Hội Kín : Bên Trong Hội Tam Điểm, Hội Yakuza, Hội Đầu Lâu Cốt và những Tổ Chức Bí Mật tai tiếng nhất thế giới- Phần 2

CHƯƠNG 2

HIỆP SĨ ĐỀN THÁNH, ILLUMINATI VÀ HỘI TAM ĐIỂM, VỊ TRÍ BÍ ẨN CỦA QUYỀN LỰC

Dollarnote_siegel_hq

John Lawrence Reynolds

Trần Quang Nghĩa dịch

Ai là những thành viên nguy hiểm nhất của những hội kín khác nhau đang lẩn khuất trên mặt đất, những người có quyền lực thay đổi cuộc sống chúng ta và dẫn đạo  lịch sử? Theo những tư liệu tuyên bố hiểu biết nội bộ của hội, thì đó là những thành viên Hội Tam Điểm. Những người âm mưu trong Hội Tam Điểm tuyển chọn những lãnh đạo có tầm vóc quốc tế, tiến hành chiến tranh, kiểm soát tiền tệ và xâm nhập xã hội, trong số nhiều thao túng khác của  quyền lực che giấu. Khi có ai cật vấn về tiền đề này, những người theo thuyết âm mưu phô bày ra một loạt chứng cứ ấn tượng, bắt đầu là liệt kê ra những người có ảnh hưởng lớn trong lịch sử có liên hệ không thể chối cải với Hội Tam Điểm, trong đó có nhiều người đã ký tên vào Bản Tuyên ngôn Độc Lập của Hoa Kỳ. Ai giữ vị trí trong điện thờ các bậc anh hào và nhà tư tưởng vĩ đại cao hơn Benjamin Franklin, George Washington và Andrew Jackson? Tất cả họ đều là hội viên Tam Điểm. Đúng ra, có ít nhất 25 tổng thống và phó tổng thống đã là những người hậu thuẫn tích cực và nhiệt thành cho Hội Tam Điểm. Hai người trong số họ – Harry Truman và Gerald Ford – có thể huyênh hoang vị thế Bậc 33 của mình, mức cao nhất về giá trị trong tổ chức.

image008

Một số thành viên lừng lẫy của hội: tổng thống Mỹ George Washington, Harry S. Truman, thủ tướng Anh Winston Churchill, và nhạc sĩ Duke Ellington

Đó là một thành tựu đáng kể khi một câu lạc bộ tư nhân với các nghi thức bí ẩn xâm nhập được  hàng ngũ các lãnh đạo, những người nhìn xa trông rộng và bậc minh triết. Giá trị và hệ thống của chúng có gì đặc biệt mà đạt được thành tựu vượt bực như vậy?

Đối với một ít sử gia cuồng tín – gần như tất cả họ đều là hội viên Tam Điểm – tại cội nguồn thành tựu của họ là mối liên kết có tính lịch sử và đầy cảm hứng với Hiệp sĩ Đền Thánh. Khởi đầu là những người Bảo vệ Đức Tin Cơ đốc, Hiệp sĩ Đền Thánh trở thành chủ ngân hàng ở châu Âu thời trung cổ, và sau đó suy sụp trước thủ đoạn của một ông vua tham lam và một giáo hoàng đồng loã.

Từng có lần được ngưỡng mộ và kinh phục vì những thành tích mã thượng và hoạt động tận tụy vì lợi ích của Cơ đốc giáo, các Hiệp sĩ Đền Thánh là những hiệp sĩ thực thụ trong một thời đại khi tước vị đó mang lại sự tôn trọng và khâm phục. Họ tuân thủ điều luật thượng võ và tiết chế, dâng hiến cuộc sống mình cho vinh quang của Chúa Trời và sự nghiệp bảo vệ khách hành hương Cơ đốc. Họ chiến đấu với quân Hồi để giành quyền làm chủ Jerusalem.

image009 (1)

Trong những năm đầu mới ra đời, Hiệp sĩ Đền Thánh đồng nghĩa với sự chất phát, sùng đạo và can trường. Về sau, tiếng tăm họ lụi tàn.

Hiệp sĩ Đền Thánh là một sản phẩm của các cuộc Thập Tự Chinh. Và Thập Tự Chinh, trái với hiểu biết của nhiều người, là kết quả không phải vì những dự định mã thượng hoặc thậm chí sự kính tín Cơ đốc, mà là của nghĩa vụ phong kiến.

Các sử gia bất đồng nhiều về dinh nghĩa của chế độ phong kiến cũng như về cấu trúc của nó, và một số giờ đây loại bỏ khái niệm về “thời đại phong kiến”. Dù cho dán bất kỳ tên hiệu gì, người Âu châu sống trong giai đoạn giữa 800 và 1300 trải nghiệm một lối sống bắt cầu thời kỳ man rợ và khởi nguồn của dân chủ. Trong giai đoạn này, các vua chúa có thể đã tuyên bố quyền hành rộng khắp trên các lãnh thổ giờ chúng ta gọi là Pháp, Đức, Anh, nhưng vùng quê thực sự không do vua chúa cai trị mà do những lãnh chúa và các nam tước. Khống chế vùng đất mà họ làm chủ, các lãnh chúa định ra luật lệ, đặt ra và thu các loại thuế, đúc đồng tiền riêng, và cưỡng bách nghĩa vụ quân sự từ những nông dân sinh sống trên những mảnh ruộng của họ. Thực ra, các lãnh chúa thường nuôi dưỡng một đạo quân còn lớn hơn đạo quân của nhà vua, vốn dĩ thường là bù nhìn.

Cấu trúc xã hội gồm nhiều giai tầng và được xác định rõ ràng. Nông nô thuộc tầng lớp thấp nhất, thực hiện lao động cơ bản và không có quyền sở hữu tài sản họ tạo ra, giới thuộc hạ làm ruộng vì lợi ích của lãnh chúa; các hiệp sĩ với ngựa và áo giáp có nhiệm vụ bảo vệ  lãnh thổ và cư dân của lãnh chúa, còn bọn giáo sĩ  thì lo những hoạt động tâm linh theo yêu cầu. Ngược lại, các lãnh chúa, được xem như thuộc hạ của nhà vua một cách hình thức. 

Lòng trung thành trong chế độ phong kiến đi theo hai hướng. Các công dân ra tuyên thệ sẽ trung thành với lãnh chúa, đóng thuế do họ đặt ra, và tham gia toà án khi được triệu tập. Nghĩa vụ lãnh chúa là bảo vệ thuộc hạ khỏi kẻ xâm phạm.

Từ sự sắp xếp tuyến tính này, chịu ảnh hưởng của Cơ đốc giáo, xuất phát quan niệm về tình thần thượng võ). thuộc hạ và hiệp sĩ, quan tâm đến quyền lợi và tài sản của lãnh chúa phong kiến của họ, nâng cao khái niệm qua những thuật ngữ như “sự tuân phục tự hào” và “sự phục tùng xứng đáng” lấy cảm hứng, có lẽ, từ những câu chuyện trong Kinh Thánh về những hành động của Christ. Diễn đạt theo kiểu dạng này, hành vi có vẻ như phản chiếu mối quan hệ chủ-tớ được thêu dệt thành điều gì đó tiếng tăm hơn và cao cả hơn. Trong thực tế, “sự tuân phục tự hào” của một hiệp sĩ được thực hiện hoặc vì Chúa hoặc cho lãnh chúa, những người điều khiển số phận của hiệp sĩ.

Những yêu sách của tính  thượng võ rất khắt khe. Những nghĩa vụ kỳ vọng được hoàn thành, và thuộc hạ và hiệp sĩ chấp nhận nghĩa vụ thiêng liêng là bảo vệ bằng vũ khí danh dự và tài sản của giai cấp đứng trên giai cấp mình. Vì cấu trúc hình tháp đặt Christ ở trên đỉnh, lãnh chúa, hiệp sĩ và thuộc hạ đều có nghĩa vụ như nhau là bảo vệ quyền lợi và danh dự của Ngài.

Với chế độ phong kiến được thiết lập vững chắc trên khắp châu Âu, lãnh chúa và hiệp sĩ, tháp tùng bởi một đoàn thuộc hạ, bắt đầu thực hiện những chuyến hành hương đến Jerusalem như một cách thể hiện sự sùng kính tôn giáo của mình, như người Hồi giáo phải đến Mecca ít nhất một lần trong đời. Người Cơ đốc Âu châu bắt đầu khởi hành đến Đất Thánh, trước tiên để vinh danh Chúa, sau để tẩy sạch tội lỗi, và cuối cùng để đáp ứng lời chỉ thị trực tiếp từ giáo hoàng. 

Trong những cuộc hành hương đầu tiên có Frotmond ở Brittany, người đã sát hại chú và em của mình; và Fulk de Nerra, Bá tước vùng  Ạnjou, người đã thiêu sống vợ mình. Cả hai đều mong được xá tội trong chuyến đi hành hương đến Đất Thánh, và cả hai đều toại nguyện, mặc dù theo những biện pháp khác nhau.

Sau nhiều năm lang thang trên bờ biển Hồng Hải và vùng núi Armenia để lùng sục tàn tích Con Thuyền Noah theo truyền thuyết về trận Đại Hồng Thủy, Frotmond trở lại nhà trong vòng tay tha thứ ấm áp tội đã giết hại người thân, và trải qua những chuỗi ngày còn lại trong tu viện Redon. Vì tội lỗi của mình, Fulk de Nerra lang thang trên đường phố Jerusalem, tháp tùng theo là một đoàn tôi tớ liên tục đánh ông bằng gậy, trong khi miệng ông cứ lặp đi lặp lại, “Xin Chúa hãy rủ lòng thương cho một con chiên Cơ đốc vô đạo và phản bội, một kẻ tội lỗi lang bạt xa nhà.” Sự thành khẩn của ông làm người Hồi giáo cảm kích đến nỗi họ mời ông vào nghỉ trong Mộ Thiêng, theo tập tục thường cấm người Cơ đốc bén mảng. Tại đó ông nằm xấp trên sàn có cẩn đá quý. Trong lúc than khóc cho linh hồn vật vã của mình, de Nerra  thuận tay cạy một ít hột đá quý bỏ túi.

Tấm gương của Frotmond và Nerra và những người khác tác động đến những tin đồ Cơ đốc thuần thành. Khoảng năm 1050, làm một chuyến hành hương đến Đất Thánh được xem như nghĩa vụ với mọi tín đồ Cơ đốc, như một phương tiện để xả bớt tội lỗi và xoa dịu cơn thịnh nộ của Chúa. Và Giáo hội bắt đầu qui định đi hành hương là một bổn phận thông lệ để ăn năn xám hối. Vào năm 1075, những lộ trình hành hương đã hoàn toàn xác định và được nhiều người qua lại như con đường thương mại. 

Lộ trình hành hương, thường đi dọc theo bờ biển Adriatic trước khi quay vào nội địa đến Constantinople và băng qua Tiểu Á đến Antioch, ít nhiều nguy hiểm như những lộ trình có cùng chiều dài khác. Tuy nhiên, lộ trình qui định gặp phải vấn đề vào năm 1095 khi hoàng đê Byzantine Alexis Comments khẩn khoản xin Giáo Hoàng Urban ii giúp đánh dẹp một nhóm bộ lạc Hồi là  người Thổ Seljuk. Sau khi chiếm Anatolia, tỉnh lỵ giàu nhất của Đế Chế Byzantine, người Seljuk chiếm đóng Anatolia, Tripoli và cuối cùng Jerusalem. Giờ đây hình như họ để mắt dòm ngó đến chính Constantinople. Nếu vị giáo hoàng có thể tổ chức một đạo quân gồm những tín đồ Cơ đốc thuần thành để phụ giúp binh lính Byzantine, Alexius đề nghị, cùng nhau họ có thể lấy lại Antioch và phục hồi Jerusalem dưới quyền cai trị Cơ đốc.

Lời hứa sẽ cai trị Đất Thánh, cùng với tài sản ban thưởng của Hoàng Đế Byzantine, đủ tạo động lực cho Urban ii phát động cuộc thánh chiến đầu tiên được giáo hoàng phê chuẩn. Thế là bất đầu trận chém giết khủng khiếp kéo dài gần 200 năm ở cả hai phía với một mục tiêu đánh thuê cũng như tâm linh, và trong 1096 cuộc thập tự chinh đầu tiên trong số 9 cuộc lên đường, hồ hởi với lời kêu gọi Deus vult! (Ý Chúa) của Urban khi xuất phát.

Quyết định tham gia vào một cuộc thập tự chinh là một quyết định nghiêm trọng, thậm chí đối với những tín đồ nhiệt thành nhất. Điều đó có nghĩa phải hành quân ít nhất hai năm băng qua xứ sở hiểm trở và thường là thù địch, mặc dù sau này các chuyến thập tự chinh đỡ mất thời gian hơn khi đi thuyền theo hướng đông dọc theo Địa Trung Hải khởi hành từ Provence. Tìm lương thực và chỗ trú ngụ dọc theo lộ trình từ châu Âu đến Palestine và ngược lại, các khách hành hương và thập tự quân phải thương lượng với phe thù địch công khai từ cả người Hồi lẫn các nhà cai trị Hi Lạp thuộc Chính thống giáo. Để đáp ứng Gerard de Martignes thành lập một nhà cứu tế ở Jerusalem để sử dụng như nơi trú ngụ. Gồm 12 dinh thự liên kết nhau, khu nhà nghỉ có cả vườn và một thư viện ấn tượng. Chẳng bao lâu những nhà buôn địa phương lập nên một ngôi chợ liền kề để phục vụ người hành hương, trả cho ban quản lí nhà cứu tế hai đồng tiền vàng để được phép dựng xạp.

Điều này quá tốt để những nhà cai trị phong kiến phớt lờ. Khi dòng người hành hương càng ngày càng rộn rịp, một nhóm các nhà thương mại Ý từ vùng Amalfi thành lập một nhà cứu tế thứ hai gần Nhà thờ Mộ Thánh, do các thầy tu dòng Benedict điều hành. Chẳng bao lâu nhà nghỉ này cũng quá tải, khiến các thầy tu phải thành lập một nhà cứu tế khác, dâng cúng St. John, vị thánh của lòng trắc ẩn.

Những người điều hành ở nhà cứu tế St. John nâng cao quan niệm phục vụ đến một vị thế tâm linh mới. Họ dâng hiến cuộc đời mình cho việc mang đến sự an toàn và tiện nghi cho khách hành hương bằng cách đổi xử với thân chủ của mình như chủ nhân, tạo nên một khuôn mẫu cho các tổ chức từ thiện sau này. Trong công lao này phải kể đến các hiệp sĩ, đã gác lại một bên những mục tiêu quân sự  để thực hiện lời dạy từ thiện của Christ. Ở bên những người mà họ phục vu, các hiệp sĩ rất phóng khoáng và trắc ẩn; khi ở với nhau, họ nghiêm cẩn và khổ hạnh. Họ đã tuyên thệ sống trong sự bần hàn, liêm khiết và phục tùng, và y phục của họ chỉ là một áo choàng đen mang dấu thập giá màu trắng đơn giản trên ngực áo. Họ được gọi là Dòng Chiến sĩ Toàn quyền của Nhà Cứu tế St John ở Jerusalem, ở Rhodes và ở Malta, được gọi đơn giản là Chiến sĩ Cứu tế.

image010

Hai hiệp sĩ Đền Thánh trên lưng ngựa, được in trên con dấu, biểu thị tình huynh đệ.

Những Chiến sĩ Cứu tế nhận được lòng ngưỡng mộ từ các công quốc Âu châu, và được họ  ban thưởng nhiều đất đai ở châu Âu. Ngoài nguồn lợi tức này, họ cũng có quyền lấy những chiến lợi phẩm từ các chiến binh Hồi giáo mà họ đánh thắng, và vào thời điểm Gerard mất vào năm 1118 các Chiến sĩ Cứu tế đã tích lũy được một tài sản kha khá từ các người bảo trợ mình, và được độc lập tuyệt đối với quyền lực của Giáo hội. Điều khởi đầu là một thiên chức phục vụ cho người nghèo, người bệnh đã chuyển biến thành một tổ chức gần giống với các công ty dịch vụ ngày nay.

Theo thời gian họ không còn đủ sức kiêm nhiệm cả hai nhiệm vụ đều nặng nề là đánh người Hồi và phục vụ khách hành hương.  Cần phải có một lực lượng khác thay thế họ cáng đáng việc đánh nhau với kẻ thù.

Trong vòng 10 năm sau khi Gerard qua đời, một hiệp hội mới ra đời. Thoạt đầu chỉ gồm 9 hiệp sĩ do Hugh de Payens cầm đầu, họ tuyên bố cũng sẽ duy trì những phẩm chất khổ hạnh và mộ đạo như các Chiến sĩ Cứu tế trước đây. Nhóm mới này, tuy nhiên, tập trung vào việc giải quyết những bất trắc mà  khách hành hương và thập tự quân gặp phải trong chuyến đi đến Đất Thánh và cư trú tại Jerusalem.

Những bất trắc gây ra từ nhiều nguồn đe đọa. Người Ai Cập và Thổ bất mãn khi có người lạ đi vào lãnh thổ của mình, các cư dân Hồi giáo ở Jerusalem chống đối sự hiện diện của khách hành hương, những bộ tộc Ả rập du cư tấn công và cướp bóc hành khách, và người Cơ đốc Syria cũng biểu lộ sự thù địch với người ngoại bang.

Phần lớn tiếng tăm lúc đầu của nhóm về tính khiêm cung và lòng quả cảm bắt rễ từ cá tính của de Payens, được mô tả là “dịu dàng, vô cùng tận tâm, và kiên quyết hi sinh vì đức tin.”  Là một cựu binh dạn dày chiến trường, de Payens không có niềm vui nào lớn hơn là đếm xác người Hồi giáo đã chết dưới lưỡi gươm của mình. Đối với các chiến binh Cơ đốc, giết những tên ngoại giáo không vi phạm điều răn, vì giết người Hồi không phải là giết người mà là diệt ác.

Và như thế de Payens, chỉ theo đuổi một mục đích duy nhất là việc tôn vinh Chúa Trời và tàn sát bọn Hồi giáo, tập hợp chung quanh mình những người cùng với ông dâng hiến cho nghĩa vụ bảo vệ khách hành hương khỏi nguy hiểm theo cùng một phong cách như các Chiến sĩ Cứu tế của Gerard chữa bệnh và cho họ ăn ở. Nhóm mới, de Payens tuyên bố, sẽ kết hợp những phẩm chất của những tu sĩ kham khổ và các chiến binh quả cảm, sống một đời thanh bạch và kính tín, và sử dụng thanh gươm để phục vụ Cơ đốc giáo. Để hỗ trợ họ hoàn thành hai sứ mạng có phần nào xung khắc này, họ chọn bậc hộ mạng là Đức Mẹ Trinh Nữ Maria và tuyên thệ sẽ sống theo những lời giáo huấn của St. Augustine.

Baldwin ii, lúc đó là Vua của Jerusalem, rất cảm kích trước phẩm cách và mục tiêu của nhóm nên cung cấp cho họ một góc trong lâu đài của mình làm nơi sinh hoạt, và một số tiền thù lao hàng năm để họ hoạt động. Để đến khu vực họ sống phải đi qua một lối đi qua nhà thờ và nhà tu kín của Đền Thánh, nên họ phong mình là Chiến binh của Đền Thánh.

Theo thời gian, Hiệp sĩ Đền Thánh khiến cho giới quí tộc cảm kích nên họ cùng nhau sắp xếp việc tài trợ . Khi một bá tước Pháp thông báo là mình sẽ đóng góp 30 cân bạc hàng năm để hậu thuẫn các hoạt động của Hiệp sĩ Đền Thánh, những người khác vội vàng nối gót, và chẳng bao lâu phong trào vừa chớm nở đã rủng rỉnh tài sản, thứ mà họ tuyên bố chối bỏ ngay khởi đầu.

Đáng khen cho họ, trong vài năm đầu hoạt động, Hội Đền Thánh thắng được cám dỗ, chỉ tiêu xài của cải kết xù cho việc hậu thuẫn và bảo vệ khách hành hương. Bảy năm sau ngày thành lập hội, Bernard de Clairvaux viết về Hội Đền Thánh,

Họ đi và đến chỉ cần một dấu ra hiệu của Hội Chủ. Họ sống hòa thuận và điều độ cùng nhau, không vợ không con và, không còn gì thiếu xót để đạt được sự hoàn hảo Phúc Âm, nào không có tài sản, sống chung một nhà, nỗ lực giữ gìn sự đoàn kết của tinh thần trong mối ràng buộc hoà bình, sao cho một trái tim và một linh hồn ngự trị trong tất cả họ. Họ không bao giờ ngồi không và hóng chuyện. Khi được nghỉ ngơi sau trận chiến chống bọn ngoại đạo, họ cũng không dám ăn không ngồi rồi mà lao vào cặm cụi vá víu quần áo và sửa chữa vũ khí, hoặc làm gì đó theo lệnh của Hội Chủ hay vì lợi ích chung.

Không nói nặng hoặc chế giễu, không xầm xì hoặc cười cợt. Họ không chơi cờ huống chi là bài bạc; không ưa thú đi săn, nhất là săn với chim ó, vốn là mốt thịnh hành lúc bấy giờ.

 Họ cắt tóc ngắn theo lời dạy các thầy. . . Họ ít tắm rửa; lúc nào cũng tóc rối bù xù và áo quần bụi bặm, xám đen vì áo giáp và sức nóng của mặt trời.. .

Trong họ là một sự phối hợp kỳ lạ, vừa dịu dàng như một con cừu vừa hung dữ như sư tử, khiến người ta không biết gọi họ là thầy tu hay hiệp sĩ. Nhưng cả hai tên đều thích hợp với họ, vì họ có sự nhu mì của một thầy tu và sự quả cảm của một hiệp sĩ.

Khi số thành viên của Hội Đền Thánh tăng lên, một cấu trúc chính thức được áp dụng cho tổ chức. Ba cấp được hình thành: hiệp sĩ, những người xuất thân từ gia đình quí tộc, chưa lập gia đình hoặc hứa hôn, và không mắc nợ; giáo sĩ, được yêu cầu phải tuyên thệ sống kham khổ, tịnh thân, và phục tùng; và các huynh đệ phục vụ, những người có tài sản và tài năng mà vì thiếu yêu cầu quí tộc để trở thành hiệp sĩ. Sau rốt các huynh đệ phục vụ lại được chia làm huynh đệ – chiến binh, người sẽ chiến đấu bên cạnh các hiệp sĩ; và huynh đệ – thủ công, có nhiệm vụ làm những công việc lặt vặt như nướng bánh, rèn vũ khí và chăm sóc ngựa, họ thuộc tầng lớp thấp nhất trong thứ bậc.

Vào buổi tối ngày đầu nhận được vào Hội, người được đề cử  làm lễ nhập môn dưới sự hiện diện của những hiệp sĩ khác trong nhà nguyện. Không ai khác được tham dự, ngay cả ứng viên cũng không được tiết lộ khi nào, ở đâu nghi lễ sẽ diễn ra.

Thủ tục tập trung vào việc cảnh báo người ứng viên đầy tham vọng về những khó khăn y sẽ đương đầu, và yêu cầu y tuyên thệ trước Chúa Trời lòng trung thành với mục tiêu của Hội Đền Thánh. Khi y muốn ngủ, ứng viên được lệnh phải đi canh phòng. Khi y muốn đi canh phòng, y sẽ được lệnh đi ngủ. Khi y muốn ăn, y sẽ được lệnh đi làm việc. Y có đồng y với các điều kiện này không? Mỗi lệnh ban ra phải được đáp lại, rõ ràng và lớn tiếng, “Vâng, thưa ngài, vì ơn Chúa!” Người ứng viên phải hứa là không bao giờ được đánh hoặc đả thương một tín đồ Cơ đốc nào; không được nhận dịch vụ hoặc phục vụ cho một phụ nữ nếu không có sự ưng thuận của cấp trên; cho dù là mẹ hoặc chị em mình; không bao giờ được ẳm một đứa bé làm lễ rửa tội hoặc làm cha nuôi; và không hề xúc phạm bất kỳ người đàn ông vô tội nào, lúc nào cũng lễ phép và lịch sự.

Vào năm 1146 Giáo Hoàng Eugenius iii tuyên bố rằng các hiệp sĩ Đền Thánh có thể mang một hình thập tự đỏ trên áo choàng trắng (được chọn tương phản sâu sắc với y phục của Chiến sĩ Cứu tế) để nhìn nhận mối hiểm nguy họ đương đầu, và rằng từ đây họ khỏi phải chịu sự giám sát trực tiếp của giáo hoàng, kể cả nguy cơ bị rút phép thông công. Việc này càng khiến những người bảo trợ thêm cảm kích và ruộng đất, lâu đài và những tài sản ban tặng khác  ào ạt đổ vào kho tài sản của họ.

Không thể nào cưỡng lại được mãi cơn cám dỗ triền miên khi hạt mầm  của sự sụp đổ đã được gieo. Tin đồn lan truyền rằng Đền Thánh có dính líu đến một vụ tống tiền bọn Assassin. Lời đồn tung ra từ vụ ám sát Raymond, Bá tước ở Tripoli, được cho biết là do bọn Assassin thực hiện. Để đáp trả, Hội Đền Thánh tiến vào lãnh thổ do hội Assassin kiểm soát. Nhưng thay vì thách thức  Assassin đánh nhau họ lại đòi giao nộp 12,000 đồng tiền vàng. Trong khi không có ghi chép gì về vụ Assassin giao nộp số tiền đó, một khoảng thời gian sau đó họ phái một đoàn đến gặp Amaury, lúc đó là Vua của Jerusalem, xin được cải sang đạo Cơ đốc với điều kiện Hội Đền Thánh bỏ số tiến cống nộp. Rõ ràng, một hình thức dàn xếp nào đó đã được tiến hành.

Sau đó, Hiệp sĩ Đền Thánh chận lại Vua Hồi Abbas của Ai cập bị quân thù đánh đuổi, đang trên đường  trốn chạy vào sa mạc với con trai của mình, cùng cung phi mỹ nữ và nhiều châu báu trong kho tàng Ai Cập. Sau khi giết chết Vua Hồi và chiếm đoạt của cải, Hội Đền thương lượng với các kẻ thù của Vua Hồi để trả lại đứa con trai về Cairo đổi lấy 60,000 đồng tiền vàng. Việc này là cung cách làm ăn bình thường, nhưng có điều là đứa con trai đã bằng lòng cải sang Cơ đốc giáo nên đúng công đạo là phải miễn tội chết. Khi việc thỏa thuận với người Ai Cập đã xong, Hội Đền nhốt đứa con trai nhà vua vào cũi sắt và gởi trả về Cairo, tại đó, các hiệp sĩ đều biết em sẽ bị tra tấn kéo dài cho đến chết.

Những sự kiện như thế đánh dấu sự suy thoái của Hội Đền Thánh từ một dòng khổ hạnh hết mình cho nghĩa vụ bảo vệ người nghèo và người cô thế thành một tổ chức chỉ lo vun vén vật chất tiền tài. Đúng là họ có thành lập hệ thống ngân hàng để chuyển tiền và tư trang giữa Palestine và châu Âu, một hành động hoàn toàn không có dính líu gì với những lời thề sống từ thiện và khổ hạnh.

Sự thối nát của họ không chỉ trong tiền bạc mà còn trong lối sống của họ biến chất từ khắc khổ đến tiêu hoang. Thay vì khiêm cung và nhún nhường, họ trở nên hách dịch và tham lam, và họ sử dụng bất kỳ thủ đoạn lừa dối nào có trong tay để bồi đắp cho tài sản của họ càng ngày càng kết sù. Vào năm 1204, lời đồn lan truyền trên khắp Palestine rằng một bức tượng Mẹ Đồng Trinh gần Damacus tiết ra một chất ngọt từ bầu ngực, và nếu uống chất lỏng ấy sẽ giải hết tội lỗi của những linh hồn lỡ lầm. Rủi thay, địa điểm đó khá xa Jerusalem, phải đi theo một lộ trình nhiều băng đảng cướp bóc. Hội Đền Thánh đề nghị một giải pháp. Họ sẽ liều mình theo lộ trình đó đến nơi, lấy chất lỏng mầu nhiệm đem về cho khách hành hương – tất nhiên, với một giá trên trời. Chi phí cao vút nhận được từ những yêu cầu của khách làm tài sản của Hội Đền càng to lớn hơn. Chưa nói, tất nhiên, chất lỏng được cho là mầu nhiệm đó ắt hẳn họ có góp phần đầu tư “sản xuất” và “tiếp thị”.

Không phải tất cả tài sản của Hội Đền Thánh đều được phục vụ cho người nghèo hay cho việc đánh người Hồi. Phần lớn tài sản có vẻ như được đầu tư vào rượu vang và những lạc thú xác thịt khác. Chẳng mấy chốc “uống như hiệp sĩ Đền Thánh” trở thành một thành ngữ để mô tả ai đó uống như hũ chìm, và ngôn ngữ Đức có một từ mới để chỉ một gia đình có nhiều tai tiếng: Tempelhaus ( Đền Thánh).

Với cuộc sống quá thoải mái và thỏa mãn, ai muốn tự hành hạ mình giữa đám Hồi giáo ở Palestine? Hiệp sĩ Đền Thánh thì không. Họ càng ngày càng tỏ ra quan tâm đến việc tích lũy của cải hơn là bảo vệ tín ngưỡng Cơ đốc. Bạn chiến đấu trước đây của họ, Chiến sĩ Cứu tế, cũng dịch chuyển những giá trị của mình về hướng đánh thuê hơn là những động lực tinh thần. Họ cũng từ bỏ việc đặt nặng tính hi sinh và làm từ thiện, để trở nên chuyên nghiệp hon về việc đánh đấm trên chiến trường như chính các hiệp sĩ Đền Thánh. Trong vài năm cả hai nhóm hiệp sĩ bêu riếu nhau cho đến 1259, họ lao vào đánh nhau trong một trận khi phe Đền Thánh được cho là săn đuổi theo kho báu của phe cạnh tranh. Nhiệt huyết hơn (và có lẽ nhờ đông hơn), phe chiến sĩ cứu tế đánh thắng. Chẳng bao lâu, phe Đền Thánh rút lui về châu Âu, dù sao thì đó cũng là nơi họ cất giấu tiền bạc.

Vào năm 1306, các hiệp sĩ Đền Thánh định cư vững chắc ở Cyrus, khá gần Palestine để duy trì tiền đề là mình còn liên quan đến sứ mạng trước đây, và đủ xa bọn Hồi giáo cướp bóc để tận hưởng an toàn những tiện ích mà của cải họ mang lại. Trong năm đó Giáo Hoàng Clement V, người mới lên nắm quyền giáo hoàng chỉ mới vài tháng trước, quyết định làm rõ tin đồn cho rằng các hiệp sĩ Đền Thánh đang phạm “tội bội giáo không sao nói được chống Chúa Trời, tội hống hách khả ố, nhiều tật xấu bỉ ổi, và các trò dị giáo khác.” Ngài cho triệu tập Đại Hội Chủ  Đền Thánh, Jacques de Molay, đến La Mã giải thích.

De Morlay, một trong những nhân vật đầy màu sắc nhất trong lịch sử, cao hơn 6 bộ với dáng vẻ uy dũng và tư thế bệ vệ. Sinh năm 1240 ở Burgundy trong một gia đình quí tộc, de Molay gia nhập Hội Đền Thánh ở tuổi 25 và phục vụ xuất sắc ở Jerusalem trước khi được bầu làm Đại Hội Chủ  lúc tuổi 55.

Đến La Mã với 60 Hiệp sĩ, de Molay cũng mang theo 150,000 đồng florin, một số lượng bạc đáng kể. Ông rời La Mã vài ngày sau đó, trong tai còn vang vọng lời kết luận của vị giáo hoàng: “Vì không có gì chắc chắn hoặc đáng tin rằng những con người với một tôn giáo như thế, đã từng chứng tỏ tấm gương tận tụy trong việc làm thiêng liêng cũng như trong việc chay tịnh, để có thể quên cả việc cứu rỗi khi phạm những hành động theo lời đồn, nên chúng tôi không muốn bẩn tại để nghe những lời độc ác như thế.” Tất nhiên là de Molay đã để  lại Tòa Thánh La Mã số florin và bạc mang theo.

Nhận thấy đây là một trò hối lộ, Philippe le Bel, vua nước Pháp, đùng đùng nổi giận. Từng là người hậu thuẫn Đền Thánh, giờ đây ông quay sang chống đối họ, một phần vì lối sống lố lăng của họ, và một phần vì họ có quyền lực và của cải đang lên; ông ta sợ cái trước và thèm muốn cái sau. Philippe quyết định Hội Đền Thánh phải bị giải tán và kho bạc của họ, một phần lớn  nằm trong lãnh thổ của ông, phải về tay vương triều. Để đạt được điều này, Philippe sử dụng một thủ thuật quen thuộc về tư pháp: lời khai của những tử tù.

Một Hiệp sĩ Đền Thánh trước đây tên Squin de Flexian, bị tống giam vì tội phản loạn và chắc chắn đối diện với án tử, biết Philippe không ưa tổ chức Đền Thánh. Gọi cai ngục, de Flexian báo tin là y biết nhiều chuyện bí mật đen tối và xấu xa của Hội Đền muốn khai báo với nhà vua. Thế là đủ cho de Flexian có được một chuyến đi vui vẻ đến Paris, tại đó y lải nhải một loạt lời khai kết án Hội Đền Thánh, nào là bí mật thông đồng với người Hồi giáo, tiến hành các nghi thức nhập môn bằng cách nhổ nước bọt vào thập giá, làm phụ nữ mang bầu rồi giết những bé sơ sinh của họ, và những nghi lễ dính líu đến những hành động đồi trụy và báng bổ. Đúng như kỳ vọng, những câu chuyện của de Flexian hớp hồn cả nhà vua và triều thần, khiến họ không tin vào tai mình. Đồi trụy?Báng bổ? Thông đồng? Nghi lễ bí mật? Vương triều nào có thể làm ngơ mà không hành động trước những trò ma quỷ này, nhất là với hàng ngàn đồng tiền vàng florin, các kho bạc không kể xiết, và đất đai cò bay thẳng cánh và những lâu đài đang đợi để bị tịch biên.

Vào ngày 13 tháng 10, 1307 (ngày này rơi vào thứ 6, từ đó phát sinh ra mê tín ngày 13 thứ 6 là ngày xấu) trong một chiến dịch tương xứng với kỳ công của một tư lệnh chiến trường kiệt xuất, các hiệp sĩ Hội Đền bị bắt giữ trong một loạt bố ráp được phối hợp trên khắp châu Âu, trong đó ở Pháp là hung bạo nhất. Bị tra tấn, nhiều hiệp sĩ, kể cả Molay, cũng thú nhận đã phạm những hoạt động tương tự như đã được de Flexian mô tả (bản thân y cũng bị treo cổ vì tội quấy rối của mình). Trong vài năm những chiến sĩ Hội Đền ra sức bảo vệ cho mình chống lại những lời kết án nhục nhã từ nhà vua Pháp cho đến năm 1313, vị giáo hoàng thông báo giải tán Hội Đền. Tùy theo cấp bậc, việc thành khẩn nhận tội và ăn năn chuộc tội, các thành viên hoặc bị khai trừ hoặc được phóng thích, trừ de Molay và ba thuộc hạ thân cận nhất.

Được mang ra xét xử trước tòa án giáo hội trên một sân khấu dựng trước Thánh đường Đức Bà, bốn Hiệp sĩ Đền Thánh được dự định sẽ bị kêu án chung thân. Nhưng trong buổi xử de Molay đứng lên phát biểu. Với lời lẽ đầy khích động và thẳng thừng, Đại Hội Chủ Đền Thánh phản cung, cho rằng mình vô tội và bị ép nhận tội vì bị tra tấn, và đổ trách nhiệm cho những hiệp sĩ khác. Việc ông cực lực chối tội và yêu cầu được ban cho cơ hội kêu nài với vị giáo hoàng được hậu thuẫn bởi em trai của Hoàng thân vùng Auvergne, một trong ba Hiệp sĩ cao cấp khác cũng bị kết tội tương tự.

Phiên tòa sửng sốt. Họ chờ đợi các Hiệp sĩ chấp nhận số phận của mình trong im lặng và biết ơn vì mình được toàn mạng. Khi nghe được tin này, Vua Pháp không lấy gì làm sửng sốt. Ông nổi cơn thịnh nộ, và ra lệnh không chỉ thiêu sống hai Hiệp sĩ tại cọc mà còn phải thiêu từ từ để các tội phạm chịu đựng nỗi thống khổ càng lâu càng tốt.

Hôm sau, de Molay và Guy vùng Auvergne bị lôi xồng xộc đến mũi hòn đảo Ile de la Cite, một nơi giờ được gọi là Quảng trường Vert-Galant, một trong những địa điểm hấp dẫn ở Paris. Họ vẫn một mưc kêu oan khi bị lột trần truồng  và bị trói vào cột. Thế rồi, theo lời của một học giả chuyên về Hội Đền,

Trước tiên ngọn lửa được đốt lên từ dưới chân họ, rồi đến những bộ phận trọng yếu hơn. Mùi hôi hám của da thịt cháy làm ô nhiễm không khí quanh đó, và như thêm vào cơn giày vò; họ vẫn còn kêu gào mình vô tội. Cuối cùng, cái chết kết thúc nỗi khố đau của họ. Khán giả nhỏ lệ trước cảnh tượng đau lòng đó, và trong đêm tro cốt họ được thu gom để cắt giữ làm di vật.

image011

Jacques de Molay chết như một thánh tử đạo, giúp nâng cao tên tuổi đã bị ô uế của tổ chức.

Kho báu của Hội Đền bị Philippe tịch biên. Ông lấy phần lớn nói là để trang trải chi phí trong quá trình điều tra và bắt bớ. Số còn lại được phân phát cho Chiến sĩ Cứu tế và Vua Edward nước Anh, cũng phần nào miễn cưỡng đồng ý giải tán Hội Đền khỏi xứ Anh.

Truyền thuyết kế rằng de Molay, khi bị trói vào cột, đã dự đoán là Giáo Hoàng Clement sẽ đi theo ông trong vòng 40 ngày và nhà vua sẽ nhập bọn với họ trong vòng một năm. Nếu vậy, ông nói đúng. Clement chết sau một cơn đau bụng tháng sau đó và, khi thi thể của ông đang nằm cho khách viếng thì một trận hoả hoạn quét qua nhà thờ và đốt cháy một phần thi thể ông. Một vài tháng sau, Philippe bị hất ngã từ lưng ngựa và gãy cổ chết tốt.

Trong một tình huống khác đương đại hơn, de Molay đã được nhận diện là nhân vật in dấu vết trên Tấm Vải Liệm Turin bí ẩn. Lần đầu tiên được trưng bày vào năm 1375, tấm vải liệm được tuyên bố là đã được các thập tự quân chiếm lại được từ Constantinople khi đánh cướp thành phố vào năm 1307. Dấu vết in trên mặt vải rõ ràng là của một nhân vật có râu được cho là của Christ, gợi ý là đây chính là tấm vải đã được sử dụng để bọc thi thể của ngài khi được mang xuống từ thập giá. Tuy nhiên khi đo bằng kỹ thuật các-bon phát hiện rằng tấm vải liệm chỉ có niên đại xa nhất là thế kỷ 13, khởi lên một suy đoán mới cho rằng de Molay đã được bọc trong tấm vải này sau những lần bị tra tấn trong thời gian  bị cầm tù. Kích cỡ và dáng vẻ của hình ảnh trên tấm vải liệm có thể là của de Molay hay của bất cứ ai, tạo thêm tính thần bí của cải chết tử đạo của Molay.

2

Bên trái là dấu vết trên tấm vải; bên phải là ảnh ức đoán dùng phần mềm kỹ thuật số.

Những hành động của Philippe, Edward và những vua chúa khác được vị lãnh đạo Pháp  thuyết phục làm theo thất bại trong việc tiêu diệt Hội Đền Thánh, và những tàn quân của hội vẫn duy trì cấu trúc của tổ chức theo một hình thức thật  lén lút để không chịu chung số phận của Molay và Guy de Auvergne. Những hoạt động bí mật đã từng được Molay chỉ đạo được đề cao và thánh hóa. Một số nguồn tuyên bố rằng các văn kiện được Molay soạn ra không lâu trước khi chết đã chỉ định Bertrand du Guesclin kế vị ông làm Đại Hội Chủ  Đền Thánh, và vị trí lãnh đạo sau đó được truyền qua nhiều đời gồm những nhân vật nổi tiếng của Pháp , trong đó có vài hoàng thân nhà Bourbon (dòng vua cuối cùng của nước Pháp).

Nhiều người Pháp theo năm tháng vẫn còn ôm ấp mối nghi ngờ là  Philippe đã không thể thâu tóm hết số châu báu của Hiệp sĩ Đền Thánh. Theo họ còn rất nhiều kho báu đã nhiều thế kỷ đang chờ đợi ai đó định vị được. Một câu chuyện liên quan đến Nhà nguyện Rosslyn gần Edinburgh, nơi có những bảng chữ khắc trên đá được đồn là một mật mã chỉ có Hiệp sĩ và thành viên Hội Tam Điểm giải đoán được. Khi được giải mã, chúng sẽ chỉ dẫn đến địa điểm cất giấu Chén Thánh (chén mà Jesus dùng để uống nước, đã được hư cấu trong tác phẩm điện ảnh Indiana Jones) và của cải của Hội Đền, cả hai được cất giấu gần đó. Sự liên kết giữa nhà nguyện với Đền Thánh là điều đáng ngờ vì nó được xây dựng 170 năm sau cái chết của Molay, vậy mà câu chuyện vẫn còn được lưu truyền cho dù cuộc điều nghiên và khai quật đã không phát hiện được điều gì có giá trị hoặc hứng thú chung quanh hoặc bên dưới  nhà nguyện. Một truyền thuyết khác cho rằng phần lớn tài sản của Hội Đền được chôn giấu ở đảo Oak, trong Đại Tây Dương ở ngoài khơi bờ biển Nova Scotia.

Câu chuyện về kho báu của Hội Đền có thể lan tràn, nhưng những thành viên Đền Thánh ngoài đời thực thi không – có lẽ, chỉ trừ ra qua mối liên hệ dòng dõi nối dài xuống tận thành viên Hội Tam Điểm. Thành viên Hội Tam Điểm có mối liên kết với Hội Đền theo hai mặt. Một mặt, ý tưởng về Hội Tam Điểm là hậu duệ trực tiếp của những hiệp sĩ tuẫn tiết góp thêm hào quang thần bí và hoành tráng cho tổ chức; dù lỗi lầm thể nào, hình ảnh Hiệp sĩ Đền Thánh đã được thời gian đánh bóng, và giờ đây họ được nhìn nhận rộng rãi như những hiệp sĩ cao quí hi sinh cho một tên vua ăn cướp và một vị giáo hoàng phản phúc. Mặt khác, dù không có mối liên kết lịch sử trực tiếp nào có thể được tìm thấy giữa Hội Đền và Hội Tam Điểm, vẫn không ngăn cản được những suy đoán lan tràn và những giai thoại sặc sỡ liên kết hai hội này. Một tổ chức như Hội Tam Điểm, vốn ra sức được nhìn nhận và ngưỡng mộ vì duy trì được mức độ cao về hành vi thận trọng, có nuôi dưỡng một mối quan hệ mà thực ra không có cơ sở gi hay không?

Phong trào Hội Tam Điểm đã suy giảm rất nhiều, nhất là ở Mỹ nơi mà vinh quang lớn nhất của nó và sức mạnh bền bĩ của nó từng một thời ở đấy. Ôn lại bất kỳ cuộc họp mặt lịch sử nào của nước Mỹ đều có thành viên Hội Tam Điểm lấp ló đằng đầu mỗi hiệp ước, trận đánh và đạo luật, trong đó các thành viên của hội nắm giữ những chức vụ Quốc vụ Khanh, Tổng Tham mưu và Tối Cao Pháp viện. Từ George C. Marshall, qua các vị Tướng John J. Pershing và Douglas MacArthur, đến Tối Cao Pháp viện  Earl Warren và Thurgood Marshall, Hội Tam Điểm khống chế những chiếc ghế quyền lực của Mỹ nhiều hơn bất cứ tổ chức nào khác. Không ít hơn 16 tổng thống Mỹ đã từng tự hào tuyên bố mình là thành viên Hội Tam Điểm.

Đây không chỉ là hiện tượng độc quyền của Mỹ. Sir Winston Churchill, thủ tướng Canada John Diefenbaker, và ít nhất bốn tổng thống Mễ đều giữ những vị trí cao trong Hội Tam Điểm.

Có thể có một hội khép kín nào khác nắm ảnh hướng sâu rộng đến thế đối với những vị trí quyền lực trong quá nhiều năm hay không?

Nếu bạn tin vào những sự thổi phòng của thuyết âm mưu, chứng cứ mà Hội Tam Điểm tác động lớn lao đến những sự kiện thế giới có thể được tìm thấy trong túi, ví và giấy bạc lưu hành khắp thế giới. Mỗi tờ đôla Mỹ đều mang dấu Đại Ấn Hoa Kỳ trên mặt sau, một biểu tượng nhiều người tin đã khẳng định sự khống chế và kiểm soát đất nước của Hội Tam Điểm. Thiết kế của đại ấn mang hình một tam giác nổi bên trên một kim tự tháp còn xây dang dở. Trên đáy kim tự tháp có khắc số La Mã 1776 (mdcclxxvi), và thiết kế được đóng khung bằng hai cụm từ Latinh: Annuit Coeptis (Thượng đế Chúc Phúc cho Công Việc của Chúng Ta) và Novus Ordo Seclorium (Một Trật Tự Thời Đại Mới). Theo những người sợ hãi Hội Tam Điểm, con mắt và kim tự tháp là những biểu tượng của Hội Tam Điểm, và cái cách trong đó biểu tượng phô trương chứng tỏ quyền lực của họ vẫn còn chưa được thách đố.

Dollarnote_siegel_hq

Đại Ấn trên tờ bạc đôla Mỹ – đây có phải chứng cứ âm mưu của Hội Tam Điểm.

Có phải vậy không? Từ lâu Hội Tam Điểm đã sử dụng tam giác như là biểu tượng của thành viên nhưng chỉ vì nó tượng trưng cho thước ê-ke (thước thợ), một công cụ của người thợ nề (Hội Tam Điểm, tiếng Anh là Freemason, mason có nghĩa là thợ nề), những người đã thành lập tổ chức. Trong bất kỳ trường hợp nào, Đại Ấn Hoa Kỳ mô tả  không phải một tam giác mà là một kim tự tháp, được chọn bởi vì nó biểu thị sức mạnh, sự vững chắc, những phẩm chất quan trọng cho một đất nước mới ra đời. Con mắt tượng trưng tầm nhìn bao quát  của Thượng đế, không gì hơn,  và trong khi nó đúng là đóng khung trong một tam giác, thì các hình tam giác đã quen được sử dụng trong các hiệp hội Cơ đốc hàng bao thế kỷ, biểu thị cho Ba Ngôi Cha, Còn và Thánh Thần.

34

Các biểu tượng của Hội Tam Điểm

Chứng cứ lịch sử hậu thuẫn cho quan điểm này. Viết để bênh vực cho Hội Tam Điểm vào năm 1821, Thomas Smith Webb lưu ý rằng những thành viên Hội Tam Điểm chỉ nhận  con mắt hoặc tam giác làm biểu tượng từ năm 1797, 14 năm sau khi Quốc hội Hoa Kỳ chuẩn y Đại Ân. Webb giải thích thành tố của dấu ấn như sau:

Mặc dù những suy nghĩ, lời lẽ và hành động của chúng ta có thể được che giấu khỏi cặp mắt của con người, nhưng Con Mắt Nhìn Thấy Hết đó, mà Mặt trời, Mặt trăng và những Vì sao đều phục tùng, nhìn thấy hết mọi ngóc ngách sâu kín nhất của trái tim con người, và sẽ ban thưởng chúng ta tùy theo công trạng của chúng ta.

Một số người hoài nghi tin tưởng lời ông. Phần đông đều không

Hội Tam Điểm đã ra sức phủi hết mối liên hệ này với Đại Ấn Hoa Kỳ trong hai thế kỷ nhưng không thành công. Họ cũng đã thử chứng tỏ là Hội Tam Điểm không có quyết tâm thực thi những hành động nhằm trả thù dùm cho Hiệp sĩ Đền Thánh vì những xúc phạm chống lại họ cách đây gần 800 năm. Trong quá trình đó, họ cũng bác bỏ mọi liên hệ với hội kín

Illuminati, một tổ chức gồm những nhà trí thức có đầu óc tự do mà mục tiêu của họ, cách đây hai thế kỷ,  là kiểm soát toàn cầu về tư tưởng chính trị và xã hội; hoặc cài đặt những người nổi tiếng vào các vị trí quyền lực để thực hiện những chiến lược của Hội Tam Điểm.

Nguồn gốc của Hội Tam Điểm thì đơn giản và rõ ràng như cái tên của nó (Freemason có nghĩa ‘thợ nề hành nghề tự do’). Vào thế kỷ 17 ở Anh, các tổ chức nghề nghiệp bất đầu được thành lập như một phương tiện để giữ kín những kiến thức và kỹ năng đặc biệt của nghề nghiệp tránh người ngoài dòm ngó và đánh cắp. Các phường nghề tuyên bố rằng họ đang đặt ra những tiêu chuẩn chất lượng cho tập thể tay thợ; họ ít công khai hơn về mục tiêu bảo đảm lợi tức cao hơn cho các thành viên bằng cách hạn chế số thành viên  gia nhập và nâng cao lương bổng tùy tay nghề. 

Trong số những tay thợ có lực lượng mạnh nhất của thời đó là thợ nề xây đá, vốn có những công cụ và kỹ năng xây dựng những bức tường thẳng đứng và cao. Chứng cứ về tài năng họ có thể nhận biết trên kháp nước Anh, nơi có nhiều công trình đá dù đã qua 400 năm đến nay vẫn còn vững chắc. Kỹ năng thợ nề được đánh giá theo ba bậc: Tập sự, Thợ, và Thợ cả. Mỗi mức độ kỹ năng sẽ đưa người thợ đến bậc trọng vọng cao hơn, và họ nhận được thù lao cao hơn. Tình bí mật trở nên quan trọng trong nhóm thợ nề, họ bắt buộc phải chọn bạn làm chung cẩn thận và người mới học việc phải thề giữ kín những kỹ thuật đã hoàn thiện sau nhiều thế kỷ. Để bảo đảm kiểm soát được các thành viên của mình và bảo đảm các bí quyết xây dựng không được tiết lộ, các thợ nề tổ chức thành những bang nhỏ, mỗi bang cử một thủ lĩnh hoặc thợ cả.

Những gì khởi đầu là một tổ chức nghề nghiệp đã tiến hóa thành một thứ hoàn toàn khác vào năm 1717, khi các thủ lĩnh của bốn bang ở London họp nhau tại Quán Cây Táo để lập thành Đại bang Hội Tam Điểm. Những mục tiêu của Đại bang vượt quá những mục tiêu của nghiệp đoàn ban đầu để bao gồm vị thế của một tổ chức giả tôn giáo, phản ánh những giá trị Kháng cách đã được định hình lúc đó.

Những thành viên tuyên thệ sẽ hoạt động trong nguyên tắc Cơ đốc, hợp lý hóa lời giảng dạy của Christ, và trút bỏ những điều bí ẩn ra khỏi giáo điều Cơ đốc qua việc áp dụng lối phân tích lô-gic và khoa học. Việc này đánh dấu sự khởi đầu của Hội Tam Điểm như một quyền lực toàn cầu.

Quan niệm của Hội Tam Điểm lan đến Pháp và phần còn lại của châu Âu, và trong tiến trình nó cũng mở rộng mạng lưới chiêu mộ để bắt vào một dãy rộng hơn các thành viên. Không còn giới hạn vào những thợ thủ công, Hội Tam Điểm còn chào đón tất cả nhân vật có địa vị cao trong xã hội, cung ứng cho họ một tổ chức huynh đệ nơi họ có thể trao đổi ý kiến, theo đuổi những quan tâm chung, và tạo những mối tiếp xúc làm ăn và chuyên môn quan trọng. Vẫn duy trì lời tuyên thệ giữ bí mật trong nội bộ các thành viên, phong trào bổ sung nghị lễ nhập môn thần bí. Không lâu sau đó, mưu đồ (tình tiết) lịch sử trói buộc những thành viên Hội Tam Điểm với các hiệp sĩ Đền Thánh bất đầu lan truyền.

Một mối liên kết lịch sử với những thánh tử đạo lãng mạn đánh bóng cho vị thế của tổ chức và cá nhân cách đây 300 năm cũng nhiều như hôm nay. Tô thêm màu sắc cho cơ sở huynh đệ của tổ chức họ, Hội Tam Điểm bất đầu chấp nhận mình là hậu duệ của Hiệp sĩ Đền Thánh. Sự kết hợp có tính giả thuyết đã biến đổi một tổ chức thoạt đầu dựa trên những mối quan tâm thực tiễn của những thợ thủ công thành một hiệp hội gồm những doanh nhân và chuyên viên tầng lớp trên.

Một khi mối kết hợp với Hội Đền đã vững chắc, nhiều thành viên Hội Tam Điểm nhiệt thành bắt đầu xây dựng màn hào quang thần bí quanh hội của họ. Như với mọi điều thần bí, sự thần bí này có lớp sơn bóng có thật bên ngoài. Những hội viên Tam Điểm người Scotland tuyên bố rằng một vài thuộc hạ trung thành nhất của Molay đã chạy thoát khỏi nước Pháp và đến Scotland sau khi thủ lĩnh của họ bị hành hình. Một số còn đi xa hơn, khăng khăng cho rằng chính de Molay đã thoát được cuộc hành hình và chạy đến Scotland, ở đó ông đã đánh nhau với Robert Bruce tại Trận Dupplin vào năm 1332 và Trận Durham vào năm 1346.*

* Để vinh danh tài lãnh đạo và việc tử đạo của de Molay, Dòng de Molay Quốc tế được thành lập như một tổ chức huynh đệ cho thanh thiếu niên từ 13 đến 21 tuổi. Hoạt động dưới sự chỉ đạo của các cố vấn Hội Tam Điểm, nó tạo lực lượng về lâu về dài cho tổ chức Tâm Điểm cha mẹ.

Những tư liệu của Hội Tam Điểm vạch ra mối liên quan Đền Thánh-Hội Tam Điểm đi ngược dòng thời gian  đến một bài diễn văn được phát biểu vào năm 1737 trong Đại bang Pháp bởi một hội viên Tam Điểm có tên Hiệp sĩ Ramsay. Ramsay tuyên  bố Hội Tam Điểm có từ “sự kết hợp mật thiết với dòng Hiệp sĩ Đền Thánh St. John ở Jerusalem” trong thời Thập Tự Chinh, và rằng “những bang cũ ở Scotland” vẫn duy trì Hội Tam Điểm đích thực mà người Anh từ bỏ. Từ mối liên hệ lịch sử khá đáng ngờ này thêu dệt nên Nghi thức Scotland có ghi trong điều lệ hội. Một lối giải thích chắc chắn hơn xuất phát từ cuộc di dân ở giữa thế kỷ 18 của Hội Tam Điểm Scotland và Ireland đến vùng Bordeaux của Pháp, nơi họ được gọi là người Ecossais.

Người Ecossais mở rộng hệ thống  ba bậc trước đây của Hội Tam Điểm đến bảy bậc và sau đó đến 25 bậc, và cuối cùng đến 33 bậc như ngày nay. Những hội viên Tam Điểm nào chọn đi lên quá ba bậc cơ bản sẽ gia nhập Nghị thức Scotland.

Những cư dân ở thuộc địa Mỹ (trước Cách Mạng Hoa Kỳ, Mỹ là thuộc địa của Anh) thành lập bang Hội Tam Điểm ở Boston, Massachusetts vào năm 1733. Số thành viên trong bang đầu tiên này tăng lên ngoạn mục, và đến Cách Mạng Mỹ hơn 100 bang được liệt kê. Thật ra, chính các thành viên của Bang Hội Tam Điểm St. Andrew đã khích động có hiệu quả cho cuộc cách mạng nổ ra với sự kiện Tiệc Trà Boston, khi họ hóa trang thành dân Da đỏ Mohawk, lén lút leo lên tàu buôn Anh và ném những kiện trà của người Anh xuống biển để chống đối mức thuế bất hợp lý. Như ở  Anh,  Hội Tam Điểm Mỹ đại diện cho tầng lớp hùng mạnh, có tài năng và tham vọng nhất trong xã hội, vì thế không có gì ngạc nhiên khi 51 người ký tên vào Tuyên ngôn Độc Lập được cho  tự nhận mình là thành viên Hội Tam Điểm. Với quá nhiều nhân vật chống đối nổi tiếng có tham gia  tích cực, thật có lý để tuyên bố rằng những thành viên Hội Tam Điểm, hơn bất kỳ một nhóm đơn lẻ nào khác, đã xúi giục cách mạng. Danh sách bao gồm những gương mặt sáng giá như George Washington, Benjamin Franklin, John Adams, Patrick Henry, John Hancock, Paul Revere, John Paul Jones, Ethan Allen, Alexander Hamilton và Benedict Arnold. Sau  khi giành được độc lập, Hội Tam Điểm Mỹ đã cắt đứt mọi liên lạc với Anh và tiến hành thành lập Đại bang Mỹ riêng biệt vào năm 1777.

Hội Tam Điểm Mỹ củng cố tổ chức, tinh lọc các thủ tục và mở rộng tầm ảnh hưởng với qui mô vượt quá bất cứ bang hội nào ở các xứ khác. Cùng với việc đề cao các nghi thức và sự kín đáo, sự lớn mạnh và quyền hành của họ khiến phát sinh ra những suy đoán về động lực thực sự của họ. Bí ẩn càng bao trùm, họ càng được xem là những người có thế lực nhất hoạt động trong bóng tối. Những quyết định được đưa ra không phải để làm loãng đi nhãn quan này, mà để thăng hoa nó theo mọi cách có thể. Địa điểm của Hội đồng Tối Cao Hội Tam Điểm theo Nghi thức Scotland, chẳng hạn, được chọn ở Charleston, bang South Carolina, vì thành phố này nằm trên vĩ tuyến 33, tương ứng với hệ thống thành viên 33 bậc của hội.

Qua nhiều năm một số cáo buộc kỳ dị được gán cho là những mục tiêu thực sự của Hội Tam Điểm, bao gồm những sự kiện sau đây:

HỘI TAM ĐIỂM ĐỒNG MINH VỚI ILLUMINATI

Giống như búp bê Nga (loại búp bê trong ruột của nó chứa một búp bê y hệt nhưng nhỏ hơn, có khi đến một chuỗi 4, 5 búp bê giống hệt sau: ND), các hội kín có tiếng là tồn tại bên trong nhau, các hội lớn chứa các hội nhỏ hơn, sự phân chia càng tập trung hơn qua những liên minh cổ xưa. Trong số những cáo buộc đó các người ưa thuyết âm mưu và những kẻ chống Hội Tam Điểm nói chung viện dẫn rằng các bang Hội Tam Điểm bí mật chứa chấp những thành viên Hội Illuminati.

Theo quan điểm này, Hội Tam Điểm là những người giật dây các con rối, và các con rối này lại giật dây các con rối khác. Bóng tối bên trong bóng tối, các hội viên Illuminati được cho là lơ lửng trên cao trong hậu trường bên trong Hội Tam Điểm và những hội kín khác, kể cả Hội Tu viện Sion, những thành viên của Hội Kabbalah, Rosicrucian, và hội Trưởng Lão Zoom.

Được thành lập vào năm 1776 bởi Adam Weishaupt, một học giả dòng Jesuit người Bavaria được mô tả là “con mọt sách chân không đạp đất không qua trải nghiệm nào ở thế gian”, Hội Illuminati (“Khai Sáng”) là một hội kín mà những mục tiêu thực sự của nó chỉ được tiết lộ cho các thành viên  sau khi họ đạt qua được bậc “giáo sĩ” của sự tỉnh thức và thông hiểu. Những người  qua được tiến trình tuyển chọn và khâu chuẩn bị cuối cùng nhận ra rằng họ là những bánh răng trong cỗ máy chính trị-triết lý được điều tiết bởi lý trí, một sự mở rộng cực kỳ về chủ trương  giáo dục dòng Jesuit “lý trí hơn là nhiệt tình” của người sáng lập. Nhờ Illuminati, con người được giải phóng khỏi những định kiến của mình và sẽ trở nên chín chắn và có đạo đức hơn, vượt qua những hạn chế về tôn giáo và chính trị của giáo hội và nhà nước.

Đạt đến utopia này sẽ là một sở đắc không phải là không đau đớn. Những thành viên Illuminati phải quán sát mọi người mà y giao tiếp, thu nhặt thông tin về mỗi cá nhân và nộp những báo cáo mật gởi về cấp trên. Bằng cách này, Illuminati sẽ kiểm soát được ý kiến công luận, hạn chế quyền lực các hoàng thân, tổng thống và thủ tướng, làm im bặt hoặc loại ra những kẻ lật đổ và phản động, và làm những kẻ thù của hội phải run sợ. “Trong lòng bóng tối sâu thẳm nhất,” một trong những nhà phê bình từ đầu của phong trào viết, “một hội đã được thành lập, một hội gồm nhiều con người mới, biết nhau dù chưa hề gặp mặt nhau, hiểu rõ nhau không cần giải thích, phục vụ lẫn nhau mà không cần là bạn bè. Theo qui luật của Jesuit, hội này nhìn nhận sự tuân phục vô điều kiện; từ Hội Tam Điểm họ lấy các thách thức và các nghi lễ; từ Hội Đền Thánh họ có được tính bí ẩn và sự táo bạo.” Không nghi ngờ gì nữa, đây là một sức mạnh cần phải tính tới.

Một trong những chiến lược đầu tiên của Weishaupt là kết đồng minh với

Hội Tam Điểm, một nước đi cho thấy thành công ngay từ đầu. Trong vòng ít năm “Hội Tam Điểm được Khai Sáng” hoạt động tích cực trong vài xứ Âu châu. Nhưng khi chi tiết về những mục tiêu thực sự của nó bị bại lộ ra ngoài, công luận quay lưng chống lại họ cho đến tháng 8 1787, Bavaria tuyên bố rằng tuyển mộ thành viên cho Illuminati là một tội tử hình. Điều này càng khiến cho hội trốn vào bí mật sâu kín hơn nhưng nó cũng cảnh tỉnh Weishaupt là tầm nhìn của mình sai sót nghiêm trọng. Sau khi chối bỏ dòng tu của mình và viết thư xin lỗi nhân loại, Weishaupt hòa giải với Cơ đốc giáo  và trải những năm cuối đời góp công xây dựng một nhà thờ mới ở Gotha.

Trong thời gian hạn hẹp của Illuminati nhiều câu chuyện loan truyền rằng hội có trách nhiệm gây ra vụ bùng phát và phát triển của Cách Mạng Pháp. Việc  giao lưu ngắn ngủi giữa Illuminati và Hội Tam Điểm nảy sinh một giai thoại vẫn còn tồn tại trong nhóm những người ghiền thuyết âm mưu đến tận ngày nay. Những người phê phán Hội Tam Điểm tiếp tục khăng khăng rằng các bậc sư phụ  của hội Illuminati vẫn còn điều khiển Hội Tam Điểm và những hội kín khác, nguyện biến kế hoạch ban đầu thống trị thế giới thành hiện thực.

HỘI TAM ĐIỂM MƯU SAT TỔNG THỐNG MỸ GEORGE WASHINGTON.

Theo thuyết này, Washington từ chức Hội Tam Điểm và dự tính công khai những hành động đáng quở trách của nó  trước công luận. Người ta cho rằng ông nổi giận vi dự án của Hội Tam Điểm định dựng một đài kỷ niệm mang tên ông, có hình dáng mà ngài tổng thống thấy không phù hợp. Ông cho rằng nó là biểu tượng Tháp Dương vật của Quỷ vương Baal. Để làm câm miệng Quốc Phụ của Hoa Kỳ, chuyện kể rằng,  ông bị các bác sĩ của Hội Tam Điểm trích huyết  bốn lần vào ngày ông chết. Hội Tam Điểm đã nhất trí rằng việc này sẽ xảy ra vào ngày 31/12/1799, ngày cuối cùng của thế kỷ 18. Mặc dù có sự chống đối của Washington, Đài Kỷ Niệm Washington có dáng dương vật được xây dựng, cao đến 555 bộ – trùng với mật mã cổ, có nghĩa là “ám sát”  trong tôn giáo Lucifer.

hqdefault

Đài Tưởng niệm Washington ở thủ đô Hoa Kỳ

Ý tưởng kỳ khôi này nghe cũng ngồ ngộ. Trích huyết là một thủ thuật y khoa dược chấp nhận ở thế kỷ 18, Washington chết vào ngày 14/12/1799, không phải ngày 31/12, các thảo luận về Đài Kỷ Niệm Washington chỉ bắt đầu ít nhất một tuần sau khi ông chết, và không có tham khảo đáng tin nào tồn tại liên quan đến tôn giáo Lucifer cho rằng số 5 là biểu tượng của cái chết hoặc số 555 là mật mã cho sự ám sát.

CÁC ĐƯỜNG PHỐ CỦA WASHING DC MÔ TẢ NHỮNG BIỂU TƯỢNG DÍNH LÍU ĐẾN HỘI TAM ĐIỂM VÀ QUỶ SATAN.

Như hầu hết những đồng nghiệp của mình, kiến trúc sư Pierre Charles L’Enfant là một thành viên Hội Tam Điểm khi được mời thiết kế trung tâm chính quyền liên bang ở Washington DC vào năm 1791. Những nguồn tài liệu nói rằng L’Enfant bị Washington lẫn Jefferson gây sức ép phải tạo ra một loạt những biểu tượng huyền bí ác xấu tiêu biểu Hội Tam Điểm và dán nhãn hiệu thống trị vĩnh viễn của nó đối với chính tình Hoa Kỳ. Trong số những biểu tượng in đậm nét trên bản đồ bố trí đường xá là hình ngũ giác ác xấu, hình tháp cổ điển của Hội Tam Điểm và một hình đại diện của chính quỷ sứ (các hình này tạo ra bằng cách nối vị trí các công sở quan trọng của nhà nước như tòa nhà Quốc hội, Nhà Trắng, Đài Tưởng niệm Washington, Đài Tưởng niệm Jefferson . . . ) , tất cả những điều này thể hiện những toan tính ác xấu của Hội Tam Điểm và quyền lực tuyệt đối của chúng đối với nước Mỹ.

Tính vô lý của những lời tuyên bố như thế là hiển nhiên. Hình sao năm cánh không phải là biểu tượng xấu ác duy nhất, cũng không có vai trò gì trong thư tịch Hội Tam Điểm. Hơn nữa, làm sao sự hiện diện của nó có thể tạo ra tác động gì trên những vấn đề của Hoa Kỳ, nói chi đến liên quan với thế giới? Hình tam giác  có thể được vẽ ra trên bất kỳ bản thiết kế đường phố của bất kỳ cộng đồng nào trên thế giới, và cái gọi là bản sao của Satan có thể tìm thấy trong một lớp nghệ thuật nhà trẻ, nhưng không có mặt trong chốn người lớn chín chắn.

image013

Trong một nỗ lực để chứng tỏ sự không chế của Hội Tam Điểm vào đời sống Hoa Kỳ, các lý thuyết gia âm mưu tìm thấy những hình ảnh có mùi satan trong bản thiết kế của Washington DC.

HỘI TAM ĐIỂM SÁT HẠI NHỮNG AI ĐE DOẠ TIẾT LỘ NHỮNG CHÍNH SÁCH VÀ NGHỊ TRÌNH BÍ MẬT.

Không biết gì nhiều về William Morgan, nhưng có thể giả định rằng ông ta là một người có nhiều lỗi lầm. Ra đời tại Hạt Culpepper, Virginia vào năm 1774, ông và cô vợ trẻ chuyển đến Canada, nơi ông lao vào nghề nấu rượu. Một trận hoả hoạn bí ẩn thiêu rụi cơ sở làm ăn, khiến Morgan trở về Mỹ, nơi ông định cư ở New York và, sau vài vụ làm ăn thất bại, xoay sở gia nhập Hội Tam Điểm. Khi ông bị bác đơn xin gia nhập vào một chi nhánh Tam Điểm mới ở Batavia, New York – ông bị kết tội, có  chứng cứ hẳn hoi, là một người lừa đảo – ông trả thù bằng cách viết một cuốn sách tấn công Hội Tam Điểm. Việc này kéo theo một chuỗi dài những sự kiện bắt đầu bằng một trận hoả hoạn trong nhà in đã in cuốn sách của ông, việc bắt giam ba thành viên Hội Tam Điểm vì tội phóng hỏa, một loạt vụ bắt bớ liên quan đến những lời đe dọa nhắm vào Hội Tam Điểm do Morgan thực hiện, và một trận đánh tiếp diễn giữa ông và tổ chức.

Morgan biến mất vào năm 1826. Rồi một tháng sau, khi một thi thể phân hủy nặng được tìm thấy trôi nổi trên hồ Ontario, nhiều người tuyên bố đó là di hài của Morgan. Vợ ông mới đầu không nhận là di thể của chồng mình, rồi sau nhận là đúng, và cuối cùng không nhận một lần nữa trước khi chuồn đến New York để trở thành một trong số vài bà vợ của Joseph Smith, người sáng lập Giáo hội Mormon. Sau đó, một số nhân chứng khai rằng họ đã nhìn thấy Morgan khi thì ở Boston, khi thì ở Thành phố Quebec (Canada) và  khi ở vài địa điểm khác, đã có một nhân thân mới và một bà vợ mới.

Thi thể trôi nổi đó cho dù là ai, sự kiện đủ để châm dầu cho tin đồn Morgan đã sẵn sàng để tiết lộ những bí ẩn đen tối và sâu kín của những hoạt động Hội Tam Điểm chưa được đề cập đến trong quyển sách của mình. Không có gì nắm bắt óc tưởng tượng của quần chúng bằng một bí mật hấp dẫn, nhất là những bí mật thách thức lời giải, và bí mật của William Morgan đã đủ bền bĩ để ủng hộ cho niềm tin về một Hội Tam Điểm sát thủ trong gần 200 năm.

CÁC NGHI THỨC CỦA HỘI TAM ĐIỂM CÓ TÍNH ÁC XẤU VÀ LẬT ĐỔ

Đối với nhiều người không chia sẻ những mục tiêu huynh đệ của Hội Tam Điểm, một sự mô tả chính xác hơn những nghi thức của họ có thể là ngu ngốc và hợp với đám thiếu niên.

Hội Tam Điểm chia thang vị thứ của họ từ 1 đến 33, bậc 33 biểu thị đỉnh cao của sự viên mãn cá nhân. Bậc 1, mới được phong thành viên, được nhận sau khi người mới nhập môn ăn mặc theo một phong cách đặc biệt, buộc phải bịt mắt, và được dẫn đến một cánh cửa khóa kín. Việc y gõ cửa và được cho vào tượng trưng cho việc y khởi hành từ thế giới bên ngoài và bước vào Nội Điện của Hội Tam Điểm. Sau khi trả lời những câu hỏi liên quan đến khả năng làm theo những nguyên tắc Hội Tam Điểm, và hứa không bao giờ tiết lộ những bí mật của tổ chức, người nhập môn cảm nhận đầu nhọn của cái compa ấn vào ngực mình, và y được hỏi, “Anh muốn gì?” Với câu trả lời mang tính nghi thức “Thêm ánh sáng,” khăn bịt mắt được cởi ra và người nhập môn có thể nhìn thấy những thành viên đồng môn lần đầu tiên, một lần nữa có ý nghĩa tượng trưng.

HỘI TAM ĐIỂM RẤT KHÉO LÉO TRONG VIỆC LỪA BỊP CÔNG CHÚNG

“Lừa bịp” trong trường hợp này có nghĩa là “bịt mắt”. Nghi thức nhập môn bao gồm ứng viên phải bịt mắt trong cuộc tra hỏi. Qua năm tháng, ý nghĩa của từ”bịt mắt” tiến hóa thành sự lừa bịp, trong ý nghĩa là Hội Tam Điểm trông vậy mà không phải vậy.

Trong số những người phê phán Hội Tam Điểm dữ dội nhất là Giáo hội Thiên chúa. Họ phát động sự thù địch và ngờ vực đối với Hội Tam Điểm cho giáo dân Thiên chúa gần như ngay từ đầu. Ngay từ 1738, Giáo Hoàng Clement xii kết án Hội Tam Điểm, rằng “Chúng tôi ra lệnh cho các con chiên hãy tránh giao du với những hội này. . . để khỏi mất phép thông công, là hình phạt dành cho bất cứ ai đi ngược với với lệnh này.” Rõ ràng là Giáo hội không chỉ bực tức; họ nổi giận và có lẽ hăm dọa.

Một vài năm sau, người kế vị Clement, Benedict xvi, nhận dạng 6 mối nguy mà Hội Tam Điểm đặt ra cho người Thiên chúa: (a) tính đa  tín ngưỡng của Hội Tam Điểm; (b) tính bí mật của hội;  (c) lời tuyên thệ của hội; (d) tính chống đối với giáo hội và nhà nước; (e) sự cấm đoán nghiêm nhặt đối với hội trong vài nước bởi những nguyên thủ và (f) sự bại hoại của hội.

Sự gay gắt từ thế kỷ 18 này đến thế kỷ 21 khai sáng vẫn chưa phai nhạt đi, và không chỉ giới hạn đến mối hận thù truyền thống của đạo Thiên chúa. Vào tháng 11 2002 Tổng Giám mục Canterbury, Tiến sĩ Rowan William, lên án Hội Tam Điểm là không phù hợp với Cơ đốc giáo bởi tính bí mật và có thể bởi những tín điều “có thể do quỷ Satan xúi giục” của nó. Một phát biểu sớm hơn của Hội Báp-tít miền Nam kết án Hội Tam Điểm tiến hành những nghi thức ngoại giáo dựa vào sự thần bí, dẫn tới việc giáo phái 16 triệu người này gán cho Hội Tam Điểm là “báng bổ”.

Số thành viên trong mọi câu lạc bộ dịch vụ vọt lên tới đỉnh trong thập niên 1920 và 1930 ở Bắc Mỹ, bước vào đợt suy thoái kéo dài trong những năm sau Thế Chiến II. Trong thập niên 1960, số hội viên Hội Tam Điểm ước tính 4 triệu; đến năm 2000 rút xuống còn 1.8 triệu khi xã hội quay đi khỏi các bang hội để theo đuổi những hội nhóm khác hấp dẫn hơn như các đội thể thao chuyên nghiệp hoặc nhóm nhạc. Về số lượng cũng như về quyền lực Hội Tam Điểm chỉ còn là bóng mờ của một tổ chức lừng lẫy  đã gây ảnh hưởng suốt thế kỷ 19 và một phần thế kỷ 20.

Dù số hội viên đã sụt giảm nhiều và tên tuổi đã xuống, Hội Tam Điểm vẫn còn được một số xem là mối đe doạ cho thế giới nói chung và nước Mỹ nói riêng, và đối với nhiều người khi được hỏi “hội kín” là thế nào thì đầu óc họ nảy ra ngay đến Hội Tam Điểm.

Nhưng bí mật làm sao được trong thời đại kỹ thuật số ngày nay khi những nơi hội họp của Hội được nhận diện dễ dàng qua các thành viên quá nổi tiếng? Và làm thế nào hội kín này có thể ôm ấp những mưu tính gây chết chóc trong khi nó huênh hoang trong số những thành viên cao cấp nhất của mình trong lịch sử hội là ngài Duke Ellington vĩ đại, người mà hoạt động có tính lật đổ nhất  có thể làm là độc tấu dương cầm. (Duke Ellington là nhà soạn nhạc, nhạc sĩ dương cầm và trưởng ban nhạc jazz lừng danh suốt 6 thập niên: ND).


(còn tiếp)

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s