Qua sử chí Trung Quốc hãy tìm hiểu về chủ quyền nước này tại Biển Đông

10

Bản đồ TQ có tên “Trung Hoa dân quốc toàn đồ”, vẽ trong khoảng thời gian 1911-1949, không có Hoàng Sa, Trường Sa

 

Hồ Bạch Thảo

Mặc dù năm 2016 toà Quốc tế La Haye phán quyết rằng tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc về hàng hải và tài nguyên Biển Đông đều không hợp với luật pháp quốc tế; một yếu nhân Trung Quốc, Thứ trưởng ngoại giao Lưu Chấn Dân [劉振民] vẫn ngạo mạn tuyên bố rằng phán quyết đó chỉ là tờ giấy lộn.Bởi vậy cần thêm một lần nữa,đi vào sử, chí, các triều đại Trung Quốc, để tìm hiểu kỹ xem nước này thực sự có chủ quyền về các đảo trên Biển Đông hay không?

Trung Quốc là một nước văn hiến, theo truyền thống nước này mỗi triều đại đều có một bộ sử lớn, gộp lại  mệnh danh là Nhị Thập Ngũ Sử [Twenty-five History Books]; ngoài ra lại có hàng trăm bộĐịa Lý Chí. Nếu Trung Quốc thực sự chủ quyền đảo nào trên Biển Đông, ắt phải ghi rõ trong sử, chí của triều đình; ngược lại nếu sử, chí Trung Quốc không chép , thì rõ ràng nước này không thể hành sử chủ quyền về biển đảo.

Lại cần nói thêm, các vị lãnh đạo Trung Quốc từng tuyên bố tại Mỹ và Việt Nam rằng họ có chủ quyền không thể tranh cãi trên biển Nam Hải [Biển Đông] từ thời nhà Hán; thể theo lời tuyên bố này, chúng ta hãy bắt đầu nghiên cứu các sử, chí Trung Quốc từ đời Hán. 

1.Đời Hán:

1.Hai bộ sử lớn đời Hán đều có ghi phần Địa Lý Chí. Bộ Hán Thư [漢書,Book of Han] do Ban Cố thời Đông Hán soạn, sách gồm 100 quyển. Trong đó quyển 28 hạ, ghi chép đảo duy nhất với giới hạn ngang dọc 1000 lý tức đảo Hải Nam; được chia thành 2 quận Đam Nhĩ, Châu Nhai vào năm _110, lúc Hán Vũ Đế đánh nước Nam Việt của nhà Triệu. Rồi sau đó dân địa phương nỗi dậy, nên đến thời Hán Nguyên Đế [_46] phải bỏ đất này:

Quyển 28 hạ, Địa Lý Chí

Đam Nhĩ, Châu Nhai:

“Từ phía nam huyện Từ Văn, quận Hợp Phố đi ra biển, có một châu lớn; đông, tây, nam, bắc rộng ngàn lý, vào thời Hán Vũ đế năm Nguyên Phong thứ nhất [-110] chiếm, chia thành các quận Đam Nhĩ, Châu Nhai. Dân mặc vải bố quấn trùm xuyên qua đầu; đàn ông làm ruộng trồng lúa, nếp, tơ gai; đàn bà dệt tơ tằm. Dân lầm ngựa với cọp, chỉ có 5 loại gia súc (1), trong núi có nhiều con hoãng. Binh khí có mâu, thuẫn, đao, cung nõ, tên mũi nhọn bằng xương. Lúc mới chia thành quận huyện, bọn binh lính quan lại Trung Quốc ra tay xâm bức, nên được mấy năm thì dân làm phản; vào thời Nguyên Đế [-46] phải bãi bỏ đất này….”

[自合浦徐聞南入海,得大州,東西南北方千里,武帝元封元年略以為儋耳、珠崖郡。民皆服布如單被,穿中央為貫頭。男子耕農,種禾稻紵麻,女子桑蠶織績。亡馬與虎,民有五畜,山多麈嗷。兵則矛、盾、刀,木弓弩,竹矢,或骨為鏃。自初為郡縣,吏卒中國人多侵陵之,故率數歲壹反。元帝時,遂罷棄之。]

Xin lưu ý, 1 lý đời Hán=415.8 mét; như vậy đông tây nam bắc rộng 1000 lý tức vào khoảng 415 km, cũng tương đương với đảo Hải Nam hiện nay.

Vào đầu thờiHán Quang Vũ, đất Châu Nhai được thu phục trở lại. Phần địa lý chí trongbộ Tục Hán Thư [續漢書, Continued Book of Han] của Tư Mã Bưu ghi Châu Nhai lúc bấy giờ là một huyện thuộc quận Hợp Phố:

“Quận Hợp Phố do Vũ Đế đặt, cách Lạc Dương 9.191 lý phía nam, có 5 huyện thành; 23.131 hộ, 86.617 nhân khẩu: Hợp Phố, Từ Văn, Cao Lương, Lâm Nguyên, Châu Nhai.”

[合浦郡武帝置。雒阳南九千一百九十一里。五城,户二万三千一百二十一,口八万六千六百一十七。〖合浦〗〖徐闻〗〖高凉〗〖临元〗〖朱崖〗]

Xét 2 bộ sử đời Hán, chép phần cực nam; ngoài đảo Hải Nam tức Châu Nhai, Đam Nhĩ, không ghi thêm đảo nào khác.

  1. Nhà nghiên cứu Trung Quốc Hàn Chấn Hoa, trong tác phẩm Ngã Quốc Nam Hải Chư Ðảo Sử Liệu Hối Biên[我國南海諸島史料滙编NQNHCÐSLHB] (2) nêu lên sử liệu về Trướng Hải trong sáchDị Vật Chí [异物志] của Dương Phù đời Ðông Hán. Sách này tuy đã thất truyền nhưng được các tác gỉả Trung Quốc đời Tống, Minh, Thanh nhắc lại như sau:

“Tại Trướng Hải Kỳ Ðầu nước cạn nhưng nhiều đá nam châm, thuyền lớn đi ngoài cõi  ,dưới thuyền gắn lá sắt sẽ bị nhổ ra.”

[漲海崎頭水淺而多磁石,徼外大舟,錮以鐵葉值之多拔]

Với sử liệu của Dương Phù, Hàn Chấn Hoa khẳng định rằng Trướng Hải tức biển Nam Hải, trong đó có các đảo như Tây Sa [Paracel Islands], Nam Sa [Spratly Islands] đều thuộc lãnh thổ Trung Quốc:

“Các sách địa phương chí đời Thanh và cận đại nói về đảo tại biển Nam đều trích dẫn đoạn văn này tại Dị Vật Chí. Thấy được Trướng Hải Kỳ Ðầu cùng truyền thuyết về nam châm tại Trướng Hải hút đinh sắt của thuyền có liên quan đến các quần đảo Tây Sa  và Nam Sa  tại vùng biển Nam Hải.”

Đây là điều sai lầm cố ý, muốn biến chủ quyền của người, thành của mình; bởi lẽ ngay thư tịch cổ Trung Quốc, có nhiều sử liệu chứng minh Trướng Hải tức Biển Đông thuộc Việt Nam:

-Sách Hậu Hán Thư [後漢書] của Tạ Thừa [謝承], tại quyển 1 chép:

“…7 quận Giao Chỉ cống hiến, đều từ Trướng Hải vào [Trung Quốc]….7 quận Giao Chỉ hiến long nhãn… Trên đây thuộc Thứ sử bộ Giao Châu….”

[…交趾七郡貢獻,皆從漲海出入..交趾七郡獻龍眼…以上屬交州刺史部]

Dưới thời Bắc thuộc, quan lại cai trị thường lấy long nhãn từ Giao Châu đem tiến cống; Giao Châu thời Hán vị trí tại miền bắc Việt Nam hiện nay. Nhãn nỗi tiếng tại tỉnh Hưng Yên, thuộc lưu vực sông Hồng; từ đó chở về Trung Quốc phải qua vùng biển thuộc các tỉnh Hải Dương, Quảng Ninh ngày nay; đó là Biển Đông của Việt Nam.

-Lời chú sách Nhĩ Nhã [尔雅]của Quách Phác đời Tấn có đoạn như sau:

Ốc loa lớn như cái đấu sinh ra từ Trướng Hải quận Nhật Nam, có thể dùng làm chén uống rượu.”

[螺大者如斗, 出日南漲海中, 可以爲酒]

Theo nghiên cứu của Học giả Đào Duy Anh (3) lãnh thổ quận Nhật Nam đời Tấn khoảng từ tỉnh Quảng Bình đến đèo Hải Vân, Đà Nẵng. Như vậy vùng biển miền Trung Việt Nam thuộc Trướng Hải; hay nói một cách khác Trướng Hải tức Biển Đông.

-Tại nước Việt Nam dưới thời Tiền Lê, trong cuộc tiếp xúc với Sứ thần Trung Quốc Lý Nhược Truất vào năm Bính Thân [996], vua Lê Đại Hành đã khẳng định chức phận của An Nam là giữ an ninh biển Trướng Hải.Tổng sử[宋史, History of Song] quyển 488, Liệt truyện Giao Chỉ, trích dẫn như sau :

Hoàn ngạc nhiên dời chiếu đứng dậy nói : Hải tặc phạm biên, là tội của thủ thần ; Thánh quân khoan dung, ơn quá cha mẹ, không gia tru phạt. Từ nay cẩn thận giữ chức phận đã giao, giữ yên nơiTrướngHải.”

 [桓愕然避席,曰:「海賊犯邊,守臣之罪也。聖君容貸,恩過父母,未加誅責。自今謹守職約,保永清於漲海].”

Lời nói của vua Lê Đại Hành khẳng định Trướng Hải thuộc Việt Nam và nhà vua hứa với vua Tống giữ gìn an ninh vùng biển này.

Chú thích:

1.Gia súc nguyên có 6, gọi là lục súc gồm: ngựa, trâu bò, dê, chó, lợn gà. Nhưng người đảo Hải Nam [Châu Nhai, Đam Nhĩ] thời bấy giờ không cho ngựa là gia súc, nên chỉ có 5 loại.

2.Hàn Chấn Hoa, Ngã Quốc Nam Hải Chư Đảo Sử Liệu Hối Biên [我國南海諸島史料滙编], trang 23; Nhà xuất bản Hạ Môn Ðại Học Nam Dương Nghiên Cứu Sở, Trung Quốc, 1985.

3.Đào Duy Anh, Đất Nước Việt Nam Qua Các Đời, NXB Thuận Hoá: Huế, 1994, trang78.

  

2.Lục Triều:

1.Lục Triều gồm các triều đại Tam Quốc, Tấn, Tống, Tề, Lương, Trần; mỗi triều đều có sử riêng. Sử đời Tấn có Tấn Thư [,Book of Jin] do Phòng Huyền Linh đời Đường Chủ biên, trong quyển 15, Địa Lý Hạ, chép về Giao Châu, tức châu cực nam giáp biển; cho biết đời Ngô [Tam Quốc] lại đặt đảo Hải Nam thành quận Châu Nhai, đến đời Tấn thì ghép Châu Nhai vào quận Hợp Phố:

 “Năm Xích Ô thứ 5 [242] lại đặt quận Châu Nhai” …“Sau khi bình Ngô, nhà Tấn ghép Châu Nhai vào quận Hợp Phố

[赤烏五年,復置珠崖部…平吳後,省珠崖入合浦]

2.Chính sử thời Lục Triều chỉ ghi nhận đảo Hải Nam là đảo cực nam Trung Quốc, nhưng Hàn Chấn Hoa trong NQNHCÐSLHB cố vin vào sách Phù Nam Truyện [扶南傳] của Khang Thái đời Tấn để chứng minh các đảo Tây Sa [Paracel Islands], Nam Sa [Spratly Islands] đều thuộc lãnh thổ Trung Quốc. Sách Phù Nam Truyện đã thất truyền, được Lý Phương đời Tống trích dẫn từ bộThái Bình Ngự Lãm [太平御覧], trong đó có câu :

Từ Trướng Hải đến bãi San Hô, dưới bãi có đá bàn thạch, san hô sinh trong đó.”

 [漲海中, 到珊瑚洲, 洲厎有盤石,珊瑚生其上也]

Hàn Chấn Hoa vin vào 3 chữ “ San Hô châu ” để nêu lên đây là đảo Tây Sa [Hoàng Sa] và Nam Sa [Trường Sa] là những đảo tại Nam Hải được cấu tạo bởi san hô. (1). Nhận xét như vậy không hợp lý, vì san hô có nhiều nơi trên biển; nào phải chỉ dành riêng cho các đảo Tây Sa, Nam Sa!

Hãy bàn thêm về Khang Thái, ông giữ chức Trung lang thời Ngô Tôn Quyền. Năm Xích Ô thứ 6 [243] được Thứ sử Giao Châu Lữ Đại sai đến các nước phương nam tuyên dương giáo hoá Trung Quốc. Lúc trở về nước soạn quyển sách “Ngô Thời Ngoại Quốc Truyện吳時外國傳” ghi chép hàng trăm nước, nay đã thất truyền, chỉ còn lại 35 nước như Phù Nam, Nhật Nam, Thiên Trúc vv…Các sách đời sau như Thuỷ Kinh Chú, Thái Bình Ngự Lãm gọi là “Khang TháiPhù Nam Truyện”. Nguyên nhan đề “Ngô Thời Ngoại Quốc Truyện”, chứng tỏ Khang Thái chép truyện về ngoại quốc thời Ngô, trong đó có Trướng Hải; và như đã chứng minh tại mục 1 Đời Hán rằng Trướng Hải thuộc Việt Nam; vậy các vùng san hô Khang Thái đề cập cũng thuộc Việt Nam.

3. Trong bài văn phúng điếu Tống Vũ Đế Lưu Dụ của danh sĩ Tạ Linh Vận [謝靈運, 385-433], có câu văn ca tụng Vũ Đế dẹp cuộc nỗi dậy của Lô Tuần như sau:

Hoằng nguy tế hiểm, nhĩ nan thích đãi, hổ kỵ giá thấp, châu sư Trướng Hải.

弘危濟險,弭難釋殆。虎騎駕濕,舟師漲”   

(Trong mối nguy lớn cứu vớt nguy hiểm, trừ bỏ gian nan; như cửi lưng cọp vào chỗ thấp, thuyền binh xông vào Trướng Hải.)

Hàn Chấn Hoa trongNQNHCÐSLHB đã vin vào 4 chữ “châu sư Trướng Hải” của Tạ Linh Vận rồi lập luận một cách ba hoa rằng:

 “Năm 410 Lô Tuần tiến quân vây Kiến Nghiệp [Nam Kinh] bị Lưu Dụ đánh bại; Lô Tuần chạy về các nơi tại duyên hải Giao Châu, Năm 411 lại đánh nhau, Thứ sử Giao Châu Đỗ Tuệ Độ giết Lô Tuần; bộ hạ Lô Tuần chạy trốn ra hải ngoại. Tạ Linh Vận ghi Tống Vũ Đế “cửi lưng cọp vào chỗ thấp, thuyền binh xông vào Trướng Hải”, tức điều suất hải quân cùng với Lô Tuần chiến đấu tại bao quát các đảo Nam Hải tại nam Trung Quốc. Thuyết minh các đảo Nam Hải tại thời Đông Tấn do hải quân nước ta tuần tiễu cai quản” (2)

Sau khi đọcTấn Thư phần Kỷ, quyển 10, và Tống Thưphần Bản Kỷ quyển 2 và Liệt Truyện quyển 52về đầu đuôi việc đánh dẹp Lô Tuần, thấy được rằng:

-Trong các cuộc hành quân chống Lô Tuần, Tống Vũ Đế Lưu Dụ đích thân chỉ huy tại vùng lưu vực sông Trường Giang, ông chưa hề đến Trướng Hải hoặc Giao Châu.

– Hai bộ sử trích dẫn không chép việc nhà Tấn tuần tiễu cai quản các đảo tại Nam Hải.

-Bốn chữ “Châu sư Trướng Hải” nằm trong bài văn tế chỉ mô tả tổng quát việc quân Tấn tại thành Giao Châu [Long Biên, Việt Nam] do Thứ sử Đỗ Tuệ Độ chỉ huy đánh giết  cha con Lô Tuần. Phần Liệt Truyện Đỗ Tuệ Độ trong quyển 92 Tống Thư [宋書 Book of Song]do Thẩm Ước đời Lương soạn, xin trích dẫn như sau:

“…Vào mùa xuân năm đó[Nghĩa Hy thứ 7, năm 411], Lô Tuần tập kích Hợp Phố rồi mang quân thẳng đến Giao Châu [Việt Nam]. Tuệ Độ bèn mang quân văn võ chống cự Tuần tại Thạch Kỳ, bắt viên Trưởng sử Tôn Kiến Chi. Tuần tuy bại, còn dư đảng 3.000 tên, được tập luyện binh sự. Bọn Lý Tử Tốn, Lý Dịch, Lý Thoát đến đóng tại Thạch Kỳ; cấu kết với nhóm Lý, Liêu; các phe đều có đồ đảng. Tuần biết rằng bọn Dịch với họ Đỗ vốn kết oán, bèn sai sứ đến chiêu dụ; Dịch bèn dẫn đồng bọn 5,6 ngàn người, dưới quyền tiết chế của Tuần. Tháng 6, Tuần mang đại quân vào lúc sáng sớm đến bến phía nam, mệnh ba quân đánh gấp để vào thành [Giao Châu] ăn sáng. Tuệ Độ dốc hết tiền tài cả họ để dùng vào việc khuyến thưởng. Em Tuệ Độ là Thái thú Giao Chỉ Tuệ Kỳ, Thái thú Cửu Chân Chương Dân cũng đốc suất quân thuỷ bộ; Tuệ Độ ngồi trên thuyền lớn đốc chiến, dùng tên lửa như đuôi chim trĩ bắn vào thuyền giặc, quân bộ hai bên bờ cũng bắn yểm hộ. Thuyền của Tuần bị tên lửa, tan vỡ; Tuần trúng tên rơi xuống nước chết. Quan quân chém đầu Tuần cùng cha là Hỗ, 2 con của Tuần; cùng bọn thân thuộc như Lục sự tham quân Nguyễn Tĩnh, Trung quân tham quân La Nông Phu, Lý Thoát; tất cả đều mang đầu về kinh. Tuệ Độ được phong Long biên huyện hầu, lãnh thực ấp 1.000 nhà.

[其年春,盧循襲破合浦,徑向交州。慧度乃率文武六千人距循於石碕,交戰,禽循長史孫建之。循雖敗,餘黨猶有三千人,皆習練兵事。李子遜李弈、李脫等奔竄石碕,盤結俚、獠,各有部曲。循知弈等與杜氏有怨,遣使招之,弈等引諸俚帥眾五六千人,受循節度。六月庚子,循晨造南津,命三軍入城乃食。慧度悉出宗族私財,以充勸賞。弟交趾太守慧期、九真太守章民並督率水步軍,慧度自登高艦,合戰,放火箭雉尾炬,步軍夾兩岸射之。循眾艦俱然,一時散潰,循中箭赴水死。斬循及父嘏,並循二子,親屬錄事參軍阮靜、中兵參軍羅農夫、李脫等,傳首京邑。封慧度龍編縣侯,食邑千戶。]

Chú thích:

1 Ngã Quốc Nam Hải Chư Ðảo Sử Liệu Hối Biên [我國南海諸島史料滙编] , sđd, trang 25.

2 Ngã Quốc Nam Hải Chư Ðảo Sử Liệu Hối Biên [我國南海諸島史料滙编] , sđd, trang 28-29.

 

 3.Các đời Tuỳ, Đường.

1.Tuỳ Thư [隋書, Book of Sui]do Nguỵ Trưng đời Đường soạn, trong phần Chíchép nhà Tuỳ đặt 190 quận; đảo Hải Nam được gọi là quận Châu Nhai, là đảo cực nam nước này, với chi tiết như sau, trong quyển 31:

-Quyển 31, Chí thứ 26: Địa lý hạ.

Quận Châu Nhai đời Lương gọi là Nhai Châu, có 10 huyện thống thuộc, 19.500 hộ. Gồm: Nghĩa Luân kèm theo quận lỵ, Cảm Ân, Nhan Lô, Tỷ Thiện,Xương Hoá có núi Đằng Sơn;Cát An, Diên Đức, Ninh Viễn, Trừng Mại, Vũ Đức có núi Phù Sơn.

[珠崖郡梁置崖州。統縣十,戶一萬九千五百。

義倫帶郡。感恩顏盧毗善昌化有藤山。吉安延德寧遠澄邁武德有扶山]

Tiếp đến sách Tân Đường Thư [新唐書, New Book of Tang] do Âu Dương Tu đời Tống soạn, trong quyển 43, phần Chí, ghi nhận vào thời Đường Túc Tông Càn Nguyên thứ nhất [758] lãnh thổ đảo Hải Nam được chia thành 5 châu, trực thuộc đạo Lĩnh Nam; với chi tiết như sau:

-Châu Nhai có 3 huyện: Xá Thành, Trừng Mại, Văn Xương.

-Châu Quỳnh có 5 huyện: Quỳnh Sơn,Lâm Cao, Tăng Khẩu, Lạc Hội, Nhan La.

-Châu Chấn có 5 huyện:Ninh Viễn, Diên Đức, Cát Dương, Lâm Xuyên, Lạc Đồn.

-Châu Đam có 5 huyện: Nghĩa Luân, Xương Hoá, Cảm Ân, Lạc Trường, Phú La.

-Châu Vạn An có 4 huyện:Vạn An, Lăng Thuỷ, Phú Vân, Bác Liêu.           

Cả hai bộ cũng chỉ đề cập đến đảo Hải Nam là đảo duy nhất tại phương nam.

2.Trong NQNHSLHBHàn Chấn Hoa cũng dẫn chứng Tuỳ Thư [隨書], nhưng với dụng ý khác, ông tránh phần Địa Lý Chí đề cập ở phần trên, chỉ trích dẫn đoạn văn về cuộc hành trình đến nước Xích Thố (1) của Sứ giả Thường Tuấn trong phần phần Liệt Truyện (2) như sau:

“Tháng 10 năm Ðại Nghiệp thứ 3 [607] bọn Thường Tuấn từ quận Nam Hải đáp thuyền, qua ngày đêm 2 tuần, gặp gió thuận đến đảo Tiêu Thạch Sơn, rồi qua đông nam ghé đến châu  Lăng Già Bát Bạt Ða, phía tây đối diện với nước Lâm Ấp, tại đó có đền thờ thần.

大業三年十月, 常駿等自南海郡乘舟,晝夜二旬,每值便風至焦石山,而過東南,泊陵伽鉢拨多洲,西與林邑對,上有神祠焉”

Trong phần nhận xét (3) Hàn Chấn Hoa cho rằng địa danh “Tiêu Thạch” và Pracel của Tây phương nghĩa giống nhau, người Tây phương gọi Tây Sa [Hoàng Sa] là Pracel ; như vậy phái bộ Thường Tuấn đã đi qua đảo Tây Sa.

Hai địa danh nghĩa giống nhau như thế nào thì họ Hàn không hề giải thích; nhưng dù hai địa danh giống nhau cả âm lẫn nghĩa, cũng không thể đồng hóa làm một; bởi vậy cho Tiêu Thạch là Paracel là một điều vô lý. Ngoài ra lại còn đáng nói thêm, cho dù Thường Tuấn có thực sự đi qua đảo Paracel, cũng không thể vì lý do này mà có thể dành chủ quyền biển đảo cho Trung Quốc; vì chẳng lẽ người Trung Quốc bước chân đến đâu thì họ có chủ quyền đến đó?

3.Về đời Đường, Hàn Chấn Hoa trích một đoạn văn  của Giả Ðam trong sách Quảng Châu Thông Hải DiĐạo [廣州通海夷道]  đề cập đến địa danh Tượng Thạch  như sau :

“Từ phía đông nam Quảng Châu hải hành 200 lý đến Ðồn Môn Sơn, lại dương buồm đi tiếp 2 ngày đến Cửu Châu Thạch,lại đi về phía nam 2 ngày đến Tượng Thạch, đi tiếp về phía tây nam 3 ngày đến núi Chiêm Bất Lao, núi tại phía đông nước Hoàn Vương 200 lý.”

[廣州東南海行二百里, 至屯門山,   乃帆風西行二日, 至九州石, 又南二日至象石, 又西南三日行至占不勞山, 山在環王國東二百里海中.](4)

Mặc dầu địa danh  Tượng Thạch nêu lên trong sử liệu này đã được học gỉả Phùng Thừa Quân  馮承鈞,một nhà nghiên cứu lịch sử nổi tiếng vào tiền bán thế kỷ thứ 20, cho rằng đó là đảo Ðại Châu, sách xưa gọi là Ðộc Châu lãnh, thuộc huyện Vạn Ninh, tỉnh Hải Nam, và Hoàn Vương quốc là nước Chiêm Thành, Cửu Châu Thạch tức núi Thất Châu; nhưng họ Hàn vẫn khẳng định rằng Tượng Thạch là quần đảo Tây Sa [Paracel] mà không nêu lý do. Ý họ Hàn muốn chứng tỏ “Quảng Châu thông hải Di đạo” tức đường thông suốt từ Quảng Châu [Quảng Đông] đến các nước Di phương nam phải qua quần đảo Paracel. Điều này trái với lời cảnh cáo của các nhà hàng hải biển Đông, sách Đông Tây Dương Khảo[quyển 9, mục Châu Sư Khảo] của Trương Tiếp đời Minh báo động rằng khi thuyền đến Thất Châu Dương, phải lưu ý kim địa bàn đừng để chệch sang hướng đông, vì lỡ đâm vào Van Lý Thạch Đường [Paracel] sẽ gặp nguy hiểm:

Thuyền đi qua rất nguy hiểm, lệch sang hướng đông phạm vào Vạn Lý Thạch Ðường; nơi mà Quỳnh Chí[瓊志]  chép là phía đông châu Vạn có biển Thạch Ðường, thuyền đến đó ít có chiếc nào thoát hiểm.

Chú thích:

1.Nước Xích Thố: thuộc phía tây nước Mã Lai.

2.Tuỳ Thư, quyển 82, Liệt Truyện quyển 47,

3 Ngã Quốc Nam Hải Chư Ðảo Sử Liệu Hối Biên [我國南海諸島史料滙编] , sđd, trang 30.

4 Ngã Quốc Nam Hải Chư Ðảo Sử Liệu Hối Biên [我國南海諸島史料滙编] , sđd, trang 30.

 

4.Đời Tống.

1.Tống Sử [史,History of Song] do Thừa tướng Thoát Thoát đời Nguyên Chủ biên; tại quyển 96, phần Địa Lý Chí ghi đảo Hải Nam thuộc Quảng Nam Tây Lộ. Đảo gồm một châu tức Quỳnh Châu, và 3 quân: Nam Ninh, Vạn An, Cát Dương.

“-Quỳnh Châu chia làm 5 huyện:

Quỳnh Sơn, hạng trung; năm Hy Ninh thứ 4 [1071] cho Xá Thành nhập vào; có 2 sách: Cảm Ân, Anh Điền Trường.

Trừng Mại, hạng dưới. Năm Khai Bảo thứ 5 [972] phế Nhai Châu, đem Xá Thành, Văn Xương lệ vào.

Văn Xương, hạng dưới.

Lâm Cao, hạng dưới, đầu năm Thiệu Hưng [1131] dời vào Mạc Thôn.

Lạc Hội, hạng dưới, đặt ra từ đời Đường; xung quanh là động Lê, Ký Trị, Nam Quản. Năm Đại Quan thứ 3 [1109] cắt vào quân Vạn An, sau đó vào Quỳnh Châu.”

[宋史卷九十志第43 地理

瓊州,..。縣五:瓊山,中。熙寧四年,省舍城入焉。有感恩、英田場二柵。

澄邁。下。開寶五年廢崖州,與舍城、文昌並來隸。

  文昌,下。

  臨高,下。紹興初,移于莫村。

  樂會。下。唐置,環以黎洞,寄治南管。大觀三年,割隸萬安軍,後復來屬]

Quân Nam Ninh, xưa gọi là quân Xương Hoá…Chia làm 3 huyện:

Nghi Luân, hạng dưới, đời Tuỳ là huyện Nghĩa Luân, đầu năm Thái Bình Hưng Quốc [976] đổi tên.

Xương Hoá, hạng dưới; năm Hy Ninh thứ 6 [1073] bỏ, năm Nguyên Phong thứ 3 [1080] đặt lại. có trại Xương Hoá.

Cảm Ân, hạng dưới, năm Hy Ninh thứ 6 [1073] bỏ, năm Nguyên Phong thứ 4 [1081] đặt lại.”

[南寧軍,舊昌化軍,…。縣三:宜倫,下。隋義倫縣。太平興國初改。

  昌化,下。熙寧六年省,元豐三年復。有昌化砦。感恩。下。熙寧六年省,元豐四年復。]

“-Quân Vạn An…chia làm 2 huyện:

Vạn Ninh, hạng dưới, sau gọi là Vạn An.

Lăng Thuỷ, hạng dưới; năm Hy Ninh thứ 7 [1074] là trấn, năm Thiệu Hưng thứ 6 [1136] thuộc Quỳnh Châu, năm thứ 13 [1143] thuộc trở lại Vạn An.”  

  [萬安軍,…。縣二:萬寧,下。後復名萬安。

  陵水。下。熙寧七年為鎮,元豐三年復。紹興六年隸瓊州。十三年,復來隸。]

     “-Quân Cát Dương…Thời Nam Tống chia làm 2 huyện:

Ninh Viễn, hạng dưới; năm Thiệu Hưng thứ 6 [1136] trở thành huyện thuộc Quỳnh Châu, năm thứ 13 [1143] thuộc quân Cát Dương.

Cát Dương, hạng dưới; Năm Hy Ninh thứ 6 [1073] phế thành trấn Đằng Kiều, thuộc Quỳnh Châu, năm Thiệu Hưng thứ 6 [1136] trở lại thuộc quân Cát Dương.”  

  [吉陽軍,…南渡後,縣二:寧遠,下。紹興六年復縣,隸瓊州。十三年,復來屬。

  吉陽。下。熙寧六年,廢為藤橋鎮,隸瓊州。紹興六年復。]

Như đã trình bày tại phần trên, Địa Lý Chí trong Tổng Sử ghi nhận Hải Nam là đảo độc nhất tại đông nam Trung Quốc.

2.Đời Tống có tác phẩm Chư Phiên Chí [諸蕃志] của Triệu Nhữ Quát [趙汝適], đề cập đến mấy chục nước châu Á xưa, khởi đầu là nước Giao Chỉ [Việt Nam], cuối là nước Nuỵ [Nhật]. Đặc biệt tại quyển hạ có phần nghiên cứu đảo Hải Nam [海南], cũng rõ ràng như phần Địa Lý Chí ghi trong Tống Sử. Riêng Triệu Nhữ Quát cung cấp thêm về vị trí khoảng cách các đơn vị hành chánh trên đảo Hải Nam như sau:

Châu Quỳnh theo hướng tây 236 lý đến trị sở quân Xương Hoá.

Từ quân Xương Hoá hướng nam 340 lý đến biên giới quân Cát Dương.

Từ quân Cát Dương theo hướng đông 120 lý đến quân Vạn An.

Quân Cát Dương vị trí tương đương với Tam Á thị ngày nay; được Triệu Nhữ Quát đề cập  như sau:

Còn về quân Cát Dương là chỗ tận cùng đến biển, không còn đường đất nào tiếp theo nữa. Ngoài có châu gọi là Ô Lý, Tô Cát Lãng. Đối diện phía nam là nước Chiêm Thành, phía tây đến nước Chân Lạp, đông có Thiên Lý Trường Sa, Vạn Lý Thạch Sàng, xa xôi vô bờ, trời nước một màu. Chỉ có cách dùng kim nam châm làm bằng, ngày đêm trông coi cẩn thận, sai đi trong hào ly, quan hệ đến sự sống chết.”

[至吉陽,乃海之極,無複陸塗。外有洲曰烏里、曰蘇吉浪。南對占城,西望真臘;東則千里長沙、萬里石床,渺茫無際,天水一色。舟舶來往,惟以指南針為則;晝夜守視唯謹,毫厘之差,生死系焉。]

Đoạn văn nêu trên mô tả quân Cát Dương là đất tận cùng phía nam Trung Quốc; từ đó nhìn ra các phía nam, tây, đông tại nơi xa xôi có nước Chiêm Thành, nước Chân Lạp, rồi đến Thiên Lý Trường Sa, Vạn Lý Thạch Đường. Thiết tưởng mô tả như vậy là khá rõ ràng, nhưng trong NQNHCĐSLHB (1)  Hàn Chấn Hoa nhận xét rằng:

 “Thiên Lý Trường Sa, Vạn Lý Thạch Đường” chỉ chung các đảo Nam Hải; sớm tại triều Tống đã thuộc phạm vi quản hạt của Quỳnh Quản [tức Quảng Nam 4 châu quân] thuộc Quảng Nam Tây Lộ.”

Người nghiên cứu “Chư Phiên Chí” thấy rõ đây chỉ là câu văn tả cảnh vị trí phương xa của quân Cát Dương; còn nếu bảo Thiên Lý Trường Sa và Vạn Lý Thạch Ðường nằm trong lãnh thổ Trung Quốc, như vậy cả Chiêm Thành và Chân Lạp được đề cập trong lời trích dẫn, cũng cùng chung số phận nằm trong lãnh thổ Trung Quốc ư!

3.Tăng Công Lượng đời Tống trong Vũ Kinh Tổng Yếu [武經總要]kể qua thủy trình của nhà Tống đi xuống Chiêm Thành, họ đi từ núi Ðồn Môn thuộc tỉnh Quảng Ðông, chờ gió đông hải trình theo hướng tây và Nam, qua 7 ngày đến Cửu Nhũ Loa Châu, rồi đi tiếp 3 ngày đến núi Bất Lao [ Cù Lao Chàm] thuộc Chiêm Thành. (2)

Cũng như đã từng gán cho Tượng Thạch là đảo Tây Sa [Paracel]; một lần nữa Hoàng Chấn Hoa trong NQCĐSLHB lại gán cho Cửu Nhũ Loa Châu là Tây Sa (3), mà không chứng minh. Họ Hàn khổ công làm như vậy, vì muốn chứng tỏ rằng hàng hải xưa có đi qua Tây Sa mà thôi.

Thực ra thủy trình này cũng tương tự như Chu Khứ Phi đời Tống, kể lại trong Lãnh Ngoại Ðại Ðáp [嶺外代答] rằng thuyển đến các nước Phiên phương nam đều đi theo hướng tây đến biển Giao Chỉ, rồi tiếp tục đi xuống phía nam:

Untitled.png

Ba dòng nước xoáy

Bốn quận phía tây nam đảo Hải Nam có biển lớn gọi là Giao Chỉ dương.Tại biển có 3 dòng nước xoáy, nước cuộn lên chia thành 3 dòng; dòng thứ nhất chảy về phía nam dẫn đến biển thuộc các nước Phiên ; dòng thứ 2 chảy lên phía bắc qua vùng biển Quảng Ðông, Phúc Kiến, Chiết Giang; dòng thứ 3 chảy vào nơi mù mịt không bờ gọi là Ðông Ðại Dương. Tàu thuyền đi về hướng nam phải qua ba dòng nước xoáy, nếu gặp một chút xíu gió thì vượt được,nếu vào chổ hiểm đó mà không có gióthuyền không ra được, ắt phải vỡ chìm trong ba dòng nước xoáy. Nghe truyền rằng biển lớn phía đông có  Trường Sa Thạch Ðường  rộng vạn dặm, nước thủy triều  thi triển đẩy vào chốn cửu u . Trước kia đã có thuyền bị bão phía tây thổi, trôi dạt đến biển lớn phía đông này , nghe tiếng ba đào chấn nộ hung hãn, trong khoảng khắc gặp gió lớn thuận chiều nên may thoát được .

Qua các sử liệu đã dẫn, chứng tỏ thuyển Trung Quốc xuống phương nam thường đi theo ven biển Việt Nam, họ không dám ra đến Trường Sa Thạch Ðường hay quần đảo Tây Sa như họ Hàn đã quả quyết.

4.Ngô Tự Mục [吳自牧]đời Nam Tống trong sách Mộng Lương Lục [夢梁錄]cho biết thuyền buôn từ Phúc Kiến xuống các nước Đông Nam Á đều đi qua Thất Dương Châu:

Nếu muốn dùng thuyền đi buôn bán ngoại quốc, có thể tiện ra biển từ châu Tuyền, lòng vòng qua Thất Châu Dương, từ trên thuyền đo nước sâu khoảng hơn 7,8 trượng.”

[若欲船泛外國買賣則自泉州便可出洋迤旖邐過七州洋舟中測水約有七十餘丈]

Trong NQCĐSLHB (4) Hàn Chấn Hoa khẳng định rằng Thất Châu Dương tức quần đảo Tây Sa [Paracel]; luận điệu này đã được nhà biên khảo Trung Quốc Ðàm Kỳ Tương phản đối trong bài Thất Châu Dương Khảo [七洲洋考] (5). Ngoài ra sách Ðông Tây Dương Khảo [東西洋考](6) của Trương Tiếp đời Minh xác nhận rằng: 

Theo Quỳnh Châu Chí[瓊州志]Thất Châu Dương  tại phía đông huyện Văn Xương100 lý” [七州洋, 瓊州志曰在文昌東一百里.]

Trên bản đồ Google phóng to, nếu nhìn từ Văn Xương [Wenchang] đảo Hải Nam, theo hướng đông khoảng 40 km. thấy được Qizhou Liedao tức Thất Châu Liệt Đảo [七州列島], như vậy hợp với sự mô tả trong Quỳnh Châu Chí. Riêng Văn Xương đến quần đảo Paracel [ Trung Quốc gọi Tây Sa] khoảng 400 km tức gần 700 lý xưa; như vậy tính cả phương hướng và khoảng cách Thất Châu Dương không thể là  Tây Sa [Paracel].

paracel.png

5.Tống Sử [宋史, History of Song ] (7) chép việc quân Mông cổ truy kích vua Tống Ðoan Tông vào năm Chí Nguyên thứ 14 [1278] như sau:

 Ngày Bính Tý tháng 12 [16/1/1278], Chính [Ðoan Tông] đến Tỉnh Áo, gặp bão hư thuyền, một số bộ hạ bị chết trôi, nên nhiễm bệnh.Hơn tuần sau quân lính từ từ đến tụ tập, 10 phần chết còn 5,4. Ngày Ðinh Sửu [17/1/1278] Lưu Thâm truy kích Chính đến Thất Châu Dương, bắt được Du Như Khuê rồi rút lui. Tháng giêng năm thứ 15 [2-3/1278] đại quân phá thành Quảng Châu, Trương Thế Kiệt sai quân đánh Lôi Châu, không chiếm được.

 十二月丙子,昰至井澳,颶風壞舟,幾溺死,遂成疾。旬余,諸兵士始稍稍來集,死者十四。丁丑,劉深追昰至七州洋,執俞如珪以歸.十五年正月,大軍夷廣州城。張世傑遣兵攻雷州,不克.

Xét về thời gian và địa điểm đề cập trong sử liệu này không thể cho Thất Châu Dương là Tây Sa [Paracel], vì thời gian từ ngày Bính Tý sang ngày Đinh Sửu không thể di chuyển từ Tỉnh Áo thuộc tỉnh Quảng Đông đến Tây Sa; lại càng không có khả năng sau đó từ Tây Sa xa xôi để trở về Lôi Châu, vị trí đối diện với đảo Hải Nam qua eo biển. Vậy Thất Châu Dương đúng là Qizhou Liedao tức Thất Châu Liệt Đảo [七州列島] trên bản đồ hiện đại.    

Chú thích:

1 Ngã Quốc Nam Hải Chư Ðảo Sử Liệu Hối Biên [我國南海諸島史料滙编] , sđd, trang 33.

2 Ngã Quốc Nam Hải Chư Ðảo Sử Liệu Hối Biên [我國南海諸島史料滙编] , sđd, trang 37.

3  Ngã Quốc Nam Hải Chư Ðảo Sử Liệu Hối Biên [我國南海諸島史料滙编] , sđd, trang 38.

4 Ngã Quốc Nam Hải Chư Ðảo Sử Liệu Hối Biên [我國南海諸島史料滙编] , sđd, trang44.

5 .Xem Nam Hải Chư Đảo Luận Chứng Khảo Tập, trang 1-6

6 Trương Tiếp, Ðông Tây Dương Khảo, quyển 9.

7 Tống Sử, quyển 47, Doanh Quốc Công Bản Kỷ.

 

5.Đời Nguyên.

1.Nguyên Sử [元史, History of Yuan] do Tống Liêm làm Tổng tài, trongquyển 63, phần Địa Lý Chí chép về đảo Hải Nam cũng tương tự như đời Tống, đảocó 3 quân ; riêng châu Quỳnh đời Tống, thì nay gọi là Càn Ninh Quân Dân An Phủ Ty. Vị trí đảo Hải Nam từ bắc, sang tây, xuống nam, sang đông lần lượt gồm: Càn Ninh Quân Dân An Phủ Ty, quân Nam Ninh, quân Cát Dương, quân Vạn An; tất cả đều trực thuộc Hải Bắc Hải Nam Đạo Tuyên Uỷ Ty. Xin dịch chi tiết như sau:

-“Càn Ninh Quân Dân An Phủ Ty….75.837 hộ, 128.184 nhân khẩu, đồn điền hơn 290 khoảnh, chia làm 7 huyện: Quỳnh Sơn, hạng dưới, đặt thành quách của ty; Trừng Mại, hạng dưới; Lâm Cao, hạng dưới; Văn Xương, hạng dưới; Lạc Hội, hạng dưới; Hội Đồng, hạng dưới; Định An, hạng dưới.”

[乾甯軍民安撫司,..。戶七萬五千八百三十七,口一十二萬八千一百八十四。本路屯田二百九十餘頃。領縣七:

  瓊山,下。倚郭。澄邁,下。臨高,下。文昌,下。樂會,下。會同,下。定安。下。]

-“Quân Nam Ninh…9.626 hộ, 23.652 nhân khẩu; chia làm 3 huyện: Nghi Luân, hạng dưới; Xương Hoá, hạng dưới; Cảm Ân, hạng dưới.”

  [南寧軍,…。戶九千六百二十七,口二萬三千六百五十二。領縣三:

  宜倫,下。昌化,下。感恩。下。]

-“Quân Vạn An….5.341 hộ, 8.686 nhân khẩu; chia làm 2 huyện: Vạn An, hạng dưới, đặt thành quách của quân; Lăng Thuỷ, hạng dưới.”

  [萬安軍,…。戶五千三百四十一,口八千六百八十六。領縣二:

  萬安,下。倚郭。陵水。下。]

-“Quân Cát Dương…1.439 hộ, 4.735 nhân khẩu; có 1 huyện: Ninh Viễn, hạng dưới.”

  [吉陽軍,…。戶一千四百三十九,口五千七百三十五。領縣一:

  寧遠。下。]

2.Về đời Nguyên Hàn Chấn Hoa trong NQCĐSLHB trưng sử liệu trong Quỳnh Hải Phương Dư Chí [瓊海方輿志]của Thái Vi như sau:

[Quỳnh Châu] phía ngoài bao bọc bởi biển lớn, tiếp với châu Ô Lý Tô Mật Cát Lãng; phương nam thì Chiêm Thành, tây là Chân Lạp, Giao Chỉ; đông thì Trường Sa Vạn Lý Thạch Ðường; đông bắc phía xa thì Quảng Ðông, Mân[Phúc Kiến], Chiết [Chiết Giang]; gần thì có Khâm [Khâm Châu], Liêm [Liêm châu], Cao[Cao Châu], Hóa [Hóa Châu]. Ði biển 4 ngày tới Quảng Châu, 9 ngày đêm đến Phúc Kiến, 15 ngày đến Chiết Giang.

Sử liệu này cũng tương tự như lời trích dẫn trong Chư Phiên Chí của Triệu Nhữ Quát thuộc đời Tống. Đây chỉ giới thiệu Trường Sa Vạn Lý Thạch Ðường cách phủ Quỳnh Châu đằng xa,  ngoài vòng biển bao bọc, cũng giống như Chiêm Thành, Chân Lạp, Giao Chỉ; nhưng họ Hàn bảo rằng quần đảo được nhập vào đảo Hải Nam quản hạt, quả là điều vô lý. Nếu bảo rằng do đảo Hải Nam quản hạt, thì tại sao trong phần Địa Lý Chí, thuộc Nguyên Sửghi tại phía trên, không hề đề cập đến.

  1. Ðời Nguyên cuối năm Chí Nguyên thứ 29 [1293] Sử Bật được lệnh mang quân đến nước Trảo Oa [Java], khởi hành từ châu Tuyền, Phúc Kiến đến Thất Châu dương gặp gíó bão, thuyền chao đảo, quân lính mấy ngày không ăn, gió thổi lạc đến Vạn Lý Thạch Ðường cuối cùng men được vào duyên hải Giao Chỉ, Chiêm Thành, để tiếp tục hành trình. Nội dung được chép trong 2 bộ: Nguyên Sử [元史] của Tống Liêm, và Tân Nguyên Sử [新元史]của Kha Thiệu Văn như sau:

 “Năm Chí Nguyên thứ 29, được ban chức Vinh Lộc Ðại phu, giữ chức Trung thư tỉnh Bình chương chính sự các xứ  Phúc Kiến,được lệnh mang  quân đến Trảo Oa;có Hắc Mễ Thất,Cao Hưng giữ chức Phó. Mang 150 chiếc kim phù; vải lụa, bạch (1) mỗi thứ 200 tấm để thưởng cho người có công. Tháng 2, Bật mang 5000 quân hợp với các quân khác, xuất phát từ châu Tuyền [Phúc Kiến].Gặp gió bão, ba đào nỗi lên, thuyền xốc ngược lên,quân lính mấy ngày không ăn được, qua Thất Châu Dương, Vạn Lý Thạch Ðường, đến Giao Chỉ, biên giới Chiêm Thành.”

[二十九年,拜榮祿大夫、福建等處行中書省平章政事,往徵爪哇,以亦黑迷失、高興副之,付金符百五十、幣帛各二百,以待有功。十二月,弼以五千人合諸軍,發泉州。風急濤涌,舟掀簸,士卒皆數日不能食。過七洲洋、萬里石塘,歷交趾、占城界]

Ðây là chuyến đi lạc hướng vì sóng gió, còn hành trình thường lệ được Trương Tiếp mô tả trong Ðông Tây Dương Khảo đời Minh là từ Thất Châu Dương , đến biển Giao Chỉ theo hướng Nam, qua bờ biển Chiêm Thành, đảo Côn Lôn, rồi hành trình tiếp đến Trảo Oa [Java].

  1. Hàn Chấn Hóa trích sử liệu trong Ðảo Di Chí Lược [島夷志畧] của Uông Ðại Uyên đời Nguyên nói về Côn Ðảo như sau:

“Xưa núi Côn Lôn có tên là Quân Ðồn sơn, núi cao mà vuông,đáy trải dài đến mấy trăm lý, nghiễm nhiên trên biển cả, cùng các nước Chiêm Thành, Tây Trúc hướng đến, dưới có biển Côn Lôn, nên lấy đó làm tên.Thuyền buôn các nước đi Tây Dương, thuận gió 7 ngày đêm có thể đến đó; ngạn ngữ có câu:”Thượng hữu Thất Châu, hạ hữu Côn Lôn” , ý chỉ phía trên có Thất Châu Dương  đáng sợ, phía dưới có Côn Lôn].”

[古者崑崙山,又名軍屯山。山高而方,根盤幾百里,截然乎瀛海之中,與占城東西竺鼎峙而相望。下有崑崙洋,因是名也。舶泛西洋者,必掠之。順風七晝夜可渡。諺云:「上有七州,下有崑崙,針迷舵失,人船孰存。」…

Nguyên văn mô tả Côn Lôn có núi cao, gần Chiêm Thành, đúng là Côn Ðảo nước Việt Nam ngày nay. Nhưng họ Hàn cho Côn Lôn là Nam Sa [Spratly Islands], nơi đó không hề có núi cao, và biển Côn Lôn thành biển Nam Sa ; dụng ý muốn chứng tỏ rằng thuyền bè Trung Quốc xưa có đi qua Nam Sa! (2). Ðiều vô lý này đã bị nhiều thư tịch Trung Quốc phủ nhận:

– Ðời Nguyên Chu Ðạt Quan, trong Chân Lạp Phong Thổ Ký [眞腊風土記], dùng kim chỉ nam với 48 hướng, mô tả hải trình đến nước Chân Lạp [Cam Pu Chia] khá chính xác; cho biết biển Côn Lôn gần nước Chân Lạp. Từ biên giới Chân Bồ thuyền theo hướng 232.5 độ đến biển Côn Lôn, rồi quẹo vào cửa biển thứ tư, [có thể là cửasông Hàm Luông] (3), sau đó đi tiếp đến kinh thành Chân Lạp:

“ Thuyền khởi hành ra biển từ Ôn Châu [thuộc tỉnh Chiết Giang] theo hướng Ðinh Mùi [202.5 độ] qua các hải cảng tại Mân [Phúc Kiến], Quảng [Quảng Ðông] ,  biền Thất Châu [ phía đông đảo Hải Nam], biển Giao Chỉ, rồi đến Chiêm Thành. Lại từ Chiêm Thành theo chiều gió khoảng nửa tháng đến Chân Bồ thuộc biên cảnh nước này. Từ Chân Bồ theo hướng Khôn Thân [232.5 độ] qua biển Côn Lôn, rồi vào cảng. Cảng biển có mấy chục, duy cảng thứ 4 có thể vào, còn mấy cảng khác cát cạn thuyền lớn không vào được. Nhưng nhìn khắp xung quanh thấy nhiều cây mây, cổ thụ, lau lách trên cát vàng, lúc thảng thốt khó nhận ra được; vì vậy người đi thuyền cho việc tìm đúng cảng là điều khó khăn. Từ cảng theo sông lên phía bắc, thuận nước lên có thể nữa tuần đến Tra Nam, là quận phụ thuộc. Từ Tra Nam đổi sang thuyền nhỏ, thuận nước chạy thêm hơn 10 ngày, đến thôn Bán Lộ, thôn Phật, biển Độ Đạm, đến vùng đất gọi là Can Bàng, tiếp 50 lý nữa đến thành

[自溫州開洋,行丁未針。歷閩、廣海外諸州港口,過七洲洋,經交趾洋到占城。又自占城順風可半月到真蒲,乃其境也。又自真蒲行坤申針,過崑崙洋,入港。港凡數十,惟第四港可入,其餘悉以沙淺故不通巨舟。然而彌望皆修藤古木,黃沙白葦,倉卒未易辨認,故舟人以尋港為難事。自港口北行,順水可半月,抵其地曰查南,乃其屬郡也。又自查南換小舟,順水可十餘日,過半路村、佛村,渡淡洋,可抵其地曰干傍,取城五十里。]

Ðông Tây Dương Khảo [東西洋考]của Trương Tiếp đời Minh cung cấp phương hướng từ đảo Côn Lôn đến Xích Khảm Sơn [ Phan Rang], và nước Bành Hanh [Pahang] như sau:

Từ Xích Khảm Sơn[Phan Rang] theo hướng đơn Mùi [210 độ], thời gian 15 canh đến núi Côn Lôn

Lại từ núi Côn Lôn theo hướng Khôn Mùi [217.5 độ] thời gian 30 canh đến Ðấu Dự, lại theo hướng Ðinh Ngọ [187.5 độ] đến nước Bành Hanh [tức Pahang thuộc Mã Lai]. (4)

Xét đoạn văn trích dẫn trên, trung bình thuyền bè thời xưa 1 canh đi được 60 lý, 1 doanh tạo lý tương đương .58 km; vậy từ đảo Côn Lôn đến Phan Rang là 522 km, đến Pahang là 1044 km. Với những con số nêu trên, nếu kiểm chứng qua bản đồ hiện nay thì có thể chấp nhận được; còn nếu bảo Côn Lôn là đảo Nam Sa [Trường Sa ] thì khoảng cách còn tăng lên gấp bội!

Thế nhưng trong Tống Hội Yếu [宋㑹要] có nêu địa danh biển Côn Lôn, bàn về sử liệu này Hàn Chấn Hoa lại cho rằng biển Côn Lôn bao quát vùng biển tại đảo Côn Lôn thuộc miền Nam Việt Nam (5). Có lẽ vì sử liệu này đề cập đến vùng đất giáp Chân Lạp, Chiêm Thành, nên họ Hàn đành phải thuận theo sự thực, không thể luận bàn khác được:

Ngày 20 tháng 7 năm Gia Ðịnh thứ 9 [1216], người nước Chân Lý Phú (6) muốn đến Trung Quốc. Từ nước này ra biển 5 ngày tới Ba Tư Lan, thứ đến biển Côn Lôn, qua nước Chân Lạp, vài ngày đến nước Tân Ðạt Gia (7), vài ngày sau đến biên giới Chiêm Thành, qua biển khoảng 10 ngày. Phía đông nam là Thạch Ðường, có tên Vạn Lý; biển chỗ này hoặc sâu hoặc cạn, nước chảy gấp nhiều đá, thuyền bị lật chìm đến 7,8 phần 10, không thấy bờ núi. Rồi đến Giao Chỉ, 5 ngày sau đến châu Khâm, Châu Liêm. ( Nguyên chú: gọi là gió thuận toàn tại mùa hè, lúc gió Nam thổi. Khi trở về nước đợi gió Bấc mùa đông; nếu không theo như vậy không thể đến nơi được. (8)

Cũng như với trường hợp Thất Châu dương, địa đanh Côn Lôn họ Hàn chia thành 2 vị trí, thứ nhất là đảo gần bờ biển miền nam Việt Nam, thứ 2 tại quần đảo Nam Sa; lập luận gỉả thực lẫn lộn, cố dẫn giải theo ý tác giả muốn!

5.Cũng trong Ðảo Di Chí Lược [島夷志畧], Uông Ðại Uyên chép về Vạn Lý Thạch Đường như sau:

Vạn Lý Thạch Đường.

Cái xương của Thạch Đường bắt đầu từ Triều Châu, chạy quanh co như con rắn dài, vắt ngang biển đến các nước.Người ta thường bảo “Vạn Lý Thạch Đường”; nhưng tôi suy ra không phải chỉ có vạn lý mà thôi đâu! Thuyền từ cửa Đại Dư (9), mang 4 buồm, nhờ gió vượt sóng, như bay trên biển. Đến Tây Dương, hoặc ngoài 100 ngày; nếu cho rằng 1 ngày 1 đêm chạy được 100 lý, thì vạn lý cũng không hết. Xem nguồn địa mạch rõ ràng có thể khảo được: một mạch đến Trảo Oa [Java], một mạch đến Bột Nê [Borneo] cùng Cổ Lý Địa Muộn [Timor], một mạch xa Tây Dương đến đất Côn Lôn [Việt Nam]. Vì vậy Cái Tử Dương Chu Tử bảo rằng đất nước ngoài và Trung Nguyên có sự tương liên, phải đúng như vậy chăng!

Xem thế thì thấy hải dương rộng vô bờ, Thạch Đường dấu trong đó, ai hiểu được thì biết rõ, tránh nó đi là hên, đụng nó là xui; bởi vậy kim chỉ nam Tý Ngọ liên quan đến vận mệnh con người; nếu không phải là tay thuyền trưởng rành nghề thì làm sao tránh khỏi lật thuyền chết chìm. Nếu đắc ý được một lần, cũng chớ nên đi tiếp lần khác; há lẽ chọn sóng gió làm con đường gần ư!”

[萬里石石塘之骨,由潮州而生。迤邐如長蛇,橫亙海中,越海諸國。俗云萬里石塘。以余推之,豈止萬里而已哉!舶由岱嶼門,掛四帆,乘風破浪,海上若飛。至西洋或百日之外。以一日一夜行百里計之,萬里曾不足,故源其地脈歷歷可考。一脈至爪哇,一脈至勃泥及古里地悶,一脈至西洋遐崑崙之地。蓋紫陽朱子謂海外之地,與中原地脈相連者,其以是歟!

觀夫海洋泛無涯涘,中匿石塘,孰得而明之?避之則吉,遇之則凶,故子午針人之命脈所係。苟非舟子之精明,能不覆且溺乎!吁!得意之地勿再往,豈可以風濤為徑路也哉!]

                           Vạn Lý Thạch Đường được đưa vào trong sáchĐảo Di Chí Lược, dưới mắt tác giả họ Uông, Vạn Lý Thạch Đường là đảo của người Di, tức các nước phía nam Trung Quốc. Huống hồ vị trí Vạn Lý Thạch Đường rất lớn nằm giữa Trung Quốc và các nước Đông Nam Á như Java, Borneo, Timor, và Côn Lôn [Việt Nam]; như vậy không thể là hải đảo thuộc chủ quyền Trung Quốc như nhà nghiên cứu Hàn Chấn Hoa đã khẳng định trong NQNHSLHB (10).

Chú thích:

1.Bạch: loại hàng dệt bằng tơ trần.

2 Ngã Quốc Nam Hải Chư Ðảo Sử Liệu Hối Biên [我國南海諸島史料滙编] , sđd, trang 48.

3.Lúc bấy giờ lãnh thổ Nam phần Việt Nam, thuộc Thuỷ Chân Lạp; thuyền vào kinh thành nước này phải dùng sông Cửu Long. Sông này tính từ bắc xuống nam, lần lượt có cửa Tiểu, cửa Đại, cửa Ba Lai, cửa Hàm Luông; như vậy cửa Hàm Luông, sông tương đối lớn, ứng vào cửa thứ tư.

4.Đông Tây Dương Khảo, quyển 9.

5 Ngã Quốc Nam Hải Chư Ðảo Sử Liệu Hối Biên [我國南海諸島史料滙编] , sđd,chú thích số 3, trang 43.

6 Chân Lý Phú: một nước tại phía nam Chân Lạp.

7.Tân Ðạt Gia: một nước xưa, giữa Chiêm Thành và Chân Lạp.

8.NQNHCÐSLHB,trang 43.

9.Đại Dư: cửa biển tại châu Tuyền, Phúc Kiến.

10 Ngã Quốc Nam Hải Chư Ðảo Sử Liệu Hối Biên [我國南海諸島史料滙编] , sđd, trang 49.

 

 6.Đời Minh.       

1.Địa Lý chí trong Minh Sử [明史,History of Ming]do bọn Trương Đình Ngọc  biên soạn, là tư liệu quan phương có giá trị nhắm tìm hiểu chủ quyền Trung Quốc về biển đảo. Lãnh thổ đảo Hải Nam hiện nay, tức phủ Quỳnh Châu thời Minh là đảo cực nam, chép trong quyển 45, đượcdịch và dẫn nguyên văn như sau:

Phủ Quỳnh Châu đời Nguyên là Càn Ninh Quân Dân An Phủ Ty, tháng 10 năm thứ 2 năm Nguyên Thống [1334] đổi thành Càn Ninh An Phủ Ty, thuộc Hải Bắc Hải Nam Đạo Tuyên Phủ Ty. Tháng 10 năm Hồng Vũ thứ nhất [1368] đổi thành phủ Quỳnh Châu; năm thứ 2 [1369] giáng thành châu, năm thứ 3 [1370] thăng trở lại thành phủ; có 3 châu, 10 huyện:

-Huyện Quỳnh Sơn, dựa vào phủ; phía bắc là biển có cảng Thần Ứng, cũng gọi là bến Hải Khẩu; có Thủ ngự hải khẩu thiên hộ sở đặt vào tháng 10 năm Hồng Vũ thứ 20 [1387]. Phía tây nam có thôn Thuỷ Tiêu, năm Vạn Lịch thứ 28 [1597], đặt Thuỷ ngự thiên hộ sở tại đó. Nam có Thạch Sơn, lại có Ty tuần kiểm Thanh Lan, nay đã phế.

-Huyện Trừng Mại tại phía tây phủ, phía bắc là biển, nam có sông Lê Mẫu, đông có sông Trừng, tây bắc có ty Tuần kiểm Trừng Mại, trị sở tại đôQuắc , nam có ty Tuần kiểm Thố Dĩnh trị sở tại đô Gia Đông, sau dời đến đô Nam Lê rồi bỏ. Tây nam có ty Tuần kiểm Đồng Cổ, trị sở tại đô Tân An, sau dời đến đô Tây Lê, rồi bỏ. Lại có ty Tuần kiểm Na Tha sau dời đến huyện Tây Lâm Sơn Thị, rồi bỏ.

-Huyện Lâm Cao tại phía tây phủ, phía bắc là biển, nam có sông Lê Mẫu. Phía nam có ty Tuần kiểm Điền Bài sau dời đến gò Phần Hoành. Lại phía đông có 2 ty Tuần kiểm Định Nam, Bác Phố, nay đã bỏ.

-Huyện An Định, phía nam phủ, đặt vào tháng 6 năm Chí Nguyên thứ 29 [1292]; tháng 10 năm Thiên Lịch thứ 2 [1329] thăng thành châu Nam Kiến; tháng 10 năm Hồng Vũ thứ nhất [1368] đặt trở lại thành huyện. Phía nam có núi Ngũ Chỉ, cũng gọi là núi Lê Mẫu, dân Lê sống xung quanh núi, bên ngoài là Thục Lê, bên trong là Sinh Lê. Bắc có sông Kiến Giang, chảy qua phía tây và bắc lãnh thổ quận, rồi nhập vào sông Nam Độ. Đông có Thiên hộ sở đồn điền Đàm Lãm, lập đời Nguyên, thời Minh Hồng Vũ thể theo, đến năm Vĩnh Lạc thứ 4 [1406] thì bỏ; phía tây có ty Tuần kiểm Thanh Ninh; đông lại có ty Tuần kiểm Ninh Thôn, trị sở tại thôn Đàm Lãm, sau dời đi đến đô Nam Tư tại phía đông nam huyện, vẫn giữ tên cũ.

-Huyện Văn Xương tại phía đông phủ, phía tây bắc có núi Thất Tinh [đảo Thất Châu], nam có núi Tử Bối, đông bắc giáp biển. Phía đông nam có sông Văn Xương, chảy ra biển. Phía đông bắc lại có Thiên hộ sở thủ ngự Thanh Lan đặt vào tháng 8 năm Hồng Vũ thứ 27 [1394]; năm Vạn Lịch thứ 9 [1581] dời huyện về thôn Trần Gia, phía đông nam đô Nam Mao. Phía tây bắc có ty Tuần kiểm Phố Tiền; phía đông bắc có ty Tuần kiểm Thanh Lam Đầu; sau dời huyện đến phía đông cảng Bảo Lăng.

-Huyện Hội Đồng tại phía đông nam phủ, đặt vào tháng 6 năm Chí Nguyên thứ 29 [1292]. Đông giáp biển, tây có khe Lê Bồn, đông có ty Tuần kiểm Điêu Hiêu, trị sở tại đô Đoan Triệu, rồi dời đến thôn Nam Thương phía đông nam huyện.

-Huyện Lạc Hội tại phía đông nam phủ, phía tây có núi Bạch Thạch, đông giáp biển. Phía tây bắc có sông Vạn Toàn, có sông Lê Bồn chảy vào.

-Châu Đam nguyên là quân Nam Ninh, thuộc đạo Hải Bắc Hải Nam Tuyên Uỷ Ty; vào tháng 10 năm Hồng Vũ thứ nhất [1368] đổi thành châu Đam, thuộc phủ. Vào tháng 6 năm Chính Thống thứ 4 [1439] phế huyện Nghi Luânnhập vào châu trị. Tây bắc có núi Long Môn, tây giáp biển; bắc có sông Luân; tây nam có 2 ty Tuần kiểm Trấn An và An Hải; đông lại có ty Tuần kiểm Qui Khương đã phế; cách phủ 370 lý về phía đông bắc, lãnh 1 huyện:

Huyện Xương Hoá tại phía nam châu, thành cũ tại phía đông nam, đặt vào năm Hồng Vũ thứ 25 [1392]; tháng 5 năm Chính Thống thứ 6 [1441] dời đến Thủ ngự sở Xương Hoá; phía tây giáp biển, nam có sông Xương Giang.

-Châu Vạn nguyên là quân Vạn An, thuộc đạo Hải Nam Hải Bắc; tháng 10 năm Hồng Vũ thứ nhất [1368] đổi thành châu Vạn, thuộc phủ. Tháng 6 năm Chính Thống thứ tư [1439] cắt huyện Vạn An cho vào châu. Bắc có núi Lục Liên, sông Long Cổn phát nguyên từ đó. Phía đông tại biển Nam Hải có đảo Độc Châu sơn. Đông có ty Tuần kiểm Liên Đường, sau bỏ. Cách phủ 470 lý về phía tây bắc, lãnh 1 huyện:

Huyện Lăng Thuỷ tại phía nam châu Vạn, phía đông bắc là trị sở thành huyện cũ; thành ngày nay tại Thủ ngự Thiên hộ sở núi Nam Sơn; lập vào năm Hồng Vũ thứ 27 [1394], thời Chính Thống dời đến. Phía tây có núi Tiểu Ngũ Chỉ, đông giáp biển, trên biển có đảo Song Nữ, đông bắc có ty Tuần kiểm Ngưu Lãnh.

-Châu Nhai nguyên là quân Cát Dương, thuộc đạo Hải Nam Hải Bắc Tuyên Uỷ Ty; tháng 10 năm Hồng Vũ thứ nhất [1368] đổi thành châu Nhai, thuộc phủ; tháng 6 năm Chính Thống thứ 4 [1439] phế huyện Ninh Viễn cho sáp nhập vào. Nam có núi Nam Sơn, bắc có sông Đại Hà, phân dòng từ núi Ngũ Chỉ chảy ra biển. Đông có Đằng Kiều, tây có Bảo Tuế, phía tây bắc lại có 3 ty Tuần kiểm tại Thông Viễn; phía bắc cách phủ 1410 lý, lãnh 1 huyện:

Huyện Cảm Ân tại phía tây bắc châu, trước kia thuộc châu Đam, vào năm Chính Thống thứ 5 [1440] mới thuộc châu hiện nay. Phía tây giáp biển, nam có sông Tương Nam phát nguyên từ núi Lê Mẫu chảy về phía tây nam rồi ra biển; phía đông nam có ty Tuần kiểm Diên Đức.

[瓊州府元乾寧軍民安撫司。元統二年十月改爲乾寧安撫司,屬海北海南道宣慰司。洪武元年十月改爲瓊州府。二年降爲州。三年仍升爲府。領州三,縣十。東北距布政司千七百五十里。

  瓊山倚。南有瓊山。北濱海,有神應港,亦曰海口渡,有海口守禦千戶所,洪武二十年十月置。又西南有水蕉村,萬曆二十八年置水會守禦千戶所於此。南有石山。又有清瀾巡檢司,廢。

  澄邁府西。北濱海。南有黎母江。東有澄江。西北有澄邁巡檢司,治石矍都。南有兔穎巡檢司,治曾家東都,後遷南黎都,廢。西南有銅鼓巡檢司,治新安都,後遷西黎都,廢。又有那拖巡檢司,治那拖市,後遷縣西森山市,廢。

  臨高府西。北濱海。南有黎母江。南有田牌巡檢司,後遷墳橫岡。又東有定南、北有博鋪二巡檢司,廢。

  安定府南。元至元二十九年六月置。天曆二年十月升爲南建州。洪武元年十月復爲縣。南有五指山,亦曰黎母山,黎人環居山下,外爲熟黎,內爲生黎。北有建江,繞郡境西北流,入南渡江。東有潭覽屯田千戶所,元置,洪武中因之,永樂四年廢。西有青寧巡檢司。又東有寧村巡檢司,治潭覽村,後遷縣東南南資都,仍故名。

  文昌府東。西北有七星山。南有紫貝山。東北濱海。東南有文昌江,入於海。又東北有清瀾守禦千戶所,洪武二十七年八月置,萬曆九年遷縣東南南毛都陳家村。西北有鋪前巡檢司。東北有青藍頭巡檢司,後遷縣東抱凌港。

  會同府東南。元至元二十九年六月置。東濱海。西有黎盆溪,東有調囂巡檢司,治端趙都,尋遷縣東南南滄村。

  樂會府東南。西有白石山。東濱海。西北有萬泉河,有黎盆水流入焉。

  儋州元南寧軍,屬海北海南道宣慰司。洪武元年十月改爲儋州,屬府。正統四年六月以州治宜倫縣省入。西北有龍門嶺。西濱海。北有倫江。西南有鎮南、又有安海二巡檢司。又東有歸姜巡檢司,廢。東北距府三百七十里。領縣一:

  昌化州南。舊城在東南,今城本昌化守禦千戶所,洪武二十五年置。正統六年五月徙縣治焉。西濱海。南有昌江。

  萬州元萬安軍,屬海北海南道。洪武元年十月改爲萬州,屬府。正統四年六月以州治萬安縣省入。北有六連山,龍滾河出焉。東南海中有獨洲山。東有蓮塘巡檢司,後廢。西北距府四百七十里。領縣一:

  陵水州南。東北有舊縣城,今治本南山守禦千戶所,洪武二十七年置。正統間,遷縣於此。西有小五指山。東濱海,海中有雙女嶼。東北有牛嶺巡檢司。

  崖州元吉陽軍,屬海北海南道宣慰司。洪武元年十月改爲崖州,屬府。正統四年六月以州治寧遠縣省入。南有南山。北有大河,自五指山分流,南入海。東有滕橋、西有抱歲、又西北有通遠三巡檢司。北距府千四百一十里。領縣一:

  感恩州西北。舊屬儋州。正統五年來屬。西濱海。南有南湘江,源自黎母山,西南入於海。東南有延德巡檢司。

2.Phần Địa lý chí tại Minh Sửnêu trên, chỉ ghi Độc Châu Sơn và đảo Song Nữ nằm trong lãnh thổ châu Vạn;  nhưng Hàn Chấn Hoa trong NQCĐSLHB trích dẫn một câu trong QuỳnhÐài Ngoại Kỷ [瓊台外紀]của Vương Tá đời Minh, để gán cho Trường Sa Thạch Đường nằm trong châu Vạn. Câu trích dẫn nguyên văn như sau(1):

“洲東長沙石塘環海之地每遇鐵颶挾潮漫屋洽田則利害中宇民矣”

Chữ Hán vốn không có dấu chấm câu, theo văn lý chúng tôi phiên âm, chấm câu và dịch như sau:

[Châu đông Trường Sa Thạch Đường. Hoàn hải chi địa, mỗi ngộ thiết cụ (2) hiệp triều, mạn ốc hợp điền, tắc lợi hại trung vu dân hĩ.]

“Phía đông châu là Trường Sa Thạch Ðường. Đất xung quanh [châu] là biển; mỗi khi gặp phong ba thủy triều,nước ngập cả nhà ruộng, sự lợi hại người dân gánh chịu.”

Hàn Chấn Hoa cố tình hiểu sai, rồi lớn tiếng lập luận rằng “Trường Sa, Thạch Đường chỉ quần đảo Nam Sa [Spratly], Tây Sa [Paracel] thuộc Nam Hải, chúng là những đảo xung quanh biển tại châu Vạn; có thể thấy rằng tại thế kỷ thứ 15, các đảo Nam Hải đã lả bộ phận của châu Vạn, Hải Nam

Xét nguyên văn câu trích dẫn của Vương Tá nêu trên, nội dung không có chỗ nào chỉ ra rằng các đảo Trường Sa Thạch Đường là bộ phận của châu Vạn. Huống hồ đứng vào mặt văn bản,Quỳnh Ðài Ngoại Kỷ [瓊台外紀] nay đã thất truyền, dẫn lại từ Vạn Châu Chí[萬州志]của Hồ Đoan Thư; độ tin cậy không thể so sánh với bộ sử triều đình Minh Sử [明史,History of Ming]đã đề cập ở phần trên.

Nguyên Giới, một vị quan từng trấn nhậm tại phủ Quỳnh Châu dưới thời Minh, soạn sách Hải Tra Dư Lục [海槎餘錄] nghiên cứu về địa lý phong tục vùng này. Trong sách, ông xác nhận Thiên Lý Thạch Đường ngoài biển châu Nhai 700 lý, là nơi đầy nguy hiểm, chỉ có thuyền dân Phiên tức dân phía nam Trung Quốc từng quen tại đó mới biết cách tránh:

Thiên Lý Thạch Ðường tại ngoài biển Nhai Châu 700 lý. Truyền rằng đá tại biển này dưới mức nước biển 8, 9 thước [1thước=1/3 mét]; thuyền đi qua tránh xa mà đi, một lần đâm vào thì không thể ra được. Vạn Lý Trường Ðê ở phía nam,sóng nước chảy gấp,  thuyền vào trong đó không thể thoát được. Thuyền dân Phiên đã quen nơi này, biết cách tránh, tuy gặp gió bão cũng không lo.

  [千里石塘在崖州海面之七百里外,相传此石比海水特下八九尺,海舶必远避而行,一堕既不能出矣。万里长堤出其南,波流甚急,舟入回溜中,未有能脱者。番舶久惯,自能避,虽风汛亦无虞] 

Sử liệu vừa trình bày xác nhận vị trí Thiên Lý Thạch Đường xa cách châu Nhai, đó là nơi nguy hiểm, dân đi thuyền lo tránh xa; và Vạn Lý Thạch Đường là vùng đảo quen thuộc của dân Phiên Di, nhưng xa lạ với người Trung Quốc.

  1. Phí Tín, tác giả Tinh Tra Thắng Lãm [星槎勝覽] (3), đảm nhiệm chức Thông sự [Phiên dịch], theo phái đoàn Trịnh Hoà 4 lần xuống Tây Dương. Từng đi qua các quốc gia tại Đông Nam Á và Ấn Độ Dương ; trong đó có 5 vùng thuộc lãnh thổ Việt Nam hiện nay, như: Chiêm Thành, Linh Sơn [Phú Yên], Tân Đồng Long [Phan Rang, Bình Thuận], Thuỷ Chân Lạp [Nam Phần], và Côn Lôn Sơn tức Côn Đảo. Ông mô tả Côn Lôn Sơn như sau:

Núi này đứng giữa biển rộng, làm tiêu chuẩn cho Chiêm Thành, Đông Tây Trúc [Pulau Aur] cùng nhìn vào, núi cao mà vuông, gốc rễmạch núi rộng và xa, biển này gọi là biển Côn Lôn. Phàm thuyền bè [từ Trung Quốc] đến Tây Dương phải chờ lúc thuận gió, đi 7 ngày đêm có thể đến nơi này. Tục ngữ rằng “Phía trên thì sợ Thất Châu, phía dưới thì sợ Côn Lôn, cầm lái sai hướng, người và thuyền không còn.” Núi này không có vật lạ, không có nhà ở ; nhưng có thể dùng cá, tôm, trái cây để ăn, sống trên cây hoặc trong hang.”

 [崑崙山. 其山節然瀛海之中,與占城及東、西竺鼎峙相望。山高而方,根盤曠遠,海之名曰崑崙洋。凡往西洋商販,必待順風,七晝夜可過。俗云:「上怕七洲,下怕崑崙,針迷舵夫,人船莫存。」此山產無異物,人無居室,而食山果魚蝦,穴居樹巢矣。]

 

Riêng Minh Sử [明史, History of Ming] quyển 324, phần Liệt Truyện quyển 212, xếp Côn Lôn Sơn vào nước Tân Đồng Long, lãnh thổ nay thuộc miền nam Trung Phần, Việt Nam. Như vậy Minh Sử công nhận Côn Lôn Sơn thuộc chủ quyền Việt Nam từ xưa rồi.

Vị trí Côn Lôn hay Côn Đảo cả thế giới đều biết, nhưng những cây bút Trung Quốc, như nhóm biên soạn Ngã Quốc Nam Hải Chư đảo Sử Liệu Hối Biên [我國南海諸島史料滙编] đã không ngượng bút, dám chú thích rằng :

Núi Côn Lôn, biển Côn Lôn ; chỉ Nam Sa quần đảo cùng khu vực hàng hải nguy hiểm xung quanh.”(4)

Vì các đoàn đi sứ và các thương thuyền thời xưa chỉ đi qua Côn Lôn mà thôi, chứ chưa từng đến cái gọi là Nam Sa [Spratly Islands] ; nên một số nhà nghiên cứu Trung Quốc cố tình gán cho Côn Lôn là Nam Sa, để chứng tỏ các phái đoàn như Trịnh Hoà đã từng qua đó. Nhưng qua thực tại Spratly là chỗ nước cạn, nhiều đá ngầm, tàu thuyền thời xưa phải tránh và những điều mô tả trong Tinh Tra Thắng Lãm nêu trên, đã chứng minh ngược lại .

 

  1. Sau đây là sử liệu liệu về việc Ngô Huệ đi sứ Chiêm Thành vào đời Minh Anh Tông năm Chính Thống thứ 6 [1441]; ghitrong Thù Vức Chu Tư Lục [殊域周咨綠] của Nghiêm Tòng Giản:

Vào năm Chính Thống thứ 6 [1441] Quốc vương Chiêm Thành mất, người con nối dõi là Ma Ha Quí Do xin phong tước và ban chiếu sắc. Bèn sai Cấp sự trung họ Dư (khuyết tên) làm Chánh sứ, cùng Hành nhân Ngô Huệ đi sứ. Ngày 23 tháng 12 năm đó khởi hành từ huyện Ðông Hoàn [Quảng Ðông], ngày hôm sau đến biển Ô Trư [cửa sông Châu Giang gần Quảng Châu], lại ngày hôm sau đến Thất Châu Dương [phía đông huyện Văn Xương 100 lý], xa thấy núi Ðồng Cổ [thuộc huyện Văn Xương Hải Nam], ngày hôm sau đến núi Ðộc Trư[ thuộc châu Vạn, Hải Nam] nhìn thấy núi Ðại Châu, ngày hôm sau đến địa giới Giao Chỉ, có một bãi lớn chắn ngang biển, đá nhọn, nếu thuyền va vào đó có thể bị phá nát. Người trong thuyền rất sợ, trong phút chốc gió mạnh vượt qua được, ngày hôm sau đến biển Ngoại La thuộc Chiêm Thành.(5)

 [正统六年,国王卒,嗣子摩诃贵由请袭爵。上赐敕诏,遣给事中舒某(失其名)为正使,及副使行人吴惠往封之。是冬十二月廿三日,发东管。次日过乌猪洋,又次日过七州洋,见铜鼓山。次日至独猪山,见大周山。次日至交界,有巨州横绝海中,怪石廉利,风横,舟触之即靡碎,舟人甚恐。须臾风急过之。次日至占城外罗洋。]

Qua sử liệu này, Hàn Chấn Hoa xác nhận Thất Châu Dương chỉ các đảo Thất Châu tại phía đông huyện Văn Xương (6). Như vậy trước mắt họ Hàn có 2 Thất Châu Dương; một Thất Châu Dương khác, tại mục số 4 đời Tống đã nêu ở trên, thì họ Hàn cho là Tây Sa [Hoàng sa]. Lối lập luận “nói lấy được”, khiến người đọc phải đánh giá đức tính cẩn trọng nghiêm túc của nhà biên khảo này. Còn chỗ được gọi là bãi lớn (cự châu) thì họ Hàn cũng cho là Tây Sa ( Paracel) mà không nêu bằng chứng, như vậy chẳng lẽ Tây Sa sát với vùng duyên hải Giao Chỉ sao?

5.Thật ra tuyến hàng hải dưới thời nhà Minh, từ Trung Quốc đến các nước Ðông Nam Á được các thư tịch mô tả khá rõ ràng và chính xác, đó là nhờ sự cải tiến của kim chỉ nam. Tuy rằng kim chỉ nam [chỉ nam châm 指南針] được sáng chế trước thời nhà Tần, nhưng mãi cho đến đời Tống dụng cụ này còn khá đơn giản, chỉ có hai hướng nam bắc mà thôi. Bắt đầu từ đời Nguyên, kim chỉ nam được phân định 48 hướng; nhờ vậy sử dụng vào việc hàng hải đáng tin cậy hơn. Kim chỉ nam  thời nay dùng 360 độ, trước kia có 48 hướng, như vậy vào thời ấy khoảng cách giữa 2 hướng kế tiếp là 7.5 độ [360:48=7.5]

Vào gần cuối triều Minh, một bộ sách nỗi tiếng về hàng hải ra đời vào năm Vạn Lịch thứ 45 [1617], được đưa vào TỨ KHỐ TOÀN THƯ. Sách mang tên Ðông Tây Dương Khảo [東西洋考], tác gỉả là Trương Tiếp. Ông người đất Long Khê, đậu Cử Nhân năm Vạn Lịch thứ 23 [1595]. Ðể hoàn thành tác phẩm, tác giả đã tham khảo hàng trăm bộ sách nỗi tiếng, cùng nhiều loại  Hải Ðạo Châm Kinh [海道針經]tức tài liệu dẫn đạo hàng hải; bao quát chi tiết về chỉ nam châm, thiên văn, và thủy văn các chuyến hải trình. Phần lớn tư liệu trong bộ sách này thiên về thực dụng, trong quyển 9, mục Châu Sư Khảo [舟師考] cung cấp các tài liệu hàng hành cho các thuyền Trung Quốc dưới thời nhà Minh hàng hải đến các nước vùng Đông Nam Á. Trương Tiếp cho biết trên mỗi thuyền phải có một châu sư [navigator], căn cứ vào tài liệu có sẵn, hướng dẫn thuyền đi đúng hải trình. Tài liệu cung cấp 3 yếu tố căn bản, buộc các châu sư phải lưu ý:

-Phương hướng: trên thuyền có kim chỉ nam, lẽ dĩ nhiên không dùng độ như ngày nay, nhưng nếu chịu khó tìm hiểu cũng có thể đổi [decode] ra được; ví như hướng đơn Hợi=330 độ; hướng Nhâm Tý=352.5 độ.

-Khoảng cách: không tính bằng dặm, mà tính bằng canh; một ngày một đêm có 10 canh. Mỗi canh nếu gặp gió trung bình, được ước tính là 60 lý [34 km].

-Ðộ sâu: không tính bằng thước mà tính bằng sải tay. Ðây cũng thiên về thực dụng, lúc thủy thủ dòng dây từ thuyền xuống đáy biển, khi kéo dây lên dùng sải tay đo đếm dễ dàng, mỗi sải tay khoảng 1.6 m.

Trương Tiếp cung cấp tư liệu về hải hành từ tỉnh Quảng Ðông đến Chiêm Thành và các nước phía nam như Tiêm La, Bành Hanh và Bột Nê; tương tự như chuyến đi Chiêm Thành của Ngô Huệ đã nêu trên, nhưng chi tiết hơn:

 

Bản đồ 1: Hàng hải từ Trung quốc đến các nước Ðông Nam Á:

paracel 2.png

Ô Trư sơn: [ tại cửa sông Châu Giang tỉnh Quảng Ðông] Trên có miếu Ðô Công, khi thuyền qua biển này, mang lễ vật  cúng lạy từ đằng xa, xin thần phối hưởng,dùng thuyền giấy rực rỡ tống tiễn thần.Từ biển này theo dòng nước 10 sải tay, hướng đơn Thân [240 độ], đi 13 canh đến Thất Châu Dương.

Núi Thất Châu, Thất Châu dương:Quỳnh Châu Chí [瓊州志] chép Thất Châu Dương tại phía đông huyện Văn Xương 100 lý; trên biển có 7 ngọn núi nhô lên liên tiếp, trong có nước suối ngọt có thể uống được. Thời nhà Nguyên, Lưu Thâm truy kích Tống Đoan Tông, bắt thân thuộc là Du Ðình Khuê tại nơi này. Tục truyền thời xưa có 7 châu chìm xuống dưới biển; thuyền đến mang súc sinh và cháo cúng thần, không tuân sẽ biến thành ma đói.Thuyền đi qua rất nguy hiểm, lệch sang hướng đông phạm vào Vạn Lý Thạch Ðường; nơi mà Quỳnh Chí[瓊志]chép là phía đông châu Vạn có biển Thạch Ðường, thuyền đến đó ít có chiếc nào thoát hiểm. Từ châu Thất Dương theo hướng Khôn Mùi [217.5 độ], thời gian 3 canh đến Ðồng Cổ Sơn.

Ðồng Cổ sơn: Quảng Ðông Thông Chí [廣東通志]chép núi tại phía đông bắc huyện Văn Xương. Dân Liêu đúc đồng thành trống lớn, treo trước đình; gặp giặc thù đến thì đánh trống báo động, mọi người đến đông đúc. Sau đó vùi vào núi này, dân địa phương đào lấy được nên có tên như vậy; Quỳnh Châu Chí nói biển Ðồng Cổ thực thâm hiểm. Theo hướng Khôn Mùi [217.5 độ], thuyền đi 4 canh đến Ðộc Châu Sơn.

Ðộc Châu sơn: tên tục là Ðộc Trư sơn; Quỳnh Châu Chí chép Ðộc Châu sơn [獨州山] còn có tên là Ðộc Châu sơn [獨珠山], tại phía đông nam châu Vạn. Ðỉnh núi cao trên biển, chu vi 5,6 chục lý; các nước phương Nam đến cống, thủy trình lấy núi này làm chuẩn, biển này gọi là Ðộc Châu dương; người đi thuyền nói trên núi có miếu Linh Bá, khách vãng lai thường tế hiến. Theo dòng nước 65 sải tay, hướng Khôn Mùi [217.5 độ], thời gian 10 canh đến biển Giao Chỉ.

 

Bản đồ 2: Hàng hải từ Trung quốc đến các nước Ðông Nam Á:

 paracel 3.png

 Từbiển Giao Chỉtheo hướng Khôn Mùi [217.5 độ], thời gian 11 canh [ 1 canh= 2giờ 24 phút] đến núi Ngoại La. Núi này trông xa như một cửa thành, đến gần thấy phía đông cao, phía tây thấp, có hồ Liễu Tử, phía tây có hòn Cổ Lão.

Căn cứ vào khoảng cách, phương hướng và sự mô tả; Ngoại La Sơn có thể là cù lao Ré, tức huyện đảo Lý Sơn, vì tại đây có hòn lớn và hòn bé, ngoài biển từ xa nhìn vào như hai cột của cửa thành. Ngoài ra sách Việt Sư Cương Giám Khảo Lược [越史綱鍳考畧] của Nguyễn Thông chép về đảo Lý Sơn có câu 理山島又名外岣嶗俗稱外嶗Ðảo Lý Sơn lại có tên là Ngoại Cù Lao,dân thường gọi là Ngoại Lao; phải chăng người Trung Quốc đọc chệch  hai chữ “Ngoại Lao” thành “Ngoại La”?

Từ Ngoại La Sơn thuyền men theo phía tây, theo luồng nước sâu 45 sải tay,  hướng Bính Ngọ [172.5 độ], thời gian 3 canh  đến cầu Mã Lăng, trong đó là Ðề Di, một huyện của Giao Chỉ.

Sách Ðại Nam Nhất Thống Chí [大南一統志] (10), của Việt Nam chép: “Tấn Ðề Di ở phía đông bắc huyện Phù Cát [Bình Ðịnh], rộng 11 trượng, thủy triều lên sâu 6 thước, thủy triều xuống sâu 4 thước, phía tây có đầm nước ngọt, thuyền buôn thường đỗ tại đây, thủ sở tại địa phận thôn An Quang….”

Từ cầu Mã Lăng tại Ðề Di theo luồng nước sâu 25 sải tay, bờ phía nam có đá ngầm, khi ra khỏi theo hướng Bính Ngọ [172.5 độ], thời gian 4 canh đến bán đảo Giao Bôi, tức cảng Tân Châu. Tại đây hình thế 2 bán đảo như 2 chén giao nhau , nên có tên là Giao Bôi.

Ðịa danh Tân Châu, được xác định trong Minh Thực Lục [明實錄]; khi tường thuật việc phái đoàn nhà Minh cầm đầu bởi Cấp sự trung Trần Tuấn đi sứ Chiêm Thành để phong Vương cho Bàn La Trà Duyệt, theo thông lệ ghé đến cảng Tân Châu [ gần thành Chà Bàn, Qui Nhơn ], thì được biết vùng này đã bị An Nam chiếm. Bèn hàng hải tiếp đến Linh Sơn thì được tin cả nhà Bàn La Trà Duyệt bị An Nam bắt. Vì trên thuyền chở nhiều hàng hóa nên phải hành trình tiếp đến Mãn Thứ Gia [ thuộc vùng  đất Mã Lai hiện nay ] để bán hàng, rồi mới trở về Trung Quốc:

      Ngày 14 tháng 12 năm Thành Hóa thứ 10 [ 21/1/1475 ]

Công khoa Cấp sự trung Trần Tuấn đi sứ Chiêm Thành không vào được, bèn nạp trở lại những thứ đã mang đi như chiếu sắc, ấn mạ vàng bạc, các vật như lụa, đoạn. Bọn Tuấn đi sứ Chiêm Thành để phong cho Quốc vương Bàn La Trà Duyệt, khi hàng hải đến cảng Tân Châu, Chiêm Thành; quân phòng thủ từ chối không cho vào, người Thông dịch cho biết đất này đã bị An Nam chiếm, còn Quốc vương Chiêm Thành tỵ nạn tại Linh Sơn. Khi đến Linh Sơn thì được biết cả nhà Bàn La Trà Duyệt bị An Nam bắt và đất Chiêm Thành bị đổi tên thành châu Giao Nam. Bọn Tuấn không dám ghé vào; nhưng thuyền chở hàng hóa tư, cùng nhiều thương nhân, nên giả lấy cớ bị gió bão rồi hàng hải tiếp đến Mãn Thứ Gia buôn bán, lại dụ Vương nước này sai sứ đến triều cống. Đến nay trở về tâu đầy đủ việc An Nam chiếm cứ Chiêm Thành, cùng việc Quốc vương Mãn Thứ Gia cung cấp thức ăn và các nhu yếu phẩm khác, đối đãi lễ nghi rất đầy đủ…..

 ( Minh Thực Lục v. 45, t. 2553-2554; Hiến Tông quyển 136, trang 6a-6b.)

 

Bản đồ 3: Hàng hải từ Trung quốc đến các nước Ðông Nam Á:

 paracel 4.png

Từ phía trong cảng Tân Châu theo dòng nước sâu 18 sải tay, nhắm hướng Bính Ngọ [172.5độ], thời gian 3 canh đến Bán Dự. Tại Bán Dự có tháp bằng đá, có thể ghé thuyền. Phía trong theo luồng nước sâu 8,9 sải tay, ngoài sâu 20 sải, phía nam có đá ngầm không thể đến gần, theo hướng Bính Ngọ [172.5 độ], thời gian 3 canh đến Yên Ðổng. Ðây là nơi phân giới giữa Giao Chỉ và Chiêm Thành, nhìn lên thấy  mây như ống khói nên đặt tên như vậy; tuy trời tạnh nhìn lên núi vẫn thấy khí mây bao phủ.

Tuy hai địa danh Bán Dự và Yên Ðổng không ghi trong Ðại Nam Nhất Thống Chí [大南一統志], nhưng căn cứ thời gian hàng hải có thể đoán rằng Bán Dự tức bán đảo Hòa Lợi thuộc huyện Sông Cầu, Phú Yên; ngoài ra chữ “bán dự” cũng có nghĩa là bán đảo. Riêng Yên Ðổng có thể là vịnh Xuân Ðài, giáp giới huyện Tuy An, Phú Yên; nơi này gần núi cao, mây bao phủ nên gọi là Yên Ðổng chữ này cũng có nghĩa là mây tuôn như ống khói. Ngoài ra theo văn bản Minh Thực Lục nêu trên, thì đất Tân Châu đã bị An Nam chiếm, vua Chiêm trốn về Linh Sơn, vậy thời gian cuối thế kỷ thứ 15, Yên Ðổng có khả năng là nơi phân giới giữa An Nam và một phe Chiêm Thành (8).Riêng Ðại Nam Nhất Thống Chí [大南一統志], xác nhận biên giới lúc bấy giờ tại núi Thạch Bi huyện Tuy Hòa; núi Thạch Bi cao, có chi nhánh chạy ra biển; vậy phải chăng các địa danh Yên Ðổng, Thạch Bi đều chỉ chung một rặng núi.

Từ Yên Ðổng theo hướng Bính Ngọ [172.5 độ], thời gian 3 canh đến Linh Sơn. Nơi đây là một thắng cảnh, núi đảo liên tiếp, dưới thì sông suối quanh co như dây đai, trên có núi hình như đầu Phật nên có tên là Linh Sơn. Thuyền bè vãng lai, người sùng đạo Phật tụng kinh, thả đèn hình giống thuyền trên sông, để cầu khỏi tai họa trên biển.

Theo sự mô tả nêu trên, cùng Minh Thực Lục [明實錄], thì địa danh Linh Sơn thuộc tỉnh Phú Yên ngày nay. Từ đó tiếp tục cuộc hải hành như sau:

Từ Linh Sơn theo luồng nước sâu 6o sải tay, nhắm hướng đơn Ngọ [180 độ], thời gian 2 canh đến Già Nam Mạo. trong cảng này có 3 đảo nhỏ, lúc thủy triều lên thì không thấy. Qua núi, theo luồng nước sâu 15 sải tay, nhắm hướng Khôn Mùi [217.5 độ] thời gian 5 canh từ Khuê Long vào La Loan Ðầu tức cảng Chiêm Thành.

Căn cứ vào thời gian hàng hải phỏng đoán rằng Giả nam Mạo tức bãi biển Natại phía bắc tỉnh Khánh Hòa, còn cảng Chiêm Thành tức thành phố Nha Trang.

-“Từ La Loan Ðầu theo luồng nước sâu 50 sải tay, nhắm hướng Khôn Thân [232.5 độ], thời gian 5 canh tới Xích Khảm Sơn. Ðời Tống vua Chiêm Thành trốn Giao Chỉ thường dời đến ở đây.”

Theo hướng kim chỉ nam được ghi nhận dưới đây, từ Xích Khảm Sơn theo hướng 210 độ đến đảo Côn Lôn; như vậy ngược lại từ đảo Côn Lôn đến Xích Khảm Sơn là [210-180=30] 30 độ. Trên bản đồ hãy dùng kim chỉ nam đặt tâm điểm tại Côn Sơn, theo hướng 30 độ sẽ dẫn tới Phan Rang; vậy Xích Khảm Sơn tức thị xã Phan Rang.

-“Từ Xích Khảm Sơn theo hướng đơn Mùi [210 độ], thời gian 15 canh đến núi Côn Lôn. Ðây không phải địa danh Côn Lôn trên nguồn sông [chỉ núi Côn Lôn tại Trung Quốc], mà chính là thắng cảnh Côn Lôn trên biển cả. Nơi đây núi cao mà vuông, chân núi rộng; tục ngữ cảnh báo dân đi biển rằng: thượng phạ Thất Châu, hạ phạ Côn Lôn (sợ nhất là Thất Châu, rồi đến Côn Lôn); vì qua những nơi này nếu không cẩn thận đi lệch hướng kim nam châm hoặc lạc tay lái, có thể đâm vào chốn nguy hiểm khó tồn tại. Tại Côn Lôn theo hướng đơn Canh [255 độ] và Canh Dậu [262.5 độ] sẽ đến Tiểu Côn Lôn.”

Theo Tập Bản Ðồ Hành Chính 64 Tỉnh, Thành Phố Việt Nam(9), tại đảo Côn Sơn có núi An Hải cao 577 mét, từ đảo chính theo hướng 255 độ có đảo Hòn Bà.

 

Bản đồ 4: Hàng hải từ Trung quốc đến các nước Ðông Nam Á:

paracel 5.png

-Từ núi Côn Lôn theo hướng Khôn Thân? [232.5 độ] cùng Canh Dậu? [262.5 độ], thời gian 30 canh đến Cát Lan Châu. Cát Lan Châu là bến cảng của nước Ðại Nê . Xưa gọi là Bột Nê [Borneo 渤泥], nước này thường đến triều cống Trung Quốc qua tỉnh Phúc Kiến.

-Từ núi Côn Lôn theo hướng Tân Dậu [277.5 độ] thời gian 26 canh đến Lục Khôn, đó là thuộc quốc của nước Tiêm La.

-Lại từ núi Côn Lôn theo hướng Khôn Mùi [217.5 độ] thời gian 30 canh đến Ðấu Dự, lại theo hướng Ðinh Ngọ [187.5 độ] đến nước Bành Hanh  [tức Pahang thuộc Mã Lai].

  1. Sách Hải Ngữ [海語] (10) của Hoàng Trung cũng mô tả hướng đi Tiêm La như sau:

Nước Tiêm La tại phía biển Nam Hải. Từ cửa Nam Ðình thuộc huyện Ðông Hoàn [Quảng Ðông] ra khơi. Nam đến Ô Trư, Ðộc Trư, Thất Châu ( có tên Tam Dương) la bàn theo hướng Khôn Mùi [212.5 độ] đến Ngoại La , lấy Khôn Thân [232.5] vượt 45 trình, đến cảng cũ Chiêm Thành ; rồi đến Linh Sơn nước sùng Phật trên núi có phong hoả đài (11) là đất thuộc Giao Chỉ. Lại theo hướng Mùi [210.]đến Côn Lôn; từ đó dùng Khôn Mùi [217.5] đến bãi Đồi Mồi; từ ngạch Đồi Mồi tại Qui Sơn theo hướng Dậu [270.] vào cảng Tiêm La.

[暹羅國在南海中自東管之南亭門放洋南至烏瀦獨瀦七洲三洋名星■〈船上皿下〉坤未針海天無際舶行莫知方位惟以星■〈船上皿下〉針定子午而赴之至外羅坤申針四十五程至占城本古越裳氏之界舊港經大佛靈山其上烽墩則交趾即安南屬也又未針至昆■〈山屯〉山又坤未針至玳瑁洲玳瑁額及於龜山酉針入暹羅港]

Hoàng Trung trong Hải Ngữ và Trương Tiếp trong Đông Tây Dương Khảo mô tả hải trình từ Quảng Đông, Trung Quốc đến các nước Đông Nam Á tương tự như nhau: cả hai đều mô tả băng quaTam Dương [Ô Trư Dương, Thất Châu Dương, Ðộc Trư Dương] đểtừ đóđến Ngoại La sơn [Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi] theo hướng Khôn Mùi [212.5]; cả hai đều ghé vào Chiêm Thành, Linh Sơn nghĩ ngơi, lấy thực phẩm, nước uống; cả hai đều dùng Côn Lôn làm đích, để đi xuống vùng Đông Nam Á.vv…

Khác với những nhà nghiên cứu Trung Quốc hiện đại, như Hàn Chấn Hoa trong Ngã Quốc Nam Hải Chư Ðảo Sử Liệu Hối Biên [我國南海諸島史料滙编] gán cho Trường Sa Thạch Đường nằm trên đường hàng hải từ Trung Quốc xuống vùng Đông Nam Á. Các thư tịch xưa như Lãnh Ngoại Đại Đáp đời Tống, Đông Tây Dương Khảo, Hải Ngữ đời Minh đều chủ trương rằng Trường Sa Thạch Đường là nơi tối nguy hiểm cần phải tránh. Đặc biệt sách Hải Ngữ [海語] dành riêng quyển cuối với nhan đề Uý Đồ [畏途] tức Con Đường Đáng Sợ trong đó chép Trường Sa Thạch Đường với lời cảnh cáo nặng nề như sau:

“Vạn Lý Thạch Ðường tại phía đông biển Ô Trư và Thạch Trư. Tại đó tuy trời nắng nhưng vẫn âm u, không giống như trong cõi trần; thổ sản nhiều xà cừ. Chim có nhiều loại quỉ xa, có thứ 9 đầu, có thứ 3,4 đầu, rãi rác khắp biển; tiếng kêu gào ầm ỉ đến mấy dặm; tuy kẻ ngu và loại hung hãn không ai là không thất sắc, mồ hôi toát ra. Châu sư hàng hải trên thuyền lỡ tay lái thất thế, đâm vào đá tảng, thì hàng trăm mạng biến thành quỉ!

Vạn lý Trường Sa tại phía đông nam Vạn Lý Thạch Ðường, tức Lưu Sa Hà của giống Di đông nam. Gió thổi ào ào, ngày trong sáng mà trời như đầy tuyết. Lái thuyền lỡ đi lẩm vào, thì bị dính vào không ra được; nếu may nhờ gió đông nam mạnh mới thóat khỏi.”

[萬里石塘

萬里石塘在鳥瀦二洋之東陰風晦景不類人世其產多𤥭璖其鳥多鬼車九首者四三首者漫散海際悲號之音聒聒聞數里雖愚夫悍卒靡不慘顏沾襟者舵師脫小失勢誤落石𣿭數百軀皆鬼録矣

萬里長沙

萬里長沙在萬里石塘東南即西南夷之流沙河也弱水出其南風沙獵獵晴日望之如盛雪舶誤衝其際即膠不可脫必幸東南風勁乃免陷溺]

7.Một bộ sách về hải đạo châm kinh của Trung Quốc vào đời Minh, hướng dẫn về hàng hảimang tên là Thuận Phong Tương Tống [顺风相送], được lưu giữ tại thư viện Bodliean, Anh Quốc. Trong sách ghi chép rất nhiều chỉ dẫn hàng hành từ các hải cảng Trung Quốc xuống các nước vùng Đông Nam Á; đặc biệt chuyến đi nào cũng qua lãnh thổ Việt Nam hiện nay; chứng tỏ từ xưa tới nay người Trung Quốc đã sử dụng lãnh hải Việt Nam, tức Biển Đông, làm đường giao thông qua lại nhiều nước Á Châu. Đơn cử chuyến đi từ đảo Ngô Dự tỉnhPhúc Kiến đến Đại Nê, nước Mã Lai,Thuận Phong Tương Tống chép về hàng hành qua lãnh hải, lãnh thổ Việt Nam như sau:

“…Từ Độc Trư Sơn [Hải Nam, Trung Quốc] thuyền theo hướng Khôn Mùi [217.5 độ], thời gian 20 canh đến Ngoại La Sơn [Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, Việt Nam], đi qua mép bên ngoài. Từ Ngoại La Sơn theo hướng Bính Ngọ[172.5], qua 7 canh đền đảo Giao Bôi, đảo Dương [thị xã Qui Nhơn, Bình Định]. Thuyền theo hướng Bính Ngọ [172.5], thời gian 5 canh, đến Linh Sơn tượng đại Phật [Tuy Hoà, Phú Yên]; thuyền theo hướng Ngọ [180.], thời gian 3 canh đến núi Già Nam Mạo[bãi biển Na, Khánh Hoà]; thuyền theo hướng Đinh Ngọ [187.5] thời gian 5 canh đến La Loan Đầu [Nha Trang]; thuyền theo hướng Đơn Khôn [225.] cùng Khôn Mùi [217.5] thời gian 5 canh đến Xích Khảm Sơn[Phan Rang]; thuyền theo hướng Khôn Mùi [217.5 thời gian 15 canh đến Côn Lôn[Việt Nam], đi theo hướng bên ngoài. Thuyền theo hướng Khôn Thân [232.5] cùng Canh Dậu [262.5], thời gian 30 canh đến cảng Cát Lan Đơn [ Kelantan Mã Lai]; chỗ này có nhiều bùn có thể làm hại thuyền. Theo hướng Đơn Thân [240.] đi tiếp 7 canh đến Đại Nê[Mã Lai].”

[浯嶼往大泥吉蘭丹…用坤未針二十更船取外羅山外過。用丙午針七更取校杯嶼及羊嶼。用丙午針五更船取靈山大佛。用單午針三更船取伽亻南貌山。用丁午針五更取羅灣頭,用單坤及坤未針五更船取亦坎。用坤未針十五更船取崑崙山外過。用坤申及庚酉針三十更船收吉蘭丹港口。是泥地拋船。用單申針七更船六坤,坤身尾有淺,過西邊入港是大泥。]

Chú thích:

1 Ngã Quốc Nam Hải Chư Ðảo Sử Liệu Hối Biên [我國南海諸島史料滙编] , sđd, trang 50.

2.Thiết cụ: gió bão lớn.

3.Phí Tín soạn Tinh Tra Thắng Lãm vào năm Minh Chính Thống thứ nhất [1433]

4 Ngã Quốc Nam Hải Chư Ðảo Sử Liệu Hối Biên [我國南海諸島史料滙编] , sđd, trang 54.

5 Thù Vức Chu Tư Lục [殊域周咨綠], quyển 7, Nam Man, mục Chiêm Thành.

6.Ngã Quốc Nam Hải Chư Ðảo Sử Liệu Hối Biên [我國南海諸島史料滙编] , sđd, trang 57.

7 Ðại Nam Nhất Thống Chí, bản dịch của Viện Sử Học, tập 3, trang 47.

8 Theo sử Việt, sau khi đánh bắt Trà Toàn, vua Lê Thánh Tông chia Chiêm Thành thành 3 nước nhỏ.

9 Tập Bản Ðồ Hành Chính 64 Tỉnh, Thành Phố Việt Nam, NXB Bản Đồ, 2005.

10 Hải Ngữ [海語] Hoàng Trung, quyển thượng, Tiêm La.

11.Phong hoả đài: đài báo động trên núi bằng cách đốt lửa.

 

7.Đời Thanh.

1.Trong Ngã Quốc Nam Hải Chư Ðảo Sử Liệu Hối Biên [我國南海諸島史料滙编] (1)Hàn Chấn Hoa trưng tưliệu từ quyển 4Quảng Đông Thông Chí [廣東通志], tại mụcHình Thắng phủ Quỳnh Châu;để cho rằng Thiên Lý Trường Sa và Vạn Lý Thạch Ðường được nhập vào lãnh thổ châu Vạn:

 “Châu Vạn có 3 đoạn nước bao bọc bởi biển, 6 chỗ liên tiếp với núi;tại châu trị trong chốn yên ba ẩn hiện Thiên Lý Trường Sa, Vạn Lý Thạch Ðường”

[萬州三曲水環泮宫六連山障州治千里長沙萬里石塘煙波隱見]

Tư liệu này chỉ có giá trị như những câu văn tả cảnh tổng quát từ đằng xa, không xác định được chủ quyền. Trích tư liệu  từ mục Hình Thắng [形勝]tức thắng cảnh,là một sự lầm lẫn cố ý; vì cũng tại quyển 4 này, bên cạnh mục Hình Thắng có mục Cương Vực [疆域]tức biên cương khu vực ghi rõ vị trí giới hạn châu Vạn, đáng phải nêu ra thì họ Hàn dấu đi; chứng tỏ thiếu tính chất minh bạch của nhà nghiên cứu. Nay xin trích dịch nguyên văn, để thấy được việc ghép Trường Sa Thạch Đường xa xôi vào lãnh thổ châu Vạn với hai bề ngang dọc 205 lý, 120 lý, là điều vô lý:

Châu Vạn tại phía đông nam phủ thành 450 lý [261 km.], đất rộng 205 lý [118 km.], bề dọc 120 lý [70 km.]. Phía đông tới bờ biển 25 lý [14.5 km.], tây đến núi Giá Cô Đề thuộc dân tộc Sinh Lê 180 lý [104 km.], nam đến bờ biển 25 lý [14.5 km.], bắc đến biên giới huyện Lạc Hội 95 lý [55 km.]; đông bắc đến lãnh Liên Chi 70 lý [40 km.], tây nam đến biên giới huyện Lăng Thuỷ 100 lý [58 Km.], tây bắc đến động Lê tại lãnh Hoành 160 lý [92 km.], đông nam đến bờ biển 30 lý [17 km.]”

[萬州在府城東南四百五十里其地廣二百零五里袤一百二十里 東至海岸二十五里 西至鷓鴣啼山一百八十里外係生黎 南至海岸二十五里北至樂㑹縣界九十五里 東北至蓮岐嶺七十里 西南至陵水縣界一百里 西北至横嶺黎峒界一百六十里 東南至海岸三十里]

2.Về tư liệu quan phương, ngoài Quảng Đông Thông Chí không thể không nhắc đếnKhâm Định Đại Thanh Nhất Thống[欽定大清一統志], một bộ sách đồ sộ của triều đình nhà Thanh, mỗi phủ được dành riêng một quyển. Cương vực phủ Quỳnh Châu, tức đảo Hải Nam, được mô tả như sau:

Phủ Quỳnh Châu tại phía tây nam tỉnh lỵ Quảng Đông 1700 lý [986 km.], đông tây 970 lý [562 km.], nam bắc 995 lý [577 km.]; đông đến bờ biển châu Vạn 490 lý [284 km.], tây đến bờ biển châu Đam 480 lý [278 km.], nam đến bờ biển châu Nhai 965 lý [559 km.], bắc đến bờ biển 10 lý [5.8 km.]; Đông nam đến bờ biển huyện Lăng Thuỷ 540 lý [313 km.], tây nam đến bờ biển huyện Cảm Ân 810 lý [470 km.], đông bắc đến bờ biển huyện Văn Xương 160 lý [93 km.], tây bắc đến bờ biển huyện Lâm Cao 280 lý [162 km.], từ phủ lỵ đến kinh sư 9715 lý [5635 km.].”

[瓊州府在廣東省治西南一千七百里東西距九百七十里南北距九百九十五里東至萬州海岸四百九十里西至儋州海岸四百八十里南至崖州海岸九百六十五里北至海岸十里東南至陵水縣海岸五百四十里西南至感恩縣海岸八百一十里東北至文昌縣海岸一百六十里西北至臨髙縣海岸二百八十里自府治至京師九千七百一十五里].

Riêng về cương vực châu Van, Đại Thanh Nhất Thống Chí (2) chép:

“Châu Vạn tại phía đông nam phủ Quỳnh Châu 400, 500 lý [232 km-290km], từ đông sang tây 205 lý [118 km], nam chí bắc 120 lý [69 km]; phía đông từ châu lỵ đến biển 25 lý [14.5 km], phía tây cách động Lê 180 lý[104 km], phía nam đến bờ biển 25 lý [14.5 km],phía bắc đến huyện Lạc Hội 95 lý [55 km]. Phía đông nam giáp biển 30 lý[17 km], tây nam giáp huyện Lăng Thủy 100 lý [58 km], đông bắc đến biển 70 lý[40 km], tây bắc đến động Lê 160 lý [92 km].”

[萬州在府東南四百五百里東西距二百五里南北距一百二十里東至海岸二十五里西至黎界一百八十里南至海岸二十五里北至樂㑹縣界九十五里東南至海岸三十里西南至陵水縣界一百里東北至海岸七十里西北至黎峒一百六十里]

Thử hỏi châu Vạn rộng từ đông sang tây 205 lý [118 km], phía đông từ châu lỵ đến biển 25 lý [14.5 km] thì Vạn Lý Trường Sa, và Thiên Lý Thạch Ðường xa xôi, có thể đặt vào trong đó được không? Ngoài ra để tham khảo thêm, xin giới thiệu bản đồ phía đông đảo Hải Nam in trong Khâm Định Đại Thanh Nhất Thống Chí[欽定大清一統志],tại trang đầu, quyển 350 như sau:

Untitled.png

Nhìn trên bản đồ từ bắc chí nam có những địa danh được phiên âm gồm: huyện Văn Xương, huyện Hội Ðồng, huyện Lạc Hội, châu Vạn, và đảo Ðộc Châu Sơn. Lưu ý: trong lãnh thổ châu Vạn chỉ ghi đảo Ðộc Châu sơn, ngoài ra không hề có tên Thiên Lý Trường Sa, và Vạn Lý Thạch Ðường.

3.Bộ sử cuối cùng trong  Nhị Thập Ngũ Sử [Twenty-five History Books];cần được nêu lên đó là Thanh Sử Cảo [清史稿, The Draft History of Qing]. Sau cách mệnh Tân Hợi [1911], chính phủ Dân quốc tại Bắc Kinh cho lập Quốc sử quán để biên tu chính sử, giao cho Triệu Nhĩ Tốn làm chủ biên. Bộ sử đã hoàn thành, tuy chưa duyệt xong lần cuối, nhưng vì thời cuộc bức xúc bèn đem ra in, đặt tên là Thanh Sử Cảo. Bản thân bộ sử có nhiều tư liệu phong phú, các Học giả không thể xem thường, nên được đưa vào Nhị Thập Ngũ Sử.

Thanh Sử Cảo chép Địa lý chí đảo Hải Nam trong quyển 72, cho biết năm Quang Tự thứ 31 [1905] cắt một phần phía nam phủ Quỳnh Châu, đặt ra châu trực lệ Nhai Châu, châu này lãnh 4 huyện, trong đó có huyện Vạn:

Châu trực lệ Nhai Châu [Tam Á thị Sanya]: xung yếu, đông.

Châu lệ thuộc đạo Quỳnh Nhai; trước kia lệ thuộc phủ Quỳnh Châu, năm Quang Tự thứ 31 [1905] thăng làm châu trực lệ. Cách tỉnh lỵ [Quảng Châu] phía bắc 2.680 lý, đông tây rộng 242 lý, nam bắc 175 lý, bắc cực cao 18 độ 27 phân, kinh sư nghiêng 47 độ 36 phân. Lãnh 4 huyện…”[崖州直隸州:沖,繁。隸瓊崖道。崖州舊隸瓊州府。光緒三十一年,升為直隸州。東北距省治二千六百八十里。廣二百四十二里,袤一百七十五里。北極高十八度二十七分。京師偏西七度三十六分。領縣四。]

Châu Vạn ghi trong Đại Thanh Nhất Thống Chí  thời Càn Long,Thanh Sử Cảo chép đến đời Quang Tự đổi thành huyện Vạn; cũng giống như các đời trước, không có tên quần đảo Trường Sa Thạch Đường nằm trong đó, phía đông huyện này chỉ có biển Độc Châu và đảo núi Độc Châu mà thôi:

Huyện Vạn [Vạn Ninh Thị Wanning]: xung yếu, đông.

Huyện tại phía đông bắc châu Nhai 370 lý; trước kia lệ thuộc vào phủ Quỳnh Châu, năm Quang Tự thứ 31 [1905] trực thuộc vào châu. Phía đông có núi Đông Sơn [Dongshan Ridge], bắc có lãnh Lục Giao, phía đông nam giáp biển; trên biển có núi Độc Châu [Dazhou Island] xung quanh là biển Độc Châu. Phía tây bắc có sông Long Cổn [Longgun River] phát nguyên từ động Tung Hoành, cong về phía nam chảy sang đông hợp với Lưu Mã Hà, rồi theo hướng đông bắc vào phần đất huyện Lạc Hội, cong sang đông nam lại trở vào phía bắc huyện; phía đông có nhánh qua khe Liên Đường, cong sang phía bắc đến Lạc Hội hợp với sông Vạn Toàn [Wanquan River], dòng chính qua lãnh Liên Chi phía đông nam ra biển. Lại có sông Đô Phong Thuỷ cũng phát xuất từ động Tung Hoành, chảy theo hướng đông nam, chia thành 4 gồm: cảng Hoà Lạc, Cảng Bắc Cảng [Gangbei Port], Bạch Cẩu Giản, sông Kim Tiên Hà chảy ra biển tại phía đông bắc huyện trị. Phía nam có sông Thảng Dung Hà, phát nguyên từ núi Giá Cô phía tây bắc, chảy theo hướng đông nam đến sông Sấu Điền thì chia dòng, lại hợp với Thạch Qui Hà chảy theo hướng đông nam ra biển. Có Tuần ty Long Cổn, một trường muối tại Tân An.”

[萬沖,繁。州東北三百七十里。萬州舊隸瓊州府,光緒三十一年降為縣,來屬。東:東山。北:六連嶺。東南濱海。海中有獨洲山,其下曰獨洲洋。西北:龍滾河,出縱橫峒,南屈而東,與流馬河合,又東北入樂會,屈東南復入縣北。東別出為蓮塘溪,屈北至樂會,合萬全河。其正渠,東南過連岐嶺入海。又都封水亦出縱橫峒,東南流,歧為四派:曰和樂港,曰港北港,曰石狗澗,曰金仙河,至縣治東北入海。又南,踢容河,出西北鷓鴣山,東南至瘦田村分流,與石龜河合,又東南流入海。有龍滾巡司。鹽場一,曰新安]

4.Cần phải lưu ý thêm,Trung Quốc ban hành chính sách cấm biển từ giữa triều Minh cho đến triều Thanh. Chính sách này được trân trọng ghi trong Khâm Định Đại Thanh Hội Điển [欽定大清會典] như sau:

Cấm biển: Phàm những đất canh tác ngoài biển bị cấm; những cư dân gần biển không được vụng trộm đến các đảo tụ tập canh tác, rồi chứa chấp bọn gian.” (3)

[海禁凡海外耕種之禁海濱居民不得潛住島嶼招聚耕墾致藏姦匪]

Minh Sử, quyển 5, trong phần Chí về Thực Hoá, trình bày sự giao dịch buôn bán không sòng phẳng giữa quan lại Trung Quốc với dân buôn Nhật [Nuỵ], dẫn đến việc người Nhật cướp phá tại vùng tỉnh Chiết Giang, khiến viên Tuần phủ phải ra lệnh cấm biển:

Năm thứ 26 [1547], hàng trăm thuyền Nuỵ đến cướp phá, đóng lâu tại Ninh Ba, Đài; mấy ngàn quân đổ bộ cướp đốt. Tuần phủ Chiết Giang Chu Hoàn điều tra biết rằng những chủ thuyền đều là những quan to, hoặc thuộc dòng họ lớn, buôn bán với Phiên [Nuỵ] qua lời nói trung gian để kiếm lời to, nhưng hàng không giao đúng lúc, do vậy gây nên loạn. Bèn cấm biển nghiêm khắc, cho huỷ thuyền, tâu xin giáng chức những người thuộc họ lớn.”

[二十六年,倭寇百艘久泊寧、臺,數千人登岸焚劫。浙江巡撫硃紈訪知舶主皆貴官大姓,市番貨皆以虛直,轉鬻牟利,而直不時給,以是構亂。乃嚴海禁,毀餘皇,奏請鐫諭戒大姓 -卷八十一志第57 食貨]

Sang đến thời nhà Thanh, việc cấm biển thực hiện một các khá qui mô, bằng cách hoạch định giới tuyến dọc ven biển, rồi cưỡng bách di cư tất cả dân chúng thuộc phía ngoài giới tuyến vào trong nội địa. Khang Hy Thực Lục ghi lại sự việc như sau:

Tháng 3 năm Khang Hy thứ 17[1678]…Dụ các Vương, Đại thần họp bàn việc chính trị: ‘Giặc biển bàn cứ tại các xứ như Hạ Môn [Xiamen, Phúc Kiến], cấu kết với giặc trong núi, phiến động mê hoặc địa phương, nguyên do dựa vào dân ven biển tại vùng tỉnh Phúc Kiến. Đáng theo lệ vào năm Thuận Trị thứ 18 [1661] lập ranh giới, đem dân chúng ngoài ranh giới đồng loạt di cư vào nội địa; thân sức cấm biển nghiêm, tuyệt đường giao thông…

[康熙十七年。戊午三月. 諭議政王大臣等、海寇盤踞廈門諸處、勾連山賊、煽惑地方、皆由閩地瀕海居民為之藉也。應如順治十八年立界之例、將界外百姓、遷移內地。仍申嚴海禁、絕其交通。]

Bàn về biện pháp cấm biển hữu hiệu, mục Nghiêm Dương Cấm trong quyển 9 Quảng Đông Thông Chí[廣東通志], ghi lại lời Thông chính Ðường Thuận [唐順] thời Minh nhấn mạnh việc cấm biển không chỉ đuổi dân từ hải đảo vào vùng an toàn mà thôi. Còn cần phải kê tra dân chúng, điều tra kẻ khả nghi giúp đỡ bọn cướp biển, khiến người dân trong nội địa không còn có thể liên lạc tiếp tế cho bọn cướp biển ẩn trốn tại các hải đảo bên ngoài:

Việc cấm biển nghiêm, điều tra người lén ra đi, cần tìm tòi âm mưu từ bên trong. Chỉ kê tra kẻ dùng mái chèo ra biển, mà không điều tra âm mưu bên trong thì chưa tuyệt được nguồn gốc. Cần ra lệnh cho quân vệ, quan chức địa phương lập sổ sách theo thứ tự 1,2,3 kê tra dân tại duyên hải, cùng nghề nghiệp sinh nhai, rồi tùy lúc kềm cặp ràng buộc. Nếu như có những kẻ du đãng bỏ nghề nghiệp, hành tung bí mật, đi về chè chén, có vẻ khả nghi; thì ra lệnh cho người trong làng đến quan để tố cáo. Lấy 30 lượng bạc của phạm nhân, thưởng cho người tố cáo, cùng điều tra sự tình của phạm nhân rồi trị tội nặng. Những người biết chuyện mà cố tình giấu diếm, thì cũng phạt tội, nhưng giảm nhẹ hơn tội nhân. Thi hành phép Bảo giáp (4)nghiêm là phương cách giảm thiểu đạo tặc, bởi vậy nơi ven biển dân bôn đào tụ tập thì việc kiểm soát không thể không nghiêm.”

[明通政唐順之云洋禁之嚴有宜查其外出者有宜查其内伏者其外出者寸板下海嚴為稽察此大較也而内伏不清則根株未抜宜責令軍衛有司將沿海居民逐一清查造册在官稽其生理時加約束如有游民廢業行踪詭秘來往酧酢殊有可疑許令同里之人赴官首告即於犯人名下追銀三十兩充賞本犯嚴究情由從重論治若鄰佑人等知情故匿不先首告罪發之日减本犯一等治之葢保甲之法為弭盗之原而海濵多逋逃藪則尤不容不嚴也]

Thời Gia Khánh viên Tổng đốc đốc Lưỡng Quảng Ngô Hùng Quang xin chế tạo nhiều thuyền để ra biển bắt cướp. Quan điểm của vua Gia Khánh cũng giống như Thông chính Đường Thuận nêu trên, bác lời tâu của Hùng Quang, khẳng định quốc sách là phòng thủ tại cảng và truy lùng những người trên bờ ngầm mua bán hợp tác với bọn cướp. Xin trích dịch chiếu thư của vua Gia Khánh như sau:

Ngày 2 Kỷ Tỵ tháng 12 năm Gia Khánh thứ 12 [30/12/1807]

“… Còn trong tấu triệp Ngô Hùng Quang trình bày rằng Thuyền cướp qua lại đợi chờ mới liên lạc được với bọn gian trên bờ, nếu thuyền binh khẩn trương theo tung tích truy nã, thì bọn chúng không thi thố được thủ đoạn. Vậy muốn ngăn tiếp tế, nên tu tạo nhiều thuyền, xuất dương truy bắt.”

Ðiều này không đúng, về bọn cướp biển, gạo, nước, thuốc súng đều nhờ vào trên bộ. Bọn giặc trên bờ và dưới nước vốn quen nhau, ngầm giao dịch, cũng không phải chờ bọn cướp biển lên bờ tìm kiếm mới được tiếp tế. Tổng chi, đáng ra lệnh các quan văn võ tại cửa biển mật cho tuần tra, nghiêm bắt, trừng trị nặng; khiến bọn phỉ trên bờ co rút lại, thì mới đoạn tuyệt việc tiếp tế.

Ðiều đó khẳng định rằng việc cấm bọn phỉ tiếp tế tất phải nghiêm tra trên bờ, làm vững rào dậu là biện pháp chính. Phúc Kiến nghiêm cấm tiếp tế tại cửa biển, thực hiện hữu hiệu, tỉnh Quảng Ðông cần nhất luật thực hiện...” (Nhân Tông Thực Lục quyển 189, trang 7)

Cùng đề cao sách lược phòng thủ thụ động nơi ven biển, tại quyển 9, mục Hải Phòng, trong Quảng Ðông Thông Chí[廣東通志], Tổng đốc Hác Ngọc Lân tóm tắt :

Phàm thuyền đến không cho đậu, đi không tiếp tế ; thì dân chúng duyên hải đều được yên gối mà ngủ.”

Với chính sách cấm biển, phòng biển ngay tại bờ, tỉnh Quảng Đông đã lập sẵn 62 vị trí xung yếu làm giới tuyến cho các vệ, sở canh gác. Quân lính chỉ chịu trách nhiệm phòng thủ phía trong giới tuyến, riêng phía ngoài, coi như vùng biển quốc tế không thèm biết đến. Riêng từ huyện Lạc Hội [nay thuộc huyện Văn Xương] được ghi là điểm khởi đầu ranh giới tiếp giáp với biển An Nam (5):

Xung yếu:

Từ huyện Lạc Hội [樂會 Wenchang, Hải Nam], phủ Quỳnh Châu, khởi đầu tiếp giáp với biên giới An Nam…..”

[衝要: 自瓊州樂會縣接安南界起….]

Với chính sách cấm biển từ các đời Minh, Thanh; Trung Quốc đã từng bỏ các đảo như Châu Sơn [zhowshan], trấn Kim Đường [ Jintang Island], đảo Ngọc Hoàn [Yuhoan] thuộc tỉnh Chiết Giang; Hạ Môn[Xiamen] thuộc tỉnh Phúc Kiến; còn vùng biển xung quanh đảo Hải Nam thì thuộc Việt Nam. Qua sử, chí, Trung Quốc; có thể chứng minh rằng sách lược nước này không đoái hoài đến biển cả.

  1. Cuối cùng vào buổi tàn cuộc của triều Thanh, nhờ ngọn gió Tây phương thổi đến, giúp họ hiểu rõ vị trí đặc thù và tài nguyên phong phú của biển. Một người tỏ ra bén nhạy với thời cuộc là viên Thuỷ sư đề đốc Lý Chuẩn; y lợi dụng tình trạng Việt Nam trong vòng đô hộ Pháp , nên vào năm Quang Tự thứ 33 [1907] mang các tàu như Phục Ba, Sâm Hàng đến đảo Hoàng Sa để dành chủ quyền. Điều kẹt cho y, quần đảo này chưa hề nằm trong lãnh thổ Trung Quốc nên các đảo không có tên; bởi vậy y bèn tuỳ tiện lấy tên hai tàu “Phục Ba”, “Sâm Hàng” đặt tên cho 2 đảo, lấy tên quê y tại huyện “Lãnh Thuỷ” tỉnh Tứ Xuyên đặt tên cho một đảo khác, rồi nhân có giếng nước ngọt trên một đảo, bèn đặt tên đảo này là “Cam Tuyền”. Nhắm khua chiêng gióng trống cho mọi người biết, y cho bắn đại bác, treo cờ; khắc bia trên hòn đảo được đặt tên là Phục Ba, với hàng chữ như sau:

 “Đại Thanh Quang Tự năm thứ 33, Thuỷ sư Quảng Đông Đề đốc Lý Chuẩn tuần thị đến nơi này.” (6)

[大清光绪三十三年广东水师提督李准巡视至此]

Bấy giờ gần cách mệnh Tân Hợi, các tỉnh Trung Quốc tự tiện điều hành như những sứ quân, việc làm của Lý Chuẩn chỉ thừa lệnh viên Tổng đốc Quảng Đông, riêng triều đình Thanh không biết. Bởi vậy phần Bản Kỷ về năm Quang Tự thứ 33, hoặcThanh Sử Cảo không đề cập đến việc này, và trong phần Chí cũng không có đảo Tây Sa [Paracel].

Chú thích: 

1 Ngã Quốc Nam Hải Chư Ðảo Sử Liệu Hối Biên [我國南海諸島史料滙编] , sđd, trang 66.

2 Khâm Định Đại Thanh Nhất Thống [欽定大清一統志],Hoà Khôn Chủ biên, quyển 350.

3 Khâm Định Đại Thanh Hội Điển quyển thứ 65.

4 Bảo giáp: tổ chức dân binh trong làng.

5 Quảng Ðông Thông Chí [廣東通志], Tổng đốc Hác Ngọc Lân chủ biên, quyển 9.

6 Nguyên văn trong bài “Đại Thanh Quang Tự Lý Chuẩn năm 1909 tuần thị nơi này” [大清光绪李准1909年巡视至].

 

  Kết luận:                                                                                            

Bàn về chủ quyền đất đai cần phải ghi rõ ràng vị trí, giới hạn, diện tích, do đơn vị hành chánh nào quản lý. Hoặc ít ra cũng chép được tương đối chi tiếtnhư sách Hoàng Việt Địa Dư Chí [皇越地輿誌] của Phan Huy Chú [潘輝注] thời Nguyễn, viết về quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam với những nét như sau:

Quảng Ngãi 

Phủ Tư Nghĩa có 3 huyện, nay là trấn Quảng Ngãi; 3 huyện gồm 9 tổng, 216 xã. Huyện Chương Nghĩa xưa là huyện Nghĩa Giang, gồm 3 tổng 93 xã. Huyện Bình Sơn xưa là huyện Bình Dương, gồm 3 tổng, 70 xã. Huyện Mộ Hoa gồm 3 tổng, 53 xã. Phủ nằm trong trấn Quảng Nam, thượng du bao bọc bởi núi, hạ lưu giáp biển, địa thế rộng rãi. Thời Thái Vương cai trị, cải thành 3 huyện thuộc Quảng Ngãi; vật lực giàu có, lúa ngũ cốc không biết bao nhiêu mà kể. Vàng, bạc, châu báu, trầm hương, tốc hương rất tốt đẹp. Voi ngựa súc vật có nhiều, ngoài biển có hải đảo, cảnh vật u nhã. 

Bãi Hoàng Sa 

Xã thôn An Vĩnh thuộc huyện Bình Sơn gần biển, phía đông bắc ngoài biển có nhiều đảo. Núi đảo trùng điệp, có đến hơn 130; các đảo cách nhau bởi biển hoặc một ngày đường hoặc mấy canh, dưới núi có suối nước ngọt. Trong các đảo này có bãi Hoàng Sa, dài khoảng 30 lý, bằng và rộng rãi, nước trong tận đáy, trên đảo yến nhiều vô số, chim có đến hàng ngàn hàng vạn, thấy người vẫn quây quần không tránh. Bên bờ các vật lạ rất nhiều, có loại ốc hoa văn tên là ốc tai tượng to như chiếc chiếu, trên bụng có hạt cườm bằng đầu ngón tay, màu đục không được như ngọc trai, vỏ có thể tạc thành bia, có thể chế thành vôi sơn quyét; có loại ốc xà cừ làm đồ trang sức rất tốt đẹp, có loại ốc hương thịt có thể muối ăn, đồi mồi trên đảo khá lớn, có loại tên hải ba, vỏ mỏng có thể làm khí mãnh trang sức, trứng bằng đầu ngón tay lớn; lại có loại tên hải sâm tục gọi là đột đột, bơi lội bên cạnh các đảo, đánh bắt được đem xát qua bằng vôi, bỏ ruột, phơi khô; lúc ăn tẩm với tương cua đồng, ăn cùng với tôm, thịt rất tốt. Các thuyền buôn phần lớn gặp nạn tại đây.

Các triều vương trước (chúa Nguyễn) đặt đội Hoành Sa 70 người, dùng người xã An Vĩnh luân phiên đi. Hàng năm vào tháng 3 nhận chỉ thị sai đi, mang 6 tháng lương, dùng thuyền nhỏ 5 chiếc, trương buồm xuất dương, 3 ngày 3 đêm đến đảo; tại đây mặc tình đánh bắt cá ăn, được đồ quí khí vật trên thuyền rất nhiều, lại lấy được hải sản rất nhiều. Ðến tháng 8 trở về, vào cửa Eo để đệ nạp cho thành Phú Xuân.”

paracel 7.png

paracel 8.png

hoang viet du dia chi .png

Tôi ra công sưu tầm trong sử, chí Trung Quốc, nhưng tuyệt nhiên không tìm ra được một tư liệu nào về chủ quyền quần đảoTây Sa [Paracel Islands], Nam Sa [Spratly Islands] tương tự. Đến năm 2016, nhân đọc bài báo nhan đề Chúng Ta Ca Tụng Quang Minh Nhưng Mang Theo Ngàn Năm Hắc Ám [我们歌颂光明却带来千年黑暗] của Thượng tướng không quân Lưu Á Châu [刘亚洲], con rể cố chủ tịch Trung Quốc Lý Tiên Niệm, đăng lại trên báo mạng Cấm Văn [禁文]. Ông nhận xét về lịch sử như sau:

 “ Cái chìa khoá khiến Trung Quốc mất biển, do trải qua các triều đại thống trị không có quan niệm về chủ quyền biển

 [中国失去海洋的关键是历代统治者没有海权观念.]

Nhận xét đó có phần đúng,quả thật trong sử chí quan phương [官方, official] của Trung Quốc, không có tư liệu nào khẳng định chủ quyền của nước này tại Biển Đông.


 

 

 

                                                                                                     

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s