Đan Mạch, Na Uy và Thụy Điển không nên được coi là những quốc gia xã hội chủ nghĩa như tưởng tượng.

26

Theo góc nhìn chuyên gia của Nima Sanandaji, Giám đốc Trung tâm Cải cách Chính sách và Doanh nhân Châu Âu. Đăng ngày 27/10/2021 trên tờ foreignpolicy với tiêu đề: Nordic Countries Aren’t Actually Socialist

Các nước Bắc Âu thường được quốc tế sử dụng để chứng minh rằng chủ nghĩa xã hội hoạt động. Đúng là các đảng dân chủ xã hội đang thành công ở khu vực này của thế giới. Tuy nhiên, trong khi các nước Bắc Âu đang chứng kiến ​​sự quay trở lại một phần của các đảng dân chủ xã hội, các chính sách của họ trên thực tế không phải là xã hội chủ nghĩa mà là trung tâm (centrist).

Các quốc gia Bắc Âu – và đặc biệt là Thụy Điển – đã theo đuổi chủ nghĩa xã hội từ khoảng năm 1970 đến 1990. Tuy nhiên, trong suốt 30 năm qua, cả các chính phủ bảo thủ và dân chủ xã hội đều hướng về trung tâm. Ngày nay, các nhà dân chủ xã hội Bắc Âu đã áp dụng các chính sách nhập cư chặt chẽ hơn, thắt chặt các yêu cầu về tính đủ điều kiện đối với các hệ thống phúc lợi, có lập trường cứng rắn hơn đối với tội phạm và thực hiện các chính sách thân thiện với doanh nghiệp.

Hệ thống phúc lợi xã hội Bắc Âu mà mọi người muốn nhắc đến như một ví dụ hưng thịnh của chủ nghĩa xã hội được phát triển vào khoảng năm 1970, khi các xã hội Bắc Âu có sự thay đổi chính sách theo hướng thuế cao hơn và lợi ích công hào phóng. Trong thế kỷ trước đó, các nước Bắc Âu đã kết hợp các khu vực công nhỏ và thị trường tự do để đạt được tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ.

Chẳng hạn, từ khoảng năm 1870 đến năm 1970, GDP bình quân đầu người của Thụy Điển đã tăng gấp 10 lần, mức tăng trưởng cao nhất ở toàn châu Âu. Chính sau thời kỳ thịnh vượng phát triển nhanh chóng này, đã có sự chuyển hướng sang các chính sách thuế cao.

Công chúng vẫn hoài nghi về việc tăng thuế trực thu, và sự thay đổi phần lớn xảy ra thông qua việc tăng dần thuế biên chế gián thu. Đó không phải là một quỹ đạo bất thường: Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng các quốc gia có mức độ tin cậy cao hơn có xu hướng có hệ thống phúc lợi lớn hơn và hào phóng hơn. Và lòng tin và trách nhiệm xã hội trong lịch sử đã rất mạnh mẽ ở khu vực này, một phần là do nhu cầu hợp tác trong khí hậu Bắc Âu không khoan nhượng – thực sự mạnh mẽ hơn so với phần còn lại của châu Âu.

Tuy nhiên, kết quả của việc chuyển đổi khỏi các chính sách thuế thấp, tăng trưởng kinh tế bị đình trệ. Ví dụ, trong 50 năm qua, GDP bình quân đầu người của Thụy Điển chỉ tăng 2,1. Quan trọng hơn, các tiêu chuẩn liên quan đến làm việc chăm chỉ và trách nhiệm đã bắt đầu bị xói mòn, theo các phép đo của Khảo sát Giá trị Thế giới, khi phúc lợi tăng lên.

Ví dụ, vào đầu những năm 1980, 19% người Thụy Điển đồng ý rằng có thể hợp lý ở một mức độ nào đó khi ai đó yêu cầu phúc lợi công cộng khi họ không đủ điều kiện. Tỷ lệ này dần dần tăng lên 40% vào năm 2011, và từ đó giảm xuống còn 36% sau khi kiểm soát chặt chẽ hơn các hệ thống phúc lợi và các chiến dịch công cộng cảnh báo chống lạm dụng.

Ngày nay, các quốc gia Bắc Âu vẫn có mức thuế cao hơn và hệ thống phúc lợi hào phóng hơn hầu hết các nơi trên thế giới. Nhưng kể từ những năm 1990, Thụy Điển và các quốc gia Bắc Âu khác đã tập trung củng cố trở lại các chuẩn mực trách nhiệm xã hội bằng cách tăng cường kiểm soát các hệ thống phúc lợi công cộng, giảm bớt sự hào phóng trong các mô hình phúc lợi và giảm thuế.

Thật vậy, nhiều chính sách của Bắc Âu hiện thúc đẩy thương mại tự do và doanh nghiệp tự do. Chỉ số Tự do Kinh tế của Tổ chức Di sản, đo lường mức độ của một quốc gia tư bản bằng cách nghiên cứu các quy định và thuế trong các lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế, xếp Đan Mạch và Iceland là các quốc gia tư bản nhất thứ 10 và 11 trên thế giới. Phần Lan đứng ở vị trí thứ 17, Thụy Điển ở vị trí thứ 21 và Na Uy ở vị trí 28. Để so sánh, Hoa Kỳ được xếp hạng 20. Các quyền tài sản, tự do kinh doanh, tự do tiền tệ và tự do thương mại rất mạnh ở các quốc gia Bắc Âu.

Động thái hướng tới trung tâm này đang diễn ra trong chính trị bầu cử, ngay cả khi các nhà dân chủ xã hội đang giành chiến thắng trong các cuộc bầu cử một lần nữa. Ví dụ, các nhà dân chủ xã hội Bắc Âu đang ngày càng dựa vào việc thành lập các liên minh với các đảng ở giữa. Lấy Phần Lan: Trong cuộc bầu cử năm 2019, Thủ tướng đương nhiệm Juha Sipila, lãnh đạo của Đảng Trung tâm, đã thua Antti Rinne của Đảng Dân chủ Xã hội. Nhưng Rinne đã phải thành lập một chính phủ liên minh rộng rãi bao gồm Đảng Trung tâm, ví dụ, đã thúc đẩy không tăng tổng số thuế.

Thụy Điển, quốc gia Bắc Âu đông dân nhất, cũng đi theo một quỹ đạo tương tự. Đảng Dân chủ Xã hội Stefan Lofven giữ chức thủ tướng từ năm 2014. Tuy nhiên, trong bối cảnh chính trị Thụy Điển, chỉ có thiểu số cử tri ủng hộ ba đảng trung tả và cánh tả, vì vậy Lofven đã dựa vào sự ủng hộ từ cánh hữu. trung tâm Trung tâm Đảng và trước đây là đảng Tự do trung hữu. Vào đầu năm 2020, chính phủ của Lofven đã bãi bỏ varnskatt, thuế 5 phần trăm đối với thu nhập cao nhất, giảm đáng kể mức thuế cận biên. Những cải cách gần đây khác bao gồm tư nhân hóa một phần dịch vụ việc làm của nhà nước và trở nên cứng rắn hơn đối với tội phạm.

Ví dụ, một trong những trọng tâm chính của Đảng Dân chủ Xã hội trong năm nay là bãi bỏ việc giảm hình phạt cho những người phạm tội trẻ tuổi, điều này sẽ dẫn đến các bản án dài hơn cho những người phạm nhiều tội. Đảng Dân chủ Xã hội cũng đã hứa cắt giảm thuế như một phần trong cương lĩnh của họ cho cuộc bầu cử năm 2022, nơi đảng này có thể sẽ được đại diện bởi Magdalena Andersson, bộ trưởng tài chính Thụy Điển.

Các nhà dân chủ xã hội ở Na Uy cũng rơi vào tình cảnh tương tự như những người đồng cấp Thụy Điển: phải hợp tác với một đảng trung tâm phản đối các chính sách xã hội chủ nghĩa để đảm bảo quyền lực. Và có nhiều dấu hiệu cho thấy Đảng Lao động dân chủ xã hội của Thủ tướng Na Uy Jonas Gahr Store, đảng vừa đánh bại Thủ tướng Đảng Bảo thủ đương nhiệm Erna Solberg trong cuộc bầu cử vào tháng 9, sẽ cầm quyền với nhiều chính sách tập trung hơn một số người có thể mong đợi. Store là một triệu phú, người trước đây đã liên kết với Đảng Bảo thủ của Na Uy. Hơn nữa, ông từng là thư ký nhà nước kiêm chánh văn phòng vào năm 2000 và 2001, khi Thủ tướng dân chủ xã hội Jens Stoltenberg giám sát các chính sách tư nhân hóa rộng rãi.

Các đảng dân chủ xã hội ở Bắc Âu cũng đã phải sửa đổi chính sách di cư của họ khi các cử tri thuộc tầng lớp lao động của họ chuyển sang các đảng bảo thủ hơn nhằm thúc đẩy kiểm soát di cư. Trong cuộc tổng tuyển cử năm 2019 của Đan Mạch, khi lãnh đạo đảng Dân chủ Xã hội Mette Frederiksen đánh bại đương kim trung hữu để trở thành thủ tướng, bà đã nhận được sự ủng hộ trên nền tảng kết hợp các chính sách dân chủ xã hội truyền thống với chính sách nhập cư nghiêm ngặt.

Chính trị bầu cử của các quốc gia Bắc Âu phản ánh các xu hướng xa rời chủ nghĩa xã hội rộng rãi hơn trong vài thập kỷ qua. Ví dụ, trong những năm 1970 và 1980 ở Thụy Điển, nhà nước độc quyền chăm sóc người cao tuổi, chăm sóc sức khỏe và giáo dục. Khi các trường học được nhà nước tiếp quản, mô hình giáo dục đã chuyển khỏi quyền hạn của người lớn, và học sinh bắt đầu tự học.

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s