa có tên  Francois Berenger Saunière được phái đến giáo xứ bao quanh ngôi làng Rennes-le-Chateau. Đã 1000 năm trôi qua kể từ cuộc hôn nhân của Dagobert và Giselle đã ràng buộc vương quốc Visigoth và huyết thống Merovingian. Thành phố chiến lược cổ xưa Rhaede đã từng là nơi diễn ra lễ cưới giờ chỉ là một ngôi làng tù đọng chứa vỏn vẹn 200 cư dân. 

Saunière * là một nhân vật lịch sử thú vị, và càng gây thú vị hơn khi ông dính líu vào truyền thuyết của một hội kín hấp dẫn nhất trong thời đại chúng ta. Có học vấn và nhiều tham vọng, chàng linh mục đẹp trai khi đến nhận nhiệm sở mới ở nơi heo hút này ắt hẳn cảm thấy bất mãn, nếu không muốn nói là bị hất hủi. Nằm cách Carcassonne 40 cây số trong bóng tối của dãy núi Pyrenees, Rennes-le-Chateau trông không khác một ngôi làng trên mặt trăng đối với một cha xứ cao vọng. Ở tuổi 35, Saunière ắt hẳn cảm thấy con đường sự nghiệp mình đã kết thúc cùng với những ước mơ ôm ấp đã tan vỡ.

*  Độc  giả tinh mắt của tác phẩm Mật Mã Da Vinci  ắt đã nhận ra tác giả Dan Brown đã sử dụng cái tên này gán cho nhân vật bí ẩn mà cái chết của y ở phần đầu cuốn sách, dựng nên đường dây cho cốt chuyện.

2

Francois Berenger Saunière. Người giữ Chén Thánh hay tên lừa đảo giáo hội?

Để mọi việc càng tệ hại hơn, Saunière tiếp nhận không phải một nhà thờ giáo xứ mà là một phế tích hoang tàn. Mái nhà nguyện đổ gần hết, mỗi lần mưa nước dột xuống bệ thờ. Cửa sổ không che kín bằng kính màu mà bằng những miếng ván thô kệch, chính diện thì không thể ở được, không có người giúp việc nào được giáo hội cử đến để phụ giúp ông, và với đồng lương 75 franc chỉ vừa đủ cho ông mua bánh mì sống qua ngày. Điều duy nhất gây ngạc nhiên hơn cả tình trạng xập xệ của nhà thờ là quyết định ở lại của ông.

Ít nhất một phần quyết định này có động lực từ những cảm hứng xác thịt hơn là tôn giáo. Trong khi các cha xứ  được phép thuê các phụ nữ giúp việc, Giáo hội qui định tuổi của họ phải cách nhau từ 30 tuổi trở lên, như vậy Saunière chỉ được phép thuê các bà giúp việc sống chung có tuổi sáu mươi trở lên. Nhưng Saunière lại quay ngược chiều, và chẳng bao lâu thuê một cô gái 16 tuổi Marie Denarnaud sống với  ông trong chính điện hoang tàn. Theo thời gian, mọi người đều nhìn nhận là cặp đôi chia sẻ nhà thờ lẫn giường ngủ, một tình huống mà cả cộng đồng và bề trên của Saunière, ngài Giám mục dễ thương và khoan từ ở Carcassonne, có vẻ đã tha thứ.

Marie Denarnaud có lẽ đã bị cha xứ thu hút bởi những lý do không hẳn vì vẻ đẹp trai của ông. Có thể đó là do bản chất nồng nhiệt của Saunière, mà ông đã thể hiện trong vài tháng đến nhiệm sở mới. Trong các cuộc bầu cử nhà nước diễn ra trong tháng 10 1885, Cha Saunière trở thành một đối thủ sừng sỏ của đảng Cộng Hòa đang cai trị, diễn thuyết và ra lệnh thắng thừng cho giáo dân không bầu cho Cộng Hòa. Những bài giảng gay gắt của ông không có tác dụng nhiều đến kết quả; đảng Cộng Hòa vẫn thắng, và khi những bài giảng gay gắt của ông chống lại họ được biết rõ, họ gấp rút trả thù và được toại nguyện. Để trừng phạt cho sự thiếu thận trọng chính trị của ông, đồng lương khiêm tốn của ông bị treo lại. Ông kêu nài với vị giám mục, người đã tha thứ tội sống chung với một người giúp việc hơ hớ của ông, lại mở rộng lòng từ thiện khi bổ nhiệm ông vào chức vụ giáo sư tại một khóa học ở Narbonne gần đó. Tại đây người cha xứ năng nổ thao thao giảng dạy trong sảnh và phòng học trong suốt sáu tháng cho đến khi việc hoãn lương được bãi bỏ

3

Marie Denarnaud, người giúp việc kiêm người tình của Cha Saunière đầy bí ẩn, bà giữ được bao nhiêu bí mật?

Nếu các lãnh đạo Giáo hội nghĩ rằng mình đã dập được Saunière, họ đã lầm. Đúng ra, Saunière trở về làng và nhà thờ xập xệ của mình, lần này với sự hậu thuẫn của một người giàu có ông lên kế hoạch tu bổ giáo xứ và vận số của mình.

Có lẽ vì ngưỡng mộ cho thế đứng chính trị của ông, có lẽ trùng khớp với của bà, Nữ Bá tước có quyền thế ở Chambord tặng ông 3000 franc khi ông trở lại giáo xứ. Số tiền này có ý nghĩa vì Saunière chỉ nhận được khoảng 2800 franc để tu bổ nhà thờ.

Đâu đó trong quá trình tái tạo, Saunière trở nên bị mê hoặc bởi truyền thuyết bao quanh ý nghĩa lịch sử được gán cho nhà thờ của ông.

Nhà thờ của Saunière, tưởng niệm cho Mary Magdalene, đã được xây dựng ngay địa điểm kết hôn giữa Dagobert ii và Giselle de Razes, theo truyền thuyết, và trong khi phụ giúp việc tái tạo Saunière có một phát hiện sửng sốt. Một phiến đá nặng nề được sử dụng làm bệ thờ trong thiết kế ban đầu được đặt trên bốn cột trụ. Chính Saunière đã xê dịch phiến đá và phát hiện một trong những cột đá là rỗng. Từ bên trong cột rỗng ông nhẹ nhàng lôi ra bốn bản viết trên miếng da cổ, thận trọng tránh các cặp mắt tò mò của thầy thợ chung quanh. Hai miếng ghi đường dây gia phả, trong khi hai miếng khác được viết bằng mật mã bí ẩn khiến những chuyên viên giải mã ở Paris phải mất một ít thời gian mới giải mã được. Thông điệp của quá khứ viết bằng tiếng Pháp hiện ra như sét đánh:  A Dagobert II Roi et à Sion est ce tresor et il est là mort, nghĩa là Kho báu này thuộc về Vua Dagobert ii và Sion, và ngài mất ở đây.

 Kho báu? Kho báu nào? Câu trả lời xuất hiện ngay khi một phiến đá thứ hai được hiện ra từ bên dưới lớp đất. Có thứ gì đó nằm bên dưới nó, một thứ gì đó chỉ có Cha Saunière nhìn thấy. Chỉ một cái liếc mắt đủ báo cho ông biết những ước mơ được phái đến nhiệm sở  Bordeaux hay Paris hay thậm chí La Mã cũng không thấm tháp gì đến khối tài sản nằm trước mặt ông. Chẳng bao lâu Saunière và hai người phụ việc tin cậy bận rộn như những con chuột túi, đào bới mọi địa điểm quanh nhà thờ và vùng ngoại vi làng.

Cha Saunière có thể trước đây đã làm đơn xin tiền tài trợ để sửa chữa ngôi nhà thờ cũ của mình, nhưng từ thời điểm này trở đi hoạt động xây dựng nhà thờ trở nên sôi sục và phung phí khiến mọi giám mục từ Giám mục Paris trở xuống đều đố kỵ. Ngôi nhà thờ nhỏ được xây dựng lại bề thế, trang trí với những tranh dầu và tượng điêu khắc đặt mua tận Paris. Một số mang phong cách truyền thống, như Người chăn cừu vùng Arcadia, mô tả nhóm người vây quanh một quách đá trong một khung cảnh giống một cách kỳ lạ với Rennes-le-Chateau. Những tác phẩm khác thì không rõ phong cách và ý nghĩa, trong đó có một bức tượng gần cổng vào nhà thờ in dòng chữ khác Latinh Terribilis est locus iste – Nơi này thật khủng khiếp.

Vị cha xứ tích góp đủ của cải để mua sắm những tác phẩm nghệ thuật nhiều hơn cần thiết cho nhà thờ. Ông còn mua vài mẫu đất sát kề nhà thờ, và bắt đầu xây dựng Tháp Magdala để vinh danh Mary Magdalene, và một dinh thự nhiều phòng có tên Villa Bethania cho ông và Marie. Chi phí thật khủng – 40,000 franc cho tháp, 90,000 franc cho định thự và 20,000 franc cho khu vườn kề cận. Tổng chi phí mà Saunière bỏ ra ước lượng 200,000 franc, được trả bởi một người mới vài năm trước đây chỉ nhận số lương 75 franc mỗi tháng. Theo thời giá hiện tại, 200,000 franc trong năm 1900 tương đương gần 7 triệu franc hoặc khoảng 1.25 triệu đôla. *

*   Một số ước tính chi phí của Saunière lên đến 250 triệu franc (hơn 50 triệu đôla), một con số khiến tính cả tin vào kho báu càng kéo căng đến cùng cực.

Tưởng đã bị đẩy đến một nơi khỉ ho cò gáy tại một góc xó xỉnh của nước Pháp, nhưng giờ thì ông sống như một hồng y Vatican, một người mà mọi khao khát – vật chất, tinh thần, văn hóa và xác thịt – đều thỏa mãn nhờ một nguồn tài trợ tưởng như vô tận. Ông cho đàn ngỗng của mình ăn thứ bánh quy thượng hạng để thịt chúng thơm phức khi nướng lên, khoe khoang mình có cả một hầm rượu vang được cất giữ đặc biệt, và đặt mua mỗi tháng 70 lít rượu rum mang từ Jamaica đến. Vào tháng 6 1891 Saunière dàn dựng một đám rước qua làng để trưng bày một bức tượng mới tậu được, tượng Mẹ Đồng Trinh ở Lourdes, mà ông đặt trên một cột đá trong khu vườn diễm lệ của nhà thờ mới. Năm sau ông dựng thêm một khu xưng tội và một bục giảng mới, và thiết kế một cách bí ẩn Đoạn Đường Thánh Giá theo một kiểu hình tròn bất thường được tin là biểu thị một thông điệp mã hóa. Ông còn mua sắm nhiều thứ khác nữa, nâng ngồi nhà thờ nhỏ bé lên một tầm cao của sự thưởng ngoạn nghệ thuật và văn hóa vượt xa mọi mong đợi đối với một cộng đồng tẻ nhạt này.

Cha xứ đằy tham vọng bắt đầu trang trí ngôi nhà thờ thân yêu của ông nhiều hơn nữa. Dân làng vui sướng khi ông lên kế hoạch xây dựng một hang động gần một bức tượng Christ lớn bằng người thật trên thập giá tại quảng trường thị trấn. Marie Denarnaud cũng hí hửng trong những bộ y phục đúng mốt của Paris dạo quanh khu chợ, đôi khi mang theo ví tay trong đó đựng những chứng thư tài sản mà Saunière cho bà đứng tên.

5

Ngoài việc phục dựng nhà thờ, Rennes-le-Chateau còn phô trương một tháp tưởng niệm Mary Magdalene.

Dân chúng địa phương tò mò về nguồn gốc của cải của Saunière, nhưng không nhiều lắm. Miễn là ông tạo công ăn việc làm cho những thợ thủ công địa phương, và góp thêm tiếng tăm cho cộng đồng đang cần đến. Ngoài ra, họ khá  thỏa mãn với câu chuyện giải thích một cách khá hợp lý mọi việc. Đây là câu chuyện mà dân chúng tin tưởng:

Saunière đã đào được một thứ gì đó quí hơn cả vàng và châu báu trong những chuyến khai quật của mình. Kho báu của Dagobert, và nhân thân của một thi thể (“. . . và ngài mất ở đây”) không phải là chính vị vua dòng Merovingian quá cố từ lâu mà là thi hài của Christ, vị trí của nó được chỉ rõ bởi một tấm da viết bằng mật mã chôn dấu trong cột bên dưới bệ thờ.

Hãy thử tưởng tượng tầm quan trọng của sự phát hiện đó. Sự có mặt của thi hài Christ trong một ngôi làng Pháp vô nghĩa sẽ hủy diệt mọi giáo điều Cơ đốc, làm tan tác mọi nền tảng của tín ngưỡng đó, và giật sập mọi định chế từ Vatican trở xuống. Hoặc là Christ đã không chết trên thập giá, hoặc ông ta không sống lại và được đưa lên thiên đường ba ngày sau. Mọi nguyên tắc thần học của Cơ đốc giáo sẽ phải xét lại và viết lại hoặc loại bỏ, cùng với 2000 năm sùng kính và hi sinh.

Saunière phải làm gì? Một người sùng đạo sâu sắc có thể sẽ giữ bí mật mãi mãi, bám víu vào tin ngưỡng ông đã sống và sẽ không làm sụp đổ nền tảng tâm linh của hàng tỉ người. Còn một con người lý trí thì sẽ công khai phát hiện của mình, thách thức những ý thức hệ xưa cũ và góp phần thay thế chúng, và tin ngưỡng mà chúng đại diện, với một niềm tin mới.

Saunière không thuộc loại nào trong hai. Ông là một con người thực tiễn, nên chỉ lẳng lặng tiết lộ khám phá của mình cho một nhóm nhỏ các lãnh đạo có chọn lọc của Giáo hội, hứa sẽ dấu nhẹm chuyện này để đổi lấy một thù lao rộng rãi, mà Giáo hội sẽ chi trả trong thời gian họ mưu tính bước tiếp theo. Đúng là Cơ đốc giáo đang bị một cha xứ Pháp vô danh tiểu tốt tống tiền.

Nếu tính huống đúng là như thế, đáp ứng tối hậu của Giáo hội là sau vài năm thỏa mãn những yêu sách của ông, tiếp theo có thể là làm mất tiếng tăm của ông, rồi sau đó dẹp bỏ ông và thế là xong. Đó là điều sẽ xảy ra, nhưng chỉ sau khi có những sự kiện bí ẩn xảy ra, loại bí ẩn khiến miệng lưỡi của thị dân tỉnh lẻ ngọ nguậy và những fan âm mưu thèm nhỏ dãi.

Tiến trình bắt đầu kịch tính với những cái chết kỳ lạ của hai viên chức giáo hội địa phương. Vào trước Ngày Các Thánh 1897 Abbe Gelis, một thầy tu kín ở làng Coustaussa gần đó, được tìm thấy bị giết hại tàn nhẫn trong nhà bếp của khu nhà ở trong tu viện. Bị đập bằng một cặp cời lửa và một đầu rìu, thầy tu được đặt nằm nghiêm chỉnh trên sàn nhà hai bàn tay đặt ngay ngắn trên ngực. Trong khi có dấu hiệu nhà cửa bị lục soát, nhưng có vẻ ăn trộm không phải là động lực vì số tiền 800 franc vẫn còn y nguyên trong ngăn kéo. Vụ án không bao giờ được giải quyết.

Năm năm sau, Giám mục Billiard của Carcassonne cũng bị sát hại. Billiard, người không chỉ thất bại trong việc moi được câu trả lời của Saunière về nguồn gốc tài sản và lối sống hoang phí của Saunière mà còn có vẻ đã khuyến khích chuyện đó, cũng chịu chung một số phận tàn nhẫn như Abbe Gelis. Sát thủ cũng không tìm ra được.

Người thầy thế Giám mục Billiard, Abbe de Beausejour, không khoan dung với Saunière như Billiard. Y lên án những hành động thái quá, vị giám mục mới yêu cầu Saunière giải thích những hành động của mình và lập kiểm toán những lợi tức và chi tiêu của giáo xứ, những yêu cầu mà Saunière phớt lờ trước khi ra sức xoa dịu cấp trên của mình bằng những kê khai giả mạo và không đầy đủ.

Năm 1909, đã chịu đựng hết nỗi. Ông ra lệnh Saunière rời nhiệm sở ở Rennes-le-Chateau. Khi Saunière từ chối, ông ngay lập tức bị tước áo dòng. Trong tám năm sau đó, cha xứ bị thất thế này vẫn sống trong làng, được người tình Marie Denarnaud chung thủy chăm soc. Khi ông chết vào năm 1917 ông để lại tất cả tài sản cho cô. Tài sản của ông chỉ là mấy cuốn sách và một mớ lỉnh kỉnh vô giá trị, nhưng Marie có được cuộc sống tiện nghi bảo đảm vì Saunière đã chuyển Villa Bethania cho cô. Cô ta sống thêm 30 năm nữa bằng cách cho thuê phòng trong dinh cơ của cô, cuối cùng chuyển quyền sở hữu cho một doanh nhân địa phương đổi lấy trái phiếu đồng niên hưởng đến trọn đời. Nguồn lợi tức giúp cô sống đến hết phần đời yên bình còn lại cho đến khi qua đời vào tháng giêng 1953. Người đàn ông mua nhà đất và trả tiền mỗi năm cho cô là Noel Corbu, một tay làm ăn địa phương. Hãy nhớ kỹ cái tên này.

Qua thời kỳ giữa hai thế chiến, trong khi Maris Denarnaud sống yên bình với ký ức và bí mật của mình, nước Pháp bị xô đẩy bởi hai phe phái chính trị xung đột nhau. Những người bảo hoàng, vốn ủng hộ việc trở lại chế độ quân chủ và hồ hởi trước sự hậu thuẫn công khai của Giáo hội Thiên chúa, bị phe cộng hòa chống đối, vốn ưu ái chính quyền dân chủ dân cử. Nhiều lãnh đạo của phong trào cộng hòa là hội viên Tam Điểm, hội đã khống chế chính trị Pháp từ thập niên 1880.

Cuộc xung đột vẫn duy trì tình trạng ổn thỏa tương đối cho đến khi nước Pháp đụng độ với sự xáo trộn vào cuối thập niên 1920 đã đưa Hitler lên nắm quyền ở nước Đức sát bên. Mang nhiều chủ trương có đặc trưng Quốc xã, những nhóm gồm những người Pháp thiên hữu trở nên phân biệt chủng tộc hơn. Cùng với làn sóng bài Do Thái càn quét khắp châu Âu, những người cực hữu Pháp thêm vào danh sách những kẻ phản quốc và lật đổ những hội viên Tam Điểm. Với tình hình hổn loạn ở châu Âu và khủng hoảng kinh tế toàn cầu sinh ra do cuộc Đại Suy Thoái, những con dê tế thần được tìm thấy khắp mọi nơi, và những liên minh được thành lập ngay khi một kẻ thù chung được nhận diện. Những người bảo hoàng cực đoan liên kết lực lượng, trình diện mình như là dòng hiệp sĩ có nhiệm vụ phục hưng một xã hội đã mất đang bị khống chế bởi người Do Thái và Hội Tam Điểm. Việc Leon Blum, một người Do Thái, được bầu làm thủ tướng xã hội chủ nghĩa đầu tiên của đất nước, thúc đẩy những người bảo hoàng và phe cực hữu lập một liên minh dọn đường cho chế độ Vichy hợp tác với bọn Quốc xã chiếm đóng trong Thế Chiến II.

6

Năm 1900, Rennes-le-Chateau và Dinh thự Bethania trong  hình trên đã bắt đầu nổi tiếng và mang tiếng.

Trong những nhóm bảo hoàng/phát xít được hình thành trong cơn lốc xoáy chính trị này có Alpha Galatea (Người Pháp Đầu Tiên). Tổ chức này tạo ra ít hứng thú và không có tác động gì cho đến khi các thành viên của nhóm bầu ra một người cầm đầu trên danh nghĩa, một thiếu niên tên là Pierre Plantard. Hoặc phát triển sớm hoặc có quan hệ rộng rãi, Plantard đạt được tiếng tăm lẫn tai tiếng vượt quá nguồn gốc lao động và trình độ học vấn tầm thường.

Thỉnh thoảng Plantard khoác một kiểu cách khuôn sáo và mang một dáng vẻ thế giới ngầm: dữ dằn và đen tối, với một nụ cười mỉa thường trực trên đôi môi xệ. Ở những lúc khác, y làm ra dáng một nhà trí thức, một người theo thuyết hiện sinh thoải mái bên cạnh một Malraux hoặc Sartre. Y thay đổi như một con tắc kè hoa để đạt được bất kỳ mục tiêu nào rơi vào trong tầm mắt của y vào thời điểm đó. Những mô tả khác về người đàn ông này ít trung tín hơn, bao gồm lang băm, nghệ sĩ lừa bịp và tội phạm bị kết án. Điều cuối cùng này có thể được khẳng định qua hồ sơ cảnh sát Pháp tiết lộ y đã bị kết tội tống tiền và biển thủ, và bị kêu án 6 tháng tù.

7

Pierre Plantard (với con trai Thomas vào năm 1979) là một tên lừa đảo bị kết án mà trò bịp thành công nhất đẻ ra một tiểu thuyết bán chạy nhất.

Trong chế độ Vichy cai trị nước Pháp thời Đức Quốc xã chiếm đóng từ 1940 đến 1944, Plantard và nhóm Alpha Galatea xuất bản Vaincre (Chinh Phục), một tạp chí chủ trương chủ nghĩa dân tộc Pháp và phục hồi vương quyền. Nhiều mục của ấn bản công khai bài Do Thái và chống Tam Điểm, một lời kết án mà sau này Plantard biện minh là để tránh kiểm duyệt của Gestapo. Nếu đó thực sự là chiến lược, thì nó thất bại thảm hại; Vaincre bị đóng cửa và Plantard bị bắt giam vào năm 1943 vì, theo hồ sơ Quốc xã, y công khai hậu thuẫn những quan điểm phát xít Pháp hơn là quan điểm của Đức. Plantard, trong những năm sau đó, có lời giải thích khoác lác hơn: Bọn Quốc xã phát hiện những bài báo của y trên tờ Vaincre chứa những mật tin gởi lực lượng Kháng chiến Pháp.

Cho dù Plantard đứng về phe nào, thì rõ ràng y là một kẻ đâm thọc khi đụng đến chủ nghĩa dân tộc Pháp, một vai trò y theo đuổi lăn xả hơn nữa sau khi thế chiến kết thúc vào năm 1945. Hai năm sau, Plantard sáng lập Học Viện Latinh, nói là nhằm chỉ đạo những nghiên cứu lịch sử nhưng thật ra mục tiêu rõ ràng hơn của nó là tiếp tục những hoạt động khuynh hữu của Alpha Galates.

Plantard trở thành một nhân vật thân thiết trong một số các lãnh đạo Thiên chúa, đặc biệt trường dòng St. Sulpice, và chính tại đây vào giữa thập niên 1950 y bắt đầu nhận mình thuộc dòng dõi Merovingian muốn làm vua nước Pháp. Sau đó, vào năm 1956, y kéo dài nhân thân đó thêm bằng cách tuyên bố mình là thủ lĩnh của một tổ chức thần thánh do Godfrey de Bouillon sáng lập trong thời Thập Tự Chinh, mà thành viên của nó đã ảnh hưởng đến biến động của thế giới kể từ ngày có Christ. Tên của tổ chức đó là Hội Tu viện Sion.

Tên của tổ chức hẳn đã thay đổi, mượn tên của một tu viện trung cổ, khởi đầu là Đức Bà Núi Zion, nhưng trong hầu hết phương diện vẫn là Alpha Galates được gán cho một bộ mặt mới và một tạp chí mới, lần này có tên Circuit. Ấn bản của Plantard chẳng bao lâu đăng những câu chuyện về Cha Saunière, gợi ra những bí ẩn mà cha xứ phát hiện trong một ngôi làng hẻo lánh vùng núi Pyrenees. Những bài viết cuối cùng tập hợp thành một cuốn sách do Plantard chi tiết hóa những phát hiện của Saunière, những ám chỉ rằng thi thể Christ đã được an táng gần ngôi giáo đường nhỏ thờ Mary Magdalene, sự kết hợp các hậu duệ của Christ với huyết thống gô-tich Pháp qua cuộc hôn nhân giữa Dagobert và Giselle, và bí mật đáng kinh ngạc được lưu truyền qua cuộc đời của những con người vĩ đại trong lịch sử.

Đó là một câu chuyện hấp dẫn, nhưng lối viết của Plantard không cuốn hút nên không ai có vẻ hứng thú chịu xuất bản cuốn sách của y. Trong một nỗ lực để tìm tài trợ cho sự nghiệp văn chương của mình, Plantard tuyên bố rằng mình đã có trong tay hai tấm da văn bản mà Saunière đã phát hiện trong chân cột rỗng đỡ bệ thờ, và với vài tiếng khua chiêng y tặng chúng cho Thư viện Quốc gia Pháp. Sự hiện diện của những văn bản này biểu thị một liên kết quan trọng giữa hành vi kỳ lạ của Saunière và sự tồn tại của Hội Tu viện Sion. Thình lình có một số ít người tin trong khi những kẻ hoài nghi chỉ đứng đó mỉm cười và lắc đầu.

Cả hai tấm da do Plantard đưa ra đều chứa những thông điệp bí ẩn, một văn bản vinh danh cuộc hôn nhân của Dagobert với Giselle và văn bản kia, bí ẩn hơn, đề cập đến Tu viện Sion. Một khi mà nội dung của chúng, nếu không muốn nói tình xác thực của chúng, được khẳng định, Plantard làm sửng sốt các học giả và sử gia bằng tuyên bố rằng tài liệu chứng tỏ y là hậu duệ trực tiếp của Dagobert và Giselle, do đó lý giải vai trò là Đại Hội Chủ Tu viện Sion của y.

8

Manh mối của sự thật đằng sau Tu viện Sion nằm trong mật mã phức tạp trên tấm da này, nhưng không theo cách mà bạn có thể mong đợi.

Tiếp theo tấm da văn bản là việc biên tập lại quyển sách, giờ sẽ được xuất bản nhờ sự kiện tấm da và việc viết lại bản thảo bởi một đồng tác giả là Gerard de Sede. Với tựa đề L’Or de Rennes (Vàng ở Rennes) và được xuất bản năm 1967, quyển sách chi tiết hóa câu chuyện thời kỳ đầu của Hội Tu viện Sion với Mary Magdalene và đứa con của Christ, đồng hành với Christ hoặc thi hài của ông, trốn thoát qua Địa Trung Hải đến xứ Gaul (ngày nay là nước Pháp). Từ đó nó vạch ra một đường dây huyết thống qua Giselle de Razes, kéo dài các hậu duệ của bà qua suốt 1300 năm lịch sử, và kết thúc bằng việc phát hiện các tấm da và những đồ tế nhuyễn khác của Saunière.

Những tiết lộ của quyển sách này phát sinh hai quan điểm khác biệt và nóng bỏng như nhau. Một bên thì cho rằng câu chuyện không thể nào bác bỏ được, vì dựa vào những nguồn tư liệu khác nhau chứng mình tính xác thực của nó bao gồm của cải bí ẩn mà Saunière có được, sự hiện diện của tấm da chứa thông điệp, và những tham chiếu lịch sử đến Dagobert và dòng họ Merovingian, và những ghi chép đầy thuyết phục của Plantard. Óc tưởng tượng của những người dễ tin này lao vào quyết đoán rằng một hội kín đã mang một trong những bí mật lớn nhất của nhân loại qua bao nhiêu thế hệ các hậu duệ mà sự vượt trội về trí tuệ và sáng tạo có thể được giải thích thông qua mối liên kết trực tiếp với Đấng Sáng Tạo. Những kẻ cả tin này chạy rối rít để định vị những tham chiếu lịch sử hậu thuẫn cho tuyên bố của Plantard. Tất nhiên họ cũng tìm thấy một vài điều gì đó, và thế là càng tin thêm.

Phía bên kia vẫn còn hồ nghi, và qua thời gian họ phát hiện một vài thực tế của riêng mình.

Cái gờ giảm tốc đầu tiên trên con đường Tu viện xảy ra khi hai cộng sự của Plantard, Gerard de Sède và Philippe de Chérisy, kiện Plantard  để thu hồi tiền bản quyền đã hứa trả cho họ khi sách bán ra. Vai trò của de Sede như một đồng tác giả được nhìn nhận, nhưng ai là Cherisy? Hắn được tiết lộ là một viện sĩ có tiếng là hay chơi khăm. Lúc cuốn L’Or de Rennes được xuất bản, hắn đã có tật nghiện rượu, sau này hắn chết vì nó. Quan trọng hơn, de Cherisy tuyên bố rằng những tấm da hiến cho Thư viện Quốc gia là đồ giả mạo. Hắn biết chúng là giả mạo, vì hắn đã tạo ra chúng như một cách để được nổi tiếng và để bán chạy sách họ viết.

Plantard, hiện giờ đã cởi lên ngọn sóng công luận và việc bán chạy sách, nên nhanh chóng đồng ý với de Cherisy. Tấm da văn bản là không thực, y nhìn nhận, nhưng cũng không phải giả mạo. Chúng là bản sao y chang của văn bản nguyên gốc, mà vì giá trị của nó, y phải cất giữ tại một nơi an toàn và y không thể tiết lộ vị trí. Y cũng thông báo rằng gia đình y đã dấu nhẹm việc nguồn gốc của họ không hoàn toàn là người Pháp. Tổ tiên của Plantard, y tuyên bố, cũng có đường dây huyết thống với St. Clairs, tiếng Anh là Sinclair, người đã thành lập Hội Tam Điểm theo Nghi thức Scotland. Mối dây liên kết được viện dẫn này lý giải tại sao  Hội Tu viện Sion duy trì tình bí mật suốt bao thế kỷ. Sự tiết lộ này làm thỏa mãn những người nhẹ dạ, nhưng lại xui giục những người hồ nghi đào sâu thêm vào câu chuyện, với kết quả đáng kể.

Phát hiện đầu tiên liên quan đến việc khảo sát các cột đỡ trong nhà thờ của Saunière, dễ dàng tìm thấy ở Rennes-le-Chateau, giờ đây chúng được trưng bày như một phần di sản của thị trấn. Không có cái cột nào rỗng cả. Đúng ra, tất cả ba cột đều hoàn toàn đặc, cột còn lại có một khe hở vừa nhét đủ một hay hai tấm bưu thiếp, thế thôi. Một tiết lộ còn gây bối rối hơn nữa là như sau.

Nhớ Noel Corbu không? Y đã mua Villa Bethania, dinh thự mà Saunière đã xây dựng với của cải được cho là từ xương cốt hoặc kho báu y phát hiện ra. Sau khi Saunière mất, Marie Denarnaud biến dinh thự thành nhà cho thuê phòng trước khi đổi lấy trái phiếu đồng niên hưởng đến suốt đời từ Corbu. Sau khi Marie mất vào năm 1953, Corbu biến Villa Bethania thành một khách sạn nhỏ. Không có gì hơn được những câu chuyện về tính lập dị và tài sản bí ẩn của Saunière để lôi cuốn du khách, Corbu sử dụng một chiêu thức tiếp thị không dính dáng gì đến sự thật.

Corbu bịa ra một câu chuyện đầy kịch tính đằng sau việc tích lũy bí ẩn của cải của Saunière, với một số nhân vật như trong Harry Potter và có mùi vị của một truyện ma kể lúc nửa đêm. Thu âm câu chuyện qua lời kể của y, y cho phát trong khách sạn của mình như trò giải trí cho thực khách, sau đó in ra thành tập san như quà kỷ niệm chuyến đi của họ.

Câu chuyện làm vui du khách trong khi ăn uống tại khách sạn. Họ ngấu nghiến những sự kiện về những cội nguồn La Mã và gô-tich của thị trấn, sự tàn phá của nó sau những trận đánh với Tây Ban Nha, việc Berenger Saunière đến đó vào năm 1885, những năm khốn khó đầu tiên của y và việc thình lình có một đống của cải không sao giải thích được.

Đến điểm này Corbu, vốn không hề từ chối mình là tác giả, vẫn tiếp tục theo sát những sự kiện đã được xác định. Khi y bắt đầu giải thích nguồn gốc gia tài của Saunière, tuy nhiên, hư cấu giẫm đạp lên sự thật thành mờ mịt.

Theo Corbu, những hồ sơ ở Carcassonne khẳng định rằng Saunière đã vô tình bắt gặp một gia tài được chôn bên dưới ngôi giáo đường của ông vào năm 1249 bởi Blanche de Castille, mẹ của Louis ix, Thập tự quân vĩ đại cuối cùng và là vị vua Pháp duy nhất được phong thánh. Một vụ nổi dậy nhỏ do những hầu tước tham quyền và những bộ hạ bị áp bức lập tức nổi lên ngay sau khi ông lên đường đi Palestine. Mẹ ông, ý thức được rằng Paris không phải là chốn an toàn nhất để cất giữ kho báu hoàng gia, nên bí mật chở vàng bạc, nữ trang đến Rennes-le-Chateau. Khi Louis từ phía đông trở về, ông dẹp tan bọn phản loạn và rời Paris lần nữa vài năm sau đó, lần này để dẫn đầu cuộc Thập Tự Chinh thứ 8. Ông không bao giờ trở về Paris, chết ở Tunis và để lại con trai Philippe le Hardi làm người kế vị. Philippe, cũng nhận thấy kho báu của xứ sở sẽ an toàn  ở ngôi làng hẻo lánh hơn ở thủ đô, nên ra sức tăng cường phòng vệ thị trấn. Có lẽ ông quên kể cho con mình, Philippe le Bel, người hủy diệt Hội Đền Thánh, về số của cải di chuyển của xứ sở, vì từ điểm này trở đi, theo Corbu, kho báu bị quên lãng.

Quên ư? Làm sao mà một vị vua Pháp từ thời Trung Cổ quên được 180 tấn vàng và nữ trang và chế tác nghệ thuật trị giá, theo ước tính của Corbu năm 1956, “4000 tỉ franc”? Thậm chí cơ bản hơn, làm sao những tôi tớ vua có thể vận chuyển 180 tấn vàng và châu báu đi hơn 650 km được? Và tại sao, trong tất cả nơi, lại chọn Rennes-le-Chateau, một nơi rất xa Paris, trên biên giới với một trong những kẻ thù của nước Pháp, là Tây Ban Nha?

Không ai có vẻ thắc mắc về điều này, có lẽ vì bị xao nhãng trước tiết lộ tiếp theo của Corbu.

Kho báu được phát hiện hai lần. Vào năm 1645 một đứa bé chăn cừu tên là Ignace Paris rơi xuống một cái hố và mang về nhà những đồng tiền vàng. Rồi nó tuyên bố là mình trông thấy một căn phòng đầy vàng. Nó cuối cùng hoá điên, vì mãi nghĩ cách bảo vệ số vàng này. Người chủ lâu đài cổ sức tìm kiếm nhưng không tìm ra được kho báu. Sau đó đến Saunière đã tìm thấy vàng.

Saunière còn biết khai thác sức mạnh của truyền thông và lợi dụng mối quen biết trong giới truyền thông để loan truyền câu chuyện của mình trên báo chí và tạp chí. Nó hình như thu hút một số du khách tò mò, và trong số đó có Pierre Plantard, có lẽ đang tìm kiếm một mưu đồ đen tối. Việc Corbu và Plantard gặp nhau không phải là sự ức đoán; nhiều ảnh chụp đã khẳng định hai người đã gặp nhau khoảng 1960, không lâu trước khi Plantard viết bản nháp đầu tiên của cuốn sách cuối cùng được xuất bản dưới tựa đề L’Or de Rennes.

Trong giai thoại của Corbu có sự vắng mặt nổi bật của người đẹp Giselle, mà cuộc hôn nhân với Dagobert đã kết nối quyền lực của người Visigoth với huyết thống của Christ. Làm sao mà Corbu có thể bỏ qua một chương quan trọng như thế trong truyền thuyết lịch sử? Câu trả lời thật đơn giản và bất ngờ: Giselle de Razes không hề tồn tại. Bà được hư cấu như nàng Bạch Tuyết. Bà không tồn tại bằng xương bằng thịt hoặc bằng tinh thần trong thế kỷ thứ 7, chỉ tồn tại ở thế kỷ 21 trong tâm trí những kẻ hoang tưởng, những phóng đại của thuyết âm mưu và những độc giả cả tin của một tiểu thuyết bán chạy nhất. Theo ý kiến của Aviad Kleinberg, học giả trung cổ nổi tiếng và giáo sư lịch sử tại Đại học Tel Aviv, nàng Giselle duyên dáng và thông minh chỉ là “một sáng chế của thế kỷ 20.”

Không có sự tồn tại của Giselle, toàn bộ sự bịa đặt của Plantard sụp đổ như lâu đài trên cát, vì thế y đơn giản sáng tạo cô ta như sự liên kết Visigoth với huyết thống Merovingian. Plantard nhìn nhận lúc này lúc khác — tính nhất quán không phải là một trong những phẩm chất nổi bật của người Pháp – và tiến hành một phiên bản mới của câu chuyện Tu viện Sion vào năm 1989. Tại thời điểm đó, y tuyên bố một người đàn ông tên Roger-Patrice Pelat, một người quen Thủ tướng Mitterand, là Đại Hội Chủ đương thời của Hội Tu viện Sion chứ không phải chính Plantard, như y đã từng nhìn nhận 30 năm nay. Vị thế của Pelat chưa hề được khẳng định, nhưng hắn có một thứ chung với Plantard: cả hai đều bị kết tội gian lận và biển thủ, phiên tòa xử Plantard xảy ra sau khi hắn tự nhiên được nâng lên vị thế Đại Hội Chủ.

Vào tháng 9 1993, trong một cuộc điều tra chính thức những hoạt động của Pelat, Plantard lao vào bênh vực cho bạn mình. Đó là một hành động mà y hối tiếc vì sau đó quan tòa ra lệnh khám xét nơi ở của Plantard. Việc khám xét phát giác nhiều chồng tài liệu, nhiều tài liệu cho rằng Plantard là vua nước Pháp. Vậy là đủ cho quan tòa ra lệnh cho Plantard phải trả lời các câu hỏi sau khi tuyên thệ. Không biết những kỹ thuật tòa án nào được sử dụng, Plantard nhanh chóng nhìn nhận toàn bộ sự việc là trò chơi khăm, rằng y đã dựng lên tất cả chi tiết liên quan đến huyết thống, kể cả hôn nhân giữa Giselle và Dagobert, sự phát hiện ra kho báu hoặc một thi hài bên dưới hoặc gần bên nhà thờ, và nhân thân là Đại Hội Chủ Tu viện Sion. Quan tòa, khoan dung có lẽ vì tuổi tác và tinh thần suy sụp của Plantard, gọi Plantard là một người lập dị vô hại và phóng thích y với lời cảnh cáo không được chơi trò cút bắt với luật pháp một lần nữa. Plantard rời phòng xử và lang thang vào chốn mù sương cho đến khi y mất vào tháng hai 2000.

Những sự kiện này – cuộc điều tra Pelat, việc tuyên bổ của Plantard về vị thứ Đại Hội Chủ của Pelat trong Tu viện Sion, những tư liệu dỏm và thú nhận lừa dối của Plantard – đều được thông tin rộng rãi trên truyền thông Pháp vào thời điểm đó. Không ai còn tranh cãi về chúng nữa; nếu chúng có thực và có thể khẳng định được thì Giselle cũng đã từng sống trên đời.

Một bí ẩn còn lại. Cha Saunière tìm ở đâu ra số tiền để xây dựng hoang phí và sống xa hoa? Không giống như những khía cạnh khác của câu chuyện, việc này không phải là huyền thoại. Tháp Magdalena, nội thất giáo đường xa xỉ và Villa Bethania vẫn còn tồn tại đến ngày nay. Làm sao ông có thể gom đủ tiền nếu không phát hiện kho báu của Louis ix hoặc tổng tiền Giáo hội với tro cốt của Christ? Câu trả lời khẳng định rất bình thường và quen thuộc: lừa gạt. 

Cho đến khi việc làm này được nghiêm cấm bởi Vatican ii, các cha xứ Thiên chúa có thể nhận được tiền thù lao khi tổ chức Thánh lễ cho giáo dân để cầu nguyện giúp chữa lành bệnh, hoặc để giúp linh hồn người quá cố nhanh chóng vượt qua địa ngục để sớm lên thiên đường. Thù lao cho những Thánh lễ này được chấp nhận và thậm chí được khuyến khích nhằm ứng hộ tài chính cho cha xứ và giáo xứ.

Tuy nhiên, theo thời gian, các cha xứ vô lương tâm nhận thấy những thánh lễ này là một nguồn lợi tức bổ sung từ những tín đồ sống bên ngoài cộng đồng của họ, và thậm chí bên ngoài xứ sở họ. Chẳng bao lâu Thánh lễ được tiếp thị như bất kỳ đơn đặt hàng qua bưu điện nào, được quảng cáo trên báo chí và tập san Thiên chúa. Các tín đồ có thể nhờ cha cử một thánh lễ cầu nguyện cho bất cứ ai họ muốn bằng cách ứng tiền trước và gởi chi tiết đến cha xứ có tên xuất hiện trong quảng cáo.

Không ai, trừ Chúa Trời và cha xứ, có thể biết thánh lễ có cử hành thực sự hay không. Thực tế một cha xứ có thể nhận hàng ngàn yêu cầu gởi qua bưu điện, mọi yêu cầu gởi kèm một vài franc tiền mặt, để được cử hành trong tuần đó hoặc thậm chí ngay ngày đó. Và có vẻ như Saunière là bậc thầy về chiêu trò này. Những quảng cáo xuất hiện trong các tờ báo khác nhau trên khắp châu Âu được lần trở lại về đến một cha xứ ở vùng núi Pyrenees, và xem xét các ghi chép những thư đặt hàng cho công việc tiếp thị của ông, tiết lộ là Saunière không thể nào cử hành tất cả thánh lễ mà ông đã được ứng tiền trước, thậm chí nếu ông làm lễ mỗi ngày 24 tiếng, 7 ngày mỗi tuần.

Số lượng thánh lễ được yêu cầu và số tiền gởi tới trong khoảng thời gian từ 1895 đến 1904 dễ dàng vượt quá con số 200,000 franc cần thiết để hoàn thành tất cả hạng mục xây dựng mà Saunière thiết kế, kể cả những món ngon như rượu rum chở đến từ Caribbean.

Thư từ tịch thu được từ nhà thờ của Saunière khi ông đã bị tước áo thầy tu tiết lộ quí mô của việc buôn thần bán thánh của ông. Một gia đình gởi 250 franc để trả cho 125 thánh lễ cử hành cho hai chị em đã quá cố của họ. Một góa phụ ứng trước 45 franc để trả cho 30 thánh lễ cho người chồng chiến binh đã tử trận của bà, và những thành viên của một nữ tu viện trả 16 franc cho thánh lễ cầu nguyện cho nữ tu viện trưởng vừa qua đời của họ, mà chính nữ tu viên trưởng này đã trả cho Saunière vài thánh lễ khi bà con sống.

Saunière ắt hẳn đã có một người cố vấn thầm lặng cho kế hoạch tiếp thị thánh lễ này. Những cuộc điều tra phát hiện rằng Monsignor Billiard, Giám mục địa phận Carcassonne, đã từng bị điều tra sau khi ông ta qua đời vì đã hành động tương tự, điều có thể giải thích cho sự khoan thứ của ông ta trước sự thiếu thận trọng của Saunière.

Giờ thì tất cả họ đã chết từ lâu – Saunière, Marie Denarnaud, Pierre Plantard, Gerard de Sède, Philippe de Chérisy và  Noel Corbu. Người cuối cùng này đã xây dựng khách sạn La Tour (Tòa Tháp) và ăn nên làm ra nhờ vào truyền thuyết kho báu bị chôn vùi, cuối cùng đã bán nó vào năm 1964 với một giá khá đẹp và về hưu. Nhưng rồi chẳng được lâu; ông tử nạn trong một tai nạn ô tô vào năm 1968.

Truyền thuyết tiếp tục sống bởi vì dân chúng muốn nó sống và thậm chí lớn mạnh, dù chỉ để thỏa mãn tính ưa thích những bí mật đen tối và những âm mưu đầy màu sắc. Thế nào cũng có ai đó nhìn nhận là  mình đã trông thấy hồn ma Giselle de Razes, xinh đẹp và rực rỡ, đang lang thang trên khu đất gần Tháp Magdalena trong bộ áo cưới, thở dài não nuột tiếc thương người chồng Dagobert đã mất và tìm kiếm kho báu được chôn giấu. Nếu thế, thì chỉ có tòa tháp là có thật.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s